1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về dòng họ ngô ở lý trai (diễn châu nghệ an) và thân thế sự nghiệp của danh nhân văn hoá ngô trí hoà

73 3,6K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về dòng họ ngô ở lý trai (diễn châu - Nghệ An) và thân thế sự nghiệp của danh nhân văn hóa ngô trí hòa
Tác giả Võ Thị Thanh Bình
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Hoàng Thị Nhạc, Giảng Viên Chính Bộ Môn Lịch Sử Việt Nam Cổ Trung Đại
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 4,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời cảm ơnThời gian qua, đợc sự nhất trí của khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh, tôi đãtiến hành thực hiện đề tài “Tìm hiểu về dòng họ Ngô ở Lý Trai Diễn Châu -Nghệ An và thân thế sự nghiệp

Trang 1

Trờng đại học Vinh

Khoa lịch sử

===  ===

Võ thị thanh bình

khóa luận tốt nghiệp đại học

tìm hiểu về dòng họ ngô ở lý trai

(diễn châu - Nghệ An) và Thân thế sự nghiệp

của danh nhân văn hóa Ngô Trí Hòa

Chuyên ngành: lịch sử Việt Nam

Vinh - 2007

=  =

Mục lục

Trang

A Phần mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tợng, phạm vi và phơng pháp nghiên cứu 4

Trang 2

B Phần nội dung 6

Chơng 1: Quê hơng - dòng họ 6

1.1 Diễn Châu - đất và ngời 6

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 6

1.1.2 Truyền thống lịch sử - văn hóa 11

1.2 Dòng họ Ngô ở Lý Trai (Diễn Châu - Nghệ An) 1.2.1 Nguồn gốc và sự phát triển của dòng họ Ngô ở Lý Trai .20

1.2.2 Truyền thống hiếu học và khoa bảng của dòng họ Ngô .24

Chơng 2: Thân thế, sự nghiệp Ngô Trí Hòa 35

2.1 Thân thế và sự nghiệp của danh nhân văn hóa Ngô Trí Hòa 35

2.1.1 Thân thế 35

2.1.2 Ngô Trí Hòa - Ngời mở đầu truyền thống khoa bảng của họ Ngô ở Nghệ An 38

2.1.3 Ngô Trí Hòa - Bậc danh thần thanh liêm, chính trực 43

2.2 Đền thờ và mộ Ngô Trí Hòa 53

2.2.1 Đền thờ 53

2.2.2 Mộ Ngô Trí Hòa 60

2.2.3 Giá trị lịch sử - văn hóa - nghệ thuật 63

Kết luận 70

Tài liệu tham khảo 72

Phụ lục 74

Trang 3

Lời cảm ơn

Thời gian qua, đợc sự nhất trí của khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh, tôi đãtiến hành thực hiện đề tài “Tìm hiểu về dòng họ Ngô ở Lý Trai (Diễn Châu -Nghệ An) và thân thế sự nghiệp của danh nhân văn hoá Ngô Trí Hoà” làmkhóa luận tốt nghiệp

Trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận, tôi đã nhận đ ợc rấtnhiều sự khuyến khích và giúp đỡ của các thầy cô giáo, các anh chị, ng ời thân

và bạn bè

Trớc hết, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo - Thạc sĩ Hoàng Thị Nhạc,giảng viên chính bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, khoa Lịch sử, trờng Đạihọc Vinh đã trực tiếp hớng dẫn tôi thực hiện khóa luận này

Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Hội đồng gia tộc họ Ngô LýTrai (xã Diễn Kỷ, Diễn Châu, Nghệ An), đặc biệt là thầy giáo Ngô Hùng

Điềm đã khuyến khích và giúp đỡ tôi rất nhiều về mặt t liệu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo, các anh chị và các bạn.Xin tri ân gia đình đã sinh dỡng và dìu dắt con trởng thành

Xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 5 năm 2007.

Sinh viên thực hiện

Võ Thị Thanh Bình

Trang 4

a phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Là ngời ai cũng hiểu rằng:

“Cây có gốc mới xanh cành tơi ngọn

Nớc có nguồn mới bể cả sông sâu”

Đất tổ quê cha ấy là nơi xuất phát, là điểm tựa cho mỗi ngời dân chocộng đồng dân tộc Việt Nam Mỗi chúng ta ai cũng có một quê hơng, một họ

cụ thể nh họ Lê, họ Võ, họ Hoàng một ông tổ tôn kính; ai cũng thờ cúng tổtiên, đều thắp nén hơng tại nhà thờ họ ngày đầu xuân, ngày giỗ họ,đều biết

đến ông tộc trởng và bà con trong họ Bởi thế nên từ xa nhân dân ta đã cónhững câu: “Đất có tổ, ngời có tông”, “Uống nớc nhớ nguồn” Đó là truyềnthống đạo lí Việt Nam Việc nghiên cứu, tìm hiểu những nét đẹp riêng, độc

đáo ở từng địa phơng chính là nhằm hiểu sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về truyềnthống văn hoá dân tộc

Cả một hệ thống những giá trị, những truyền thống của các cộng đồnggia đình gia tộc, làng xã, vùng miền dân tộc mà ta vẫn gọi là văn hoá đã hun

đúc nên những nhân tài, những anh hùng, hào kiệt, những nhà văn hoá lớn Vàchính những “cá nhân đột khởi” đó lại là niềm tự hào cho dòng họ, ngời trongdòng họ mỗi khi nhớ về nguồn là nhớ tới những vị danh nhân ấy Họ, với sựthành đạt của mình đã bồi đắp cho văn hoá cộng đồng và văn hoá dòng họphát triển thêm lên, sáng đẹp thêm ra Do đó, nghiên cứu về cuộc đời, sựnghiệp các danh nhân còn có ý nghĩa to lớn trong việc giữ gìn và phát huytruyền thống văn hoá dòng họ Từ đó rút ra bài học quí báu về văn hoá giáodục để góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển đất nớc hôm nay

Hơn nữa, trong công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc hômnay, dới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đang phát huy hơn bao giờ hết sứcmạnh dân tộc, nội lực dân tộc, tranh thủ thời cơ, vợt qua thách thức Trong đósức mạnh văn hoá luôn đợc xem là một vấn đề chiến lợc có ý nghĩa nhằm thựchiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh Vìvậy, việc nghiên cứu lịch sử văn hoá địa phơng, đặc biệt là văn hoá dòng họ vàcác danh nhân văn hoá không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thựctiễn

Riêng với bản thân tôi, quê hơng Diễn Châu với những truyền thống tốt

đẹp luôn là niềm tự hào lớn Nơi đó “ngời thì thuận hoà mà chăm học, sản vậtthì nhiều thức quí lạ, đợc khí tốt của sông núi nên sinh ra đợc nhiều bậc danh

Trang 5

hiền.” 4,65 Hiếu học, khổ học lấy sự học làm đầu nên từ mảnh đất này đãxuất hiện nhiều tên tuổi làm rạng danh quê hơng Từ thuở nhỏ, tôi đã đợc nghenhiều lần về câu đối Nôm kể lại sự đỗ đạt của gia tộc họ Ngô:

“Sáng khoai, tra khoai, tối khoai, khoai ba bữa

Cha đỗ, con đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nhà”

Đặc biệt là về gia đình “phụ tử đồng khoa”, về danh nhân văn hoá NgôTrí Hoà- một sự nghiệp khoa bảng vang danh, một vị quan thanh liêm Để rồimỗi lần đi qua Đền thờ họ Ngô (ở xã Diễn Kỷ) tôi luôn cảm nhận thấy một sựthiêng liêng tôn kính

Với những nhận thức và tình cảm đó, tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu vềdòng họ Ngô ở Lý Trai (Diễn Châu - Nghệ An) và thân thế sự nghiệp của danhnhân văn hoá Ngô Trí Hoà” làm khoá luận tốt nghiệp của mình

Với về tài này tôi còn mong góp phần làm rõ thêm về một “góc” lịch sử

- văn hoá của quê hơng Diễn Châu đang hớng tới kỉ niệm “1380 năm danh

x-ng Diễn Châu (627-2007)”

2 Lịch sử vấn đề

Văn hoá dòng họ và thân thế sự nghiệp của một danh nhân văn hoákhông phải là đề tài lớn nhng đòi hỏi ngời nghiên cứu phải có thời gian tìmtòi, thu thập, khảo cứu những t liệu của dòng họ, của địa phơng

Đối với đề tài “Tìm hiểu về dòng họ Ngô ở Lý Trai (Diễn Châu

-Nghệ An) và thân thế sự nghiệp của danh nhân văn hoá Ngô Trí Hoà ” cho

đến nay cha có một công trình nghiên cứu nào hoàn chỉnh Chỉ có các nghiêncứu với phạm vi rộng hơn có đề cập đến những nhân vật khoa bảng của Diễn

Châu, chẳng hạn nh “Diễn Châu địa chí văn hoá và làng xã” do Ninh Viết Giao và Trần Hữu Thung chủ biên, nhà xuất bản Nghệ An 1995; “Các nhà khoa bảng Nghệ An 1075-1919” của Đào Tam Tỉnh, nhà xuất bản Nghệ An, 2000; “1380 năm Diễn Châu (627-2007)”, kỷ yếu toạ đàm khoa học, nhà xuất

bản Nghệ An,2005

ở phạm vi hẹp hơn có bài “Dòng họ Ngô ở Nghệ An truyền thống văn

hoá và hiếu học” của Cử nhân Trần Hữu Đức trong hội thảo “Văn hoá các dòng họ ở Nghệ An với Sự nghiệp thực hiện chiến lợc con ngời Việt Nam đầu thế kỉ XXI”, 1997 Trong bài viết này tác giả đã nói về truyền thống học hành thi

cử và đỗ đạt của họ Ngô ở Nghệ An, có một phần nhỏ nói về danh nhân NgôTrí Hoà Trên báo Nghệ An ngày 7 tháng 8 năm 1997, tác giả Bảo Kiếm có bài

Trang 6

viết “Ngô Trí Hoà với lục khải điều trần” đã khái quát một vài nét về sự nghiệp

của danh nhân Ngô Trí Hoà, trọng tâm là về “Khải điều trần” của ông

Đặc biệt trong các t liệu do dòng họ cung cấp có một số nghiên cứumang tính khái quát về dòng họ và thân thế sự nghiệp của Ngô Trí Hoà Cóthể kể đến bài của cụ Ngô Quang Nhã, 1997 về thân thế sự nghiệp của Ngô

Trí Hoà; hay bài viết của Cử nhân Ngô Thế Lữ về “Truyền thống hiếu học và khoa bảng của dòng họ Ngô công thần Lý Trai” đựơc tập hợp trong “Trí Tri- Trí Hoà diễn truyền sự tích” của hội đồng gia tộc họ Ngô Lý Trai Các bài viết

này đã góp phần làm rõ về danh nhân Ngô Trí Hoà, tuy nhiên những t liệu nàycha đợc công bố mà vẫn thuộc phạm vi lu giữ của dòng họ

Trên thực tế, những nghiên cứu hay bài viết đó cha cho biết một cách

đầy đủ, sâu sắc về những đóng góp, những giá trị truyền thống to lớn mà do sựnghiệp của mình, danh nhân Ngô Trí Hoà đã để lại cho dòng họ, cho quê h-

ơng, đất nớc

Trên cơ sở kế thừa các nguồn t liệu nh: sách, báo, t liệu dòng họ có đềcập đến truyền thống văn hoá của dòng họ Ngô, cùng với quá trình tổng hợpcủa bản thân, chúng tôi muốn góp phần làm hoàn chỉnh hơn những hiểu biết

về dòng họ Ngô ở Lý Trai và thân thế sự nghiệp của danh nhân văn hoá NgôTrí Hoà - một dòng họ, một nhân vật tiêu biểu của văn hoá Diễn Châu

3 Đối tợng, phạm vi và phơng pháp nghiên cứu

Trong phạm vi của đề tài này chúng tôi đề cập đến những nét văn hoácủa dòng họ Ngô ở Lý Trai và thân thế, sự nghiệp của danh nhân Ngô TríHoà

Trớc hết, chúng tôi đi vào tìm hiểu về quê hơng Diễn Châu, về điều kiện

tự nhiên và truyền thống tốt đẹp của những con ngời nơi đây Đó là nguồn cội,

là “mảnh đất màu” cho dòng họ Ngô bén rễ, phát triển để rồi hình thành nênnhân cách và hun đúc tài năng của Ngô Trí Hoà

Phần trọng tâm của đề tài đi sâu tìm hiểu về dòng họ Ngô ở Lý Trai, từ

đó làm nổi bật lên “cá nhân kiệt xuất” của dòng họ là Tiến sĩ Ngô Trí Hoà

Về dòng họ Ngô, chúng tôi tập trung làm rõ nguồn gốc, quá trình pháttriển của dòng họ trên mảnh đất Lý Trai (Diễn Châu - Nghệ An) Đặc biệt chútrọng làm sáng rõ truyền thống hiếu học và khoa bảng vang danh của dòng họ

Về thân thế và sự nghiệp của Ngô Trí Hoà, điểm đáng ghi nhận ở sựthành đạt của ông chính là sự nghiệp khoa bảng rạng rỡ và nhân cách thanh

Trang 7

bạch, trung trực của một bậc đại quan triều đình Tất cả đợc khẳng định bằngcách nhìn khách quan, tổng quát

Phần tìm hiểu về Đền thờ và mộ của Ngô Trí Hoà cũng đợc tập hợp lại

Đền thờ là một di sản văn hoá vật thể vô giá của các dòng tộc nói chung vàcủa dòng họ nói riêng, là một bộ phận quan trọng không thể thiếu góp phầnlàm nên văn hoá truyền thống dòng họ và dòng tộc Đây là một phần nội dungcủa đề tài nghiên cứu này

Về phơng pháp nghiên cứu, trên cơ sở dựa vào các tài liệu thu thập đợc

có liên quan đến vấn đề nghiên cứu chúng tôi đã xử lý t liệu có liên quan từ đóphân tích, hệ thống hoá theo phơng pháp lịch sử và logic để giải quyết vấn đề.Mặt khác, kết hợp sử dụng phơng pháp so sánh đối chiếu tài liệu, thống kê đểtiến hành nghiên cứu

Trang 8

B phần nội dung

Chơng 1: Quê hơng - Dòng họ

1.1 Diễn Châu - đất và ngời

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Diễn Châu - tên gọi cổ xa, thật ấn tợng, thật thân thơng trong lòng ngời

và gợi mở nhiều điều lí thú khi ta muốn tìm hiểu nghiên cứu về nó và cả mộtquá trình lịch sử sống động do con ngời sáng tạo, xây dựng trên mảnh đất này.Không phải ngẫu nhiên mà có tên đất Diễn Châu, cũng không phải tự nhiên

mà tên gọi Diễn Châu đã tồn tại gần 1380 năm và sẽ còn trờng tồn theo thờigian

Huyện Diễn Châu ngày nay là một trong những vùng đất ngàn năm vănhiến của tổ quốc Việt Nam anh hùng Căn cứ vào các th tịch cổ, tên gọi và địaphận của vùng đất này có nhiều thay đổi :

Thời Văn Lang, Diễn Châu thuộc bộ Việt thờng, bao gồm gần hết phầnphía Bắc và Tây Bắc Nghệ An ngày nay, đã gắn bó máu thịt với tổ quốc, với

đất nớc Việt Nam Thời Bắc thuộc trải qua bao triều đại, đất Diễn Châu thuộchuyện Hàm Hoan đời Hán, thuộc quận Cửu Đức đời Ngô và đời Tấn, thuộchuyện Đức Châu của Quận Nhật Nam đời Nam Lơng (502-507)

Sau đó là nhà Tiền Lý - nhà Tiền Lý đặt quốc hiệu là Vạn Xuân xây nền

tự chủ đợc một thời gian(554-603) thì bị nhà Tuỳ lấn chiếm

Nhà Tuỳ trị vì Trung Quốc trong khoảng 37 năm (581-618) thì bị nhà

Đờng lật đổ Buồi đầu nhà Đờng cha nắm vững đợc Giao Châu Năm Vũ Đứcthứ 5 đời Lý Cao Tổ (622), nhà Đờng đặt Giao Châu đại tổng quản phủ lãnh

10 châu Năm 679 đổi thành An Nam đô hộ phủ, cai trị 12 châu Nhng trớc đónăm Trịnh Quán thứ nhất (627) đời Lý Thái Tông, nhà Đờng đã đổi Đức Châuthành Hoan Châu, Hoan Châu cũ gọi là Phù Diễn sau đổi là Diễn Châu, songlúc bây giờ Diễn Châu chỉ là một đơn vị hành chính của huyện Hàm Hoannằm trong Hoan Châu Mãi năm 764 nhà Đờng mới tách phần của Hoan Châu

đặt thành Châu Diễn, ngang với Hoan Châu, có lẽ đó là phần đất khoảng cáchuyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lu, Nam Đàn, Quì Hợp, Quỳ Châu vàQuế Phong hiện tại, lỵ sở đóng ở Quỳ Lăng, tức xã Lăng Thành (Yên Thành)

Năm 939, nớc ta giành đợc quyền tự chủ các triều đại Ngô (939-967),

Đinh (967-980), Tiền Lê (980-1010) đều bỏ hẳn chế độ quận huyện ĐinhTiên Hoàng chia nớc ta làm 10 đạo, nhng cho đến nay chúng ta cha rõ duyêncách địa lí hành chính và tên gọi các đạo đời Đinh và lộ, phủ, châu đời Tiền

Trang 9

Lê nh thế nào Cả dải đất từ Khe Nớc Lạnh đến Đèo Ngang vẫn thấy sử cũ gọi

là Hoan Châu và Diễn Châu

Năm 1010 nhà Lý lên thay nhà Tiền Lê, chia nớc ta làm 24 lộ thì DiễnChâu là một trong 24 lộ nhng sách vẫn gọi Nghệ An và Diễn Châu là châu.Năm Thiên Thành thứ 3(1030) đời Lý Thái Tông, đổi Hoan Châu thành Nghệ

An Tên Nghệ An có từ đó

Năm 1225 nhà Trần lên thay nhà Lý Năm 1226 nhà Trần đổi Nghệ An

và Diễn Châu làm trại nhng sau đó gọi là phủ Năm Long Khánh thứ 2 đời TrầnDuệ Tông (1373) đổi lại là lộ Diễn Châu Năm Quang Thái thứ 10 (1397), LêQuý Ly làm phụ chính thái s, sửa đổi chế độ hành chính, đã đổi các lộ, phủ ralàm trấn Nghệ An tức miền đất Hà Tĩnh và từ Nghi Lộc kéo thẳng lên đất KìSơn hiện tại là trấn Lâm An, còn Diễn Châu làm trấn Vọng Giang Sang đời Hồ,

Hồ Hán Thơng đổi phủ Diễn Châu từ trấn Vọng Giang thành phủ Linh Nguyên.Phủ Linh Nguyên vẫn là phần đất đời Trần, Lý trở về trớc

Phủ Linh Nguyên hay trấn Vọng Giang hay Diễn Châu đời Lý, Trần,

Hồ gồm các huyện Phù Dung tức là đất của huyện Quỳnh Lu ngày nay; huyệnPhù Lu, huyện Quỳnh Lâm có lẽ là đất của huyện Nghĩa Đàn và phủ QuìChâu cũ và huyện Thiên Động là đất của hai huyện Yên Thành và Diễn Châuhiện tại

“Nhất thống chí” (Nghệ An) chép: huyện Đông Thành thời Trần làhuyện Thổ Thành, thời thuộc Minh là huyện Đông Ngàn ở đất Hoan Châu.Nhng giáo s Đào Duy Anh cho rằng huyện Đông Thành là huyện Diễn Châu

và Yên Thành ngay nay, mà Đông Thành đã thuộc Diễn Châu xa thì không thể

là Đông Ngàn ở đất Hoan Châu

Thời thuộc Minh, Diễn Châu gọi là phủ Khởi nghĩa Lam Sơn toànthắng, thiên hạ đại định, Lê Lợi chia nớc ta làm 5 đạo, Diễn Châu thuộc đạoHải Tây Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), Lê Thánh Tông định lại bản đồ cảnớc để thống thuộc các phủ huyện, chia nớc ta làm 15 thừa tuyên, mới hợp cảHoan Châu và Diễn Châu làm một gọi là thừa tuyên Nghệ An

Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) đổi làm xứ, sang đời Hồng Thuận đổilàm trấn Trấn Nghệ An lúc bấy giờ có 7 phủ: Đức Quang, Diễn Châu, Anh

Đô, Hà Hoa, Quỳ Châu, Trà Lân Trấn Ninh và hai châu Trình Cao và QuỳHợp Sang đời Tây Sơn, Diễn Châu thuộc trấn Nghĩa An, lỵ sở chuyển về Tiên

Lý (nay là xã Diễn Ngọc) Năm 1802, Gia Long đổi Nghĩa An thành trấnNghệ An

Trang 10

Diễn Châu đời Lê và sau này đời Nguyễn có hai huyện: Đông Thành vàQuỳnh Lu Đầu đời Nguyễn, Đông Thành có 7 tổng, 242 xã thôn, trang, sách,vạn, phờng.27

Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), nhà Nguyễn chia Đông Thành theochiều Đông Tây, làm hai huyện: Đông Thành và Yên Thành

Huyện Yên Thành gồm các tổng Hoàng Trờng, Vạn Phần, Thái Trạch(sau đổi là Quỳ Trạch), và Quan Triều do phủ Diễn Châu thống hạt, lỵ sở

đóng ở Yên Lý, tức xã Diễn Yên hiện tại

Những tổng còn lại: Cao Xá, Quan Trung, Văn Tụ nằm trong huyện

Đông Thành, lỵ sở đóng ở Cao Xá (xã Diễn Thành hiện tại)

Nh vậy huyện nào cũng có núi, có đồng bằng, có biển Nhng rồi nămThành Thái thứ 10 (1898), chính quyền thực dân Pháp và nhà Nguyễn thấychia hai huyện nh vậy có nhiều điều không thuận tiện, mới chia lại theo chiềuBắc - Nam, huyện Đông Thành phía Đông, huyện Yên Thành ở phía Tây, cảhai huyện đều thuộc phủ Diễn Châu

Từ năm 1919, Nhà nớc bỏ cấp phủ, đổi huyện Đông Thành thành phủDiễn Châu, gọi là phủ nhng phủ chỉ ngang hoặc hơn cấp huyện tý chút

Cách mạng tháng Tám thành công, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra

đời, các phủ, huyện, châu đều đổi làm huyện và có điều chỉnh lại một số phần

đất; phần đất phía bắc tổng Hoàng Trờng (gồm hai xã Quỳnh Diễn và QuỳnhGiang hiện tại) cắt về huyện Quỳnh Lu Hiện tại Diễn Châu có 38 xã và mộtthị trấn: Diễn Phú, Diễn Thọ, Diễn Lộc, Diễn Lợi, Diễn Bình, Diễn Minh,Diễn Thắng, Diễn Cát, Diễn Thái, Diễn Nguyên, Diễn Đồng, Diễn Liên, DiễnXuân, Diễn Tháp, Diễn Hồng, Diễn Yên, Diễn Trờng, Diễn Lâm, Diễn Đoài,Diễn Hoa, Diễn Hạnh, Diễn Quảng, Diễn Kỷ, Diễn Phong, Diễn Mỹ, Diễn An,Diễn Tân, Diễn Phúc, Diễn Hoàng, Diễn Trung, Diễn Thịnh, Diễn Thành,Diễn Kim, Diễn Hải, Diễn Hùng, Diễn Vạn, Diễn Ngọc, Diễn Bích, Thị Trấn

Nh vậy Diễn Châu là một huyện ven biển, nằm ở phía bắc tỉnh Nghệ

An, từ 105,30 đến 105,40 độ kinh Đông và từ 18,20 đến 19,5 độ vĩ Bắc; phíaBắc giáp huyện Quỳnh Lu, phía Nam giáp huyện Nghi Lộc, phía Tây và mộtphần Tây Nam, Tây Bắc giáp huyện Yên Thành, phía Đông là biển.27

Diện tích tự nhiên của huyện là 30 492,36 ha Dân số năm 2005 là

286000 ngời Tình hình dân c phân bố không đều.1,26 

Về tên gọi Diễn Châu, H.LEBRETON (nguyên là đốc học trờng Quốchọc Vinh năm 1924-1928) đã qua tìm hiểu các bậc đại phu, nho sĩ xứ Nghệ và

Trang 11

qua hiểu biết khoa học của mình để viết về xuất xứ của tên gọi đó trong chơngtrình nghiên cứu về xứ Nghệ có tên “An tĩnh cổ lục” nh sau:

“ “Diễn” có nghĩa là nớc chảy dới đất Từ ngữ hoàn toàn đúng đắn nàybao hàm một khái niệm quan trọng cần phải nhớ là nó truyền thụ cho ta cáinhận thức trực giác: một lớp nớc hiện lu hành trên nền của đất sét đen, phần

đất sét này quyết định chất đất của đáy đầm phá, nay đã tạo thành lớp trên địatầng của tất cả mọi đồng bằng duyên hải”

Đợc hình thành trong lớp kiến tạo Tân Sinh, do quá trình biển tiến, biểnlùi mà tạo thành các vùng bồi tụ (vỏ sò, cát biển, ) chiếm tỉ lệ lớn, nên mức

độ màu mỡ cho đồng bằng ven biển Diễn Châu tơng đối thấp Đất Diễn Châungày nay đợc qui tụ thành vùng, theo hớng tập trung chuyên canh: vùng lúa cónăng suất bình quân trên 5 tấn/ha, vùng màu trồng rau các loại và nhiều cây

có giá trị kinh tế cao nh lạc, kê, vừng, đậu, sắn, Diễn Châu vinh dự là mộthuyện có diện tích và sản lợng lạc lớn trong cả nớc Vùng bán sơn địa, phầnlớn là đồi núi thấp và những bãi cỏ, tạo khả năng cho huyện nhà mở rộng diệntích trồng cây công nghiệp, phát triển lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc, tạo

điều kiện thu hút và điều hoà một lực lợng lao động, giảm bớt sức ép cho vấn

đề dân số

Diễn Châu có 25 km bờ biển chạy dài từ xã Diễn Hùng đến Diễn Trung,lõm vào đất liền làm thành vũng thủng Bố Don - là cơ sở quan trọng trong việckinh doanh kinh tế biển Khí hậu biển Diễn Châu mát mẻ, có nhiều cảnh quanthiên nhiên đẹp, có bãi tắm biển thuộc loại tốt, tạo thuận lợi cho việc xâydựng các khu an dỡng và phát triển các loại hình du lịch dịch vụ Thềm lục địa

ở Diễn Châu nông, bằng phẳng, nớc chỉ sâu từ 4 –9 m, thuận tiện cho việcthả lới rê, lới quét Biển Diễn Châu có hầu hết các loại hải sản trong vịnh Bắc

Bộ và nhiều loại có giá trị kinh tế cao nh cá, tôm, mực, rau câu, sứa Hàngnăm, huyện có thể khai thác đợc một sản lợng lớn tôm, cá và mực xuất khẩu

Dọc theo bờ biển là một dải rừng phòng hộ phi lao và dừa xanh, phần

đất tiếp cận (giáp ranh) tuy có phần thiếu chất dinh dỡng nhng chăm bón cẩnthận các loại cây ăn quả nh na, xoài, nhãn, đu đủ vẫn có thể cho năng suấtcao Với địa hình bằng phẳng, vùng hạ lu sông Bùng có Lạch Vạn An sâu vào

đất liền tạo điều kiện cho diêm dân sản xuất và mở rộng nghề muối

Tuy không giàu có về khoáng sản nh một số nơi khác của nớc ta, songDiễn Châu có các mỏ sắt, cồn sò điệp Các cồn sò do những loài trai, ốc hến

xa kia kết lại ở đáy thềm lục địa, có độ dày từ 4 - 5 m Điều đó chứng tỏ cdân nơi đây có một cơ tầng văn hoá rất lâu đời Sò là loại vật liệu rất tốt cho

Trang 12

việc xây dựng các công trình dân dụng Cùng với Quỳnh Văn - Quỳnh Lu,các cồn sò điệp ở Diễn Châu đã góp phần xây dựng nên thành cổ Vinh -Nghệ An.

Diễn Châu có các tuyến đờng quốc lộ 1A, đờng sắt Bắc Nam chạyxuyên qua Ngoài ra, Diễn Châu còn là nơi xuất phát của quốc lộ 7, nối với n-

ớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, đờng tỉnh lộ 38 đoạn cầu Bùng đi YênThành, đờng 48 đoạn từ Yên Lý đi Quế Phong và nhiều đờng liên thôn liên xãkhác Hệ thống đờng giao thông nói trên tạo điều kiện cho việc phát triển kinh

tế, giao lu và tiếp xúc văn hoá với các huyện phụ cận, phát triển các loại hìnhdịch vụ vận tải Các tuyến đờng giao thông nội ngoại tỉnh gắn hoạt động của

ba huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lu thành một cửa ngõ rộng lớn củaphía Bắc tỉnh Nghệ An và là nơi hội tụ, giao lu của nhiều luồng thông tin Bêncạnh đó còn phải kể đến kênh nhà Lê - một công trình kết hợp kinh tế vớiquốc phòng của ông cha ta - nối liền huyện Quỳnh Lu ở phía Bắc và Nghi Lộc

ở phía Nam Sông Bùng chảy qua 10 xã ở Diễn Châu rồi đổ ra Lạch Vạn - nơi

có các quan hệ với các cửa biển nội tỉnh, đầu mối giao thông quan trọng nốiDiễn Châu với Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh

Điều kiện địa lí tự nhiên ở Diễn Châu có nhiều thuận lợi song cũngkhông ít khó khăn, do đó phải triệt để khai thác mặt tích cực để hình thànhmột cơ cấu sản xuất nông - lâm - ng - diêm nghiệp thích hợp, làm tăng tổngsản phẩm xã hội, đồng thời phải tìm mọi cách hạn chế mặt tổn hại đến đờisống nhân dân

1.1.2 Truyền thống lịch sử - văn hoá

Dựng nớc và giữ nớc là hai mặt cơ bản mật thiết gắn bó với nhau trong

đời sống dân tộc Việt Nam Đó cũng là đặc điểm bao trùm, là qui luật cơ bảncủa lịch sử nớc ta Suốt mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân ta vừa lao động vừaxây dựng đất nớc, vừa chiến đấu bảo vệ đất nớc, từng bớc khẳng định đợctruyền thống của mình Đó là truyền thống kiên cờng đấu tranh chống lại mọithế lực cản bớc đi lên của dân tộc, truyền thống tự lực tự cờng, chịu đựng giankhó, cần cù trong lao động, giản dị trong cuộc sống, kiên cờng chinh phục tựnhiên; đó là tinh thần đoàn kết dân tộc, chuộng nhân nghĩa trọng đạo lí Tuynhiên, trong sự nghiệp xây dựng cuộc sống với những đặc điểm riêng biệt về

điều kiện tự nhiên cũng nh xã hội, ngời dân Diễn Châu qua thời gian và khônggian xê dịch đã có một sự chuyển đổi về tính cách, nếp nghĩ, tình cảm vàphong tục tập quán

Trang 13

Truyền thống của nhân dân Diễn Châu về bản chất là truyền thống củangời Việt biểu hiện trong hoàn cảnh cụ thể Các truyền thống đợc truyền lạicho các thế hệ tiếp nối, góp phần cùng cả nớc làm nên những bản anh hùng cahàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc.

Không chỉ có cảnh đẹp của núi sông, biển cả, giàu của cải thiên nhiên

mà Diễn Châu còn đợc biết đến là một trong những vùng đất có bề dày lịch sửtruyền thống - văn hoá Nơi đây là nơi hội tụ, giao lu của hai nền văn hoá Bắc

- Nam Nhiều di tích thời tiền sử đã đợc phát hiện, chứng tỏ đây là vùng đất cổ

có ngời c trú lâu đời Tại di chỉ Rú Ta (Diễn Thọ) thuộc nền văn hoá Bàu Tró nền văn hoá hậu kì đồ đá mới ở Nghệ Tĩnh đã phát hiện đợc nhiều hiện vật nhrìu đá hình chữ nhật, rìu đá có vai, đồ gốm tô thổ hoàng, có đồ án trang trí hoavăn chữ S nối đuôi nhau

-ở di chỉ lèn Hai Vai (Diễn Minh) tìm đợc một số hiện vật quí: sọ ngời

cổ, bình gốm còn nguyên vẹn và rìu đá đợc mài nhẵn cả hai mặt Hoa văntrang trí dọc trên các bình gốm Hai Vai rất độc đáo, ít khi gặp trên đồ gốmnguyên thuỷ ở nớc ta

Di chỉ Đồng Mỏm (Diễn Thọ) là di chỉ duy nhất tìm thấy đợc nhiều đồsắt trong các di chỉ thuộc nên văn hoá Đông Sơn ở Nghệ Tĩnh Phơng phápluyện sắt thời đó là phơng pháp hoàn nguyên trực tiếp Ngoài các hiện vậtbằng đá, sắt, ở đây còn phát hiện một số ngôi mộ chôn đơn, chôn đôi, chôntrong hai vò gốm úp nhau Qua việc chôn cất ngời chết có thể thấy một chế độxã hội giàu nghèo đang phát triển nhng mức độ phân hoá cha cao

Di chỉ Rú Ta, lèn Hai Vai, Đồng Mỏm đã góp phần khẳng định DiễnChâu là một bộ phận khăng khít trong đại gia đình các dân tộc là con cháu cácvua Hùng và góp phần làm rạng rỡ thêm về nền văn hoá Đông Sơn nổi tiếng

Huyện Diễn Châu nổi tiếng là vùng đất có truyền thống hiếu học,chuộng văn chơng Truyền thống hiếu học, trọng đạo lí làm ngời không chỉthể hiện trong ý thức t tởng mà còn biểu lộ trong hành động thực tế Hầu hếtcác thôn xã đều có ruộng học điền, có văn miếu, hội t văn, t võ, hội đồngmôn Nhiều tên làng, tên xã đã nói lên truyền thống đó của quê h ơng nh VănHiến, Văn Vật, Văn Tập, Bút Điền, Bút Trận, Tam Khôi, Th Phủ, NhoLâm,

Trong hoàn cảnh khó khăn về mọi mặt, tinh thần khổ học, cần cù, hiếuhọc sớm đợc định hình, trở thành một trong những truyền thống tốt đẹp củaquê hơng Dơng Văn An trong “Ô châu cận lục”, Phan Huy Chú trong “Lịch

Trang 14

triều hiến chơng loại chí” đều nhận xét “Ngời Hoan, Diễn thuần mà chămhọc”.

Từ khoa thi đầu tiên năm 1075 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, DiễnChâu có 27 vị đại khoa (3 Trạng Nguyên, 3 Thám Hoa, 4 Hoàng Giáp, 17Tiến sĩ), 72 Phó bảng và 82 Cử nhân (cha kể đến cống sĩ đời Lý, Trần).1,31

Về mặt khoa cử, Diễn Châu đứng thứ hai sau huyện La Sơn Khoa thi nămNhâm Thìn, hiệu Quang Hng (1592) chỉ lấy 3 ngời, riêng Diễn Châu chiếmhai vị, đó là Ngô Trí Tri - 56 tuổi, đậu Tam giáp đồng Tiến sĩ đồng xuất thân

và con của ông là Ngô Trí Hoà - 28 tuổi, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân Xã LýTrai (Diễn Kỷ), Hoa Lâm (Diễn Thọ) là những xã nổi tiếng trong tỉnh cónhiều ngời đỗ đạt cao

Nhiều nhà khoa bảng ở Diễn Châu có lòng yêu nớc nồng nàn, tuy đỗcao nhng họ không ra làm quan mà hớng theo nhà vua cứu nớc, hay trở vềquê làm thầy dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, cứu ngời Trong hàng ngũ cácnhà khoa bảng có rất nhiều ngời xuất chúng, ví nh Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ônnổi tiếng về sự thông minh, đợc ngời đời mệnh danh “tủ sách bụng” Ông từngviết “Ngọc đờng thi tập”, “Ngọc đờng văn tập”, chiêu mộ quân sĩ dấy cờ nổidậy đánh Pháp hớng theo chiếu Cần Vơng cứu nớc Cao Xuân Dục mặc dù chỉ

đậu Cử nhân nhng lại rất uyên bác, xứng đáng là Tổng tài Quốc sử quán triềuNguyễn, ông đã biên tập bộ “Đại Nam nhất thống chí”, là soạn giả của 16 tácphẩm bao gồm các lĩnh vực thơ, văn, lịch sử, triết học, địa lí, pháp lí

Hoàng Danh Sởng (còn gọi là Đồ Đợu) đậu Hiếu sinh nhng không ralàm quan mà ở lại quê vui thú điền viên và quyết tâm nghiên cứu y học vớihoài bão chữa bệnh cứu ngời Trên 30 năm vừa học, vừa làm, vừa tham khảokinh điển, thu thập kinh nghiệm dân gian, ông đã biên soạn ra bộ “Địa sinhlâm đắc” gồm 4 tập, hiện còn có giá trị đến ngày nay

Về sinh hoạt tinh thần, nhân dân Diễn Châu cũng có những sắc tháiriêng biệt, độc đáo Thờ phụng gia tiên và tinh thần tông tộc đợc coi là cái gốccủa đạo lí làm ngời ở các làng xã trong huyện đều có đền thờ thần hoàng, cóchùa thờ Phật, có văn chỉ để lễ tiên thánh hậu hiền Thần hoàng làng khôngnhững là ngời đại diện mà còn là ngời bảo trợ cho cộng đồng làng xóm Ngày

lễ thần là một trong những nghi lễ quan trọng nhất, lớn nhất cộng đồng củanăm Tất cả dân làng đều quan tâm đến ngày hội, nhộn nhịp chuẩn bị với tấtcả hứng thú và lòng thành kính Ngày hội ấy bao giờ cũng đợc tổ chức mộtcách thờng xuyên và đều đặn Những năm hoa cỏ, mùa màng phong đăng tơitốt thì ngày hội càng lớn, càng linh đình Ngày lễ tế thần thể hiện một cách tập

Trang 15

trung và toàn diện nhất, mọi nề nếp sinh hoạt của cộng đồng có một ý nghĩa tolớn trong việc giáo dục ý thức tâm lý cộng đồng cho các thế hệ trẻ về truyềnthống của ông cha.

Ngoài lễ tế thần, vào những ngày nhất định, các làng xã đều tổ chức lễmừng thọ Đại vị của các vị lão niên đợc mọi ngời kính nể Quan điểm “triều

đình trọng tớc, làng nớc trọng xỉ” thể hiện sự khác biệt giữa phép vua và lệlàng, một khoảng cách giữa quan điểm tổ chức và thống trị của giai cấp địachủ phong kiến bề trên và ý thức dân chủ của làng xã cơ sở Tập tục này còn

đợc duy trì đến ngày nay nhng hình thức có phần đã khác xa

Con ngời Diễn Châu rất yêu thích ca hát Nhiều thôn xã trớc đây đều cóphờng hát nh hát hội ở làng Bùng (Diễn Ngọc), Thừa Sủng (Diễn Xuân), hátchèo ở Lý Nhân (Diễn Ngọc), Thanh Bích (Diễn Bích), hát hò Đại Thánh ở

Đông Câu, Phúc Thịnh (Diễn Hải) Vào ngày hội mùa xuân, các nơi đều tổchức ca hát, lôi cuốn đợc hàng trăm ngời tham dự Nhân dân Diễn Châu rấthâm mộ những nhạc phẩm, kịch bản nói về các anh hùng dân tộc, các gơngtrọng đạo lí và tình nghĩa thuỷ chung

Nét đặc sắc trong sinh hoạt văn nghệ ở Diễn Châu là hát ví, hát dặm và

kể vè Hát ví đậm đà chất chữ tình, gắn liền với lao động sản xuất, với cácngành nghề làm ăn của địa phơng ở Diễn Châu hầu nh nghề gì cũng có hátví: Ngời quay tơ dệt vải ở Đông Phái, Phợng Lịch (Diễn Hoa) có ví phờng vải;ngời chắp gai đan lới ở Hữu Bằng, Phú Lộc, Lý Nhân (Diễn Ngọc) có ví ph-ờng chắp gai; ngời đan lát ở Hoàng La (Diễn Hoàng), Phú Hậu (Diễn Tân) có

ví phờng đan; ngời đi săn vùng Rấm Tảo (Diễn Lâm) có ví phờng săn; ngờihái củi Nho Lâm (Diễn Thọ) có ví phờng củi (còn gọi là hát reo), trẻ mục

đồng có ví chăn trâu; những ngày mùa màng có ví phờng cà, phờng cấy, nhổmạ, phờng gặt, đó là cha kể đến những đêm hát huê tình (hát ghẹo) của namthanh nữ tú vào tiết tháng 7, tháng 8, lúc mùa màng rỗi rãi

Hát dặm không thịnh hành ở Diễn Châu nhng kể chuyện thì hầu nh nơinào cũng có Vè không những đợc quần chúng sử dụng nh một vũ khí sắc bén

để tố cáo, phản kháng đối với giai cấp thống trị mà còn mang tính chất thời sựphản ánh và bình luận kịp thời với tinh thần phê phán những việc xảy ra ở địaphơng Không có một quyền lực nào có thể cản trở đợc quần chúng nhân dânsáng tác vè Tác giả của những bài vè có thể là cá nhân hay một tập thể, mộtnhóm ngời, sáng tác xong thì lập tức nhanh chóng đợc phổ biến rộng rãi trongthôn xóm Có nhiều bài vè đề cập đến những vấn đề rộng lớn, đã vợt thời gian

Trang 16

và không gian tồn tại nh một cứ liệu lịch sử của thời đại nh bài vè Tú Tấn, TúMai, vè Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã, vè đi phu Cửa Rào,

Ngoài các làn điệu dân ca còn phải kể đến kho tàng văn học dân giangồm đủ các loại ca dao, tục ngữ, chuyện cời, chuyện trạng, chuyện cổ thế sự

và nhiều giai thoại văn học Ca dao, tục ngữ ở Diễn Châu đều tập trung việc

đúc kết từ kinh nghiệm sản xuất, cách ứng xử quan hệ xã hội và đặc điểm sinhhoạt của địa phơng Các chuyện thần thoại, cổ tích phần lớn là các chuyện lịch

sử thờng tập trung biểu dơng các gơng sáng trong sự nghiệp dựng nớc và giữnớc nên có tác dụng trong việc hình thành các truyền thống của quê hơng

Chế ngự thiên nhiên, phát triển sản xuất, xây dựng quê hơng là mộttrong những truyền thống quí báu của nhân dân huyện nhà Diễn Châu là mộttrong những huyện có tài nguyên phong phú, đa dạng nhng cũng là nơi thiênnhiên đặt ra cho con ngời nhiều tai ơng, chớng ngại Nắng, gió, ma bão, lũ lụt,hạn hán, sâu bệnh là những nhân tố thờng xuyên uy hiếp đời sống con ngời ở

đây Tin vào khả năng của mình, các thế hệ ông cha chung lng đấu cật vớinhau trong cuộc đấu tranh dài lâu, gay go và phức tạp Bằng sức lao động cần

cù, bằng sự thông minh, trí sáng tạo tuyệt vời, tổ tiên ta đã tận dụng những

điều kiện thuận lợi sẵn có trong tự nhiên, biết khắc phục trở ngại hiểm nghèotừng bớc xây dựng quê hơng ngày một giàu đẹp Buổi đầu lập nớc, công cụ rấtthô sơ, ông cha ta chủ yếu dựa vào sức lao động của công xã, đẩy mạnh côngcuộc khai phá đất đai vùng Tây Bắc, Tây Nam Diễn Châu, lập ấp, chiêu mộdân, dựng làng, thuần hoá nhiều giống động vật và cây trồng Dải đất từ chânnúi Mộ Dạ chạy dài đến các làng Nho Lâm, Xuân Sơn đã có những tập đoànquần c tơng đối đông đúc

Sang thời kì Bắc thuộc, bất chấp mọi chính sách và thủ đoạn tàn bạo,thâm độc của kẻ thù, nhân dân Diễn Châu vẫn cố kết với nhau trong tổ chứcxóm làng, không ngừng tích luỹ kinh nghiệm, cải tiến kĩ thuật, mở mang đồngruộng, xóm làng Nhiều xóm làng đợc thành lập, dân c cộng c ngày một đông

đúc Thời Tây Hán, vùng Hàm Hoan mới có 5.000 hộ với 20.000 nhân khẩu,

đến thời Đông Hán con số đó lên 6.000 hộ với 30.000 nhân khẩu Sang thờiTuỳ, số hộ ở Hàm Hoan tăng lên 9.916 hộ Do biến động xã hội, một số dòng

họ Đàng Ngoài bắt đầu di c vào sinh cơ lập nghiệp ở Diễn Châu.1,35

Đến thời Lý - Trần - Lê, công cuộc khai hoang lập ấp đợc đẩy mạnhthêm một bớc Vùng ven biển Diễn Châu bắt đầu đợc khai phá Vùng trung tâmhuyện đã có nhiều tụ điểm dân c đông đúc Ngoài sở đồn điền Diễn Châu chạy

từ núi Mồng Gà qua Bến Thóc, Yên Sở, Lạc Sở do nhà nớc quân chủ quản lí,

Trang 17

một số quan lại quí tộc đợc phép đứng ra tổ chức lo việc khai hoang lập ấp ÔngNon, thuỷ tổ họ Cao và Đặng Tiến Công khai khẩn vùng đất Nho Lâm (DiễnThọ, Diễn Lộc, Diễn Phú), Tạ Công Luyện khai khẩn vùng Cầu Đạm (DiễnCát), Trịnh Công Đán vùng Xuân Sơn (Diễn Lợi), Đặng Phúc Lâm đảm nhiệmvùng Mai Các (Diễn Thành), Phạm Thập vùng Cao Xá (Diễn Thành, DiễnThịnh, Diễn Trung), ba ông tổ họ Bùi, Hoàng, Tăng vùng Diễn Hồng, DiễnNguyên, Diễn Thái, ông tổ họ Trơng khai phá vùng Diễn Kỷ,

Vào cuối đời Lê, huyện Đông Thành đã lên đến 76 xã, 4 thôn, 29 sách,

1 trang, 2 sở, 3 vạn và 4 quản Đến thời Nguyễn, hầu hết đất đai Diễn Châu

đ-ợc khai phá Các thôn xã đđ-ợc định hình lên tới 139 đơn vị.1,35

Những kết quả khai khẩn đất đai từ thế hệ này qua thế hệ khác đã biếnDiễn Châu trớc đây là miền biên cơng hẻo lánh “hơu, hoẵng đầy gò, tiếng kêuvang đồng nội, chim công bay lợn che rợp núi trời” ( Lịch Đạo Nguyên,

“Thuỷ kinh chú”) thành một vùng đất phì nhiêu trù mật Những cánh đồngmênh mông dập dìu sóng lúa, những vờn cây trĩu quả, làng mạc xanh rờn cólũy tre bao bọc, những trờng học rộn rã tiếng cời, những chợ búa đông nghịtngời qua lại là kết quả của biết bao mồ hôi, nớc mắt của lớp ngời tiên phong đikhai sơn phá thạch

Với đôi bàn tay rắn chắc, với trí tuệ và tài năng sáng tạo, nhân dân DiễnChâu đã nâng trình độ kỹ thuật của địa phơng ngang tầm đất nớc

Cùng với việc xây dựng đời sống nông nghiệp, định c, nhân dân lao

động Diễn Châu cũng đã góp phần sáng tạo nền văn hoá dân tộc độc đáo,phong phú và đậm đà tính nhân dân Chính nhờ đó mà bản lĩnh và sắc thái dântộc không những đợc giữ nguyên gốc trớc nạn ngoại xâm mà còn tạo lập nêntinh thần lạc quan, yêu đời mặc dầu cuộc sống nơi thôn dã còn nghèo khổ, lắmgian truân và còn ít nhiều cay đắng

Nhân dân Diễn Châu hết sức kiên cờng chống ngoại xâm và giai cấpthống trị, vơn lên làm chủ cuộc đời Trên mảnh đất kiên cờng, bất khuất này,mỗi một hòn núi, khúc sông, đoạn đờng, một thôn xóm không những thấm

đẫm mồ hôi, nớc mắt trong việc chế ngự thiên nhiên, mà còn thấm máu trong

sự nghiệp bảo vệ độc lập của Tổ Quốc

Cùng với cả nớc, Diễn Châu trải qua hàng chục cuộc chiến tranh giảiphóng và chiến tranh tự vệ chống đủ các loại quân xâm lợc có tiềm lực kinh tế

và quân sự mạnh hơn ta gấp bội lần

Trong lịch sử đánh giặc của tổ tiên ta, cùng với Nghệ An, Hà Tĩnh,Diễn Châu từng đợc xem là phên dậu của nớc nhà, là đất “trọng trấn”, “thắng

Trang 18

địa”, “đứng chân” của nhiều đời Do địa thế núi sông, biển cả có phần hiểmtrở “khi thắng có thể đánh ra, khi yếu có thể giữ vững”, do tính chất quật khởi

“khi xông pha trận mạc thì dũng cảm bất khuất, khi chịu đựng gian khổ thì gaigóc lầm lì, khi đi theo việc nghĩa thì son sắt thuỷ chung” nên Diễn Châu cólúc trở thành trung tâm của các cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm, có lúc trởthành nơi gửi gắm mọi nềm tin của bộ phận lao động trong những phút giâyhiểm nghèo nhất trong lịch sử nớc nhà Trên đất Diễn Châu còn lu lại gần 90

di tích lịch sử làm rạng rỡ truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm Trong cáccuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên (1258 - 1288), kháng chiếnchống quân Minh đầu thế kỉ XV nhiều con em Diễn Châu trực tiếp đóng gópphần xơng máu của mình cho nền độc lập mà đến nay sử sách vẫn còn ghi

Sống trên mảnh đất mà thiên nhiên thuộc loại khắc nghiệt, con ngời lạinằm trong áp bức của chế độ quân chủ, cho nên cùng với chống ngoại xâm,nhân dân Diễn Châu còn phải liên tục chống lại giai cấp thống trị một khi nó

đã đi ngợc lại nguyện vọng của quần chúng để giành quyền sống

Theo qui luật chung, lúc chế độ quân chủ bớc vào thời kì suy vi, giaicấp thống trị mất vai trò lịch sử và trở nên phản động, cản trở bớc tiến đi lêncủa đất nớc Mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân vốn cósẵn nay lại trở nên gay gắt Với ý chí quật cờng đã đợc rèn luyện qua lịch sửtrờng kì chống ngoại xâm, nhân dân Diễn Châu tất nhiên không để cho giaicấp thống trị dày xéo lên cuộc sống của mình Sự bất bình oán ghét của nhândân lao động đã đến lúc chuyển thành lòng căm thù và hành động Và vì vậycục diện chiến tranh giai cấp ở Diễn Châu diễn ra liên tục, có lúc lên rất cao,nhng cũng có khi âm ỉ, có lúc thì chuyển thành những cuộc khởi nghĩa vũtrang có qui mô lớn hoặc có khi chỉ là là cuộc đấu tranh nhỏ lẻ ở một làng xãchống lại bọn cờng hào Nh khởi nghĩa Ngô Công Lý (1193) chống lại triều

đình nhà Lý suy vong, khởi nghĩa Lê Hy (1759) chống bọn địa chủ cờng hàolợi dụng đói kém mà làm giàu, ức hiếp dân Rồi khởi nghĩa Nguyễn Diên(1740), khởi nghĩa Nguyễn Tuân (1818)

ở Diễn Châu có tới hơn 50 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, góp phần cùng các

địa phơng làm suy yếu nền thống trị của triều đình nhà Nguyễn 1,41 Khởinghĩa nông dân và chiến tranh nông dân làm cho nhân dân Diễn Châu sớmnhận thức đợc tính chất không khoan nhợng giữa trật tự phong kiến với lợi íchdân tộc

Nửa sau thế kỉ XIX , nớc ta rơi vào thảm hoạ nô dịch của chủ nghĩa tbản phơng tây Suốt 117 năm (1858 - 1975) cùng với cả nớc, nhân dân Diễn

Trang 19

Châu lại phải đứng lên trên t thế chống ngoại xâm liên tục Nhiều cuộc vận

động yêu nớc nổ ra Lớp trớc ngã, lớp sau kế tiếp sông lên nêu cao tinh thần

“không có gì quí hơn độc lập tự do” Đến khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời,nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng, lịch sử dân tộc chuyển sang giai đoạn mới

Đấy là thời kì mà ý chí quật cờng, bất khuất của nhân dân huyện nhà đợc pháthuy cao độ

Với đặc điểm địa lí sẵn có đã tạo cho Diễn Châu nhiều khả năng pháttriển một nền kinh tế đa dạng, tổng hợp, có nhiều mặt hàng giá trị Hôm naycũng nh mai sau, Diễn Châu sẽ tiến dần ra biển, khai thác tiềm năng đại dơng,phát triển du lịch - dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình giao dịchvới nớc ngoài và các tỉnh thành trong cả nớc

Diễn Châu có tầm quan trọng về mặt chiến lợc quân sự, là trung tâmcủa sự giao lu và tiếp xúc văn hoá, là đầu mối của nhiều trục đờng giao thôngtrong và ngoài nớc Các thế hệ nhân dân nơi đây có quyền tự hào về truyềnthống trọng đạo lí, hiếu học, truyền thống chống ngoại xâm Không chỉ có thế,Diễn Châu còn sớm đợc biết đến là vùng đất có nhiều làng nghề thủ côngtruyền thống nh nghề làm võng ở Hoàng La, Phú Hậu, rèn ở Nho Lâm, nấu

đồng Cồn Cát,

Trải qua hàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc, ngời dân Diễn châu với

nỗ lực phi thờng đã rèn luyện, hun đúc cho mình những truyền thống đángquí, đó là sự dũng cảm kiên cờng, đoàn kết, trọng đạo đức, quí nhân nghĩa,sẵn sàng hi sinh vì nghĩa cử, đó là những phẩm chất cần cù, chăm học, giản

dị , tiết kiệm, chịu thơng chịu khó

1.2 Dòng họ Ngô ở Lý Trai (Diễn Châu - Nghệ An)

Từng nghe:

“Nớc tất từ nguồn mà chảy ra thành dòng

Cây truyền ở mầm mà sinh ra cành”

Con ngời ta muốn có tên tuổi đời đời nối dõi, không thể không nói đếndòng họ và tìm về cội nguồn Dòng họ Ngô ở Lý Trai vốn phát tích từ KinhBắc (Bắc Ninh) đi vào Hoan Châu (Nghệ An) Tơng truyền ban đầu lấy sách

“Trung hậu”, kế tiếp lấy “Thi th” làm của báu ở đó, cha con, ông cháu kếtiếp đăng khoa, sự nghiệp vẻ vang nổi tiếng dòng họ công thần Tổ tiên họNgô để lại tiếng thơm lâu dài

1.2.1 Nguồn gốc và sự phát triển của dòng họ Ngô ở Lý Trai

Trang 20

Vào khoảng năm 222 sau công nguyên, đã xuất hiện dòng họ Ngô ởChâu ái (Thanh Hoá) mà đức thủy tổ là cụ Ngô Nhật Đại con là Ngô Nhật Dụ

19 Theo gia phả bằng chữ Hán của cụ Tú tài, Hàn lâm viện thị chiếu Ngô thịThạch Huỳnh (tức cụ Hân Bình kể lại) ghi rằng: “Ngô gia tích tổ, nguyênquán ái Châu tự triều đại: Thủy tổ Ngô Nhật Đại di sự khởi gia Tử Ngô Nhật

Dụ tính hiển thủ” Theo gia phả và các nguồn sử liệu khác thì từ cụ Ngô Nhật

Đại trở xuống đợc ghi chép tơng đối đầy đủ và liên tục

Theo một truyền thuyết khác cho rằng từ thời Hùng Vơng thứ 18 đã có

cụ Ngô Long đánh tan quân Hồ L ở Hoan Châu và đợc phong tớc: Thợng trụquốc chính Phải chăng nguồn gốc họ Ngô trên đất Lạc Việt có từ đây? Vấn

đề này còn phải nghiên cứu thêm Hãy biết dòng tích Thanh Hoà phụng tự bắt

đầu từ đời thứ nhất cụ Ngô Nhật Đại truyền về sau cho đến đời cụ Ngô Từ (đờithứ 17) một công thần của triều Hậu Lê (Lê Lợi)

Dòng họ Ngô ở huyện Thờng Tín (Hà Đông) phụng tự: Đời thứ nhất tự

cụ Bồ Đốc (Ngô Đốc) ở xã Đồng Bảng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá đếnhuyện Thờng Tín (Hà Đông) an c lập nghiệp vào đời nhà Trần (khoảng 1330 -1350), hiệu của cụ là Tu Đức Trọng Đạo tiên sinh

Dòng họ Ngô ở huyện Yên Phong ( Hà Bắc) phụng tự: Đời thứ nhất là

cụ Ngô Nguyên ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thơng Tín (Hà Đông) đến đâylập nghiệp từ thời Hậu Lê (Lê Lợi) Cụ Ngô Nguyên học rộng biết nhiều, họctrờng Quốc Tử Giám, làm quan đến chức Quốc Tử Giám giám sinh, ứng Nội

vụ mật viện (coi viện cơ mật) Cụ sinh đợc hai con trai: Cụ Ngô Ngọc và cụNgô Định Cụ Ngô Định di c vào Nghệ An lập nghiệp 12,237

Cụ Ngô Định là con trai thứ hai cụ Ngô Nguyên, (hiệu Quảng Bình ) và

bà Chu Thị Bột (tục gọi là bà Thí Thóc) là em trai cụ Ngô Ngọc ở nhánh họNgô Yên Phong, Bắc Ninh Cụ sinh ở làng Vọng Nguyệt, Yên Phong, tỉnh BắcNinh cũ Sau khi cụ thân sinh và mẹ mất, gia đình trở nên nghèo khó, anh làNgô Ngọc phải dựa vào họ ngoại do cậu ruột nuôi mới đợc học hành Ngô

Định thì theo một hu binh vào Nghệ An, sau làm Tổng Chính, sinh 3 ngời contrai

Cụ Ngô Định là Đức thủy tổ của nhánh họ Lý Trai cũ

Cụ vào làng Phợng Lịch xã Đào Hoa, tổng Lý Trai, huyện Đông Thànhvào khoảng 1460- 1470 đời Hậu Lê

Cụ thông hiểu Nho học là ngời tính tình thẳng thắn và có lòng nhân áihay giúp đỡ ngời Cụ biết địa lý và cũng là một lơng y Theo gia phả họ Ngô

Lý Trai đã viết: “Cụ Ngô Định hiệu Tổng Chính tiên công, thực tính thanh

Trang 21

liêm, bĩnh tâm uyên tắc, chúng tình thiếp phục, hạp cảnh hiệp thốc vi TổngChính, khắc đăng thợng thọ” có nghĩa: “Cụ vốn là ngời thanh liêm, giữ điềuthầm kín trong lòng gặp cảnh thì giúp đỡ hết lòng, đợc dân chúng cảm phục vàsuy tôn là Tổng Chính, thợng thọ”8.

Nh vậy, dầu là ở nơi đất khách quê ngời nhng do đức độ của cụ mànhân dân địa phơng rất tin yêu và kính trọng cụ Lúc cụ đã già nhân dân tínnhiệm tôn cụ lên chức “Tổng Chính” nghĩa là ngời chấp chính mọi việc trong

địa phơng Từ đây nhân dân thờng gọi tên cụ là cụ Tổng Chính

Cụ sinh 3 con trai, con trởng và con thứ hai tên gì đi đâu cha rõ Conthứ ba là cụ Ngô C Tâm, lập gia c xứ đồng Quan Viên làng Đệ Nhất, tổngThái Xá (nay là làng Đệ Nhất xã Diễn Nguyên) chiêu dân lập ấp khai khẩn đấthoang vùng thợng lu sông Bùng, dới chân lèn Hai Vai, ruộng vờn giàu có, tấmlòng nhân đức rộng rãi, để lại danh tiếng phúc ấm về sau Do đó con cháuphồn thịnh

Cụ Ngô Định thợng thọ trên 80 tuổi, mất ngày tháng năm nào không rõ.Hàng năm cứ đến ngày rằm tháng 2 âm lịch (15 / 2 âm lịch) là con cháu dòng

họ Ngô ở khắp mọi nơi trong tỉnh Nghệ Tĩnh tề tựu về nhà thờ xã Lý Trai cũ(tức xã Diễn Kỷ, Diễn Châu, Nghệ An) để kính viếng cụ Coi đó là ngày “giỗtổ”

Duệ hiệu cụ là “Thái thủy tổ Tổng Chính công đệ nhị lang huý Địnhphủ quân”

Lăng mộ cụ ở Tây Bắc giếng Hoè xứ Đồng Trung làng Đồng Trai, tụcgọi là Mả Chính (“Nguyên xứ Đồng Trung xã Lý Trai có huyệt Thạch Tinh,mạch đi từ phơng tốn lại, đến phơng cấn thì hoành chuyển (xoay ngang), ômbởi tổ long bốn phơng, châu tuần đông đúc tinh phong, hai bên thủy đáo, đờngtrung tụ tàng khoa giáp, kế thế hiển vinh, khanh tớng văn chơng đài các là nhờmạch ấy” 8,9 ) Hiện còn Thạch bi (bia đá) nay ở xã Diễn Kỷ

Từ khởi nguồn di c của cụ Ngô Định con cháu họ Ngô dần đến định c ở

Lý Trai (Diễn Châu, Nghệ An) và cũng từ đó lan toả khắp các huyện ở Nghệ

An và Hà Tĩnh, Quảng Bình

Trong quá trình phát triển của mình dòng họ Ngô đã cùng các dòng họkhác nh họ Lê, họ Trơng, họ Võ vợt qua bao khó khăn thử thách của tựnhiên để xây dựng và bảo vệ quê hơng Lý Trai

Dòng họ Ngô tuy cha phải dòng họ chiêu dân lập ấp nhng là một trongnhững họ đến sớm nhất ở Đông Trai (thuộc Lý Trai) Trải qua các đời đã góp

Trang 22

phần xây dựng nơi này thành vùng c dân trù mật và là một trung tâm văn hoá

và thơng mại của Đông Thành

Truyện Nôm “Trí Tri, Trí Hoà, Diễn truyền sự tích” đã giành những câuthơ trang trọng, thành kính , thiêng liêng để tôn vinh đất Lý Trai Rằng:

“ Lý Trai nhân kiệt, địa linh

Có khe nớc chảy, chầu quanh về đền

Sơn hữu tình, thủy hữu duyên

Dới khe nớc biếc, trên đền non xanh

ấy là trí khí, chung linh

Đất un khí tốt, trời sinh ngời hiền.”

6,10

Lý Trai trớc cách mạng Tháng Tám 1945 gồm 7 thôn: Đông Trai, Mỹ

Lý , Khánh Duệ, Kỷ Luật, Yên Phú, Thừa Sủng, Thái Phong Đây là một vùng

đất bồi, vết tích biển xa xa còn rất rõ Họ đến sớm nhất ở Đông Trai chính là

họ Ngô, ở Mỹ Lý là họ Lê, Họ Trơng, ở Kỷ Luật là họ Võ

Vùng này có sông Bùng Sông Bùng và núi Hai Vai là hai biểu tợng củavăn hoá Diễn Châu Theo phong thổ học xa, khí của núi ấy, sông ấy đã hun

đúc cho đất Đông Thành có nhiều bậc tài anh, nhân kiệt Họ Ngô ở Đông Trai

từ thời Hậu Lê đã làm rạng rỡ cho huyện Đông Thành về khoa bảng

Tuy đã thành danh trên con đờng khoa bảng, làm quan cao chức trọngtrong triều nhng các bậc tiền bối họ Ngô luôn luôn nghĩ cho dân và hành độngvì dân, trớc hết là vì quê hơng Lý Trai Nh Tiến sĩ Ngô Trí Tri còn là thầythuốc giỏi trong vùng, chữa trị cho dân mà không cần đáp đền Ông còn cócông lớn trong công trình đắp đê ngăn mặn cánh đồng Phủ từ Diễn Kỷ đếnDiễn Hoa lên Diễn Hạnh Sau này chắt của ông là Ngô Trí Khiêm đắp tiếp đêngăn mặn Nhân dân ghi nhớ công ơn này

ở các thôn đều có đền thờng gọi là “Nghè” thờ Thành hoàng Nhà thờ

tổ họ Ngô ở Đông Trai đồng thời cũng là Đền vì ở đây có 4 vị tổ đợc phongthần:

- Tổ Ngô Trí Tri , Ngô Trí Hoà, tổ Ngô Trí Khiêm đều là Trác Vỹ thợng

đẳng thần

- Tổ Ngô Trí Thiện là Dực bão trung hng linh phù chi thần

Ngày Họ Ngô tế tổ đồng thời cũng là ngày làng Đông Trai tế thần Kỳ

tế khai hạ hàng năm (ngày 15/6 âm lịch) các đền đều rớc kiệu thần ra khu vực

đình thì nhà thờ tổ họ Ngô có bốn kiệu rớc ra

Trang 23

Năm 1992 Đền thờ và mộ Ngô Trí Hoà (cũng đợc xem là Đền thờ họNgô) nhà thờ Họ Ngô đã đợc Nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namcông nhận là di tích văn hoá.

1.2.2 Truyền thống hiếu học và khoa bảng của dòng họ Ngô

Diễn Châu là vùng đất văn vật mà trong rất nhiều nét đẹp đã trở thànhtruyền thống nổi bật lên là truyền thống khoa bảng của một vùng đất học Vớitinh thần hiếu học, khổ học thành tài, ngời dân nơi đây đã tô đẹp truyền thốngcha ông Diễn Châu tự hào với các làng học nổi tiếng nh Lý Trai, Bút Điền,Thịnh Mỹ, Nho Lâm và cũng rất tự hào về những dòng họ khoa bảng nổitiếng nh họ Ngô, họ Đặng, họ Cao Các nho sĩ Diễn Châu đã góp một số lợng

đáng kể các nhà đại khoa danh tiếng vào danh sách các nhà khoa bảng NghệAn

Riêng dòng họ Ngô Trí ở Lý Trai xứng đáng là dòng họ tiêu biểu chotruyền thống giáo dục khoa cử Nho học ở Diễn Châu trớc thời Nguyễn Khinhắc đến dòng họ khoa cử ở Diễn Châu nhân dân lại nhắc đến dòng họ Ngôvới truyền thống khoa bảng rạng rỡ lu danh sử sách Đúng nh lời nhận xét củagiáo s Ninh Viết Giao trong hội thảo “Văn hoá các dòng họ ở Nghệ An” rằng:

“Biết đến làng Lý Trai là nhờ họ Ngô”

Trớc thời Nguyễn, Nghệ An là vùng đất trại xa Kinh thành Thăng Longnên các nhà nớc phong kiến cha có điều kiện tổ chức học tập thi cử một cáchqui củ Mãi đến triều Lê Sơ thì cả Nghệ An mới chỉ có một trờng thi Hơng đặt

ở Lam Thành (khu vực chợ Tràng hiện nay) Từ đó sĩ tử xứ Nghệ đua nhauhọc tập và gặt hái nhiều thành tựu Còn hầu hết ở các huyện, nhà nớc cha thiếtlập trờng học công mà chủ yếu là trờng học t Đây là trờng học của các thầygiáo xuất thân từ tầng lớp nho sĩ nghèo - họ mở trờng học không phải để làmgiàu mà cốt mong góp sức mình đào tạo nhân tài cho đất nớc Mặt khác, họcũng muốn giúp thế hệ trẻ ở địa phơng mình thoát khỏi cảnh lầm than, tămtối Họ đợc những gì? - Đó là để lại tiếng thơm cho đời sau Mỗi trờng học

đều có học trò thi đậu Những học trò đỗ đạt mang danh cho gia đình, bảnthân, cho cả thầy và trờng nữa Chính vì lẽ trên mà ngời thầy giáo luôn đợcnhân dân tôn trọng, biết ơn Họ luôn nhắc nhở với nhau rằng:

“Muốn sang thì bắc cầu kiều

Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.”

Trong xã hội, địa vị ngời thầy luôn đợc kính trọng: “Quân - S - Phụ.”Vua là trên hết, tiếp đến là thầy giáo, cha là thứ ba Trong xã hội phong kiến

Trang 24

“chữ hiếu”, “chữ trung” là rất quan trọng, bất hiếu với cha mẹ là bị xử tử Vậy

mà ngời thầy còn đợc coi trọng hơn thế!

Thế mà, chỉ riêng một họ Ngô ở Lý Trai đã có rất nhiều thầy học nổitiếng

Cụ Ngô Trí Trạch đợc nhân dân Diễn Châu ghi nhớ công ơn đã đào tạo

ra nhiều học trò đỗ đạt, làm quan to trong triều Cụ sinh năm Kỷ Tỵ (1509)triều Lê Uy Mục hiệu Đoan Khánh thứ 5, thi hơng đỗ Tứ trờng (Hơng Cống)

Cụ là đời thứ 4 dòng họ Ngô Trí ở Lý Trai Theo phả ghi “Ngô TríTrạch, hiệu là Ngô Quý Công, tự Đức Tâm Ông là ngời văn học uyên bác, làdanh s nổi tiếng ở đời hồi ấy”8 Cụ đã sinh thành nuôi dạy con trai là NgôTrí Tri và cháu là Ngô Trí Hoà cùng thi đậu tiến sĩ đồng khoa Nhâm Thìn

1592, cùng làm quan chức trọng trong triều Cụ là ngời có công lớn trongnghề dạy học nên đợc nhà vua phong là “Đặc tiến kim tử Vinh Lộc đại phu”.Sau khi mất, cụ đợc triều đình luận công và truy phong tớc: “Thái Bảo ĐạoNguyên Bá”, tớc Bá Đạo Nguyên (Đạo Nguyên là nguồn của đạo Nho) Nhvậy, cụ là bậc danh s đợc xếp ngang hàng với đại thần ở triều đình

Hơng cống Ngô Mậu Cử cũng là thầy học của nhiều vị khoa bảng trong

đó có cháu của ông là Ngô Trí Hoà

Cụ Ngô Trí Tri là con cụ Ngô Trí Trạch, lúc nhỏ học với chú ruột làQuốc Tử Giám giám sinh Ngô Tiến Giản Khoa thi năm Mậu Ngọ (1558), thihơng đỗ Tứ Trờng (Hơng Cống) cùng con chú ruột là Ngô Mậu Cử đồng khoa.Năm Nhâm Thìn (1592), đỗ Đệ Tam giáp Tiến sĩ xuất thân Trong 35 năm ấy,

ông không chỉ tự rèn dũa học vấn cho mình mà còn mở trờng dạy học, con

ông - Ngô Trí Hoà đỗ đồng khoa với ông chỉ là một trong số rất nhiều học tròcủa ông Không chỉ dạy bảo, kèm cặp cho con cháu thành danh, ông còn làngời thầy của rất nhiều học trò đậu Tiến sĩ, làm quan to trong cả vùng ĐôngYên nhị huyện (Diễn Châu và Yên Thành hiện nay) Điển hình trong số đó cóthể kể đến Lê Kính ngời tổng Quan Trung, nay là xã Sơn Thành, huyện YênThành Ông là học trò của Ngô Trí Tri trong nhiều năm, đậu Tiến sĩ khoaNhâm Thìn (Vĩnh Tộ thứ 10 năm 1628) Ông này làm quan đến công bộ thợng

th, tớc Thạc trung hầu

Con trởng của cụ Ngô Trí Tri là Ngô Trí Trung đậu Hơng cống khoaNhâm Ngọ (1582), đồng khoa với em ruột là Ngô Trí Hòa, ông làm quanHuyện thừa, tri huyện Thạch Hà Ông là ngời tài hoa thông minh tuấn tú, vănchơng thông suốt Ông cũng là thầy học của nhiều ngời thành đạt, trong đó cócháu con em là Ngô Sỹ Vinh đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646)

Trang 25

Theo gia phả họ Phan ở Khánh Thành thì Phan Thúc Trực ngời khai mởkhôi nguyên cho xứ Nghệ vào thời Nguyễn trong cuộc đời kinh sử của mình,trớc khi thi đỗ đầu khoa thi năm 1847 cũng đã từng thụ giáo với một ngời thầyhọc họ Ngô ở Lý Trai

Các bậc danh s dòng họ Ngô Trí với học vấn uyên thâm, đạo đức sángngời cộng thêm bầu nhiệt huyết với quê hơng, với học trò, họ đã bỏ của, bỏcông mở lớp học đào tạo nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng có ích cho đời Chínhnhững thầy giáo Nho học của dòng họ Ngô là ngời khởi phát nên truyền thốngkhoa bảng rạng rỡ của dòng họ, làm rạng danh quê hơng Diễn Châu

Nếu họ Nguyễn Trọng ở Nam Đàn tự hào về một gia đình có 3 đời Tiến

sĩ, 5 lần đi sứ đợc phong tặng bức trớng với câu “Tam thế ngũ hoàng hoa” thìdòng họ Ngô Trí ở Lý Trai cũng tự hào về một gia đình “phụ tử đồng khoa”,vinh dự đợc vua ban cho bức trớng:

“Khoa danh thiên hạ hữu

Bài kí đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn niên hiệu Quang Hng thứ 15(1592) đã ghi rõ: “Khoa này là khoa Nhâm Thìn niên hiệu Quang Hng thứ 15,chính là khoa Tiến sĩ thứ 4 trong thời trung hng vậy Mở rộng trờng thi mùaxuân, họp sĩ tử trong thiên hạ Quan hữu t chọn ngời u tú kê danh sách tâu lên.Hôm sau vào thi Điện, Hoàng Thợng thân ngự ra Điện ngoài, ban đầu bài vănsách, sai các quan Đề Điệu, Giám Thí chia giữ phận sự Đến khi dâng quyểnlên đọc, trình bày để vua xem xét phân biệt Vua cho lũ Trịnh Cảnh Thụy,Ngô Trí Hoà hai ngời đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, Ngô Trí Tri đỗ đồngTiến sĩ xuất thân theo thứ tự khác nhau, truyền lô xớng tên ngời đỗ Bỏ lễ rớcbảng vàng, treo ở ngoài cửa nhà Thái học để nêu rõ sự vẻ vang cho sĩ tử” 28

Trang 26

Trong khoa thi đó hai cha con họ Ngô Trí là Ngô Trí Tri và Ngô TríHòa đã cùng nhau thi đậu Tiến sĩ, con đỗ cao hơn cha Đó là một sự kiện độc

đáo trong lịch sử khoa cử Việt Nam Cha con hiếu học, khổ học thành tài đemlại niềm vui sớng, tự hào cho dòng họ Ngô, cho quê hơng:

“Hai ngời tởng ở hai nơi

Ai ngờ một họ, lại ngời một thôn

Tên cha, lại có tên con

Bảng vàng chói lọi, sơn son thiếp vàng”

6,12

Và gần 300 năm sau, khi viết “Lịch triều hiến chơng loại chí”, nhà báchkhoa Phan Huy Chú còn ghi lại sự kiện này với lời văn cực kì hào sảng và qua

ông, ta biết rằng sự kiện này còn đổ bóng cả vào tâm thức dân gian

Thời vua Lê Thái Tông, từ khoa Đại Bảo - Nhâm Tuất (1442), qui địnhcho các vị tân khoa đợc ban áo mũ Tiến sĩ, đợc ban yến ở vờn Quỳnh Lâm, đ-

ợc cấp ngựa tốt và có lính hầu đa rớc về quê làm lễ vinh qui bái tổ “Đạo thánhtrở lại mùa xuân, rừng Nho thêm tơi cảnh sắc Sĩ dân kinh kì đâu đâu cũngxúm lại xem, ai nấy đều lấy làm sung sớng đợc trông thấy cảnh ấy, đời tháibình dới triều vua Thánh cha con cùng đỗ một khoa, thực là một hội văn minhtốt đẹp” 28

Cảnh vinh qui bái tổ còn đợc thể hịên:

“Vua ban mũ đội áo chầu

Một đoàn cha trớc con sau rớc về

Rập rình ngựa cỡi, lọng che,

Cờ bay trống gióng rớc về họ Ngô”

6,11

Minh quân gặp đợc hiền thần, ngàn năm có một Nhà vua vui mừng banchức:

“Tay cầm long bút phê liền

Con chức Bộ Hộ, cha quyền Thị lang”

6,15

Hai cha con làm quan lớn, đều thanh liêm, trọng sự công bằng “tíchphúc truyền gia”

Tiến sĩ Ngô Trí Tri khi mới đỗ Cử nhân đã làm quan võ có công với nhà

Lê đánh phiến quân nhà Mạc Đến năm 38 tuổi, đời vua Lê Thế Tông hiệu GiaThái thứ 2 (1574) đợc chuyển làm quan văn, làm Mậu Lâm Lang, sắc thụ Trichâu châu Minh Linh (thuộc Vĩnh Linh, Quảng Trị) Tuổi cao mới đỗ Tiến sĩ,

Trang 27

ông đợc nhận chức Giám sát Ngự sử đạo Quảng Nam, một vùng đất lúc đó làthuộc biên viễn phía nam đất nớc, dân trí còn thấp, việc biên cảnh còn phứctạp rối ren ở đây, trong vị trí của mình, Ngô Trí Tri nổi tiếng vì đức thanhliêm, chính trực hết lòng thơng dân Ông làm quan đến chức Lại bộ Tả thịlang Ngày 13 tháng 5 năm Mậu Ngọ (1628) ông mất, thọ 91 tuổi, nhà vua đãgia tặng: Tả thị lang Thái bảo Khánh Diễn Bá và đặc biệt sắc phong: Trác vĩthợng đẳng thần.

Cũng vào thời gian này, ngoài làng Phợng Lịch quê hơng ông rất nhiềunơi trong vùng Yên Thành, Diễn Châu lập Đền thờ ông Các triều vua sau nhHoằng Định, Vĩnh Tộ, Thành Thái, Khải Định cũng đều có sắc phong khẳng

định vị thế tôn quý của ông đối với đất nớc

Nối tiếp truyền thống khoa cử rạng rỡ đó của cha ông, năm Bính TuấtPhúc Thái thứ 4 (1646), con trai thứ của Ngô Trí Hoà, cháu nội cụ Ngô Trí Tri

là Ngô Sỹ Vinh đã đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân Ba cha con ôngcháu cùng đỗ Tiến sĩ, nhà vua tặng bảng vàng:

Tam đại Tiến sĩ“ ”

Ngô Sỹ Vinh là con trai thứ của Tiến sĩ Ngô Trí Hoà, đồng thời là cháunội của Tiến sĩ Ngô Trí Tri, thuộc dòng dõi họ Ngô Lý Trai Ông là ngời đènbút siêng năng, khổ học, ở nhà vốn đợc học hành đến nơi đến chốn, thừa hởngnền giáo dục của ông cha

Ngày nay gia phả dòng họ không ghi rõ ông đậu Cử nhân vào năm nào?Nhng sách “Đại Việt sử kí toàn th” cho biết Ngô Sỹ Vinh làm quan khi ôngcòn là Cống sinh (mới đậu Cử nhân), giữ chức Lại bộ thuyên khảo chức quan(tức là việc xem xét, kén chọn để thăng giáng, thuyên chuyển quan lại) Nhvậy, Ngô Sỹ Vinh làm quan khá sớm và đến 37 tuổi đã nhận chức ở Bộ Lại

Vốn thông minh lại có chí nên năm 1646 khoa Bính Tuất đời Lê ChânTông, ông tham gia thi hội và đậu Tiến sĩ Sau khi thi đỗ, triều đình vua Lêthấy ông là ngời giỏi văn chơng và có tài đối đáp nên cử ông “phụng Bắc sứ”

và đợc phong làm Lý Hải Bá

Theo gia phả ghi lại là “phụng Bắc sứ” ý muốn nói tránh để khỏi sợ liênlụy về sau vì tội giám đánh “thiên triều” Thực ra việc Ngô Sỹ Vinh “phụngbắc sứ” theo sách “ Lịch Triều hiến chơng loại chí” cho biết: Năm 1647, Ngô

Sỹ Vinh đợc phong Lý Hải Bá, làm đốc thị cho Trịnh Lãm đem 300 chiếcthuyền vợt biển sang đánh chiếm tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc TrịnhTráng giao cho Trịnh Lãm làm Tổng chỉ huy và Ngô Sỹ Vinh làm Đốc thị

5,154 Trong dịp này Ngô Sỹ Vinh đã góp công giải vây và cứu đợc vua nhà

Trang 28

Thanh Sau khi lên ngôi, vua Thanh phong cho Ngô Sỹ Vinh làm công thần.

Từ đó dòng họ Ngô Lý Trai đợc gọi là “Lỡng quốc công thần” Triều đình nhàThanh sai Đốc học là Hứa Khải Hồng mang ba bức gấm và một bức th riêngsang tặng Ngô Sỹ Vinh

Sau chuyến đi “phụng Bắc sứ” lập công to, đợc phong làm “Lỡng quốccông thần”, triều vua Thần Tông xem Ngô Sỹ Vinh là trụ cột của triều đình

Ông đã giúp đợc nhiều kế hay trong công việc trị vì thiên hạ và cải thiện mốibang giao truyền thống với nớc lân bang láng giềng

Căn cứ vào “Đại Việt sử kí toàn th” có ghi: “Mùa hạ tháng 4 năm ấtMùi Thịnh Đức thứ 3 (1655) Nguyễn Phúc Tần ở Thuận Hóa đánh ra BốChánh, đánh chiếm vùng cửa Nhợng, cửa Sót Thạch Hà Quân của Trịnh Tợngthua chạy Lại sai Trịnh Tạc đích thân đem tớng sĩ vào trấn giữ Nghệ An.Tháng 10 sai Ninh Quốc công Trịnh Toàn (con út Trịnh Tráng) làm thống lĩnhtập trung quân đánh vào Kì Hoa (Kì Anh) Quân chúa Nguyễn rút lui, TrịnhToàn rút về An Trờng (gần Vinh)

Năm Bính Thân Thịnh Đức thứ 4 (1656) mùa xuân tớng Nguyễn NhKhuê, Lê Văn Hy bị giặc đánh úp thua chạy, thừa tháng quân chúa Nguyễnxông ra vùng Tam Chế Nghi Xuân Trịnh Toàn thống lĩnh các tớng ở Nghệ

An, lấy Lại khoa cấp sự trung Ngô Sỹ Vinh làm Đốc thị Tháng 5 đại thắngtrận Đại Nại, đuổi giết giặc rất nhiều, thu đợc voi ngựa súng đạn không kểxiết Tháng 5 nhuận xét công thắng trận Đại Nại phong Trịnh Toàn làm khâmsai tiết chế thuộc thuỷ bộ ch dinh kiêm hành phủ trị Nghệ An đạo phó Đô tớngThái uý Ninh Quốc công mở phủ Dơng Uy Đốc thị Ngô Sỹ Vinh phong làmquan Quang lộc tự khanh Lý Hải hầu”.16,247 - 250

Tuy nhiên cũng theo tài liệu sử này thì: “Tháng 11 Trịnh Toàn cậy công

tự phụ ngầm có ý khác, Trịnh Toàn mu phản đã lộ bị bắt về Kinh đô giam cho

đến chết Tháng 5 năm 1675 bãi chức tớc của Ngô Sỹ Vinh vì Ngô Sỹ Vinhlàm Đốc thi mà không tố cáo trớc Ngô Sỹ Vinh hiền lành đôn hậu tận tâmcông việc không theo mu phản của Toàn, là công thần có nhiều cônglao”.16,247 - 250

Với quê hơng, Tiến sĩ Ngô Sỹ Vinh còn có công xây dựng toà văn chỉ

Đông Yên nhị huyện ở Đông Trai (còn gọi là nhà Thánh huyện - sau này là ờng cấp 2 t thục Nguyễn Huệ - ta phá vào thời kì đầu chiến tranh chống Mĩ -hiện còn văn bia) Ông cúng 3 mẫu ruộng làm tự điền Ngày nay nhân dântrong vùng vẫn còn truyền tụng và ngợi ca tấm lòng yêu dân và công lao của

tr-ông đối với nhân dân trong vùng

Trang 29

Ngày 20 tháng 3 năm Vĩnh Thọ thứ 2 (Kỷ Hợi 1659) Ngô Sỹ Vinh mấtkhi đang tại chức, triều đình gia tặng sắc phong: Công bộ Hữu thị lang, tứơc

Lý Hải Hầu Sau khi ông mất, triều Lê Thần Tông giao cho nhân dân ĐôngThành lập đền thờ để ghi nhớ công ơn của một công thần có nhiều công laophò vua, khai hoang, chiêu dân, lập làng

Nguyên văn gia phả ghi rằng: “Đông –Yên hai huyện cúng tế”

Theo gia phả họ Ngô chi thứ 2 cụ Ngô Sĩ Liêu do lí trởng Ngô Sĩ Quátlợc biên Khải Định nguyên niên (1916) có ghi: “Công sinh tiền bản huyện hữutrớng văn tử hậu bản huyện hữu điếu lễ Kỷ Hợi niên tam nguyệt nhị thập nhấtmệnh chung, lăng tại Thợng Tàu xứ”

Nối nghiệp vinh quang của dòng họ và của gia đình, Ngô Công Trạcchắt cụ Ngô Trí Trung, cháu 5 đời Ngô Trí Tri, năm 33 tuổi đỗ Đệ tam giápTiến sĩ khoa Giáp Tuất (1694) Ông đỗ đầu hai kì thi Hội, thi Đình gọi là “đỗsong nguyên”

Ngô Hng Giáo em của Ngô Công Trạc 45 tuổi đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩkhoa Canh Dần Vĩnh Thịnh 6 (1710) đời Lê Dụ Tông Ông cha kịp vinh quithì lâm bệnh mất Đợc ghi lại trong “Lịch sử văn hoá Việt Nam sinh hoạt trithức” là một trong những trờng hợp bi thảm : “mới đỗ chết”, “cha kịp vinh quithì mất ở nhà” 3,353

Một nhà liên tiếp 5 đời đỗ 5 Tiến sĩ

Sách “Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919)” do Đào Tam Tỉnh soạn ghitrờng hợp Ngô Quang Tổ (sinh năm 1475, không rõ năm mất) ngời xã HơngCái nay xã Hng Tây, huyện Hng Nguyên , 34 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ,khoa Mậu Thìn Đoan Khánh thứ 4 (1508), đời Lê Uy Mục, làm quan đến Hiếnsát sứ

Theo “Diễn Châu địa chí văn hoá làng xã”, họ Ngô Trí còn có ông NgôTrí Mỹ con thứ 3 cụ Ngô Sỹ Tuấn, em trai của Ngô Sỹ Vinh, hiệu Sơn Đẩu đỗTiến sĩ triều Lê

Dòng họ Ngô Lý Trai có truyền thống học hành, thi cử và đậu đạt,nhiều ngời có công với nớc Theo thống kê của Cử nhân Trần Hữu Đức thì: HọNgô ở nghệ An tính từ thời cụ Ngô Định về sau có đến 18 vị đỗ đạt từ Tam tr -ờng trở lên, trong đó có đến 6 vị đỗ Tiến sĩ 12,237 Sáu ngời đỗ Tiến sĩ đó làNgô Trí Tri, Ngô Trí Hòa, Ngô Sỹ Vinh, Ngô Quang Tổ, Ngô Công Trạc, NgôHng Giáo

Trang 30

Còn theo thống kê của Cử nhân Ngô Thế Lữ - một ngời con của dòng

họ Ngô thì “ có 7 ngời đỗ Tiến sĩ” trong dòng họ Ngoài 6 vị trên còn có Tiến

Dòng họ Ngô ở Lý Trai gần nh là dòng họ duy nhất đợc ban tặng “Nhấtmôn ngũ đại đại khoa” (Một cửa năm đời đỗ đại khoa) và cũng là một trongrất ít dòng họ trong cả nớc đợc nhà Lê xếp vào dòng họ Công thần Nếu nhdòng họ Ngô ở Trảo Nha (Thạch Hà - Hà Tĩnh) đợc Phan Huy Chú tôn phong

là Thạch Hà Tớng Phiệt, thì dòng họ Ngô Lý Trai cũng xứng đáng đựoc coi là

Lý Trai Văn Phiệt 20

Ngày nay họ Ngô Lý Trai, con cháu tiếp tục phát huy tinh thần hiếu học

và khoa bảng, có Tiến sĩ Ngô Nhật Hng, Tiến sĩ Ngô Sỹ Hiền, Tiến sĩ NgôHữu Hải, Tiến sĩ Ngô Sỹ Hoá

Nhiều gia đình đã phổ cập đại học Truyền thống hiếu học vẫn đợc pháthuy mạnh mẽ Những năm gần đây họ Ngô công thần Lý Trai thành lập hộikhuyến học, trao giải thởng Ngô Trí Hoà vào ngày giỗ cụ 21 tháng 11 hàngnăm cho học sinh giỏi cấp tỉnh trở lên và các trờng hệ chính qui cao đẳng và

đại học Hội khuyến học đợc mời báo cáo điển hình ở huyện về công táckhuyến học có hiệu quả

Năm 1998 huyện Diễn Châu thành lập trờng THPT Dân lập Ngô TríHoà ở thị trấn Diễn Châu là một trong những trờng có chất lợng đào tạo caotrong tỉnh

Bài kí bia Tiến sĩ khoa Đại Bảo Nhâm Tuất do Hàn lâm viện thừa chỉThân Nhân Trung soạn viết rằng: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyênkhí thịnh thì nớc mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì nớc yếu, rồi xuốngthấp Bởi thế đấng thánh đế minh vơng chẳng ai không lấy việc bồi dỡng nhântài kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên ”6,93 Chính vì

Trang 31

vËy con ch¸u cña dßng hä Ng« Lý Trai lu«n nç lùc ph¸t huy truyÒn thèng hiÕuhäc, truyÒn thèng v¨n ho¸ cña dßng hä.

Trang 32

Thân phụ là Tiến sĩ Ngô Trí Tri, thuộc dòng dõi cụ Ngô Định ở thôn

Đông Trai, xã Lý Trai, huyện Đông Thành (nay là thôn Đông Trai, xã Diễn

Kỷ, huyện Diễn Châu, Nghệ An) Cụ Ngô Trí Tri làm quan võ có công với nhà

Lê đánh phiến quân nhà Mạc Đến năm 38 tuổi, đời Lê Thế Tông hiệu GiaThái thứ 2 (1574), đợc chuyển làm quan văn, làm Mậu Lâm Lang, sắc thụ Trichâu châu Minh Linh thuộc Vĩnh Linh - Quảng Trị Đậu Tiến sĩ năm 56 tuổikhoa Nhâm Thìn 1592, sau lịch thụ Quảng Nam đạo, giám sát ngự sử, tặng

Đặc tiến kim tử Vinh Lộc đại phu, Lại Bộ Tả thị lang, Thái bảo Khánh DiễnBá Cụ làm nghề dạy học có nhiều học trò thành đạt, cũng là thầy thuốc cótiếng trong vùng Cụ có công lớn trong công trình đắp đê quai ngăn mặn cánh

đồng phủ từ Diễn Kỷ đến Diễn Hoa lên Diễn Hạnh làm cho đời sống nhân dân

đợc no đủ, nhân dân nhớ ơn cụ và lập đền thờ tế tự quanh năm

Thân mẫu là bà Cao Thị Từ Ân là cháu của cụ Cao Nhân Tới, ngời cócông khai c làng Phợng Lịch (nay là xã Diễn Hoa, Diễn Châu) Bà Từ Ân đợcphong Liệt nữ Tự phu nhân

Hai cụ sinh 4 ngời con: Con trởng Ngô Trí Trung đậu Hơng Cống khoaNhâm Ngọ (1582), đời Lê Trung Tông làm quan Huyện thừa - Tri huyệnThạch Hà, tớc Triều Vân Nam Con thứ hai là Tiến sĩ Ngô Trí Hòa Con thứ ba

là Ngô Sỹ Tá sinh năm 1569 đỗ Sinh đồ - Thái bộc ti thừa - Tiền bột hải quận.Con thứ t là bà Ngô Thị Duyên

Vốn bản tính thông minh, cần cù lại đợc ảnh hởng truyền thống hiếuhọc của gia đình, nên từ nhỏ Ngô Trí Hoà đã nổi tiếng là đọc thông viết thạo

và hiểu nhiều lí lẽ của kinh sách Mặc dù cuộc sống của gia đình nghèo nhng

ông đợc hởng trọn vẹn những niềm hạnh phúc trong sạch của tuổi thơ Ông

đ-ợc cha, một thầy đồ trực tiếp dạy học và giáo dục về mọi mặt cuộc sống Mẹ

ông - một ngời phụ nữ, ngời vợ dịu hiền, đảm đang luôn lo lắng chu đáo chocuộc sống đạm bạc, cho thành công của chồng con Chính vì có những thuậnlợi, cộng với vốn thông minh của mình nên ông đã sớm đến với con đờng khoabảng

Trang 33

Bẩm sinh ông đã có t chất thông minh khác thờng: Hễ nghe là nhớ mãi,học một biết mời Gia phả cho biết rằng: “Năm lên 13 tuổi ông đã thuộc lòngkinh sách và nổi tiếng thần đồng hay chữ”, thờng ngồi cùng cha đàm đạo vănchơng, đạo lý tỏ ra sâu sắc, có tài đối đáp Bạn bè thờng khen Ngô Trí Hoà

“văn chơng giáp đệ” Ông tinh thông nghề văn chơng nhng cũng biết về võ.Thật là một ngời có trí dũng vẹn toàn

Ngày nay trong nhân dân và dòng họ vẫn còn truyền tụng và ca ngợi

đức tính thông minh, cần cù và hiếu học của ông trong quãng đời thời trẻ.Những câu chuyện về ông cùng anh trai mình là Ngô Trí Trung cùng học mộttrờng, luôn đợc cha mình rèn dạy nghiêm khắc và ông đã bộc lộ tài năng trongnhững lần đối đáp các vế đối của anh và cha

Thuở bé gia đình nghèo, ông không những ham học mà cũng rất thíchlao động để giúp mẹ nh: chăn trâu, cắt cỏ, cuốc đất, Cha con ông đều hay chữnổi tiếng và có tài ứng khẩu thành văn Hàng ngày thờng lấy cảnh vật chungquanh để vịnh thơ hay làm câu đối tức cảnh Một hôm đến bữa ăn, bà mẹ dọn ramột mâm toàn là khoai và đỗ luộc Cụ thân sinh cời và đọc luôn câu:

“Sáng khoai, chiều khoai, khoai mãi mãi”

Ngô Trí Hoà ứng khẩu đối ngay rằng:

“Cha đỗ, con đỗ, đỗ chan chan”

Lại có lần Trí Hoà đi câu “còng còng” chơi ở cánh đồng nớc mặn(Đồng Sác) lúc vừa men qua một cái cầu tre tới một mô đất cao thì gặp ngờibạn của cụ thân sinh Trông thấy Trí Hoà, ông bạn của cụ thân sinh cời vàbảo: “Ta ra cho cháu câu đối này, nếu đối đợc thì ta không mách chuyện cháu

đi câu còng” Rồi ông liền đọc:

“Lòng còng đi cầu cáy”

Cầu Cáy là tên cây cầu mà Trí Hoà vừa đi qua, “còng ” với “cáy” lạicùng một họ

Trang 34

của dòng họ Ngô ở Nghệ An Mời tám tuổi đậu cử nhân, hai tám tuổi đỗHoàng giáp, làm quan lớn trong triều, có công lớn với triều đình.

Bà chính phu nhân của ông là bà Phạm Thị Ngọc Đờng, hiệu Từ Huấnphu nhân quê ở xã Thiên Thi, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dơng Bà sinh hạ đợc

2 trai, 3 gái

Bà thứ phu nhân là Vũ Thị Quí sinh 1 gái và bà Vũ Thị Hơng sinh 1 trai.Các con trai ông đều vinh hiển Con trai trởng Ngô Sỹ Tuấn đỗ Tứ trờng(Hơng Cống) thụ phong: Sơn Tây đẳng xứ, Thanh Hình Hiến sát sứ ti, Hiến sátphó sứ Tớc: Văn Lý Nam

Con trai thứ Ngô Sỹ Vinh đỗ Tiến sĩ, làm quan lớn trong triều, làm nên

sự nghiệp vẻ vang rạng danh gia tộc

Con trai thứ 3 là Ngô Trí Tín đỗ Tứ trờng làm Tri huyện Thiên Lộc, HàTĩnh

Ngô Trí Hòa là một ngời con hiếu thảo, sống có nghĩa khí, trọng đạo lílàm ngời và có tinh thần yêu nớc thơng dân Ông và những bậc tiền bối củadòng họ Ngô sống liêm khiết, trong sạch có ý thức và hành động vì sự đoànkết phồn thịnh của đất nớc theo truyền thống:

“Làm ngời đói sạch rách thơm

Công danh là nợ nớc non phải đền”

2.1.2 Ngô Trí Hoà - Ngời mở đầu truyền thống khoa bảng của họ Ngô ở Nghệ An

Quãng đời niên thiếu cùng những tháng ngày dùi mài kinh sử đã qua,kịp đến năm Nhâm Ngọ (1582), ông Ngô Trí Tri cho cả hai anh em Ngô TríTrung và Ngô Trí Hoà đi thi Không phụ lại tấm lòng mong mỏi của gia đình

và uổng phí thời gian dùi mài kinh sử, tại khoa thi này hai anh em đều thi đỗ.Mời tám tuổi đời đậu Cử nhân, Ngô Trí Hoà thực sự đã bớc vào con đờng khoa

cử cùng anh Sau khi thi đỗ ông trở về làng vui thú với cảnh điền viên thôn dã

và tiếp tục dùi mài kinh sử thực hiện hoài bão lớn của mình Cũng nh nhiềunhà Nho khác, Ngô Trí Hoà học để mong tiến thân trên con đờng khoa cử,công danh, sớm đem tài giúp ích cho đời

Trong khoảng thời gian này cùng với cha là Cử nhân Ngô Trí Tri và anh

là Cử nhân Ngô Trí Trung, gia đình ông luôn luôn đợc nhân dân trong vùngngợi ca Đặc biệt riêng Ngô Trí Hoà tuy nhỏ tuổi nhng lại là ngời thông minhtài giỏi về văn chơng, sống có tình có nghĩa với bạn bè và làng xóm nên đợcmọi ngời rất kính phục Khắp vùng Lý Trai (ngày nay là Diễn Kỷ) đều truyềntụng và ngợi ca ông là ngời có tài đối đáp

Trang 35

Chuyện kể rằng: trong những tháng ngày sống ở quê hơng dùi mài kinh

sử chờ kì thi Hội, ông cùng cha mình luôn dành thì giờ vui thú với cảnh điềnviên, một hôm hai cha con đi làm vờn cạnh đờng thiên lý Bắc - Nam (Quốc lộ1A) ngoài đờng ngựa xe đi lại tấp nập Ông Ngô Trí Tri mới tức cảnh và racho Ngô Trí Hoà một vế đối:

“Đờng quan thiên lí - ngời sao ta vậy”

Vốn thông minh, hóm hỉnh và có tài đối đáp, nên Ngô Trí Hoà đã đốilại rằng:

“Điền viên vui vẻ - con trớc cha sau”

Có lần Ngô Trí Hoà và cha cùng dân làng Phợng Lịch đắp đê ngăn mặn,lấy đá lèn Hai Vai xây cống trên cánh Đồng Phủ, Ngô Trí Tri ra vế đối:

“Đá xanh xây cống, hòn dới chống hòn trên”

Ngô Trí Hoà đối lại ngay:

“Ngói đỏ lợp nghè, hòn trên đè hòn dới”

(Từ “nghè” lỡng ngôn chỉ miếu thờ thần, cũng có nghĩa đỗ đại khoa học

vị Tiến sĩ thời phong kiến - Đây là khát vọng của kẻ sĩ)

Thấm thoát thời gian trôi đã 10 năm Kể từ ngày thi đỗ Cử nhân, kì thiHội đã tới Vào thời kì cuộc chiến tranh Lê - Mạc đang diễn ra, việc học hànhthi cử ít nhiều lơi lỏng, việc tuyển lựa hiền tài không đợc chú ý đúng mức

Đến đời vua Lê Quang Hng tình hình có dịu hơn, cảnh đất nớc thanh bình dầndần đợc khôi phục Triều đình nhà Lê nghị luận sẽ mở một khoá thi đặc biệtlấy tên là “khoa Ân thí” nhằm mục đích tìm ra ngời hiền tài để giúp nớc Khoa

ấy là năm Nhâm Thìn 1592

Nghe tin mở khoa thi, cha con Ngô Trí Tri và Ngô Trí Hoà đều ra ứng thí.Tơng truyền hai cha con trên đờng đi thi, đến khe Vực Tân chảy ra sôngBùng (phía Nam cồn Bò hiện còn dấu tích đền Thia Thia) lau lách hoang vắng,nghe có tiếng hát của ngời con gái du dơng vang vọng khe sâu Hai cha con

đến gần không thấy bóng ngời, chỉ thấy đôi cá Thia Thia sắc màu rực rỡ khácthờng:

“Cha con trò chuyện thì thầm Khe đâu có cá nh rồng thế kia

Thực là đôi cá Thia Thia

Âm nghi, mối khí, thần khe hiện hình Hiện lên đôi cá anh linh

Cho ta trông thấy, biết hình dấu thiêng.”

6,10

Trang 36

“Ngô gia thế phổ” lại chép câu chuyện rằng: Trên đờng từ Nghệ An đếnthành Thăng Long (Hà Nội) phải đi bộ vất vả ngày đêm Đi đợc mấy hôm thìtrời ma gió liên miên, cha con ông phải ghé vào một ngôi chùa để trú ma vànghỉ sức Trong chùa có một pho kinh Phật, Ngô Trí Hoà mợn xem để tiêukhiển thời giờ Trời tạnh ráo cũng vừa lúc ông đã đọc hết tập pho kinh, chacon lại hành lí tiếp tục lên đờng.

Đến kinh kì, cống sinh dự thi có gần 4000 ngời, nhng chỉ có Trí Hoà làngời nhỏ tuổi nhất Một quan giám khảo trông thấy ông, cời và hỏi: “Cậu trẻtuổi nh vậy liệu học lực đợc bao nhiêu mà cũng dám dự thi khoá này?” TríHoà lễ phép trả lời: “Nếu bài có ra ngoài phạm vi kinh sử thì cũng có thể làm

đợc, còn việc đỗ đạt là ở số phận.” 10

Cũng theo “Ngô gia thế phổ”, quả nhiên khoa ấy bài thi ra ngoài kinh

sử thật, mà còn đặc biệt hơn tất cả mọi kì thi khác là đầu bài không yết lênbảng mà quan trờng vừa phi ngựa vừa đọc đề thi, ai nghe đợc thì dự thi, khôngnghe đợc phải bỏ cuộc Vì đây là kì thi đặc biệt chọn lựa nhân tài bởi vậy thísinh lần lợt ra khỏi trờng thi rất đông

Đề thi năm ấy là: “Luận ngữ nhị thập thiên hà thiên vô tử viết? Kim c

Câu chuyện về sự trùng hợp đề thi năm Nhâm Thìn với việc Trí Hoà

đọc pho kinh Phật trên đờng ứng thí lại cho ta biết nhiều điều về tài trí hơn

ng-ời của ông Một đêm đọc hết pho kinh, khả năng ghi nhớ đầu bài thi một cáchnhanh chóng và cả sự tự tin của Ngô Trí Hoà - tất cả đã minh chứng cho tríthông minh vốn sẵn của ông Nhng câu chuyện cũng ẩn sau nó ít nhiều yếu tốthần linh khi pho kinh ông đọc lại ứng với đề thi Vậy thì, có thể hiểu câu

Ngày đăng: 19/12/2013, 11:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] BCH Đảng bộ huyện Diễn Châu(2005), Lịch sử Đảng bộ Huyện Diễn Châu 1930 - 2005, NXB Lao Động - Xã Hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Huyện Diễn Châu 1930 - 2005
Tác giả: BCH Đảng bộ huyện Diễn Châu
Nhà XB: NXB Lao Động - Xã Hội Hà Nội
Năm: 2005
[3] Đàm Văn Chí (1992), Lịch sử văn hoá Việt Nam sinh hoạt trí thức, NXB Trẻ TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hoá Việt Nam sinh hoạt trí thức
Tác giả: Đàm Văn Chí
Nhà XB: NXB Trẻ TP Hồ Chí Minh
Năm: 1992
[15] Ngô Sĩ Liên, (1998), Đại Việt sử ký toàn th, tập 3, NXB Khoa Học Xã Héi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn th
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Héi
Năm: 1998
[26] Đào Tam Tỉnh (2000), Khoa bảng Nghệ An 1075 - 1919, NXB Văn hoá Thông tin Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa bảng Nghệ An 1075 - 1919
Tác giả: Đào Tam Tỉnh
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin Nghệ An
Năm: 2000
[27] Nguyễn Thị Uyên, (2005), “ Giáo dục khoa cử Nho học ở Diễn Châu thêi NguyÔn (1802 1919) – ”, Khoá luận tốt nghiệp Đại học, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, khoa Lịch sử, trờng Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục khoa cử Nho học ở Diễn Châuthêi NguyÔn (1802 1919)"–
Tác giả: Nguyễn Thị Uyên
Năm: 2005
[28] Viện Nghiên Cứu Lịch Sử (1990), Bản dịch bia Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn - 1592, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản dịch bia Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn - 1592
Tác giả: Viện Nghiên Cứu Lịch Sử
Năm: 1990
1) Sắc: Ban cho Tiến xuất thân tứ cấp Ngô Trí Hòa làm: Cẩn sự tá lang, Hàn lâm viện hiệu khảo (kiểm thảo)hạ tự. Vậy sắc.Quang Hng thứ 15 (1592) ngày 25 tháng 9 Khác
2) Sắc: Cẩn sự tá lang, Hàn lâm viện thảo, hạ giai Ngô Trí Hòa có tài năng đảm nhiệm trọng trách công việc đợc bọn triều thần và Đô tớng thái uý tr- ởng quốc công Trịnh Tùng bàn định: ứng tặng tứ ân tam cấp, đợc làm chức:Hiển vinh đại phu xứ Sơn Nam, Thanh hình hiến sát ty, hiến sát phó xứ, tu thận thiếu doãn, trung giai. Vậy sắc.Quang Hng thứ 18 ất mùi (1595) ngày 10 tháng 12 Khác
5) Sắc: Hiệp mu tá lí công thần, đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Hình bộ hữu thị lang, Phú Lộc nam, tá thị thợng khanh, thợng chế Ngô Trí Hòa, có tài Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng đề danh Tiến sĩ năm Nhâm Thìn(1592) ở Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội - Tìm hiểu về dòng họ ngô ở lý trai (diễn châu   nghệ an) và thân thế sự nghiệp của danh nhân văn hoá ngô trí hoà
ng đề danh Tiến sĩ năm Nhâm Thìn(1592) ở Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w