Được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên và Ban giám đốc Công ty cổ phần TNMT Phương Bắc em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng d
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm nghiên cứu: Công ty Cổ phần TNMT Phương Bắc
- Địa điểm thực tập: Xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
- Thời gian thực tập: Bắt đầu từ 04 tháng 03 năm 2018 đến 04 tháng 06 năm 2018.
Nội dung
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
3.3.1.1 Điều kiện tự nhiên xã Biên Sơn
3.3.1.2 Kinh tế xã hội xã Biên Sơn
3.3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Biên Sơn
3.3.2 Công tác quản lý đất đai xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
- Hiện trạng sử dụng đất
-Tình hình quản lý đất đai
3.3.3 Thành lập mảnh bản đồ địa chính xã Biên Sơn từ số liệu đo chi tiết 3.3.3.1 Công tác thành lập lưới khống chế đo vẽ
- Khảo sát, thu thập tài liệu, số liệu
- Bố trí và đo vẽ đường chuyền kinh vĩ
- Bình sai lưới kinh vĩ
3.3.3.2 Đo vẽ chi tiết, thành lập bản đồ địa chính bằng phần mềm Microstation và phần mềm Famis a Đo vẽ chi tiết b Ứng dụng phần mềm Microstation và Famis thành lập bản đồ địa chính
- Kết nối cơ sở dữ liệu bản đồ
- Tiến hành biên tập mảnh bản đồ số 38
- Tiến hành kiểm tra, đối soát thực địa
- In và lưu trữ bản đồ
3.3.4 Đánh giá, nhận xét kết quả thành lập tờ bản đồ địa chính số 18 từ số liệu đo chi tiết
Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp khảo sát, thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu từ các cơ quan chức năng như Ủy ban nhân dân xã Biên Sơn, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lục Ngạn về các điểm độ cao, địa chính hiện có, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu phục vụ cho đề tài,đồng thời tiến hành khảo sát thực địa để biết điều kiện địa hình thực tế của khu vực đo vẽ để có phương án bố trí đo vẽ thích hợp
+ Phương pháp đo đạc: Đề tài sử dụng máy toàn đạc điện tử SOUTH
NTS-305B được sử dụng để đo lưới khống chế đo vẽ và lưới khống chế mặt bằng; lưới này được đo bằng phương pháp toàn đạc với hai lần đo: đo đi và đo về, sau đó lấy giá trị trung bình của kết quả đo để đảm bảo độ chính xác Sau khi đo đạc và tính toán hoàn chỉnh lưới khống chế mặt bằng, tiến hành đo đạc chi tiết các yếu tố ngoài thực địa.
+ Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu đo đạc lưới khống chế mặt bằng ngoài thực địa sẽ được xử lý sơ bộ và định dạng, sau đó sử dụng các phần mềm để tính toán, bình sai các dạng đường chuyền, kết quả sau mỗi bước tính toán sẽ được xem xét, đánh giá về độ chính xác, nếu đảm bảo tiêu chuẩn theo yêu cầu sẽ được tiến hành các bước tiếp theo và cho ra kết quả về tọa độ chính xác của các điểm khống chế lưới
+ Phương pháp bản đồ: Đề tài sử dụng phần mềm Microstation kết hợp với phần mềm Famis, đây là những phần mềm chuẩn dùng trong ngành địa chính để biên tập bản đồ địa chính, tiến hành trút số liệu đo vào phần mềm theo đúng quy chuẩn, sau đó dùng các lệnh để biên tập bản đồ địa chính cho khu vực nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Xã Biên Sơn là xã trung du miền núi nằm ở phía bắc của huyện Lục Ngạn- tỉnh Bắc Giang Xã có 19 thôn, dân số 8160 người với tổng diện tích đất tự nhiên là 2063,23 ha
+ Phía đông giáp Trường bắn TB1
+ Phía bắc giáp xã Hộ Đáp
+ Phía nam giáp xã Hồng Giang và trường bắn TB1
+ Phía tây giáp xã Thanh Hải
- Xã Biên Sơn có 02 đường giao thông chính chạy qua là: Tỉnh lộ 290 chạy theo chiều Bắc - Nam có chiều dài khoảng 6 km Và đường huyện lộ 83 chạy theo chiều Đông – Tây có chiều dài khoảng 2,5km
Xã Biên Sơn có địa hình bán sơn địa, cao ở phía Đông Bắc và thấp dần về phía Tây Nam Địa hình này tạo nên sự chênh lệch độ cao đặc trưng cho xã Biên Sơn và phản ánh đặc thù địa hình miền núi Bắc Bộ.
+ Phía Bắc không được bằng phẳng, đồi núi nhiều, hệ thống ruộng đa số là ruộng bậc thang , có chênh lệch về độ cao giữa các ruộng khá lớn, không có hệ thống thuỷ lợi canh tác phụ thuộc vào nước trời
+ Phía Nam và phía Tây địa hình tương đối bằng phẳng tạo nên vùng trồng lúa và các cây công nghiệp ngắn ngày, hệ thống ao hồ, kênh mương tại đây tương đối thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Xã Biên Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Nhiệt độ cao nhất dao động khoảng 36–39°C vào tháng 7–8, nhiệt độ thấp nhất từ 7–9°C vào tháng 2–3 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1600–1800 mm Nhìn chung, khí hậu và thời tiết ở Biên Sơn tương đối thuận lợi cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi.
Xã Biên Sơn có địa hình tương đối bằng phẳng xen kẽ những cánh đồng và khu dân cư, cùng với những đồi bát úp rải rác và độ cao trung bình khoảng 20m so với mặt nước biển; địa hình nghiêng dần từ Bắc xuống Nam Dù có địa hình bằng phẳng, điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng và giao thông đi lại còn nhiều khó khăn Thêm nữa, xã thường xuyên bị ngập úng do nước sông dâng cao, ảnh hưởng lớn đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng và phát triển kinh tế của địa phương.
Theo trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Giang, xã Biên Sơn mang đặc điểm chung của khí hậu vùng Miền núi phía Bắc chia ra làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình khoảng 20 o C, nhiệt độ tối đa 37 o C Tổng tích ôn trung bình hàng năm khoảng 8000 o C Tổng giờ nắng trong năm đạt 1628 giờ Với điều kiện thời tiết khí hậu như vậy rất thuận lợi cho việc phát triển nông – lâm nghiệp
Nguồn nước mặt gồm có hệ thống kênh hồ bấu , mương đồng phấn , và hệ thống kênh mương nội đồng, ao hồ, đập nằm rải rác trong xã, tạo điều kiện khá thuận lợi cho sản xuất của nhân dân
Nguồn nước ngầm chưa được khảo sát cụ thể, nhưng qua thực tế sử dụng của nhân dân cho thấy: đối với giếng đào có độ sâu từ 4 - 15 m, đối với giếng khoan gia đình loại nhỏ có độ sâu 15 - 50 m Khối lượng và chất lượng nguồn nước cơ bản đảm bảo cho sinh hoạt của các hộ gia đình trong năm Riêng vào mùa khô Có hộ không có nước dùng
4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Phát huy tiềm năng và thế mạnh, khắc phục hạn chế và huy động hiệu quả các nguồn lực vào phát triển kinh tế, xã Biên Sơn từ năm 2010 đến 2015 đã duy trì đà tăng trưởng và tiến hành cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Nhờ sự chuyển dịch này, kinh tế địa phương đã ổn định và đóng góp vào nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Cơ cấu kinh tế phát triển năm 2015 của xã được thể hiện qua ba ngành chính: nông nghiệp 60,7%, dịch vụ - thương mại 20%, và tiểu thủ công nghiệp 19,3% Cơ cấu này cho thấy xu hướng giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng khu vực thương mại - dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp, phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng đa dạng hóa và phát triển dịch vụ.
Ở năm 2015, tổng diện tích đất nông nghiệp của xã là 1.893,16 ha, chiếm 91,76% diện tích tự nhiên và tăng 73,81 ha so với năm 2010 (1.819,35 ha) Ngành nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương và cân bằng môi trường sinh thái, đồng thời tạo cảnh quan nông thôn Trong những năm qua, ngành trồng trọt có sự chuyển dịch mạnh từ đất rừng, đất trồng cây hàng năm sang cây lâu năm, đặc biệt là cây vải thiều, nhãn và cây ăn quả có múi.
Ngành trồng trọt trên địa bàn xã thời gian qua phát triển khá ổn định, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội và tăng thu nhập cho người dân Đất trồng cây hàng năm hiện có 280,6 ha, chủ yếu trồng lúa và cây hoa màu; tuy nhiên do thường xuyên bị dịch bệnh nên năng suất và hiệu quả kinh tế còn ở mức thấp, một số hộ chuyển sang trồng cây ăn quả có múi để tăng thu nhập Đất trồng cây lâu năm có 410,03 ha, chủ yếu là cây vải thiều và nhãn; diện tích trồng mới đạt 21,5 ha và diện tích cho sản phẩm là 370 ha.
Ngành chăn nuôi: Được quản lý chặt chẽ, công tác đăng ký chăn nuôi, tiêm phòng gia súc, gia cầm và vệ sinh tiêu độc chuồng trại được thực hiện tốt Ngành chăn nuôi trên địa bàn xã có quy mô khá đa dạng theo hộ gia đình Năm
Đánh giá, nhận xét kết quả thành lập tờ bản đồ địa chính số 18 từ số liệu đo chi tiết
Sau khi đo vẽ toàn bộ diện tích xã Biên Sơn thu được kết quả như sau :
- Thành lập được lưới khống chế đo vẽ bao gồm: 38 điểm địa chính và 156 điểm lưới kinh vĩ có độ chính xác cao
- Tổng số tờ bản đồ địa chính của toàn xã là 73 tờ: 24 tờ tỷ lệ 1: 1000, 46 tờ tỷ lệ 1: 2000 , 3 tờ tỷ lệ 1:5000
- Tờ bản đồ địa chính số 38 và các tờ bản đồ còn lại đã hoàn thành khi kết thúc đợt thực tập và được xử lý, biên tập theo phần mềm MicroStationSE, FAMIS đã đạt kết quả tốt
Phát triển nguồn nhân lực cho ngành địa chính thông qua đào tạo kỹ thuật viên thành thạo các phần mềm chuyên dụng như MicroStation, Famis và các modul liên quan đến tạo lập và biên tập bản đồ Đồng thời không ngừng phổ biến và ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ mới vào quy trình làm việc và quản lý bản đồ.
- Đổi mới, hiện đại hoá công nghệ về đo đạc và bản đồ Các bản đồ nên xử lý, biên tập trên Famis để có một hệ thống dữ liệu thống nhất, đảm bảo cho việc lưu trữ, quản lý và khai thác.