Chính vì thế, trong chương trìnhphát triển nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2010, Bộ Thuỷ sản định hướng pháttriển nuôi tôm Sú đạt sản lượng 360.000 tấn, giá trị xuất khẩu 1.400 triệu USD[12]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
VINH – 2009
Trang 2MỞ ĐẦU
Nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đang là nghề được chính quyền các tỉnhven biển miền Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Quảng Bình…)đưa vào là ngành kinh tế mũi nhọn trong thời kỳ từ nay đến 2010 Trong đótôm sú là đối tượng được nuôi quan trọng nhất, đồng thời được đánh giá cao
về cả tiềm năng và diện tích
Tính đến 2002, sản lượng nuôi tôm sú của 8 tỉnh miền Bắc đã đạt được12.805 tấn, năng suất bình quân đạt 500kg/ha, cao gấp 3 lần sản lượng tômnuôi năm 2000 Nuôi tôm sú đã thực sự làm tăng thu nhập, nâng cao đời sống
và làm giàu cho người dân vùng ven biển Chính vì thế, trong chương trìnhphát triển nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2010, Bộ Thuỷ sản định hướng pháttriển nuôi tôm Sú đạt sản lượng 360.000 tấn, giá trị xuất khẩu 1.400 triệu USD[12]
Như một qui luật của tự nhiên, khi sự phát triển đạt được thể hiện qua
cả diện tích, năng suất nuôi tôm kéo theo một số vấn đề xảy ra như ô nhiễmmôi trường nuôi, dịch bệnh xảy ra thường xuyên hơn, Một thực tế cho thấytrong những năm gần đây bệnh đã xuất hiện với tần suất dày hơn và diễn biếnphức tạp Bệnh là nguyên nhân chính quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới chấtlượng tôm giống cũng như năng suất đạt được của tôm thịt Theo báo cáo kếtquả nuôi trồng thủy sản 2003 của ngành đã đưa ra cả nước có 546757 ha nuôitôm nước lợ thương phẩm, trong đó diện tích có tôm bị bệnh và chết là 30083
ha Các tỉnh từ Đà Nẵng đến Kiên Giang có tới 29200 ha nuôi tôm bị chếtchiếm 97,06% diện tích có tôm bị chết trong cả nước chủ yếu do bệnh đốm
trắng, đầu vàng, MBV, bệnh do vi khuẩn vibrio, bệnh do ký sinh trùng( Tạp
chí thủy sản)[12]
Trang 3Ở tôm vi khuẩn gây rất nhiều bệnh nguy hiểm khác nhau và là mối đedọa rất lớn trong ngành nuôi tôm công nghiệp Có nhiều loài gây bệnh chotôm, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng cũng như khả năng chống chịu của tôm rấtkhác nhau tùy vào loại vi khuẩn, cường độ cảm nhiễm và giai đoạn cảm
nhiễm.Trong đó Vibrio là nhóm sống tự do trong nước và cũng là tác nhân gây bệnh nguy hiểm Bệnh Vibrio phân bố rộng khắp thế giới, có thể xảy ra ở hầu
hết các giai đoạn của tôm [7] Hiện nay nó đang trở thành các bệnh thườnggặp và gây nhiều tác hại cho nghề nuôi tôm nước ta nói chung và các tỉnh phíaBắc nói riêng
Vì vậy để góp phần hiểu rõ hơn về nguyên nhân gây bệnh trên tôm Sú
từ đó có biện pháp phòng trị kịp thời nhằm hạn chế rủi ro cho nghề nuôi tôm
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu sự có mặt của vi khuẩn Vibrio
trong mẫu tôm Sú(Penaeus monodon) và sự biến động vi khuẩn trong môi trường ao nuôi tôm Sú tại một số tỉnh phía Bắc”.
Mục đích của đề tài:
- Bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học
- Xác định sự biến động của vi khuẩn hiếu khí và tổng vi khuẩn vibrio spp
trong môi trường ao nuôi tôm Sú tại Hưng Hòa – Nghệ An, Quảng Chính –Thanh Hóa, và Thạch Trị - Hà Tĩnh
- Xác định sự có mặt của vi khuẩn Vibrio trong mẫu tôm Sú nuôi tại Hưng
Hòa – Nghệ An, Quảng Chính – Thanh Hóa, và Thạch Trị - Hà Tĩnh
Trang 4Vibrio có dạng hình que, kích thước tế bào 0,3-0,5x1,4-2,6µm Vibrio
không hình thành bào tử và có khả năng chuyển động nhờ một tiêm mao hoặcnhiều tiêm mao Là các vi khuẩn bắt màu gram âm, có khả năng oxy hoá và lên men trong môi trường O/F Glucose, không có khả năng sinh H2S và mẫn cảm với Vibriostar (0/129) Hầu hết các loài của giống vibrrio đều phân bố trong môi trường nước mặn, thích hợp ở 20 – 40%o, có loài có thể phát triển ở70%o nên vibrio luôn là mối đe doạ cho nghề nuôi động vật thuỷ sản biển,
đặc biệt là giáp xác nuôi thâm canh trên biển và ven biển Môi trường
thiosulphate citrate bile salt Sucrose agar (TCBS) là môi trường chọn lọc của
vibrio spp… Dựa vào màu sắc khuẩn lạc trên môi trường chọn lọc này, vibrio spp được chia thành 2 nhóm: Nhóm có khả năng lên men đường Sucrose và
có khuẩn lạc màu vàng; nhóm không có khả năng lên men đường Sucrose và
có khuẩn lạc màu xanh trên môi trường TCBS [7]
Trang 5Vi khuẩn Vibrio có thể gây ra các bệnh mãn tính, thứ cấp tính và cấp
tính Khi bệnh cấp tính xảy ra tỷ lệ chết có thể lên tới 100% nếu không có
biện pháp trị bệnh kịp thời Khi bệnh Vibriosis bùng nổ ở mức độ cấp tính,
luôn luôn liên quan đến vấn đề stress và chất lượng môi trường nước xấu
Vibrio là vi khuẩn đặc trưng cho vùng nước biển ấm, phát triển mạnh ở nhịt
độ 25 – 300C [7]
Theo Bower (1996), một số loài vi khuẩn có khả năng tiết ra các men phân huỷ vỏ kitin ở các loài giáp xác như Chitinase, Protease, lipase Các vi
khuẩn này có thể thuộc giống Vibrio spp, Pseudomonas spp, Aeromonas spp.
(Bower S M (1996), Rickettsia and Chlamydia of Crabs, Synopsis of
infection Diseases and parasites of Commercially Exploited Shellfish)
Gây bệnh Vibriosis ở ĐVTS gặp một số loài như sau: V
parahaemolyticus, V haveyi, V cholera, V vulnificus, V anginolyticus, V anguilarum…
1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh trên tôm sú
1.2.1 Trên thế giới
Ngành nuôi trồng thủy sản đã đem lại lợi nhuận rất cao cho các quốc gia có tiềm năng về phát triển NTTS, đặc biệt là nuôi tôm sú Các quốc gia đãbằng mọi cách mở rộng diện tích vùng nuôi, đẩy mạnh các hình thức nuôi công nghiệp dẫn đến sự mất cân bằng sinh thái trong các vùng nuôi tôm Hiệntượng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh đã xảy ra liên tục ở nhiều nơi trên thếgiới Bệnh đã làm giảm sản lượng tôm nuôi đáng kể Năm 1987 – 1989 dịch bệnh tôm xảy ra ở Đài Loan đã làm cho sản lượng tôm nuôi ở quốc gia này giảm xuống đáng kể từ 100.000 tấn giảm còn 20.000 tấn [13]
Trang 6Không chỉ tính riêng châu Á, châu Phi, châu Mỹ mà cả trên toàn thế giới đều chịu thiệt hại lớn về sản lượng, năng suất do dịch bệnh gây ra, đặc biệt thiệt hại lớn nhất phải kể đến Thái Lan, Philippine, Indonesia, Trung Quốc, Bangladesh [13].
Trước tình hình dịch bệnh hoành hành, hàng loạt các công trình nghiên cứu về bệnh trên các đối tượng thủy sản đã được tiến hành nghiên cứu Vào những năm 70 bệnh virus trên tôm lần đầu tiên được phát hiện bởi Couch
(1974) và gọi là Baculovirus penaeid, và hiện nay con người đã tìm ra khoảng
20 bệnh do virus trên tôm và hàng trăm loài vi khuẩn khác nhau cũng như nhiều loài nấm, ký sinh trùng gây ra trên tôm (Brock and Lightner 1990) [25]
1.2.1.1 Bệnh virus
Theo lightner (1996), Brock và lightner (1990), Fulk và Main (1992), các bệnh thường gặp do virus gây bệnh trên tôm he nuôi tại khu vực châu Á như sau [29]:
Hội chứng đốm trắng WSBV
Bệnh do virus đầu vàng YHD
Bệnh BMN và MBV
Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu IHHNV
Bệnh gan tụy do Parvovirus
Bệnh đốm trắng WSBV
Bệnh đốm trắng được thông báo lần đầu tiên ở Trung Quốc vào năm
1989 trong các đầm nuôi tôm sú có tỷ lệ chết rất cao Vài năm trở lại đây bệnh đã xuất hiện ở rất nhiều khu vực trên thế giới trong đó có Việt Nam và
Trang 7gây thiệt hại đáng kể Hiện tại bệnh đốm trắng đang được tổ chức dịch bệnh động vật quốc tế xếp vào danh mục cần được kiểm soát [31].
Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là có những đốm trắng khoảng 0,5 – 2mm
ở vỏ, chủ yếu tập trung ở giáp đầu ngực, những đốm trắng này không bị mất
đi khi ta cạo dưới lớp vỏ Những đốm trắng được tạo nên do sự lắng cặn không bình thường của muối canxi ở biểu bì [34]
Tôm bị bệnh thường khả năng tiêu thụ thức ăn giảm sút rõ ràng, cá biệt
có trường hợp tăng cường độ bắt mồi sau vài ngày mới có hiện tượng bỏ ăn Tôm bệnh có thể bị chuyển sang màu hồng đỏ Hiện tượng chết có thể xảy ra vài ngày sau đó, tỷ lệ chết cao, có thể lên tới 90% - 100% trong 3 – 7 ngày nhưng cũng có trường hợp đốm trắng không phải do tôm bị nhiễm virus mà
có thể do sự kéo dài độ pH cao quá lâu dẫn đến sự tích tụ canxi ở lớp vỏ làm xuất hiện đốm trắng, hiện tượng này không nguy hiển lắm Chỉ cần môi
trường nuôi tốt, giúp tôm ăn tốt và lột xác bình thường, sau khi lột xác đốm trắng đó sẽ mất đi [34]
Bệnh đốm trắng phát triển rất nhanh, gây chết hàng loạt và hay cảm nhiễm ở giai đoạn tôm con (sau khi thả giống từ 30 – 40 ngày) Virus gây bệnh này có thể phát triển trên nhiều đối tượng tôm nuôi khác nhau, con đường lây lan của bệnh rất rộng theo cả chiều ngang và chiều dọc [31]
Theo các nhà khoa học Úc thì virus có thể tồn tại trong môi trường nước trong vòng 4 – 7 ngày với khả năng lây nhiễm cao Một số nhà khoa học
Ấn Độ cho rằng bệnh WSBV thường trầm trọng hơn sau những trận mưa lớn Còn Chalor Limsuwan khi nghiên cứu WSBV ở Thái Lan lại có nhận xét rằng
ở vùng nuôi có độ muối cao, mức độ nhiễm WSBV nghiêm trọng hơn nhiều
so với vùng nuôi có độ muối thấp [35]
Trang 8Bằng phương pháp mô bệnh học Lightner nhận thấy rằng: Các tế bào nhiễm virus bệnh đốm trắng có nhân bị kết dặc lại và xuất hiện thể vùi bắt màu hồng khi nhuộm Eosin và Hematocyline [5].
Ngoài ra để kiểm tra bệnh này người ta còn có nhiều phương pháp như nhuộm nhanh mang tôm bị bệnh, phương pháp PCR [5]
Bệnh MBV
MBV có mặt trong phần lớn các trang trại nuôi tôm ở châu Á từ Trung Quốc đến Đài Loan, Philippine, Malayxia, Singapore, Thái Lan, Indonexia, Australia… và có thể lây nhiễm trên nhiều loại tôm he khác nhau:
P.monodon, P merguiensis, P vannamei…Tuy nhiên chỉ có tôm sú P
monodon thường bị nhiễm nặng và phổ biến nhất [32].
Hiện nay bệnh MBV đã xuất hiện khá phổ biến trên toàn thế giới: Khu vực Tây bán cầu, vùng Trung Đông, châu Mỹ và cả ở các khu vực châu Á Thái Bình Dương Theo Wang và ctv (1992), bệnh MBV thường gây tỷ lệ chết cao trong các trại ương nuôi và ít hơn trong các ao nuôi tôm thịt ở
Malaysia Ông đã phát hiện ra tôm bị nhiễm bệnh ở giai đoạn hậu ấu trùng và
ấu niên là mạnh nhất [32]
Còn theo Lightner (1996) cho rằng, tôm có thể bị nhiễm MBV từ giai đoạn Zoea 2 nhưng bệnh lại trầm trọng nhất ở giai đoạn postlarvae, đặc biệt làPL25, tỷ lệ tử vong có thể lên đến 90% trong quần đàn bị nhiễm MBV
Trang 9môi trường thuận lợ và ổn định thì hầu như tác hại của bệnh tôm không đáng
kể nhưng khi gặp điều kiện môi trường xấu, không ổn định làm tôm yếu, dễ mẫn cảm với MBV và dẫn đến tôm bị chết [36]
Phần lớn các quần đàn tôm nhiễm MBV khi chết thấy không chỉ có một
tác nhân là MBV mà còn thấy tác nhân thứ cấp là vi khuẩn vibrio spp Theo
Felix và Devaraj (1993) có đến 70% PL tôm sú bị nhiễm MBV khi chết có kèm theo dấu hiệu của bệnh phát sáng Ngoài ra còn có vi khuẩn dạng sợi và động vật đơn bào Theo Lightner (1996) MBV có tác dụng mở đường, điều này thể hiện trong lát cắt mô gan tuỵ của tôm Khi nhiễm bệnh MBV nặng thì
tế bào gan tuỵ của tôm thường bị nhiễm vi khuẩn thứ cấp [36]
Ngày nay bệnh MBV đã và đang được nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới Theo Chen và ctv (1989), với MBV thì phương pháp nhuộm màu gan tôm ép tươi bằng xanh malachite 0,5% và phương pháp mô bệnh họccho phép chẩn đoán chính xác sự cảm nhiễm của MBV trong các tế bào gan tuỵ của tôm thông qua việc phát hiện sự tồn tại của thể ẩn trong mẫu nghiên cứu Tuy nhiên theo Lightner (1996) thì hai phương pháp nhuộm tươi và mô bệnh học dù sao cũng còn một hạn chế đó là không phát hiện chính xác tôm bịnhiễm virus ở giai đoạn đầu tiên, chưa hình thành thể ẩn tuy nhiên phương pháp này phù hợp cho việc nghiên cứu bệnh MBV ở các phòng thí nghiệm thô sơ [28]
Bệnh đầu vàng
YHVD có sự phân bố rộng, liên quan tới các quốc gia có nuôi tôm sú nhưng cho đến nay bệnh này chỉ mới được nghiên cứu ở Thái Lan (P.J
Walker, 2000) Theo Lightner (1996) bệnh này xuất hiện ở Thái Lan năm
1990 trong các ao nuôi thâm canh Tuy vậy người ta còn cho rằng rất có thể
Trang 10bệnh này đã xảy ra sớm hơn và gây dịch chết tôm nghiêm trọng ở Đài Loan năm 1987 – 1989 Trước đây một số nhà nghiên cứu ở Thái Lan cho rằng đây
là bệnh do Baculovirus gây ra Tuy nhiên hiện nay người ta đã xác định nó
không thuộc họ Baculovirus Virus YHV chỉ là một sợi đơn hình que được
bao bọc bởi bào chất virus gần giống các virus thuộc họ Coronaviridae [31].
YHV có thể lây nhiễm ở tất cả các giai đoạn khác nhau của tôm sú nhưng bệnh thường xảy ra và gây thiệt hại đối với tôm khoảng 2 tháng tuổi, trong những ao đầm có điều kiện môi trường xấu và ở những vùng có mật độ
số ao và trại ao cao Thực tế cho thấy rằng bệnh này thường xuất hiện trong
hệ thống nuôi thâm canh [6]
1.2.1.2 Bệnh do vi khuẩn
Vi khuẩn là một trong những tác nhân chiếm phần lớn trong các tác nhân gây bệnh cho tôm nuôi Trong điều kiện ao nuôi có mật độ cao, đầu tư thức ăn lớn, hiện tượng ô nhiễm thường xuyên xảy ra đó là điều kiện thuận lợicho vi khuẩn phát triển và gây tác hại Theo thống kê của Sindermann và lighter (1988) cho biết: Các bệnh tôm do vi khuẩn gây ra chiếm 45,5% tổng các loại bệnh tôm, trong khi vius chỉ chiếm 25,3%, Nấm chiếm 2,7%, Ký sinhtrùng chiếm 26,5%[38]
Trong các loài vi khuẩn gây bệnh cho tôm thì vibrio là loài phân bố
rộng khắp thế giới và luôn được xem là mối đe doạ lớn cho nghề nuôi động vật thuỷ sản biển nói riêng và nghề nuôi tôm sú nói chung
Trong bệnh vibrrio, vi khuẩn vibrio có thể là tác nhân sơ cấp hoặc tác
nhân thứ cấp, tác nhân cơ hội Ký sinh trùng hay các tác động môi trường như
cơ học, hoá học có thể đóng vai trò quan trọng trong các dịch bệnh vibrio ở
động vật thuỷ sản
Trang 11Theo các kết quả nghiên cứu trên thế giới có hàng trăm loài vi khuẩn gây bệnh trên động vật thuỷ sản.
Theo Lighter(1988) thì những loài chính phân lập được từ tôm bệnh
vào năm 1986 là V Alginolyticus, V anguilarium, V parahaemolyticus Nhưng theo Chen và ctv (1990) thì những Vibrio chính thu được từ tôm bệnh năm 1988-1990 là V harveyi, V damsela, V nereis, V tubiashi, V
anguillarum, V parahaemolyticus là những loài chính tìm thấy trên tôm yếu
thu được từ năm 1988-1990[38] Pitogo và ctv (1990) cho rằng trong các loài
Vibrio gây bệnh cho tôm thì hai loài V harveyi và V splendicus là hai tác
nhân gây bệnh nghiêm trọng trên tôm sú ở Philipine Còn theo Kou và ctv
(1989) phát hiện ra 5 loài là V harveyi, V damsela, V nereis, V tubiashi, V
anguillarum ở Đài Loan [43].
Có rất nhiều chủng Vibrio gây bệnh ở tôm đã được các nhà khoa học
phân lập và xếp vào tám loài, đó là V harveyi, V damsela, V anguillarum, V.
parahaemolyticus, V alginolyticus, V fluvialis, V.vulnificus, V cholerae [25].
Trong số các loài trên thì V harveyi, V.parahaemolyticus,V.vulnificus được
coi là những tác nhân nguy hiểm gây chết tôm [47]
Lightner (1996) cho biết tất cả các loài tôm nuôi trên thế giới đều bị
nhiễm Vibrio Bệnh Vibrio đã được thông báo ở nhiều quốc gia khác nhau
như Nhật Bản, Philipine, Malaysia, Indonesia, Thailan, Đài Loan và Châu
Mỹ[27] Theo Chanratchakool và ctv (1994) thì Vibrio có khả năng cảm
nhiễm cả bên trong lẫn bên ngoài cơ thể tôm Sự nhiễm thể hiện ở một số dấu hiệu chính của bệnh mềm vỏ, cụt đuôi, xuất hiện điểm đen trên cơ thể tôm, tổn thương hoại tư phần phụ Sự cảm nhiễm bên trong thương gặp ở một số trường hợp cấp tính, vi khuẩn được phân lập từ gan tụy, cơ và máu[44]
Jiravanichpaisal và ctv (1995) lại cho rằng Vibrio là tác nhân thứ cấp, tác
Trang 12nhân cơ hội và luôn tồn tại trong cơ thể tôm ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của tôm chúng gây ra tác hại khác nhau Trên ấu trùng và hậu ấu trùng khi nhiễm nặng có thể gây ra bệnh phát sáng, đỏ thân và chết rải rác đến hàng loạt Ở tôm trưởng thành bị nhiễm cục bộ sẽ xuất hiện những vết đen hay trắng trên vỏ và đầu đuôi, chân bơi, chân bò bị ăn mòn, sau đó chết rải rác [45].
Jiravanichpaisal và ctv (1995) còn cho biết ở giai đoạn tôm giống
71,75% tôm bị nhiễm Vibrio trong tế bào ống gan tụy còn lại bị nhiễm ở biểu
mô, ở tôm trưởng thành bị nhiễm Vibrio ở biểu mô là chính, chiếm 77,3%
[29] Tôm bị mắc bệnh màu sắc nhợt nhạt, giảm khả năng hoạt động, bề ngoàibẩn và có xu thế chìm xuống đáy Trong trường hợp cấp tính, tỷ lệ chết có thể lên tới 100% trong 1-2 ngày [47]
Theo Pitogo (1995), bệnh vi khuẩn ở tôm nuôi luôn xuất hiện cùng với những quá trình bệnh lý khác nhau hoặc phản ánh hậu quả của việc phá vỡ cân bằng sinh thái trong ao nuôi [46] Vibrio thường là những tác nhân cơ hội,
theo Lightner thì trên tôm khỏe vẫn tồn tại vi khuẩn Vibrio, những vi khuẩn
này sẽ chờ điều kiện thuận lợi sẽ tấn công và gây bệnh Khi tôm sôs do môi trường biến đổi xấu hoặc bị nhiễm các bệnh khác như virus, nấm, ký sinh trùng Lúc đó tôm yếu không có sức đề kháng, các loại vi khuẩn trong giống
Vibrio gây bệnh cho tôm dẫn đến tôm chết rải rác rồi hàng loạt [40].
Tôm bị bệnh thể hiện qua một số dấu hiệu như tôm bơi lờ đờ, kém ăn,
bỏ ăn, biến màu đỏ, vỏ bị mềm xuất hiện các điểm đen trên cơ thể, các phần phụ bị ăn mòn, cụt [39]
Lightner cho rằng V parahaemolyticus, V.vulnificus, V harveyi gây bệnh phát sáng ở ấu trùng và tôm giống V alginolyticus gây bệnh đỏ dọc
Trang 13thân ở ấu trùng và tôm giống Vibrio spp và pseudomonas spp gây bệnh ăn mòn vỏ kitin Ở các giai đoạn của tôm Vibrio spp còn là tác nhân khác gây
bệnh đen mang ở tôm thịt[27, 39] Vibrio còn là tác nhân gây chết tôm rải rác
ở giai đoạn Zoea-Postlarvae Bệnh xuất hiện và phát triển mạnh khi nguồn nước có nhiều mùn bã hữu cơ Tôm bị bệnh có nhiều đốm đỏ ở mắt, đuôi, ốngtiêu hóa, tôm mất thăng bằng, dị hình và lắng đáy [40]
Khi tôm bị bệnh có thể dùng kháng sinh, sử dụng kháng sinh thông thường bằng con đường thức ăn, do đó chỉ có hiệu quả vào những giai đoạn đầu nhiễm bệnh, khi tôm vẫn có khả năng ăn thức ăn Vào những giai đoạn muộn hơn của bệnh, tôm sẽ dừng ăn vì vậy chúng sẽ không nhận được thuốc [11] Theo Pitogo(1988) thì việc sử dụng kháng sinh có hiệu quả trong việc
tiêu diệt một số mầm bệnh như Vibrio nhưng hầu như không hiệu quả khi sử
dụng kháng sinh để tiêu diệt bệnh phát sáng [46]
Vibrio có mặt trong tất cả các môi trường nuôi và theo Chanratchakool
thì việc duy trì chất lượng nước tốt, cùng với mật độ thả Postlavae thích hợp chính là sự thành công trong việc nuôi tôm [45]
1.2.1.3 Bệnh do nấm
Bệnh do nấm cũng ảnh hưởng rất lớn đến ngành sản xuất giống, thường
gặp là bệnh Lagenidium ở ấu trùng, bệnh fusarium ở tôm thương phẩm Hầu hết các trại giống thường gặp nhất là bệnh nấm lagenidium [5].
Có khoảng 500 loài nấm đã được phân lập ở môi trường nước biển và
cửa sông Những giống nấm thường gặp ở tôm biển gồm Lagenidium,
Sirolpidium, Haliphthoros, Atkinsiella, Fusarium…
Ấu trùng bị bệnh nấm thường nhạt màu, bỏ ăn đột ngột, ở giai đoạn Zoea có hiện tượng đứt phần đuôi, khó lột xác và có thể gây chết hàng loạt
Trang 14Khi ấu trùng bị nhiễm nặng đua lên kính hiển vi quan sát ở độ phóng đại lớn hơn hay bằng 100 lần có thể dễ dàng phát hiện hệ sợi nấm trong suốt, phân nhánh chằng chịt, bao phủ trên bề mặt hệ cơ của ấu trùng [5].
Đối với tôm trưởng thành khi bị nhiễm bệnh thường có một số dấu hiệunhư sau: Mang tôm thay đổi từ màu trắng sang đen hoặc xuất hiện các điểm đen trên mang, vỏ kitin, trên các phần phụ như chân bơi, chân bò, râu…, tại vịtrí đó, vỏ kitin không bị ăn mòn[5]
1.2.1.4 Bệnh do ký sinh trùng
Bệnh ký sinh trùng phần lớn do ký sinh đơn bào có thể sống tự do trongmôi trường nước gây nên Bệnh ký sinh đơn bào thường ký sinh ở da, vỏ, mang tôm gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và có thể gây chết hàng loạt Ký sinh trùng nhiễm mức độ cao sẽ gây tắc nghẽn ở mang, tôm biếng ăn, chậm phát triển, tạo điều kiện cho các tác nhân gây bệnh khác xâm nhập vào cơ thể
Một số ký sinh trùng đơn bào như Paranophrys spp, Parauronema sp gây
bệnh ở giai đoạn sớm của tôm như bệnh sinh vật bám ở ấu trùng tôm [7]
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện tôm chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển phía Nam năm
1993 – 1994 đã xác định có 3 loại bệnh chính là MBV, WSBV, YHV Từ cuối năm 1991 – 1995, các dịch bệnh lớn liên tiếp xảy ra ở các khu vực nuôi tôm ở Việt Nam như Ninh Thuận (1991), Phú Yên Khánh Hoà (1993-1994), ĐBSCL (1994-1995) Năm 1996 – 1997, dịch bệnh đã xuất hiện trên khắp các vùng nuôi tôm từ Hải Phòng đến các tỉnh miền Trung và ven biển Nam
Bộ Theo báo cáo của Bùi Quang Tề đầu năm 2001 cho biết, các tỉnh phía Bắc từ Quảng ninh đến Hà Tĩnh đều có mầm bệnh đốm trắng ở tôm nuôi và tôm tự nhiên, WSBV đã làm cho tôm chết hàng loạt ở Nghệ An, Hà Tĩnh
Trang 15Trong những năm gần đây bệnh đốm trắng thường xuyên xuất hiện trong các khu vực nuôi tôm ven biển Việt Nam Hầu hết các tỉnh khi bị nhiễm đốm trắng đã làm tôm chết hàng loạt Mùa xuất hiện bệnh thường là mùa xuân và đầu mùa hè khi thời tiết biến đổi nhiều như nhiệt độ trong ngày biến thiên quálớn(> 50C) gây sốc cho tôm [12].
Từ thực tiễn sản xuất, năm 1991 Nguyễn Trọng Nho và ctv đã thực hiện đề tài: “ Bước đầu nghiên cứu một số bệnh trên tôm Sú ở Khánh Hoà”,
đã thông báo một số dấu hiệu bệnh lý thường gặp trên tôm sú nuôi [25] Năm 1991-1995 Hà Ký và ctv thực hiện đề tài KN-04-12, đã nghiên cứu 13 bệnh của tôm cá Đây là lần đầu tiên Việt Nam tập trung nghiên cứu đầy đủ bệnh vikhuẩn với các nội dung” phân lập vi khuẩn, xác định tác nhân gây bệnh, dấu hiệu bệnh,phân bố và lan truyền bệnh, biện pháp phòng trị” [24]…Những bệnh đã được nghiên cứu trên tôm như bệnh phát sáng, bệnh đỏ dọc thân trên
ấu trùng tôm sú do vi khuẩn vibrio gây ra như V parahaemolyticus,
V.vulnificus, V Harveyi.
Khi tôm chết ở ĐBSCL (1994-1995) Nguyễn Việt Thắng và ctv đã thựchiện đề tài tìm hiểu nguyên nhân gây chết tôm ở ĐBSCL và nhận xét tôm chết
là do virus, vi khuẩn là tác nhân cơ hội [13]
Năm 1994 Đỗ Thị Hoà và ctv thực hiện đề tài:”Nghiên cứu một số bệnh trên tôm sú nuôi ở miền Trung Việt Nam” cũng đã xác định được 8 loại bệnh khác nhau do tác nhân là vi sinh vật gây ra cho tôm sú: vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật,và giun tròn, ngoài ra tác giả còn thông báo mốt số bệnh
do yếu tố vô sinh gây ra như bệnh dị hình, bệnh cong thân và bệnh tôm chết
do nhiệt độ cao Trong đó tác giả nhấn mạnh một số bệnh chủ yếu gây tác hại cho tôm, đó là bệnh phát sáng, bệnh đỏ dọc thân trên ấu trùng tôm sú, bệnh mềm vỏ và bệnh động vật đơn bào [12] Cũng trong thời gian này, Phan Thị Lương Tâm và ctv thực hiện đề tài” Xác định nguyên nhân gây chết tôm tại
Trang 16khu vực phía Nam và biện pháp phòng trị bệnh để phát triển nghề nuôi tôm”
đã khẳng định tôm chết là do bệnh, chủ yếu do vibrio gây ra [26]
Tháng 10 – 11/1994, lần đầu tiên Bùi Quang Tề đã nghiên cứu về mức
độ nhiễm MBV trên tôm sú ở ven biển phía Nam Theo tác giả thì nguyên nhân gây chết tôm có MBV Theo các kết quả nghiên cứu gần đây, tôm sú hậu
ấu trùng và tôm giống(P10 – P20) sản xuất ở Khánh Hòa, Bình Định, Ninh Thuận bị nhiễm MBV rất phổ biến và đây cũng chính là nguyên nhân làm giảm chất lượng đàn tôm giống ở Việt Nam Năm 1998 từ kết quả thử nghiệmbiện pháp ngăn chặn sự lây nhiễm MBV ở tôm sú ấu trúng trong các trại giống ở miền Trung Việt Nam, Đỗ Thị Hòa và ctv đã kết luận tôm mẹ bị nhiễm MBV chính là con đường chủ yếu dẫn tới đàn ấu trùng bị nhiễm MBV [26]
Do việc nuôi tôm mang lại hiệu quả cao, vì vậy ở miền Bắc cũng hình thành một số vùng nuôi tôm tập trung như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An,Thái Bình… Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về dịch bệnh ở tôm ít thực hiện hơn [2]
Năm 1998 Vũ Dũng và Từ Minh Hà thực hiện đề tài nghiên cứu một sốbệnh thường gặp trên tôm sú tại Hải Phòng, đề tài công bố một số bệnh
thường gặp là MBV, bệnh đốm trắng, bệnh đỏ than do vibrio, bệnh do sinh vật bám Trong đề tài có khuyến cáo mốt số biện pháp phòng bệnh như cải tạođầm tốt trước khi thả giống, lựa chọn con giống tốt để thả, có thể dung formol25ppm để phòng bệnh sinh vật bám và cách quản lý môi trường tốt để tránh gây sốc cho tôm [9]
Năm 2000 – 2001, bộ môn động vật thuỷ sản - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I đã tổng kết một số kết quả nghiên cứu bệnh tôm tại các tỉnh phía Bắc Trong báo cáo đã tổng kết các hình thức nuôi tôm hiện nay ở miền Bắc và cho biết một số bệnh tôm thường gặp hiện nay là bệnh đốm trắng,
Trang 17bệnh MBV, bệnh YHV, một số nơi thuộc tỉnh Nghệ An bị nhiễm IHHNV,
bệnh do vi khuẩn vibrio, bệnh do sinh vật bám, bệnh tôm bông và bệnh trùng
hai tế bào Quá trình điều tra 483 hộ nuôi tôm sú thuộc 23 huyện của 8 tỉnh ven biển phía Bắc(Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình,Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh) thì có 166 (34,99%) hộ bệnh đốm trắng đã gây chết tôm Năm 2003, phân tích WSBV bằng kỹ thuật PCR của 145 mẫu tôm sú và tôm chân trắng nuôi ở các tỉnh ven biển miền Bắc và tôm
postlarvae đưa từ Quảng Nam, Đà Nẵng ra Bắc Kết quả tỷ lệ nhiễm ở tôm postlarvae từ miền Trung ra là 23,08%, tôm sú nuôi thương phẩm ở các tỉnh phía Bắc là 26,92%, tôm chân trắng là 13,33% [18]
Nhìn chung trong những năm qua đã có khá nhiều các công trình
nghiên cứu về bệnh tôm tại Việt Nam
1.3 Tình hình nuôi tôm tại khu vực nghiên cứu
đã tăng 40 ha, năm 2001 là 125 ha [1] Và tính đến nay 2008 diện tích đưa vào nuôi tôm đã đạt 1.420 ha, trong đó diện tích thâm canh (TC) và bán thâm canh (BTC) là 800 ha, sản xuất được 140 triệu con giống P15, sản lượng nuôi tôm 9 tháng đầu năm đạt 1250 tấn Năng suất bình quân trên toàn tỉnh đạt 0,88 tấn/ha, năng suất nuôi thâm canh và bán thâm canh là 1,3 tấn/ha Năng suất hộ đạt cao nhất là 10,8 tấn/ha Song do quá trình phát triển nuôi tôm phần
Trang 18lớn là tự phát, thiếu quy hoạch tốt về ao đầm, người dân tìm mọi cách để tăng sản lượng như sử dụng bừa bãi các hoá chất và không tuân thủ chặt chẽ theo quy trình nuôi đã gây ô nhiễm dẫn tới dịch bệnh bùng phát và gây thiệt hại lớn cho người nuôi [4].
1.3.2 Tại Hà Tĩnh
Quảng canh (QC) là mô hình được áp dụng phổ biến ở Hà Tĩnh Nuôi tôm tự nhiên dựa vào nguồn thức ăn sẵn có trong thuỷ vực vì vậy năng suất tôm nuôi ở Hà Tĩnh thường ở mức thấp, dao động từ 42 – 94 kg/ha Bắt đầu
từ năm 1998, Hà tĩnh tiến hành xây dựng các mô hình trình diễn nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh Năng suất bước đầu đạt 1 tấn/vụ đối với BTC [19]
Trong những năm gần đây diện tích NTTS ở Hà Tĩnh không ngừng được mở rộng, năm 2000 tổng diện tích mặt nước lợ là 1.375 ha trong đó diệntích nuôi tôm sú là 1.180 ha, sản lượng đạt 250 tấn Đến 2004, diện tích nuôi tôm đã tăng lên 2.680 ha, trong đó diện tích nuôi tôm sú là 2.430 ha, sản lượng đạt 1.800 tấn Năm 2006, diện tích nuôi là 3.161 ha, tăng 7,2% so với năm 2005, trong đó diện tích nuôi tôm khoảng 2.850 ha, sản lượng tôm nuôi đạt 2.400 tấn [3]
Định hướng nghề nuôi tôm của Hà Tĩnh đến 2020 là đầu tư mở rộng diện tích bằng các biện pháp khuyến khích mở rộng nhiều mô hình nuôi TC năng suất cao, tiếp tục quy hoạch vùng nuôi, chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa nhiễm mặn năng suất sang nuôi tôm, lấy việc nuôi tôm sú làm trọng điểm, đồng thời quan tâm phát triển mạnh những đối tượng nuôi mới như tôm
he chân trắng [25]
Tuy nhiên cùng với sự tăng nhanh về diện tích và năng suất nuôi thì dịch bệnh cũng xảy ra khắp nơi trên địa bàn Hà Tĩnh Những bệnh thường
Trang 19gặp trên tôm như bệnh virus đốm trắng, bệnh đầu vàng, bệnh MBV, bệnh đen mang và bệnh do vi khuẩn [23].
Đối với bệnh đốm trắng chủ yếu xuất hiện khi tôm thả được 30 – 40 ngày, những ngày đầu tôm thường kéo đàn vào buổi sáng sớm khoảng 15 phút và những ngày tiếp theo thì thấy tôm dạt vào bờ, bơi lờ đờ sau đó chết Kiểm tra thì thấy toàn thân tôm có màu đỏ, kiểm tra vỏ đầu ngực thì những đốm trắng đã xuất hiện nhiều
Đối với bệnh đầu vàng: Bệnh chủ yếu xuất hiện vào tháng 5 Khi thả tôm được 30 – 50 ngày thì dịch bệnh bắt đầu xuất hiện Biểu hiện ban đầu tôm ăn nhiều hơn bình thường sau đó chết chìm ở đáy ao
Đối với bệnh đen mang thường xảy ra khi tôm thả nuôi được 60 – 70 ngày ( tháng 6) Thời điểm này nhiệt độ thường giao động từ 33 – 35 oC, nắngnóng oi bức, việc lấy nước vào ao gặp nhiều khó khăn, nên các ao nuôi tôm thường chỉ đạt 80 – 1 m nước, thời gian này tôm thường vùi mình xuống đáy
ao, hoạt động bắt mồi kém dẫn đến môi trường bị ô nhiễm do lượng thức ăn
dư thừa nhiều, đây là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn phát triển và tấn công tôm
Đối với bệnh MBV: thường xuất hiện vào tháng 05 Khi nhiễm bệnh màu sắc của tôm chuyển sang màu đen, vỏ dày, tôm có dấu hiệu phân đàn và
tỷ lệ tôm còi trong ao nuôi chiếm 20 – 30%
Đối với bệnh Vi khuẩn: Chủ yếu xuất hiện vào tháng 06 khi tôm thả nuôi được 50-60 ngày Thời điểm này nước ao thường cạn, nhiệt độ cao (33 –
35 oC ) Tôm thường bị mòn đuôi, đứt râu, một số bị đen mang
Dịch bệnh xảy ra đã gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi tôm tại Hà Tĩnh Năm 2001- 2006 dich bệnh xảy ra tại Thạch Hà đã gây thiệt hại từ nuôi tôm
Trang 20sú ước tính khoảng 5,38 tỷ đồng Năm 2004 - 2006 thiệt hại từ nuôi tôm sú tạithị xã Hà Tĩnh ước tính khoảng 1,72 tỷ đồng.
1.3.3 Tại Thanh Hoá
Tính đến 2007, diện tích nuôi trồng thuỷ sản của toàn tỉnh Thanh Hoá
là 16.700 ha Trong đó tôm sú là đối tượng nuôi chủ yếu với diện tích nuôi 5.720 ha, đạt sản lượng 1.350 tấn, năng suất đạt 328 kg/ha/vụ [8]
Các huyện phát triển mạnh nghề nuôi tôm sú như Hoằng Hoá (900 ha), Quảng Xương (730 ha), Nông Cống (275 ha) Với phương thức nuôi chủ yếu vẫn là quảng canh cải tiến (QCCT) và bán thâm canh (BTC) [8]
Hiện nay hơn 70% lượng tôm sú giống trong tổng hơn 300 triệu con đưa vào thả nuôi trong vụ xuân hè 2008 phải nhập từ các tỉnh phía Nam Việc này đang khiến các cơ quan chức năng của tỉnhThanh Hoá gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm dịch tôm giống theo quy định Mặc dù đã được tỉnh tăngcường kiểm dịch nhưng vẫn tồn tại tình trạng nguồn giống trôi nổi từ ngoài nhập vào khá nhiều, không được kiểm dịch Điều này khiến cho việc kiểm soát dich bệnh cho người nuôi là rất khó khăn
* Tình hình nuôi tôm tại xã Quảng Chính
Hiện nay diện tích nuôi tôm của toàn xã là 170 ha Năm 2000 diện tích này là 30 ha Từ 2001 khi tỉnh có chủ trương chuyển đổi đất trồng lúa năng suất thấp, đất hoang hoá và một phần diện tích đất làm muối sang NTTS thì diện tích nuôi tôm và nghề nuôi tôm đã thật sự phát triển tại địa phương Hơn
140 ha diện tích trồng lúa năng suất thấp đã được chuyển sang nuôi tôm [17]
Diện tích nuôi tôm chủ yếu tập trung tại các thôn Đại Đồng (140 ha), thôn Phú, thôn Đa ( 30 ha) với phương thức nuôi là QCCT và đối tượng nuôi chủ yếu là tôm sú [17]
Năm 2008 nhằm hướng tới mục tiêu NTTS theo hướng bền vững trong toàn tỉnh, trung tâm khuyến ngư thuộc sở Nông nghiệp và Phát triển Nông
Trang 21thôn Thanh Hoá đã tiến hành thí điểm nuôi tôm bền vững ở nhiều địa phương trong đó Quảng Chính là một trong những xã đang được thủ nghiệm mô hình nuôi này [28].
Trang 22CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm
2.1.1 Thời gian: Từ 05/05/08 đến 05/10/08.
2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Thu mẫu tại khu nuôi tôm công nghiệp xã Hưng Hòa - Nghệ An, khu nuôitôm xã Quảng Chính – Thanh Hoá, khu nuôi tôm xã Thạch Trị - Hà Tĩnh.Mỗi tỉnh thu tôm và nước ao nuôi tôm tại 5 ao
- Phân tích mẫu tại Trung tâm Quan trắc cảnh báo Môi trường và Phòng ngừadịch bệnh thuỷ sản khu vực miền Bắc - Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I– Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tôm sú Penaeus monodon và nước của chính ao nuôi tôm.
2.2.2 Các môi trường, thuốc thử, thuốc nhuộm
Môi trường nuôi cấy cơ bản (tất cả các môi trường đều thêm 1.5 - 2% NaCl
khi nuôi cấy vi khuẩn nước mặn)
- Môi trường Nutrient Agar (NA)
- Môi trường Nutrient Broth (NB)
Môi trường nuôi cấy chọn lọc
- Môi trường Thiosulphat Citrate Bile Sait Sucrose Agar (TCBS)
Các thuốc thử, thuốc nhuộm
Trang 23Thuốc nhuộm Gram bao gồm:
+ Dung dịch 1: Tím tinh thể (Crystal Violet)
+ Dung dịch 2: Lugol
+ Dung dịch 3: Cồn Aceton.
+ Dung dịch 4: Safranin
Thuốc thử phản ứng sinh hoá bao gồm: VP1, VP2; NIT1, NIT2, James
2.3 Nội dung nghiên cứu:
- Phân lập, xác định tên loài vi khuẩn Vibrio sp có mặt trên mẫu tôm Sú bệnh
nuôi tại Hưng Hòa – Nghệ An, Quảng Chính – Thanh Hóa, và Thạch Trị - HàTĩnh
- Định lượng, xác định mật độ vi khuẩn hiếu khí và tổng vi khuẩn Vibrio trong
các ao nuôi tôm Sú tại Hưng Hòa – Nghệ An, Quảng Chính – Thanh Hóa, vàThạch Trị - Hà Tĩnh
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu mẫu
- Mẫu nước nuôi tôm, mẫu tôm được thu 1 lần một tháng
- Mẫu vi khuẩn được thu ở máu tôm
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu vi khuẩn
2.4.2.1 Phương pháp phân lập vi khuẩn trên tôm sú (tiến hành theo sơ đồ
sau)
Trang 242.4.2.1.1 Thu mẫu bệnh
- Chỉ thu vi khuẩn ở những mẫu tôm còn sống, sắp chết (hấp hối), hoặc mớichết còn tươi
2.4.2.1.2 Phương pháp nuôi cấy vi khuẩn từ mẫu tôm
- Dùng que cấy vô trùng, lấy mẫu bệnh phẩm vạch chữ chi trên đĩa môitrường ta được vùng 1 Hơ nóng đỏ que cấy trên ngọn lửa đèn cồn, để nguộibằng cách ấn đầu que vào mép đĩa thạch
- Đặt que cấy lên đĩa thạch tại vùng 1, vạch đường cấy tiếp theo ta đượcvùng 2
- Tiếp tục lặp lại như trên ta được vùng 3
- Lật ngược đĩa lồng ghi các thông số cần thiết (như địa điểm thu, đối thượngthu, ngày thu, mẫu số )
Mẫu tôm bệnh
Thu mẫu bệnh phẩm
Thử các phản ứng sinh hoá
Nuôi cấy, phân lập
Hình thái khuẩn lạc Nhuộm gram
Phân loại vi khuẩn
Sơ đồ 1 Sơ đồ phân lập vi khuẩn
Trang 25Đường cấy vi khuẩn trên đĩa lồng
2.4.2.1.3 Kiểm tra đặc điểm hình thái khuẩn lạc.
Sau khi lấy mẫu bệnh phẩm cấy trên môi trường cơ bản ở nhiệt độ phòng, sau24h kiểm tra xác định các đặc điểm hình thái khuẩn lạc như kích thước khuẩnlạc, hình thái khuẩn lạc, bề mặt, rìa khuẩn lạc, độ chiết quang
2.4.2.1.4 Kỹ thuật nuôi cấy vi khuẩn thuần.
- Sau khi kiểm tra đặc điểm hình thái khuẩn lạc trên môi trường cơ bản vàmôi trường chọn lọc, đánh dấu các khuẩn lạc riêng rẽ cần nuôi cấy thuầnchủng
- Dùng que cấy vô trùng lấy khuẩn lạc đánh dấu, cấy chuyển sang môitrường nuôi cấy tăng sinh
2.4.2.1.5 Nhuộm vi khuẩn thuần.
- Sau 24 giờ nuôi cấy được giống vi khuẩn thuần, lấy mẫu phết lên lam, chothêm 1 đến 2 giọt nước muối sinh lý vô trùng, dùng đầu que cấy dàn mỏnglên lam kính
(1)
(1)
(2)
(3 ) (4)
Trang 26- Để mẫu tự khô ở nhiệt độ trong phòng.
- Hơ cao lam kính có mẫu trên ngọn lửa đèn cồn, để cố định và diệt vi khuẩn
- Nhỏ tiếp dung dịch 1 (tím tinh thể) lên tiêu bản, để yên 30-60 giây
- Rửa nước máy nhanh, vẩy khô
- Nhỏ dung dịch 2 (Lugol) để cố định trong 1 phút (tiêu bản có màu đen)
- Rửa nước máy nhanh, vẩy khô
- Nhỏ dung dịch 3 (Cồn Aceton) rửa nhanh
- Rửa nướcmáy nhanh, vẩy khô
- Nhỏ dung dịch 4 (Safranin) để cố định 1 đến 2 phút
- Rửa nước máy, để khô hoặc dùng giấy thấm khô, cẩn thận không để xướcmẫu
- Soi dưới kính hiển vi bằng vật kính dầu (độ phóng đại x1000)
Dưới kính hiển vi ta có thể xác định được vi khuẩn gram âm bắt màuhồng và gram dương bắt màu xanh tím và mức độ thuần của vi khuẩn để đưa
ra quyết định làm tiếp bước sau hay cấy ria chọn lại khuẩn lạc
2.4.2.1.6 Kỹ thuật thử phản ứng sinh hóa của vi khuẩn (bằng kít thử API 20 E)
Trang 27 Chuẩn bị kit
- Chuẩn bị hộp ủ và đổ 5ml nước cất (hoặc nước muối sinh lý 2% NaCl) vàochỗ lõm để tạo hơi ẩm
Chuẩn bị mẫu
- Kít thử API 20E không dùng trực tiếp các mẫu bệnh phẩm
- Thu mẫu bệnh phẩm, cấy lên môi trường cơ bản hay môi trường chọn lọc(tuỳ vào mục đích nghiên cứu) Sau đó tiến hành chọn khuẩn lạc, cấy chuyển
OF-F OF-O ONPG ADH LDC OCD CIT H2S URE TDA IND VP GEL GLU MAN INO SOR RHA SAC MEL AMY ARA
Qui trình thử kít API 20E
1
1
2
3 4