1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu so sánh ức trai thi tập và quốc âm thi tập về phương diện nội dung

77 1,3K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu so sánh ức trai thi tập và quốc âm thi tập về phương diện nội dung
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 231 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn giáo s Đặng Thanh Lê trong bài viết: "Nguyễn Trãi và đề tài thiên nhiên trong dòng văn học yêu nớc Việt Nam" đã đa ra ý kiến: "Bức tranh thiên nhiên trong ức T rai thi tập và Quốc âm

Trang 1

có ý nghĩa soi sáng nhiều vấn đề của lịch sử văn học dân tộc.

- ở phạm vi tác giả,có những tác giả văn học Việt Nam Trung đại hầu nh chỉ sáng tác văn chơng bằng chữ Hán(chẳng hạn nh Cao Bá Quát), có tác giả lại sáng tác văn chơng bằng chữ Nôm(chẳng hạn là Nguyễn Công Trứ) Nhà thơ Nguyễn Trãi thuộc loại khác, cả sáng tác thơ bằng chữ Hán, cả sáng tác thơ bằng chữ Nôm của ông đều có

số lợng lớn, đều có những bài đạt trình độ nghệ thuật cao Điều nay do sự quy định bởi tài năng và quan niệm nghệ thuật của ông

- Thành tựu sáng tác văn học của Nguyễn Trãi phong phú và đồ sộ, ở thể loại nào

ông cũng có những tác phẩm xuất sắc nhng nổi bật vẫn là hai tập thơ: ức T rai thi tập

(chữ Hán) và Quốc âm thi tập (chữ Nôm).Nghiên cứu so sánh hai tập thơ này về phơng diện nội dung sẽ góp phần giúp chúng ta nhận thức một cách toàn diện hơn về các sáng tác của Nguyễn Trãi

- Sự nghiệp văn chơng của Nguyễn Trãi từ lâu đã đợc đa vào giảng dạy trong

ch-ơng trình văn học ỏ bậc trung học cở sở và trung học phổ thông.Thực hiện đề tài nay sẽ góp phần phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm của

Nguyễn Trãi ở nhà trờng phổ thông

2- Mục đích yêu cầu.

- Nhận thức đợc điểm tơng đồng và khác biệt của nội dung thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi

- Lý giải đợc nguyên nhâncủa sự tơng đồng và khác biệt đó

Trang 2

- Bớc đầu so sánh những sự tơng đồng và khác biệt ở hai bộ phận thơ Nguyễn Trãi với sự tơng đồng và khác biệt giữa thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm của một vài tác giả khác.

3- Phạm vi nghiên cứu

Nội dung của hai tập thơ của Nguyễn Trãi bao gồm nhiều phơng diện, ở đây chúng tôi chỉ nghiên cứu sự tơng đồng và khác biệt ở ba phơng diện: đề tài, chủ đề và cảm hứng chủ đạo

4- Lịch sữ vấn đề.

Nguyễn Trãi là một tác giả lớn của nền văn học dân tộc,việc tìm hiểu nghiên cứu những sáng tác thơ của ông đã trải qua một quá trình lâu dài Thời phong kiến, kể từ khi Nguyễn Trãi đợc Lê Thánh Tông minh oan, liên tiếp các thế hệ tri thức nho sĩ đã ra sức

su tầm, tập hợp những tác phẩm thất lạc của ông Đến năm 1868 bộ su tậo văn bản ức

T rai thi tập gồm bảy quyển đợc khắc in và phổ biến rộng rãi trong giới nho sỹ và có

những lời bình xác đáng về sự nghiệp văn chơng của Nguyễn Trãi của Nguyễn Năng

Tĩnh,Ngô Thế Vinh dới dạng lời tựa

Bớc sang thế kỷ XX, văn bản ức T rai d i tập đợc phiên dịch sang chữ quốc ngữ,

từ đó việc nghiên cứu thơ của Nguyễn Trãi có nhiều bớc tiến mới Đặc biệt vào những dịp kỷ niệm 520 năm ngày mất( 1442-1962) và 600 năm sinh (1380-1980) của Nguyễn Trãi, nhà nớc ta đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo thu hút đợc nhiều sự quan tâm, chú ý của nhiều giới nghiên cứu trong và ngoài nớc Đáng chú ý là các bài tham luận trong hội thả khoa học cũng nh các bìa nghiên cứu về văn chơng Nguyễn Trãi đợc đăng rải rác trên các báo lúc này đợc tuyển chọn và tập hợp trong các công trình nh : Trên đờng tìm hiểu sự nghiệp thơ văn Nguyễn Trãi (Chơng Thâu tuyển chọn), NXB Văn học, H,

1980; Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa của dân tộc (Viện văn học), NXB

KHXH,H,1980; Kỷ niệm 600 năm Nguyễn Trãi (UBXHVN), NXB KHXH, H, 1982

và gần đây có một công trình đã tuyển chọn và tập hợp tơng đối đầy đủ và toàn diện những bài nghiên cứu có giấ trị về thơ văn Nguyễn Trãi qua các thời kỳ lịch sử, đó là

Trang 3

cuốn Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm (Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn) NXB Giáo dục, H, 2002.

Về vấn đề nghiên cứu so sánh ức T rai thi tập và Quốc âm thi tập về phơng diện

nội dung cũng đã đợc một sốtác giả quan tâm Giáo s Trơng Chính trong bài viết “ức

T rai thi tập những dòng thơ chất năng suy t”, sau khi phân định một cách khoa học các giai đoạn sáng tác của tập thơ và nội dung từng giai đoạn ông đã đa ra kết luận: “Nội

dung 105 bài chữ Hán của Nguyễn Trãi là nh vậy Đó là những bài thơ chan chứa suy

t của một ngời yêu cuộc sống, tích cực vào đời, muốn đem sức mình ra gánh vác việc

đời, nhng g ặ p nghịch cảnh phải ngồi kh ô ng gọi là nhàn tản Có vui cũng chỉ là vui trong chốc lát Nhũng suy t ấy cũng là những suy t ch ú ng ta gặp trong thơ quốc âm của ông, có điều với những bài thơ chữ Hán, có thể tìm ra những cái mốc về thời gian,

về sự việc để theo d õ i, tránh đợc sự suy diễn” (1) Còn nhà nghiên cứu Đức Mậu trong bài viết Hồn thơ Nguyễn Trãi đã đua ra nhận định sau: "Hình ảnh đậm nét đi đi lại lại trong ức T rai thi tập và Quốc âm thi tập là một Nguyễn Trãi suy t, thao thức vì nhiều

lẽ, ở nhiều cấp độ" (2) Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 520 năm ngày Nguyễn Trãi mất, cố thủ tớng Phạm Văn Đồng viết: “Thơ của Nguyễn Trãi là tâm hồn của Nguyễn Trãi, trong

sáng và đầy sức sống Có ngời nói thơ Nguyễn Trãi buồn vì cảnh đời Nguyễn Trãi buồn Thơ Nguyễn Trãi có bài buồn, có câu buồn, vì lẽ gì chúng ta đều biết, nhung cả tập thơ của Nguyễn Trãi là thơ của một ngời yêu đời, yêu ngời Tâm hồn của Nguyễn Trãi sống một nhịp với non sông đất nớc tơi vui” (3) Còn giáo s Đặng Thanh Lê trong bài viết: "Nguyễn Trãi và đề tài thiên nhiên trong dòng văn học yêu nớc Việt Nam" đã

đa ra ý kiến: "Bức tranh thiên nhiên trong ức T rai thi tập và Quốc âm thi tập cũng chính là một trong những bóng dáng đẹp đẽ, phản ánh một con ngời, một cốt cách tài năng góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề cơ bản trong thân thế, sự nghiệp, tâm hồn ngời anh hùng dân tộc, nhà đại thi hào dân tộc" (4) Cũng trong bài viết trên, giáo s

Đặng Thanh Lê đã có nhận định về điểm khác biệt ở hai tập thơ: “ức T rai thi tập của

Trang 4

(1)Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa của dân tộc, Sđd, tr 292

(2),(4) Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm, sđd, tr 471

(3) Trên đờng tìm hiểu sự nghiệp thơ văn Nguyễn Trãi, Sđd, tr 10 3

Nguyễn Trãi ở trong trờng hợp ấy Quá n ử a số bài thơ ở đây viết về đề tài thiên

nhiên Tất nhiên, phong

cách" tả cảnh ngụ tình cũng là một nét đặc trng của bài thơ này Quốc âm thi tập "có

điểm hơi khác Đại bộ phận thơ Nôm đề cập đến nhân tâm và tâm t hoài b ã o cá nhân, thờng chỉ có vài ba câu tả cảnh trong mỗi bài" (1)

Nhìn chung, ở các bài viết trên, các tác giả đã phần nào nhận diện ra đợc một số nét tơng đồng và khác biệt (chủ yếu là mặt tơng đồng) giữa hai tập thơ và đã đa ra một

số ý kiến xác đáng về vấn đề này Tuy nhiên, các ý kiến này mới chỉ dừng lại ở dạng những nhận định chung mà cha có sự chứng minh, lý giải và đối sánh một cách hệ thống.Đồng thời những phát hiện của các tác giả này mới chỉ là những khía cạnh thuộc các phơng diện của nội dung thơ ca Nói cách khác, các bài viết vừa dẫn trên trình bày vấn đề cha thật toàn diện và còn thiếu tính hệ thống Trên cơ sở kế thừa và phát triển thành quả của những ngời đi trớc, ở công trình này, chúng tôi cố gắng trình bày vấn đề một cách có hệ thống và toàn diện hơn

Trang 5

(1).NguyÔn Tr·i vÒ t¸c gi¶ vµ t¸c phÈm, Sdd,tr471

Trang 6

Phần nội dung chính

tài của hai tập thơ

1- Khái niệm đề tài.

Theo các tác giả " Từ điển thuật ngữ văn học" giải thích khái niệm đề tài nh sau: " Khái niệm chỉ các hiện tợng đời sống đợc miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài là phơng diện khách quan của nội dung tác phẩm.

Các hiện tợng đời sống có thể liên kết với nhau thành loại theo mối liên kết bề ngoài giữa chú ng Cho nên có thể xác định đề tài văn học theo giới hạn bề ngoài của phạm vi hiện thực phản ánh trong tác phẩm : Đ ề tài thiên nhiên, đề tài loại vật, đề tài cải cách ruộng đất, đề tài sản xuất, đề tài chiến đấu, đề tài kháng chiến chống Mỹ, đề tài bộ đội Trờng Sơn ở giới hạn bề ngoài của đề tài, các phạm trù xã hội lịch s ử giữ vai trò quan trọng Cho nên ngời ta có thể nói đến đề tài nông thôn, đề tài thành thị,

đề tài công nhân, đề tài bộ đội, đề tài tiểu t sản tri thức, dề tài lịch s ử , đề tài hiện

đại

Các hiện tợng đời sống lại có thể liên kết với nhau thành loại theo mối quan hệ bên trong của chúng Cho nên cũng có thể xác định đề tài văn học theo giới hạn bên trong của phạm vi hiện thực đợc phản ánh trong tác phẩm.

Nhiều khi đề tài gắn liền với một hiên tợng xã hội- lịch s ử , xuất hiện và trở thành phổ biến trong đời sống tinh thần của một thời hay một giới nào đó ” (1)

2 Những điểm tơng đồng về phơng diện đề tài của hai tập thơ

2.1- Đề tài tỏ chí.

Với quan niệm "thi dĩ ngôn chí" của Nho gia thì hầu hết các thi nhân xuất thân

từ cửa Khổng sân Trình đều dùng thơ văn để nói chí "Chí" ở đây là chí công danh sự

(1)Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi( cb), Từ điển thuật ngữ văn học, NxbĐại học quốc gia Hà Nội, 2000, tr 96, 97

Trang 7

nghiệp của nhà nho Đối với Nguyễn Trãi việc, dùng thơ văn để nói chhhí biểu hiện trớc hết là ở trong thơ văn của mình, cụ thờng nhắc tới đạo quân thân, chặng hạn:

Tuế nguyệt vô tình sông m ấn bạch

Quân thân tại niệm thốn tâm đan (1)

( ức T rai thi tập, bài 70)

(Năm tháng luống vô tình hai mái tóc bạc

Quân thân vẫn để dạ, một tấm lòng son)

Có thể nói rằng đạo quân thần là điều tâm niệm suốt đời của Nguyễn Trãi, bởi một đời cụ luôn phấn đấu để trở thành một bề tôi trung, một ngời con hiếu Do vậy không chỉ trong thơ chữ Hán mà cả thơ Nôm nguyễn Trãi cũng có nói nhiều về đạo quân thân:

- Quân thâ n cha báo lòng canh cánh

Tình phụ, cơm trời, áo cha

( Quốc âm thi tập, bài 9 )

- B u i có một lòng trung l ễn hiếu

Mài chẵng khuyết, nhuộm ch ă ng đen

( Quốc âm thi tập, bài 69 )

- Chữ viết lâu ngày quên hết dạng

Chẳng quên có một chữ c ơng thờng

( Quốc âm thi tập, bài 82)

Ta thấy rằng dù ở những hoàn cảnh khác nhau, những trạng thái tâm lý khác nhau, trong những bài thơ khác nhau nhng lại có một sự gặp gỡ, hội tụ là tấm lòng của

ức Trai luôn hớng về đạo quân thân Đó chính là tấm lòng vàng đã qua thử lửa

- (1) Tất cả những bài thơ, câu thơ trong công trình này chúng tôi đều dẫn ra từ cuốn Nguyễn Trãi

Trang 8

của Nguyễn Trãi.

Bên cạnh việc khẳng định đạo quân thân, Nguyễn Trãi còn tỏ chí bằng cách thể hiện ý thức trách nhiệm của mình, một kẻ sĩ trong thiên hạ:

Nhân sinh thứ c tự đa u hoạn

Pha lão tằng vân ngã diệt vân ( ức T rai thi tập, bài 61)

(Đời ngời biết chữ lai lo lắng nhiều hoạn nạn,

ông già Tô Đông pha từng nói thế, ta cũng nói thế)

Ngày nay chúng ta thật cảm động trớc niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của ức

Trai, một kẻ sĩ chân chính Trong cuộc sống bon chen, tìm đợc một con ngời ý thức đợc vai trò sứ mệnh của mình nh Nguyễn Trãi quả là thật khó

Từ chỗ luôn tâm niệm đạo quân thân, ý thức đợc trách nhiệm của kẻ sĩ nên trong thơ của mình Nguyễn Trãi luôn băn khoăn thao thức vì chí lớn cha thành Nói nh

Nguyễn Đức Mậu trong bài viết" Hồn thơ Nguyễn Trãi" thì "hình ảnh đậm nét đi đi lại lại trong ức T rai thi tập và Quốc âm thi tập là một Nguyễn Trãi suy t thao thức vì nhiều lẽ, ở nhiều cấp độ"(1)

Mở đầu ức T rai thi tập ta thấy ngay một Nguyễn Trãi đang trăn trở, thao thức

trong bài Thí n h v ũ (Nghe ma):

Trang 9

Hoà chung nhập m ộ ng thanh

Ngâm d hồn bất mỵ

Đo ạ n tục đáo thiê n minh.

(ức T rai thi tập, bài 1)

( Vắng vẻ trong phòng tối tăm

Suốt đêm nghe tiếng trời ma

Tiếng não nùng làm kinh động gối kháchGiọt thánh thót mấy canh tàn

Cách bụi trúc, tiếng khua nhặt vào cửa sổ

Lẫn tiếng chuông vẳng vào giấc mơ nhẹ nhàng

Ngâm rồi vẫn không ngủ đợc Nghe đứt nối cho đến trời bình minh.)Hình ảnh nhân vật trữ tình trong bài thơ đã gây cho độc giả ngày nay sự xúc

động thực sự Không xúc động sao đợc khi chứng kiến một con ngời suốt đêm không

ngủ để đón nhận mọi tiếng động của vũ trụ, đất trời, cảnh vật trong đêm ma Đồng thời con ngời ấy cũng thao thức lắng nghe những vang động của lòng mình, đó là những suy nghĩ về cuộc đời, về lẽ hng vong của đất nớc, là khát vọng, hoài bão lập công danh của chính mình

Trong bài Hải khẩu dạ bạc hữu cảm (Đêm đậu thuyền ở cửa biển), Nguyễn Trãi cũng thể hiện một cách cảm động nỗi băn khoăn thao thức của mình:

Bình sinh độc báo tiên u chí

Toạ ủ ng hàn khâm dạ bất miên

(ức T rai thi tập, bài 16)

(Bình s inh một mình ôm cái chí lo trớc

Ngồi ôm chăn lạnh không ngủ suốt đêm)

Trang 10

Đó chính là nỗi cô đơn của Nguyễn Trãi trong cuộc đời, một mình lo trớc thiên hạ để rồi ông thao thức ôm tấm chăn lạnh suốt đêm Phải là một con ngời yêu nớc thơng dân, ý thức đợc mình mới có đợc nỗi thao thức cao cả đó.

Không chỉ trong ức T rai thi tập mà cả trong Quốc âm thi tập chúng ta cũng khá

dễ dàng tìm thấy hình ảnh nhân vật trữ tình với một niềm thao thức lớn.Nói cách khác,

ở đây ta bắt gặp hình ảnh một con ngời không ngủ xuất hiện với tần số cao:

- Còn có một lòng âu việc nớc

Đêm đêm thức nhăn nẻo s ơ chung

(Quốc âm thi tập, bài 68)

- Gia san đờng cách muôn dặm

Ưu ái lòng phiền n ử a đêm

(Quốc âm thi tập, bài 115)

- Bui có một lòng trung hiếu c ũ

Chẳng nằm thức dậy n ẻo ba canh

( Quốc âm thi tập, bài 158)

ở đây nỗi thao thức trằn trọc của Nguyễn Trãi cũng không nằm ngoài nỗi lo đời

của một kẻ sĩ chân chính Đó là vận nớc an nguy, cuộc sống muôn dân, đạo đức, xã hội Nhà thơ Xuân Diệu đã rất tinh tế khi khẳng định rằng:" và N guyễn T rãi có ngủ sao đợc, ng ó t sáu thế kỷ nay Nguyễn Trãi có ngủ bao giờ! Đối với Nguyễn Trãi triều

đình nhà Lê lúc bấy giờ sau khi" Bốn biển đã yên lặng", Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung trực quá, thanh liêm quá! Nguồn gốc của thảm án vô cùng đau thơng của Nguyễn Trãi bị " t ru di" ba họ là ở đó” ( Phạm Văn Đồng) , Nguyễn Trãi đã chết một cách th ả m kh ố c, nhng đôi mắt của Nguyễn Trãi vẫn thức đó:

Tuổi cao tóc bạc, cái râu bạc

Trang 11

N hà ngặt đèn xanh , c o n mắt xanh (1)

Sự tỏ chí trong thơ Nguyễn Trãi còn thể hiện ở chỗ tác giả hay nói tới hình ảnh mái đầu bạc, ngoài việc nói lên sự trôi chảy của thời gian nó còn có ý nghĩa thể hiện một tấm lòng, một trái tim luôn trăn trở, lo đời:

- Bồng L ai N hợc thuỷ di ể u vô nha

Tục cảnh đ ê hồi phát bán hoa

(ức T rai thi tập, bài 67 ) ( Bồng L ai nhợc th ủy ở tận đâu đâu

Cảnh tục loanh quanh tóc đã n ử a bạc)

- Kính trung bạnh phát giai nhân lão

(ức trai thi tập, bài 60)

( Tóc bạc xem trong gơng, cũng gi a v ớ i ngời ta)

- Hồi đầu lục thập niên tiền sự

Song m ấ n tinh tinh lỡ ng nh ã n hoa

(ức T rai thi tập, bài 63)

Hình ảnh mái tóc hiện lên thật đáng thơng,nó đem đến cho ta niềm cảm thông sâu sắc và đồng thời là một sự cảm phục trớc nỗi trăn trở nghĩ suy của ức Trai tiên sinh Cuộc đời của Nguyễn Trãi đầy những bớc thắng trầm, dù trong hoàn cảnh nào ông vẫn không nguôi lo nghĩ về thế cuộc, về muôn dân mà quên đi cuộc sống bi kịch của mình Chúng ta cũng thờng bắt gặp hình ảnh mái tóc bạc xuất hiện rất nhiều trong các bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi:

(1) Xuân Diệu, Quốc âm thi tập “ tác phẩm mở đầu nền thơ ca cổ điển Việt Nam, Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa của dân tộc, sđd, tr 231

Trang 12

- Tuổi cao tóc bạc , cái râu bạc

Nhà ngắt đèn xanh , con mắt xanh

(Quốc âm thi tập, bài 99)

- Mắt hoà xanh đầu d ễ bạc

Lng khôn uốn , lộc nên từ

(Quốc âm thi tập, bài 36)

- Lòng một t ấ c đơn còn nhớ chúa

Tóc hai phần bạc bởi thơng thu

(Quốc âm thi tập, bài 43)

Hình ảnh mái tóc bạc (bạch phát) xuất hiện khá nhiều trong thơ xa Trớc Nguyễn Trãi, Mãn Giác thiền s đã từng đa hình ảnh này vào thơ của mình:

Sự trục nh ã n tiền quá

Lão t ò ng đầu thợng l a i

(Cáo tất thị chúng)

(Việc đời cứ diễn ra trớc mắt

Cái già đã theo đến trên đầu)

Sau Nguyễn Trãi mấy thế kỷ, Nguyễn Du cũng từng viết:

Tráng sĩ bạch đầu b i hớng thiên

(Ngời tráng sĩ bạc đầu buồn bã ngửng lên trời)

Nhng có thể nói hình ảnh mái tóc bạc xuất hiện nhiều nhất trong thơ Nguyễn Trãi ý nghĩa hình ảnh này là biểu hiện một tấm lòng trăn trở lo đời đến mức quên mình

Nh chúng ta đã biết, cuộc đời nguyễn Trãi gặp đầy những thăng trầm, trải qua

m-ời năm phiêu bạt(thập niên nhiêu chuyển) để tìm chân chúa, khi gặp Lê Lợi thì Nguyễn Trãi đợc tin dùng và “nếm mật nằm gai”với nghĩa quân Lam Sơn.Kháng chiến thành công, chứng kiến bao đổi thay của thế cuộc, Nguyễn Trãi lánh mình về ở ẩn ở Côn Sơn

Dù ở trong hoàn cảnh nào Nguyễn Trãi cũng luôn giữ vững ý chí của mình Đó là lý ởng nhân nghĩa, đạo quân thân, lòng u quốc ái dân tha thiết Bởi vậy, trong thơ Nguyễn

Trang 13

t-Trãi, ông nói đến chí bình sinh của mình một cách trực tiếp.Ta hãy thử tìm hiểu bài

Đo a n Ngọ nhật (Ngàyđoan ngọ)

Thiên trung cộ ng hỷ trị giai thần

Tửu phi ếm xơng bồ tiế t vật tân

Tiế m thiếp đ ơ ng niên t Vĩ nh T húc

Trầ m T ơng để sự thán L inh Quân

Tịch tà bất dụng ty triền tý

T ù y tục liêu vi ngãi kết nhân

Nguy ệ n bả lan thang phân tứ hải

T ò ng kim tháo tuyết cựu ô dân"

(ức T rai thi tập, bài 31)

(Giữa tra cùng vui, gặp thời tiết tốt

Rợu sắc xơng bồ là vật mới ngày tết

Nhớ Vĩnh Thúc năm ấy dậy thiếp can vua

Than việc Linh Quân tự trầm ở sông Tơng

Để trừ tà không dùng tơ buộc quanh cánh tay

Theo phong tục cùng bện cây ngãi làm hình ngời

Nguyện đem nớc thang lan chia khắp bốn biển

Để từ nay rửa sạch cái nhơ nhớp cho dân)

Rõ ràng, tết Đoan Ngọ chỉ là cái cớ để Nguyễn Trãi nhắc đến Vĩnh Thúc (tức âu Dơng Tu) đời Tống và Linh Quân(Tên tự của Khuất Nguyên) đời Chiến Quốc, hai vị trung thần ngay thẳng đã tìm đến cái chết để tỏ bày lòng trung của mình Qua đó

Nguyễn Trãi nói lên đợc khát vọng của mình là đợc đem nớc lan thơm chia khắp nhân dân, để nhân dân đợc tắm sạch, tẩy rửa cuộc sống ô nhục và đợc sống đúng với cuộc sống của con ngời

Nhận đợc thơ tặng của bạn mình là Cúc Pha (Nguyễn Mộng Tuân), Nguyễn Trãi hoạ lại bằng những vần thơ vừa nghẹn ngào vừa căy đắng:

Trang 14

Hỷ kiến hoàng kim lịch ngoã phân

Mỹ ngọc bất lao cầu thiên giá

ỷ Lan chung tự thổ thanh phân Tiểu quân dĩ tác nghi đình phợng Quỷ ngã ng đồng xuất tụ vân Luống nhãn hôn hoa đầu cánh bạch Quyên ai hoà dĩ đáp quân âm

(ức Trai thi tập, bài 35)

(Đời thái bình thíên tử chính chuộng vănMừng thấy vàng đợc phân biệt với sành gạchNgọc tốt không cần phải đòi giá đắt

Lan quý rút cuộc cũng ngát hơng thơmMừng thấy ngời đã làm phợng ở điện đìnhThẹn cho ta còn phải giống mây bay khỏi độngHai mắt đã loà, đầu đã bạc

Lấy gì mà đền đáp ơn vua chút mảy may)

Nh vậy tấm lòng ơn vua, vì dân vì nớc của Nguyễn Trãi luôn toả sáng mọi nơi, mọi lúc, nó tồn tại thờng trực trong con ngời nhà thơ ở đây, khi biết tin bạn đợc hiển vinh trên con đờng hoạn lộ, Nguyễn Trãi mừng cho bạn rồi lại thẹn cho mình Nhng cái thẹn này của ộng không làm con ngời ông bị hạ thấp Bởi đây là cái thẹn của con ngời

có nhân cách, ý chí ,đặc biệt là một con ngời yêu nớc thơng dân hết mực

Nói tóm lại, qua ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập, dù trực tiếp hay gián tiếp

Nguyễn Trãi đã gửi gắm vào đây tinh thần và ý chí của mình, một ý chí cao cả, lớn lao

mà bao trùm là đạo quân thân và một tấm lòng u ái khôn nguôi

2.2- Đề tài cuộc đấu tranh nội tâm về vấn đề xuất xử.

Trang 15

Nh chúng ta đã biết, Nho giáo là một học thuyết chính trị-xã hội và nó chủ trơng khuyến khích con ngời nhập thế Nho giáo đã chuẩn bị cho con ngời cả hai tâm thế:

“Đạt kiêm tế thiên hạ, cùng độc thiện kỳ thân (gặp thời thì ra giúp thiên hạ, không gặp thời thì trở về giữ mình trong sạch) Bởi vậy, đối với các nhà Nho, vấn đề hành – tàng, xuất – xử là một lẽ thờng tình, ít có sự băn khoăn day dứt, nhiều nhà Nho khi bất nh ý

đã trở về ở ẩn rất nhẹ nhàng và thanh thản Nhng đối với Nguyễn Trãi, vấn đề xuất hay

xử, hành hay tàng thực sự đã trở thành cuộc đấu tranh nội tâm Điều này in dấu khá

đậm nét trong thơ ông Giáo s Trơng Chính đã đa ra một nhận xét xác đáng rằng:

thể thấy tiếp theo những ngày tháng kháng chiến gian khổ, Nguyễn Trãi liền bớc voà thời kỳ sóng gió nhất trong cuộc đời ông Cũng là thời kỳ ông nhiều tâm sự nhất Có một cuộc đấu tranh t tởng dai dẳng trong ngời ông về: hay ở, cuộc đấu tranh t tởng ấy

là đề tài chính của thơ ông lúc này (1)

Đi vào tìm hiểu thơ Nguyễn Trãi, ta nhận thấy cuộc sống chốn triều quan thực sự làm Nguyễn Trãi phải ghê sợ:

- Hoạn tình dị kiếp thơng cung điểu

Mộ ảnh nam lu phó hắc xà

(ức Trai thi tập, bài 63)

(Tình hình làm quan dễ khiến con chim đã bị cung bắn

Bóng xế buổi chiều khó giữ đợc con rắn đang vào hang)

- Không hoa ảo nhãn miên tiên lộc Tục cảnh kinh tâm suyễn nguyệt ngu

(ức Trai thi tập, bài 53)

(Mắt hoa không thấy rõ tởng chiêm bao lấy lá chuối dấu hơu

Đối cảnh tục lòng sợ nh trâu sợ mặt trăng mà phì phào thở)

(1) Trơng Chính, ức Trai thi tập những vần thơ chất nặng suy t, Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa của dân tộc, Sđd, tr 283, 284

Trang 16

Trong thơ Nôm chúng ta cũng thấy nhiều câu tơng tự:

- Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc Cho hay đờng lợi thực quanh co

(Quốc âm thi tập, bài 20)

- Phợng những tiếc cao, diều hãy liệng Hoa thì hay héo, cỏ thờng tơi

(Quốc âm thi tập, bài 120).

- Miệng thế nhân nhọn hơn chông mác nhọn Lòng ngời quanh tựa nớc non quanh

(Quốc âm thi tập, bài 136).

Đối chiếu với cảnh triều chính và cuộc đời thực của Nguyễn Trãi lúc bấy giờ thì quả thật những câu thơ trên chúng mang đầy dấu ấn hiện thực Đó là tâm t, là chiêm nghiệm của nhà thơ trớc cuộc đời đầy ngang trái Khi hoàn thành cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lợc, đất nớc trở lại thái bình, nghe lời gièm pha của bọn gian thần, Lê Lợi đã giết chết Phạm Văn Xảo, bức tử Trần Nguyên Hãn, bắt giam Nguyễn Trãi một thời gian vì nghi ngờ có âm mu làm phản Thật đau lòng vì họ là những công thần có công lớn trong cuộc kháng chiến Trở lại cuộc sống thái bình, ở chốn quan tr-ờng, Nguyễn Trãi lại bắt đầu một cuộc chiến mới với những kẻ thù mới cũng đầy cam

go thử thách Kẻ thù mới này có khi còn nguy hiểm hơn cả giặc Minh, vì chúng thoắt

ẩn, thoắt hiện, dùng những lời tâng bốc, gièm pha để làm vũ khí, tiêu biểu nh bọn Lơng

Đăng, Nguyễn Thúc Huệ, Lê Ngân, Lê Sát Không chịu đợc cảnh triều chính mục nát, Nguyễn Trãi bất đắc dĩ rút về Côn Sơn ẩn dật ở tuổi 60

Tuy vậy, dù ở chốn quan triều hay về Côn Sơn ở ẩn Nguyễn Trãi cũng không từ

bỏ cuộc đấu tranh xã hội để tìm cho mình cuộc sống an nhàn mà ông luôn luôn hớng tới

Trang 17

(Năm tháng luống vô tình hai mái tóc bạcQuân thân vẫn để dạ một tấc lòng son)Thật cảm động dù năm tháng trôi qua một cách vô tình làm cho mái đầu mình ngày thêm bạc nhng ông vẫn giữ cho mình một tấm lòng son, đó là đạo quân thân, là lòng trung hiếu Tấm lòng son ấy đợc nhắc lại nhiều lần trong thơ Nguyễn Trãi:

Nhất phiến đơn tâm chân hống hỏa Thập niên thanh chức ngọc hồ băng

(ức Trai thi tập, bài 62)

(Một tấm lòng son, nóng bừng nh lửa lò luyện thôi đơnMời năm chức rảnh, lòng nh băng trong bầu ngọc)Luôn tâm niệm đạo quân thân, Nguyễn Trãi cũng luôn ý thức đợc vai trò kẻ sỹ của mình:

Nhân sinh thực sự đa u hoạn Pha lão tằng vân ngã diệc vân

(ức Trai thi tập, bài 61)

(Đời ngời biết chữ lại nhiều lo lắng hoạn nạn

Ông già Tô Đông Pha từng nói thế, ta cũng nói thế)Khi về Côn Sơn ở ẩn không có nghĩa là Nguyễn Trãi từ bỏ cuộc đấu tranh xã hội

để sống một cuộc sống an nhàn mà ông vẫn không nguôi lo chuyên đời Trong bài 43 mục "Báo kính cảnh giới", sáu câu đầu nhà thơ nói về cuộc sống an nhàn của mình:

Rồi hóng mát thuở ngày trờng Hoè lục đùn đùn tán rợp trơng Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tịn mùi hơng Lao xao chợ cá lãng ng phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dơng

(Quốc âm thi tập, bài 170)

Trang 18

Bức tranh cuộc sống mùa hè hiện lên thật sinh động và tơi đẹp lạ thờng, hình ảnh cây hòe um tùm rợp tán đang hứng nắng hè, màu đỏ của hoa lựu đang tuôn trào dới hiên, mùi hơng sen thơm ngát, âm thanh "lao xoa" vọng lại t một làng chài lới, tiếng nhạc ve réo rắt trong buổi chiều tà Tất cả những hình ảnh, màu sắc và âm thanh ấy đã làm nên nhịp điệu cuộc sống,và tâm hồn của thi nhân Nguyễn Trãi cũng đang hoà điệu, trở thành một phần của bức tranh cuộc sống ấy.

Những tởng tâm hồn Nguyễn Trãi có sự hoà hợp đến tận cùng với trời đất, thiên nhiên và cảnh vật nhng đến hai câu cuối chúng ta mới vỡ lẽ ra rằng thì ra Nguyễn Trãi vẫn còn vơng nặng cuộc số xã hội:

Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đời phơng.

ức Trai mong có đợc cây đàn của Ngu Thuấn để gảy lên một khúc Nam Phong làm cho muôn dân có đợc cuộc sống giàu đủ Một ớc muốn thật lớn lao! Rõ ràng đây là

ớc mơ của một con ngời có trách nhiệm, có lòng thơng yêu dân tha thiết

Thể hiện cuộc đấu tranh dai dẳng trong vấn để hành – tàng, xuất – xử thì hai câu thơ sau đây có lẽ là tiêu biểu và đặc sắc nhất:

Náu về quê cũ bấy nhiêu xuân Lững thững cha lìa lới trần

(Quốc âm thi tập, bài 33)

Bình luận hai câu thơ này, giáo s Nguyễn Huệ Chi trong bài viết “Niềm thao thức lớn trong thơ của Nguyễn Trãi” đã viết "không, con ngời có lúc chỉ còn biết ta cùng

bóng mấy nguyệt ba ngời nữa mà thôi ấy, ngay giữa lúc đang đắm mình trong một

khung cảnh thiên nhiên có sức cuốn hút lạ kỳ, vẫn biết tỉnh táo để lắng nghe tiềng

động từ dới chân núi, những hình ảnh khổ đau chồng chất của đời vẫn sống thuỷ

chung trong trí óc nhà thơ, không sao dứt đợc" (1)

ở đề tài cuộc đấu tranh về vấn đề xuất – xử trong thơ Nguyễn Trãi chúng tôi xin đợc dẫn lời của giáo s nguyễn Huệ Chi: "Rõ ràng cái nhàn trong thơ Nguyễn Trãi

Trang 19

chỉ là một cách nói của nhà thơ, một cách che dấu những nỗi đau lòng, cái buồn của

ông là cái buồn có duyên cớ sâu sắc và việc quy sơn đâu phải là một điều sảng khoái

đối với ông, nó chỉ là một tình thế bất đắc dĩ, là cái kết quả bi thảm của trăm nghìn sóng gió trong nội bộ cuả giai cấp phong kiến lúc bấy giờ mà thôi" (2)

2.3- Đề tài thiên nhiên.

Đây là một trong những đề tài phong phú nhất, thành công nhất trong di sản thơ của Nguyễn Trãi Ông là con ngời thực sự có tâm hồn thi sỹ, phóng khoáng và rộng mở, nhà thơ đã giành cho thiên nhiên một tình cảm đặc biệt Ngay từ những ngày

kháng chiến bận rộn, Nguyễn Trãi vẫn dành một tình cảm đặc biệt cho thiên nhiên:

Thừa chỉ ai rằng thi khó ngặt Túi thơ chứa hết mọi giang san.

(Quốc âm thi tập, bài 72)

Nhận định về mảng thơ thiên nhiên của Nguyễn Trãi, nhà nghiên cứu Mai Trân trong bài “Tình yêu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi đã viết: Thơ văn Nguyễn ” ”

Trãi còn mở ra cho chúng ta một khía cạnh thởng thức khác nữa và khía cạnh này chiếm một phần trọng yếu trong toàn bộ tác phẩm của nhà thi hào Đó là tình yêu thiên nhiên của ông, đó là tinh thần thởng thức say sa của ông trớc cảnh nớc non kỳ diệu, đó là lòng tự hào trớc giang sơn của đất nớc ta, nó cũng là khía cạnh của lòng

Trang 20

để đón nhận những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, trời đất Hình nh con ngời thi nhân và

vũ trụ có sự giao hào khăng khít:

Hải giác thiên nhai tứ ý ngao Càn khôn đáo xứ phóng ngâm hào

Ng ca tam xứng yên hồ khoát Mục địch nhất thanh thiên nguyệt cao Thanh dạ bằng h quan vũ trụ

Thu phong thừa hứng giá kình ngao

Du nhiên vạn sự vong tình hậu Diệu lý chân kham phó trọc giao

(ức Trai thi tập, bài 41)

(Góc biển chân trời mặc ý chơiTrong trời đất đến đâu cũng phóng bút ngân vịnh

Ba câu hát ông chài, hồ khói rộngMột tiếng sáo chú mục, trời trắng cao

Đêm thanh đứng dựa không mà xem vũ trụGió thu muốn thừa hứng mà cỡi kình ngaoLâng lâng sau khi quên hết muôn việc

Lê màu nhiệm thực đang phó cho rợu ngon)

Đọc bài thơ chúng ta có cảm nhận nh sự giao hoà giữa tâm hồn thi nhân và đất trời đã đến mức tuyệt đối Tấm lòng ức Trai nh đang trải rộng khắp đất trời, vũ trụ để hứng ngọn gió thu, lớt theo sóng biển cùng với bầu rợu ngon giữa cảnh bao la hùng vĩ

Trong Côn Sơn ca ta cũng bắt gặp một tâm hồn rộng mở và giao hoà mật thiết

với thiên nhiên:

Côn Sơn hữu tuyền

Kỳ thanh lãnh lãnh nhiên Ngô dĩ vi cầm huyền Côn sơn hữu thạch

Trang 21

Vũ tẩy đài phô bích Ngô dĩ vi đạm tịch Nham trung hữu tùng Vạn lý thuý đồng đồng Ngô thị hồ yển túc kỳ trung Lâm trung hữu trúc

Thiên mẫu ấn hàn lục Ngô thị hồ ngâm tiểu kỳ trắc

(ức Trai thi tập, bài 87).

(Côn Sơn có kheTiếng nớc chảy rì rầm

Ta lấy làm đàn cầmCôn Sơn có đá

Ma tối rêu xanh đậm

Ta lấy làm chiều thảnTrong núi có thôngMuôn dặm rừng biếc một vùng

Ta tha hồ nghỉ ngơi ở trongTrong rừng có trúc

Nghìn mẫu in biếc lục

Ta tha hồ ngâm nga bên gốc )

ở đây, Nguyễn Trãi đã thực sự hoà hợp với thiên nhiên, lấy tiếng suối chảy làm tiếng đàn cầm, lấy đá rêu làm chiếu thảm, lấy muôn dặm thông biếc làm chỗ nghỉ ngơi, lấy nghìn mẫu trúc làm chốn ngâm nga thởng cảnh để quên đi những khổ đau của cuộc

đời Rõ ràng, phải gắn bó hết mực với thiên nhiên Côn Sơn đến mức coi mình là một phần của thiên nhiên thì Nguyễn Trãi mới có đợc cảm nhận tinh tế và viết lên những câu thơ tài hoa tuyệt mỹ đến nh vậy

Trang 22

Trong thơ Nôm ta cũng bắt gặp khá nhiều bài thơ thể hiện mối giao cảm của tâm hồn thi nhân vói thiên nhiên, cảnh vật:

- Rợu đối cầm thơ đâm một thủ

Ta cùng bóng mấy nguyệt ba ngời

(Quốc âm thi tập, bài 76)

- Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc Thuyền chở yên hà nặng vạy then

(Quốc âm thi tập, bài 69)

- Hái cúc, ơng lan, hơng bén áo Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm chăn

(Quốc âm thi tập, bài 60)

Trong những vần thơ này ta thấy thiên nhiên thực sự đã thành ngời bạn lớn san sẻ nỗi cô đơn trong cuộc đời của nhà thơ Sống giữa thiên nhiên, thi nhân nhận thấy cảnh vật, chim muông trở thành những ngời bạn tâm giao, có sự gắn bó máu thịt với cuộc đời mình:

- Cây rợp tán am che mát

Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn Rùa nằm hạc lẩn nên bầu bạn

ấp ủ cùng ta làm cái con

(Quốc âm thi tập, bài 21)

- Núi láng giềng, chim bầu bạn Mây khách khứa, nguyệt anh tam

(Quốc âm thi tập, bài 64)

- Láng giềng, một áng mây bạc Khách khứa, hai ngàn núi xanh

(Quốc âm thi tập, bài 169)

Trang 23

Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi còn hiện lên với những nét hùng vĩ, lớn lao, thờng gắn liền với những địa danh và di tích lịch sử, nơi từng ghi dấu những chiến công oanh liệt của dân tộc:

Sóc phong xung hải khí lăng lăng Khinh khỉ ngâm phàm quá Bạch Đằng Ngọc đoạn kình khoa sơn khúc khúc Qua trần kích chiết ngạn tằng tằng Quan hà bánh nhị do thiên thiết Hào kiệt công danh thử địa tằng Vãng sự hồi đầu ta dĩ hỷ

Lâm lu phủ ảnh ý nan thăng

(ức Trai thi tập, bài 45)

(Gió bấc thổi nhẹ trên biển, khí biển lạnh lùngNhẹ kéo buồm thơ để qua cửa Bạch Đằng

Nh cá sấu bị chặt, cá kim bị mổ, núi chia từng khúc một

Nh mũi qua chìm, cây xích gãy bên trời lớp lớp chồngQuan hà hiểm hai ngời chống trăm ngời do trời xếp đặtHào kiệt lập công dân đất ấy từng là nơi

Quay đầu việc cũ, ôi xong rồiCúi xuống dòng mò bóng, ý khôn nói xiết).

Phong cảnh Bạch Đằng hiện lên trong bài thơ thật hùng tráng với những con sóng, ngọn gió, từng dãy núi uốn khúc và hiểm trở Nơi đây đã từng bao lần nhấn chìm quân xâm lợc phơng Bắc, gắn liền với những chiến công hiển hách của Ngô Quyền, Lê Hoàn, Trần Quốc Tuấn Đứng trớc cảnh thiên nhiên hùng tráng ấy nhà thơ Nguyễn Trãi

đã bộc lộ cảm khái của mình, đó là niềm tự hào trớc giang sơn tổ Quốc, niềm kính phục các bậc anh hùng trong quá khứ Có thể nói âm hởng của bài thơ mang đậm tính chất anh hàng ca Chúng ta cũng sẽ gặp lại niềm tự hào, lòng kính phục và tính chất anh

Trang 24

hùng ca này trong rất nhiều bài thơ khác nh: Dục Thuý Sơn, Vân Đồn, Thần Phù hải khẩu, Vọng Doanh,

Nói tóm lại, thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi thật sinh động, đa dạng và phong phú Thiên nhiên ở đây vừa mang tính chất hùng tráng, thanh cao lại mang đậm màu sắc dân dã Có thể nói rằng hầu hết các thi nhân xa đều gắn bó hoà hợp với thiên nhiên nhng Nguyễn Trãi là ngời gắn bó hoà hợp với thiên nhiên một cách mật thiết nhất Bởi vì ngoài lý do có một tâm hồn phóng khoáng của ngời nghệ sỹ, Nguyễn trãi còn có một quan niệm nghệ thuật riêng, đặc biệt là có một cảnh đời rất riêng

3- Nguyên nhân của sự tơng đồng về phơng diện đề tài của hai tập thơ.

Nh vậy, qua việc tìm hiểu đề tài của ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập chúng ta

nhận thấy hệ thống đề tài của hai tập thơ có nhiều điểm tơng đồng Cả hai tập thơ đều hớng tới thể hiên tâm chí của một con ngời đại trí thức nặng lòng yêu nớc, thơng dân luôn trăn trở trớc cuộc đời vì chí bình sinh cha đạt đợc Cả hai tập thơ cùng thể hiện cuộc đấu tranh nội tâm lâu dài, quyết liệt trong con ngời Nguyễn Trãi, đó là vấn đề hành - tàng, xuất – xử Đồng thời, trong cả hai tập thơ Nguyễn Trãi còn có những trang miêu tả thiên nhiên quê hơng đất nớc thật phong phú, tơi đẹp

Vậy, một câu hỏi đặt ra ở đây là vì sao lại có hiện tợng tơng đồng về hệ thống đề tài trong hai tập thơ đó? Nh chúng ta đều biết, Nguyễn Trãi là con ngời nhất quán về mặt t tởng, suốt đời ông luôn quan niệm về đạo quân thân, luôn trăn trở nghĩ tới cuộc sống của muôn dân Niềm khát vọng lớn nhất của Nguyễn Trãi là đất nớc đợc thái bình, dân giàu, nớc mạnh nhng cuộc đời ông lại gặp đầy rẫy những bi kịch: chí lớn cha thành, lại gặp nhiều éo le trong cuộc sống, tất cả những nỗi niềm ấy đợc Nguyễn Trãi gửi gắm vào thơ mình, cả thơ chữ Hán lẫn thơ chữ Nôm

4- Điểm khác biệt về phơng diện đề tài của hai tập thơ.

Bên cạnh sự tơng đồng chúng ta đã xét ở trên thì giữa hai tập thơ cũng có sự khác biệt Trớc hết, đối với ức Trai thi tập, ngoài những đề tài tơng đồng với Quốc âm thi tập có thêm đề tài ca ngợi công đức của Lê Lợi và cảnh thái bình của dân tộc Chúng ta

hãy đi vào tìm hiểu bài Quan duyệt thuỷ trận ( Xem duyệt thuỷ trận):

Trang 25

Bắc hải đơng niên dĩ lục kình Yến an do dự cật nhung binh Tinh kỳ ý nị liêu vân ảnh

Bề cổ huyên điều động địa thanh Vạn giáp diệu sơng tỳ hổ túc Thiên su bố trận quán nga hành Thánh tâm dục dữ dân hu tức Văn trị chung tu trí thái bình

(ức Trai thi tập, bài 19)

(Biển Bắc năm ấy đã diệt cá kìnhYên ổn còn phải lo luyện quân sự

Cờ xì phấp phới liền với bóng mâyTrống bé trống lớn rầm lên rung động cả trái đấtMuôn binh khí sánh vai nh sơng, quân tỳ hổ nghiêmNghìn thuyền bày trận theo hàng chim quán chim ngaLòng thánh muốn cho dân nghỉ ngơi

Rút cuộc phải xây dựng thái bình bằng văn trị)

Bài thơ thể hiện niềm tự hào, lòng tin tởng trớc khí thế của đội quân tinh nhuệ triều đình đang tập trận trên sông, trên biển Đội quân ấy đã từng nhấn chìm quân Minh xâm lợc, nay cảnh thái bình họ vẫn luyện tập trong cảnh cờ xì bay phấp phới, tiếng trống vang động, vũ khí sáng ngời, thuyền bè dày đặc, khí thế ngất trời Qua đó nhà thơ

ca ngợi tinh thần cảnh giác cao độ của nhà vua

Tìm hiểu đề tài này trong ức Trai thi tập không thể không nhắc tới bài Đề Kiếm(Đề gơm):

Lam Sơn tự tích ngoạ thần long Thế sự huyền tri tại chởng trung

Đại nhiệm hữu quy thiên khải thánh

Trang 26

Quốc thù tẩy tận thiên niên sỷ Kim quỹ chung tàn vạn thế công Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu Thế gian na cánh sổ anh hùng

(ức Trai thi tập, bài 22)

(Rồng thần từ xa nằm ở Lam SơnViệc đời đã biết trớc nh nắm trong tayViệc lớn đã chọn ngời trời báo cho thánh biếtThời thịnh mà gặp đợc, thì hùm sinh gió tức bay đợc

Thù nớc đã rửa sạch sỉ nhục hàng nghìn nămTrong hộp vàng cuối cùng xếp công muôn thuởChỉnh đốn càn khôn từ đó là xong

Thế gian lại có đếm xía gì bậc anh hùng nữa)

Trong bài thơ này, Nguyễn Tr ãi đã trực tiếp ca ngợi sự nghiệp của Lê Lợi, vị anh

hùng cứu nớc của dân tộc ta, ngời đã lãnh đạo dân tộc ta đánh đuổi quân Minh xâm lợc giải phóng khỏi ách đô hộ tàn bạo của chúng Vị anh hùng dân tộc Lê Lợi hiện lên trong bài thơ với đầy đủ phẩm chất đạo đức, tài năng, chiến công, khí phách đúng nh trong lời trong Đại việt sử ký toàn th: "Lê Lợi thờng nói: Ta sở dĩ dẫy quân đánh giặc, không phải ta có lòng tham phú quí mà chỉ muốn cho ngời nghìn năm sau biết

là ta không chịu làm tôi tớ cho lũ giặc tàn ngợc thôi" (1)

Đề tài ca ngợi công đức Lê Lợi và cảnh thái bình của dân tộc còn đợc thể hiện

(1) Dẫn theo Bùi Hạnh Cẩn trong bài viết: “Đọc lại mấy bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi”, Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm, Sđd, tr 407

qua khá nhiều bài thơ khác trong ức Trai thi tập nh Thợng nguyên hộ giá chu trung tác, Hạ quy Lam Sơn, Hạ tiệp

Trang 27

Nh vậy, ca ngợi công đức Lê Lợi và cảnh thái bình của dân tộc cũng là một trong những đề tài chủ yếu của ức Trai thi tập.

Tiếp đến, đi vào khảo sát Quốc âm thi tập, chúng ta thấy rằng tập thơ này ngoài

những đề tài tơng đồng với ức Trai thi tập nó còn có thêm đề tài về đạo dức lý luận và

thế sự Quả vậy, Quốc âm thi tập có nhiều bài thơ mang tính chất giáo huấn Qua thơ,

Nguyễn Trãi đã nêu lên những bài học về cách đối nhân xử thế trong cuộc sống Đó là những lời nhắn nhủ cần phải trọng tình yêu thơng, đùm bọc trong gia đình, họ hàng:

Có tông có tộc mạ sơ thay Vạn điệp thiên chi bởi một cây Yêu trọng ngời dng là của cải Thơng vì thân thích nghĩa chân tay.

(Quốc âm thi tập, bài 145)

Trong cuộc sống có thể có những kẻ gian tham, bạc ác nhng chúng ta luôn cần phải

(1) Dẫn theo Bùi Hạnh Cẩn trong bài viết: “Đọc lại mấy bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi”, Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm, Sđd, tr 407

lấy nhân nghĩa làm đầu khi đối xử với những ngời đó:

Lòng thế bạc đen dầu nó biến

Ta gìn nhân nghĩa chớ hoàn đơn

(Quốc âm thi tập, bài 139)

Nguyễn Trãi cũng khuyên con ngời nên yêu điều thiện để đợc mọi ngời yêu mến

và kính trọng:

Lành ngời đến, dữ ngời ruồng Yêu xạ vì nhân có mùi hơng

(Quốc âm thi tập, bài 147)

Nhà thơ cho rằng nếu con ngời ta lo tu nhân tích đức sẽ làm thay đổi đợc số mệnh của mình:

Trang 28

Tua hay thửa phận chớ phàn nàn Giàu nhiều của con chẳng có Sống hơn ngời mệnh khó khăn

Hễ kẻ danh thơm hay đợc phúc Mấy ngời má đỏ phải nhiều lần

(Quốc âm thi tập, bài 175)

Rải rác khắp Quốc âm thi tập chúng ta còn bắt gặp rất nhiều những lời khuyên

răn quý báu của ức Trai tiên sinh Điều đặc biệt là phần lớn những câu thơ có tính chất giáo huấn của Nguyễn Trãi rất gần với những lời răn dạy của cha ông đợc đúc kết qua tục ngữ

Đồng thời, trong tập thơ chúng ta cũng bắt gặp những câu thơ thể hiện sự chiêm nghiệm của Nguyễn Trãi trong hoàn cảnh thế sự phức tạp:

- Nào ai có dễ lòng chân thật

ở thế tin gì miệng đãi bôi

(Quốc âm thi tập, bài 106).

- Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn Lòng ngời quanh tựa nớc non quanh

(Quốc âm thi tập, bài 136)

- Phợng những tiếc cao, diều bay liệng Hoa thì hay héo, cỏ thờng tơi

(Quốc âm thi tập, bài120)

Phần lớn những câu thơ này đều nói về sự trớ trêu, cái cắc cớ của cuộc sống thế

sự đầy đen bạc, giả dối Phải thực sự gắn bó, hoà mình với cuộc sống thế sự thì Nguyễn Trãi mới có đợc sự chiêm nghiệm sâu sắc ấy Cũng giống nh trên, những chiêm nghiệm của Nguyễn Trãi trong thơ có sự gần gũi với những câu tục ngữ đã đợc cha ông đúc kết

Đây là bằng chứng sinh động chứng tỏ Nguyễn Trãi và nhân dân có sự gặp gỡ, giao lu

về mặt t tởng

Trang 29

Nói tóm lại, đạo đức luân lý và thế sự cũng là một trong những đề tài chủ yếu

đ-ợc Nguyễn Trãi thể hiện trong Quốc âm thi tập.

5- Nguyên nhân của sự khác biệt về phơng diện đề tài của hai tập thơ.

Nh vậy, nhìn một cách khái quát ta thấy đề tài của ức Trai thi tập thể hiện tình

yêu đất nớc một cách sâu đậm, thiết tha và những đề tài có tính chất quan phơng, còn trong Quốc âm thi tập ngoài những đề tài biểu hiện tình cảm yêu nớc trong những hoàn

cảnh đặc biệt còn có đề tài về cuộc sống đời thờng, thế sự với biết bao sự phức tạp, trớ trêu, đầy những điều nghịch lý

Vậy sự khác biệt về phơng diện đề tài của hai tập thơ nên lí giải nh thế nào? Theo chúng tôi có mấy nguyên nhân chính, trớc hết, do ức Trai thi tập đợc sáng tác chủ yếu

khi Nguyễn Trãi đang làm quan ở triều đình Lúc này Nguyễn Trãi đang chăm lo việc triều chính nên ông một lòng hớng đến việc thực hiện vai trò, ý thức của một kẻ sĩ, một

vị đại thần Do đó, tập thơ chủ yếu thể hiện những đề tài liên quan đến những tình cảm yêu nớc và ý thức trách nhiệm của nhà thơ Còn Quốc âm thi tập chủ yếu đợc sáng tác

ở thời kỳ Nguyễn Trãi về ở ẩn tại Côn Sơn nên ông cố thời giờ chiêm nghiệm cuộc sống nhân sinh, đặc biệt, ông đợc tiếp xúc với cảnh vật và con ngời nơi thôn dã nên đã ảnh h-ởng ít nhiều đến việc sáng tác thơ ca Hơn nữa, việc sáng tác bằng hai loại văn tự khác nhau ( Hán và Nôm) cũng ảnh hởng, tác động ít nhiều đến việc lựa chọn và thể hiện đề tài ở hai tập thơ Giáo s Đinh Gia Khánh khi giới thiệu thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có nhận xét xác đáng về nhà thơ này Và chúng ta thấy rằng nhận xét đó cũng có ý nghĩa giúp cho việc nghiên cứu thơ Nguyễn Trãi: “Xa kia mỗi khi muốn nói đến đạo lý, về những sự kiện chính trị, về sự nghiệp kinh bang tế thế, các tác giả viết bằng chữ Hán, vì nhà nớc phong kiến coi đó là chữ chính thức Nhng mỗi khi muốn vui chơi giái trí, hoặc buông thả tâm hồn theo những xúc động hoặc nhận thức riêng t, tức là không có dụng ý lấy văn để "chở đạo" là chủ yếu, thì tác giả hay viết văn làm thơ bằng chữ Nôm" (1)

Trang 30

(1) Dẫn theo Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Viêt Nam, NXB Giáo dục, 1999,

tr 213, 214

Trang 31

Chơng II: Những điểm tơng đồng và khác biệt về phơng diện

Chủ đề bao giờ cũng đ

ợc hình thành và thể hiện trên cơ sở đề tài Tuy nhiên trong thực tế văn học lại một tình trạng phổ biến là nhiều tác phẩm cùng hớng về một

đề tài nhng chủ đề của chung thì lại khác nhau( )

Chủ đề tác phẩm nói lên chiều sâu t tởng, khả năng nắm bắt nhạy bén của nhà văn đối với những vấn đề của cuộc sống Vì vậy, từ những đề tài cụ thể tác giả có thể nêu lên thành những chủ đề mang ý nghĩa khái quát to lớn, sâu sắc Cùng với t tởng, chủ đề tạo ra tầm vóc tác phẩm.

Cũng do mối quan hệ khăng khít của chủ đề và t tởng mà có khi ngời ta hiểu chủ đề là t tởng chủ đạo của tác phẩm.

Trong nghiên cứu văn học hiện đại, chủ đề cần đợc xem là phạm vi quan tâm chủ quan của nhà văn đối với thế giới, là hằng số tâm lý của nhà văn, gắn với quan niệm thế giới của chúng ta (1)

2- Những điểm tơng đồng về phơng diện chủ đề của hai tập thơ.

2.1- Tình cảm sâu sắc của nhà thơ đối với vua, với nớc và với dân.

Thời trung đại, ngời ta quan niệm "trung quân ái quốc" (trung với vua là yêu ớc), do đó, nớc với vua ở đây chỉ là một Bởi vậy, ngời xa cho rằng: yêu nớc

Trang 32

n-thơng dân gắn liền với trung quân Từ quan niệm đó nên trong thơ các nhà Nho thờng

có những trang ca ngợi nhà vua và biểu hiện tấm lòng trung quân của mình Trong bài

Đề kiếm (Đề gơm), nhà thơ đã ca ngợi Lê Lợi một cách say sa và tôn kính:

Lam Sơn tự tích ngoạ thần long Thế Thợng huyền trị tại chởng trung

Đại nhiệm hữu quy thiên khải thánh Xơng kì nhất ngộ hổ sinh phong Quốc thù tẩy tận thiên niên sỉ Kim quỹ chung tàng vạn thế công

Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu Thế gian na cánh sổ anh hùng

(ức Trai thi tập, bài 27)

(Rồng thần xa nằm ở Lam Sơn Việc đời đã biết trớc nh nắm ở trong tay

Việc lớn đã chọn ngời, trời báo cho thánh biếtThời thịnh mà gặp đợc thì hùm sinh gió tức bay đợc Thù nớc đã rửa sạch sỉ nhục hàng nghìn năm

Trong hộp vàng cuối cùng xếp công muôn thuởChỉnh đốn càn khôn từ đó là xong

Thế gian lại có đếm xỉa gì đến bậc anh hùng nữa)

Trong giới hạn một bài thơ thất ngôn bát cú ngắn gọn, hàm súc nhng nhà thơ Nguyễn Trãi đã nói lên đợc một cánh đầy đủ lòng biết ơn, niềm kính phục của mình tr-

ớc đạo đức, tài năng và chiến công của Lê Lợi, ngời đã lãnh đạo nhân dân ta đánh đuổi quân Minh xâm lợc, đem lại thái bình cho nhân dân Đây là một tình cảm rất đỗi chân thành của một bề tôi trung với vua chứ không phải là một lời nịnh hót của những kẻ gian thần

Trang 33

Chúng ta còn bắt gặp niềm kính phục và ca ngợi chân thành của Nguyễn Trãi đối với vị anh hùng Lê Lợi trong nhiều bài thơ khác, chẳng hạn bài thơ Hạ quy Lam

(Qyuền mu vốn là để trừ gian ácNhân nghĩa thì giữ gìn cho thế ớc đợc yênChốn đài các có ngời giỏi, chiếu nhà nho ấmNơi biên thuỳ không có việc, doanh liễu đợc nhàn Phơng xa dâng ngọc lụa,vẽ cảnh hội nhà vua

Uy nghi của Trung Quốc, đợc thấy lại quan nhà HánYêu khí Phơng Bắc đã dẹp quang, sóng kình đã lặng

Đất Nam châu vẫn giữ giang sơn muôn đời)

Theo sử sách ghi lại thì sau khi đánh đuổi đợc quân Minh, lên ngôi Hoàng Đế,

đất nớc trở lại cảnh yên vui, Lê Lợi trở lại thăm Lam Sơn, mảnh đất trớc đây ông đã dẫy binh, thu nạp nhân tài, mảnh đất từng là căn cứ địa chính cho cuộc kháng chiến chống quân Minh mời năm rồng rã Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn trãi đã làm bài thơ Hạ quy Lam Sơn để ca ngợi nhà vua ở bài thơ này, nhà thơ chủ yếu ca ngợi Lê Lợi ở khía cạnh

tài năng, công đức đã dùng quyền mu để đánh tan quân xâm lợc, xoá bỏ những yêu khí, những sóng gió mà chúng gây ra cho nhân dân ta, giữ vững giang sơn đất nớc từ bao đời

Trang 34

nhân nghĩa khiến cho nhân dân đợc sống trong cảnh yên vui, no ấm Đây cũng chính là niềm khát khao cháy bõng của Nguyễn Trãi.

Chúng ta biết rằng đạo quân thân ở vị trí hàng đầu trong quan niệm tam cơng của Nho giáo (quân thần, phụ tử, phu phụ) Bởi vậy, trong thơ văn của các nhà Nho hai chữ "quân thân" thờng đợc nhắc đến nhiều lần nhng có lẽ trong thơ văn Nguyễn Trãi chúng đợc xuất hiện với tần số cao nhất Đọc qua hai tập thơ của ông, chúng ta thấy tình cảm của nhà thơ đối với đạo quân thân thật sâu nặng, thắm thiết:

Hồ hải niên lai hứng vị lan Càn khôn đáo xứ giác tâm khoan Nhãn biên xuân sắc huân nhan tuý Chẩm thợng trào thanh nhập mộng hàn Tuế nguyệt vô tình sông mấn bạch Quân thân tại niệm thốn tâm đan Nhất sinh sự nghiệp thù kham tiếu Doanh đắc phù sinh lạc thế gian

(ức Trai thi tập, bài 70)

(Mấy năm lại đây hứng hồ hải cha hếtTrong trời đất đến đâu cũng thấy lòng ung dungBên mắt sắc xuân nh khiến ngời ngây ngấtTrên gối tiếng thuỷ triều đập vào mồng nghe lạnh lùngNăm tháng luống vô tình hai mái tóc

Quân thân vấn để dạ một tức lòng son

Sự nghiệp một đời thật đáng nực cời quá

Lãi đợc cuộc đời trôi nổi rớt giữa thế gian)Bài thơ đợc tác giả sáng tác lúc nhàn rỗi, trong một đêm đậu thuyền ở cửa biển Phong cảnh trong bài thơ vừa thực vừa ảo, những suy nghĩ về cuộc đời của tác giả mang

đậm màu sắc của t tởng Lão - Trang, coi cuộc đời là phù du ảo ảnh Nhng ở hai câu luận, hai câu quan trọng trong bài thơ thất ngôn bát cú, thờng là nơi để nhà thơ luận

Trang 35

bàn, mở rộng ý tởng của mình thì Nguyễn Trãi đã khẳng định một cách đầy cảm động nỗi lòng canh cánh khôn nguôi của mình đối với đạo quân thân Nó nh một vết son chói ngời trong tâm hồn ức Trai, mặc cho dòng chảy của thời gian, dòng chảy của cuộc đời

cứ trôi qua một cách vô tình và nghiệt ngã Nói cách khác, cuộc đời dẫu có tang thơng dâu bể nhng tấm lòng của Nguyễn Trãi với đạo quân thân thì trớc sau nh một Chúng ta cũng có thể bắt gặp rất nhiều những ý thơ tơng tự:

Quân thân nhất niệm cửu anh hoài Giản quý lâm tàm túc nguyệt quai Tam thập d niên trần cảnh mộng

Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi

(ức Trai thi tập, bài 52)

(Một miền đối với vua và cha lâu vấn vơng lòng

Thẹn với khe, tủi với rừng, nguyền cũ sai trái

Hơn ba chục năm mộng ở cõi trần

Vài tiếng chim kêu gọi tỉnh trở lại nh xa)

Và trong thơ Nôm chúng ta cũng bắt gặp khá nhiều những câu thơ nói tới đạo quân thân:

- Quân thân cha báo lòng canh cánh Tình phụ, cơm trời, áo cha.

(Quốc âm thi tập, bài 8)

- Thế gian mọi sự đều nguôi cả

Riêng đạo quân thần chẳng khứng nguôi.

(Quốc âm thi tập, bài 106)

- Chữ học ngày xa quên hết dạng Chẳng quên có một chữ cơng thờng

(Quốc âm thi tập, bài 82)

Các bài thơ này dù đợc sáng tác trong những hoàn cảnh khác nhau, thể hiện

Trang 36

điểm gặp gỡ, đó là sự khẳng định của tác giả dù ở hoàn cảnh nào nhng trớc sau đạo quân thân cũng không hề phai nhạt trong tâm trí ông Đó là tấm lòng, là ý chí của một nhà Nho chân chính Có thể nói rằng trong thiên hạ lúc bấy giờ thật khó lòng mà tìm thấy một con ngời nh ức Trai tiên sinh của chúng ta Bởi trong thực tế đã có những nhà Nho gặp lúc vận nớc suy vong, cơng thờng điên đảo đã xa rời đạo quân thân, thậm chí

có ngời đẫ chà đạp, phản bội lại lý tởng của chính mình

Bên cạnh một tấm lòng luôn tâm niệm đạo quân thân, Nguyễn Trãi cũng không nguôi lo lắng đến cuộc sống của muôn dân, chú ý đến việc khoan th sức dân Hơn ai hết, qua cuộc kháng chiến chống quân Minh, cụ đã ý thức đợc vai trò quyết định và sức mạnh vô địch của nhân dân:

Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ

(ức Trai thi tập, bài 13)

(Thuyền bị lật mới tin rằng dân là nh nớc)Trong một bài chiều răn dạy các quan, Nguyễn Trãi viết: “Mến ngời có nhân là dân, mà chở thuyền lật thuyền cũng là dân (1) Bên cạnh việc ý thức đợc vai trò và sức mạnh của nhân dân, Nguyễn Trãi cũng là ngời yêu thơng muôn dân hơn ai hết Mái tóc của cụ ngày càng bạc nhiều hơn vì lo nghĩ đến muôn dân, nghĩ đến họ, tấm lòng nhà thơ chất chứa biết bao nỗi niềm u ái khôn nguôi:

- Tóc nên bạc bởi lòng u ái

(Quốc âm thi tâp, bài 112)

- Gia san đờng cánh muôn dặm

u ái lòng phiền nửa đêm

(1) Dẫn theo GS Lê Trí Viễn - Đoàn Thị Thu Vân, Học tập thơ văn Nguyễn Trãi, NXB Giáo dục, tr

23

(Quốc âm thi tâp, bài 115)

- Bui có một tấm lòng u ái cũ

Đêm ngày cuồn cuộn nớc triều đông.

Trang 37

(Quốc âm thi tập, bài 50) (u ái: u quốc ái dân = lo nớc thơng dân)

Nguyễn Trãi đau nỗi đau của nhân dân, chia sẽ niềm vui sớng với nhân dân khi cảnh hoà bình lập lại Trong bài Quá Thần Phù hải khẩu (Qua cửa Thần Phù) nhà thơ

nh reo vui, khoan khoái, hân hoan khi đất nớc đã đợc thanh bình, nớc ta và Trung Hoa

đã có mối bang giao thân thiện:

Hồ việt nhất gia, kim hạnh đổ

Tứ minh tòng thử tức kình ba

(ức Trai thi tập, bài 39)

(Hồ Việt một nhà may đợc thấyBốn biển từ đây dứt lặng sóng kình)

Đặc biệt, trong bài Đoan Ngọ nhật(Ngày Đoan Ngọ), chúng ta thật xúc động

tr-ớc một khát vọng cao cả và mãnh liệt của tác giả đối với cuộc sống của muôn dân:

Nguyện bả lan thang phân tứ hải

Tòng kim tháo tuyết cựu ô dân

(ức Trai thi tập, bài 31)

Một ớc vọng thật là lớn lao, có thể nói rằng trong xã hội cũ thật khó lòng mà tìm thấy đợc một con ngời có ớc nguyện thiết tha về sự đổi đời trong cuộc sống vật chất lẫn tinh thần của muôn dân nh ức Trai tiên sinh Có chăng thì chỉ trong chế độ xã hội của chúng ta ngày nay mới có thể có những con ngời nh Nguyễn Trãi và đang từng bớc thực hiện những lý tởng mà Nguyễn Trãi ngày xa hằng ấp ủ

ở Quốc âm thi tập, có thể khẳng định bài số 43 mục Báo kính cảnh giới là một

trong những bài thơ thể hiện một cách sâu sắc, thắm thiết và cảm động tình cảm của nhà thơ đối với nhân dân:

Rồi hóng mát thuở ngày trờng Hoè lục đùn đùn tán rợp trơng Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Trang 38

Hồng liên trì đã tịn mùi hơng Lao xao chợ cá làng ng phủ Dắng dỏi cầm ve bầu tịch dơng

(Quốc âm thi tập, bài 170)

Sáu câu thơ này thể hiện cảnh nhàn nhã của nhà thơ khi về Côn Sơn ở ẩn Trong cảnh một buổi chiều cuối hạ, nhà thơ mở rộng tâm hồn mình để đón nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống: cành hoè tán rợp đầy sức sống, sắc đỏ của hoa lựu, mùi hơng sen còn sót lại giữa đầm, âm thanh "Lao xao" vẳng lại từ một chờ cá Tâm hồn thi nhân và vẻ đẹp của thiên nhên cũng nh cuộc sống có sự giao hào tuyệt đối, nhng không, Nguyễn Trãi không vì thế mà quên đi nỗi niềm u ái với muôn dân:

Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đời phơng

Đây cũng là một ớc nguyện lớn lao, cao cả của ức Trai tiên sinh đối với cuộc sống của nhân dân Ước nguyện của cụ là có đợc cây đàn của Ngu Thuấn để gảy lên khúc Nam phong khiến cho cuộc sống muôn phơng đều thanh bình, no ấm.

Cũng có khi Nguyễn Trãi đã tự trách mình vì cha làm đợc gì cho nhân dân, cho nớc:

Quốc phú binh cờng chăng có chớc

Bề tôi nào thuở ích chng dân

(Quốc âm thi tâp, bài 37)

Nhng chúng ta không hề trách ức Trai tiên sinh, mà ngợc lại, vô cùng kính phục trớc nỗi niềm u ái đối với dân, với nớc của cụ Về vấn đề này đã có nhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau đã bày tỏ ý kiến của mình, nhng theo chúng tôi ý kiến xác đáng nhất vẫn là của cố thủ tớng Phạm Văn Đồng trong bài viết: Nguyễn Trãi ngời anh hùng dân tộc nhân dịp kỷ niệm520 ngày Nguyễn Trãi mất, đăng trên báo Nhân dân số ra ngày 19/9/1962: .Đối với Nguyễn Trãi, yêu nớc là thơng dân, để cứu nớc phải dựa vào dân, đem lại thấi bình cho dân, cho mọi ngời, triết lý nhân nghĩa của Nguyễn Trãi cuối cùng chẳng qua là lòng yêu nớc thơng dân: cái nhân, cái nghĩa lớn

Ngày đăng: 19/12/2013, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học", NXB "Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB "Đại học quốc gia Hà Nội
2. Nhiều tác giả, Trên đờng tìm hiểu sự nghiệp thơ văn Nguyễn Trãi, NXB Văn học, H,1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đờng tìm hiểu sự nghiệp thơ văn Nguyễn Trãi", NXB "Văn học
Nhà XB: NXB "Văn học"
3. Nhiều tác giả, Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm, NXB, Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm," NXB, "Giáo dục
4. Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Giáo dôc1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam", NXB "Giáo dôc
Nhà XB: NXB "Giáo dôc"1999
5. UBKHXH Việt Nam, Kỷ niệm 600 năm Nguyễn Trãi, NXB Khoa học xã hội, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ niệm 600 năm Nguyễn Trãi", NXB "Khoa học xã hội
Nhà XB: NXB "Khoa học xã hội"
7. Viện sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, H, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi toàn tập", NXB "Khoa học xã hội
Nhà XB: NXB "Khoa học xã hội"
8. Viện văn học, Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa của dân tộc, NXB Khoa học xã héi, H, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa của dân tộc", NXB "Khoa học xã "héi
Nhà XB: NXB "Khoa học xã "héi"
9. Lê Trí Viễn - Đoàn Thi Thu Vân, Học tập thơ văn Nguyễn Trãi, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập thơ văn Nguyễn Trãi", NXB
Nhà XB: NXB "Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh nhân vật trữ tình trong bài thơ đã gây cho độc giả ngày nay sự xúc - Nghiên cứu so sánh ức trai thi tập và quốc âm thi tập về phương diện nội dung
nh ảnh nhân vật trữ tình trong bài thơ đã gây cho độc giả ngày nay sự xúc (Trang 9)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w