Trong những năm gần đây nghề nuôi tôm Sú công nghiệp nước ta phát triển cả về diện tích nuôi và sản lượng nuôi.. Do vậy vấn đề cấp thiếthiện nay là cần xem xét sự biến động của các yếu t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ THUÝ
NGHIÊN CỨU SO SÁNH SỰ BIẾN ĐỘNG MỘT SỐ CHỈ SỐ MÔI
TRƯỜNG GIỮA CÁC AO NUÔI TÔM SÚ (P MONODON) THÂM
CANH VÀ BÁN THÂM CANH TẠI KHU NUÔI TÔM CÔNG NGHIỆP
HƯNG HOÀ TP VINH -NGHỆ AN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
VINH - 2009
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng nuôi tôm ở Việt nam 4Bảng 1.2 Mối quan hệ giữa thức ăn và lượng chất thải 14Bảng 3.1 Điểm khác nhau giữa ao nuôi thâm canh và bán thâm
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Biến động chỉ số pH trong quá trình nuôi 25Hình 3.2 Biến động hàm lượng oxy hoà tan trong quá trình nuôi 26Hình3 3 Sự biến động NH4+ trong ao nuôi tôm 29Hình 3.4 Biến động hàm lượng PO43-trong ao nuôi tôm 30Hình 3.5 Sự biến động NO2- trong ao nuôi tôm 30
Hình 3.7 Biến động Fe tổng số trong ao nuôi tôm 32
Hình 3.10 Biến động độ Mặn trong ao nuôi tôm 34Hình 3.11 Biến động độ Kiềm trong ao nuôi 35
M ỤC L ỤC
Trang 5Mở đầu……… 1
Trang 6Chương I :Tổng quan……… 3
1.1 Tình hình nuôi Tôm tại Việt Nam……… 3
1.2 Các yếu tố môi trường trong ao nuôi……… 5
1.2.1 Nhiệt độ……… 5
1.2.2 pH……… 6
1.2.3.Độ mặn……… 7
1.2.4 Hàm lượng oxy hòa tan……… 8
1.2.5 Độ trong……… 9
1.2.6 Ammonia, Nitrit và Nitrat……… 9
1.2.7 Hydrosulphite (H2S)……… 11
1.2.8 Phosphate (PO43-)……… 11
1.2.9 Nhu cầu oxy hóa (BOD) và tiêu hao oxy hóa học (COD)…… 12
1.2.10 Một số yếu tố khác……… 13
1.3 Một số vấn đề môi trường và dịch bệnh trong nuôi tôm………… 14
1.4 Hoạt động Quan trắc với NTTS ở Việt nam……… 15
1.5 Những tồn tại trong nghề nuôi tôm tại Hưng Hòa……… 16
Chương 2: phương pháp nghiên cứu……… 18
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu……… 18
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu……… 18
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu ……… 18
2.2 Nội dung nghiên cứu……… 18
2.3.1 Bố trí thí nghiệm……… 20
2.3.2 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa ……… 20
2.3.3 Phương pháp phân tích mẫu ……… 21
2.4 Phương pháp lý số liệu……… 21
2.5 Thời gian – địa điểm nghiên cứu……… 22
Chương 3 Kết quả và thảo luận……… 23
3.1 Hình thức nuôi thâm canh và bán thâm canh tại Hưng Hòa…… 23
3.2 Kết quả theo dõi môi trường tại Hưng Hoà……… 24
3.2.1 So sánh chỉ số môi trường theo dõi hàng ngày……… 24
3.2.1.1 Nhiệt độ……… 24
3.2.1.2 Chỉ số pH……… 25
3.2.1.3 Hàm lượng oxy hoà tan……… 26
3.1.1.4 Độ trong……… 27
3.2.2 So sánh biến động các yếu tố theo dõi định kỳ……… 28
3.2.2.1 So sánh biến động NH4+……… 29
3.2.2.2 So sánh biến động PO43-……… 30
Trang 73.2.2.4 So sánh biến động H2S……… 31
3.2.2.5 So sánh biến động sắt tổng số……… 32
3.2.2.6 So sánh sự thay đổi chỉ số BOD, COD……… 33
3.2.2.7 So sánh độ mặn ……… 34
3.2.2.8 So sánh độ kiềm……… 35
3.2.3 kết quả theo dõi môi trường đáy ao nuôi……… 36
kết luận và kiến nghị……… 38
Tài liệu tham khảo……… 40
Phụ lục
MỞ ĐẦU
Nước ta có tổng diện tích vùng triều khoảng trên 600.000 ha, một tiềm năng lớn cho phát triểm thủy sản nước lợ mặn [5]
Trong những năm gần đây nghề nuôi tôm Sú công nghiệp nước ta phát triển cả về diện tích nuôi và sản lượng nuôi Đến năm 2006 diện tích nuôi tôm nước ta lên đến 640.000 ha (trong tổng số 1050000 ha tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản cả nước), đạt sản luợng khoảng 354.600 tấn Hình thức nuôi tôm cũng phát triển đa dạng bao gôm từ hình thức nuôi đơn giản như Quảng
Trang 8Canh, Quảng canh cải tiến đến hình thức nuôi cao hơn như nuôi Bán thâmcanh, Thâm canh Năm 2007 sản lượng xuất khẩu tôm của nước ta (chủ yếu làtôm đông lạnh) là 145.000 tấn, tăng 1400 tấn so với năm 2006 đạt 1,37 tỷUSD tăng 2,65% so với năm 2006 [3].
Tuy nhiên, cũng như các nước khác trên Thế giới nghề nuôi tôm nước
ta đang phải đối mặt với một thách thức rất lớn là ô nhiễm môi trường và dịchbệnh Nguyên nhân chủ yếu là phát triển nuôi tôm tràn lan thiếu quy hoạchdẫn đến phá vở cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường Mặt khác, trình độhiểu biết về nuôi tôm của người dân còn thấp, chất lượng con giống kémnguồn nước cung cấp cho vùng nuôi chưa đảm bảo Nguồn chất thải lắngtrong ao lớn… dẫn đến nghề nuôi mang tính rủi ro cao [13]
Do vậy để nghề nuôi tôm phát triển có hai vấn đề cấp bách cần phảigiải quyết đó là giảm thiểu rủi ro về ô nhiểm môi trường và dịch bệnh lây lan
Nghệ An là tỉnh có tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản rất lớn Theo báocáo thống kê sở thủy sản Nghệ An, năm 2007 toàn tỉnh có diện tích nuôi nước
lợ 3,872 ha, diện tích nuôi nước ngọt 31,569 ha [45] Đặc biệt hiện nay sởthủy sản Nghệ An vẫn chủ trương lấy con tôm Sú làm đối tượng nuôi chính.Song vấn đề ô nhiểm môi trường và dịch bệnh hiện nay diễn biến hết sứcphức tạp, vô cùng khó khăn cho việc quản lý đối với người nuôi Công tácquản lý môi trường và dịch bệnh chưa được quan tâm rộng khắp, không đánhgiá đúng mức chất lượng môi trường nuôi Vấn đề quản lý môi trường trong
ao nuôi góp phần quan trọng trong quá trình nuôi đảm bảo được yếu tố môitrường ổn định giup cho tôm nuôi có sức khỏe tốt Do vậy vấn đề cấp thiếthiện nay là cần xem xét sự biến động của các yếu tố môi trường trong quátrình nuôi: ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thông số môi trường là nguyên nhâncủa sự suy giảm chất lượng nước
Trang 9Xuất phát từ thực tế trên, để nuôi tôm đạt hiệu quả cao và góp phần hoànthiện các biện pháp kỹ thuật kiểm soát môi trường trong ao nuôi nói chung vàNghệ An nói riêng, chúng tôi thực hiện đề tài:
“ Nghiên Cứu so sánh sự biến động một số chỉ số môi trường giữa các
ao nuôi tôm Sú(P.monodon) thâm canh và bán tham canh tại khu nuôi tôm công nghiệp Hưng Hoà – TP Vinh - Nghệ An”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Đánh giá hiện trạng môi trường nuôi tại hai công thức nuôi thâmcanh và bán thâm canh tại khu nuôi tôm công nghiệp xã Hưng Hoà– TP Vinh – Nghệ An
Đánh giá hiện trạng môi trường nguồn nước cấp cho vùng nuôi tômcông nghiệp xã Hưng Hòa - TP.Vinh – Nghệ An
Đề xuất các biện pháp kỹ thuật quản lý môi trường ao nuôi tôm Sútheo hướng giảm thiểu ô nhiểm và hạn chế các điều kiện bất lợi chotôm nuôi
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nuôi Tôm tại Việt nam
Việt Nam với bờ biển dài 3260 km từ Quảng Ninh đến Kiên Giang[30] Trong nội địa lại có hệ thống sông ngòi dày đặc đó là tiềm năng to lớncho nghề NTTS, nhất là nghề nuôi TS nước mặn – lợ mà nhất là nghề nuôitôm Nghề nuôi tôm ở Việt Nam bắt đầu cách đây khoảng hơn 100 năm,nhưng nuôi chuyên tôm chỉ mới phát triển từ năm 1987 khi sản xuất tôm bộtđạt đến số lượng lớn [17] Nghề nuôi tôm thực sự phát triển sau năm 1987 và
Trang 10nuôi tôm thương phẩm phát triển mạnh vào những năm đầu thập kỷ 90 củathế kỷ trước, đặc biệt từ sau khi chính phủ ban hành nghị quyết số09/2000/NQCP hàng chục ngàn ha ruộng đất trồng lúa, làm muối, đất hoanghóa được chuyển sang nuôi tôm Các vùng có con số chuyển đổi mạnh nhất làĐBSCL và ĐB Sông Hồng (ĐBSH) [18].
Theo báo cáo của Bộ trưởng Bộ TS Tạ Quang Ngọc (t5,2007), Việt Namđứng thứ ba trên thế giới về nuôi trồng, đứng thứ 7 về xuất khẩu, và đứng thứ
12 về khai thác TS Kế hoạch của ngành chế biến và xuất khẩu năm nay tăngsản lượng lên 350 000 tấn Ông còn cho biết mục tiêu của ngành đến năm 2010
sẽ đóng góp 4,5 – 5 tỷ USD cho Tổng thu nhập quốc nội (GDP) [19] Hiện naythị trường xuất khẩu chủ yếu của chúng ta là EU, Mỹ, Nhật Trong đó thịtrường EU đứng ở vị trí số 1 trong tốp các nhà nhập khẩu thuỷ sản
của Việt Nam với giá trị đạt 903,7 triệu USD [33] Trong nhưng năm gần đây
sự phát triển của ngành nuôi tôm diển ra rất nhanh chóng cả về diện
tích, hình thức nuôi, sản lượng và giá trị xuất khẩu
Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng nuôi tôm ở Việt nam
489.475189.174
555.693234.512
592.805290.797
604.479330.826
640.307354.600
(Nguồn:B áo cáo đánh giá kết quả thực hiện chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản giai đoạn 2000 – 2005 và biện phấp thực hiện 2010 Bộ thuỷ sản 3/20066)
Trang 11Theo nội dung chương trình nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 1999-2010 của
bộ thuỷ sản trong thập niên tới hướng chủ yếu là thay đổi phương thức nuôi:Giảm mạnh diện tích nuôi quảng canh tăng diên tích nuôi công nghiệp từ 15-20% tổng diện tích Nuôi trồng thuỷ sản nước lợ tương ứng 65000 – 80000 ha,bình quân tăng từ 4000-5000 ha/năm Năng suất nuôi bình quân đạt 2 – 2,5tấn/ha, phấn đấu đến 2010 đáp ứng 70 – 80% sản lượng tôm xuất khẩu là tômnuôi đối tượng nuôi chủ yếu là tôm Sú chiếm 70 – 80% Trước hết là tập trungnuôi ở những nơi có tiềm năng nhất là các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ và miềnTây Nam bộ sau đó mới mở rộng ra các tỉnh lân cận và các tỉnh phía Bắc [2]
So với các nước khác trên thế giới thì Việt nam là nước có hình thứcnuôi khá đa dạng và phong phú Ngoài các hình thức nuôi như: quảng canh,QCCT, bán thâm canh và thâm canh có hình thức nuôi xen canh tôm lúa đượcnhiều địa phương vận dụng
Nuôi tôm theo mô hình nuôi bán thâm canh (BTC) và thâm canh (TC)đang trở nên phổ biến ở nước ta Đến năm 2007, các tỉnh có diện tích nuôitôm theo hình thức nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp lớn như: TràVinh 2165 ha, năng suất 5,06tấn/ha, Sóc Trăng 26 700 ha (năm 2007), KiênGiang 78 620 ha (năm 2007), Quảng Nam 2332 ha (năm 2006) [38], [20]
1.2 Các yếu tố môi trường trong ao nuôi
Môi trường nước có một vai trò quan trọng đối với đời sống của thủysinh vật nói chung và tôm Sú nói riêng Các yếu tố môi trường có ảnh hưởngtrực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của thủy sinh vật Đối với nuôi tôm cácyếu tố môi trường có mối quan hệ qua lại rất chặt chẽ, nó ảnh hưởng đến tốc
độ sinh trưởng của tôm từ đó ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả kinh tế Vìvậy việc quản lý tốt chất lượng nước là một nhiệm vụ trọng tâm của ngườinuôi, đảm bảo sự bền vững của môi trường
Trang 12Maguire và Alles cho rằng trong điều kiện thí nghiệm nhiệt độ từ 18 –
33 0C tôm cỡ 1 – 5g/con, tốc độ sinh trưởng cao nhất ở 27 - 33 0C Mặt khácnhiệt độ là yếu tố liên quan đến hàm lượng oxy hòa tan trong nước, độc tínhcủa NH3 Khi nhiệt độ tăng sẽ hoạt động tích cực làm tăng sinh trưởng nhưngđồng thời làm giảm hàm lượng NH3 Nhiệt độ còn làm phân tầng các lớpnước khác nhau trong ao nuôi [19] Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến việc bắtmồi của tôm, nếu nhiệt độ cao hơn 32 - 33 0C hay thấp hơn 250C thì mức độbắt mồi có thể giảm 30 – 50% Nhiệt độ thay đổi đột ngột sẽ làm ảnh hưởngnghiêm trọng đến tôm hơn là thay đổi từ từ [12]
Tôm Sú có khả năng chịu đựng được khoảng nhiệt độ từ 12 – 37 0C,trong đó khoảng sống tốt nhất là 28 – 300C Theo Cook, HL Rabanal (1978),Trần Minh Anh (1989) thì khoảng nhiệt độ tối ưu cho tôm là 25 - 300C [10]
Vũ Thế Trụ (1993), nhiệt độ thích hợp cho loài tôm penaeus ssp trong các aonuôi nhiệt đới khoảng 28 - 300C Trên 300C tôm lớn nhanh nhưng rất dễ mắcbệnh đặc biệt là MBV(monodonBaculovius), còn ở 280C tôm tăng trưởngtương đối chậm [32]
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tôm nuôi Theo Bùi Quang
Tề, nhiệt độ trong nước ao là 350C thì tỷ lệ sống của tôm Sú (penaeus
monodon) là 100%, nhiệt độ 37,50C tôm còn sống 60% và tỷ lệ này chỉ còn
Trang 13Ở Việt Nam, một số tác giả cho biết thêm tôm Sú thích hợp ở nhiệt độ
25 - 300C Nhiệt độ dưới 180C và trên 360C tôm Sú sinh trưởng kém và có thểngưng sinh trưởng
1.2.2 pH
Trong ao nuôi pH thường biến đổi theo chu kỳ ngày đêm và theo chu kỳnuôi Giá trị pH trong ao nuôi phụ thuộc rất nhiều vào tính đệm của nước, mức
độ xì phèn đáy, sự nở hoa của tảo và sự tích tụ mùn bã hữu cơ của đáy ao [29]
Độ pH ảnh hưởng trực tiếp đến tôm nuôi pH thấp thường làm tổnthương phụ bộ và mang cứng như gây trở ngại cho việc lột xác và làm tômmềm vỏ [12] Mặt khác pH còn ảnh hưởng gián tiếp đến tôm nuôi Khi pHthấp làm tăng tính độc của khí H2S gây ngộ độc cho tôm Khi pH cao làmtăng tính độc của khí NH3 [13], [19] Chiu (1992), nhận thấy pH nước ao nhỏhơn 4,5 và lớn hơn 10,0 sẽ làm tôm chết, pH từ 4,5 – 7,0 và từ 8,0 – 10,0 tômsinh trưởng chậm, khả năng hấp thụ thức ăn kém, nếu môi trường có pH nhưvậy kéo dài thì tôm có thể chết [12]
Khả năng thích nghi với pH của tôm có liên quan trực tiếp đến nồng độhợp chất cacbon vô cơ Nồng độ này không thành vấn đề trong nước biểnnhưng trong ao nuôi nếu pH giảm cùng lúc với việc giảm hàm lượng cacbon
vô cơ sẽ gây nguy hiểm cho tôm [10]
Độ pH thích hợp cho ao nuôi tôm Sú từ 7,5 – 8,5 [12], [13], [16], [24] và ởmức pH này thì NH3 và H2S ở dạng độc là thấp nhất [12]
1.2.3 Độ mặn
Độ mặn là yếu tố sinh thái có quan hệ mật thiết với đời sống thủy sinhvật Mỗi loài thủy sinh vật đều sống ở những giới hạn độ mặn thích hợp Mỗigiai đoạn phát triển của tôm đều có khoảng thích hợp độ mặn khác nhau
Valencia (1977) cho rằng nhiệt độ và độ mặn tạo nên sự ảnh hưởng kếthợp tới tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của tôm [28] Cũng theo Valencia,
Trang 14các loài tôm: p.monodon, p.japonicus có tỷ lệ sống cao ở nhiệt độ trung bình
cao và độ mặn thấp Nhưng sinh trưởng nhanh hơn ở nhiệt độ trung bình cao
và độ mặn thấp [12]
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn tới chu kỳ lột xác của tôm Súgiống Manick (1979) nhận thấy tôm Sú nuôi trong ao có độ mặn 30 – 40‰
có chu kỳ lột xác dài hơn trong ao có độ mặn 15 – 20 ‰ [13]
Theo Tạ Khắc Thường trong quy trình nuôi tôm Sú Chen Kong Jung vàG.William đề nghị nuôi tăng dần theo độ mặn [26]
- Độ mặn 15‰ trong 95 ngày đầu
- Độ mặn 15‰ - 20‰ từ ngày nuôi 95 - 105
- Độ mặn 20‰ - 25‰ từ ngày nuôi 105 – 120
- Độ mặn 25‰ - 30‰ từ ngày nuôi 120 – 140
Khi độ mặn cao ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của tôm do phải kéo dài chu
kỳ lột xác, từ đó làm giảm năng suất nuôi Mặt khác, độ mặn càng cao càng làmtăng khả năng nhiễm bệnh do các vi khuẩn gây bệnh cho tôm phát triển thuận lợi
ở độ mặn cao Vì vậy trong ao nuôi độ mặn thích hợp cho tôm Sú là 18 - 20‰ và
độ mặn biến thiên tốt nhất nhỏ hơn tỷ lệ 5‰ /ngày [21], [28]
1.2.4 Hàm lượng oxy hòa tan:
Hàm lượng oxy hòa tan trong ao nuôi là một yếu tố rất quan trọng cho
cả hai hệ thống nuôi năng suất thấp và cao Tác hại của hàm lượng oxy thấp làlàm cho tôm chậm lớn và có thể gây chết hàng loạt [12] Chanratchakool(1995) cho rằng ở nồng độ oxy < 4mg/l thì tôm vẫn bắt mồi nhưng chúng tiêuhóa thức ăn không hiệu quả Nếu hàm lượng oxy trong khoảng 2 – 3mg/l thìtôm ngừng bắt mồi, hàm lượng oxy < 2mg/l có thể làm cho tôm chết ngạt
Trang 15[40] Hàm lượng oxy thấp làm giảm tỷ lệ chuyển hóa thức ăn và tăng khảnăng cảm nhiễm bệnh.
Khi nghiên cứu các ao nuôi tôm ở miền Trung Việt Nam, NguyễnTrọng Nho cho rằng khi hàm lượng oxy hòa tan trong nước nhỏ hơn 2mg/ltôm nổi đầu thành từng đàn và chết hàng loạt khi hàm lượng oxy chỉ còn 0,8 –0,9mg/l trong 1 – 2h [16]
Hàm lượng oxy hòa tan trong ao nuôi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốtrong đó thực vật phù du, thực vật bậc cao trong nước do hoạt động quanghợp của chúng Do hoạt động quang hợp này làm cho hàm lượng oxy trong aocao nhất vào lúc xế chiều, sau đó giảm dần và thấp nhất vào sáng sớm Ngoài
ra oxy hòa tan trong nước còn phụ thuộc vào nhiệt độ và độ mặn của nước aonuôi Khi nhiệt độ và độ mặn tăng nồng độ oxy hòa tan giảm [23]
Hàm lượng oxy hòa tan thích hợp cho tôm Sú phát triển là trên 3,5mg/l[3], [14]
Để tôm tăng trưởng tốt, hàm lượng oxy trong nước phải duy trì trên5mg/l, mặc dù tôm có thể sống ở mức gần 2,5mg/l Nước dưới 2mg/l có thể làmcho tôm giảm hoạt động bơi lội ở tầng mặt, nhảy lên mặt nước và chết [23]
1.2.5 Độ trong
Độ trong của nước ao thể hiện mức độ phát triển của thực vật phù duhoặc do sự rửa trôi, lắng cặn của các chất cặn vẩn Khi độ trong của ao nuôithấp sẽ ảnh hưởng tới sự xâm nhập của ánh sáng mặt trời vào tầng nước, từ đólàm giảm sự quang hợp của thực vật phù du Do đó nó ảnh hưởng trực tiếpđến sự biến động của hàm lượng oxy hòa tan, gián tiếp ảnh hưởng đến pH,BOD, COD [12] Độ trong quá thấp có thể do sự lụi tàn của tảo Khi tảo pháttriển quá dày và sản sinh ra nhiều khí độc làm ảnh hưởng tới tôm Sự quá đụccủa nước còn có thể do các chất vô sinh khác gây cản trở ánh sáng làm giảmkhả năng sản xuất của ao hoặc làm ngẹt bộ phận hô hấp của tôm [24] Khi độ
Trang 16trong quá cao thể hiện ao nghèo dinh dưỡng, nghèo nguồn thức ăn tự nhiên,cũng gián tiếp ảnh hưởng đến oxy hòa tan và pH Trong ao nuôi tôm độ trongtốt nhất: 25 – 40cm [16], [21], [28].
1.2.6 Ammonia, Nitrit và Nitrat
a Ammonia
Trong môi trường nước Ammonia tồn tại ở hai dạng là NH3 và NH4+ vàđược gọi là ammonia tổng số Trong đó, ammonia là sản phẩm khoáng hóađầu tiên của quá trình biến đổi các chất hữu cơ Ammonia có thể được thựcvật hấp thụ trong quá trình quang hợp hoặc bị oxy hóa tạo thành muối Nitrit
và Nitate [29]
Ammonia ở dạng NH4+ không gây độc hại cho tôm cá, chỉ ở dạng NH3 mớigây độc Theo W.Y.Liu thì khả năng gây độc của NH3 đối với tôm Sú phụthuộc vào nhiệt độ và độ mặn Khi nhiệt độ thấp và độ mặn cao thì khả năngchịu đựng của tôm Sú là kém hơn và ngược lại khi nhiệt độ cao và độ mặnthấp thì khả năng này là tốt hơn [42]
NH3 trong ao khoảng 1mg/l có khả năng gây chết tôm, nồng độ lớn hơn0,1mg/l sẽ ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của tôm Hàm lượng NH3 cao đến0,45mg/l sẽ làm giảm tốc độ sinh trưởng của tôm he (p.japonicus) đi 50%[24] vì vậy cần chú ý duy trì nồng độ NH3 nhỏ hơn 0,1mg/l [26]
Trang 17Nếu môi trường thiếu oxy thì quá trình chuyển hóa đạm chỉ đến Nitritekhi động vật thủy sản hấp thu phản ứng với Hemoglobin tạo thànhMethemoglobin:
Hb + NO2- → Met-Hb
Phản ứng này ion sắt (Fe2+) trong nhân của máu cá bị oxy hóa thành sắt(Fe) làm cho máu cá mất khả năng vận chuyển oxy Nitrite gây độc máu cá vàchuyển thành màu nâu Ở giáp xác cấu tạo Hemoglobin cũ là Cu2+ trong nhânmáu thay sắt, phản ứng với Nitrite kém nhưng vẫn có khả năng gây độc chogiáp xác Theo Colt, 1981 tôm càng xanh chậm phát triển ở nồng độ Nitrite1,8 – 6,2mg/l Nước lợ có nồng độ canxi và clo cao nên độc tố Nitrite giảm[36], [38], [39]
Nitrate (NO 3 - )
Nitrate là sản phẩm cuối cùng của sự khoáng hóa các chất hữu cơ cóchứa Nitơ NO3- không gây độc hại đối với thủy sinh vật, là chỉ tiêu xác địnhthành phần tảo trong thủy vực Khi hàm lượng NO3- dưới 1mg/l thì tảo lamphát triển mạnh, còn khi NO3- > 2mg/l thì tảo lục phát triển mạnh Hàm lượngNO3- thích hợp trong ao nuôi từ 2 – 3mg/l [29]
1.2.7 Hydrosulphite (H 2 S)
Khí H2S là một loại khí độc, được hình thành trong ao nuôi thủy sảnchủ yếu do quá trình phân hủy các chất hữu cơ chứa lưu huỳnh hoặc quá trìnhsulphat hóa có tham gia của các vi khuẩn yếm khí [ 19], [15]
H2S rất độc và hào tan trong nước, khi tan thể hiện tính axit yếu H2Schiếm đoạt oxy trong máu làm con vật chết ngạt H2S gây chết tôm nếu nướctrong ao nuôi có hàm lượng H2S > 0,09ppm đồng thời làm tê liệt hệ thần kinh[19] Khi hàm lượng H2S là 0,1 – 0,2mg/l sẽ làm tôm he (p.japonicus) mấtthăng bằng và chết khi H2S là 0,4mg/l [22]
Trang 18Hàm lượng H2S cho phép trong ao nuôi tôm là nhỏ hơn 0,03mg/l vàđộc hơn khi pH xuống thấp [40] H2S chỉ xuất hiện khi pH < 7, hàm lượngH2S cho phép là 0,002mg/l [22], [41].
1.2.8 Phosphate (PO 4 3- )
Phosphate là một nhân tố cần thiết cho sự phát triển của sinh vật.Phosphate có trong thành phần của nhiều chất quan trọng trong các hoạt độngsống Nó tham gia nhiều quá trình trao đổi chất đặc biệt là quá trình tổng hợpprotein Hàm lượng phosphate trong nước liên quan đến sự phát triển của thựcvật phù du qua đó ảnh hưởng đến năng suất của tôm cá nuôi Trong thủy vựcphosphate thường tồn tại ở dạng: PO43-, HPO42-, H2PO42- Trong phân tích mẫunước thông thường chỉ xác định PO43- [8]
PO43- được bổ sung vào ao thường do từ đất ngấm ra, từ quá trình phânhủy các chất mùn bã hữu cơ và cũng do con người bón thêm vào nước Hàmlượng PO43- thường ít hơn 1mg/l, đa phần PO43- được bùn đáy hấp thụ sau đóđiều tiết lại môi trường trong các ao có nhiều ion Al3+ và Fe2+ thì PO43- bị kếttủa nhiều hơn [9]
Môi trường nước ngọt hàm lượng phosphate không được vượt quá 1,0mg/
l và trong môi trường nước mặn hàm lượng này không quá 0,1mg/l [8] TheoNguyễn Đức Hội thì hàm lượng phosphate cần duy trì ở mức 0,5mg/l [9]
1.2.9 Nhu cầu oxy hóa (BOD) và tiêu hao oxy hóa học (COD)
Trong môi trường ao nuôi tôm, 2 chỉ tiêu nghiên cứu chất lượng nướcCOD và BOD để đánh giá mức độ nhiễm bẩn, độ giàu nghèo, đồng thời còncho biết sự phát triển của thủy sinh vật trong thủy vực [16]
Trang 19Sự tiêu hao oxy trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ bởi hệ vi sinhvật có trong nước gọi là nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) Trong thủy vực tựnhiên và trong các ao nuôi cá, bên cạnh quá trình hô hấp của thủy sinh vậtlàm giảm lượng oxy, người ta còn phải chú ý tới quá trình biến đổi của cácchất hữu cơ gây ra tiêu hao oxy rất lớn Nếu không theo dõi kiểm soát chúng,
sẽ rất dễ dàng gặp tình trạng thiếu hụt oxy nghiêm trọng, nhiều khi làm tôm,
cá chết ngạt hàng loạt Đặc biệt ở các ao giàu dinh dưỡng (hay còn gọi là phìdưỡng) Nước có nhiều chất hữu cơ do tích mùn bã quá nhiều, bón phânchuồng nhiều, cho thừa thức ăn, dùng nước thải quá đặc… thường có màuđen và mùi thối Nhu cầu Oxy sinh hóa trong ao nuôi ảnh hưởng rất lớn trongNTTS vì vậy trong ao nuôi cũng rất cần thiết và quan tâm nhiều
Giá trị BOD3 hay BOD5 là lượng oxy cần thiết để cung cấp cho vi sinh vậtphân hủy các chất hữu cơ sau 3 ngày ở nhiệt độ 300C hoặc sau 5 ngày ở nhiệt độ
200C làm thí nghiệm Để xác định gần đúng nhu cầu ôxy sinh hóa, cần phải đosau 20 ngày, vì thực tế tại thời điểm đó có khoảng 98 - 99% lượng chất hữu cơtrong nước bị ôxy hóa Việc đo như vậy cần quá nhiều thời gian chờ đợi kết quảlại tốn kinh phí bảo quản mẫu, cho nên có thể đánh giá gần đúng bằng cách xácđịnh BOD sau 5 ngày được hiểu là nhu cầu ôxy sinh hóa được xác định sau 5ngày, tại thời điểm này đã có khoảng 70 - 80 % các chất hữu cơ bị ôxy hóa và
loại trừ được ảnh hưởng của lượng ôxy tiêu thụ cho quá trình nitrat hóa [29].
Trong ao nuôi hàm lương BOD5 thích hợp 5 – 10mg O2/l [8]
COD là lượng oxy cần thiết để oxy hóa hết các hợp chất hữu cơ trongnước thành CO2 và H2O COD biểu thị lượng chất hữu cơ có thể bị oxy hóahóa học (bao gồm cả lượng chất hữu cơ không thể bị oxy hóa bằng vi khuẩn).Trong ao nuôi giá trị COD thích hợp là 10 – 20mg O2mg/l [9]
1.2.10 Một số yếu tố khác
a Độ kiềm
Trang 20Độ kiềm là tổng số nồng độ chuẩn độ kiềm được tính bằng mili đươnglượng gam canxi carbonat [6], [29].
Độ kiềm có vai trò quan trọng duy trì hệ đệm của hệ sinh thái ao nuôi.Đây được xem là một trong những chỉ tiêu quan trọng giữ cho pH nước biếnđộng ở mức thấp nhất Độ kiềm cao, khả năng lột xác của tôm tốt hơn và làmgiảm bệnh mềm vỏ [6], [29] Trong ao nuôi độ kiềm thích hợp từ 80 – 150 mgCaCO3/l [25]
b Sắt tổng số
Trong môi trường nước có rất nhiều kim loại có thể gây độc cho tôm cánhư: Chì, Kẽm, Thủy ngân…Nhưng sắt là yếu tố kim loại thường xuyên cótác động tới đời sống, năng suất và tỷ lệ sống của tôm cá Các muối sắt đềutồn tại trong nước ở dạng hòa tan (Fe2+, Fe3+) Muối sắt ở dạng hòa tan khimôi trường có tính axit (pH) thấp, trong môi trường có tính kiềm thì Fe bị kếttủa thành dạng hydroxyt [13]
Trong ao nuôi tôm hàm lượng Fe cao hơn 1mg/l thì tôm sẽ bị chết Hàmlượng cho phép từ 0,1 – 0,3mg/l, nếu hàm lượng cao hơn ngưỡng thì sẽ ảnhhưởng đến quá trình hô hấp, do dạng keo của hydroxyt sắt bám vào trong mangvật nuôi và ngăn cản sự trao đổi oxy giữa môi trường và cơ thể [29], [6]
1.3 Một số vấn đề môi trường và dịch bệnh trong nuôi tôm
Nghề nuôi tôm trên thế giới đã phát triển rất mạnh trong hơn hai thập kỷqua và được khẳng định là đem lại nguồn thu nhập rất lớn cho người nuôi, cácnhà cung cấp dịch vụ, chế biến và buôn bán Tuy nhiên nghề nuôi đang phảiđối mặt với nhiều thách thức và nguy cơ tiềm ẩn Trước tiên đó là vấn đề ônhiểm môi trường ở các khu nuôi tôm thâm canh Sau một vụ nuôi một lượnglớn chất thải được đưa ra môi trường và để lại trong ao nuôi do thức ăn dưthừa, do hoạt động bài tiết của tôm và các hoạt động trong quá trình nuôi
Trang 21trường là 1.250 kg chất thải hữu cơ, 87 kg Nitơ và 28 kg phot pho (Bảng2.4).Như vậy với sản lượng nuôi tôm hàng năm khoảng 1 triệu tấn, thì lượng chấtthải ra môi trường rất lớn [1].
Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và lượng chất thải từ 1 tấn tôm
Bảng 1.2 mối quan hệ giữa thứ ăn và lượng chất thải
Chất hữu cơ (kg) Nitơ(kg) Phot pho (kg)
và dịch bệnh đã làm sản lượng tôm nuôi của nước này giảm từ 100.000 tấnnăm 1987 xuống còn 30.000 tấn năm 1980, 20.000 tấn năm 1989 [7]
Tại Thái Lan, sự bùng nổ dịch bệnh đã làm giảm sản lượng tôm nuôi từ285.000 tấn năm 1995 xuống 160.000 tấn năm 1996 Sản lượng tôm nuôigiảm Sút đã làm thiệt hại trên dưới 500 triệu USD của nước này Ở các nướcchâu Á, dịch bệnh đã làm thiệt hại khoảng 3 tỷ USD mỗi năm [6]
Tại Việt nam, diện tích nuôi tôm mở rộng quá nhanh, quy hoạch chưa theokịp sản xuất, công nghệ nuôi còn hạn chế, trong khi hệ thống cơ sở hạ tầng vềthủy lợi, khuyến ngư, con giống chư kịp đáp ứng được yêu cầu chuyển dịchsản xuất nên đã nảy sinh các vấn đề bất cập như bệnh tôm chết hàng loạt, môi
Trang 22trường sinh thái bị đe dọa nặng nề Năm 2008 dịch bệnh xẩy ra ở Cà Mau.Hơn 39.000 ha diện tích tôm nuôi bị chết, vớí mức độ thiệt hại bình quân từ25-30% [43] Quảng ninh 350 ha bị chết trong đó: Yên Hưng 110 ha, TiênYên 40 ha, Đầm Hà 55 ha, Móng Cái 145 ha [43].
1.4 Hoạt động Quan trắc với NTTS ở Việt nam
Quan trắc cảnh báo trong ngành thủy sản là giám sát chất lượng phục vụNTTS kiểm soát chất lượng sản phẩm do đó nó cũng dựa trên các tiêu chí của
hệ thống giám sát môi trường toàn cầu (gems): kiểu quan trắc nền, kiểu tuânthủ và tác động Tuy nhiên kiểu tuân thủ là kiểu phổ biến được áp dụng trongquan trắc cảnh báo môi trường thủy sản Quan trắc cảnh báo môi trường vàkhí tượng thủy văn đã có từ lâu ở nước ta Tuy nhiên, Quan trắc và cảnh báophục vụ cho NTTS còn rất nhiều hạn chế, việc ra đời hệ thống quan trắc, cảnhbáo môi trường và dịch bệnh thủy sản chậm hơn nhưng lại được thừa hưởngkinh nghiệm cảnh báo chung
Đến năm 2001 Bộ khoa học Công nghệ và Môi trường phố hợp với BộThủy sản khởi đầu hoạt động “Quan trắc và cảnh báo môi trường” chonghành thủy sản nhằm tìm ra hình thức hoạt động “quan trắc cảnh báo” phùhợp với đặc thù hoạt động của ngành thủy sản Bộ thủy sản đã tập hợp 4 cơquan đầu ngành: Viện nghiên cứu NTTS I, II, III và Viện Hải sản Thực hiệnnhiệm vụ quan trắc trên toàn bộ lãnh thổ nước ta trên đất liền và trên biển,phục vụ chiến lược phát triển của ngành
Từ năm 2001, Viên nghiên cứu NTTS1 thực hiện nhiệm vụ quan trắc cảnhbáo môi trường và dịch bệnh tại khu vực Miền Bắc Việt nam
Từ năm 2001-2002 hoạt động quan trắc được thực hiện tại 3 tỉnh MiềnBắc đặc trưng cho ba vùng khác nhau: Hòa bình đặc trưng cho vùng núi phíaBắc, Hải Phòng đặc trưng cho vùng biển, Nghệ an đặc trưng cho vùng Bắc
Trang 23chuyển hướng ra các tỉnh ven biển miền Bắc, các địa điểm bao gồm: Hảiphòng, Quảng Ninh, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, đối tượngquan trắc chủ yếu là khu vực nuôi ven biển Thông số quan trắc bao gồm:Nhiệt độ, Độ muối, DO, COD, BOD5, NH4+, PO43-, H2S, hàm lượng dầu, cáckim loại nặng trong nước gồm Hg,Cd, Pb tần suất quan tắc 4 đợt/ năm
1.5 Những tồn tại trong nghề nuôi tôm tại Hưng Hòa
Khu nuôi tôm công nghiệp Hưng Hòa, được đầu tư về cơ sở hạ tầng tươngđối tốt Cơ bản đã có ao chứa, ao lắng, ao xử lý nước thải, hệ thống kênh cấp,kênh thải riêng biệt Nhưng việc xây dựng ao đầm lại phân về cho các hộ xãviên tự làm nên không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật trong việc đào ao đắp bờ,xây cống, thiết kế cao trình đáy Do đó khi đưa vào sản xuất đã nảy sinh cácvấn đề như nước trong ao luôn bị thẩm lậu từ ao này sang ao khác, ngấm rakênh thải Mặc dầu khu nuôi được đầu tư tương đối hoàn chỉnh và phù hợpcho ao nuôi thâm canh nhưng do đầu tư của các hộ còn thấp nên hệ thốngkênh cấp, kênh thải, ao chứa ao lắng, ao xử lý nước thải không phát huy tácdụng
Trong suốt quá trình nuôi nguồn nước cung cấp vào ao nuôi được lấy trực tiếp
từ nước tự nhiên, chưa qua xử lý Hơn nữa do cùng một hệ thống cấp thoátnước nên một số ao bị nhiểm bệnh đã không xử lý nước trước khi thải ra bênngoài môi trường, nước chưa ra khỏi khu vực thì đã hòa vào nguồn nước cấp.Chính vì thế chất lượng nước ao nuôi bị ô nhiểm nên đã tạo điều kiện chomầm bệnh phát sinh và lây lan trên diện rộng cho khu vực nuôi Bên cạnh đóviệc quản lý chăm sóc môi trường trong quá trình nuôi còn rất hạn chế, trongsuốt vụ nuôi đa số các hộ thực hiện chưa tốt quy trình kỹ thuật Chưa có đầu
tư về các trang thiết bị chuyên dung như: nhiệt kế, máy đo Oxy, dụng cụ đo
độ trong, độ sâu, NH4+,PO43-, H2S, để kiểm tra môi trường nước và các loại
Trang 24vật tư khác như thuốc, hóa chất, CPSH Phần lớn các hộ nuôi tôm ở đây sửdụng thức ăn công nghiệp.
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 25Các yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm và các yếu tố môi trường củanguồn nước cung cấp cho vùng nuôi tôm công nghiệp Hưng Hoà - TP.Vinh -Nghệ An.
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
Các dụng cụ xác định mẫu tại hiện trường: Máy đo pH, máy đo Oxy vànhiệt độ, đĩa đo độ trong Secchi, xô, găng tay
Các dụng cụ và hoá chất để phân tích mẫu tại thực địa
Các dụng cụ thu và bảo quản mẫu: chai nhựa PVC 500ml và 1000ml,chai Winkler, thùng xốp, đá lạnh để chứa và bảo quản mẫu nước…
Ngoài ra còn một số dụng cụ hỗ trợ khác để phục vụ cho việc phân tíchmẫu được tốt
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đánh giá biến động các yếu tố môi trường: To H2O, pH, DO, độ trong,COD, BOD5, H2S, NH4+, PO43-, NO2-, S ‰, Fets, Độ kiềm tại khu nuôitôm xã Hưng Hoà – TP Vinh – Nghệ An
Đánh giá chất lượng nước cung cấp cho vùng nuôi tôm Hưng Hoà –TP.Vinh - Nghệ An
Nghiên cứu đề xuất các biện pháp kỹ thuật cải thiện quy trình nuôi theohướng giảm thiểu ô nhiểm và hạn chế các điều kiện bất lợi trong nuôitôm tại xã Hưng Hoà - TP Vinh - Nghệ An
Trang 26Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Bố trí thí nghiệm
- Sơ đồ bố trí thí nghiệm