phục vụ của các TCTD chính thức xét về cả mạng lưới chi nhánh lẫn mức độ tậptrung các hoạt động huy động tiết kiệm và cho vay thường quá thiên về thành thị.Chính vì thế, các mục tiêu, cơ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG NÔNG THÔN
CỦA HỘ NGHÈO XÃ PHÚ THÀNH
YÊN THÀNH - NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người thực hiện: Võ Thị Sáng Lớp: 47- K3 - KN & PTNT
Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Thúy Vinh
Trang 2Tín dụng rất cần đối với các hộ nông nghiệp nghèo ở nông thôn so với cácnghề khác bởi vì khoảng thời gian giữa lúc sử dụng đầu vào và thu hoạch dài Điều đóliên quan đến cả kinh phí mua đầu vào (giống, thuê làm đất…) lẫn lao động Đối vớicác hộ nghèo yêu cầu vốn lao động đó rất khó tìm thấy từ nguồn tiền tiết kiệm, và cần
Trang 3phải tiếp cận nguồn tín dụng Thêm vào đó tín dụng dùng làm vốn lưu động, tín dụngthúc đẩy đầu tư và làm công cụ để cân bằng tiêu dùng khi có các cú sốc (Ray, 1999).Các khoản đầu tư tăng năng suất ở cấp trang trại, ví dụ chuyển dịch từ cây ngắn ngàysang cây dài ngày, thường phải mất thời gian mà thiếu các khoản vay đầu tư này cóthể không khả thi và từ đó có thể bị bỏ lỡ Sản xuất nông nghiệp rất dễ bị rủi ro vàbiến động theo thời tiết xấu và dịch hại Vào những năm mùa màng đạt dưới mứctrung bình, nông dân thường mua (hoặc phải vay) để cân đối tiêu dùng giữa các mùa
vụ Nếu không có nguồn vay để tiêu dùng vào các mùa màng thua thiệt thì những hộnông nghiệp ở nông thôn sẽ buộc phải dùng đến tài sản là tư liệu sản xuất có thể bánđược để tồn tại ở mức tối thiểu Việc tự bảo hiểm của các hộ đối với những cú sốcnhờ bạn bè và người thân là rất khó do tính chất của cú sốc trong nông nghiệp thường
có xu thế ảnh hưởng đến tất cả các hộ dân trong vùng
Bên cạnh đó, tín dụng là yếu tố đầu vào quan trọng giúp người nghèo vượtkhỏi đói nghèo bằng cách nuôi sống các hoạt động tạo thu nhập Tín dụng khônggiống như những yếu tố đầu vào thông thường như hạt giống hay phân bón Tín dụnggiúp người nghèo nắm quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên, có tiếng nói trọnglượng hơn trong các giao dịch kinh tế cũng như trong các quan hệ xã hội Trong lýthuyết phát triển kinh tế, khả năng tiếp cận tín dụng là một yếu tố quan trọng để “tăngthế lực” cho người nghèo
Kinh nghiệm chung ở các nước đang phát triển cho thấy khu vực chính thứcthường không thực hiện tốt vai trò cung cấp dịch vụ tín dụng cho nông thôn, nhất làđối tượng nghèo Từ góc độ của khu vực chính thức, cho người nghèo vay là rất rủi ro(tỷ lệ vỡ nợ cao), và rất tốn kém (chi phí giao dịch cao) Những thủ tục rắc rối cộngvới những quy định nghiêm ngặt như yêu cầu thế chấp của các TCTD chính thứckhiến cho nhiều đối tượng cần vay vốn ở nông thôn không tiếp cận được với tín dụngchính thức Các TCTD chính thức thường thích giao dịch với khách hàng lớn với nhuvầu tín dụng lớn và thường không chú trọng lắm đến các doanh nghiệp nông thôn quy
mô nhỏ, các hộ gia đình thu nhập thấp, các nông dân không có đất Ngoài ra, phạm vi
Trang 4phục vụ của các TCTD chính thức xét về cả mạng lưới chi nhánh lẫn mức độ tậptrung các hoạt động huy động tiết kiệm và cho vay thường quá thiên về thành thị.Chính vì thế, các mục tiêu, cơ cấu tổ chức và thủ tục cho vay của các tổ chức này hạnchế rất nhiều khả năng tiếp cận tín dụng của người dân nông thôn đặc biệt là đối vớingười nghèo.
Theo các chuyên gia, tăng trưởng tín dụng trong kinh tế nông, lâm nghiệp thờigian qua tuy có tốc độ phát triển nhanh nhưng mới chỉ đáp ứng 40% nhu cầu vay vốncủa các tổ chức kinh tế và hộ gia đình Tỷ lệ hộ nông dân được vay vốn chỉ đạtkhoảng 70% (điều tra mức sống dân cư Việt Nam 2004 - 2005), lại gặp nhiều vướngmắc trong quy định về thế chấp, thu hồi nợ Các ngành này hiện vẫn đang gặp nhiềukhó khăn cũng như hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu, năng suất và chất lượng tăngtrưởng
Phú Thành là xã thuần nông thuộc huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An Trongnhững năm qua sản xuất nông nghiệp đã thu được những thành tựu to lớn góp phầnvào sự tăng trưởng chung của huyện cũng như của tỉnh Tuy nhiên đời sống của nhândân trong xã vẫn đang gặp nhiều khó khăn, toàn xã có 154 hộ nghèo chiếm 8,6% số
hộ trong xã (năm 2009) Do đó, để góp phần XĐGN phải mở rộng đầu tư vốn chokinh tế hộ để tận dụng khai thác các tiềm năng sẵn có về đất đai, mặt nước, lao động,tài nguyên làm ra nhiều sản phẩm cho xã hội, cải thiện đời sống người dân Tuy nhiênthực tế việc mở rộng cho vay vốn, tiếp cận tín dụng đối với hộ nghèo ngày càng khókhăn do món vay nhỏ, chi phí nghiệp vụ cao, thời hạn vay ngắn hoặc vay phải có tàisản thế chấp, tín chấp… Bởi vậy mở rộng tín dụng, góp phần xoá đói giảm nghèophải kèm với việc nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của người dân nói chung và
người nghèo nói riêng Với ý nghĩa đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khả
năng tiếp cận tín dụng nông thôn của hộ nghèo xã Phú Thành huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trang 5Đánh giá khả năng tiếp cận tín dụng nông thôn của hộ nghèo xã Phú Thànhhuyện Yên Thành tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất một số giải pháp tăng khả năng tiếpcận tín dụng của hộ nghèo trong xã.
Hay: “Tín dụng là phạm trù kinh tế quan trọng của lịch sử gắn liền với sự rađời của nền sản xuất hàng hoá Nó phản ánh quan hệ giữa chủ thể sở hữu và các chủthể sử dụng đối với các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế trên nguyên tắc thoả
Trang 6thuận giữa hai chủ thể và kỳ hạn hoàn trả cả vốn lẫn lời sau một thời gian nhất định”.[15]
Như vậy, với hai quan điểm trên đều cho rằng tín dụng đều gắn liền với nềnsản xuất hàng hoá
Theo nhà kinh tế pháp, Louis Baudin đã khẳng định tín dụng như là “một sựtrao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”
Theo thuật ngữ ngân hàng quốc tế, tín dụng được định nghĩa như sau: “Cấuthành một nghiệp vụ tín dụng bất cứ một động tác nào, qua đó một người đưa hoặchứa đưa vốn cho một người khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho người này nhưđảm bảo, bảo chứng hay bảo lãnh mà có thu tiền” [16]
Tóm lại tín dụng không chỉ là một hình thức vận động của tiền tệ (vốn vay),bên cạnh đó còn là một quan hệ xã hội, trước hết dựa vào lòng tin Khi một TCTDphát ra một khoản tín dụng cho khách hàng, trước hết là họ tin tưởng khách hàng cókhả năng trả món nợ đó Tín dụng từ xa xưa dựa trên lòng tin là chủ yếu, ngày nay nóđược pháp luật bảo trợ Song tín dụng không phản ánh tất cả các mối quan hệ xã hội,
mà chỉ là những quan hệ xã hội biểu hiện các mối liên hệ kinh tế Tín dụng biểu hiệncác mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyêntắc hoàn trả Cơ sở vật chất tín dụng là tiền tệ và hàng hoá
1.1.1.2 Đặc điểm tín dụng
Đặc điểm 1: Phân phối tín dụng mang tính hoàn trả
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của tín dụng Khi hoạt động tín dụng nảy sinh,làm xuất hiện sự vận động độc lập tương đối giữa quyền sở hữu và quyền sử dụngvốn vay Nói cách khác, quan hệ tín dụng không bao hàm sự vận động quyền sở hữuvốn vay, điều này quyết định tính hoàn trả của tín dụng Khi người sở hữu vốn vay(người cho vay) chuyển vốn vay cho người đi vay, người đi vay không được quyền sởhữu vốn mà chỉ được quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định sau đó phảihoàn trả lại số vốn đó cho người cho vay Vậy khi vốn vay được chuyển giao cho
Trang 7người đi vay thì kèm theo đó là sự chuyển quyền sử dụng vốn vay chứ không phảichuyển quyền sở hữu vốn vay Nói cách khác quyền sở hữu vốn vay không thay đổi.
Quá trình vận động của tín dụng được thể hiện qua các giai đoạn:
Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay: Giai đạn này (hàng hoá hoặc tiềntệ) chuyển từ người cho vay sang người đi vay kèm theo chuyển quyền sử dụng vốnvay
Sử dụng tín dụng: sau khi nhận được vốn vay, người đi vay được quyền sửdụng vốn vay theo mục đích nhất định để sản xuất hoặc tiêu dùng Tuy nhiên người đivay không có quyền sở hữu vốn vay mà được sử dụng tạm thời trong một thời giannhất định
Hoàn trả tín dụng: Là người đi vay hoàn trả cho người cho vay số vốn ban đầu.Đây là giai đoạn kết thúc vòng tuần hoàn của tín dụng Khi quyền sử dụng và quyền
sở hữu vốn vay cùng thuộc về một chủ thể cho vay thì vốn tín dụng hoàn thành mộtchu kỳ luân chuyển
Thời gian hoàn trả tín dụng (chu kỳ luân chuyển tín dụng) phụ thuộc vào mụcđích và đặc điểm tuần hoàn vốn vay Nếu vốn vay được sử dụng vào đầu tư dài hạn(dự án, cơ sở hạ tầng,…) thì thời gian hoàn trả tín dụng thường dài và ngược lại
Đặc điểm 2: Trong hoạt động tín dụng có sự vận động đặc biệt của giá cảVốn là một loại hàng hoá có giá trị và giá trị sử dụng, được mua bán trên thịtrường vốn Nhưng khác với hàng hoá thông thường, giá cả phản ánh và xoay quanhgiá trị của hàng hoá, còn giá cả của vốn tín dụng - lãi suất - thì phản ánh giá trị sửdụng của vốn trong khoảng thời gian nhất định Bởi vậy, giá cả của vốn tín dụng đượccoi là giá đặc biệt Mặc dù vậy, giống như các hàng hoá khác, nhu cầu vốn tín dụngcũng biến động theo sự phát triển kinh tế Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu tín dụngtăng lên và ngược lại, khi nền kinh tế trì trệ, kém phát triển thì nhu cầu tín dụng giảmxuống Giá cả của vốn tín dụng trong nền kinh tế thị trường cũng do quy luật cungcầu tác động và được quyết định khi người vay và người cho vay thoả thuận được vớinhau
Trang 81.1.1.3 Bản chất tín dụng
Khi nói về bản chất tín dụng, Các Mác đã viết như sau: “Tiền chẳng qua chỉrời khỏi tay người sở hữu trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tayngười sở hữu sang nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền không phải được bỏ ra để thanhtoán, cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với mộtđiều kiện là nó sẽ quay trở về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định” [16]
Đồng thời Các Mác cũng chỉ rõ yêu cầu của việc tiền quay trở về điểm xuấtphát phải là “vẫn giữ nguyên vẹn giá trị của nó đồng thời phải lớn thêm trong quátrình vận động”
Cùng với sự phát triển của thị trường hàng hóa là sự phát triển của thị trườngvốn năng động và đa dạng Quá trình hình thành và phát triển của tín dụng điều gắnliền với một điều kiện KT – XH nhất định, chúng bổ sung cho nhau và có thể phủnhận nhau trong tiến trình phát triển
Tóm lại bản chất của tín dụng có thể được diễn đạt theo nhiều cách khác nhaunhưng đều đề cập đến mối quan hệ, một bên là người cho vay một bên là người đivay Trong mối quan hệ ấy, tiền hoặc hàng hóa chỉ chuyển quyền sử dụng chứ khôngchuyển quyền sở hữu và đều dựa trên nguyên tắc hoàn trả có lãi
1.1.1.4 Chức năng và vai trò của tín dụng
* Chức năng của tín dụng
Tập trung và phân phối lại các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh
tế thông qua hai quá trình huy động và cho vay nhằm sử dụng vốn có hiệu quả giúpcho sự tăng trưởng kinh tế - xã hội.[11]
Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông xã hội: Khi sử dụng tín dụng người ta
có thể thay tiền mặt bằng các phương tiện tín dụng Từ đó nó làm giảm lượng tiền mặttrong lưu thông nên tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt
Phản ánh và kiểm soát hoạt động kinh tế: Chức năng này phát huy tác dụngphụ thuộc vào sự phát triển của hai chức năng trên, cụ thể là: Thông qua kế hoạch huyđộng và cho vay của ngân hàng, sẻ phản ánh được mức độ phát triển của nền kinh tế
Trang 9về các mặt, đồng thời qua nghiệp vụ cho vay, ngân hàng có điều kiện nhìn tổng quátvào cấu trúc tài chính của từng đơn vị cho vay Từ đó, phát hiện kịp thời nhữngtrường hợp vi phạm chế độ quản lý kinh tế của Nhà nước.
* Vai trò của tín dụng
● Vai trò của tín dụng trong các ngành nói chung
Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển: Trong quá trình sản xuất kinhdoanh để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp phải đồng thờitồn tại ở cả ba giai đoạn: dự trữ - sản xuất - kinh doanh Hiện tượng thừa, thiếu vốntạm thời luôn xảy ra tại các doanh nghiệp Từ đó, tín dụng góp phần điều tiết cácnguồn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất – kinh doanh không bị gián đoạn
Với mục tiêu mở rộng sản xuất đối với các tổ chức kinh tế, xã hội thì yêu cầu
về nguồn vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra Bởi lẽ để đẩynhanh tiến độ phát triển sản xuất không chỉ trông chờ vào vốn tự có mà phải biết tậndụng những dòng vốn khác trong xã hội Từ đó, tín dụng với tư cách là nơi tập trungđại bộ phận vốn nhàn rỗi sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tưphát triển
Ngoài ra, tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư Nó là động lực kíchthích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển.qua đó, cho thấy vốn tín dụng luôn chiếm vị trí đáng kể trong kết cấu vốn cố định vàvốn lưu động của doanh nghiệp Tín dụng là nguồn trợ thủ đắc lực cho các đơn vị sảnxuất kinh doanh, là người bạn trong tiến trình sản xuất kinh tế
Tín dụng là công cụ để tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngànhmũi nhọn: Trong điều kiện nước ta, nông nghiệp là ngành sản xuất đáp ứng nhu cầucần thiết cho xã hội đang trong quá trình công nghiệp hoá và ngành chịu tác độngnhiều nhất của điều kiện thời tiết Vì vậy, trong giai đoạn trước mắt, Nhà nước phảiđầu tư tập trung phát triển nông nghiệp để giải quyết nhu cầu tối thiểu của xã hộiđồng thời phát triển các ngành kinh tế khác Mặt khác, tín dụng ưu tiên và tập trungvốn cho các ngành kinh tế mũi nhọn có tính chất quyết định trong nền kinh tế để tạo
Trang 10ra các bước nhảy vọt, đồng thời qua cơ chế và lãi suất tín dụng thích hợp đã đóng vaitrò khuyến khích và hỗ trợ các ngành kinh tế kém phát triển.
Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, giá cả: Với chức năng tập trung, tận dụngcác nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín dụng đã trực tiếp giảm khối lượng tiền mặttrong lưu thông Trong điều kiện nền kinh tế bị lạm phát thì tín dụng là một trongnhững công cụ hữu hiệu góp phần giảm lạm phát Trong cơ chế thị trường, một chínhsách xác định tiền cung ứng cho nền kinh tế nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tếcao, tỷ lệ lạm phát, giá cả, lãi suất ở mức vừa phải có thể chấp nhận được, được ngânhàng Trung Ương thực thi thông qua hàng loạt các công cụ như: chính sách chiếtkhấu, dự trữ bắt buộc… và như vậy tín dụng được nhà nước sử dụng nhằm góp phần
ổn định tiền tệ, giá cả…
Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm, ổn định trật tự xãhội Nền kinh tế phát triển trong một môi trường ổn định về tiền tệ là điều kiện nângcao đời sống của các thành viên trong xã hội Từ đó, rút ngắn chênh lệch về thu nhập,mức sống giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, góp phần thay đổi cấu trúc xã hội Sự
đa dạng các hình thức cho vay, các loại hình thức tín dụng đã góp phần đáng kể trongviệc đáp ứng nhu cầu vốn cho người dân, để cải thiện đời sống, tạo công ăn việc làm ,
ổn định xã hội như quỹ xoá đói giảm nghèo
Đối với những vùng đất nghèo, khó khăn và ít tiềm năng, thu nhập chính từsản xuất nông nghiệp thấp, thiếu vốn sản xuất, nguồn tích luỹ chưa có, việc thực hiệnchủ trương XĐGN của Đảng và Nhà nước thực sự gặp nhiều khó khăn Hoạt động tíndụng trong nông nghiệp nông thôn chính là một giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy pháttriển sản xuất, tăng thu nhập cho dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệpnông thôn… Thông qua việc cung cấp vốn tín dụng, người nông dân được bổ sungthêm nguồn vốn để đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi cơ cấu cây trồng vậtnuôi theo hướng có lợi hơn, có điều kiện để phát triển kinh tế gia đình tốt hơn
Tín dụng tạo điều kiện phát triển quan hệ kinh tế với nước ngoài Trong nềnkinh tế mở hiện nay, sự phát triển của một nước luôn gắn liền với thị trường thế giới,
Trang 11tín dụng liên kết các nước với nhau, và đóng vai trò quan trọng trong mở rộng xuấtkhẩu hàng hoá, đồng thời nhờ vốn tín dụng bên ngoài để CNH – HĐH đất nước.[11]
● Vai trò của tín dụng trong sản xuất nông nghiệp
Tín dụng góp phần nâng cao đời sống của người dân và thực hiện các chínhsách xã hội khác của Nhà nước.[12]
Hiện nay, đại bộ phận nông dân đều là những người nghèo, có mức thu nhậpthấp Họ không đủ vốn để mua cây, con, giống, phân bón, vật tư sản xuất Vì vậynăng suất cây trồng, vật nuôi thấp kéo theo thu nhập hộ gia đình thấp Do đó, phầntích luỹ, tiết kiệm của họ hầu như không có hoặc không đáng kể Chính vì nguồn tiếtkiệm quá ít nên mức đầu tư cho sản xuất thấp Vòng luẩn quẩn đó sẽ kéo dài mãi, nếukhông có “cú hích ” từ bên ngoài tác động vào
Thông qua các ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay đối với ngườinghèo và các đối tượng chính sách, tín dụng đã đóng vai trò quan trọng trong việcthực hiện các chính sách việc làm, dân số, y tế, giáo dục, các chương trình XĐGNđảm bảo công bằng xã hội
Tín dụng góp phần tạo ra và duy trì quy mô kinh doanh phù hợp
Trong hầu hết các cơ sở sản xuất nông nghiệp luôn tồn tại sự lệch pha giữa nhucầu và khả năng về vốn Tín dụng ra đời như một tất yếu khách quan để giải quyết sựlệch pha này Từ nguồn vốn tín dụng, các cơ sở sản xuất nông nghiệp sẽ mua đượcđầy đủ các yếu tố đầu vào còn thiếu để thực hiện các hoạt động sản xuất của mình,đồng thời duy trì các hoạt động đó một cách liên tục
Tín dụng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, khai thác tốt nguồnlực địa phương
Tính chất thời vụ thể hiện rất rõ nét trong hoạt động sản xuất kinh doanh nôngnghiệp Nguồn vốn từ các khoản tín dụng sẽ giúp các cơ sở sản xuất nông nghiệp bùđắp chi phí ở những thời kỳ chưa có thu nhập, làm cho quá trình sản xuất được liêntục, tự chủ trong các cơ sở sản xuất kinh doanh cũng được mở rộng Ngoài việc bùđắp các khoản thiếu hụt, vốn tín dụng còn giúp người sản xuất mua sắm máy móc, mở
Trang 12rộng quy mô, đầu tư thâm canh để nâng cao chất lượng, khối lượng sản phẩm, tiếtkiệm sức lao động đem lại thu nhập cao hơn…
Tín dụng góp phần thực hiện điều chỉnh kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, yêu cầu về hàng hoá của khách hàngthường xuyên có sự biến đổi Chính những thay đổi của thị trường buộc các nhà sảnxuất phải có sự điều chỉnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình Vớinguồn tín dụng, họ có thể đầu tư mua giống mới để có sản phẩm chất lượng cao hơn,hoặc đầu tư dây chuyền sản xuất mới tạo ra nhiều loại sản phẩm, nhiều mẫu mã hấpdẫn người mua
Tín dụng góp phần giải quyết những biến động và hạn chế rủi ro trong sản xuấtkinh doanh
Những biến động về giá cả của các yếu tố đầu vào thường tác động rất mạnhđến người sản xuất Lúc này các khoản tín dụng sẽ giúp họ khắc phục khó khăn vềvốn, đảm bảo được hoạt động sản xuất theo dự định Hơn thế, các cơ sở sản xuất còn
có thể sử dụng vốn vay để mua một số yếu tố đầu vào dự trữ cho sản xuất
Ngoài những ảnh hưởng về giá, sản xuất nông nghiệp cón chịu tác động rất lớncủa điều kiện tự nhiên như thời tiết, dịch bệnh… Tín dụng được coi là yếu tố ngănngừa những bất lợi trong kinh doanh, chống lại hoặc hạn chế những rủi ro có thể xảyra.[6]
Như vậy, ta thấy rằng, vai trò của tín dụng trong nền kinh tế hiện nay đặc biệtquan trọng Tín dụng là hoạt động tất yếu trong nền kinh tế hàng hoá, với các chủ thểkinh tế, quan hệ tín dụng liên quan mật thiết với quá trình tuần hoàn và chu chuyểnvốn Trong quá trình tái sản xuất xã hội, tại mỗi thời điểm thường xuyên xảy ra tìnhtrạng có những chủ thể có vốn nhàn rỗi nhưng lại có những chủ thể phát sinh nhu cầuvốn đầu tư… Với các tổ chức xã hội và trong đời sống hàng ngày của các tầng lớpnhân dân cũng diễn ra tình trạng nơi thì có vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng,ngược lại nơi thì cần vốn Trong nền kinh tế hàng hoá, người có vốn tạm thời chưa sửdụng, luôn đặt ra nhu cầu “bảo toàn và sinh lợi đồng vốn” Người cần vốn có nhu cầu
Trang 13“duy trì, mở rộng sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận nhiều hơn hoặc để tổ chức đờisống ” Yêu cầu của người có vốn và người cần vốn được đáp ứng thông qua quan hệtín dụng Vì lẽ đó hơn bao giờ hết vai trò của tín dụng đặc biệt quan trọng.
1.1.2 Nghèo, tín dụng cho người nghèo và vai trò của tín dụng trong việc giảm nghèo ở nông thôn
1.1.2.1 Khái niệm nghèo
Nghèo luôn tồn tại như một tất yếu tự nhiên trong mọi xã hội, cả ở những nơi
mà trình độ phát triển kinh tế đã đạt đến mức độ cao như các nước tư bản phát triển
Ở các nước đang phát triển, đói nghèo là tình trạng khá phổ biến ở nông thôn vớinhững mức độ khác nhau Nghèo là vấn đề KT – XH phức tạp, đa phương diện vàkhông thuần tuý chỉ là vấn đề kinh tế, cho dù thước đo của nó trước hết và chủ yếudựa trên thước đo kinh tế Điều này có nghĩa, nghèo không chỉ phản ánh sự thiếu ăn,thiếu mặc, thiếu phương tiện sản xuất và sinh hoạt… mà còn phản ánh sự thiệt thòitrên bình diện sức khỏe, giáo dục, địa vị xã hội, tiếng nói
Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện: thu nhập hạn chế hoặcthiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khókhăn, Và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhucầu và khó khăn đến những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quátrình ra quyết định Cảm giác bị xỉ nhục, không được người khác tôn trọng…[14]
Tại hội nghị bàn về đói nghèo ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương doESCAP tổ chức tại Băng Kốc tháng 9 năm 1993 đưa ra định nghĩa nghèo như sau:
“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhucầu cơ bản của con người đã được xã hội công nhận tuỳ theo trình độ phát triển KT –
XH và phong tục tập quán của các địa phương”.[13]
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phân dân cư không được hưởng và không
có khả năng thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người (ăn, mặc, ở, nhu cầu vănhoá, y tế, giáo dục và giao tiếp) để duy trì cuộc sống mà những nhu cầu này đã được
Trang 14xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địaphương.
Nghèo tương đối là một tình trạng dân cư sống dưới mức trung bình của cộngđồng xét trên mọi phương diện tại nơi đang xét.[19]
Khái niệm nghèo mà chúng tôi dùng để nghiên cứu tập trung vào nghèo tươngđối và được đo lường bằng mức chuẩn nghèo chung do chính phủ đề ra
Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ngày 8 tháng 7năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006- 2010 thì ở khuvực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng(2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ cóthu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm)trở xuống là hộ nghèo
Như vậy dựa trên khái niệm và chuẩn nghèo này, người nghèo được địnhnghĩa như sau: Người nghèo là những người có thu nhập và chi tiêu không đủ để đảmbảo tiêu dùng và có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng trên phương diệntại nơi đang xét Họ thiếu năng lực tham gia vào đời sống KT – XH của quốc gia, đặcbiệt họ thiếu khả năng tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực của sự phát triển một cách cóhiệu quả
Trang 15Tuy nhiên, có người có tài sản có nghĩa là khả năng bị tổn thương ít nhưng donăng lực thấp kém họ không biết dùng tài sản đó tạo ra thu nhập cho bản thân Vì thế,việc sở hữu tài sản chỉ là một khía cạnh, yếu tố quan trọng là khả năng sử dụng tài sản
đó như thế nào để tạo ra hàng hoá, tạo ra thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống
Trên phương diện xã hội, nghèo phản ánh trình độ thấp, kém phát triển củamột quốc gia, mỗi cá nhân và khả năng tham gia vào các dịch vụ y tế, giáo dục,… củamỗi cá nhân rất hạn hẹp Sức khỏe yếu, năng lực kém, khả năng tiếp cận các dịch vụ
và cảm giác bị tự ti và xã hội không quan tâm cũng phản ánh sự khốn cùng của tài sản
cá nhân
Vì thế, dưới góc độ KT – XH hay chính trị, nghèo là do con người thiếu sự lựachọn và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia Chính khảnăng lựa chọn và năng lực tham gia là hai nhân tố quan trọng quyết định quá trìnhphát triển của mỗi quốc gia, vùng miền, hộ gia đình và cá nhân người lao động
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, ở Việt Nam thị trường và cơ chế thịtrường đã đặt ra những yêu cầu liên quan đến sự phát triển KT – XH mà cá nhânngười lao động phải đáp ứng Chính khả năng đáp ứng đó là khác nhau giữa các cánhân trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên kết quả của nó là hiện tượng phân hoágiàu nghèo trong xã hội
Nền kinh tế thị trường đã mở ra nhiều khả năng cho con người phát triển, cungcấp cho con người nhiều phương án lựa chọn nhưng nó cũng làm cho tình trạng phânhoá giàu nghèo thêm sâu sắc Bộ phận dân cư nghèo đa phần tập trung ở nông thôn,lúc này lại càng khó thâm nhập vào kinh tế thị trường, cũng như khó tiếp cận cácnguồn lực của kinh tế thị trường do năng lực yếu kém không đạt được những yêu cầuđặt ra của nền kinh tế thị trường so với nhóm những người giàu Chính vì thế nghèotrong giai đoạn hiện nay ở nông thôn Việt Nam là nghèo trong tiến trình phát triểnchung của đất nước
Như vậy, bản chất đa phương diện của nghèo đã giúp chúng ta hiểu sâu vềnhững nguyên nhân của nghèo đói Từ đó chỉ ra rằng muốn nâng cao khả năng tiếp
Trang 16cận của người nghèo tới các nguồn lực của thị trường đặc biệt là nguồn lực tín dụng
để giúp giảm nghèo thì vấn đề là phải có một tập hợp toàn diện hơn các giải pháp hỗtrợ và lồng ghép ngoài giải pháp trực tiếp về tín dụng
1.1.2.3 Vai trò của tín dụng trong việc giảm nghèo ở nông thôn
Tín dụng là một lĩnh vực khá rộng, hầu hết các nhà kinh tế điều thừa nhận vaitrò của tín dụng trong nông nghiệp, nông thôn và giảm nghèo đói Họ chỉ ra rằng, mộttrong những chiến lược XĐGN là tăng cường khả năng tiếp cận đối với các nguồnlực, và đặc biệt sử dụng chúng có hiệu quả và đây là cơ hội thuận lợi để có thể hòanhập nhanh chóng vào sự phát triển KT – XH Tín dụng cho người nghèo là một trongnhững nguồn lực căn bản nói trên, giúp người nông thôn có cơ hội tự tạo việc làm vàtăng thu nhập để vượt qua nghèo khó
Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, đặc biệt trong quá trình chuyển đổi đểhòa nhập vào nền kinh tế chung của toàn cầu như Việt Nam và một số nước đang pháttriển, tín dụng được xem là công cụ và là đòn bẩy giúp người nghèo chuyển đổi dầnphương thức sản xuất lạc hậu của mình để giảm nghèo và tăng thu nhập Tuy nhiên,đồng vốn chỉ có ý nghĩa khi người sử dụng nó biết dùng vào việc có sinh lời và dùngnhư thế nào mà thôi Nói cách khác, nguồn lực và cách sử dụng nguồn lực luôn cóquan hệ mật thiết tới sự phát triển kinh tế hay sự phát triển không thể thiếu được cũngnhư cách sử dụng sao cho phù hợp và có hiệu quả Vì vậy, vai trò của tín dụng trongphát triển nông thôn và giảm nghèo ở nông thôn được thể hiện như sau:
- Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Nó cung cấpnguồn để mua các vật tư, máy móc thiết bị cần thiết cho sản xuất và các đầu vào khác
để nâng cao năng suất lao động Mặt khác, nó là một trong những điều kiện để đổimới thiết bị công nghệ cũng như làm gia tăng sự tiếp cận công nghệ mới và tiến bộ
KH – KT đối với nông dân nói chung và những người nghèo nói riêng Từ đó từngbước đưa sản xuất nông nghiệp sang sản xuất lớn với các sản phẩm không nhữngphong phú và đa dạng mà còn chứa đựng nhiều chất dinh dưỡng để từ đó thu nhậpcủa người dân được cải thiện góp phần XĐGN ở nông thôn
Trang 17- Vốn giúp người nghèo mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ sảnphẩm.
- Vốn tạo cơ hội cho việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong sản xuất nôngnghiệp để từ đó tăng thu nhập cho nông dân trong đó có người nghèo
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khả năng tiếp cận tín dụng nông thôn của người nghèo ở một số nước trên thế giới.
1.2.1.1 Ngân hàng Grameen ở Bangladesh
Ngân hàng Grameen (GB) là định chế tài chính nổi tiếng nhất thế giới về tíndụng nông thôn Sự thành công trong dịch vụ tín dụng nông thôn, đặc biệt là đối vớingười nghèo của GB chủ yếu dựa vào mô hình tín dụng theo nhóm với những quyđịnh rõ ràng, minh bạch và ràng buộc, tự kiểm soát lẫn nhau GB có mạng lưới chinhánh rộng khắp đến tận cấp cơ sở, mỗi chi nhánh phục vụ từ 15 đến 20 làng
Đối tượng phục vụ là các gia đình có chưa đến 0,2 ha đất Để vay được tíndụng, người trong những gia đình đủ tiêu chuẩn sẽ lập nhóm gồm năm người có hoàncảnh kinh tế và xã hội gần giống nhau Mỗi nhóm bầu một nhóm trưởng và một thư
ký để chủ trì cuộc họp hàng tuần Sau khi nhóm được thành lập, một nhân viên ngânhàng sẽ đến thăm gia đình và kiểm tra tư cách của mỗi thành viên để lấy thông tin vềtài sản, thu nhập
Khoảng năm hoặc sáu nhóm sẽ lập nên một trung tâm trong cùng địa phương
Từ các trưởng nhóm sẽ bầu ra trưởng các trung tâm, là người chịu trách nhiệm giúpcác thành viên tìm hiểu về kỷ cương của ngân hàng, và chủ trì cuộc họp hàng tuần.Tất cả các thành viên sẽ dự một khóa hướng dẫn kéo dài một tuần, mỗi ngày hai giờ.Các nhân viên ngân hàng sẽ giải thích quy định của Grameen, quyền và nghĩa vụ củathành viên Sau khi kết thúc khóa học và nếu đạt yêu cầu, mỗi người được cấp giấychứng nhận là thành viên chính thức Trước khi đủ tiêu chuẩn vay tiền, mọi thànhviên phải chứng tỏ tính thành thực và tính đoàn kết bằng cách tham dự tất cả các buổihọp nhóm trong ba tuần kế tiếp Trong thời gian này, nhân viên ngân hàng tiếp tục