Nói một cách khác thông qua phân môn Tập đọc, học sinh Tiểu học cóthể cảm thụ được cái hay, cái đẹp, những giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật củanhững tác phẩm thơ, văn ở bài tập đọc..
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa giáo dục -*** -
Phạm thị yến
Hớng dẫn học sinh lớp 4,5 cảm thụ thơ
thông qua phân môn Tập đọc
Khoá luận tốt nghiệp đại học
ngành giáo dục tiểu học
Vinh – 2011
Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục
Trang 2
-*** -Hớng dẫn học sinh lớp 4,5 cảm thụ thơ
thông qua phân môn Tập đọc
Khoá luận tốt nghiệp đại học
ngành giáo dục tiểu học
Giáo viên hớng dẫn: Ts Chu thị hà thanh
Sinh viên thực hiện: phạm thị yến
Sinh viên lớp: 48A1 – Tiểu học
Vinh – 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, vì đây là đề tài mới mẻ lại ít kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học nên em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ và quan tâm để hoàn thành đề tài.
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm Khoa Giáo Dục, các thầy cô giáo trong Khoa cùng như toàn thể thầy cô ở các khoa dạy các môn đại cương đã nhiệt tình dạy dỗ, tạo điều kiện cho em được học tập tốt trong suốt khóa học.
Và đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn khoa họcTS.Chu Thị Hà Thanh đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Nhân đây, cho em gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè em đã, động viên và tạo điều kiện để em hoàn thành tốt đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Phạm Thị Yến
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 0
MỤC LỤC 0
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc khóa luận 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.1.2 Tác phẩm văn học và sự cảm thụ tác phẩm văn học của học sinh Tiểu học 6
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1 Thực trạng nhận thức về vai trò của cảm thụ thơ trong quá trình dạy học Tập đọc của giáo viên Tiểu học 17
1.2.2 Thực trạng hướng dẫn học sinh cảm thụ thơ trong nhà trường Tiểu học 18
1.2.3 Thực trạng cảm thụ thơ của học sinh lớp 4,5 20
1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng 22
1.2.5 Khảo sát sách giáo khoa 23
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2:27 HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 4,5 CẢM THỤ THƠ THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC 27
2.1 Yêu cầu cảm thụ văn học đối với học sinh lớp 4,5 27
2.2 Hướng dẫn học sinh cảm thụ bài thơ qua hệ thống bài tập đọc hiểu 31
2.2.1 Mối quan hệ giữa đọc hiểu và cảm thụ thơ 31
Trang 52.2.2 Bài tập tìm hiểu tác dụng cách dùng từ đặt câu sinh động 33
2.2.3 Bài tập phát hiện hình ảnh, chi tiết có tác dụng gợi tả 36
2.3 Hướng dẫn học sinh cảm thụ thơ thông qua hình thức đọc diễn cảm 47
2.3.1 Hướng dẫn học sinh đọc đúng tốc độ 48
2.3.2 Hướng dẫn học sinh đọc đúng ngữ điệu 50
2.3.3 Hướng dẫn học sinh ngắt giọng biểu cảm 53
Tiểu kết chương 2 59
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60
3.1 Mục đích của dạy học thử nghiệm 60
3.2 Nhiệm vụ dạy học thử nghiệm 60
3.3 Nội dung thử nghiệm 60
3.4 Cách thức thử nghiệm 61
3.5 Phân tích đánh giá kết quả 64
3.6 Những kết luận rút từ dạy học thử nghiệm 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 0
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước không ngừng đặt lên vaingành giáo dục yêu cầu về một nguồn nhân lực có bản lĩnh, có năng lực, chủđộng, sáng tạo, dám nghĩ, giám làm thích ứng với mọi yêu cầu của thực tiễnluôn phát triển Điều đó đòi hỏi ngành giáo dục phải thay đổi nội dung vàphương pháp dạy học một cách hợp lý Trong Luật giáo dục, khoản 2, Điều
28 đã ghi: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh [20,23] Để thực hiện được mục tiêu này, chúng ta phải bắt
đầu từ bậc Tiểu học Vì đây được coi là bậc học nền tảng, tạo ra những cơ sởban đầu cho sự phát triển nhiều mặt và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, nhâncách… thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để các em tiếp tục học ở những bậchọc cao hơn
Cùng với những môn học khác môn Tiếng Việt trong nhà trường Tiểuhọc cũng có những đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học một cáchsâu sắc và toàn diện nhằm nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt, đáp ứngyêu cầu đổi mới trong phạm vi môn học của mình Tập đọc là một trong 7phân môn của chương trình Tiếng Việt ở bậc tiểu học Đây là phân môn có vịtrí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển
kỹ năng quan trọng hàng đầu cho trẻ Tiểu học Mục đích của việc đọc là phảihiểu những điều đã đọc được, kể cả những điều người viết muốn nói nhưngkhông trực tiếp thể hiện qua câu chữ cụ thể của văn bản Chỉ khi nào viêc đọcđươc rèn luyện, phát triển thành năng lực đọc thì các em mới có thể nắm ngônngữ như một công cụ để tư duy Khi đó khả năng tiếp nhận của các em mớiđược nâng cao dần Các em biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống và các mối quan
hệ xung quanh mình Đặc biệt, khi đọc các tác phẩm thơ các em không chỉ
Trang 7được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động về tình cảm, nảy nở nhữngước mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo Chính nhờbiết cách đọc và hiểu văn bản mà học sinh dần dần có khả năng đọc rộng để
tự học, tự bổ sung kiến thức mà cuộc sống của họ đòi hỏi và từ đó hình thànhthói quen, hứng thú với việc đọc việc tự học thường xuyên
Nói một cách khác thông qua phân môn Tập đọc, học sinh Tiểu học cóthể cảm thụ được cái hay, cái đẹp, những giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật củanhững tác phẩm thơ, văn ở bài tập đọc Tập đọc có vai trò quan trọng trongviệc cảm thụ thơ, hình thành và bồi dưỡng tình cảm, rung động và năng lựccảm thụ thơ cho các em Thế nhưng, việc dạy cảm thụ thơ trong phân môn Tậpđọc ở lớp 4, 5 chưa được chú trọng vì nhiều lí do: thời lượng một tiết tập đọcngắn, giáo viên chỉ tập trung rèn các em đọc trôi chảy và tìm hiểu nội dung bàiđọc Mặt khác, giáo viên lớp 4, 5 dạy quá nhiều môn nên thiếu đầu tư cho việc
cảm thụ bài tập đọc mà bản thân sắp dạy Học sinh hiện nay thích xem truyện
tranh hơn đọc các sách văn học thiếu nhi nên các em thiếu cái nền cơ bản khicảm nhận cái hay, cái đẹp của bài tập đọc Chính vì thế, tiết tập đọc trở nênkhô khan, nhàm chán và học sinh không phát huy được khả năng cảm thụ củabản thân cũng như sẽ gặp khó khăn khi học tìm hiểu văn bản ở bậc THCS
Xuất phát từ những lý do đó chúng tôi chọn đề tài: “ Hướng dẫn học sinh lớp
4,5 cảm thụ thơ thông qua phân môn Tập đọc” với mong muốn đưa ra được
những nội dung cụ thể giúp học sinh lớp 4,5 cảm thụ tốt tác phẩm thơ được học
Trang 83.2 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung hướng dẫn học sinh lớp 4,5 cảm thụ thơ thông qua dạy Tập đọc
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đưa ra được một số nội dung hướng dẫn học sinh lớp 4,5 cảm thụthơ dựa vào đặc trưng của phân môn Tập đọc và đặc điểm nhận thức của họcsinh thì có thể nâng cao được năng lực cảm thụ thơ nói riêng, văn học nóichung cho học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn có liên quan tới đề tài
- Đề xuất một số nội dung hướng dẫn học sinh lớp 4,5 cảm thụ thơthông qua phân môn Tập đọc
Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài
6.3 Phương pháp điều tra.
Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn và phát hiện ra một số nội dung hướngdẫn học sinh cảm thụ thơ có hiệu quả
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Nhằm kiểm tra hiệu quả của các biện pháp đề xuất
7 Cấu trúc khóa luận
Khóa luận của chúng tôi gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Một số nội dung hướng dẫn học sinh lớp 4,5 cảm thụ thơ thông
qua phân môn tập đọc
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 91 Lê Phương Nga “ Dạy học Tập đọc ở Tiểu học” (NXB Giáo
dục-2002)
Tác giả đi sâu vào phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy tập đọc,
đề ra các phương pháp và hình thức dạy học tích cực, hiệu quả nhằm nâng caochất lượng dạy học phân môn Tập Đọc
2 Hoàng Hòa Bình “ Luyện tập cảm thụ văn học” (NXBGD-2001)
Cuốn sách gồm 2 phần:
Phần đầu: nêu lên một số vấn đề chung về cảm thụvăn học, đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực cảm thụ văn họccho học sinh Tiểu học
Phần còn lại tác giả đưa ra hệ thống các bài tập và đáp án gợi ý giúphọc sinh luyện tập nhằm nâng cao năng lực cảm thụ văn học của mình
3 Nguyễn Trọng Hoàn “Rèn kỹ năng cảm thụ thơ văn cho học sinh
Tiểu học” (NXB Hà Nội-2002)
Trang 10- Phần hai: Bài tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học
- Phần ba:Gợi ý giải đáp và tham khảo
5 Tạ Đức Hiền-TS.Nguyễn Việt Nga-TS.Phạm Minh Tú, “Đọc và cảm
thụ những bài thơ hay trong sách Tiếng Việt Tiểu học” (NXB Tổng Hợp
TP.Hồ Chí Minh-2009)
6 Bài viết “ Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Tiểuhọc, các dạng bài tập và những vấn đề cần lưu ý” của Lê Phương Nga, in trêntạp chí giáo dục Tiểu học số 3/1998 đa đưa ra một số dạng bài tập cơ bảnnhằm nâng cao năng lực cảm thụ cho học sinh tiểu học
Ngoài ra một số khóa luận của các anh chị khóa trước cũng đề cập đếnvấn đề này
Qua việc tìm hiểu các tài liệu trên đây, chúng tôi nhận thấy: Các tác giả
đề cập tới việc nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Tiểu họcdưới nhiều khía cạnh khác nhau nhưng đều thống nhất ở việc khẳng định vaitrò của nâng cao năng lực cảm thụ thơ văn cho các em thông qua một số biệnpháp cụ thể nhất là thông qua phân môn Tập đọc Như vậy nâng cao năng lựccảm thụ văn học không phải là vấn đề mới nhưng hướng dẫn học sinh cảm thụ
Trang 11thơ là vấn đề mới và chưa có tài liệu nào đi sâu nghiên cứu Chính vì vậy, trên
cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu có trước chúng tôi xin đề xuất một
số nội dung hướng dẫn học sinh cảm thụ thơ cho học sinh lớp 4,5 thông quaphân môn Tập đọc
1.1.2 Tác phẩm văn học và sự cảm thụ tác phẩm văn học của học sinh Tiểu học
1.1.2.1 Tác phẩm văn học
Tác phẩm văn học là những sáng tác cụ thể, hoàn chỉnh và có ý nghĩa
Nó là những công trình nghệ thuật ngôn từ do cá nhân hoặc tập thể sáng tạo,nhằm thể hiện cuộc sống con người, biểu hiện tâm tư tình cảm, thái độ củachủ thể trước thực tại
Các tác phẩm văn học có dung lượng khác nhau và có thể chia thành:Tác phẩm tự sự và tác phẩm trữ tình Mỗi tác phẩm văn học là một hệ thốngphức tạp bao gồm nhiều yếu tố như chủ đề, tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, hìnhtượng Ở những tác phẩm có giá trị, sự kết hợp hài hòa và tác động qua lạigiữa các yếu tố ấy khiến tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệ thuật mangtính thống nhất, hữu cơ, biện chứng giữa nội dung tác phẩm và hình thứcnghệ thuật
Nội dung của tác phẩm là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố chủquan và khách quan, giữa tư tưởng, tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm vàotác phẩm với những sự vật, sự việc hiện tượng khái quát, tái hiện trong tácphẩm đó
Con người với những tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mình là đốitượng chủ yếu của các tác phẩm văn học Dù nhà văn quan tâm miêu tả một
sự việc hiện tượng nào của cuộc sống đi chăng nữa thì điều nhà văn muốn tìmhiểu, điều làm cho họ ngạc nhiên xúc động và muốn nói lên để người kháccũng quan tâm, ngạc nhiên xúc động như mình, không phải là bản thân các sựvật hiện tượng đó mà là mối quan hệ của chúng với con người, là cách nhìn,
sự rung động của con nhười trước cuộc sống Vì vậy, mỗi đoạn văn, mỗi câuchuyện, mỗi bài thơ có nói về các con vật, các loại cây chung quy lại cũng
Trang 12muốn nói về con người Xuân Quỳnh trong bài chuyện “ Chuyện cổ tích vềloài người muốn nói với chúng ta về điều gì? Có phải tác giả chỉ muốn kể vớichúng ta sự ra đời của loài người thông qua những hình ảnh, lời văn vui tươiđặc biệt, qua suy nghĩ chủ quan của mình? Thật ra nội dung của bài thơ nàykhông chỉ dừng lại ở đó mà thông qua những cặp từ ngữ có vẻ vô lý nhưphấn- bảng, bố-mẹ, tác giả muốn làm nổi bật lên sự xuất hiện của trẻ em Trẻ
em được sinh ra đầu tiên trên trái đất tất cả mọi thứ sinh ra để dành cho trẻ
Từ những phân tích trên, ta thấy rằng mục đích cuối cùng của việc dạyđọc các văn bản nghệ thuật không chỉ là việc cho thấy bài văn đã ghi chéphiện thực gì, mà bài văn là kết quả của hoạt động tự nhận thức, tư duy nơi bộc
lộ những tình cảm, thái độ của nhà văn trước hiện thực
Bên cạnh việc miêu tả, phản ánh lại sự vật, hiện tượng, tác phẩm vănhọc còn là nơi nghệ sỹ bày tỏ thái độ chủ quan của mình, nói lên những khátvọng của mình về thế giới, về cuộc sống, là "hình ảnh chủ quan của thế giớikhách quan", là con đẻ tinh thần, sự sáng tạo của nhà văn là bản thông điệp đểnhà văn gửi tâm tình của mình đến bạn đọc Do vậy, khi hướng dẫn học sinhđọc các tác phẩm văn học, giáo viên phải làm cho học sinh hiểu được đằngsau những từ ngữ, hình ảnh là con người với những cảm xúc, tình cảm của tácgiả Điều này sẽ giúp chúng ta tìm hiểu nội dung liên cá nhân của văn bản, giátrị biểu hiện chất trữ tình của văn bản Chúng ta không thể lấy thước đo khoahọc khách quan lạnh lùng, rọi vào văn bản để rút ra nhận xét về những cảmxúc, tình cảm được tác giả gửi gắm trong những hình ảnh chi tiết gợi cảm.Chúng ta không thể quy về phân tích tác phẩm theo cách hiểu đời thường vàdừng lại ở đó, bỏ phí bao nhiêu tìm tòi, sáng tạo của nhà văn, mà để so sánh
và nhận ra giá trị biểu hiện của tác phẩm chúng ta phải dặt mình trong khungcảnh trong thế giới mà thơ đã dựng lên Chỉ có thế chúng ta mới có thể cảmthụ và biết cách dẫn dắt học sinh đến với tác phẩm với tâm tư và tình cảm củatác giả Trong bài "Về ngôi nhà đăng xây" của Đồng Xuân Lan( Tiếng Việt5-Tập ) có đoạn thơ:
Trang 13
"Bầy chim đi ăn về Rót vào ô cửa chưa sơn vài nốt nhạc
Nắng đứng ngủ quên
Trên những bức tường
Làn gió nào về mang hương
Ủ đầy những rãnh tường chưa trát vữa"
Khi hướng dẫn học sinh đọc đoạn thơ này, giáo viên phải lưu ý cho các
em những từ, cụm từ gợi cảm như" rót","đứng ngủ yên","ủ" để qua đó các emthấy được vẻ đẹp, sự gần gũi Sống động của những hình ảnh như nắng, tiếngchim làn gió, làm cho nó hiện lên như những con người thực sự, tạo nên bứctranh lao động sôi nổi của thiên nhiên Qua đó tác giả muốn nói lên cuộc sốngnhộn nhịp, vui vẻ của người dân ta trong xây dụng đất nước, làm cho đất nướcngày càng tiến bộ và văn minh hơn
thể hiện thông qua hình thức nghệ thuật Hình thức là sự biểu hiện , là cáchthể hiện nội dung Hình thức của tác phẩm phải được xây dụng trên cơ sở chấtliệu (ngôn từ), phương tiện nghệ thuật (thể thơ, các thủ pháp nghệ thuật: vívon, đối lập, tương phản, ẩn dụ,so sánh ), cốt truyện nhân vật
Tác phẩm văn học nào cũng có sự thống nhất giữa nội dung và hìnhthức, được thể hiện tập trung ở văn bản nghệ thuật và các lớp ý nghĩa Vănbản nghệ thuật bao gồm văn bản ngôn từ và thế giới hình tượng Muốn hiểumột tác phẩm văn học, người ta phải hiểu văn bản ngôn từ, phân tích thế giớihình tượng và cảm nhận các lớp nội dung ở trong đó
Văn bản ngôn từ là chuỗi lời văn, câu thơ được tổ chức theo cách thứcnhất định Nó có thể là văn vần hay văn xuôi, lời kể xen lời thoại hay chỉ lờithoại Văn bản nào cũng có mở đầu, có đoạn, có chương, kết thúc dựa vàodung lượng của nội dung Văn bản ngôn từ có 2 chức năng cơ bản: Bằng lờivăn, nó dựng lên bức tranh về cuộc sống và con người: Có thời gian, khônggian, con người, cảnh vật, màu sắc…Theo lời văn, hình tượng hiện dần lêntrong trí tưởng tưởng tượng của người đọc Đồng thời, cũng bằng lời văn, văn
Trang 14bản cung cấp một chủ thể cảm nhận nghe nhìn, đánh giá đối với cuộc sống ấy.
Chẳng hạn trong bài “Cao Bằng” Trúc Thông đã vẽ nên những khung cảnh
rất xa xôi, đặc biệt hiểm trở của Cao Bằng “Sau khi….ta lại vượt…., lạivượt….” Cách sử dụng liên tiếp những từ ngữ sau khi…ta lại lại vượt khiến
ta mới nghe đã cảm thấy chuồn chân mỏi gối Nổi bật lên giữa khung cảnh đótác giả đã vẽ nên những người dân nơi đây bằng những từ ngữ, hình ảnh đặcbiệt Khách vừa đến được mời bằng một loại quả rất đặc trưng của Cao Bằngđiều đó nói lên lòng mến khách của người dân nơi đây Sự đôn hậu hiền từdần được hiện lên qua những từ ngữ và hình ảnh so sánh: người trẻ thì “rấtthương, rất thảo”, người già thì “lành như hạt gạo, hiền như suối trong” Tất
cả như dồn nén lại để rồi toát ra vẻ đẹp sáng ngời của người dân nơi đây trong
2 khổ thơ:
"Còn núi non Cao Bằng
Đo làm sao cho hết
Như lòng yêu đất nước
Sâu sắc người Cao Bằng
Đã dâng đến tận cùng
Hết tầng cao Tổ quốc
Lại lặng thầm trong suốt
Như suối khuất rì rào
Đó là tình yêu đất nước sâu sắc của người Cao Bằng cao như núi,không đo đếm được Tình yêu đó như nước đầu nguồn có bao giờ vơi cạn;cũng như tình yêu quê hương quên hương đất nước của người Cao Bằng vừa
“lặng thầm” vừa tiềm tàng, vừa bao la
Học sinh Tiểu học chỉ có thể cảm nhận được hình tượng qua nghĩa của
từ và qua cách diễn đạt Do vậy, văn bản bao giờ cũng cung cấp sẵn những từngữ thể hiện cách hiểu, cách nhìn thường hòa quyện với lời trần thuật, miêu
tả Học sinh phải hiểu rõ văn bản mới thâm nhập được vào mạch văn của tácphẩm và thế giới hình tượng Hơn nữa, lời văn bao giờ cũng là lời của một ai
Trang 15đó biểu hiện ý thức của chủ thể mang một cái nhìn, tình cảm nhất định Chẳnghạn, lời nói của người cha trong câu chuyện “Bó đũa”, thể hiện quan niệm củaông cha ta về sức mạnh của đoàn kết: “ chia lẻ ra thì yếu, hợp lại thì mạnh….
Có đoàn kết thì mới có sức mạnh” Trật tự văn bản cũng quy định cách nhìn.Không ai đọc văn bắt đầu từ câu cuối hoặc giữa bài Chỉ có đọc từ đầu chícuối và liên hệ ngược lại với phần đã đọc thì người ta mới thấy hồi hộp, chờđợi hay cảm thấy bất ngờ thú vị Cũng theo trật tự ấy, người ta mới thấy nhịpđiệu của bài văn, bài thơ
Một yếu tố quan trọng giúp ta hiểu được một tác phẩm văn học nào đóchính là đi sâu phân tích thế giới hình tượng Nó là hệ thống các hình tượngđược dệt nên bởi các chi tiết, tình tiết, quan hệ cho phép ta hình dung được sựhiểu biết và cảm nhận của tác giả đối với thế giới và con người Thế giới nàynói với chúng ta bằng hình ảnh, màu sắc, hành động, tư thế của con người và
sự vật Các hình ảnh nói với ta bằng chính cái ý nghĩa, ý vị vốn có của các sựvật, hiện tượng được miêu tả, do tác giả lựa chọn để diễn đạt ý mình Cũng ví
dụ trên tác giả đã chọn ra những hình ảnh cụ thể để miêu tả và giới thiệu vớichúng ta về một Cao Bằng xa xôi hiển trở bên cạnh đó là con người mếnkhách đôn hậu yêu nước không sao đến hết được Nếu ta thay những từ ngữ,những hình ảnh “ rất thương”, “rất thảo”, “lành như hạt gạo”, “dâng đến tậncùng”, “lặng thầm”… bằng những từ ngữ tương tự thì bài thơ không thể toátlên được điều tác giả muốn nhắn nhủ
Tác phẩm văn học gồm các lớp ý nghĩa sau: Đề tài ( hiện tượng đờisống được thể hiện qua miêu tả), chủ đề ( vấn đề chính mà tác phẩm muốnnêu lên qua một hiện tượng đời sống), cảm hứng (nội dung tình cảm của tácphẩm) quan niệm về thế giới và con người ( nội dung triết lý của tác phẩm),
và sắc điệu thẩm mỹ của tác phẩm ( vẻ đẹp chủ yếu, tương ứng với cảm hứng
và chủ đề của tác phẩm) Tất cả các lớp nội dung này quyện chặt với nhau tạothành tư tưởng của tác phẩm về cuộc sống, về con người
Tác phẩm văn học tồn tại dưới nhiều thể loại khác nhau như : Thơ,truyện, văn vần, văn xuôi, văn miêu tả… trong đó thơ là thể loại được khai
Trang 16thác nhiều nhất trong quá trình nâng cao năng lực cảm thụ cho học sinh bởiThơ là những sáng tác văn học có vần điệu, có đặc điểm ngắn gọn, súc tích,nhiều ý cô đọng Một bài thơ thường mang tính vần giữa câu nọ với câu kia
và tổ hợp của các câu gây ra âm hưởng nhạc tính trong bài Thơ thường dùngnhư một hình thức biểu tả cảm xúc trữ tình, hoặc tình cảm xúc động trướcmột hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, như khi người ta đứng trước mộtphong cảnh ngoạn mục, hoặc đứng trước một thảm cảnh Sự tương tác giữatình cảm con người và hoàn cảnh tạo nên những cảm nghĩ mà người ta muốnbày tỏ với một phong độ chắt lọc, tinh khiết, không rườm rà, song có mứcthông tin cao, đột phát, nhưng cô đọng và chiết khúc Trong thơ luôn có tínhnhạc đó là hình thức làm cho bài thơ dễ được cảm nhận Câu chữ trong thơvăn, hay trong ngôn ngữ, giúp con người tái tạo lại hình ảnh mà nó miêu tả,song âm thanh và vần điệu của các từ lại gây cảm xúc về âm nhạc Sự kết nốikhéo léo giữa hai tính chất này của ngôn ngữ thúc đẩy sự tìm tòi các từ có âmthanh hay, xác thực với tình cảm người viết muốn truyền, đồng thời tìm tòinhững từ mới Tính âm nhạc còn thể hiện trong việc sử dụng các từ diễn tả âmthanh như "rì rào", "vi vút", "ầm ầm", "lanh canh" v.v
Bên cạnh đó thơ còn có tính hội họa hay còn gọi là tính tạo hình, là mộttính chất cơ bản Người làm thơ, trước khi viết thơ, thường rơi vào tình trạng
mà người ta gọi là "cảm hứng" Trong tình trạng này, các hình ảnh thu đượctrong trí nhớ, có thể bao gồm cả các khung cảnh ở bên ngoài quan sát được,liên kết với nhau, tạo nên một thế giới nhỏ bé Hình ảnh có thể rõ đến mứcngười ta gần như cảm thấy có thể động vào những vật thể, ngửi thấy mùi vị,thấy sự chuyển động của vật thể, thấy màu sắc v.v Không chỉ là những hìnhảnh đẹp, tĩnh tại, hình ảnh trong thơ còn động đậy, hoạt bát Người đọc thơvừa hình tượng được vật thể, vừa thấy màu sắc, vừa thấy sự chuyển động củachúng Chính vì lý do này, nhiều khi các vật được miêu tả trong thơ được nhàthơ cho thêm tính "hoạt họa" của nó, hay còn gọi là "nhân cách hóa" Dùngđọng từ cho những vật tưởng là vô tri, vô giác cũng giống như việc thổi sức
Trang 17sống vào trong vật thể, làm nó sống động trong đầu người đọc thơ Chẳng hạn
Trần Đăng Khoa đã viết trong bài “Mặt bão”
Bão đến ầm ầm Như đoàn tàu hỏa Bão đi thong thả Như con bò gầy
Hay trong bài "Góc Hà Nội"
Nắng tháng tư xỏa mặt Che vội vàng nỗi nhớ đã ra hoa.
Thành phố ngủ trong rầm rì tiếng gió Nhà ai quên khép cửa
Giấc ngủ thôi miên cả bến tàu
Đương nhiên khi đọc những câu thơ trên, chúng ta còn thấy tính ẩn dụ,
so sánh hình ảnh Tính tương đương của hình ảnh làm cho người đọc dễ liêntưởng hơn, đặc biệt khi để miêu tả một trạng thái với nhiều chi tiết mà tínhchắt lọc của thơ không cho phép người ta được rườm rà Ví von, ẩn dụ còngây hiệu ứng về các trạng thái tình cảm, chẳng hạn như người ta cảm thấynhững vật vô tri, vô giác, hay những hoàn cảnh tự nhiên bỗng trở nên đángyêu hơn, ngộ nghĩnh hơn, đáng ghét hơn, hay đáng sợ hãi hơn v.v Nhữnghình ảnh ví von ngộ nghĩnh thường thấy trong các bài thơ của thiếu nhi làm,
chẳng hạn mấy câu thơ của Trần Đăng Khoa làm lúc 9 tuổi trong bài Buổi
sáng nhà em:
Ông trời nổi lửa đằng đông
Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay
Chị tre chải tóc bên ao Nàng mây áo trắng ghé vào soi gương Bác nồi đồng hát bùng boong
Bà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà.
Trang 18Vì những đặc tính tiêu biểu đó thể lọai thơ được sử dụng khá nhiềutrong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học Các bài thơ tăng dần về nội dung
và hình thức phù hợp với nhận thức của học sinh Tiểu học Những bài thơđược dùng làm ngữ liệu dạy tập đọc ở lớp 4,5 có nhiều hình ảnh và ý nghĩasâu sắc đó chính là những dòng nước nhỏ dẫn các em tới dòng sông cảm thụvăn học nói chung và thơ nói riêng
Việc tìm hiểu kỹ các đặc điểm của tác phẩm văn học nói chung và thơnói riêng giúp chúng ta có điều kiện thuận lợi trong việc tìm hiểu, phân tíchtác phẩm trong việc hướng dẫn học sinh cảm thụ tác phẩm Từ đó có biệnpháp cụ thể để nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho các em
1.1.2.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4,5 với việc cảm thụ thơ
Trong chương trình dạy học Tập Đọc ở Tiểu Học các văn bản nghệthuật được đưa vào làm ngữ liệu rất phong phú và đa dạng, trong đó thơchiếm một tỷ lệ khá lớn và tăng dần ở khối lớp 4,5 Điều này phù hợp vớinhận thức của trẻ Đặc biệt là lứa tuổi học sinh Tiểu học với khả năng ghinhớ, tưởng tượng của các em rất phong phú, bay bổng Thơ góp phần bồidưỡng tâm hồn trẻ thơ, Tác động trực tiếp tới tâm tư tình cảm của các em.Chính vì vậy chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5 luôn coitrọng nhiệm vụ hướng dẫn và bồi dưỡng năng lực cảm thụ thơ cho các em đặcbiệt ở lớp 4,5
Khi đọc các tác phẩm thơ, việc hiểu nội dung bài thơ chưa đủ mà cònphải cảm nhận được một loại hình lấy ngôn từ làm chất liệu Vì vậy khi dạycho học sinh đọc thơ giáo viên cần phải thực hiện nhiệm vụ kép: Làm cho họcsinh nắm được kỹ năng đọc một văn bản, nắm được nội dung bài đọc, đồngthời phải dạy cho học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, hình tượng vănchương làm nên nội dung bài thơ
Tiếp nhận văn học (cảm thụ văn học nói chung và thơ nói riêng) là hoạtđộng chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm văn học, bắt đầu
từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng, nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho
Trang 19đến sản phẩm sau khi đọc: Cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng tronghoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể…
Thơ là sự phản ánh về cuộc sống tâm hồn của người nghệ sỹ là sự sángtạo mới mẻ mang đậm tính chủ quan của tác giả Từ những sự thật tác giảquan sát được sẽ qua quá trình tưởng tượng sau đó chuyển vào tác phẩm Khicảm thụ thơ bao giờ cũng là những rung động rất riêng, là sự gạn lọc, soi sángriêng, với vốn sống, vốn hiểu biết, sự nhập thân của người đọc để tái tạo hìnhtượng văn học Như vậy ta thấy rằng bản chất tiếp nhận văn thơ là sáng tạo Chúng ta phải thừa nhận rằng, trẻ em rất giàu khả năng sáng tạo sựsáng tạo này rất đặc biệt ở tính hồn nhiên, ngây thơ, ngộ nghĩnh của trẻ Các
em cảm thụ thơ không giống người lớn do một số đặc điểm trong sự phát triểntâm sinh lý như:
Thứ nhất: Chú ý không chủ định chiếm ưu thế trước rồi mới hình
thành chú ý có chủ định Chú ý có chủ định mới hình thành và chưa phát triểnhoàn thiện nên học sinh luôn bị cái bên ngoài chi phối, khó phân biệt được cáibản chất,cơ bản với cái nổi bật,gây chú ý không chủ định.Các em chỉ có thểrung động trước một vài câu thơ hấp dẫn nào đó Hơn nữa, trẻ chưa biết cáchphân phối hợp lý chú ý của mình tới những đối tượng khác nhau trong quátrình hoạt động Cho nên khi nghe bạn đọc một bài thơ và đồng thời mìnhcũng đọc sẽ dẫn tới các trường hợp đọc lẫn lộn, nhanh hơn hoặc chận lại Cókhi trẻ chỉ chú ý đến quá trình đọc mà không hiểu ý nghĩa của điều mà mìnhvừa đọc Còn nếu chú ý đến nội dung thì sẽ đọc chậm lại hoặc đọc sai, làmcho quá trình cảm thụ thơ gặp nhiều khó khăn
Thứ hai: Sự ghi nhớ có chủ định của học sinh chưa hoàn thiện nên các
em thường nhớ những chi tiết, nội dung tiêu biểu của bài thơ Do đó các emchỉ có thể phát hiện ra bề nổi mà tác phẩm đó thể hiện chứ ít khi thấy được ýnghĩa và tinh cảm sâu xa mà tác giả gửi gắm vào đó
Thứ ba: Sự chi phối mạnh mẽ của tình cảm, sự vượt trước của tình
cảm so với quá trình phân tích, tổng hợp thường làm cho các em thờ ơ vớinhững nhân vật ít hành động tức là những nhân vật đầy suy tư Các em
Trang 20thường bỏ qua hay chỉ đọc lướt qua những đoạn bình luận, suy tư triết lý củanhân vật Các em thích những nhân vật hành động kể cả những nhân vật ấyđược miêu tả rất sơ lược Các em thường cảm tính chủ quan gán cho nhân vậtnhững nét tính cách thiếu căn cứ Thiện chí và sự thông cảm làm các em sẵnsàng thấy nhân vật mà mình yêu thích chỉ có những nét tính cách tốt và dễdàng đánh giá cao nhân vật hơn mức có Và ngược lại, sự ác cảm đã làm chocác em thấy nhân vật mình không ưa thích chỉ toàn những nét xấu và gán chonhân vật những lời không đáng phải nhận.
Thứ tư: Sự thiếu hoàn thiện của năng lực phân tích, so sánh tổng hợp,
óc khái quát chưa cao làm cho các em dễ sa vào những chi tiết cụ thể, thiếukhả năng tổng hợp vấn đề
Thứ năm: Các em chưa biết lật đi lật đi lật lại vấn đề Sự khái quát
thường vội vã, thiếu chiều sâu Các em cũng chưa thấy hết mối quan hệ của
sự vật, sự việc Điều này phần nào do kinh nghiệm sống của các em còn hạnchế cùng với đó là sự thiếu tốn về vốn từ khiến các em không thể thể hiện hếtđược điều muốn nói, làm các em giải nghĩa sai
Ví dụ : Các em thường hiểu câu thơ
“Những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ
Những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ”
( Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên sông Đà-TV5 tập 1)
Là tháp khoan cũng biết ngẫm nghĩ, những xe ủi, xe ben cũng sóng vainhau nằm nghỉ như người Thường thì các em chỉ diễn nôm từng câu, từngchữ của bài văn mà không đọc được những khoảng trống trong tác phẩm,chưa hiểu được cách nói văn chương nên chưa thực sự hiểu được nội dung ẩnsau những câu thơ đó Chẳng hạn hình ảnh thơ “ Biển sẽ nằm bỡ ngỡ giữa cao
nguyên”( Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên sông đà-TV5 tập 1) Học sinh chỉ đơn giản giải thích rằng “bỡ ngỡ” là lạ lùng, ngơ ngác chưa quen thuộc Biển xuất hiện giữa cao nguyên là điều lạ lùng chứ chưa hiểu được rằng “bỡ ngỡ” còn
chứa đựng niềm tự hào, ngạc nhiên cao độ của tác giả trước những thành quảlao động của con người Và còn nhiều hình ảnh,chi tiết ngôn từ được các em
Trang 21hiểu theo nghĩa này Tất nhiên, không phải tất cả học hinh đều hiểu đơn giảnnhư vậy nhưng nhìn chung, trẻ em chỉ dễ dàng hiểu được những gì tườngminh, rạch ròi.Các em khó liên kết các sự vật,tình tiết trong bài để xác địnhđược mối quan hệ nguyên nhân- kết quả, bộ phận-tổng thể, trước sau.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần khẳng định rằng sự tiếp nhận văn họcđích thực vẫn diễn ra với các em Như đã đề cập ở trên, trẻ rất giàu khả năngsáng tạo, nên sự tiếp nhận thơ của các em cũng giàu tính sáng tạo Chất lượngcủa những bài tập cảm thụ thơ mà các em làm, đem đến cho chúng ta một kếtluận lạc quan về khả năng sáng tạo của các em
Trong bài Bài ca về trái đất (Tiếng Việt 5-tập 1) khi được hỏi : “Em hiểu 2
câu thơ:
Màu hoa nào cũng quý,cũng thơm!
Màu hoa nào cũng quý,cũng thơm!
muốn nói gì?”
Câu trả lời của các em là: “Mỗi loài hoa đề có vẻ đẹp riêng nhưng loài
hoa nào cũng quý,cũng thơm.Cũng như mọi người trên thế giới dù khác nhau
về màu da,ngôn ngữ nhưng ai cũng đều bình đẳng,đều đáng quý,đáng yêu đáng được trân trọng” hay khi hỏi các em “Trong những cảnh vật được miêu
tả, em thích nhất những cảnh vật nào? Vì sao?”( Bài Trước cổng trời-Tiếng Việt 5-Tập 1) Các em thường trả lời: “ Em thích nhất hình ảnh đứng ở cổng trời ngửa mặt lên có gió thoảng, mây trôi, tưởng tượng như đó là cổng lên trời, cổng dẫn vào khu vườn cổ tích/ Em thích nhất là hình ảnh hiện ra qua màn sương khói huyền ảo: những sắc màu cỏ hoa,con thác réo ngân nga, đàn dê soi đáy suối Những hình ảnh đó gợi cho em cảm giác thanh bình no
ấm hạnh phúc của vùng núi cao….”Do đó, chúng ta cần tôn trọng ý kiến, suynghĩ của các em phải giúp các em có cái nhìn lạc quan với thơ Tuy nhiên,quá trình cảm thụ thơ của trẻ Tiểu học không giống với người lớn, có tính vừasức đòi hỏi có phương pháp riêng, đặc thù trong quá trình dạy tập đọc Việc tổchức cho các em cảm thụ tác phẩm thơ là công việc quan trọng và hết sứckhó khăn Bởi tác phẩm thơ là kết quả của quá trình thai nghén đầy xúc cảm
Trang 22của người nghệ sỹ nố bộc lộ đầy tâm tư, tình cảm, tư tưởng của tác giả Tổchức cho các em cảm thụ thơ là tổ chức cho các em nhập thân vào bài đọc,sống và cảm nhận với ngôn từ, hình ảnh của bài thơ đó Không có sự tinh tếnhạy cảm sự nhập thân thì không thể có bất kỳ hoạt động cảm thụ nào Muốnvậy, cần tổ chức các việc làm, hành động, thao tác cụ thể cho các em tự nhậpthân dưới sự tổ chức, điều khiển của thầy cô giáo.
Như vậy, việc tìm hiểu sâu về đặc điểm, cấu trúc tác phẩm thơ và đặcđiểm cảm thụ thơ của học sinh là cơ sở để giáo viên lựa chọn các phươngpháp thích hợp để hướng đẫn các em cảm thụ thơ có hiệu quả nhất
92 % giáo viên đều coi trọng việc hướng dẫn học sinh cảm thụ thơthông qua phân môn Tập đọc là một nhiệm vụ quan trọng Dạy cảm thụ thơthông qua tập đọc không chỉ đơn thuần hình thành cho học sinh kỹ năng cơbản của môn Tiếng Việt, trao cho các em công cụ giao tiếp bằng ngôn ngữ màthông qua đó giáo viên cần giúp các em thấy được cái hay, cái đẹp của bàithơ, của đối tượng được nhắc tới, góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương đấtnước, con người, giáo dục các em những đức tính tốt đẹp Để làm được nhưvậy đứng trước một bài dạy giáo viên cần hiểu thấu đáo nội dung tư tưởngcủa tác phẩm có phương pháp và hình thức tổ chức phù hợp
Bên cạnh đó 8 % giáo viên cho rằng dạy học thơ trong phân môn tậpđọc chỉ nhằm giúp các em đọc lưu loát được văn bản( hay nói cách khác làđọc đúng và nhanh) còn cảm thụ thơ cần được tách riêng biệt thành 1 giờ học
Trang 23Vì vậy việc cảm thụ văn thơ trong giờ dạy tập đọc còn gặp nhiều khó khăn vàkhông toàn diện.
1.2.2 Thực trạng hướng dẫn học sinh cảm thụ thơ trong nhà trường Tiểu học
Để điều tra thực trạng hướng dẫn học sinh lớp 4,5 cảm thụ thơ, chúngtôi đã tiến hành trưng cầu ý kiến của 30 giáo viên hiện đang là chủ nhiệm ởcác khối lớp 4,5 của các trường Tiểu học Hà Huy Tập 2 và trường Tiểu học
Lê Mao và thuộc địa bàn thành phố Vinh Bên cạnh đó chúng tôi sử dụngphương pháp trò chuyện, dự giờ thăm lớp, ghi chép vấn đề quan tâm và thuđược kết quả như sau:
TT NỘI DUNG TỐT KHÁ MỨC ĐỘ T B YẾU
Giáo viên là những người nhiệt tình trong công việc, yêu nghề mến trẻ,
có ý thức trác nhiệm cao với giờ dạy của mình Tuy nhiên trong các giờ dạyvẫn còn tồn tại những vấn đề sau:
Giáo viên còn lúng túng trong việc đề ra mục tiêu, nội dung cảm thụ rõràng cho một bài thơ, giáo viên chưa thực sự hiểu và nghiên cứ sâu tác phẩm
do đó dẫn tới Phương pháp dạy học của giáo viên mặc dù đã đổi mới songvẫn nặng lối truyền thụ một chiều Các bài thơ thường được dạy theo một
Trang 24môtip quen thuộc của phân môn tập đọc: Đầu tiên giáo viên đọc mẫu sau đóyêu cầu học sinh đọc lại và tái hiện lại bằng nhữ câu hỏi trong sách giáo khoa.
Ở phần gợi ý trong sách giáo khoa có những câu hỏi qúa khó, đòi hỏi giáoviên phải có câu hỏi phụ để dẫn dắt các em tìm ra câu trả lời, nhưng giáo viêngọi các em trả lời không được thường trả lời luôn cho các em Phần lớn cácbài tập đọc nhất là thơ thường được giáo viên khai thác nội dung cảm thụ theolối bổ ngang- tức là chia từng đoạn thơ tìm hiểu ý chính của đoạn đó Trongkhi đó có nhiều bài nội dung lại xuyên suốt từ đầu đến cuối mà muốn tìm hiểuđược nó giáo viên cần khai thác theo lối bổ dọc bài thơ Điều này làm mất đitính độc đáo, logic, giá trị bài thơ, làm sai lệch ý đồ mà tác giả muốn gửi gắmqua tác phẩm Một số giáo viên khác lại quan tâm quá nhiều tới việc giảinghĩa từ, làm ảnh hưởng tới thời gian luyện đọc Ngoài ra giáo viên thườngthiên về tìm hiểu nội dung bài thơ mà quên đi việc khai thác vẻ đẹp nghệthuật của nó Trong khi đó hình thức nghệ thuật là phương tiện hữu hiệu đểtác giả thể hiện nội dung bài đọc Điều này làm cho bài thơ thường mất đi vẻvốn có của nó Vì vậy, có thể nói bài học chưa đạt mục tiêu
Giáo viên chưa chú ý nâng cao năng lực cảm thụ thơ cho các em quakhâu tìm hiểu bài, khâu đọc diễn cảm Giáo viên cần phải khơi gợi giúp họcsinh phát hiện ra những từ ngữ đặc sắc, cách dùng từ đặt câu hợp lý, hoặcbiện pháp nghệ thuật … của bài thơ để từ đó các em tự cảm nhận cái hay, cáiđẹp của bài thơ nhưng giáo viên thường nói lên nét đẹp của bài thơ thông quahình thức diễn giải
Hình thức tổ chức luyện đọc chưa phong phú, chưa sát với từng thể loại
và đặc điểm của từng bài thơ Hầu như giáo viên chỉ sử dụng phương pháphọc sinh đọc, đến học sinh khác đọc nối tiếp, các bạn đọc tiếp sức theo câuhoặc khổ thơ Do đó, hiệu quả của việc luyện đọc chưa cao Việc giúp đỡ họcsinh đọc diễn cảm chưa cao còn tiến hành sơ sài trong 1 thời gian ngắn Giáoviên chỉ nhắc nhở chung chung chưa đi sâu vào từ câu chữ cụ thể, chưa biếtcách hướng dẫn các em các em cách ngắt nhịp, lên giọng xuống giọng ở từngđoạn cụ thể Nếu học sinh đọc với giọng đều đều, giáo viên chỉ nhận xét
Trang 25chung chung như: các em cần cố gắng hơn, nên đọc hay hơn và diễn cảm hơnchứ không nói các em cần đọc hay chỗ nào, diễn cảm hơn ở đâu và vì sao lại
dọc như vậy Ví dụ khi dạy bài : “ Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên sông
Đà”( Tiếng Việt 5– tập 1) giáo viên cần đưa ra những câu hỏi phụ mang tích
chất gợi mở để học sinh hiểu được đoạn 1: Tả “Một đêm trăng chơi
vơi”-Trăng trôi nhẹ trên khoảng không gian mênh mông, gợi cảm giác như thấytrăng bay lơ lửng, ánh trăng bồng bềnh; trong cảnh ấy người con gái Nga hiện
lên với vẻ đẹp huyền ảo “ Mái tóc màu hạt giẻ”, “ Ngón tay đan trên những
sợi dây đồng”- gợi cho chúng ta hình ảnh ngón tay quyện vào những sợi dây
đàn chuẩn bị tấu nên một khúc nhạc diệu kỳ giữa đêm trăng thanh vắng Đểbiểu đạt được điều đó trong quá trình đọc các em cầm phải nhấn giọng vào
các từ “chơi vơi” “màu hạt dẻ”, “đan” để gợi tả được hết vẻ đẹp huyền
diệu đó…
Có một tồn đọng cần nhắc tới nữa đó là trên thực tế nhiều giáo viên đọcchưa đúng, chưa hay, chưa diễn cảm, chưa hiểu một cách sâu sắc tác phẩm vìvậy dẫn tới học sinh đọc kém và không cảm thụ hết giá trị của tác phẩm làđiều dễ hiểu
Bên cạnh đó khả năng quan sát và tổ chức lớp của giáo viên chưa cao
vì vậy giáo viên chưa thực sự phân loại được đối tượng học sinh đa phần giáoviên chỉ làm việc với một bộ phận học sinh khá giỏi chưa làm việc với nhữnghọc sinh yếu kém vì vậy các em chưa thực sự cảm nhận hết được bài thơ Khảnăng tổ chức hoạt động theo nhóm, theo các hình thức dạy học mới chưađược phát huy
1.2.3 Thực trạng cảm thụ thơ của học sinh lớp 4,5
Để tìm hiểu thực trạng cảm thụ thơ của học sinh lớp 4,5 chúng tôi đãtiến hành điều tra dưới hình thức điều tra thăm dò đối với 100 học sinh lớp4,5 ở trường Tiểu học Hà Huy Tập 2-Thành phố vinh: Cho cả 2 khối lớp cùnglàm một đề kiểm tra cảm thụ văn học( Xem phiếu điều tra thực trạng cảm thụvăn học của học sinh lớp 4,5 ở phần phụ lục)
Trang 26Bài kiểm tra này gồm 7 câu hỏi là sự kết hợp của bài tập đọc hiểu vàbài tập hướng dẫn đọc diễn cảm.Trong đó bài tập 1,2,3,4 là bài tập hướng dẫnhọc sinh cảm thụ bài thơ Bài tập 5,6,7 là bài tập hướng dẫn học sinh cáchđọc diễn cảm bài thơ Kết quả thu được trên 100 em học sinh trường Tiểu học
Hà Huy Tập như sau:
Nội dung Nội dung kiểm tra
Kết quả Lớp 4
- Học sinh còn yếu về khả năng tìm hiểu bài về cách nhận diện quan sát
và đánh giá các từ ngữ, hình ảnh “đắt”, các em chưa hiểu hết được giá trị củanhững biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong mỗi bài thơ
- Khả năng biểu đạt sự cảm nhận bài thơ thông qua hình thức đọc diễmcảm chưa cao
- Sự bộc lộ cảm xúc đối với bài thơ thông qua bài viết vẫn còn nhiềuhạn chế Phần lớn các em chỉ diễn nôm lại ý nghĩa của tác phẩm bài viết ítsáng tạo và phát hiện mới
1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng.
1.2.4.1.Nguyên nhân chủ quan:
+ Về phía giáo viên:
Trang 27Do trình độ nhận thức của giáo viên chưa đồng đều Nhiều giáo viên cóquan niệm chưa đầy đủ và đúng dắn về phương pháp dạy học tích cựu, chưalinh hoạt trong việc xác tịnh mục tiêu cụ cảm nhận cụ thể trong mỗi bài thơ từ
đó dẫn tới việc lựa chọ và sử dụng phương pháp chưa linh hoạt cho cả lớp vàtừng đối tượng học sinh cụ thể Dẫn tới việc phương pháp dạy học truyềnthống vẫn chiếm ưu thế trong mỗi giờ dạy đọc thơ Đôi khi giáo viên chỉ sửdụng một số phương pháp dạy học nào đó khiến giờ học trở nên khô khannhàn chán, căng thẳng Vai trò của học sinh vẫn chưa thực sự được phát huy
Bên cạnh đó việc tìm hiểu cảm thụ bài thơ của giáo viên chư thực sựtốt, việc đầu tư thiết kế, lập kế hoạch cho bài dạy của giáo viên chưa chu đáo,giáo viên chưa chịu khó tìm tòi, trau dồi kiến thức dẫn tới hiện tượng học sinhkhông thể cảm nhận hết được vẻ đẹp về nội dung cũng như hình thức của tácphẩm Ngay cả hệ thống câu hỏi của giáo viên cũng chưa thực sự phong phú
và có sức cuốn hút học sinh chưa bán sát được nội dung, tư tưởng mà bài thơmuốn gửi tới làm hạn chế khả năng tư duy, tiếp nhận văn bản của học sinh
Do giọng đọc chưa chuẩn, năng lực cảm thụ thơ của giáo viên còn hạnchế, vốn từ chưa được phong phú nên việc truyền thụ cảm xúc của các em cònnhiều khó khăn Nhất là giọng đọc của những vùng như Thanh-Nghệ- Tĩnh
+ Về phía học sinh:
Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em chưa hoàn thiện, năng lựcphân tích, tổng hợp đánh giá còn hạn chế Vì vậy khả năng cảm thụ văn họccòn hạn chế Đa phần các em hay bắt chước, thụ động trước vấn đề đặt ra nênviệc tiếp thu bài học còn nhiều lệ thuộc
Vốn từ của các em còn nghèo nàn chưa phong phú đó cũng chính lànguyên nhân dẫn đến bài viết sau khi cảm thụ được của các em chưa hay
Trang 281.2.4.2 Nguyên nhân khách quan
Do đặc thù của cảm thụ thơ mang tính trừu tượng cao và không khó cóthể đưa ra một tiêu chí đánh giá chung nào để biết được năng lực cụ thể củamỗi học sinh để có biện pháp điều chỉnh nội dung dạy học Bên cạnh đó mỗibài thơ đều mang một sắc thái ý nghĩa riêng, phong phú từ giọng đọc tới nộidung, hình thức khác nhau vì vậy học sinh khó có thể đọc và cảm thụ tốt tất
cả các bài thơ trong chương trình
Về phía nhà trường Tiểu học, chưa có sự quan tâm đúng mức cho vấn
đề cảm thụ văn học nó chung và thơ nói riêng Việc bồi dưỡng nâng cao nănglực cảm thụ cho giáo viên còn thấp nếu có thì việc triển khai trên đối tượnghọc sinh vẫn còn thấp và chưa được đồng bộ Các tổ sinh hoạt chuyên môn đaphần chỉ quan tâm tới chất lượng chung chưa thực sự quan tâm tới năng lựccảm thụ thơ cho học sinh
1.2.5 Khảo sát sách giáo khoa
Văn bản thơ dùng dạy học ở Tiểu học chiếm số lượng khá cao và tăngdần lên ở mỗi lớp nhiều nhất là thơ 4,5 chữ và thơ lục bát.Bao gồm nhữngsáng tác của người lớn và thiếu nhi
Trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 gồm 17 bài thơ Sách giáo khoaTiếng Việt lớp 5 gồm 15 bài Nội dung các bài thơ hết sức sinh động về thiênnhiên, cuộc sống, con người gần gũi với các em.Thông qua đó nhằm giáo dụccác em tình yêu quê hương, đất nước và con người Việt Nam Nhiều bài thơnhằm giáo dục truyền thống lao động cần cù, sáng tạo và tinh thần chống giặcngoại xâm anh dũng…của dân tộc Nhiều bài lại diễn tả cuộc sống hết sứcsinh động của tuổi thơ ngộ nghĩnh đầy dễ thương Với những hình tượng nghệthuật thơ phong phú và gần gũi với các em như cỏ cây, con vật, sự vật…Những biện pháp tu từ so sánh nhân hóa, ẩn dụ đặc sắc Các văn bản thơ được
sử dụng trong dạy học tập đọc có đặc điểm dễ nhớ, dễ thuộc, gây ấn tượnggiáo dục mạnh mẽ đối với trẻ em
Trang 29Bảng thống kê các bài thơ trong chương trình lớp 4
Chủ điểm Tuần Thể loại Bài Trang
Bảng thống kê các bài thơ trong chương trình lớp 5
Chủ đề Tuần Thể loại Bài Trang
Việt Nam tổ
Trang 30Giữ lấy màu
Trang 31+ Phần cơ sở lý luận của khóa luận đa trình bày rõ những yêu cầu cảmthụ văn học đối với học sinh Tiểu học.
2.Thực trạng của giáo viên và học sinh trong vấn đề cảm thụ văn học.Bằng những phân tích đánh giá, điều tra chúng tôi đã đưa ra một sốthực trạng nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu
Trang 32
Chương 2 HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 4,5 CẢM THỤ THƠ THÔNG QUA
PHÂN MÔN TẬP ĐỌC
2.1 Yêu cầu cảm thụ văn học đối với học sinh lớp 4,5
Chương trình môn Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 ở Tiểu học luôn coinhiệm vụ bồi dưỡng văn học nói chung và thơ nói riêng cho hoc sinh là mộtnhiệm vụ quan trọng và cần thiết Dưới sự dẫn dắt của thầy giáo, cô giáo,những bài thơ, bài văn hay trong sách giáo khoa sẽ đem đến cho các em biếtbao điều kỳ thú và hấp dẫn Tuy nhiên, muốn trở thành một học sinh có nănglực cảm thụ văn học tốt, mỗi em cần có sự tự giác phấn đấu và rèn luyện thêm
về nhiều mặt Kinh nghiệm của nhiều nhà văn, nhà thơ ngày nhỏ và của cácbạn học sinh giỏi ở Tiểu học từ trước tới nay đều cho thấy: “ Để có được nănglực cảm thụ văn học sâu sắc và tinh tế, cần có sự say mê hứng thú khi tiếp xúcvới thơ văn; chịu khó tích lũy vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học;nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Việt phục vụ cho việc cảm thụ văn học,kiên trì rèn luyện kĩ năng viết doạn văn về cảm thụ văn học.”
Vì vậy những yêu cầu dưới đây được xem như những yêu cầu nền tảngđối với học sinh Tiểu học khi cảm nhận thơ,văn
Yêu cầu thứ nhất: Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn
Ngay từ khi còn nhỏ, hầu hết các em đều thích nghe ông bà cha mẹhoặc người thân kể chuyện, đọc thơ Bước chân tới trường tiểu học, được tiếpxúc với những câu thơ, bài văn hay trong sách giáo khoa Tiếng Việt, nhiều
em muốn đọc to lên một cách thích thú Đó chính là những biểu hiện ban đầucủa hứng thú, cần gìn giữ và nuôi dưỡng để nó phát triển liên tục, mạnh mẽđến mức say mê Một học sinh chưa thích văn học, thiếu sự say mê cần thiết,nhất định chưa thể đọc lưu loát và diễn cảm bài văn hay, chưa thể xúc độngthực sự với những gì đẹp đẽ được tác giả diễn tả qua bài văn ấy Giáo sư LêTrí Viễn đã có nhận xét: “Trong thơ văn hay, chữ nghĩa ngoài cái gọi là nộidung giao tế thông thường của nó, còn có vốn sống của cuộc đời nghìn năm
Trang 33bồi đắp lại Nếu không làm thân với văn thơ thì không nghe được tiếng lòngchân thật của nó” Muốn “làm thân” với văn thơ, chính ta cũng phải có tấmlòng chân thật, có tình cảm thiết tha, yêu quí văn thơ.
Có hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn, các em sẽ vượt qua được khókhăn, trở ngại, cố gắng luyện tập để cảm thụ văn học tốt và học giỏi mônTiếng Việt Tập đọc diễn cảm một bài thơ, đoạn văn, chăm chú quan sát, lắngnghe để tìm hiểu cái đẹp của thiên nhiên và cuộc sống quanh ta, tập dùng từngữ cho đúng và hay, nói và viết thành câu cho rõ ý, sinh động và gợi cảm…tất cả đều giúp các em phát triển năng lực cảm thụ văn học
Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn cũng chính là tự rèn luyệnmình để có nhận thức đúng, tình cảm đẹp, từ đó đến với văn học một cách tựgiác, say mê – yếu tố quan trọng của cảm thụ văn học
Yêu cầu thứ hai: Tích lũy vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học
Cảm thụ văn học là quá trình nhận thức có ảnh hưởng bởi vốn sống củamỗi người Cái “vốn” ấy trước hết được tích lũy bằng những hiểu biết và cảmxúc của bản thân qua sự hoạt động và quan sát hàng ngày trong cuộc sống
Có những cảnh vật, con người, sự việc diễn ra quanh ta tưởng chừngnhư rất quen thuộc, nhưng nếu ta không chú ý quan sát, nhận xét để có cảmxúc và ghi nhớ (hoặc ghi chép lại) thì thì chúng ta không thể làm giàu thêmvốn hiểu biết về cuộc sống của ta Chính vì vậy, tập quan sát thường xuyên,quan sát bằng nhiều giác quan (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi…) là mộtthói quen rất cần thiết cho người học sinh giỏi
Tô Hoài đã nªu lªn kinh nghiệm quan sát để phục vụ cho việc tích lũy
“vốn sống” như sau:
“Quan sát giỏi là phải tìm ra nét chính, thấy được tính riêng, móc đượcnhững ngóc ngách của sự vật, của vấn đề Nhiều khi không cần dàn đủ sựviệc, chỉ cần chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhất như: một câu nói lột
tả tính nết, những dáng người và hình bóng, tiếng động, ánh đèn, nét mặt, mộttrạng thái tư tưởng do mình đã khổ công ngắm, nghe, nghĩ mới bật lên và khithấy bật lên được thì thích thú, hào hứng, không ghi không chịu được”
Trang 34Quan sát nhiều, quan sát kĩ chẳng những giúp các em viết được nhữngbài văn hay mà còn tạo điều kiện cho các em cảm nhận được vẻ đẹp của thơvăn một cách tinh tế và sâu sắc.
Bên cạnh vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống, các em còn cần tích lũy cảvốn hiểu biết về văn hóa thông qua việc đọc sách thường xuyên Mỗi cuốnsách có biết bao điều bổ ích và lí thú Nó giúp ta mở rộng tầm nhìn cuộc sống,khơi sâu những suy nghĩ, cảm xúc, góp phần khơi dậy năng lực cảm thụ vănhọc ở mỗi chúng ta Việc chọn sách đọc là rất quan trọng Các em phải chọnnhững cuốn sách phù hợp với lứa tuổi, có ích cho việc học tập và rèn luyện.Khi đọc sách, cần tập trung tư tưởng cao, luôn suy nghĩ về những điều đángđọc để thấy cái hay cái đẹp của tác phẩm (cả về nội dung và nghệ thuật) Đọcsách đến mức say mê cũng có nghĩa là “sống” cùng với nhân vật, biết vui -buồn - sướng - khổ hay yêu - ghét…, đồng thời cảm nhận được những hìnhảnh đẹp, những câu văn hay, những chi tiết xúc động…
Chăm đọc sách, đọc sách có phương pháp tốt sẽ giúp mỗi người tự họcđược nhiều điều thú vị từ đó mà lớn lên về cả trí tuệ lẫn tâm hồn Càng hiểubiết sâu sắc về thực tế cuộc sống và văn học, trí tưởng tượng và cảm xúc củamỗi người càng thêm phong phú, chân thực Đó chính là điệu kiện quan trọng
để cảm thụ văn học tốt
Yêu cầu thứ 3: Nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Việt
Để trau dồi năng lực cảm thụ văn học ở tiểu học, các em cần nắm vữngnhững kiến thức cơ bản đã học trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học
Có hiểu biết về ngữ âm, chữ viết tiếng Việt cũng như kiến thức về từ ngữ, ngữpháp tiếng Việt, các em sẽ không chỉ nói – viết tốt mà còn có thể cảm nhậnđược nét đẹp của nội dung qua những hình thức diễn đạt sinh động và sángtạo
Ngoài những kiến thức về ngữ âm, chữ viết, từ ngữ, ngữ pháp, qua cácgiờ Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn ở tiểu học, các em còn được làm quen
và cảm nhận về một số khái niệm như: hình ảnh (là toàn bộ đường nét, màusắc hay đặc điểm của người, vật, cảnh bên ngoài được ghi lại trong tác phẩm,
Trang 35nhờ đó ta có thể tưởng tượng ra được người, vật, cảnh đó); chi tiết (là điểmnhỏ, ý nhỏ, khía cạnh nhỏ trong nội dung sự việc hay câu chuyện); bố cục (là
sự xếp đặt, trình bày các phần để tạo nên một nội dung hoàn chỉnh)…
Một số biện pháp nghệ thuật tu từ cũng làm nâng cao năng lực cảm thụvăn học cho học sinh: so sánh ( đối chiếu hai sự vật, hiện tượng có cùng mộtdấu hiệu chung nào đó với nhau, nhằm làm cho việc diễn tả được sinh động,gợi cảm); nhân hóa ( biến sự vật thành con người bằng cách gán cho nónhững đặc điểm mang tính cách người, làm cho nó trở nên sinh động, hấpdẫn); điệp ngữ (là sự nhắc đi nhắc lại một từ ngữ, nhằm nhấn mạnh một ý nào
đó, làm cho nó nổi bật và hấp dẫn người đọc); đảo ngữ (là sự thay đổi trật tựcấu tạo ngữ pháp thông thường của câu, nhằm nhấn mạnh và làm nổi bật ýcần diễn đạt); chuyển đổi cảm giác ( dùng ấn tượng của giác quan này đểmiêu tả ấn tượng của giác quan khác, tạo nên những ấn tượng tổng hợp nhiềumặt về một đối tượng nào đó, gây ấn tượng mạnh khi miêu tả)…
Yêu cầu thứ tư: Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cảm thụ văn học
Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn cảm thụ văn học là một trong nhữngnhiệm vụ cần thiết đối với mỗi học sinh tiểu học Có năng lực cảm thụ vănhọc tốt, các em sẽ cảm nhận được những nét đẹp của văn thơ, được phong phúthêm về tâm hồn, nói - viết tiếng Việt thêm trong sáng và sinh động Chính vìvậy, để đánh giá kết quả học tập của học sinh giỏi môn Tiếng Việt ở tiểu học,ngoài những bài tập về từ ngữ, ngữ pháp, làm văn, đề thi còn có một bài tậpviết đoạn văn cảm thụ văn học Tuy nhiên yêu cầu của loại bài tập này chỉ ởmức độ đơn giản, phù hợp với khả năng của học sinh tiểu học
Đoạn văn có nội dung cảm thụ văn học ở tiểu học cần được diễn đạtmột cách hồn nhiên, trong sáng và bộc lộ cảm xúc; cần tránh mắc các lỗi vềchính tả, dùng từ, đặt câu, tránh diễn giải dài dòng về nội dung đoạn thơ (hayđoạn văn) hay sa vào “phân tích” quá kĩ bằng giọng văn không phù hợp vớilứa tuổi thiếu nhi
Nắm vững yêu cầu về cảm thụ văn học ở tiểu học, kiên trì rèn luyệntừng bước (từ dễ đến khó) sẽ viết được những đoạn văn hay về cảm thụ văn
Trang 36học, sẽ có được năng lực cảm thụ văn học tốt để phát hiện bao điều đáng quýtrong văn học và trong cuộc sống của chúng ta
2.2 Hướng dẫn học sinh cảm thụ bài thơ qua hệ thống bài tập đọc hiểu
2.2.1 Mối quan hệ giữa đọc hiểu và cảm thụ thơ
Đọc hiểu chính là đọc và nắm bắt thông tin Hay nói cách khác là quátrình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc Vì vậy, hiệuquả của đọc hiểu được đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc.Muốn vậy, người đọc phải đọc văn bản một cách có ý thức, phải lĩnh hội đượcđích tác động của văn bản Kết quả của đọc hiểu là: người đọc phải lĩnh hộiđược thông tin, hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu đoạn, bài… tức là toàn bộnhững gì được đọc
Đọc hiểu là yêu cầu đặt ra cho mọi đối tượng đọc, với tất cả các kiểuloại văn bản đọc, trong đó có cả các văn bản nghệ thuật Còn cảm thụ là yêucầu đặt ra cho những ai đọc các văn bản nghệ thuật, đặc biệt là các văn bảnhay, gây xúc động
Cảm thụ thơ là đọc hiểu các tác phẩm thơ ở mức độ cao nhất, không chỉnắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu được thông tin, phân tích, đánh giáđược khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo được mối giao cảm đặc biệtgiữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó cho người khác Cảm thụ thơ có nghĩa là khi đọc (nghe) một bài thơ…người đọc khôngnhững hiểu mà còn phải có xúc cảm, tưởng tượng và thật sự gần gũi, “nhậpthân” với những gì đã đọc… Đọc có suy ngẫm, tưởng tượng (hay liên tưởng)
và rung cảm thực sự chính là người đọc biết cảm thụ thơ Đúng như nhà văn
Anh Đức đã tâm sự: “ Khi đọc, tôi không chỉ thấy dòng chữ mà còn thấy
cảnh tượng ở sau dòng chữ, trí tưởng tượng nhiều khi dẫn tôi đi rất xa, hiện
ra lắm điều thú vị”.
Năng lực cảm thụ thơ ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau donhiều yếu tố qui định như: vốn sống và hiểu biết, năng lực và trình độ kiếnthức, tình cảm và thái độ, sự nhạy cảm khi tiếp xúc với tác phẩm thơ…Ngay
Trang 37cả ở một người, sự cảm thụ một bài thơ trong những thời điểm khác nhaucũng có nhiều biến đổi
Những điều nói trên về cảm thụ thơ cho chúng ta thấy mỗi người đều
có thể rèn luyện, trau dồi cách đọc để từng bước nâng cao trình độ cảm thụthơ cho bản thân, từ đó cũng có thể có khả năng cảm nhận cuộc sống tốt hơnlên
Đọc hiểu và cảm thụ thơ có sự tác động qua lại lẫn nhau, thống nhấtnhưng không đồng nhất với nhau Đầu tiên là đọc để nắm bắt được bài thơ,làm cơ sở cho việc tìm hiểu văn bản Hiểu nội dung tức là người đọc đã pháthiện ra các thông tin mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm, kể cả việc nhận diệncác yếu tố nghệ thuật đã được sử dụng nhằm chuyển tải thông tin tới ngườiđọc một cách ấn tượng Cảm thụ thơ là quá trình người đọc nhập thân đầycảm xúc vào tác phẩm thơ, suy tư về một số các câu chữ, hình ảnh, lập luận
và sống cùng tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình hoặc của tác giả.Người cảm thụ đồng thời vừa là người tiếp nhận vừa là người phản hồi về tácphẩm Điều này giải thích hiện tượng vì sao những người am hiểu tác phẩmthơ luôn đọc diễn cảm nó thành công và có thể nêu được những nhận xét, suynghĩ, cảm tưởng của mình về nó Hiểu và cảm thụ văn bản thơ thuộc hai mức
độ nông sâu khác nhau: Chúng tôi gọi hiểu là việc chạm tới nội dung bề mặtcủa ngôn từ nghệ thuật (còn gọi là hiển ngôn), còn cảm thụ là việc hiểu sâusắc với những xúc động, trước những gì mà ngôn từ gợi ra để nhận thức đượcchiều sâu ý nghĩa của văn bản (còn gọi là hàm ngôn)
Cảm thụ văn học nói chung và thơ nói riêng là bước cuối cùng củachặng đường đọc hiểu, là đọc hiểu ở mức độ cao nhất Vì vậy, sau khi đã hiểuthấu đáo nội dung một tác phẩm văn học hay, HS cần phát hiện tiếp các tínhiệu thẩm mĩ của bài thơ nhằm tiếp cận tác phẩm ở một mức độ cao hơn, tạomối giao tiếp gần gũi hơn với tác giả Các tín hiệu đó có thể rất nhỏ bé, nhưng
có sức gợi tưởng tượng và liên tưởng sâu xa, đem lại những rung cảm thực sựcho người đọc
Trang 38Đọc hiểu và cảm thụ thơ có mối quan hệ thống nhất và hỗ trợ nhau trênnhiều phương diện có khả năng giúp cho học sinh phát triển mạnh mẽ nănglực cảm thụ thơ nói riêng và văn học nói chung Vì vậy, chúng tôi xin đưa ra
hệ thống bài tập nhằm hướng dẫn học sinh lớp 4,5 cảm thụ thơ như sau:
2.2.2 Bài tập tìm hiểu tác dụng cách dùng từ đặt câu sinh động
Kiểu bài tập tìm hiểu tác dụng cách dùng từ đặt câu sinh động thườngyêu cầu học sinh tìm ra những từ “đắt” trong câu, trong bài, và ý nghĩa củacách dùng từ đó trong câu thơ hoặc đoạn thơ Dạng bài tập này thường đượcđưa ra dưới các lệnh: Tìm, gạch chân dưới các từ ngữ, câu thơ sinh độngmang ý nghĩa lớn trong bài, ngoài ra kiểu bài tập này còn được đưa ra dướidạng viết một đoạn văn ngắn, khoanh tròn trước ý đúng…
Bài tập minh họa:
Bài tập 1:
Tác giả sử dụng từ “lặn” trong câu thơ:
“ Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”
Với nghĩa như thế nào?
a, Giống như cá lặn dưới nước
b, Giống từ lặn trong câu “con cò lặn lội bờ sông”
c, Ý nói sự vất vả trong cuộc sống dồn nén lại làm cho mẹ ốm
( Mẹ ốm, Tiếng Việt lớp 4, tập 1)
Bài tập 2:
Trong bài dòng sông mặc áo tác giả đã dùng những từ ngữ nào để tả cáirất điệu của dòng sông? Em có suy nghĩ gì về cách dùng những từ ngữ đó củatác giả ?
(Dòng sông mặc áo, Tiếng Việt lớp 4, tập )
Trang 39Bài tập 3: Bài thơ “Chợ Tết” là bức tranh giàu màu sắc về một phiên chợ tết
vùng cao Em hãy gạch chân dưới những từ ngữ đã tạo nên bức tranh đầy màusắc ấy
“Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh Trên con đường viền trắng mép đồi xanh Người các ấp tưng bừng ra chợ tết
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon Vài cụ già chống gậy bước lom khom
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh Người mua bán ra vào đầy cổng chợ”
….Bầy ong rong ruổi trăm miền
Rù rì đôi cánh nối liền mùa hoa”
( Hành trình của bầy ong, Tiếng Việt 5, tập 1)
- Theo em, tác giả dùng từ đẫm ở trên có hay không?
Em hiểu nghĩa câu thơ “Rù rì đôi cánh nối liền mùa hoa” là thế nào?
Trang 40Hướng dẫn:
- Từ đẫm được tác giả dùng rất hay và sáng tạo Nghĩa đen của từ nàychỉ trạng thái ướt sũng( ví dụ áo đẫm mồ hôi, khăn đẫm nước….) Ở dòng thơtrên tác giả dùng từ đẫm theo nghĩa bóng, chỉ cảnh tượng ánh nắng chiếu vàođôi cánh của bầy ong lai láng nắng trời Cách dùng từ này gợi được ở ngườiđọc một hình tượng đẹp
- Câu thơ “Rù rì đôi cánh nối liền mùa hoa” được sử dụng để diễn tả sựlàm việc cần mẫn, liên tục từ mùa này sang mùa khác(xuân, hạ, thu,đông), ởkhắc rừng sâu và biển xa, là cái cầu nối của các mùa hoa, giữa moi miền đấtnước
Em hãy cho biết cách sắp các từ ngữ trên có gì đặc biệt ?
(Chuyện cổ tích về loài người, Tiếng Việt 4,tập 1)
Bài tập 6:
Trong bài “Chú đi tuần” những từ ngữ nào nói lên mong ước và tình
cảm của chú bộ đội với các cháu học sinh?
( Chú đi tuần, Tiếng Việt 5, tập 2)