1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn học sinh đọc hiểu truyện dân gian ở trường THPT theo đặc trưng thể loại

61 2,5K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu truyện dân gian ở trường thpt theo đặc trưng thể loại
Tác giả Trần Thị Thanh Mai
Người hướng dẫn ThS. Lê Sử
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 325,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ việc chỉ ra những đặc trng thể loại của thần thoại,truyền thuyết và cổ tích, tác giả Nguyễn Xuân Lạc đã nêu lên một số vấn đề cơbản, then chốt mang tính chất gợi ý, định hớng cho việc

Trang 1

trờng đại học vinh khoa ngữ văn

hớng dẫn học sinh đọc - hiểu truyện dân gian

ở trờng thpt theo đặc trng thể loại

khóa luận tốt nghiệp

Giáo viên hớng dẫn: ThS Lê Sử Sinh viên thực hiện : Trần Thị Thanh Mai

Lớp : 44A2 - Ngữ Văn

Vinh - 2007

Trang 2

trờng đại học vinh khoa ngữ văn

trần thị thanh mai

hớng dẫn học sinh đọc - hiểu truyện dân gian

ở trờng thpt theo đặc trng thể loại

khóa luận tốt nghiệp

Vinh - 2007

Trang 3

Mục lục

Mở đầu 1

I Lý do chọn đề tài 1

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

III Nhiệm vụ nghiên cứu 7

IV Phạm vi nghiên cứu, phơng pháp nghiên cứu 8

V Cấu trúc khóa luận 8

Chơng 1 Đặc trng một số thể loại truyện dân gian đợc dạy ở phổ thông 9

1.1 Hệ thống thể loại văn học dân gian 9

1.2 Đặc trng một số thể loại truyện dân gian 10

1.2.1 Sử thi 10

1.2.2 Truyền thuyết 12

1.2.3 Truyện cổ tích 15

1.3 Sử thi, truyền thuyết và truyện cổ tích trong sách giáo khoa môn Văn ở phổ thông 20

1.3.1 Về truyền thuyết 21

1.3.2 Về truyện cổ tích 23

1.3.3 Về sử thi 25

Chơng 2 Một số vấn đề hớng dẫn đọc - hiểu truyện dân gian theo đặc trng thể loại 29

2.1 Đọc - hiểu sử thi 29

2.1.1 Nắm vững cốt truyện sử thi 29

2.1.2 Tìm hiểu nhân vật sử thi 34

2.1.3 Tìm hiểu những nét đặc sắc trong ngôn ngữ sử thi 42

2.2 Đọc - hiểu truyền thuyết 47

2.2.1 Nắm vững cốt truyện truyền thuyết 47

2.2.2 Tìm hiểu nhân vật truyền thuyết 49

2.2.3 Khái quát những quan niệm, t tởng của nhân dân về lịch sử 54

2.3 Đọc - hiểu truyện cổ tích 55

2.3.1 Nắm vững cốt truyện cổ tích 55

2.3.2 Tìm hiểu đặc điểm nhân vật cổ tích 59

2.3.3 Tìm hiểu ý nghĩa các yếu tố thần kỳ 60

2.3.4 Khám phá không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật 61

Chơng 3 Thiết kế giáo án thử nghiệm 63

Bài soạn Chiến thắng Mtao Mxây 63

Bài soạn Truyện An Dơng Vơng và Mị Châu - Trọng Thuỷ 70

Kết luận 74

Tài liệu tham khảo 76

Trang 4

Phần mở đầu

I Lý do chọn đề tài

1 Nói nền văn học dân gian là nói đến những sáng tác ngôn từ mang tínhnghệ thuật do nhân dân lao động sáng tác và lu truyền bằng miệng từ ngời nàysang ngời khác, đời này qua đời khác, nơi này qua nơi khác, nhằm phản ánhcuộc sống, t tởng, tình cảm, nhận thức của chính mình Văn học dân gian ViệtNam là một trong hai bộ phận cấu thành nền văn học dân tộc Nếu nh văn họcviết là bộ phận quan trọng, quyết định đến diện mạo và sự phát triển của văn họcdân tộc thì văn học dân gian lại là bộ phận cơ bản, vừa là “nguồn gốc”, vừa là

“nền tảng” của bộ phận văn học viết nói riêng và nền văn học Việt Nam nóichung Vì vậy, việc dạy học văn học dân gian trong nhà trờng có một ý nghĩaquan trọng Và không phải ngẫu nhiên mà trong nhà trờng phổ thông, học sinhbao giờ cũng đợc tiếp xúc với văn học dân gian trớc khi tiếp xúc với văn họcviết Dạy học bộ phận văn học này trong nhà trờng phổ thông không chỉ giúpcác em hiểu đợc đời sống và thế giới tinh thần phong phú, đa dạng của nhân dânlao động qua các thời đại, từ đó bồi đắp tâm hồn dân tộc cho các em mà còngiúp các em nhận ra cội nguồn sâu xa làm nên sức sống dân tộc, tạo nền để các

em đi sâu tìm hiểu bộ phận văn học viết

Trong chơng trình văn học dân gian ở nhà trờng phổ thông, truyện dângian chiếm một vị trí đáng kể không chỉ ở số lợng tác phẩm đợc đa vào giảngdạy mà ở cả thời lợng tiết học dành cho nó Đây là một loại hình quan trọng củavăn học dân gian, đồng thời, có thể xem là đối tợng gây nhiều hứng thú nhất đốivới học sinh khi học bộ phận văn học này, đặc biệt là đối với học sinh THCS -lứa tuổi mà trí tởng tợng còn hết sức phong phú, bay bổng Trong chơng trìnhphổ thông, truyện dân gian đợc giảng dạy ở hầu hết mọi thể của nó nh: thầnthoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cời, truyện ngụ ngôn, truyệnthơ Mỗi thể loại phản ánh cuộc sống theo nội dung và cách thức riêng Bởi vậy,dạy học truyện dân gian trong nhà trờng phổ thông bớc đầu đã hình thành ở họcsinh, có thể chỉ mới ở mức độ sơ giản nhất, những nhận thức cơ bản về tác phẩm

tự sự trên các phơng diện: nhân vật, cốt truyện, thời gian và không gian nghệthuật Những thao tác tìm hiểu các thể của loại truyện dân gian của giáo viên sẽtạo nên những “phản xạ có điều kiện” ở học sinh khi các em tiếp xúc với nhữngtruyện dân gian khác, thậm chí, có thể hình thành kỹ năng phân tích, tìm hiểutruyện dân gian Đây chính là tiền đề để học sinh tiếp xúc với các tác phẩm tự sựcủa bộ phận văn học viết Nói nh vậy không có nghĩa là chúng tôi đồng nhấtviệc tìm hiểu truyện dân gian với việc tìm hiểu “truyện” của văn học viết

Trong bộ phận văn học dân gian, nếu nh tục ngữ thiên về mặt lý trí, trítuệ, ca dao - dân ca thiên về biểu hiện tâm t, tình cảm, trí tuệ tâm hồn Bởi lẽ,truyện dân gian thể hiện t tởng, thái độ, tình cảm, mơ ớc của nhân dân lao động

xa một cách gián tiếp, qua cốt truyện, nhân vật mà đây lại là những sáng tạonghệ thuật của chính họ, những sản phẩm mang tính trí tuệ Vì vậy, khi khẳng

định văn học dân gian giúp học sinh hiểu đợc đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân ta từ bao đời nay, ta càng thấy đợc tầm quan trọng của việc dạy họctruyện dân gian trong nhà trờng

Qua những phân tích sơ bộ nh trên, có thể thấy đợc vị trí quan trọng củatruyện dân gian cũng nh việc dạy học nó trong nhà trờng phổ thông Vì vậy,nghiên cứu việc dạy học truyện dân gian việc dạy học nó trong nhà trờng phổthông Vì vậy, nghiên cứu việc dạy học truyện dân gian trong nhà trờng là vấn

đề có ý nghĩa thiết thực, đáng đợc quan tâm

2 Nghiên cứu việc dạy học văn học dân gian nói chung và truyện dângian nói riêng đến nay không còn là một vấn đề mới mẻ Đã có không ít nhữngnhà nghiên cứu và nhà giáo tâm huyết quan tâm đến vấn đề này Tuy nhiên,không phải ai cũng thấy đợc sự cần thiết của việc dạy học truyện dân gian theo

đặc trng thể loại

Trang 5

Dạy học văn bản nghệ thuật theo đặc trng thể loại hiện là một vấn đề đang

đợc chú trọng đề cao Trong SGK Ngữ văn mới (SGK Ngữ văn ở bậc THCS vàSGK Ngữ văn 10), các văn bản đợc sắp xếp theo hệ thống thể loại Điều này đòihỏi ngời giáo viên, trong khi hớng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản không thểkhông khắc sâu những đặc trng thể loại của văn bản đó Sở dĩ vấn đề thể loại trởthành mối quan tâm hàng đầu của giáo viên trong quá trình dạy học văn bảnnghệ thuật (trong đó có truyện dân gian) nh vậy là do nhiều nguyên nhân Trớchết, phải thấy rằng, thể loại chính là vấn đề trung tâm nhất, cơ bản nhất của tácphẩm văn học Không có một tác phẩm văn học nào lại không thuộc một thể loạinhất định nào đó Vì vậy, khi tìm hiểu tác phẩm, không thể chỉ chú trọng đếnnội dung t tởng mà tách rời nó khỏi cách thức tổ chức tác phẩm, hình thức tồntại chỉnh thể nhất định Thứ nữa, cũng cần phải thấy rằng, tiếp cận tác phẩm vănhọc từ phơng diện thể loại là cách tiếp cận mang tính khách quan và có hiệu quả,giúp ta tránh đợc những đánh giá khiên cỡng về tác phẩm, tránh đợc tình trạngxã hội học dung tục Điều này đợc chứng thực qua những thành tựu mà việcnghiên cứu phê bình văn học theo thi pháp học đạt đợc Dạy học văn trong nhàtrờng luôn có mối quan hệ mật thiết với những thành tựu của nghiên cứu, phêbình văn học Vì vậy, việc vận dụng thi pháp học vào thực tiễn giảng dạy đã đềcao đúng mức tầm quan trọng của vấn đề thể loại Và thực tế đã cho thấy hiệuquả tích cực của việc dạy học văn bản nghệ thuật (trong đó có truyện dân gian)theo đặc trng thể loại

Xuất phát từ những thực tế đó, dạy học truyện dân gian trong nhà trờngnói chung và ở trờng trung học phổ thông nói riêng không thể tách rời đặc trngthể loại của nó

3 Việc xác định thể loại cho loại truyện dân gian không phải là một vấn

đề đơn giản và việc dạy học truyện dân gian theo đặc trng thể loại không phảibất cứ giáo viên nào cũng làm tốt đợc Đó là còn cha kể đến việc dạy học nhữngtác phẩm có sự giao thoa thể loại giữa thần thoại, truyền thuyết và cổ tích Mặc

dù hiện nay, quan niệm về thể loại của văn học dân gian nói chung và truyệndân gian nói riêng đã khá thống nhất và khá chính xác nhng điều đó không cónghĩa là việc giảng dạy truyện dân gian đã hoàn toàn đơn giản, dễ dàng

Việc dạy học truyện dân gian trong nhà trờng, đặc biệt là ở cấp THPT,vẫn còn những khó khăn nhất định Đối tợng tiếp nhận truyện dân gian ở cấphọc này đã có một vốn sống nhất định, đã đợc tiếp xúc với một khối lợng đáng

kể những tác phẩm văn học trung đại và hiện đại nên hầu nh đã không còn giữ

đợc nguyên vẹn những hứng thú, say mê với truyện dân gian nh học sinh ở bậcTHCS Điều này buộc giáo viên không đợc dừng lại ở việc tìm hiểu nội dung t t-ởng của tác phẩm mà phải đi sâu vào đặc trng thể loại để kích thích hứng thúhọc tập của học sinh bởi đó chính là những kiến thức mới mẻ mà ở cấp học dớicác em cha đủ tầm để nhận thức một cách rõ ràng và có hệ thống Để làm đợc

điều này, giáo viên cần biết “tích hợp” những kiến thức nền về truyện dân gian ở

các lớp dới mà học sinh đã có Bên cạnh đó, so với SGK Văn học 10 chỉnh lý, SGK Ngữ văn (bộ cơ bản và bộ nâng cao) đã có những thay đổi nhất định Các văn bản đợc lựa chọn trong SGK Ngữ văn 10 tiêu biểu cho từng thể loại Các câu

hỏi ở phần hớng dẫn học bài đã tập trung hỏi vào đặc trng các thể Chính sự thay

đổi này ở phần văn học dân gian nói chung và truyện dân gian nói riêng đòi hỏingời giáo viên phải nắm chắc đặc trng thể loại để từ đó có những điều chỉnh hợp

lý trong quá trình giảng dạy truyện dân gian

Có nhận thấy những khó khăn của việc dạy học truyện dân gian ở trờng

THPT cũng nh những đòi hỏi của chơng trình SGK Ngữ văn 10 mới thấy hết ý

nghĩa của việc hớng dẫn học sinh đọc - hiểu truyện dân gian theo đặc trng thểloại

Nh vậy, xuất phát từ ba lý do cơ bản trên đây, chúng tôi đã chọn đề tàinày Tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn đa ra đợc nhữngcách thức tiến hành cụ thể, thiết thực và hiệu quả để nâng cao chất lợng giờ đọc

Trang 6

- hiểu truyện dân gian trong nhà trờng trung học phổ thông đáp ứng đợc yêu cầu

đổi mới phơng pháp dạy học văn trong nhà trờng phổ thông

II lịch sử nghiên cứu vấn đề

Dạy học truyện dân gian trong nhà trờng THPT, từ lâu đã trở thành mộtvấn đề thu hút sự quan tâm của không ít nhà nghiên cứu văn học dân gian cũng

nh những nhà giáo tâm huyết Trong các công trình khoa học, các bài nghiêncứu của mình, các tác giả, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, đã đề cập đến phơngpháp dạy học truyện dân gian theo đặc trng thể loại

Trong số những ngời nghiên cứu về vấn đề dạy học truyện dân gian ở ờng THPT, phải kể đến trớc tiên tên tuổi của nhà giáo Hoàng Tiến Tựu Trong

tr-cuốn sách Mấy vấn đề phơng pháp giảng dạy - nghiên cứu văn học dân gian

(Nxb Giáo dục, xuất bản lần đầu năm 1983, tái bản lần thứ nhất năm 2003), tácgiả Hoàng Tiến Tựu đã tập trung vào những vấn đề phơng pháp giảng dạy vănhọc dân gian đã và đang đặt ra trong nhà trờng, đặc biệt là trờng THPT Ông đãthấy đợc sự cần thiết của vấn đề vận dụng các thuộc tính cơ bản của văn học dângian vào việc giảng dạy, nghiên cứu cũng nh thấy rõ ý nghĩa quan trọng của vấn

đề phân kỳ, phân loại, phân vùng văn học dân gian cũng nh mối quan hệ củachúng đối với việc xác định phơng pháp nghiên cứu, giảng dạy bộ phận văn họcnày Cũng trong công trình của mình, bên cạnh mấy vấn đề phơng pháp giảngdạy, nghiên cứu văn học dân gian nói chung, tác giả Hoàng Tiến Tựu còn đề cập

đến những vấn đề giảng dạy các loại hình cụ thể của nó, trong đó có vấn đềgiảng dạy truyện dân gian ở chơng 6 của cuốn sách, tác giả Hoàng Tiến Tựu đãchỉ ra những thuận lợi và những khó khăn của việc dạy học truyện dân gian ởnhà trờng trung học phổ thông Từ đó, ông đa ra những định hớng xác đáng,

đúng đắn cho việc giảng dạy loại hình này Theo ông, việc giảng dạy truyện dângian đòi hỏi giáo viên phải bám vào các yếu tố ổn định trong truyện bao gồm têntruyện, cốt truyện, nhân vật và một số yếu tố tơng đối ổn định khác nh lời mở

đầu, kết thúc truyện, những câu văn vần xen vào câu chuyện Tiếp đó, ông chỉ ra

“công cụ cần thiết và thích hợp với việc nhận thức, phân tích truyện dân gian”,

đó là khái niệm “chủ đề” Ông không chỉ thấy đợc khó khăn của việc xác địnhchủ đề cho từng thể trong loại tự sự dân gian mà còn thấy rõ ý nghĩa của việcnắm vững đặc trng thể loại và chức năng thể loại khi xác định chủ đề cho truyềnthuyết và truyện cổ tích Cuối cùng, tác giả Hoàng Tiến Tựu khái quát quá trìnhtìm hiểu, phân tích một truyện dân gian thành bảy bớc cơ bản Cụ thể là:

“1 Xác định thể loại, hoàn cảnh ra đời, địa bàn lu hành đầu tiên hoặc chủyếu của truyện

2 So sánh các dị bản, xác định cốt truyện của dị bản đợc chọn phân tích

3 Phân tích chủ đề truyện

4 Phân tích các nhân vật Nếu cốt truyện đơn giản, số nhân vật ít (mộthoặc hai) thì khâu này kết hợp thực hiện trong quá trình phân tích chủ đề củatruyện

5 Phân tích và tổng hợp, rút ra những giá trị, những vấn đề quan trọngtrong nội dung tác phẩm (rộng hơn chủ đề)

6 Phân tích đặc điểm hình thức nghệ thuật của truyện

7 Phân tích giá trị và ý nghĩa hiện đại của truyện, tìm mối liên hệ giữa tácphẩm với văn học nghệ thuật và cuộc sống hiện tại của nhân dân”

Nh vậy, có thể thấy, tác giả Hoàng Tiến Tựu đã quan tâm đến vấn đề thểloại trong khi đề ra những phơng pháp giảng dạy truyện dân gian Những ý kiến

mà ông đa ra có ý nghĩa định hớng cho giáo viên trong quá trình giảng dạy loạihình văn học dân gian này Tuy nhiên, công trình của tác giả Hoàng Tiến Tựucha thực sự có sự phân biệt rạch ròi giữa phơng pháp giảng dạy và phơng phápnghiên cứu văn học dân gian nói chung và truyện dân gian nói riêng Cũng chínhvì vậy mà vấn đề phơng pháp giảng dạy đối với từng thể trong loại tự sự dângian còn hết sức chung chung, cha đi vào cụ thể

Trang 7

Bên cạnh công trình nói trên, tác giả Hoàng Tiến Tựu còn có một côngtrình dành riêng cho vấn đề dạy học truyện dân gian ở trờng phổ thông, đó là

Bình giảng truyện dân gian (Nxb Giáo dục, 1994) ở cuốn này, tác giả đã trình

bày thực trạng dạy học truyện dân gian ở nhà trờng phổ thông với những khókhăn và thuận lợi của nó Ông cũng đã không bỏ qua đặc trng thể loại khi gắnviệc bình giảng truyện thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích với những đặc

điểm nhân vật, cốt truyện, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật Tuynhiên, ông lại bó hẹp vấn đề phơng pháp dạy học truyện dân gian vào phơngpháp bình giảng - một phơng pháp truyền thống trong dạy học văn ở nhà trờngphổ thông

Trong các công trình về phơng pháp giảng dạy văn học dân gian, không

thể không kể đến Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trờng (Nxb Giáo dục,

1998) của PGS.TS Nguyễn Xuân Lạc Đợc mở đờng, định hớng và soi sáng bởinhững thành tựu mới của lý luận về phơng pháp dạy học căn và của phôncơlohọc, đặc biệt là thi pháp học về văn học dân gian, tác giả cuốn sách đã nhìn nhậnvăn học dân gian trong tổng thể văn hóa dân gian Việt Nam, trong nền văn họcdân tộc và trong chơng trình phổ thông Trên cơ sở đó, ông đề xuất cách tiếp cận

và phơng pháp dạy học theo quan điểm thi pháp học về những thể loại chủ yếu

đợc học trong nhà trờng Từ việc chỉ ra những đặc trng thể loại của thần thoại,truyền thuyết và cổ tích, tác giả Nguyễn Xuân Lạc đã nêu lên một số vấn đề cơbản, then chốt mang tính chất gợi ý, định hớng cho việc dạy học từng thể loại.Chẳng hạn, đối với thần thoại, ông cho rằng “cần khai thác các hình tợng mộcmạc - kỳ vĩ đợc tạo nên bằng trí tởng tợng nguyên sơ và t duy hồn nhiên của conngời thời cổ”, từ đó, rút ra ý nghĩa của truyện và đánh giá vẻ đẹp nguyên sơ củacon ngời khi cha có ý thức sáng tác nghệ thuật Tác giả cũng cho rằng, cần sosánh, tìm ra mối liên hệ của truyện đợc phân tích với những truyện khác baogồm cả thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích thần kỳ trong nớc và thầnthoại ở nớc ngoài Đối với truyền thuyết, Nguyễn Xuân Lạc đặc biệt nhấn mạnhviệc phân tích nhân vật và sự kiện lịch sử để thấy đợc sự hài hoà giữa cái lõi sựthật lịch sử với chất “thơ và mộng” của thể loại này Đối với cổ tích, ông đã đa

ra cách tiếp cận và phân tích theo 6 mặt - cũng là 6 yếu tố nghệ thuật đặc thi của

cổ tích - đó là: cách cấu tạo cốt truyện, các môtíp, những câu văn vần xen kẽ(nếu có), thời gian và không gian nghệ thuật, không khí truyện, sự vận động củatruyện trong đời sống dân gian và diễn xớng dân gian Và ông đã minh hoạ cụthể phơng pháp dạy học thể loại này qua bài “Thử đề xuất một cách tiếp cận

truyện Tấm Cám theo tinh thần Phôncơlo học” Nói tóm lại, với cuốn sách Văn

học dân gian Việt Nam trong nhà trờng, Nguyễn Xuân Lạc đã đi sâu hơn vào

vấn đề nghiên cứu phơng pháp dạy học truyện dân gian theo đặc trng thể loại.Tuy nhiên, cũng nh Hoàng Tiến Tựu, tác giả Nguyễn Xuân Lạc cha đề cập đếnviệc giảng dạy thể loại sử thi trong chơng trình THPT

Cùng với các công trình khoa học kể trên, còn có khá nhiều bài nghiêncứu về phơng pháp dạy học truyện dân gian theo đặc trng thể loại đợc đăng rảirác trên sách báo, tạp chí khác nhau

Trong Đổi mới dạy học văn ở trờng trung học phổ thông (kỷ yếu hội thảo

khoa học do khoa Ngữ văn trờng Đại học S phạm Vinh và Sở Giáo dục Nghệ

Tĩnh phối hợp tổ chức, 1989), đáng lu ý là bài viết Từ thực tế giảng văn một số

tác phẩm văn học dân gian ở trờng phổ thông trung học bàn về phân tích bộ phận văn học đó nhằm đảm bảo đặc trng thể loại của tác giả Hoàng Minh Đạo.

ở bài viết này, tác giả Hoàng Minh Đạo đã khẳng định “dạy văn học dân gian làdaỵ theo thể loại” và ngời giáo viên “phải đứng vững trên đặc trng từng thể loạivăn học dân gian để mà phân tích, đánh giá các tác phẩm đó một cách chínhxác, vừa phải làm nổi bật cái hay của nó vừa phải góp phần làm sáng tỏ đặc trngthể loại đợc trình bày ở bài khái quát” Trong khi nêu ra tình trạng dạy học vănhọc dân gian ở một số trờng phổ thông, tác giả này đã thấy đợc tình trạng sửdụng thuật ngữ tuỳ tiện, không chính xác trong giảng truyện dân gian Theo ông,việc thiếu hoặc không nắm vững một số khái niệm có tính chất công cụ của ngời

Trang 8

giáo viên là một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng phân tíchtác phẩm văn học dân gian vi phạm hoặc xa rời quy tắc đặc trng thể loại Nhvậy, ở bài viết này, tác giả Hoàng Minh Đạo đã thấy đợc sự cần thiết của việc sửdụng khái niệm, thuật ngữ đối với việc giảng truyện dân gian theo đặc trng thểloại Nhng làm thế nào sử dụng chính xác, có hiệu quả các khái niệm, thuật ngữ

để làm nổi rõ đặc trng thể của loại truyện dân gian thì tác giả cha đề cập đến.Nói cách khác, vấn đề phơng pháp dạy học truyện dân gian vẫn cha đợc bàn sâu

Trong bài viết Phơng pháp hệ thống và việc nghiên cứu, giảng dạy văn

học dân gian đăng trên báo Văn nghệ (số 38, ngày 19/9/1992), GS Phan Đăng

Nhật đã đa ra một phơng pháp khá mới mẻ và hiệu quả đối với việc giảng dạyvăn học dân gian nói chung và truyện dân gian nói riêng trong nhà trờng, đó làphơng pháp hệ thống Theo ông, với phơng pháp này, giáo viên “có thể thoát rakhỏi phơng pháp giảng dạy văn học dân gian một cách cô lập, tuỳ tiện suy diễnvăn bản học quá máy móc, quá nặng về tầm chơng trích cú Tuy nhiên, phơngpháp hệ thống mà tác giả Phan Đăng Nhật đề cập đến trong bài viết của mình lại

là phơng pháp chung cho việc giảng dạy nhiều bộ môn cũng nh những phân mônkhác của bộ môn văn Do đó, việc vận dụng phơng pháp này vào giảng dạy vănhọc dân gian nói chung và truyện dân gian nói riêng cần phải đi sâu hơn, cụ thểhơn nữa

Vấn đề phơng pháp dạy học truyện dân gian theo đặc trng thể loại còn

đ-ợc đề cập gián tiếp qua những bài viết về một truyện dân gian cụ thể nh: “Một số

hớng phân tích Bắt nữ thần mặt trời (Nghiên cứu giáo dục, số 11, 1992) của tác giả Hoàng Minh Đạo, Giảng truyện Tấm Cám ở trờng phổ thông (tạp chí Hồng

Lĩnh, số 10, 1994) của Hoàng Ngọc Hiến hay qua các ý kiến bàn về chơng trìnhvăn học dân gian trong SGK ở nhà trờng phổ thông đợc đăng trên Tạp chí Vănhoá dân gian (số 3, 2001) của các tác giả Nguyễn Xuân Đức, Nguyễn Thục Ph-

ơng, Nguyễn Thục Phơng, Nguyễn Xuân Lạc, Tăng Kim Ngân Nhìn chung, cáctác giả đều xuất phát từ đặc trng thể loại để đa ra các ý kiến của mình Điều đólại một lần nữa giúp ta khẳng định sự cần thiết của việc nghiên cứu phơng phápdạy học truyện dân gian trong nhà trờng phổ thông theo đặc trng thể loại

Trong cuốn sách Văn học dân gian, những công trình nghiên cứu (Nxb

Giáo dục, 1999), nhóm tác giả Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), Hồ Quốc Hùng,Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã tập hợp những bài viết bàn về những vấn đề lý luậnchung, phơng pháp nghiên cứu văn học dân gian và những vấn đề cụ thể về một

số thể loại và tác phẩm văn học dân gian) của các tác giả trong và ngoài nớc.Trong đó có đến 21/38 bài viết đề cập đến ba thể loại sử thi, truyền thuyết vàtruyện cổ tích Mặc dù vấn đề phơng pháp dạy học cha đợc đề cập một cách cụthể ở các bài viết đợc tập hợp trong cuốn sách này nhng những vấn đề lý thuyết

về thể loại mà các bài viết đa ra có ý nghĩa không nhỏ trong việc định hớng chogiáo viên phơng pháp dạy học truyện dân gian theo đặc trng thể loại

Có thể thấy, sự thay đổi chơng trình sách giáo khoa môn Văn đã và đang

đòi hỏi ngời giáo viên phổ thông phải giảng dạy truyện dân gian theo đặc trng

thể loại trên tinh thần đổi mới phơng pháp dạy học Sự ra đời hai bộ SGK Ngữ

văn 10 (bộ cơ bản và bộ nâng cao) trong năm học 2006 - 2007, tuy có dự báo

tr-ớc nhng vẫn làm cho không ít giáo viên văn lúng túng trong việc giảng dạytruyện dân gian để làm nổi rõ đặc trng thể loại ấy vậy mà, các tài liệu giúp giáoviên tháo gỡ những vớng mắc, những khó khăn nói trên thì cha phải là nhiều

Đáng chú ý là Tài liệu bồi dỡng giáo viên thực hiện chơng trình, sách giáo khoa

lớp 10 trung học phổ thông (Nxb Giáo dục, 2006) của nhóm tác giả Phan Trọng

Luận (chủ biên), Lê A, Phan Thu Hiền… Có thể xem cuốn sách này nh Có thể xem cuốn sách này nh mộtchiếc la bàn định hớng cho giáo viên văn THPT Bàn về phơng pháp dạy họcphần văn học dân gian, các tác giả cuốn sách đã có những nhận định khá toàndiện, chính xác, sâu sắc những vấn đề cơ bản của từng thể trong loại truyệnh dângian, đặc biệt là sử thi Chính vì vậy, mặc dù cha phải là công trình nghiên cứuchuyên sâu nhng cuốn sách đã bổ sung cho các công trình khoa học, các bàinghiên cứu nói trên về phơng pháp giảng dạy sử thi, đồng thời đáp ứng đợc nhu

Trang 9

cầu bức thiết của giáo viên trung học phổ thông trong quá trình giảng dạy truyệndân gian.

Từ các công trình, các bài nghiên cứu nói trên, chúng tôi nhận thấy việcnghiên cứu phơng pháp dạy học truyện dân gian ở trờng THPT theo đặc trng thểloại không còn là vấn đề hoàn toàn xa lạ, mới mẻ Các công trình, các bàinghiên cứu ấy, dù ít dù nhiều, trực tiếp hay gián tiếp thì đều xuất phát từ đặc tr-

ng thể loại để đa ra những cách tiếp cận truyện dân gian sao cho có hiệu quảnhất Tuy nhiên, vấn đề phơng pháp dạy học truyện dân gian theo đặc trng thểloại chỉ mới dừng lại ở mức khái quát, chung chung Và cho đến nay, vẫn cha cómột công trình nào thực sự chuyên sâu vào vấn đề này Trong khi đó, việc giảngdạy truyện dân gian ở trờng THPT vẫn còn tồn tại khá nhiều vớng mắc cần tháo

gỡ Đặc biệt khi hai bộ SGK Ngữ văn 10 (bộ cơ bản và bộ nâng cao) với những

thay đổi không nhỏ về phần văn học dân gian thì vấn đề dạy học truyện dân giantheo đặc trng thể loại càng cần đợc quan tâm hơn bao giờ hết Do đó, cần thiếtphải đa ra những định hớng, giải pháp cụ thể để việc dạy học truyện dân giantheo đặc trng thể loại thực sự đạt đợc hiệu quả

III nhiệm vụ nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tập trung giải quyết ba nhiệm

vụ cơ bản sau đây:

1 Tìm hiểu đặc trng một số thể loại truyện dân gian

2 Đề xuất một số phơng pháp dạy học truyện dân gian theo đặc trng thểloại

3 Thiết kế giáo án thử nghiệm để việc hớng dẫn học sinh đọc hiểu truyệndân gian theo đặc trng thể loại đạt hiệu quả

IV phạm vi nghiên cứu Phơng pháp nghiên cứu

1 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tập trung vào các tác phẩm thuộc ba thể

loại truyền thuyết, cổ tích và sử thi đợc đa vào SGK Ngữ văn 10 ở cả hai bộ cơ

V cấu trúc khoá luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung khoá luận gồm 3 chơng:

1 Chơng 1: Đặc trng một số thể loại truyện dân gian đợc dạy trong chơngtrình phổ thông

2 Chơng 2: Một số vấn đề hớng dẫn học sinh đọc hiểu truyện dân giantheo đặc trng thể loại

3 Chơng 3: Thiết kế giáo án thử nghiệm

Trang 10

động, các tác phẩm văn học dân gian không thể không thuộc một thể loại nhất

định Văn học dân gian cũng có một hệ thống thể loại của riêng nó Tuy nhiên,

sự phân loại văn học dân gian, do phơng thức truyền miệng, tính tập thể và tínhnguyên hợp của bộ phận văn học này, có khác so với sự phân loại văn học viết

Nó không thể chỉ dựa vào phơng thức phản ánh mà còn phải dựa vào phơng thức

lu truyền, biểu diễn của nhân dân Theo GS Hoàng Tiến Tựu, có thể quy tácphẩm văn học dân gian về bốn phơng thức biểu diễn (hay diễn xớng) chủ yếusau:

1 Nói (nh tục ngữ, câu đố)

2 Kể (nh các loại truyện dân gian)

3 Hát (nh các loại dân ca, ca dao)

4 Diễn (nh chèo, tuồng đồ, trò diễn)

Và cũng theo ông, bốn phơng thức biểu diễn chủ yếu trên tơng ứng vớibốn phơng thức phản ánh (hay thể hiện) là luận lý, tự sự, trữ tình và kịch Trêncơ sở của sự phân loại đó, văn học dân gian Việt Nam đợc chia thành 12 thể loạichính: 1 Thần thoại; 2 Sử thi dân gian; 3 Truyền thuyết; 4 Truyện cổ tích; 5.Truyện cời dân gian; 6 Truyện ngụ ngôn; 7 Tục ngữ; 8 Câu đố; 9 Ca dao dânca; 10 Vè; 11 Truyện thơ dân gian; 12 Các thể loại sân khấu dân gian

Trong đó, thần thoại, sử thi dân gian, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyệncời dân gian, truyện ngụ ngôn là những thể loại tự sự dân gian Chúng chiếmmột vị trí đáng kể trong hệ thống thể loại của bộ phận văn học truyền miệng này(6/12 thể loại) “Tự sự có nghĩa là kể chuyện Và có chuyện kể ắt là có truyện.Cho nên đặc trng của loại hình tự sự cũng là đặc trng của truyện nói chung” [2,

tr… Có thể xem cuốn sách này nh… Có thể xem cuốn sách này nh.] Và cũng chính vì lý do này mà các tác phẩm thuộc 6 thể loại nói trêncòn đợc gọi với một cái tên chung giản dị hơn, phổ biến hơn là truyện dân gian

Đặt thần thoại, sử thi dân gian, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cờidân gian, truyện ngụ ngôn trong hệ thống thể loại nh đã trình bày ở trên đã cho

ta thấy đặc trng về phơng thức biểu diễn và phơng thức phản ánh của các loạitruyện dân gian này trong sự khu biệt với những tác phẩm thuộc các thể loạikhác của văn học dân gian Nhng nh thế vẫn cha đủ để nhận ra đặc trng của từngthể loại Để nhận ra đặc trng của mỗi một thể loại truyện dân gian, cần thiết phảixem xét các đặc điểm về nội dung và hình thức của nó, chủ yếu thông qua cácphơng diện: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật.Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung vào đặc trng của ba thể loại: sửthi, truyền thuyết và truyện cổ tích Việc xác định đặc trng của ba thể loại nàykhông còn là vấn đề mới mẻ, cũng không phải là vấn đề gây nhiều tranh cãi,thiếu thống nhất trong giới nghiên cứu văn học dân gian Tuy nhiên, việc xác

Trang 11

định lại, hệ thống hoá những đặc trng của từng thể loại nói trên là một việc làmcần thiết.

1.2 Đặc trng một số thể loại truyện dân gian

1.2.1 Sử thi

Sử thi (còn gọi là anh hùng ca) là “thể loại tác phẩm tự sự dài (thờng làthơ) xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc nhằm ngợi ca sựnghiệp anh hùng có tính chất toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộctrong buổi bình minh của lịch sử” [1; tr.239] Định nghĩa này đã cho thấy những

đặc điểm cơ bản nhất về quy mô, thời đại ra đời của sử thi Đồng thời cũng hé lộnhững đặc trng thể loại Do sử thi là thể loại tự sự dân gian nên việc xem xét đặctrng của nó không tách rời những đặc điểm cốt truyện và nhân vật

Cốt truyện là “hệ thống sự kiện cụ thể, đợc tổ chức theo yêu cầu t tởng vànghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hìnhthức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” [1; tr.88] Nếuxem tác phẩm văn học là một cơ thể sống thì cốt truyện chính là cái khung xơngkhông thể thiếu của cơ thể ấy Cốt truyện sử thi là hệ thống các sự kiện về cuộc

đời, sự nghiệp của một anh hùng nhng có tính chất toàn dân và có ý nghĩa trọng

đại đối với dân tộc Nó dừng lại toàn bộ thế giới và cuộc sống của một dân tộc.Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà sử thi đợc xem là bộ bách khoa toàn th củathời đại sử thi - “thời đại của cây kiếm sắt, cái cày và cái rìu sắt” (Ăngghen).Ngời ấn Độ tự hào khẳng định rằng cái gì không có ở trong hai sử thi

Mahabharata và Ramayana thì cũng không có ở bất kỳ nơi nào trên đất ấn Độ.

Niềm tự hào đó hoàn toàn có cơ sở bởi lẽ cốt truyện của hai bộ sử thi đồ sộ này

là hằng hà sa số sự kiện của đất nớc ấn Độ, “một đất nớc to lớn và phức tạp nhmột châu lục” (Phan Đăng Nhật) ở Việt Nam, các sử thi mặc dù có quy môkhông bằng các sử thi của ấn Độ, La Mã cổ đại nhng cũng chứa đựng nhiềumặt, nhiều sự kiện của đời sống các dân tộc thiểu số ở nớc ta, từ việc cới hỏi, lễ

bỏ mả, việc đi săn, bắt cá, làm rẫy… Có thể xem cuốn sách này nh cho đến các cuộc chiến tranh để giành lại

vợ, để đòi nợ hay trả thù Nh vậy, hoàn toàn có thể khẳng định tính chất “báchkhoa” của cốt truyện là một đặc trng của thể loại sử thi

Bên cạnh tính chất “bách khoa”, cốt truyện sử thi còn có điểm khác biệtnữa so với cốt truyện của các thể loại truyện dân gian khác, đó chính là tính chất

“trì hoãn” Nh ta đều biết, “mọi cốt truyện đều phải trải qua một tiến trình vận

động có hình thành, phát triển và kết thúc” [1; tr.89] và nó thờng bao gồm cácthành phần: trình bày, thắt nút, phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết thúc (mởnút) Cốt truyện sử thi (và cả cốt truyện dân gian) cũng không phải là ngoại lệ.Tuy vậy, ở sử thi, khi sự việc phát triển đến cao trào, ngời kể cố tình trì hoãn mởnút cho câu chuyện bằng cách lặp lại các sự kiện tơng tự nhau, hoặc mô tả lạimột hành động của nhân vật nhằm tạo ra tâm lý chờ đợi căng thẳng ở ngời nghe.Chẳng hạn, trong sử thi “Ôđixê”, tác giả đã tạo ra cuộc đấu trí - thử thách đốivới Uylítxơ để trì hoãn sự đoàn tụ của ngời anh hùng này với ngời vợ thuỷ chungPênêlốp

Nếu nh cốt truyện là cái khung xơng của cơ thể sống tác phẩm văn học thìnhân vật chính là trung tâm của cái khung xơng ấy Bởi lẽ, nhân vật là nhân tốchính, là chủ thể tạo ra mọi sự kiện, mọi tình tiết của cốt truyện Nhân vật vănhọc là “con ngời cụ thể đợc miêu tả trong tác phẩm văn học” [1; tr.202] vàkhông đồng nhất với con ngời có thật ngoài đời Nó có chức năng khái quát tínhcách của con ngời, đồng thời thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tởng thẩm mỹcủa nhà văn về con ngời Khác với văn học viết, nhân vật của văn học dân gian

là nhân vật chức năng, tức là “nhân vật có đặc điểm, phẩm chất cố định, khôngthay đổi từ đầu đến cuối, không có đời sống nội tâm, sự tồn tại và hoạt động của

nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng trong truyện và trong việc phản ánh đờisống” [1; tr.196] Song, tính chất “chức năng” của nhân vật ở các thể loại khácnhau cũng có sự khác biệt

Sử thi ra đời vào thời điểm nối tiếp thần thoại Lúc này, thế giới của các vịthần trong thần thoại đã bắt đầu chuyển sang thế giới của con ngời, con ngời với

Trang 12

sức mạnh sánh ngang với thần linh Vì vậy, một điều dễ nhận thấy là, các nhânvật trung tâm trong sử thi mang đậm màu sắc thần kỳ, đợc miêu tả trong vẻ đẹp

kỳ diệu, khác thờng Đó là những Asin (Iliat), Uylítxơ (Ôđixê), Rama (Ramayana), Đăm Săn (Đăm Săn), Xinh Nhã (Xinh Nhã)… Có thể xem cuốn sách này nh Những nhân vật này

đợc miêu tả với t cách là những anh hùng trong chiến trận hay trong sinh hoạt

đời thờng, “tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý chí và lòng dũngcảm của cộng đồng” [1; tr.240] Nh vậy, nhân vật sử thi là những anh hùng tráng

sĩ mang tính chất phi thờng mà vẫn biểu trng tập trung nhất cho sức mạnh cộng

đồng Đây chính là đặc trng của thể loại sử thi về phơng diện nhân vật Và cũng

là cái nhìn chứa đựng quan niệm nghệ thuật của nhân dân đợc thể hiện tập trungqua việc xây dựng hình tợng ngời anh hùng sử thi

Nói đến đặc trng sử thi, ta không thể bỏ qua những đặc điểm ngôn ngữcủa thể loại này Bởi lẽ, ngôn ngữ là chất liệu dệt nên hình tợng, là chất keo kếtdính cốt truyện và nhân vật cũng nh các yếu tố khác trong tác phẩm lại với nhau

Và điều quan trọng hơn, khác với các loại truyện dân gian khác, sử thi tồn tạitrong hình thức văn vần hoặc văn xuôi kết hợp với văn vần Do đó, ngôn ngữ sửthi ít nhiều có sự gần gũi với ngôn ngữ của các thể loại trữ tình dân gian Điềunày không có ở ngôn ngữ của các loại truyện dân gian khác

Ngôn ngữ sử thi là ngôn ngữ giàu hình ảnh “giàu nhạc điệu… Có thể xem cuốn sách này nh cách nói cóvần điệu, tạo nên âm hởng hài hoà và có sự liên kết chặt chẽ với nhau, giữa các

vế trong một câu” [3; tr.24] Vẻ đẹp của ngôn ngữ sử thi là kết quả của việc sửdụng hàng loạt các biện pháp nghệ thuật so sánh, ví von, phóng đại, cùng những

định ngữ tu từ Ngời đọc dễ dàng nhận thấy tính chất bóng bẩy, trau chuốt thểhiện rõ nét trong ngôn ngữ sử thi hơn là trong ngôn ngữ của các loại truyện dângian khác mặc dầu ngôn ngữ sử thi nói riêng và ngôn ngữ truyện dân gian nóichung đều gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân Có nh vậy, ngônngữ sử thi mới thể hiện đợc tính chất lý tởng của ngời anh hùng và màu sắc thần

Đặc trng của truyền thuyết thể hiện trớc hết ở kết cấu của nó Kết cấu là

“toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm” [1; tr.131] Nó liên quan

đến cả cốt truyện và nhân vật Nó không có khuôn mẫu chung đối với tác phẩmvăn học Mỗi thể loại, mỗi tác phẩm có kết cấu - tổ chức bên trong và tổ chứcbên ngoài - riêng Truyện dân gian, nhìn chung, có kết cấu đơn giản hơn nhiều

so với truyện của bộ phận văn học viết Nhng đơn giản không hẳn là không có gì

đáng quan tâm ở truyền thuyết, ta bắt gặp một kiểu kết cấu đặc biệt - kết cấuchuỗi Đó là sự gắn kết nhiều truyền thuyết với nhau thành chuỗi, “mỗi “hạt” kểmột sự kiện chính xoay quanh một nhân vật, nhiều “hạt” gắn kết với nhau thànhchuỗi nhờ có một nhân vật xuyên suốt, đóng vai trò trung tâm của cả một sự

kiện lịch sử lớn” [4; tr.29] Chẳng hạn, truyện Trao gơm thần (với các nhân vật

Lê Thận, Long Quân, Lê Lợi, trong đó Lê Thận là nhân vật chính), truyện Hai

Trang 13

vợ chồng ông lão bắt cá và Lê Lợi (với nhân vật chính là hai vợ chồng ông lão

bắt cá), truyện Sự tích Hồ Gơm (với nhân vật chính là Lê Lợi và Rùa Vàng)… Có thể xem cuốn sách này nh lànhững truyện thuộc chuỗi truyền thuyết về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.Nhờ có kết cấu chuỗi mà các truyền thuyết có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ vớinhau, mỗi truyện là một chỉnh thể độc lập và cũng là một mắt xích không thểthiếu trong hệ thống chuỗi nào đó

Nh ta đều biết, mỗi truyền thuyết đều kể về một nhân vật chính Mỗi nhânvật đó lại có diễn biến cuộc đời khác nhau (tiểu sử khác nhau) Thế nhng, điều

đặc biệt là, hầu hết các truyền thuyết đều thống nhất ở một lợc đồ kết cấu chung

Do đó, sẽ là thiếu sót nếu nói đến đặc trng truyền thuyết mà bỏ qua đặc

điểm kết cấu này của nó

Là một phần quan trọng của kết cấu, cốt truyện truyền thuyết cũng thểhiện rõ đặc trng của thể loại Nếu nh cốt truyện sử thi mang tính chất “báchkhoa” và tính chất “trì hoãn” thì cốt truyện truyền thuyết lại thiên về tính chấtlịch sử Điều đó có nghĩa là các chuỗi sự việc trong truyền thuyết gắn liền vớicác sự kiện lịch sử đã xảy ra trong quá khứ Chẳng hạn, việc chống bão lụt của

nhân dân đồng bằng Bắc Bộ (Sơn Tinh Thuỷ Tinh), cuộc chiến đấu chống giặc

Ân xâm lợc (Thánh Gióng) hay cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (Truyền thuyết Hồ

G-ơm)… Có thể xem cuốn sách này nh Tuy nhiên, truyền thuyết không ghi chép lịch sử một cách khô cứng, máymóc, đơn giản mà đằng sau việc phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử là thái

độ, tình cảm, cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử

đó Truyền thuyết dân gian phản ánh lịch sử nhng đó là lịch sử đợc phản chiếuqua lăng kính nghệ sĩ của nhân dân lao động Vì vậy, cốt lõi lịch sử và yếu tố hcấu, tởng tợng là hai đặc trng không thể thiếu của truyền thuyết dân gian Nóicách khác, trong cốt truyện truyền thuyết có sự gắn kết chặt chẽ giữa các chitiết, sự kiện lịch sử và các chi tiết h cấu, tởng tợng Việc đắp đê trị thuỷ đợc hìnhtợng hoá qua chi tiết Sơn Tinh “bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng thànhlũy đất, ngăn chặn dòng nớc lũ Nớc sông dâng lên bao nhiêu, đồi núi cao lênbấy nhiêu” Sức mạnh đoàn kết của nhân dân trong cuộc kháng chiến chốngquân Minh dới sự lãnh đạo của ngời anh hùng Lê Lợi đợc lý tởng hoá qua chitiết Lê Lợi gắn lỡi dao mà mình bắt đợc ở trên rừng vào chuôi dao mà Lê Thận

đánh đợc từ dới sông lên thành thanh gơm “Thuận thiên”

Có thể thấy, chính việc sử dụng yếu tố h cấu, tởng tợng trong khi phản

ánh lịch sử đã tạo nên sự mới mẻ, sinh động, hấp dẫn cho cốt truyện truyềnthuyết Nhng sự mới mẻ, sinh động này không làm sai lạc bản chất lịch sử củacác sự kiện, nhân vật Tác giả dân gian sử dụng các yếu tố h cấu, tởng tợng đểthể hiện một cách nhìn đối với lịch sử, một cái nhìn công bằng, đầy nhân hậu vàchứa đựng tình cảm trân trọng Họ không tìm cách sáng tạo lại lịch sử mà chỉtìm cách tái tạo, chữa lại những trang sử đau thơng của dân tộc để xoa dịu nỗi

đau lịch sử Họ không nỡ kể việc Hai Bà Trng tự vẫn sau khi thất bại mà kể rằnghai bà cỡi hạc bay về trời Họ bất tử hoá những nhân vật anh hùng mà họ ng ỡng

mộ hoặc thể hiện cái chết của những nhân vật lịch sử ấy qua sự hoá thân - phânthân kỳ diệu

Tóm lại cốt truyện truyền thuyết lấy lịch sử làm cốt lõi và sự kết hợp giữa

sự thật lịch sử với sự h cấu, tởng tợng của các chi tiết đã làm cho không nhữngphần triển khai cốt truyện thêm hấp dẫn mà cả phần kết thúc của nó cũng đầybất ngờ Nói nh vậy cũng cần phải hiểu rằng cốt truyện truyền thuyết chỉ làmdịu những mất mát, đau thơng quá lớn trong lịch sử chứ không hề né tránh, phủnhận

ở Việt Nam truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian quan trọng đặcbiệt Nó có thể đợc phân thành các nhóm khác nhau theo những tiêu chí khácnhau Trong đó, truyền thuyết lịch sử tiêu biểu cho thể loại này hơn cả, còn

Lai lịch (bao gồm sinh đẻ thần kỳ và hình dạng dị thờng) => Tài đức -> Sự nghiệp -> Chết thần kỳ -> Hiển linh; âm phù -> Sắc phong, gia phong

Trang 14

truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ suy cho cùng cũng đều phản ánhlịch sử ở những mức độ khác nhau Chính vì thế, mặc dù truyền thuyết cũng cónhững nhân vật h cấu, tởng tợng nh Lạc Long Quân, Âu Cơ, Sơn Tinh, ThánhGióng… Có thể xem cuốn sách này nh nhng khi nhắc đến nhân vật của truyền thuyết, ngời ta thờng nghĩ ngay

đến các nhân vật lịch sử, những ngời anh hùng dân tộc trong quá khứ nh Hai BàTrng, Bà Triệu, Phùng Hng, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Yết Kiêu, DãTợng, Lê Lợi… Có thể xem cuốn sách này nh Nhân vật truyền thuyết không phải là nhân vật h cấu mà lànhững con ngời do chính lịch sử tạo ra Tuy không phải là nhân vật h cấu nhngnhân vật truyền thuyết không phải là bản sao của nhân vật lịch sử Nhân dân đãlựa chọn những nhân vật mang ý nghĩa biểu trng cho lịch sử khái quát của dântộc hoặc những nhân vật có thật trong lịch sử để vừa phản ánh hiện thực, vừa lýtởng hoá nhân vật, qua đó, gửi gắm thái độ, tình cảm của nhân dân Các nhân vậtlịch sử trong truyền thuyết đều xuất phát từ quyền lợi, nguyện vọng, t tởng vàtình cảm của nhân dân Chính đặc trng này của truyền thuyết đã tạo nên âm h-ởng chủ đạo là âm hởng ngợi ca Nó cũng giúp ta nhận thấy mối liên quan giữa

sự tồn tại của truyền thuyết với tín ngỡng dân gian thờ cúng những ngời anhhùng có công với nớc

Không chỉ có chức năng ghi chép lịch sử, truyền thuyết còn phản ánh, ghilại thái độ, t tởng, tình cảm và quan điểm của nhân dân về các sự kiện, nhân vậtlịch sử Vì vậy, nhân vật truyền thuyết không phải là sự tái hiện nguyên mẫu, đ-

ợc xây dựng không giống nh một sự sao chép, mô phỏng nguyên xi Đây cũng làmột yêu cầu đối với việc xây dựng hình tợng nhân vật trong văn học nói riêng vànghệ thuật nói chung Trong truyền thuyết, trên cơ sở cốt lõi lịch sử, tác giả dângian đã sắp xếp lại và đa thêm vào đó những gì mà tâm tình, thái độ của mìnhdành cho nhân vật Kể về ngời anh hùng Lê Lợi, truyền thuyết không ngần ngại

để ngời anh hùng núp dới chân bà hàng nớc hay để cho vợ chồng ông lão bắt cáquát mắng lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Một điều dễ nhận thấy là, trongtruyền thuyết, ngời anh hùng đặt giữa lòng nhân dân và chính mối quan hệ cánhân - tập thể quần chúng rộng lớn đợc truyền thuyết dùng để lý giải thành côngcủa ngời anh hùng Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa nhân vật ngời anhhùng trong sử thi và nhân vật ngời anh hùng trong truyền thuyết Nhân vật anhhùng trong truyền thuyết là sự lý tởng hoá sức mạnh của nhân dân lao động nhnhân vật sử thi song nó không tạo ra khoảng cách giữa ngời anh hùng với nhândân nh trong sử thi Cũng không tạo ra tâm lý “kính nhi viễn chi” ở ngời nghe

Do đó, nhân vật truyền thuyết trở nên gần gũi lạ thờng

Sự gần gũi của nhân vật truyền thuyết với nhân dân lao động - ngời sángtạo - và với ngời nghe - ngời tiếp nhận - không có nghĩa là mọi chi tiết, sự việctrong cuộc đời, sự nghiệp của nhân vật truyền thuyết đều có thực ngoài đời.Truyền thuyết dân gian sẵn sàng gắn vào nhân vật những yếu tố thần kỳ lấplánh Sự thần kỳ có thể liên quan đến sự ra đời của nhân vật, đặc điểm ngoạihình hay tài năng khác thờng của nhân vật Rõ ràng, những chi tiết thần kỳ đókhông có thực ngoài đời nhng có thực trong tình cảm của nhân dân đối với lịch

sử, với nhân vật lịch sử mà họ kính trọng, ngỡng mộ, ngợi ca

Khác với những nhân vật thuộc các loại truyện dân gian khác, nhân vậttruyền thuyết không chỉ sống trong tác phẩm mà còn sống cả trong những nghi

lễ thờ cúng với những nghi thức, tập tục sinh động, thậm chí nhiều khi còn sốngcả trong những phong tục, tập quán truyền thống lâu đời của các địa phơng

Điều này có thể đợc lý giải từ chính cái lõi lịch sử của nhân vật truyền thuyếtnói riêng và truyện truyền thuyết nói chung Vì vậy, mặc dù đã thuộc về lịch sử,thuộc về quá khứ nhng nhân vật truyền thuyết vẫn sống trong hiện tại, tham giatích cực vào lịch sử đang diễn ra

Từ những phân tích trên, ta có thể khẳng định nhân vật truyền thuyết lànhân vật lịch sử đợc lý tởng hoá Bản chất lịch sử và tính chất lý tởng của nhânvật truyền thuyết vừa tạo nên sự gần gũi vừa tạo ra nét độc đáo giữa nhân vậtthuộc loại truyện dân gian này với những nhân vật thuộc các loại truyện dângian khác

Trang 15

1.2.3 Truyện cổ tích

Khác với sử thi dân gian và truyền thuyết, truyện cổ tích đã là nghệ thuật

đích thực Truyện cổ tích không chịu ảnh hởng của t duy thần thoại nh sử thi,cũng không mang t duy làm sử (cho dù là lịch sử đã đợc lý tởng hoá) nh truyềnthuyết Nó chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu và

là phản ánh và lý giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của conngời trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có chế độ t hữu tài sản, có gia

đình riêng (chủ yếu là gia đình phụ quyền), có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranhxã hội quyết liệt [1; tr.311] Cho nên, tác giả dân gian đã có ý thức làm nghệthuật khi sáng tạo ra những truyện cổ tích với một thế giới nghệ thuật đặc thùcủa nó mà ngời ta gọi là thế giới cổ tích Truyện cổ tích là thế giới của những ớcmơ, khát vọng, là “miền đất hứa” của nhân dân lao động Nó đợc hợp thành bởinhững chi tiết thần kỳ, những nhân vật cổ tích phong phú, đa dạng và luôn gắnvới không gian thời gian nghệ thuật Tìm hiểu đặc trng của truyện cổ tích, vì thế,không thể không quan tâm đặc biệt đến cốt truyện, nhân vật, không gian - thờigian nghệ thuật

Truyện cổ tích đợc chia làm ba loại: truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tíchsinh hoạt và truyện cổ tích loài vật Trong đó truyện cổ tích thần kỳ là “bộ phậnquan trọng và tiêu biểu nhất của thể loại cổ tích” [1, tr 311] Điều đó thể hiện ởcả số lợng, dung lợng và chất lợng (tính nghệ thuật ) của tiểu loại này Truyện cổtích thần cũng là tiểu loại đợc dạy học nhiều nhất trong chơng trình môn văn, đ-

ợc ngời nghe a thích hơn cả Do đó mặc dù mỗi tiểu loại truyện cổ tích có nhữngnét khác biệt nhau về những phơng diện nêu trên những từ đặc trng của truyện

cổ tích thần kỳ, ngời ta hoàn toàn có thể nhận ra đặc trng của truyện cổ tích sinhhoạt và truyện cổ tích loài vật Trong đề tài này chúng tôi sẽ đi tìm hiểu đặc trngcủa truyện cổ tích thần kỳ trên các phơng diện: cốt truyện, nhân vật, không gian

- thời gian nghệ thuật

Do tác giả dân gian đã có ý thức làm nghệ thuật khi sáng tạo nhữngtruyện cổ tích nên cốt truyện cổ tích có phần phức tạp hơn cốt truyện sử thi vàcốt truyện truyền thuyết Truyện cổ tích đã tạo ra đợc sự gay cấn bằng cách liêntục đa nhân vật vào các tình huống thử thách, trở ngại mà nhân vật chính gặpphải có thể đến từ những phía thiên nhiên, có thể đến từ những phía từ phía xãhội Chúng đã tạo thành hai xung đột cơ bản trong cốt truyện cổ tích Loại xung

đột thứ nhất, xung đột giữa nhân vật chính với những trở lực đến từ xã hội, làloại xung đột còn đang mới mẻ đối với nhận thức của nhân dân về xã hội Đểgiải quyết xung đột này ngời ta phải cầu viện đến những sức mạnh nằm ngoài vàvợt lên cao hơn tầm năng lực mình có đợc Vì vậy dễ nhận thấy là truyện cổ tích

sử dụng loại lực lợng thần kỳ nh một nhân vật phù trợ Từ đó có thể thấy tronghầu hết các cốt truyện, xung đột đợc giải quyết bằng cái thần kỳ Đó có thể lànhân vật thần kỳ, vật thần kỳ hoặc sự biến thần, cô Tấm đợc trở thành hoàng hậu

là nhờ có bụt giúp đỡ, anh Khoai trừng trị đợc lão phú ông là nhờ câu thần chú

“khắc nhập, khắc nhập”, “khắc nhập, khắc nhập”… Có thể xem cuốn sách này nh Việc tạo ra những xung độtgay cấn và dùng cái thần kỳ để giải quyết “khắc nhập, khắc nhập” nh đã nói trên

đã làm nên sức hấp dẫn cho cốt truyện cổ tích Đây chính là sự khác biệt củatruyện cổ tích so với sử thi và truyền thuyết ở sử thi xung đột đợc tạo ra cònkhá đơn giản và không phong phú nh ở truyện cổ tích Còn truyền thuyết thờngchỉ ghi lại, chỉ phản ánh những xung đột đã có sẵn trong lịch sử

Cốt truyện cổ tích không chỉ phong phú hơn cốt truyện sử thi và truyềnthuyết về số lợng chi tiết mà còn hấp dẫn bởi cách tổ chức sự việc trong một quátrình quá trình từ gây chuyện đến đẩy chuyện đi từ sự việc này đến sự việc khácmỗi lúc một gay cấn cho đến kết thúc câu chuyện Tuy nhiên, đặc trng cốttruyện cổ tích không dừng lại ở đó Một điều đáng chú ý ở cốt truyện cổ tích làcách kết thúc có hậu của nó Khác với sử thi, cốt truyện kết thúc khi lý tởng vềmột sự nghiệp anh hùng đợc thực hiện và khác với truyền thuyết, truyện kết thúckhi nhân vật lịch sử đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, truyện cổ tích chỉkết thúc khi nhân vật chính, sau bao thử thách, trở ngại, đã giành đợc hạnh phúc

Trang 16

tột đỉnh Sọ Dừa đỗ trạng nguyên và sống hạnh phúc bên nàng Ba, Thạch Sanh

đuổi đợc giặc, lấy đợc công chúa và lên làm vua; anh Khoai trừng trị đợc lão nhàgiàu và lấy đợc ngời con gái mà anh đã hỏi làm vợ; cô Tấm làm hoàng hậu vàsống trọn đời bên nhà vua Cách kết thúc có hậu trong truyện cổ tích chính lànhững ớc mơ xa xôi và bền bỉ của nhân loại về công lý xã hội và lẽ công bằng ở

đời Đó là những điều cha có trong cuộc sống đời thực Nhng đó là sự thật tinhthần của nhân dân trong truyện cổ tích đầy rẫy những yếu tổ tởng tợng kỳ ảo, là

sự thật “cần có và có thể có” Ta thấy ở trong đó triết lý nhân sinh sâu sắc “ởhiền gặp lành”, “ác giả ác báo” cũng nh quan niệm về hạnh phúc của nhân dânlao động xa

Cốt truyện cổ tích thờng tuân theo một môtíp nhất định Khái niệm

“môtíp” nhằm chỉ những thành tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã đợc hìnhthành ổn định, bền vững và đợc sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệthuật, nhất là “trong văn học nghệ thuật dân gian” [1; tr.168] ở đây, sở dĩ taquan tâm đến vấn đề môtíp trong cốt truyện cổ tích là bởi so với hai thể loại sửthi và truyền thuyết thì cổ tích đã là nghệ thuật đích thực Hơn nữa, vấn đề môtípkhông chỉ bó hẹp trong cốt truyện cổ tích Việt Nam mà đã là đặc trng chung,bao quát trong cốt truyện cổ tích của mọi dân tộc trên thế giới Theo Đỗ BìnhTrị, cốt truyện cổ tích thờng gồm ba phần: phần đầu là sự xuất hiện của nhân vậtchính, có thể theo môtíp sự xuất thân thấp hèn hoặc sự ra đời thần kỳ Phần giữa

là cuộc đời phiêu lu của nhân vật chính trong thế giới cổ tích Phần này thờng cómôtíp: ra đi; gặp thử thách và lực lợng thù địch; chiến thắng thử thách và lực l-ợng thù địch nhờ trợ thủ thần kỳ hoặc bằng tài trí, lòng tốt Phần kết là sự đổi

đời hay sự thay đổi trong “thế giới cổ tích” Môtíp ở phần này hoặc là thởng chonhân vật chính, phạt đối với kẻ ác hay lực lợng thù địch; hoặc là nhân vật chính

đợc đền bù, đợc giải thoát khỏi sự bất hạnh… Có thể xem cuốn sách này nh nhờ sợ biến hoá siêu nhiên

Nh vậy, có thể khẳng định, so với cốt truyện sử thi và truyền thuyết, cốttruyện cổ tích phong phú hơn, phức tạp hơn mà cũng hấp dẫn hơn, mang tính rõnét hơn

Để phù hợp, tơng ứng với cốt truyện phong phú, phức tạp, hấp dẫn và đầynghệ thuật nh trên, truyện cổ tích cũng đã xây dựng cho mình một hệ thốngnhân vật hết sức đặc biệt Nhân vật cổ tích không phải là nhân vật lịch sử nhnhân vật truyền thuyết Nhân vật cổ tích là nhân vật h cấu Nhng nó lại hết sứcgần gũi bởi những phẩm chất, bởi số phận, cuộc đời của nó chính là sự phảnchiếu những phẩm chất, số phận, cuộc đời của nhân vật lao động Cho nên, nhânvật cổ tích không cách xa với ngời nghe nh nhân vật sử thi

Truyện cổ tích đã xây dựng đợc một hệ thống nhân vật hết sức phong phú,

đa dạng Trong truyện cổ tích, các nhân vật thờng bao gồm ba loại chính: nhânvật chính diện (Thạch Sanh, Công chúa, cô Tấm, Sọ Dừa, nàng Ba, anhKhoai… Có thể xem cuốn sách này nh), nhân vật phản diện (Lý Thông, Cám, mẹ Cám, lão phú ông… Có thể xem cuốn sách này nh) và cácnhân vật thần kỳ hoặc vật báu có tác dụng kỳ diệu (tiên, bụt, chim thần, đànthần, niêu cơm thần… Có thể xem cuốn sách này nh) Trong đó, nhân vật chính diện tiêu biểu cho nhữngphẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động Ta gặp ở đó những nét tơng đồng với

số phận, cuộc đời của những ngời dân: thân phận ngời đi ở, ngời em út, ngời conriêng, ngời làm thuê… Có thể xem cuốn sách này nh Còn nhân vật phản diện lại mang dáng dấp của những lựclợng, thế lực đối lập với nhân dân Từ sự phân loại này, ta nhận thấy một đặc

điểm của nhân vật cổ tích đó là sự phân tuyến: chính diện - phản diện, thiện - ác,tốt - xấu Sự phân tuyến của nhân vật phù hợp với việc phản ánh xung đột xã hộicủa truyện cổ tích Đây là điều cha có ở hai thể loại sử thi và truyền thuyết Bởi

lẽ, nhân vật trong sử thi và truyền thuyết cho dù thuộc hai phe đối lập nhau, là

kẻ thù của nhau thì xung đột giữa chúng không quyết liệt, một mất một còn nhtrong truyện cổ tích Sự đối lập giữa hai tuyến chính diện - phản diện, thiện - ác,tốt - xấu trong truyện cổ tích đợc đẩy đến mức gay gắt, tạo nên những xung độtkhông thể dung hoà Xung đột ấy chỉ có thể đợc giải quyết nhờ vào các nhân vậtthần kỳ hoặc vật báu có tác dụng kỳ diệu

Trang 17

Nếu nói nhân vật trong truyện dân gian là nhân vật có chức năng thì nhânvật truyện cổ tích là sự minh chứng rõ nét, đầy đủ nhất cho điều đó Nhân vậttrong truyện cổ tích có tính cách ổn định, nhất quán từ đầu đến cuối, đã xấu thìxấu từ đầu đến cuối, bản chất tốt - xấu, thiện - ác của nhân vật không thay đổitrong mọi hoàn cảnh, tình huống mà chỉ ngày càng gia tăng Chẳng hạn, ThạchSanh từ đầu đến cuối luôn là một chàng trai thật thà, dũng cảm Chàng luôn sẵnlòng giúp đỡ ngời anh em kết nghĩa Lý Thông mà không một chút đắn đo, nghingại Và cũng chính tính chất cực đoan trong tính cách nhiều khi đẩy nhân vậtvào những thử thách, trở ngại Khẳng định nhân vật cổ tích là nhân vật chứcnăng không chỉ cần thấy đợc tính chất ổn định, nhất quán, có khi cực đoan củanhân vật mà còn phải thấy đợc rằng trong truyện cổ tích, mỗi nhân vật chỉ thựchiện một chức năng nhất định, góp phần phát triển cốt truyện và bộc lộ chủ đề

tác phẩm Nhân vật ông lão trong Ông lão đánh cá và con cá vàng chỉ thực hiện

một chức năng là ra biển nói với cá vàng những yêu cầu của mụ vợ Chức năngnày góp phần tô đậm sự tham lam không cùng và ngày càng gia tăng của mụ ta.Nhân vật cổ tích không phải là nhân vật tính cách, nhân vật tâm lý nh văn họcviết Nó không đợc miêu tả ở phơng diện ngoại hình và tâm lý Nhân vật cổ tíchchỉ là sự khái quát một nét phẩm chất nào đó của nhân dân lao động Đó có thể

là sự chăm chỉ, hiền lành (cô Tấm), sự thật thà, dũng cảm (Thạch Sanh), sự siêngnăng, cần cù (anh Khoai), sự độc ác (mẹ con Cám), sự gian xảo (mẹ con LýThông)… Có thể xem cuốn sách này nh Vì vậy, nhân vật cổ tích thờng thông qua hành động của mình để thựchiện chức năng trong truyện Và hành động trở thành mối quan tâm hàng đầucủa tác giả dân gian khi xây dựng nhân vật cổ tích

Qua những điều trình bày trên, ta có quyền khẳng định rằng, cũng nh cốttruyện, nhân vật cổ tích là sự phát triển cao hơn, mang tính nghệ thuật đậm néthơn so với sử thi và truyền thuyết

Sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến không gian nghệ thuật, thời giannghệ thuật khi tìm hiểu đặc trng truyện cổ tích “Trong truyện cổ tích, khônggian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật là những phạm trù của hình thức nghệthuật của thể loại, là phơng thức tồn tại, vận động, diễn biến của thế giới cổ tích”[4; tr.44]

Không gian nghệ thuật là “hình thức bên trong của hình tợng nghệ thuật,thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờcũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra một trờng nhìn nhất định, qua đó thếgiới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bêncạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, tháp, xa, gần, rộng, dài, tạothành viễn cảnh nghệ thuật” [1; tr.135] Trong truyện cổ tích, ta không chỉ bắtgặp không gian cuộc sống trần thế mà còn bắt gặp không gian kỳ ảo phi trần thế,Không gian trần thế trong truyện cổ tích Việt Nam chủ yếu là không gian làng

quê Trong Sọ Dừa, tuy có nhắc đến không gian đảo hoang nơi nàng Ba dạt vào

và có nhắc đến việc đi sứ của trạng nguyên Sọ Dừa, câu chuyện vẫn diễn ra gọn

trong cái làng quê của nhân vật Không gian bao trùm Cây khế cũng là không

gian làng quê Hẹp hơn là không gian mảnh vờn có trồng cây khế - nơi hai anh

em chia của cải, đánh đổi gia tài… Có thể xem cuốn sách này nh Và nếu nh không gian làng quê “đem lại chothế giới cổ tích hơi ấm nhân sinh và màu sắc dân tộc, dân dã” [4; tr.45] thìkhông gian kỳ ảo, đúng nh tên gọi của nó, lại tạo ra màu sắc thần kỳ, huyền diệucho thế giới cổ tích Không gian kỳ ảo hiện lên đa dạng với không gian thiênphủ, thuỷ phủ và âm phủ Không gian ấy bao la, mênh mông là thế, thậm chímắt ngời khônh nhìn thấy đợc, chân ngời không đặt đến đợc nhng trong thế giới

cổ tích thì giữa chúng với không gian trần thế không có bức tờng ngăn cách nàocả Nhân vật có thể dễ dàng di chuyển từ không gian trần thế sang cả ba cõithuộc không gian kỳ ảo Bởi vậy mới có chuyện Thạch Sanh đi dạo chốn thuỷcung cùng con trai Long Vơng, Từ Thức lấy đợc vợ tiên… Có thể xem cuốn sách này nh Sự kết hợp hai loạikhông gian đó đã tạo nên đặc trng cho thể loại cổ tích, hơn thế, thể hiện đợcquan niệm về thực tại và con ngời của thể loại này

Trang 18

Cùng với không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật “biểu hiện một quan

niệm về tính không phân cắt của thế giới, về tính nguyên phiến, bất biến của

thực tại và con ngời” [4; tr.46] Thời gian nghệ thuật là “hình thức nội tại của

hình tợng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Cũng nh không gian nghệ

thuật, sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ

một điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái đợc trần thuật bao giờ cũng diễn

ra trong thời gian, đợc nhận biết qua thời gian trần thuật” [1; tr.272] Cũng nh

hầu hết thể loại truyện dân gian khác, thời gian trong truyện cổ tích là thời gian

quá khứ Tuy nhiên, nếu thời gian của truyền thuyết là thời gian quá khứ xác

định cụ thể thì thời gian quá khứ trong truyện cổ tích lại không xác định cụ thể

Đó luôn luôn là thời gian của “ngày xửa ngày xa”, không vận động, không biến

đổi Tất cả mọi hành động của nhân vật đều gói gọn trong cái khung cố định, bất

biến ấy Do đó, dù trải qua bao thử thách, trở ngại, nhân vật cũng không già đi

và nhân vật không có diễn biến tâm lý Khác với một số thể loại truyện dân gian

khác thì ít khi trực tiếp nói đến thời gian truyện cổ tích bao giờ cũng gợi nhắc

đến thời gian của câu chuyện ngay ở phần đầu với các từ ngữ thời gian quen

thuộc: “ngày xửa ngày xa”, “xa kia”, “thuở ấy”, “một hôm”… Có thể xem cuốn sách này nh Nhờ đó, ngay từ

đầu, truyện cổ tích đã tạo cho ngời đọc một tâm thế phù hợp để bớc vào thế giới

cổ tích Và mặc dù không tin vào những điều đợc kể nhng họ vẫn bị cuốn hút

bởi những điều kỳ diệu, phép màu nhiệm trong đó

Những đặc điểm cốt truyện, nhân vật, không - thời gian nghệ thuật nh vậy

đã tạo thành đặc trng của truyện cổ tích Đó là cơ sở cần thiết và đầy đủ để

chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng trong truyện cổ tích là nghệ thuật

đích thực

*

* *

Đặc trng của ba thể loại sử thi, truyền thuyết và truyện cổ tích là những cơ

sở lý thuyết khá vững chắc để định hớng có hiệu quả việc dạy học truyện dân

gian và đặc trng thể loại Song nếu chỉ dừng lại ở đó thì vẫn cha đủ Để hớng dẫn

học sinh đọc - hiểu truyện dân gian theo yêu cầu này, thiết nghĩ ngời giáo viên

cũng cần có một cái nhìn tơng đối hệ thống, toàn diện về chơng trình văn học

dân gian cũng nh sự thay đổi cơ bản của nó trong SGK phổ thông

1.3 Sử thi, truyền thuyết và truyện cổ tích trong sách giáo khoa môn

Văn ở phổ thông

Văn học dân gian là một bộ phận cơ bản của văn học Việt Nam, là một hệ

thống hết sức đa dạng, phong phú Chơng trình môn văn trong nhà trờng trung

học phần nào đã giúp cho học sinh có một cái nhìn khá toàn diện, khá hệ thống

về bộ phận văn học này Tuy nhiên, do trình độ học sinh ở từng lứa tuổi khác

nhau là không giống nhau nên việc lựa chọn tác phẩm văn học dân gian (trong

đó có truyện dân gian), việc biên soạn nội dung dạy học những tác phẩm này

cũng có những đòi hỏi riêng Mặt khác, do yêu cầu ngày càng cao của việc đổi

mới phơng pháp dạy học nên việc biên soạn phần văn học dân gian nói chung và

truyện dân gian nói riêng trong SGK môn Văn ở các cấp cũng có sự điều chỉnh

hợp lý qua các thời kỳ Để phần nào thấy đợc sự hợp lý của phần văn học dân

gian, hẹp hơn là truyện dân gian, trong SGK môn Văn ở phổ thông, dới đây,

chúng tôi xin đa ra bảng thống kê các truyện dân gian thuộc ba thể loại sử thi,

truyền thuyết, truyện cổ tích ở SGK môn Văn bậc THCS và THPT trong những

năm gần đây:

Thể

loại Văn học 6 (tập 1) Ngữ văn 6 (tập 1) Văn học 10 (tập 1 và 2)

Ngữ văn 10 (cơ bản, tập 1)

Ngữ văn 10 (nâng cao, tập 1)

- Bánh chng bánh dày

- Thánh Gióng

(không học) Truyện An Dơng

Vơng và Mị Châu - Trọng Thuỷ

Truyện An Dơng Vơng và Mị Châu

- Trọng Thuỷ

Trang 19

- Sự tích Hồ

G-ơm Truyện

cổ tích - Sự tích da hấu- Sự tích trầu cau

- Cây bút thần

- Ông lão

đánh cá và con cá vàng

- Chử Đồng Tử

- Làm theo lời vợ dặn (ĐT)

- Tấm Cám - Tấm Cám

- Chử Đồng Tử (ĐT)

- Rama buộc tội (sử thi Ramayana)

- Hồ Pampa (ĐT)

Nhìn vào bảng hệ thống trên, ta nhận thấy:

1.3.1 Về truyền thuyết

Đây là thể loại truyện dân gian chủ yếu dạy học ở bậc THCS Số lợng

truyền thuyết đợc lựa chọn trong sách Văn học 6 (tập 1) và sách Ngữ văn 6 (tập

1) tơng đơng nhau (5 truyện)

Các truyện này thuộc cả hai thời kỳ: thời kỳ vua Hùng và thời kỳ sau vua

Hùng Điều này giúp cho học sinh có một cái nhìn toàn diện về sự phát triển của

thể loại Cả sách Văn học 6 và Ngữ văn 6 đều có 4 truyện: Truyện con rồng

cháu tiên, Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Thánh Gióng và Sự tích Hồ Gơm Sự giống nhau

đó một mặt khẳng định ý nghĩa giáo dục, mặt khác khẳng định sự biểu hiện rõ

nét đặc trng thể loại mà các truyện này đem lại cho học sinh Nhng điều đó

không có nghĩa là việc khai thác giá trị các tác phẩm trong sách Văn học 6 và

Ngữ văn 6 là giống nhau Trong hệ thống câu hỏi tìm hiểu giá trị tác phẩm ở

sách Ngữ văn 6, ta thấy có khá nhiều câu hỏi mở, câu hỏi sáng tạo liên quan đến

đặc trng thể loại Chẳng hạn:

- “Em hiểu nh thế nào là chi tiết tởng tợng, kỳ ảo? Hãy nói rõ vai trò của

các chi tiết này trong truyện”? (Truyện con rồng cháu tiên, tr.8)

- “truyền thuyết thờng liên quan đến sự thật lịch sử Theo em truyện

Thánh Gióng có liên quan đến sự thật lịch sử nào?” (truyện Thánh Gióng, tr.23)

- “Trong truyện Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, nhân vật chính là ai? Các nhân vật

chính đợc miêu tả bằng những chi tiết nghệ thuật tởng tợng, kỳ ảo nh thế nào? ý

nghĩa tợng trng của các nhân vật đó?” (Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, tr.34)

- “Em biết còn truyền thuyết nào ở nớc ta cũng có hình ảnh Rùa Vàng?

Theo em hình tợng Rùa Vàng trong truyền thuyết Việt Nam tợng trng cho ai và

cho cái gì?” (Sự tích Hồ Gơm, tr.42)

Sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề thể loại của sách Ngữ văn 6 còn đợc thể

hiện ở các phần “Ghi nhớ”, “Luyện tập”, “Đọc thêm” và cả ở phần “Chú thích”

Đây chính là sự khác biệt giữa sách Ngữ văn 6 so với Văn học 6, cũng là sự hợp

lý của sách Ngữ văn 6 nói riêng và sách Ngữ văn mới nói chung Sự hợp lý này

còn thể hiện ở chỗ, sách Ngữ văn 6 đã không đa truyền thuyết Mị Châu - Trọng

Thủy vào chơng trình mà thay vào đó là truyền thuyết Bánh chng bánh giầy (đọc

thêm) Bởi lẽ, truyền thuyết này có sự thống nhất là ở chỗ các truyền thuyết đều

Trang 20

gắn với việc giải thích các hiện tợng của lịch sử, có trong lịch sử Sự đánh giá về

sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử của nhân dân trong tác phẩm không phức tạp, đa

diện nh truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thuỷ Cảm hứng chủ đạo của chúng là ngợi ca, tự hào, trong khi đó, ở truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thuỷ lại có sự

đan xen giữa yêu mến và trách giận, hùng tráng và bi tráng Truyện Mị Châu

-Trọng Thủy lại có những vấn đề mà học sinh ở trình độ lớp 6 cha thể nhìn nhận

đánh giá thấu đáo Chẳng hạn, vấn đề về mối tình Mị Châu - Trọng Thuỷ hayviệc lý giải hình ảnh ngọc trai - giếng nớc Do vậy, truyện này phù hợp với trình

độ học sinh lớp 10 hơn là lớp 6 Cho nên sách Ngữ văn mới đã đa truyền thuyết

này vào chơng trình lớp 10

Dễ dàng nhận thấy, phần truyền thuyết đợc giới thiệu trọn vẹn trong sách

Ngữ văn 6 Trong khi đó, trong sách Ngữ văn mới, phần truyền thuyết có sự nối

tiếp từ lớp 6 đến lớp 10 Việc đa Truyện An Dơng Vơng và Mị Châu - Trọng

Thuỷ vào sách Ngữ văn 10 không chỉ làm cho học sinh hiểu sâu sắc tác phẩm

hơn, có thể lý giải những vấn đề phức tạp nêu trên mà còn giúp học sinh củng

cố, hoàn chỉnh và nâng cao kiến thức về thể loại truyền thuyết

Vậy sự quan tâm đến đặc trng thể loại đợc thể hiện cụ thể ra sao trong hai

bộ sách Ngữ văn 10 cơ bản và nâng cao?

ở bộ cơ bản, các câu hỏi phần “Hớng dẫn học bài (tr.42, 43) định hớngcho học sinh tiếp cận tác phẩm theo từng nhân vật Cụ thể: Câu hỏi 1 về An D-

ơng Vơng, câu hỏi 2 và 3 hỏi về Mị Châu, câu hỏi 4 về Trọng Thuỷ Mặc dù ở cả

4 câu hỏi đều có liên quan đến các chi tiết nhng chỉ có câu 5 là trực tiếp hỏi vềnhững chi tiết h cấu trong tác phẩm Nhìn chung, các câu hỏi đều có tính chấtgợi mở, đòi hỏi sự tích cực t duy của học sinh Các câu hỏi đã quan tâm đáng kể

đến thái độ, cách đánh giá của nhân dân lao động đối với các nhân vật lịch sử.Tuy nhiên, chúng chủ yếu là các câu hỏi “nh thế nào” Câu hỏi về nhân vật MịChâu (câu 3, tr.43) đã nêu các chi tiết liên quan đến nhân vật, do đó, phần nàohạn chế khả năng phát hiện các chi tiết hu cấu trong truyện của học sinh Câuhỏi 4 ít nhiều có sự trùng lặp với câu hỏi 1 ở phần luyện tập Lại thấy, việc “hiểu

nh thế nào về hình ảnh ngọc trai - giếng nớc” đâu chỉ có thể dựa vào nhân vậtTrọng Thuỷ Cho nên gợi dẫn ở câu hỏi này có thể làm học sinh khó cắt nghĩa

đầy đủ về hình ảnh này

Phần “Luyện tập” đã gắn tác phẩm với đời sống tinh thần của dân tộc

Điều đó không chỉ cho thấy tác dụng giáo dục đạo đức đối với học sinh mà còncho thấy sức sống lâu bền của tác phẩm, hơn thế nữa, cho thấy ảnh hởng của vănhọc dân gian đối với văn học viết

ở bộ nâng cao, hệ thống câu hỏi phần “Hớng dẫn học bài” (tr.74) lại địnhhớng học sinh tiếp cận tác phẩm từ phơng diện cốt truyện Cụ thể: câu 1 là câuhỏi bao quát về bố cục, cốt truyện; câu 2 hỏi về phần đầu tác phẩm (truyện AnDơng Vơng); câu 3 hỏi về phần sau tác phẩm (truyện Mị Châu - Trọng Thuỷ);câu 4 hỏi về kết thúc tác phẩm Các câu hỏi đều trực tiếp yêu cầu học sinh tìm ranhững chi tiết liên quan Và đến câu 5, học sinh phải thực hiện yêu cầu cao hơn

là “tìm ra những chi tiết kỳ ảo trong truyện” và phải thấy đợc “thái độ và tìnhcảm của nhân dân đối với nhân vật” đợc thể hiện qua các chi tiết đó Từ đây, cóthể nhận thấy, so với bộ cơ bản, các câu hỏi ở bộ nâng cao quan tâm nhiều hơn

đến nghệ thuật tác phẩm Nói cách khác, vấn đề thể loại đợc thể hiện rõ hơn.Trong hệ thống câu hỏi ở phần “Hớng dẫn học bài” này không chỉ có loại câuhỏi “nào”, “nh thế nào” mà còn có câu hỏi “tại sao” Câu hỏi 4 là câu hỏi sángtạo Câu hỏi 1, với yêu cầu “tóm tắt câu chuyện trong 10 dòng” là câu hỏi vừarèn luyện khả năng tóm tắt văn bản tự sự cho học sinh vừa phát huy năng lựccảm thụ, sáng tạo của các em

Hai câu hỏi phần “Bài tập nâng cao” cũng đề cập đến những vấn đề nh ở

bộ cơ bản - vấn đề liên quan đến việc lý giải hình ảnh “ngọc trai - giếng n ớc” và

đánh giá về nhân vật Mị Châu Đây cũng là hai câu hỏi gợi mở

Khác với bộ cơ bản, bộ nâng cao còn có phần “Tri thức đọc - hiểu”(tr.75) Qua đây, học sinh đợc củng cố, hoàn chỉnh và nâng cao những tri thức về

Trang 21

thể loại Đây chính là sự bổ sung cho khái niệm “truyền thuyết” mà các em đợc

tiếp cận ở sách Ngữ văn 6 (phần chú thích, tr.7) và ở bài “Khái quát văn học dân

gian” vừa mới học

1.3.2 Về truyện cổ tích

Cũng nh truyền thuyết, truyện cổ tích là thể loại chiếm một vị trí quantrọng trong chơng trình môn văn Các tác phẩm thuộc thể loại này đợc lựa chọnvới số lợng đáng kể và đợc dạy học ở cả lớp 6 và lớp 10 Số lợng truyện cổ tích ở

sách Ngữ văn 6 và Ngữ văn 10 Tuy nhiên, các tác phẩm cụ thể đợc lựa chọn lại

có sự khác biệt rõ rệt Trong sách Văn học 6 có đến 3/6 tác phẩm thiên về các

“sự tích”, tất cả là các truyện cổ tích của Việt Nam Trong khi đó, sách Ngữ văn

6 thì đa vào những tác phẩm đa dạng về nội dung, phong phú về các kiểu nhân

vật, không có giới hạn phạm vi (có truyện cổ tích Việt Nam và thế giới - TrungQuốc và Nga) Điều này phần nào đã làm cho học sinh có một cái nhìn toàn diện

hơn về đặc trng thể loại Lại thấy, trong sách Văn học 6, còn có sự nhầm lẫn về thể loại Các tác giả biên soạn bộ sách này cho rằng Sự tích bánh chng bánh

giầy là truyện cổ tích trong khi truyện này thể hiện đặc trng truyền thuyết rõ

hơn ở sách Văn học 10, truyện cổ tích Chử Đồng Tử đợc giảng dạy chính thức

là một truyện cổ tích có sự giao thoa thể loại với truyền thuyết Điều này sẽ ítnhiều gây khó khăn cho các em khi nhận thức đặc trng truyện cổ tích Phần đọcthêm là một truyện cổ tích sinh hoạt - một tiểu nhóm của truyện cổ tích nhng

không phải là tiểu nhóm quan trọng nhất, cơ bản nhất Sách Ngữ văn 10 (cơ bản, nâng cao) lựa chọn truyện Tấm Cám - một truyện vào loại tiêu biểu nhất cho

truyện cổ tích Việt Nam và đã quá quen thuộc đối với mỗi ngời dân Việt Nam từ

trẻ nhỏ đến các cụ già Sách Ngữ văn 10 (nâng cao) đa truyện Chử Đồng Tử vào

phần đọc thêm là hoàn toàn hợp lý bởi sau kho học sinh đã đợc củng cố, nâng

cao tri thức về thể loại cổ tích ở Tấm Cám, các em sẽ có thể nhận thấy đợc phần

nào tính chất giao thoa thể loại ở tác phẩm này Đây cũng là một cách để kiểmtra độ chắc chắn trong tri thức thể loại ở các em

Đa Tấm Cám vào giảng dạy là việc làm hoàn toàn hợp lý nhng không phải

là vấn đề đơn giản bởi cách kết thúc bằng hành động Tấm dội nớc sôi vào ngờiCám, tác phẩm này đã từng gây nhiều tranh cãi trong giới phê bình, nghiên cứuvăn học dân gian Những tranh cãi ấy đến nay đã tìm đợc sự giải thích hợp lý,thích đáng dựa trên đặc trng thể loại Tuy nhiên, để có thể lý giải thấu đáo, dễhiểu với học sinh, giáo viên cần phải đạt một trình độ nhận thức chắc chắn nhất

định

Trong sách Ngữ văn 10 (nâng cao), văn bản truyện Tấm Cám là bản kể theo Chu Xuân Diên - Lê Chí Quế trong Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam (NXB ĐHQG, HN, 1996) Trong sách Ngữ văn 10 (cơ bản), đó là bản kể theo Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (NXB KHXH, Hà

Nội, 1978) về cốt truyện, nhân vật, hai bản kể này hoàn toàn giống nhau Chúngkhác nhau ở ngôn ngữ kể chuyện, một số từ ngữ ở các câu vần vè trong tácphẩm Nhng điều này không ảnh hởng đến nội dung câu chuyện Đáng quan tâmhơn là phần kết thúc tác phẩm trong hai bản kể Bản kể ở bộ nâng cao ghi rằng:

“Theo lời chỉ bảo của Tấm, Cám sai đào một hố thật sâu và xuống ngồi ở dới rồigọi ngời đem nớc sôi dội xuống hố Cám chết còng queo” Còn bản kể ở bộ cơbản ghi rằng: “Tấm sai quân đào một cái hố sâu và đun nồi nớc sôi Tấm bảoCám xuống hố rồi sai quân dội nớc sôi vào hố Cám chết” Nh vậy, ở phần kếtthúc truyện, cả hai bản kể đều không thống nhất với nhau ở sự trừng phạt đích

đáng đối với mẹ con Cám Cả hai bản đều không có chi tiết Tấm muối mắm gửi

về cho dì ghẻ nh ở một số bản kể khác Do đó, giá trị nhân văn của câu chuyện

đợc đảm bảo và đặc trng thể loại không bị vi phạm Tuy nhiên, ta dễ nhận thấymột điều là trong bản kể ở bộ nâng cao, Cám tự mình gây ra cái chết - sự trừngphạt đích đáng Còn bản kể ở bộ cơ bản, Tấm lại là ngời trực tiếp, tự tay giếtCám Rõ ràng, bản kể ở bộ nâng cao hay hơn và thể hiện rõ hơn đặc tr ng thể

Trang 22

loại Bởi lẽ, trong truyện cổ tích, các nhân vật phản diện đều bị trừng phạt hoặc

do trời đất, thần tiên trừng phạt hoặc tự mình gây ra cái chết cho mình Chẳng

hạn, ngời anh (Cây khế) vì quá tham lam, may túi rộng hơn ba gang và chất quá

nhiều vàng bạc vào túi khiến chim thần không bay đợc nên đã bị chim hất xuống

biển sâu Còn trong Thạch Sanh, Thạch Sanh đã tha thứ, không hỏi tội mẹ con

Lý Thông nhng trời đất lại không chấp nhận điều đó và đã trừng phạt sự gianxảo của chúng

Do lựa chọn bản kể khác nhau nên hệ thống câu hỏi ở phần “Hớng dẫnhọc bài” ở hai bộ sách cũng có sự khác nhau ở đây, các câu hỏi ở bộ nâng cao

tỏ ra chiếm u thế hơn, có hiệu quả hơn trong việc khai thác các đặc trng thể loại.Mặc dù đều quan tâm đến mâu thuẫn, xung đột trong truyện, sự chuyển biếntrong thái độ của nhân vật Tấm trớc hành vi của mẹ con Cám nhng ở bộ cơ bản

ta không thấy có câu hỏi nào trực tiếp liên quan đến quan niệm của nhân dân lao

động xa về hạnh phúc Lại nữa, khi đề cập đến các chi tiết tởng tợng kỳ ảo, câuhỏi trong bộ cơ bản dờng nh chỉ tập trung vào các hình thức biến hoá của Tấm:

“Phân tích từng hình thức biến hoá của Tấm Quá trình biến hoá của Tấm nói lên

ý nghĩa gì” (tr.72) Còn bộ nâng cao không chỉ quan tâm đến giá trị các chi tiết

kỳ ảo mà còn gắn với các chi tiết này cũng nh những chi tiết khác trong truyệnvới mơ ớc của nhân dân Câu hỏi 3, 5 (tr.83) cho phép ta khẳng định điều đó Vàkhi định hớng cho học sinh tìm hiểu kết thúc cốt truyện, bộ phận cơ bản tậptrung vào hành động trả thù của Tấm và quan niệm của nhân dân ngày xa vềhạnh phúc Nói cách khác, bộ cơ bản nhấn mạnh đến nội dung “phạt” đối vớinhân vật phản diện, còn bộ nâng cao nhấn mạnh nội dung “thởng” cho nhân vậtchính diện

Câu hỏi phần “Luyện tập” ở bộ cơ bản và câu hỏi 1 phần “Bài tập nângcao” đều là những câu hỏi khái quát về đặc trng thể loại ở bộ nâng cao, còn cóthêm một câu hỏi sáng tạo - câu hỏi 2 Nó vừa mang tính chất phát hiện một chitiết quan trọng trong tác phẩm vừa tạo ra sự gắn kết giữa truyện cổ tích “TấmCám” với đời sống văn hoá nghệ thuật của Việt Nam Cùng với hệ thống câu hỏigợi mở, sáng tạo ở phần “Hớng dẫn học bài” và “Bài tập nâng cao”, phần “Trithức đọc - hiểu” cung cấp cho học sinh những kiến thức công cụ về đặc trng thểloại truyện cổ tích Đây chính là sự nâng cao, hoàn chỉnh những tri thức về thểloại mà các em đã đợc tiếp nhận qua sự tiếp xúc với các truyện cổ tích ở lớp 6,

qua định nghĩa về truyện cổ tích trong sách Ngữ văn 10.

ở bộ nâng cao, Chử Đồng Tử đợc đa vào phần đọc thêm Điều này hoàntoàn hợp lý ở phần trên, sự hợp lý đó đã đợc chúng tôi lý giải phần nào ở đây,

chúng tôi sẽ tiếp tục chỉ ra những điểm hợp lý trong việc khai thác truyện Chử

Đồng Tử theo đựac trng thể loại ở sách Ngữ văn 10 (nâng cao) so với sách Văn học 10 (chỉnh lý) Điều này thể hiện khá rõ qua hệ thống câu hỏi “Hớng dẫn học

bài” ở hai bộ sách này Trong sách Văn học 10, câu hỏi ít tính hệ thống Cụ thể

là: câu 1 hỏi về phẩm chất cao quý của Chử Đồng Tử và Tiên Dung, đến câu 3,quay trở lại lý giải phẩm chất hiếu thảo của Chử Đồng Tử (tr.42) Câu hỏi 1 gắnvới phần mở đầu truyện (giới thiệu nhân vật), câu hỏi 2 đã chuyển sang những

sự kiện sau cuộc hôn nhân, cho nên đã bỏ qua ý nghĩa của cuộc hôn nhân kỳ lạnày Ngay trong câu hỏi 1, khi hỏi “Riêng chi tiết tất cả cùng bay về trời có phải

là thể hiện t tởng thoát tục không?”, nhóm biên soạn đã đa ra một vấn đề khôngnhững khó lý giải với học sinh mà còn không thể hiện đặc trng thể loại Hệ

thống câu hỏi trong Ngữ văn 10 (nâng cao) đã khắc phục đợc tất cả những hạn

chế đó Cũng với số lợng 4 câu hỏi, việc tìm hiểu chi tiết luôn luôn đợc đề cập

đến Mỗi câu hỏi đề cập đến một phơng diện khác nhau của thể loại Câu 1 - cốttruyện, câu 2 - nhân vật, câu 3 - sự kiện cuộc hôn nhân, câu 4 - sự kiện sau cuộc

hôn nhân Nhờ đó, tuy chỉ đợc đọc thêm nhng truyện Chử Đồng Tử trong sách

Ngữ văn 10 đã định hớng cho học sinh có một cách tiếp cận văn bản đúng theo

đặc trng thể loại

1.3.3 Về sử thi

Trang 23

Khác với hai thể loại trên, sử thi chỉ đợc giảng dạy ở chơng trình môn văn

lớp 10 Mặc dù học sinh đã đợc nắm khái niệm về thể loại ở bài Khái quát về

văn học dân gian nhng kiến thức về đặc trng thể loại đối với các em vẫn hoàn

toàn mới mẻ Vì vậy, để các em thấy đợc những giá trị cơ bản của thể loại mới

mẻ này, SGK lớp 10 môn vă đã đa vào với số lợng lớn các tác phẩm sử thi củacác dân tộc ít ngời ở nớc ta cũng nh các dân tộc khác trên thế giới (ấn Độ, Hy

Lạp) Sử thi Đăm Săn, Ôđixê, Ramayana đều là những sử thi anh hùng ở đó,

ngời anh hùng phải giao tranh với kẻ đối địch để giành lại vợ mình Nhng cáccuộc giao tranh ấy không chỉ là quan hệ giữa cá nhân mà còn là sự khái quátnhững sự kiện, những vấn đề lịch sử có ý nghĩa quan trọng đối với cả cộng đồng.Các nhân vật anh hùng đều thể hiện tập trung ý chí, sức mạnh, lý tởng đạo đứccủa cả cộng đồng Ba tác phẩm này, về cơ bản, đều thể hiện những đặc điểmnghệ thuật của sử thi, đó là lối thể hiện “tâm lý sử thi”, cách kể chuyện chậm rãivới lối miêu tả tỉ mỉ, chi tiết, dùng nhiều so sánh sinh động Sự giống nhau của

ba tác phẩm đợc đa vào SGK sẽ cho học sinh có một cái nhìn sâu sắc về đặc trngthể loại, rộng hơn là về đời sống văn hoá của các dân tộc khác nhau trên thế

giới Cũng là sử thi anh hùng nhng Đăm Săn là sử thi dân gian, sử thi cổ sơ trong khi Ôđixê và Ramayna là sử thi bác học, sử thi cổ điển Ôđixê và Ramaya đợc

Hômêrơ và Vanmiki su tập, biên soạn, trau chuốt, hoàn thiện từ những chất liệu

sử thi vốn đợc truyền miệng qua nhiều thế kỷ, kết hợp với những sáng tạo cá

nhân Vì thế, hai sử thi này phong phú, phức tạp, sâu sắc, tinh tế hơn Đăm Săn chất phác, hồn nhiên hơn Cùng thuộc về sử thi cổ điển, trong khi Ôđixê đợc nhà thơ Hômerơ tăng cờng chất nhân bản, chất thẩm mỹ thì Ramayna lại đợc đạo sĩ

Vamiki tô đậm hơn chất tôn giáo, chất tâm linh Những sự khác nhau đó chính

là những biểu hiện sinh động, phong phú của đặc trng thể loại ở các dân tộc, các

quốc gia khác nhau trên thế giới Nh vậy, việc chọn ba tác phẩm sử thi Đăm

Săn, Ôđixê và Ramayana vào SGK môn văn lớp 10 đã đáp ứng đợc yêu cầu cung

cấp kiến thức cho học sinh về thể loại mới mẻ này

Là thể loại mà tác phẩm có dung lợng lớn, quy mô đồ sộ nên một điều dễhiểu là việc dạy học nó trong nhà trờng tất yếu gắn với các đoạn trích Từ một

đoạn trích để thấy một tác phẩm, rộng hơn là để hiểu một thể loại, đó khôngphải là một điều đơn giản Nó đòi hỏi sự lựa chọn các đoạn trích phải hết sức

tiêu biểu, toàn diện Đối với sử thi Đăm Săn trong khi sách Văn học 10 (tập 1) chọn đoạn trích “Đi bắt nữ thần mặt trời” thì sách Ngữ văn 10 chọn đoạn trích

“Chiến thắng Mtao Mxây”, ngời anh hùng đợc đặt trong quan hệ với kẻ đối địch

và trong quan hệ với cộng đồng trong khi đó những mối quan hệ này không đợcthể hiện rõ trong “Đi bắt nữ thần mặt trời” Và trong đoạn trích “Chiến thắngMtao Mxây” mang âm hởng tiêu biểu của sử thi - âm hởng hùng tráng - thì đoạntrích “Đi bắt nữ thần mặt trời” lại mang âm hởng bi tráng

Sách Ngữ văn 10 (tập 1) giữ lại hai đoạn trích “Uylítxơ trở về” và “Rama buộc tội” đã đợc lựa chọn ở sách Văn học 10 (tập 2) Việc đặt ba đoạn trích của

ba tác phẩm sử thi vào một cuốn sách nh ở chơng trình Ngữ văn mới đã tạo điều

kiện cho học sinh dễ dàng quan sát, so sánh - đối chiếu để từ đó nhận thức đầy

đủ hơn về đặc trng thể loại Đây là điều mà chơng trình văn học cũ, với việc dạy học sử thi Đăm Săn ở kỳ I và hai sử thi Ôđixê và Ramayana ở kỳ II, còn hạn chế So với sách Văn học 10 đã khai thác các đoạn trích một cách hiệu quả hơn,

đa ra những yêu cầu gắn chặt hơn với đặc trng thể loại Chẳng hạn, khi hớng dẫn

học sinh tìm hiểu đoạn trích “Uylítxơ trở về”, các câu hỏi trong sách Văn học 10

(tập 2) đã chú ý đến thái độ, tâm lý nhân vật, giá trị nhân văn đ ợc thể hiện trongcác chi tiết và những biện pháp nghệ thuật của đoạn trích Tuy nhiên, các câuhỏi tập trung vào nhân vật Pênêlốp nhiều hơn nhân vật Uylítxơ Ngoài ra, khi đa

ra yêu cầu “phân tích diễn biến tâm lý của Pênêlốp qua lời tác động của Ơriclê”,

sách Văn học 10 đã tỏ ra cha phân biệt rõ sự khác nhau giữa việc phân tích diễn

biến tâm lý của nhân vật trong truyện và tiểu thuyết hiện đại với việc phân tích

tâm lý nhân vật sử thi Sách Ngữ văn 10 đã khắc phục đợc hạn chế đó Cả bộ cơ

bản và bộ nâng cao đều có những câu hỏi gắn với cốt truyện, bố cục, đều giành

Trang 24

sự quan tâm đến hai nhân vật tơng đơng nhau Khác với sách văn học 10 (tập 2), khi tìm hiểu nhân vật, các câu hỏi trong Ngữ văn 10 chú trọng đến những biểu

hiện cụ thể của tâm trạng, phẩm chất nhân vật hơn là diễn biến tâm trạng, tâm lýcủa nhân vật đó Cụ thể là:

- Sách Ngữ văn 10 (bộ cơ bản): “Tâm trạng Uylítxơ khi trở về gặp lại vợ

mình đợc biểu hiện nh thế nào? Cách ứng xử của chàng bộc lộ phẩm chất gì?”

- Sách Ngữ văn (bộ nâng cao): “Qua đoạn trích, anh (chị) thấy nhân vật

Pênêlốp là ngời nh thế nào? Hãy tìm và phân tích một số chi tiết để làm sáng tỏnhận xét đó (chú ý định ngữ “thận trọng” 4 lần đi kèm với nhân vật Pênêlốp)”

Mặc dù cùng lấy đặc trng thể loại làm định hớng cho việc đặt hệ thốngcâu hỏi những bộ nâng cao tỏ ra chiếm u thế hơn bộ cơ bản Các câu hỏi ở bộnâng cao đã hớng vào “cách miêu tả tâm lý nhân vật sử thi của Hômerơ qua

đoạn văn (… Có thể xem cuốn sách này nh)” (câu 3, tr.56), ngôn ngữ nhân vật (câu 4, tr.57), biện pháp sosánh mở rộng (câu 6, tr.57) Nói cách khác, bộ nâng cao đã khai thác sâu ngônngữ nhân vật cũng nh ngôn ngữ ngời kể chuyện

Đoạn trích Rama buộc tội đợc giảng dạy sau các đoạn trích của sử thi

Đăm Săn và Ôđixê, khi học sinh đã có những tri thức cơ bản về thể loại Vì vậy,

phần “Hớng dẫn học bài” không chỉ có câu hỏi cụ thể mà còn có câu hỏi khái

quát nhằm củng cố, nâng cao Chẳng hạn: câu 5 (tr.59) ở sách Văn học 10 (tập 2) - “Thử phân tích nhân vật Rama với Đăm Săn (sử thi Đăm Săn) và Uylítxơ (Ôđixê), chỉ ra sự giống và khác nhau giữa ba nhân vật này”; câu 4, tr.69 - “Tìm

chi tiết mang tính chất huyền thoại trong đoạn trích này và phân tích ý nghĩa củachi tiết đó” và câu 5 (tr.69) - “Tìm hiểu nghệ thuật thể hiện tâm lý, tính cách

nhân vật của tác giả trong đoạn trích” ở sách Ngữ văn 10 (nâng cao) Các câu 2

và 3 (tr.59, 60) với hình thức trắc nghiệm trong Ngữ văn 10 (cơ bản) cũng là một

cách mà học sinh phải vận dụng những tri thức, kỹ năng phân tích đoạn trích sửthi đã hình thành ở hai bài học trớc mới trả lời chính xác đợc Từ đó, có thể thấy

rằng, nếu nh theo sách Văn học 10 (tập 2), việc củng cố chỉ đợc tiến hành sau khi đã tìm hiểu cả ba đoạn trích của ba tác phẩm sử thi thì theo Ngữ văn 10, việc

củng cố tiến hành song song với việc khai thác đoạn trích “Rama buộc tội” Đâychính là nét mới của sách Ngữ văn trong khi tiếp cận tác phẩm sử thi theo đặc tr-

ng thể loại

Ưu thế của sách Ngữ văn 10 so với Văn học 10 còn đợc thể hiện ở phần

“Luyện tập” ở bộ cơ bản, phần “Bài tập nâng cao” và “Tri thức đọc hiểu” ở bộ

nâng cao Đây là những phần mà sách Văn học 10 không có Và tuy cùng một

mục đích là củng cố, nâng cao tri thức cho học sinh nhng phần “Luyện tập” ở bộcơ bản lại hớng đến việc diễn xớng đoạn trích, tức là đặt tác phẩm trong môi tr-ờng sinh hoạt văn hoá của nó, còn “Bài tập nâng cao” ở bộ nâng cao lại thiên về

kỹ năng phân tích, khái quát một phơng diện nghệ thuật của đoạn trích

Sau khi đã tiến hành so sánh sách Văn học 10, Ngữ văn 10 (cơ bản, nâng

cao) về ba thể loại sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, chúng ta hoàn toàn có

thể khẳng định sách Ngữ văn 10 đã đáp ứng đợc yêu cầu dạy học truyện dân

gian theo đặc trng thể loại Nó đã khắc phục đợc những hạn chế, thiếu sót của

Văn học 10 Và do đối tợng học sinh khác nhau nên mức độ khai thác đặc trng

thể loại của bộ cơ bản và nâng cao cũng không giống nhau Song không vì thế

mà chúng ta tỏ thái độ ủng hộ hay không ủng hộ đối với mỗi bộ Việc so sánh

mà chúng tôi tiến hành trên đây, dẫu còn rất sơ lợc và chắc hẳn không khỏi thiếusót, chỉ nhằm mục đích duy nhất là tạo ra cơ sở để giáo viên có định hớng tốttrong việc hớng dẫn học sinh tìm hiểu truyện dân gian theo đặc trng thể loại

*

* * Để dạy học theo đặc trng thể loại, giáo viên không thể không có kiếnthức chắc chắn Để đáp ứng đợc sự thay đổi chơng trình, giáo viên cũng khôngthể không nắm đợc những đổi mới của SGK ở chơng 1 này, chúng tôi đã tiếnhành hệ thống đặc trng ba thể loại sử thi, truyền thuyết và truyện cổ tích và đã

Trang 25

tìm hiểu sự thay đổi của SGK với hy vọng đây sẽ là những cơ sở lý thuyết vàthực tiễn để giáo viên hớng dẫn học sinh đọc - hiểu truyện dân gian theo đặc tr-

ng thể loại Còn công việc này đợc tiến hành nh thế nào, chúng tôi sẽ tiếp tụctrình bày ở chơng 2

hệ thống, trong chỉnh thể của nó

Để tổ chức cho học sinh nắm vững cốt truyện của tác phẩm sử thi có dunglợng lớn, quy mô đồ sộ trong một thời gian hạn hẹp (trong mấy phút tiến hànhphần “tiểu dẫn”), thông thờng, các giáo viên cho học sinh đọc phần tóm tắt tácphẩm sử thi ở mục này sau đó yêu cầu các em hệ thống lại các sự kiện cơ bản

Đây là cách làm vừa đáp ứng đợc yêu cầu về mặt kiến thức tác phẩm vừa tiếtkiệm, cân đối đợc thời gian dạy học Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì ngờigiáo viên cha thực sự tạo ra đợc sự hứng thú của học sinh với tác phẩm, cha tạo

điều kiện để học sinh thấy đợc mối quan hệ giữa toàn bộ tác phẩm và đoạn trích.Khi hớng dẫn học sinh nắm bắt cốt truyện của toàn tác phẩm sử thi, sau khi họcsinh ra trình bày những sự kiện, chi tiết cơ bản, giáo viên cần tập trung xoáy vàomột số chi tiết có liên quan trực tiếp đến đoạn trích nhằm giúp học sinh hiểu sâuhơn, có khả năng lý giải đầy đủ hơn một số vấn đề trong đoạn trích Chẳng hạn,

khi tóm tắt Đăm Săn, giáo viên có thể lu ý học sinh các cuộc chiến đấu giữa

Đăm Săn với các tù trởng khác Điều này sẽ giúp học sinh thấy rằng, chiến thắngMtao Mxây chỉ là một trong chuỗi chiến thắng của chàng Đăm Săn và mục đíchcủa cuộc chiến đấu không phải là giành lại vợ mà là để xây dựng một bộ lạc c-

ờng thịnh hơn Tóm tắt Ôđixê giáo viên nên kể cho học sinh nghe một số sự kiện

về Uylítxơ khi chàng ở trên đảo của gã khổng lồ Pôliphem, về Pênêlốp khi nàngphải đối phó với bọn cầu hôn Nhờ đó, học sinh sẽ có điều kiện hiểu sâu sắc trítuệ tuyệt vời của Uylítxơ cũng nh sự thủy chung của Pênêlốp Còn với

Trang 26

Ramayana, khi tóm tắt tác phẩm, giáo viên có thể dành chút ít thời gian để kể về

việc Rama giải thoát cho Xita khỏi tay quỷ vơng Ravanna để học sinh có cơ sở

đáng tin cậy khi lý giải cơn ghen của chàng hoàng tử này Giáo viên cũng có thể

kể về những hành động chống cự quyết liệt của Xita khi bị Ravanna bắt giamnhằm giúp học sinh hiểu rõ hơn tấm lòng thuỷ chung, trong trắng tuyệt vời củanàng Có thể thấy rằng các chi tiết nh vậy chính là những gợi ý ban đầu của giáoviên đối với học sinh nhằm giúp các em cắt nghĩa, lý giải đoạn trích một cáchthấu đáo, trọn vẹn Ngoài ý nghĩa quan trọng này, việc giáo viên lu ý đến nhữngchi tiết giúp học sinh hiểu đợc đoạn trích còn khiến cho công đoạn tóm tắt tácphẩm trở nên sinh động, hấp dẫn, kích thích ngay từ đầu hứng thú học tập ở họcsinh Và phần nào đó, nó làm cho học sinh thấy đợc rằng việc nắm cốt truyệntác phẩm không phải là điều vô ích

Để tổ chức cho học sinh nắm vững cốt truyện của đoạn trích, giáo viênkhông cứ nhất thiết cho học sinh đọc đoạn trích đó rồi mới cho các em tóm tắtcác sự kiện cơ bản của nó Dựa vào việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh, giáoviên có thể yêu cầu ngay một học sinh tóm tắt cốt truyện của đoạn trích Việccho học sinh đọc đoạn trích là cần thiết bởi đây là sự tiếp xúc chân thực nhất,sinh động nhất giữa học sinh và tác phẩm Và ở một mức độ nào đó, nó là cơ sởhình thành nên những cảm nhận, ấn tợng ban đầu ở các em, tạo ra một khôngkhí phù hợp để thầy và trò thâm nhập tác phẩm Song theo cơ chế dạy học hiệnnay, giáo viên hoàn toàn chủ động, linh hoạt trong quá trình tiến hành phân tích

đoạn trích Giáo viên có thể cho học sinh đọc một số đoạn cần thiết nhất trongquá trình ấy Việc cho học sinh đọc cả đoạn trích rồi mới tóm tắt là không cầnthiết bởi nó không những làm mất nhiều thời gian mà còn trở nên thừa bởi làm

nh thế không phát huy đợc tính tích cực, chủ động của học sinh - chủ thể củahoạt động học Đó là còn cha kể việc tóm tắt đoạn trích hoàn toàn không khó

đối với học sinh Trong sách Ngữ văn 10, đặc biệt là bộ nâng cao, các câu hỏi

yêu cầu xác định bố cục, tóm tắt (kể lại) văn bản chính là những câu hỏi liênquan đến cốt truyện của đoạn trích Nh vậy, yêu cầu nắm vững cốt truyện đã đặt

ra trong quá trình học sinh chuẩn bị bài ở nhà Trong quá trình dạy học trên lớp,giáo viên là ngời đóng vai trò kiểm tra việc nắm bắt cốt truyện của các em, bổsung, hệ thống lại

Việc giáo viên kiểm tra khả năng nắm bắt cốt truyện của học sinh, bổsung, hệ thống hoá các tình tiết, sự kiện là điều cần thiết Song phải bổ sung, hệthống hoá nh thế nào thì đó lại là cả một vấn đề Công việc này đâu chỉ giản đơn

là sau khi học sinh tóm tắt, giáo viên nhận xét và tóm tắt lại theo cách riêng củamình Không nên nghĩ rằng, giáo viên chỉ cần trình bày các tình tiết, sự kiệntheo một trật tự hợp lý là đủ Cần phải thấy rằng công việc này của giáo viên nếuchỉ có nh vậy thì chẳng những nó không đem lại hứng thú cho học sinh khi nghegiáo viên trình bày mà ít nhiều còn gây tâm lý đơn điệu, nhàm chán ở giáo viên

đối với công việc Sự bổ sung, hệ thống hoá các tình tiết, sự kiện của giáo viên

rõ ràng là phải xuất phát từ chính khả năng nắm bắt cốt truyện của học sinh

nh-ng điều quan trọnh-ng hơn là phải xuất phát từ mục đích tạo đợc hứnh-ng thú học tập ởcác em, giúp các em có một định hớng tiếp cận đoạn trích Giáo viên có thể thựchiện công việc này theo nhiều cách thức khác nhau tuỳ vào trình độ học sinh vànăng lực s phạm của bản thân ở đây, chúng tôi thiết nghĩ giáo viên nên tiếnhành việc bổ sung, hệ thống hoá các sự kiện, tình tiết bằng cách đa ra mô hình(sơ đồ) cho đoạn trích Mô hình của đoạn trích không chỉ hệ thống hoá nhữngkiến thức cần thiết phục vụ trực tiếp cho bài học mà còn góp phần hình thành ởhọc sinh những kỹ năng tơng ứng khi tiếp xúc với các đoạn trích cùng dạng môhình Đa ra mô hình đoạn trích cũng có nghĩa là giáo viên đã trực quan hoá, sinh

động hoá giờ dạy của mình Cơ sở của mô hình đoạn trích chính là các mốc sựkiện có ý nghĩa thúc đẩy quá trình diễn biến của cốt truyện Nói cách khác, nhờcác sự kiện này mà đoạn trích có mâu thuẫn, xung đột, có phát triển, có đỉnh

điểm và có mở nút

Trang 27

Tóm tắt đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây, giáo viên có thể đa ra mô

hình bao gồm các tình tiết, sự kiện nh sau:

Mô hình này định hớng cho học sinh nắm bắt các tình tiết cụ thể một cách

dễ dàng, hiệu quả hơn Nó đợc áp dụng không chỉ cho đoạn trích này mà còncho những đoạn kể về cuộc chiến đấu giành lại vợ của Đăm Săn với các tù trởngkhác Với mô hình này, học sinh có thể nhận ra mối quan hệ giữa ngời anh hùng

sử thi với cộng đồng, với thần linh Nh vậy, ngay từ đầu, giáo viên đã định hớngcho học sinh những đặc trng về thể loại

Đối với hai đoạn trích Uylítxơ trở về và Rama buộc tội, công việc tóm tắt

có phần khó khăn hơn bởi trong hai đoạn trích này, nhân vật ít hành động mà cóthiên hớng bộc lộ suy nghĩ, tình cảm Do đó, mô hình của hai đoạn trích kể trên

sẽ có những khác biệt so với mô hình đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây Nếu

nh mô hình đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây bao gồm các sự kiện - hành

động thì mô hình đoạn trích Uylítxơ trở về và Rama buộc tội lại là các sự kiện

-tâm lý, trí tuệ Giáo viên có thể đa ra mô hình các đoạn trích nh sau:

* Đối với đoạn trích Uylítxơ trở về:

- Nhũ mẫu Ơriclê báo tin, Pênêlốp mừng rỡ và phân vân

- Têlêmác trách cứ gay gắt, Pênêlốp phân vân cao độ và xúc động dữ dội

- Pênêlốp đa ra thử thách “chiếc giờng” đối với Uylítxơ

- Uylítxơ vợt qua thử thách, Pênêlốp hạnh phúc bên chồng

* Đối với đoạn trích Rama buộc tội:

- Rama nghi ngờ, buộc tội và ruồng bỏ Xita

- Xita đau đớn giãi bày với Rama

- Xita quyết định chọn cái chết để tự thanh minh

- Rama vẫn nghi ngờ, ghen tuông cực độ

- Xita bớc vào lửa trong sự xót thơng của công chúng

Có thể thấy, hai mô hình trên không có tính phổ quát nh mô hình đoạn

trích Chiến thắng Mtao Mxây, nghĩa là chúng không phải là công thức chung

cho một số các đoạn khác trong tác phẩm Tuy nhiên cũng nh mô hình đoạn

trích Chiến thắng Mtao Mxây, mô hình đoạn trích Uylítxơ trở về và Rama buộc

tội đều giúp học sinh dễ dàng nhận thấy các bớc phát triển của cốt truyện Đây

là cơ sở để các em nhận ra tính chất kịch trong cốt truyện đoạn trích

Trong quá trình hớng dẫn học sinh nắm bắt cốt truyện của tác phẩm sử thi

và cốt truyện đoạn trích, giáo viên cần phải giúp học sinh tự rút ra đợc vị trí của

đoạn trích trong toàn bộ tác phẩm Công việc này có vẻ giản đơn nhng nó lại cómột ý nghĩa khá quan trọng Bởi nó cung cấp cho học sinh những cơ sở dữ liệucần thiết để cắt nghĩa, lý giải một số vấn đề trong đoạn trích Trong ba đoạn

trích đợc đa vào sách Ngữ văn 10, đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây nằm ở phần phát triển của tác phẩm Đăm Săn, đoạn trích Uylítxơ trở về và Rama buộc

tội nằm ở phần kết thúc Vì nằm ở phần phát triển của tác phẩm, lại có mô hình

chung với nhiều đoạn trích khác nên nghệ thuật của Chiến thắng Mtao Mxây có

những đặc điểm tiêu biểu cho nghệ thuật của toàn tác phẩm, chẳng hạn nh ngônngữ nhân vật, ngôn ngữ ngời kể chuyện, nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật

Vì nằm ở phần kết thúc tác phẩm nên đoạn trích Uylítxơ trở về và Rama buộc tội

có ý nghĩa hoàn thiện phẩm chất, tính cách nhân vật ở đoạn trích đoạn trích

Uylítxơ trở về, vẻ đẹp trí tuệ và tâm hồn của Uylítxơ, Pênêlốp đợc khẳng định

tuyệt đối ở đoạn trích Rama buộc tội, tấm lòng thủy chung trong trắng của Xita

đợc đẩy đến tận cùng, ý thức bảo vệ danh dự cộng đồng của Rama đợc biểu hiện

Trang 28

ở một khía cạnh mới - tình cảm đạo đức (các phần trớc, ý thức bảo vệ danh dựcộng đồng đợc biểu hiện qua hành động, gắn liền với việc bộc lộ tài năng củaRama) Và riêng với đoạn trích này khi hớng dẫn học sinh tìm hiểu vị trí của nó,giáo viên nên lu ý cho học sinh rằng, đoạn trích nằm ở chơng “sáng tạo” của tácphẩm (Chúng tôi tạm gọi nh vậy bởi xét về sự hoàn chỉnh cốt truyện, tác giả cóthể kết thúc ở chơng 78 (Gặp gỡ) vì Rama đã đạt đợc mục đích cứu nàng Xita,tiêu diệt kẻ thù tàn ác Ravanna, giải phóng đợc đảo Lanca đúng lúc chàng hếthạn đi đày Nhng tác giả đã sáng tạo ra một bớc ngoặt trong quá trình diễn biếncủa câu chuyện ở chơng 79 này)

Một điều quan trọng khi hớng dẫn học sinh nắm bắt cốt truyện sử thi làphải làm sao cho học sinh thấy đợc ý nghĩa của các sự kiện, tình tiết trong cốttruyện Công việc này đợc tiến hành xen kẽ trong quá trình phân tích đoạn tríchchứ không tách thành một khâu riêng biệt ở đầu bài học Để học sinh nhận thấyrằng trong tác phẩm sử thi, các sự kiện thờng có ý nghĩa lớn lao, trọng đại đốivới cả cộng đồng, giáo viên cần đặt ra các câu hỏi gợi mở để bổ sung thêm nội

dung các câu hỏi trong SGK Chẳng hạn, khi phân tích đoạn trích Chiến thắng

Mtao Mxây, giáo viên có thể hỏi: “Vì sao sau chiến thắng Mtao Mxây, Đăm Săn

lại kêu gọi dân làng của Mtao Mxây đi theo mình?”, “Vì sao tác giả không miêutả cảnh đoàn tụ của Đăm Săn và HNhí mà miêu tả cảnh ăn mừng chiến thắng?”.Trả lời đợc hai câu hỏi này cũng tức là học sinh đã nắm đợc một đặc trng cơ bảncủa thể loại sử thi Bởi để lý giải đợc hai câu hỏi nêu trên, học sinh phải thấy đợcthực chất cuộc chiến đấu của Đăm Săn với Mtao Mxây không phải để giành lại

vợ mà là để mở rộng địa bàn lãnh thổ, làm cho bộ tộc ngày càng giàu mạnh Khi

phân tích Uylítxơ trở về, để giúp học sinh thấy đợc ý nghĩa trọng đại của sự kiện

sử thi, giáo viên cần nhấn mạnh với học sinh rằng sự kiện trở về của Uylítxơkhông chỉ tô đậm vẻ đẹp trí tuệ, tâm hồn của Uylítxơ và Pênêlốp mà còn thểhiện khát vọng chinh phục biển cả, mở rộng giao lu buôn bán bằng đờng biển

của ngời Hy Lạp cổ đại Đối với đoạn trích Rama buộc tội, nếu tách rời sự kiện

khỏi quan niệm đạo lý của ngời ấn Độ thì giáo viên sẽ không thể lý giải nổi thựcchất cơn ghen tuông của Rama đối với Xita Và câu hỏi “cơn ghen tuông củaRama có phải là biểu hiện của sự tầm thờng, nhỏ nhen, ích kỷ ở ngời anh hùngnày không?” sẽ khó có một lời giải đáp thoả đáng Để làm rõ vấn đề này, giáoviên cần giúp học sinh thấy rằng sự kiện Rama buộc tội Xita và sự kiện Xitanhảy vào lửa đều là những đòi hỏi tất yếu của cộng đồng Ngời ấn Độ khôngchấp nhận bất cứ sự mờ ám nào có thể làm phơng hại đến danh dự cộng đồng ở

đây, Rama lại là ngời đại diện cho danh dự cộng đồng cho nên chàng phải nghingờ, ghen tuông, buộc tội ngời vợ trong trắng, thủy chung của mình Còn Xita,nàng buộc phải nhảy vào lửa để minh chứng cho phẩm hạnh của mình, bảo vệdanh dự bản thân và hơn thế là để bảo vệ danh dự cộng đồng, để khẳng địnhrằng danh dự cộng đồng không hề bị phơng hại

Hớng dẫn học sinh nắm bắt cốt truyện sử thi theo đặc trng thể loại, giáoviên không thể không giành một sự quan tâm thích đáng để làm sáng tỏ tínhchất trì hoãn của cốt truyện sử thi Trớc hết, giáo viên phải yêu cầu học sinh chỉ

ra đợc tính chất trì hoãn đợc thể hiện ở chi tiết, sự kiện nào trong đoạn trích Đểhọc sinh thấy đợc điều này, giáo viên có thể đặt các câu hỏi nh: “Vì sao tác giảdân gian miêu tả hành động múa khiên của Đăm Săn đến hai lần?”, “Tại saoHômerơ lại miêu tả tỉ mỉ tâm trạng phân vân của Pênêlốp khi nghe nhũ mẫu

Ơriclê báo tin và khi nghe lời trách cứ gay gắt của con trai Têlêmác rồi mới đểcho nàng trực tiếp đối thoại với Uylítxơ và đa ra thử thách “chiếc giờng”?”, “Tạisao Vamiki không để cho Rama bộc lộ ngay từ đầu những lời nghi ngờ, buộc tộiXita mà lại dành một dung lợng khá dài trong lời nói của chàng để chàng khẳng

định mục đích của việc tiêu diệt Ravana là để bảo vệ uy tín, danh dự dòng họ?”,

“Tại sao trong đoạn trích Rama buộc tội, nhân vật Xita lại đợc miêu tả khá kỹ

những biểu hiện bên ngoài nh vậy?” Từ việc giải đáp những câu hỏi nêu trên,giáo viên có thể giúp học sinh thấy đợc tác dụng của sự trì hoãn đối với cốttruyện sử thi Sự trì hoãn trong cốt truyện sử thi không chỉ tạo nên tâm lý chờ

Trang 29

đợi ở ngời đọc mà còn khiến họ thích thú, bị cuốn hút bởi sự mô tả ấn tợng, đậmmàu sắc huyền thoại Để học sinh tự rút ra điều này, sau khi các em đã học xong

ba đoạn trích sử thi, giáo viên có thể đặt ra câu hỏi: “Sự trì hoãn có tạo ra sứchấp dẫn gì không?” Lúc này, câu hỏi trên đã trở nên “vừa sức”, có giá trị nhmột sự khái quát, tổng kết một đặc điểm khá quan trọng của cốt truyện sử thi

Nắm vững cốt truyện không chỉ dừng lại ở việc nắm các sự kiện, tình tiếtcơ bản mà hơn thế, cần phải hiểu đợc ý nghĩa của các chi tiết sự kiện Cốt truyệnkhông tách rời với nhân vật bởi nó là diễn biến của cuộc đời nhân vật, là chuỗihành động, sự kiện liên quan đến nhân vật Cho nên việc nắm vững cốt truyệnphần nào đợc củng cố sâu hơn trong quá trình tìm hiểu nhân vật sử thi Nói cáchkhác, quá trình tìm hiểu nhân vật sử thi là một cách để nắm vững cốt truyện.Ngoài ra, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh diễn các đoạn trích sử thi trongcác giờ ngoại khóa về văn học dân gian (với hình thức câu lạc bộ văn học dângian - một hình thức ngoại khoá phổ biến hiện nay), kể sáng tạo các đoạn trích

ấy để học sinh vừa phát huy đợc khả năng sáng tạo, vừa nắm vững đợc nhữngnét cơ bản của cốt truyện sử thi

Nh vậy, để tổ chức cho học sinh nắm vững cốt truyện sử thi, giáo viên cóthể sử dụng nhiều phơng pháp, nhiều hình thức khác nhau, tiến hành trong nhiềuthời điểm khác nhau nhng cuối cùng đều hớng đến việc củng cố tri thức về đặctrng thể loại và tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng trong quá trình dạy học

2.1.2 Tìm hiểu nhân vật sử thi

Nhân vật là trung tâm của văn học cho nên việc tìm hiểu nhân vật đợcxem là khâu chính yếu nhất trong quá trình đọc - hiểu các văn bản nghệ thuật.Trong tác phẩm sử thi, nhân vật đợc hiện lên qua các chi tiết miêu tả ngoại hình

và chủ yếu qua ngôn ngữ, hành động Đó chính là sự cụ thể hoá phẩm chất, tínhcách và cả tâm lý của nhân vật Nhng để làm rõ đặc điểm của nhân vật sử thi,

điều giáo viên quan tâm không phải là các đặc điểm tính cách, tâm lý của nhânvật mà chính là vẻ đẹp phi thờng của nhân vật sử thi đợc biểu hiện trên các ph-

đợc những vấn đề này, giáo viên không nên dừng lại ở việc yêu cầu học sinhkhái quát những phẩm chất, tính cách nhân vật qua các chi tiết mà cần phải yêucầu các em nhận xét về chính những phẩm chất, tính cách ấy Khi phân tích

Đăm Săn trong Chiến thắng Mtao Mxây, giáo viên có thể đa ra câu hỏi: “Tại sao

tác giả dân gian lại dùng những hình ảnh so sánh phóng đại để miêu tả hành

động múa khiên của Đăm Săn cũng nh để miêu tả chân dung chàng (ở cuối đoạntrích)?” Trả lời câu hỏi này, học sinh không chỉ thấy đợc vẻ đẹp của ngôn ngữ

mà còn thấy đợc mục đích thẩm mỹ của lối diễn đạt so sánh phóng đại, đó là thểhiện sức mạnh phi thờng và vẻ đẹp khác thờng của nhân vật sử thi Sự phi thờng,khác thờng ấy sẽ càng đợc tô đậm hơn khi giáo viên phân tích hành động múakhiên của Đăm Săn trong tơng quan so sánh với nhân vật Mtao Mxây Khác với

Đăm Săn, sự phi thờng thể hiện ở sức mạnh, tài năng, khí phách, nhân vậtUylítxơ và Pênêlốp, sự phi thờng lại bộc lộ ở tâm hồn và trí tuệ ở đoạn trích

Uylítxơ trở về, tính chất phi thờng của hai nhân vật này có sự thống nhất với cả

tác phẩm sử thi Ôđixê với Uylítxơ, sự phi thờng thể hiện ở trí tuệ thông minh

tuyệt vời Với Pênêlốp, sự phi thờng lại thể hiện ở tấm lòng thuỷ chung son sắt,

sự tiết chế cảm xúc đến cao độ Để học sinh nhận thấy đợc sự khác thờng củahai nhân vật này, giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi, chẳng hạn nh: “Vì sao cả

ba nhân vật Ơriclê, Têlêmác và Pênêlốp đều có những lời ngợi ca về sự khôngngoan của Uylítxơ?”, “Sự thận trọng của Pênêlốp thực chất là gì? Sự thận trọngcủa nàng ngay cả với chồng có phải là điều không cần thiết? Có phải là điều kỳquặc?” Khi giải đáp những câu hỏi này, giáo viên phải yêu cầu học sinh lý giải

Trang 30

đợc rằng sở dĩ cả Ơriclê, Têlêmác và Pênêlốp đều có những lời ngợi ca về sựkhôn ngoan của Uylítxơ là vì sự khôn ngoan của chàng, trí tuệ của chàng khôngmột ngời thờng nào sánh đợc, nó chỉ có thể sánh ngang với thần linh mà thôi.Còn sự thận trọng của Pênêlốp không phải là điều kỳ quặc, không phải là điềukhông cần thiết mặc dù có lẽ không có ngời phụ nữ nào lại thận trọng đến nhthế, vẫn muốn thử thách chồng ngay cả khi chồng ngồi ngay trớc mặt mình Cóhiểu đợc những khó khăn của nàng khi phải ứng phó với 108 kẻ cầu hôn mớihiểu đợc sự cần thiết của việc thử thách ngời chồng yêu dấu ngay tại chính nhàmình, dù đã bị tác động rất mạnh mẽ (“rất đỗi phân vân”) sau khi nghe lời báotin của nhũ mẫu và lời trách móc của con trai Sự thận trọng của Pênêlốp thậtkhác thờng nhng đó là biểu hiện của sự thuỷ chung son sắt, sự chờ đợi bền bỉ và

đồng thời cũng là biểu hiện của trí tuệ hơn ngời Có thể nói, gợi dẫn học sinh lýgiải đợc nh vậy cũng tức là giáo viên đã giúp học sinh thấy đợc một đặc điểmquan trọng của nhân vật sử thi - nhân vật mang vẻ đẹp phi thờng, có thể sánhngang với thần linh

Nếu nh việc xác định tính chất phi thờng của nhân vật sử thi trong hai

đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây và Uylítxơ trở về không mấy khó khăn bởi

dù ở đoạn trích hay trong toàn tác phẩm, tính chất ấy đều đợc thể hiện thốngnhất ở một phơng diện nào đó thì việc xác định tính chất phi thờng của nhân vật

sử thi trong đoạn trích Rama buộc tội lại có phần phức tạp hơn Cũng nh

Pênêlốp, Xita là một ngời vợ thuỷ chung, trong trắng nhng sự thủy chung củaPênêlốp đợc bộc lộ chủ yếu qua cách nàng ứng phó với 108 kẻ cầu hôn, còn sựthủy chung của Xita lại đợc thử thách qua việc nàng bị quỷ vơng Ravanna bắt đi

Nh vậy, sự thủy chung của Pênêlốp thiên về tính chất kiên định, sắt son trongkhi sự thủy chung của Xita lại bao hàm sự trong trắng, trinh nguyên của tâm

hồn Trong Rama buộc tội, phẩm chất ấy đợc thể hiện rõ nét nhất, xúc động nhất

qua hành động Xita bớc vào lửa Để học sinh phát hiện ra sự phi thờng của nhânvật qua hành động này, giáo viên phải lu ý cho học sinh những chi tiết thể hiệnthái độ của nàng khi bớc vào lửa, những chi tiết phản ánh thái độ của côngchúng Xita đã bớc vào ngọn lửa với một thái độ dũng cảm, không chút đắn đo,chần chừ bởi nàng mong muốn đợc minh oan cho chính mình, khẳng định sựtrinh tiết, trong trắng với Rama và với đám đông Hành động của nàng đã khiến

“ai nấy, già cũng nh trẻ, đau lòng đứt ruột”, “các phụ nữ bật ra tiếng kêu khócthảm thơng Cả loài Rắcsaxa lẫn loài Vanara cùng kêu khóc vang trời.” Tất cảcác chi tiết đó sẽ giúp học sinh hiểu rằng hành động của Xita không phải là hành

động bình thờng, không phải bất cứ ngời phụ nữ nào cũng dám làm nếu rơi vàohoàn cảnh bị chồng nghi ngờ, ruồng bỏ Để phân tích sâu hơn ý nghĩa của hành

động này, giáo viên có thể đặt ra câu hỏi: “Có phải việc nhảy vào lửa là hành

động duy nhất có thể minh oan cho Xita? Sự lựa chọn của nàng có ý nghĩa gì?”

ở đây, học sinh có thể đa ra nhiều ý kiến rất khác nhau, nhng giáo viên phải

định hớng cho học sinh hiểu rằng hành động nhảy vào lửa của Xita là do hoàncảnh bắt buộc, và không phải là hành động duy nhất có thể giúp nàng minh oan.Xita đã lựa chọn cái chết - một cái chết đờng hoàng, cao đẹp - để minh oan, bảo

vệ danh dự cho mình Đây là điều mà không phải ngời phụ nữ nào cũng có thểdám nghĩ và dám làm Rõ ràng, sự lựa chọn của Xita là bằng chứng cho thấy sựphi thờng của ngời vợ thuỷ chung, kiên trinh, và bất khuất này

Nh trên đã nói, việc hớng dẫn học sinh nhận ra sự phi thờng của nhân vật

sử thi trong đoạn trích Rama buộc tội có phần khó khăn hơn hai đoạn trích trớc

đó Khó khăn đó phần lớn tập trung ở việc phân tích nhân vật Rama ở đây, sựphi thờng của chàng không bộc lộ ở tài năng, sức mạnh nh ĐămSăn bởi tài năngphi thờng, sức mạnh siêu phàm của chàng đã bộc lộ ở phần trớc đó, khi chànggiao chiến với quỷ vơng Sự phi thờng của chàng cũng không thể hiện ở trí tuệtuyệt vời nh Uylítxơ Sự phi thờng của chàng nằm ở ý thức danh dự cộng đồng,chàng sẵn sàng hy sinh tình cảm cá nhân vì danh dự của cộng đồng Để học sinhnhận thức đợc điều này, giáo viên phải định hớng để các em cảm nhận đúng vềcon ghen của Rama, giúp các em thấy đợc rằng con ghen tuông không phải là

Ngày đăng: 19/12/2013, 10:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4. Hình thành kỹ năng đọc - hiểu truyện dân gian nói chung và truyền  thuyết nói riêng. - Hướng dẫn học sinh đọc   hiểu truyện dân gian ở trường THPT theo đặc trưng thể loại
4. Hình thành kỹ năng đọc - hiểu truyện dân gian nói chung và truyền thuyết nói riêng (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w