Luật nhãn hiệu hàng hoá đầu tiên được ban hành tại Pháp năm 1857.Theo luật này, quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá thuộc về người thực hiệnsớm nhất một trong hai việc: sử dụng nhãn hiệu và
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 5
TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU VÀ BẢN QUYỀN NHÃN HIỆU SẢN PHẨM TRONG MARKETING QUỐC TẾ 5
I N HÃN HIỆU SẢN PHẨM TRONG MARKETING QUỐC TẾ : 5
1 Khái niệm nhãn hiệu 5
2 Cấu tạo và yêu cầu của nhãn hiệu 6
2.1 Cấu tạo của nhãn hiệu 6
2.2 Yêu cầu của nhãn hiệu 6
3 Chiến lược nhãn hiệu sản phẩm 8
3.1 Chiến lược nhãn mở rộng (Brand extention) 8
3.2 Chiến lược đa nhãn hiệu 8
3.3 Chiến lược nhãn hiệu theo nhóm sản phẩm 8
3.4 Chiến lược gắn nhãn hiệu liền với tên doanh nghiệp 9
3.5 Chiến lược nhãn toàn cầu 9
4 Ý nghĩa của việc thiết kế và xây dựng nhãn hiệu 10
II B ẢN QUYỀN NHÃN HIỆU SẢN PHẨM 11
1 Khái niệm bản quyền nhãn hiệu 11
2 Các Công ước quốc tế về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm 13
2.1 Hiệp định các khía cạnh có liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (1994) (TRIPS) (Do Tổ chức Thương mại Thế giới quản lý thực hiện) 13
2.2 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp 15
2.3 Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá 18
2.4 Nghị định thư Madrid về đăng ký nhãn hiệu quốc tế (1891) (Do WIPO quản lý thực hiện) 21
2.5 Thoả ước NICE về phân loại quốc tế đối với hàng hoá và dịch vụ vì mục đích đăng ký nhãn hiệu (1957) (Do WIPO quản lý) 22
2.6 Hiệp ước luật nhãn hiệu hàng hoá (1994) (Do WIPO quản lý thực hiện) 23
3 Các quy định về bản quyền nhãn hiệu hàng hoá trên các khu vực thị trường 25
3.1 Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá của Hoa Kỳ 25
3.2 Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá của Liên minh châu Âu 28
3.3 Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá của Nhật 30
Kết luận chương: 34
CHƯƠNG 2 34
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU SẢN PHẨM TRONG MARKETING QUỐC TẾ 34
I T HỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP QUY LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ CỦA NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ V IỆT NAM 35
1 Các văn bản pháp quy liên quan đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá 35
1.1 Các văn bản pháp luật: 35
1.1.1 Bộ luật dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quốc hội thông qua ngày 20/10/1995 35
1.1.2 Bộ luật hình sự năm 2000 35
1.2 Các văn bản hướng dẫn giải thích luật 35
1.2.1 Nghị định 63/CP (24.10.1996) được sửa đổi bổ sung theo NĐ 6/2001/ NĐ-CP (01.01.2001) quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp 35
1.2.2 Nghị định số 12/1999/NĐ-CP (6.3.1999) về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp 36 1.3 Các thông tư hướng dẫn thi hành nghị định 36
1.3.1 Thông tư số 3055/TT sở hữu công nghiệp của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp và các thủ tục khác trong Nghị định 63/ CP ngày 24.10.1996 của Chính phủ quy định chi tiết sở hữu công nghiệp 36
1.3.2 Thông tư hướng dẫn thu, nộp và sử dụng phí và lệ phí sở hữu công nghiệp Số: 23 TC/TCT ngày 9/5/1997 36
1.4 Các công ước quốc tế liên quan tới nhãn hiệu hàng hoá mà Việt Nam tham gia 36
1.5 Các Hiệp định song phương mà Việt Nam ký kết với các khu vực thị trường 37
1.5.1 Hiệp định giữa Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ 37
1.5.2 Hiệp định khung được ký kết giữa nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với Liên minh châu Âu năm 1995 39
1.5.3 Hiệp định khung ASEAN về hợp tác sở hữu trí tuệ được ký kết giữa Việt Nam và các nước ASEAN tháng 12/1995 39
Trang 22 Những vấn đồng nhất về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm giữa luật Việt Nam và quốc tế 39
2.1 Những vấn đồng nhất về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm giữa luật Việt Nam và Hiệp định TRIPS 39
2.2 Những vấn đồng nhất về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm giữa luật Việt Nam và Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp 44
2.3 Những vấn đồng nhất về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm giữa luật Việt Nam và Thoả ước Madrid về đăng ký nhãn hiệu hàng hoá 44
3 Những bất đồng về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm giữa luật Việt Nam và quốc tế 45
3.1 Những bất đồng về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm giữa luật Việt Nam và Hiệp định TRIPS 45
3.2 Những bất đồng về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm giữa luật Việt Nam và Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp 46
3.3 Những bất đồng về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm giữa luật Việt Nam và Thoả ước Madrid về đăng ký nhãn hiệu hàng hoá 46
II T HỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ BẢN QUYỀN NHÃN HIỆU SẢN PHẨM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP V IỆT N AM TRÊN CÁC KHU VỰC THỊ TRƯỜNG 47
1.Thị trường Việt Nam 47
1.1 Thực trạng hoạt động đăng ký bảo hộ 47
1.1.1 Đăng ký bảo hộ của các doanh nghiệp Việt Nam 49
1.1.2 Đăng ký bảo hộ của các doanh nghiệp nước ngoài 49
1.2 Thực trạng vi phạm bảo hộ bản quyền nhãn hiệu sản phẩm 52
2 Thực trạng hoạt động bảo hộ bản quyền nhãn hiệu sản phẩm của Việt Nam trên các khu vực thị trường quốc tế 57
2.1 Xung đột nhãn hiệu hàng hoá Việt Nam trên thị trường Mỹ 57
2.2 Xung đột nhãn hiệu sản phẩm trên các thị trường khác 60
Kết luận chương: 62
CHƯƠNG 3 63
NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC BẢO HỘ NHÃN HIỆU SẢN PHẨM TRONG MARKETING QUỐC TẾ 63
I Ý NGHĨA VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HỘ BẢN QUYỀN NHÃN HIỆU SẢN PHẨM HÀNG HOÁ V IỆT N AM TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC GIA VÀ QUỐC TẾ 63
1 Đối với doanh nghiệp 64
1.1 Bảo hộ bản quyền nhãn hiệu sản phẩm bảo vệ uy tín sản phẩm, chống lại các hành vi giả mạo và cạnh tranh không lành mạnh 64
1.2 Bảo hộ bản quyền nhãn hiệu sản phẩm tạo cơ sở cho doanh nghiệp áp dụng các hình thức kinh doanh mới 64
1.3 Bảo hộ bản quyền nhãn hiệu sản phẩm giúp doanh nghiệp dễ dàng hội nhập kinh tế quốc tế 67
2 Đối với người tiêu dùng: 68
3 Đối với nhà nước: 68
3.1 Bảo hộ bản quyền nhãn hiệu giúp nhà nước thực hiện chiến lược kinh tế - chính trị 68
3.2 Bảo hộ bản quyền nhãn hiệu sản phẩm giúp nhà nước quản lý thị trường dễ dàng hơn 69
3.3 Bảo hộ bản quyền nhãn hiệu giúp tăng ngân sách 70
II C ÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG ĐĂNG KÝ VÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP V IỆT N AM 70
1 Các giải pháp vĩ mô 70
1.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hiện tượng bảo hộ đối với nhãn hiệu sản phẩm 70
1.2 Hoàn thiện cơ cấu thực thi hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ 71
1.3 Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp 74
1.4 Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa các hợp tác về sở hữu công nghiệp với thế giới 75
2 Biện pháp vi mô phát triển bảo hộ bản quyền nhãn hiệu 76
2.1 Khuyến khích doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu sản phẩm trên thị trường trong nước 76
2.2 Định hướng doanh nghiệp bảo hộ bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trên các khu vực thị trường trọng tâm 78 2.3 Các Doanh nghiệp nhỏ nên liên kết để xây dựng nhãn liên ngành nghề 80
2.4 Doanh nghiệp nên sớm nghĩ đến việc xây dựng thương hiệu toàn cầu 80
2.5 Doanh nghiệp dành chi phí đào tạo nhân sự có chuyên môn phụ trách về mảng nhãn hiệu hàng hoá của công ty 82
Kết luận chương 82
LỜI KẾT 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, sở hữu trí tuệ đã trở thành vấn đề mà toàn cầu quan tâm.Hiệp định các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ(TRIPS) được ký vào cuối năm 1994 như là một phần của Hiệp định Thươngmại Đa phương của Vòng đàm phán Uruguay là một minh chứng cho tầmquan trọng của sở hữu trí tuệ Bản quyền nhãn hiệu sản phẩm là một đốitượng của sở hữu trí tuệ Nó giữ vai trò chủ yếu trong thành công của doanhnghiệp và thúc đẩy thương mại phát triển
Đây là một vấn đề mang tính thời sự thương mại, một vấn đề đangđược giới doanh nghiệp cũng như các cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm.Hơn lúc nào hết, những hiểu biết sâu sắc về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm lại
là cấp thiết như lúc này Chính vì lý do này, em đã chọn đề tài: “Bản quyềnnhãn hiệu sản phẩm trong Marketing Quốc tế và thực tế tại Việt Nam” chokhoá luận tốt nghiệp của mình
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm nổi bật tầm quan trọng của bảnquyền nhãn hiệu sản phẩm trong Marketing Quốc tế, những quy định pháp lýcủa quốc tế và các khu vực thị trường lớn, cảnh tỉnh về thực trạng tình hìnhpháp lý liên quan đến nhãn hiệu sản phẩm của Việt Nam so với thế giới vànhững xung đột nhãn hiệu sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam trên thịtrường trong nước cũng như quốc tế
Để đạt được mục đích nêu trên, người viết đã sử dụng kết hợp cácphương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, thống kê và so sánh
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận là những công ướcquốc tế, luật nhãn hiệu của các thị trường lớn (Mỹ, EU và Nhật Bản), thựctrạng bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam
Trang 4Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận đượcchia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về nhãn hiệu và bản quyền nhãn hiệu sản phẩmtrong Marketing Quốc tế
Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm trongMarketing Quốc tế
Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo hộ nhãnhiệu sản phẩm trong Marketing Quốc tế
Đây là một đề tài mới, bởi vậy mặc dù đã cố gắng hết sức mình, bàiviết không thể tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảocủa cô giáo
Em xin chân thành cảm ơn sự tận tình quan tâm, giúp đỡ của thạc sỹNguyễn Thanh Bình đã hướng dẫn em viết bài khoá luận này Đồng thời,cháu cũng gửi lời cảm ơn tới các cô, chú ở Trung tâm thông tin thương mạiChâu Âu (EBIC), Cục Xúc tiến thương mại, Cục sở hữu công nghiệp, Công ty
tư vấn luật gia Phạm đã giúp đỡ cháu hoàn thành bài viết của mình
Hà nội, ngày 30 tháng 12 năm 2002.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng
Lớp: F2-K37D
Trang 5CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU VÀ BẢN QUYỀN NHÃN HIỆU SẢN PHẨM TRONG MARKETING QUỐC TẾ.
I Nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế:
1 Khái niệm nhãn hiệu.
Hiệp hội Marketing Mỹ định nghĩa: Nhãn hiệu là tên, thuật ngữ, dấuhiệu, biểu tượng, hình vẽ hay sự kết hợp của các yếu tố đó nhằm xác nhậnhàng hoá hay dịch vụ của một người hay một nhóm người bán và phân biệtchúng với hàng hoá hay dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh
Thương hiệu (trade mark) hay còn gọi là nhãn hiệu thương mại là nhãnhiệu đã đăng ký bản quyền tại cơ quan có thẩm quyền để được bảo vệ về mặtpháp lý, lúc này công ty sẽ in thêm vào tên hay biểu tượng nhãn hiệu một số
ký hiệu như (Registered - đã đăng ký) hay (copyright - giữ bản quyền ).
Xét về mặt kỹ thuật thiết kế thì nhãn hiệu và thương hiệu không có sựkhác biệt lớn (thương hiệu có thể là toàn bộ hay là một yếu tố độc đáo củanhãn hiệu) Nhưng xét về mặt pháp lý thì chủ sở hữu thương hiệu độc quyền
sử dụng dưới sự bảo hộ của pháp luật
Nhãn hiệu về cơ bản là sự hứa hẹn của người bán đảm bảo cung cấpcho người mua một tập hợp nhất định những tính chất, ích lợi Một nhãn hiệu
có thể mang tới sáu cấp độ ý nghĩa sau:
Thuộc tính : Một nhãn hiệu gợi lên các thuộc tính về hàng hoá Chẳng
hạn nhãn hiệu Sony gợi lên thuộc tính về độ bền của hàng hoá
Ích lợi : Khách hàng cần tới ích lợi của sản phẩm chứ không phải thuộc
tính của sản phẩm Ví dụ thuộc tính bền có thể chuyển thành ích lợi thực dụng
là người sử dụng không phải mua nhiều sản phẩm, hay sản phẩm không bị hưhỏng thường xuyên…
Trang 6Giá trị : Nhãn hiệu cũng nói lên một điều gì đó về người sản xuất Ví
dụ Panasonic thể hiện uy tín, hoàn hảo chất lượng…
Văn hoá: Nhãn hiệu cũng phải thể hiện nền văn hoá nào đó Ví dụ
Mercedes thể hiện nền văn hoá Đức
Nhân cách: Nhãn hiệu cần thể hiện một nhân cách nhất định Ví như
một quý cô sử dụng nước hoa Chanel của Pháp ắt phải là một quý cô sangtrọng
Người sử dụng: Nhãn hiệu thể hiện đặc tính của người sử dụng Người
sử dụng xe Mercedes là ông chủ sang trọng, ăn nên làm ra…
Có thể thấy rằng trong sáu cấp độ ý nghĩa nêu trên thì giá trị, văn hoá
và nhân cách mang ý nghĩa lâu bền nhất của nhãn hiệu Chúng nêu lên đượcbản chất của nhãn hiệu
2 Cấu tạo và yêu cầu của nhãn hiệu.
2.1 Cấu tạo của nhãn hiệu.
Nhãn hiệu sản phẩm được cấu tạo bởi các yếu tố sau:
Tên gọi của nhãn hiệu (Brand name): là phần đọc được của nhãn hiệu.
Ví dụ : Biti’s, Viso-bột giặt, Omo…
Biểu tượng của nhãn hiệu (Symbol, logo): là bộ phận không đọc được
như tên gọi của nhãn hiệu mà là biểu tượng, mẫu vẽ hoặc một kiểu chữ, mầusắc riêng biệt Đó chính là tín hiệu mang tính điển hình hoá cao Ví dụ: chữ
BP màu vàng trên nền xanh lá cây của British petrolium
Khẩu hiệu (slogan): được sử dụng trong một số trường hợp để làm
mạnh thêm nhãn hiệu Ví dụ: Cà fê Trung Nguyên- nguồn cảm hứng sáng tạomới
2.2 Yêu cầu của nhãn hiệu.
Trang 7Một nhãn hiệu sản phẩm không chỉ đơn thuần là dấu hiệu để phân biệtsản phẩm của người này với người khác mà nó còn có ý nghĩa rất quan trọngtrong việc khắc họa ấn tượng sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng Do đó
nó cần thoả mãn các yêu cầu sau:
Thứ nhất, nhãn hiệu phải nói lên được điều gì đó về lợi ích và chấtlượng của sản phẩm Đây là yếu tố then chốt, cái mà người tiêu dùng cần khi
họ phải trả tiền để mua sản phẩm Nhãn hiệu gợi lên cho người tiêu dùng về
uy tín của doanh nghiệp, sự đảm bảo của nhà cung cấp về chất lượng sảnphẩm Chẳng hạn nhãn hiệu Sony của Nhật nói lên tính bền, đẹp của sảnphẩm
Thứ hai, nhãn hiệu phải dễ đọc, dễ nhận biết và dễ nhớ Yêu cầu nàygiúp việc khuyếch trương nhãn hiệu được dễ dàng và một thực tế là nhãn hiệucàng đơn giản thì càng khó bắt chước Việc bắt chước nhãn hiệu Nice là hìnhdấu phẩy khó hơn nhiều việc bắt chước nhãn hiệu National
Thứ ba, nhãn hiệu phải mang tính độc đáo Đây chính là điểm nhấn củanhãn hiệu, nó là một tiêu chí để tạo nét khác biệt giữa nhãn hiệu này với nhãnhiệu khác, là một trong những yêu cầu để nhãn hiệu được bảo hộ ở bất kỳ thịtrường nào
Thứ tư, nhãn hiệu có thể dịch ra tiếng nước ngoài dễ dàng và có nghĩa.Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà nó còn là nét văn hoá củatừng dân tộc, do đó dịch một nhãn hiệu ra tiếng nước ngoài rất khó giữ được
sự tinh tế trong ý nghĩa của tên nhãn hiệu
Cuối cùng, nhãn hiệu phải có thể đăng ký và được bảo hộ bởi phápluật Điều này đòi hỏi nhãn hiệu phải thoả mãn những yêu cầu về luật nhãnhiệu của quốc gia đăng ký Hầu hết tất cả các quốc gia đều có luật nhãn hiệuhàng hoá, quy định về bản quyền nhãn hiệu, do đó để nhập khẩu hàng hoá vàothị trường nước ngoài, doanh nghiệp cần phải đăng ký nhãn hiệu hàng hoá
Trang 83 Chiến lược nhãn hiệu sản phẩm.
3.1 Chiến lược nhãn mở rộng (Brand extention).
Đó là việc công ty sử dụng một nhãn hiệu thành công để đặt tên chocác sản phẩm của mình
Chiến lược này cho phép sản phẩm mới dễ dàng thâm nhập thị trườnghơn nhờ vào danh tiếng của sản phẩm quen thuộc Điều này giúp công tygiảm được chi phí đáng kể đầu tư vào lĩnh vực quảng cáo
Nhưng nếu chiến lược này thất bại sẽ ảnh hưởng tới lòng tin của kháchhàng đối với sản phẩm khác có cùng tên nhãn của công ty Đôi khi tên nhãnhiệu không phù hợp với sản phẩm mới, điều này sẽ ảnh hưởng tới việc định vịsản phẩm Tên nhãn hiệu có thể làm mất vị trí đặc biệt trong tâm trí người tiêudùng do mở rộng quá mức, lúc này người tiêu dùng không còn khả năng liêntưởng nhãn hiệu với một sản phẩm nữa
3.2 Chiến lược đa nhãn hiệu.
Công ty sử dụng nhãn hiệu riêng cho mỗi sản phẩm của mình
Chiến lược này tạo tính độc lập về danh tiếng của từng nhãn hiệu nàyvới nhãn hiệu khác Do đó nếu có một sản phẩm nào đó không thành công thìđiều này không làm giảm danh tiếng những sản phẩm khác
Tuy nhiên, chiến lược này có yếu điểm là doanh nghiệp sẽ phải chinhiều chi phí cho việc quảng cáo, giới thiệu hình ảnh sản phẩm, do đó giáthành sản phẩm sẽ tăng
3.3 Chiến lược nhãn hiệu theo nhóm sản phẩm.
Công ty xây dựng một nhãn hiệu cho từng nhóm sản phẩm Ví dụTậpđoàn Unilever sử dụng nhãn hiệu “Dove” cho dầu gội đầu, sữa tắm
Chiến lược này giúp công ty giảm chi phí quảng cáo, khuyếch trươnggiới thiệu sản phẩm Bên cạnh đó, doanh nghiệp sẽ dễ dàng gây được thiện
Trang 9cảm của người tiêu dùng đối với các sản phẩm trong nhóm khi một sản phẩm
đã có uy tín
Nhưng nếu một trong các sản phẩm không tốt thì danh tiếng chung chonhãn hiệu của nhóm sẽ bị ảnh hưởng Khách hàng không tin vào chất lượngnhững sản phẩm còn lại
3.4 Chiến lược gắn nhãn hiệu liền với tên doanh nghiệp.
Công ty gắn tên sản phẩm với tên của doanh nghiệp
Chiến lược giúp doanh nghiệp xây dựng được hình ảnh doanh nghiệp
rõ nét trong tâm trí người tiêu dùng Ví dụ Coca cola đã rất thành công vớinước giải khát Coca cola
Tuy nhiên, nếu công ty sản xuất nhiều loại hàng khác nhau thì áp dụngchiến lược này sẽ không thật sự hiệu quả Bởi vì khi nhắc đến nhãn hiệungười tiêu dùng sẽ không thể hình dung ra một nhãn hiệu nào rõ ràng
3.5 Chiến lược nhãn toàn cầu.
Công ty sử dụng một nhãn hiệu giống nhau cho tất cả thị trường; hoặc
là việc công ty sử dụng một nhãn hiệu cho cùng một thị trường
Đây là chiến lược đang ngày càng được các công ty quan tâm Ngàynay, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, ranh giới giữa thị trườngquốc gia và thị trường quốc tế đang dần dần bị xóa đi Trên thị trường chungchâu Âu, các doanh nghiệp đang hăng hái tung ra nhãn hiệu mới, nhãn hiệuthương mại châu Âu
Chiến lược này có rất nhiều lợi thế Thứ nhất, tiết kiệm do mở rộngchuẩn bao bì chuẩn nhãn hiệu, khuyến mãi và quảng cáo Thứ hai, mức tiêuthụ có thể tăng lên do nhãn hiệu được quảng cáo trên các thị trường khácnhau Thứ ba, các kênh thương mại sẽ sẵn sàng hơn trong việc chấp nhận mộtnhãn hiệu toàn cầu đã được quảng cáo trên thị trường của mình Cuối cùng,
Trang 10một tên nhãn được cả thế giới tín nhiệm thừa nhận sẽ tạo nên uy tín cho nướcxuất xứ.
Tuy nhiên, nhãn hiệu toàn cầu cũng có thể có những rủi ro nhất định.Nếu công ty thay thế một cái tên địa phương đã có tiếng tăm bằng một têntoàn cầu thì cái giá phải trả cho việc thay thế này sẽ rất lớn Công ty phảithông báo cho hàng triệu người biết sản phẩm của mình vẫn tồn tại dưới mộttên gọi mới Việc tiêu chuẩn hóa toàn cầu đã bỏ qua những điểm khác biệtkhông chỉ giữa các nước mà ngay cả giữa các khu vực trong cùng một nước.Hơn nữa, việc tiêu chuẩn hoá nhãn hiệu toàn cầu cũng khó có thể tiêu chuẩnhóa những liên tưởng về nhãn hiệu của mình ở tất cả các nước
4 Ý nghĩa của việc thiết kế và xây dựng nhãn hiệu.
Nhãn hiệu hàng hoá không chỉ là dấu hiệu phân biệt sản phẩm của cácnhà sản xuất với nhau mà nó thực sự là tài sản có giá trị lớn trong bảng cânđối kế toán của doanh nghiệp Do đó việc thiết kế và xây dựng thành côngnhãn hiệu hàng hoá là vấn đề hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp
Xây dựng thành công nhãn hiệu, nghĩa là tạo được uy tín của doanhnghiệp đối vói lòng tin của khách hàng Điều này sẽ giúp doanh nghiệp cóđược một số lượng khách hàng chung thuỷ Lượng khách hàng này sẽ luôntrung thành với sản phẩm của doanh nghiệp Nói cách khác, nhãn hiệu giúpcông ty chiếm lĩnh thị trường ngày càng tốt hơn
Mặt khác, nhãn hiệu, khi đã được đăng ký bảo hộ tại thị trường tiêuthụ, sẽ giúp doanh nghiệp được bảo vệ các quyền lợi chính đáng: độc quyềnkhai thác nhãn hiệu sản phẩm và chống lại các hành vi xâm phạm bản quyềnnhãn hiệu
Dưới đây là danh sách 10 nhãn hiệu nổi tiếng nhất thế giới doInterbrand bình chọn trong năm 2002
Bảng 1: Danh sách 10 nhãn hiệu nổi tiếng nhất thế giới năm 2002
Trang 11STT Tên nhãn
Giá trị nhãn hiệu năm 2002 (Triệu USD)
Giá trị nhãn hiệu năm 2001 (Triệu USD)
Thay đổi giá trị nhãn hiệu (%)
Tên công ty
1 COCA-COLA 69,637 68,945 1 Coca-Cola Company
2 MICROSOFT 64,091 65,068 -2 Microsoft Corp
3 IBM 51,188 52,752 -3 International Business Machines
Corp
4 GE 41,311 42,396 -3 Genegal Electric Company
5 INTEL 30,861 34,665 -11 Intel Corp
6 NOKIA 29,970 35,035 -14 Nokia Corp
7 DISNEY 29,256 32,591 -10 Walt Disney Company
8 MODANALD’S 26,375 25,289 4 Modanald’s Corp
9 MARLBORO 24,151 22,053 10 Philip Morris Companies Inc
10 MERCEDES 21,010 21,728 -3 DaimlerChrysler AG
Nguồn: Interbrand, Special report: the 100 best Brands.
Như vậy, việc thiết kế và xây dựng nhãn hiệu là một việc làm mà tất cảcác doanh nghiệp cần quan tâm và đầu tư thoả đáng Có như vậy, doanhnghiệp mới có thể đứng vững trên thị trường
II Bản quyền nhãn hiệu sản phẩm.
1 Khái niệm bản quyền nhãn hiệu.
Bản quyền nhãn hiệu sản phẩm có thể hiểu là khái niệm chỉ quyền củachủ sở hữu đối với nhãn hiệu sản phẩm của mình Bản chất của quyền này làchủ sở hữu được độc quyền khai thác sử dụng nhãn hiệu và được pháp luậtbảo vệ chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của bên thứ ba trên thị trường nơinhãn hiệu đã được đăng ký
Nội dung chủ yếu của bảo hộ Bản quyền nhãn hiệu sản phẩm là sự đảmbảo của nhà nước, thông qua hệ thống pháp luật, đối với quyền của chủ sởhữu nhãn hiệu trong một thời hạn xác định Để đổi lại chủ sở hữu phải nộpphí (lệ phí nộp đơn, lệ phí duy trì hiệu lực văn bằng bảo hộ) cho Nhà nước
Trang 12Sự hình thành và phát triển của hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá.
Ngay từ thời cổ đại nhiều vùng đã có tục lệ dùng dấu hiệu riêng gắn lênsản phẩm để đánh dấu người sản xuất hoặc người chủ sở hữu sản phẩm đó.Khi sản xuất hàng hoá phát triển, nhất là khi nền sản xuất cơ khí ra đời, nhiềunhà sản xuất khác nhau đưa ra thị trường cùng một loại hàng hoá thì các dấuhiệu nói trên bắt đầu có chức năng phân biệt sản phẩm của người này với sảnphẩm của người khác Trong quá trình cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường, tiêuthụ sản phẩm, hiện tượng bắt chước nhãn hiệu của người khác ngày càng trởnên phổ biến, các vụ tranh chấp kiện cáo về nhãn hiệu sản phẩm tại toà ánngày càng nhiều Vấn đề mà toà án thời đó phải giải quyết là việc xác địnhxem nhãn hiệu hàng hoá thuộc về ai? Trong các trường hợp này nguyên tắcthường được áp dụng là: quyền thuộc về người đầu tiên sử dụng nhãn hiệuhàng hoá đó Để xác định xem ai là người đầu tiên sử dụng nhãn hiệu hànghoá đó, Toà án cho lập sổ ghi nhãn hiệu hàng hoá Lúc đầu chỉ ghi nhữngnhãn hiệu hàng hoá đang tranh chấp, sau đó là ghi nhãn hiệu hàng hoá hiện có
để đề phòng tranh chấp và cuối cùng là ghi nhãn hiệu hàng hoá mà chủ nhân
có ý định sử dụng trong tương lai Sổ theo dõi nhãn hiệu hàng hoá dần dần trởthành sổ Danh bạ nhãn hàng, từ đó hình thành phương thức đăng ký nhãnhiệu hàng hoá tại Toà án Tuy nhiên việc đăng ký như vậy chỉ được hìnhthành theo thông lệ chứ không theo quy định của một văn bản pháp luật nào
Luật nhãn hiệu hàng hoá đầu tiên được ban hành tại Pháp năm 1857.Theo luật này, quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá thuộc về người thực hiệnsớm nhất một trong hai việc: sử dụng nhãn hiệu và đăng ký nhãn hiệu theoquy định của luật Nếu một người đăng ký nhãn hiệu nhưng thời điểm sửdụng nhãn hiệu của người đó lại sau người đăng ký thứ 2 thì quyền đối vớinhãn hiệu thuộc về người thứ 2
Tiếp theo Pháp là các nước Ý (1868), Bỉ (1879), Mỹ (1881), Anh(1883), Đức (1894), Nga (1896)…đã lần lượt ban hành Bộ luật nhãn hiệuhàng hoá của mình Đến nay, hầu hết các nước đã có luật về nhãn hiệu hàng
Trang 13hoá Bên cạnh đó, các nước cũng cùng nhau ký kết các Công ước, Thoả ướcquốc tế về vấn đề nhãn hiệu hàng hoá (Công Ước Paris, Thoả Ước Madrid…)
đã dần dần hình thành một hệ thống luật về nhãn hiệu hàng hoá được thốngnhất trên toàn thế giới Điển hình là Hiệp định các khía cạnh có liên quan đếnquyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) của vòng đàm phán URUGUAY 1994, Hiệpước luật nhãn hiệu hàng hóa 1996…
2 Các Công ước quốc tế về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm.
2.1 Hiệp định các khía cạnh có liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (1994) (TRIPS) (Do Tổ chức Thương mại Thế giới quản lý thực hiện).
Hiệp định các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trítuệ (TRIPS) được ký vào cuối năm 1994 như là một phần của Hiệp địnhThương mại Đa phương của Vòng đàm phán Uruguay Nó giúp việc xây dựngnền tảng các tiêu chuẩn của việc bảo hộ tất cả các quyền sở hữu trí tuệ và việcthực hiện các tiêu chuẩn đó cả ở trong nước và nước ngoài thông qua các hoạtđộng hành chính và tư pháp Hiệp định cho phép quá trình chuyển đổi 5 năm(nghĩa là tới 1/1/2000) cho nước đang phát triển điều chỉnh các luật lệ về sởhữu trí tuệ của nước mình phù hợp với quy định trong Hiệp định Đối với cácnước kém phát triển thì khoảng thời gian này là 11 năm (cho tới 1/1/2006)
Các quyền sở hữu trí tuệ mà Hiệp định TRIPS quy định bao gồm: bảnquyền, bằng phát minh sáng chế, thương hiệu, thiết kế công nghiệp, bí mậtthương mại (thông tin bảo mật), vi mạch (chất bán dẫn) và dấu hiệu chỉ dẫnđịa lý
Dưới đây chúng ta sẽ nghiên cứu những quy định về thương hiệu trongHiệp định TRIPS (Điều 15-21) Quy định quốc tế về thương hiệu được nêutrong Công Ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Hiệp định TRIPS bổsung các lĩnh vực: định nghĩa, các độc quyền của chủ sở hữu thương hiệu,
Trang 14ngăn cấm đề ra các yêu cầu đặc biệt đối với việc sử dụng thương hiệu, cấp vàchuyển nhượng thương hiệu, huỷ thương hiệu.
Định nghĩa thương hiệu (Điều 15): Hiệp định quy định các ký hiệu
hoặc tập hợp ký hiệu có thể được đăng ký như một thương hiệu khi chúng cóthể phân biệt hàng hoá dịch vụ này với hàng hoá hoặc dịch vụ của một công
ty khác Nó bao gồm tên, chữ, chữ số, các ký tự tượng trưng hoặc sự kết hợpcác màu sắc Các nước có thể quy định rằng một thương hiệu khi đã được sửdụng trong một khoảng thời gian nhất định thì được quyền đăng ký
Độc quyền (Điều 16): Chủ sở hữu thương hiệu được độc quyền cấm
bên thứ ba sử dụng những ký hiệu giống hoặc tương tự đối với hàng hoá, dịch
vụ đã đăng ký thương hiệu, nếu điều đó có thể gây nên nhầm lẫn… Khi mộttrường hợp giống hệt được sử dụng trên hàng hoá hoặc dịch vụ tương tự thì
“được phép giả định là có khả năng gây nhầm lẫn”
Các yêu cầu đặc biệt (Điều 20): Hiệp định này quy định các nước
không được đặt ra các yêu cầu đặc biệt đối với việc sử dụng thương hiệu, ví
dụ như những yêu cầu làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt hàng hoá hoặcdịch vụ của một công ty này với hàng hoá hoặc dịch vụ của một công ty khác.Hiệp định này cũng yêu cầu các nước chấm dứt cho phép sử dụng các thươnghiệu nước ngoài, trừ khi những thương hiệu đó được kết hợp với một thươnghiệu khác có xuất xứ của một nước
Cấp và chuyển nhượng thương hiệu(Điều 21): Hiệp định TRIPS cho
phép các thành viên quyền tự do quyết định “các điều kiện để cấp đăng ký vàchuyển nhượng thương hiệu” Tuy nhiên, Hiệp định quy định các chủ sở hữukhông được cấp giấy phép sử dụng thương hiệu Nhưng các chủ sở hữu “cóquyền chuyển nhượng thương hiệu cùng hoặc không cùng với việc chuyểnnhượng công việc kinh doanh mang thương hiệu đó”
Huỷ bỏ thương hiệu(Điều 19): Việc bảo hộ chủ sở hữu một thương hiệu
đã đăng ký dựa trên cơ sở người đó sẽ sử dụng nhãn hiệu đó với mục đíchthương mại Luật của hầu hết các quốc gia cho phép huỷ bỏ thương hiệu nếu
Trang 15thương hiệu đó không được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định.Luật của hầu hết các quốc gia cũng cho phép huỷ bỏ thương hiệu nếu đang sửdụng khi số lượng thương hiệu xin đăng ký hàng năm tăng lên với tốc độ cao.Trên thực tế, thương hiệu ngày càng tăng và việc sử dụng thương hiệu ngàycàng nhiều dẫn tới vấn đề thương hiệu ngày càng trở nên khan hiếm để nhữngngười đăng ký có thể lựa chọn và sử dụng Tài năng của con người trong việcnghĩ ra các ký hiệu mới bằng cách kết hợp chữ cái, chữ số hoặc hình ảnh suycho cùng cũng không phải là vô hạn Hiệp định TRIPS đưa ra những quy địnhcho các cơ quan cấp đăng ký huỷ bỏ thương hiệu do không được sử dụng.
kh1
5151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515151515ử dụng nó
2.2 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp.
Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp được ký kết vào ngày 20tháng 3 năm 1883 tại Paris Đến nay đã có 164 nước thành viên, và đã đượcsửa đổi nhiều lần: tại Brussels năm 1990, tại Washington năm 1911, Haguenăm 1925, London năm 1934, Lisbon năm 1958, Stockholm năm 1967, và tạiAmended năm 1979
Công ước Paris áp dụng đối với sở hữu công nghiệp theo nghĩa rộngnhất bao gồm: phát minh, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mô hình hữu ích,tên thương mại, dấu hiệu địa lý và cạnh tranh không trung thực (Điều 1)
Trang 16Các quy định nội dung của Công ước được chia thành ba nhóm chính:đối xử quốc gia, quyền ưu tiên và các quy tắc chung.
Theo các điều khoản về đối xử quốc gia (Điều 2), Công ước quy định:Công dân của bất kỳ nước thành viên nào cũng được hưởng mọi quyền lợi tạitất cả các nước thành viên khác mà luật tương ứng của các nước đó quy địnhhoặc sẽ quy định cho công dân của nước mình, hoàn toàn không ảnh hưởngtới các quyền quy định riêng trong công ước này Điều khoản này cũng được
áp dụng đối với công dân của các nước không phải thành viên liên hợp nhưngđịnh cư hoặc có cơ sở thương mại hoặc công nghiệp thực sự và có hiệu quảtrên lãnh thổ của một trong những nước thành viên liên hiệp (Điều 3)
Quyền ưu tiên đối với việc xin đăng ký nhãn hiệu (Điều 4) được quyđịnh rằng: Bất kỳ người nào nộp đơn hợp lệ xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoátại một trong các nước thành viên của liên hợp sẽ được hưởng thời hạn ưutiên khi gửi đơn xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoá đó tại các nước khác Cácđơn nộp sau này sẽ được xét là nộp cùng của thời hạn ưu tiên Thời hạn này là
6 tháng bắt đầu từ ngày nộp đơn đầu tiên (ngày này không tính trong thời hạn
ưu tiên) Nếu ngày cuối cùng của thời hạn ưu tiên là ngày lễ chính thức hoặcngày cơ quan sở hữu công nghiệp không nhận đơn thì thời hạn này sẽ kéo dàiđến ngày làm việc đầu tiên tiếp theo đó Để được hưởng quyền ưu tiên này,người nộp đơn phải làm tờ khai có ghi rõ ngày nộp và nước nhận đơn đó Cácnước thành viên có thể yêu cầu người nộp đơn nói trên phải nộp bản sao củađơn nộp trước có xác nhận cơ quan có thẩm quyền đã nhận đơn đó trong thờihạn nộp đơn, sau đó có thể yêu cầu nộp một số bằng chứng khác
Các quy tắc chung mà mọi nước tham gia Công ước phải tuân thủ:(1) Công ước không điều chỉnh điều kiện nộp đơn và đăng ký nhãnhiệu mà để cho các quốc gia của từng nước tham gia Công ước quyết định.Một nhãn hiệu đăng ký hợp lệ tại một nước thành viên của Liên hợp sẽ đượccoi là không phụ thuộc vào các nhãn hiệu đăng ký tại các nước khác của Liênhợp, kể cả các nước xuất xứ (Điều 2)
Trang 17(2) Các nước thành viên Liên hợp có trách nhiệm từ chối, hoặc huỷ bỏđăng ký, ngăn cấm việc sử dụng nhãn hiệu nếu nhãn hiệu đó được coi là bắtchước, sao chép và có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được cơ quan
có thẩm quyền của nước đăng ký hoặc nước sử dụng coi là nhãn hiệu nổitiếng tại nước đó Thời hạn yêu cầu này không ít hơn năm năm kể từ ngày
hoặc huỷ bỏ việc đăng ký, ngăn cấm bằng biện pháp thích hợp việc sử dụnglàm nhãn hiệu hoặc thành phần nhãn hiệu mà không được phép của các cơquan có thẩm quyền các quốc huy, quốc kỳ hoặc các biểu tượng quốc giakhác của các nước thành viên liên hiệp, các dấu hiệu kiểm tra, xác nhận hoặcbảo đảm chính thức được các nước đó chấp nhận và bất cứ sự bắt chước nàomang đặc điểm huy hiệu
Các quy định trên cũng áp dụng đối với việc sử dụng huy hiệu, cờ, cácbiểu tượng khác, tên viết tắt, tên đầy đủ của các tổ chức quốc tế liên chínhphủ mà có một hoặc nhiều nước thành viên tham gia, trừ trường hợp các huyhiệu, cờ, các biểu tượng khác, tên viết tắt, tên đầy đủ của các tổ chức quốc tếđang có hiệu lực nhằm bảo đảm việc bảo hộ các đối tượng đó Quy định nàychỉ có hiệu lực khi các tổ chức này thông báo cho các nước thành viên củaliên hiệp thông qua văn phòng quốc tế
xuất xứ cũng được chấp nhận nộp đơn và bảo hộ duới hình thức nguyên bảncủa nó ở các nước thành viên khác khi có yêu cầu Tuy nhiên việc đăng ký cóthể bị từ chối trong các trường hợp sau:
Khi nhãn hiệu đó xâm phạm quyền của bên thứ ba tại nước có yêu cầubảo hộ
Khi các nhãn hiệu đó không có bất cứ dấu hiệu phân biệt nào, hoặc chỉbao gồm toàn các dấu hiệu, chỉ dẫn được sử dụng trong thương mại để chỉchủng loại, chất lượng, số lượng, mục đích sử dụng, giá trị xuất xứ hàng hoá
Trang 18hoặc thời gian sản xuất hoặc đã trở thành thông dụng trong ngôn ngữ hiệnthời hoặc trong tập quán thương mại lành mạnh và lâu đời tại các nước đượcyêu cầu bảo hộ.
Khi các nhãn hiệu đó trái với đạo đức hoặc trật tự công cộng, đặc biệt
về bản chất chúng có khả năng gây nhầm lẫn cho công chúng
(5) Chủ nhãn hiệu có quyền phản đối việc đăng ký hoặc đề nghị huỷ bỏđăng ký nhãn hiệu cho đại lý hoặc đại diện của chủ nhãn hiệu tại một trongcác nước thành viên của liên hiệp mà không được sự đồng ý của chủ nhãnhiệu (Điều 6septies)
(6) Việc đăng ký nhãn hiệu không phụ thuộc vào bản chất hàng hoá đó(Điều 7)
(7) Nhãn hiệu chung, tập thể phải được đăng ký và bảo hộ nếu tập thể
(8) Ở bất kỳ nước thành viên nào, nếu việc sử dụng nhãn hiệu đã đăng
ký là bắt buộc, thì việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá chỉ bị huỷ bỏ sau một thờigian hợp lý, và chỉ khi chủ sở hữu không giải trình được việc không sử dụngcủa mình (Điều 5 khoản C)
(9) Việc chuyển giao nhãn hiệu chỉ có hiệu lực nếu thực hiện đồng thờivới việc chuyển giao sản xuất hoặc thương mại có hiệu lực Điều kiện đủ đểcông nhận hiệu lực của việc chuyển giao là bộ phận của cơ sở sản xuất hoặcthương mại nằm trong lãnh thổ nước đó cũng được chuyển giao cho ngườinhận cùng với độc quyền sản xuất hoặc bán hàng hoá mang nhãn hiệu tạinước đó (Điều 6 quater)
2.3 Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá.
Thoả ước Madrid được ký kết vào năm 1891 Đến nay đã có 70 nướctham gia và được sửa đổi nhiều lần: tại Brusel năm 1900, tại Washingtonnăm 1911, Hague năm 1925, London năm 1934, Nice năm 1957, tại
Trang 19Stockholm năm 1967 và năm 1979 Văn bản xin gia nhập Thoả ước này phảiđược gửi tới Tổng giám đốc tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO).
Nguyên tắc và phạm vi bảo hộ:
Thoả ước quy định công dân của tất cả các nước thành viên có thể đạtđược sự bảo hộ tại các nước khác cho nhãn hiệu của mình đối với hàng hoá vàdịch vụ, đã được đăng ký tại nước xuất xứ, bằng việc nộp đơn đăng ký nhãnhiệu đó tại văn phòng quốc tế về sở hữu trí tuệ, thông qua trung gian là cơquan tại nước xuất xứ (Điều 1 khoản 2)
Một nước được coi là nước xuất xứ nếu nó là nước thành viên hiệp hộiđặc biệt về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá và người nộp đơn thoả mãnmột trong ba điều kiện sau (Điều 1 khoản 3): (1) Người nộp đơn có cơ sở kinhdoanh thực thụ và nghiêm túc tại đó; (2) Người nộp đơn có chỗ ở cố định tạiđó; (3) Người nộp đơn là công dân của nước đó
Thoả ước cũng cho phép công dân của nước không tham gia hiệp hộiđặc biệt về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá có quyền như công dân củanước tham gia hiệp hội nếu người nộp đơn có trụ sở thương mại hoặc côngnghiệp thực sự và hoạt động có hiệu quả trên nước thành viên hiệp hội hoặcngười nộp đơn cư trú tại nước thành viên hiệp hội (Điều 2)
Đăng ký quốc tế.
Người nộp đơn phải thoả mãn các quy định của hiệp hội về mẫu đơnđăng ký quốc tế và cơ quan tại nước phải chứng nhận rằng các chi tiết trongđơn đăng ký đó tương ứng với các chi tiết ghi trong Đăng bạ quốc gia và phảithông báo ngày nộp đơn đăng ký quốc tế (Điều 3 khoản 1)
Văn phòng quốc tế sẽ đăng ký ngay những nhãn hiệu nộp theo quy địnhtrên Ngày đăng ký sẽ là ngày nộp đơn đăng ký quốc tế tại nước xuất xứ, nếuđơn này được văn phòng quốc tế nhận được trong vòng 2 tháng kể từ ngày đó.Nếu sau 2 tháng văn phòng quốc tế mới nhận được đơn này thì ngày đăng ký
sẽ tính từ ngày văn phòng quốc tế nhận được đơn (Điều 3 khoản 4)
Trang 20Để đảm bảo sự minh bạch, văn phòng quốc tế sẽ công bố các nhãn hiệu
đã được đăng ký cho tất cả các nước thành viên, công bố qua Công báo củamình (Điều 3 khoản 5)
Các nước thành viên có quyền từ chối bảo hộ hàng hoá đó trên lãnh thổnước mình Tất cả việc từ chối chỉ được dựa trên cơ sở được áp dụng trongtrường hơp quốc gia Các nước không được phép từ chối chỉ với lý do luậtquốc gia không cho phép Việc từ chối phải được thông báo cho văn phòngquốc tế trong thời hạn một năm kể từ ngày đăng ký quốc tế của nhãn hiệu.Quá thời hạn này việc từ chối là vô hiệu (Điều 5)
Phạm vi và thời hạn bảo hộ.
Kể từ ngày việc đăng ký quốc tế được thực hiện tại văn phòng quốc tế,việc bảo hộ đối với nhãn hiệu tại tất cả các nước liên quan phải được thựchiện như trường hợp nộp đơn trực tiếp Và các nhãn hiệu là đối tượng củaviệc đăng ký quốc tế đều được hưởng quyền ưu tiên theo quy định của côngước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (Điều 4)
hế2
0202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020202020i một nhãn hiệu đã được nộp đơn tại một hoặc nhiều nướcthành viên lại được đăng ký cho cùng một người chủ hoặc một người thừa kếhợp pháp của người này thì việc đăng ký quốc tế sẽ thay thế đăng ký quốc gia
Trang 21trước đó mà không làm ảnh hưởng tới bất kỳ quyền nào đã có được từ việc
Đăng ký nhãn hiệu tại văn phòng quốc tế có hiệu lực 20 năm và đượcphép gia hạn liên tiếp với thời hạn 20 năm một lần với điều kiện Người đăng
ký phải nộp đầy đủ các khoản phí (phí cơ bản, phí bổ xung, phí phụ trongtrường hợp cần thiết) và đề nghị gia hạn không được thêm bất kỳ sự thay đổinào có liên quan đến nhãn hiệu đã đăng ký trước
Việc bổ xung các hàng hoá, dịch vụ mới vào danh mục hoặc thay thếhàng hoá, dich vụ bằng một hàng hoá, dịch vụ khác chỉ được thực hiện bằngcách nộp đơn đăng ký mới
Mọi thay đổi trong đăng bạ quốc gia: huỷ bỏ, đình chỉ hiệu lực, chuyểnnhượng, giảm danh mục hàng hoá, dịch vụ ghi trong đăng bạ quốc tế đều phảiđược cơ quan của nước của người có tên trong đăng bạ quốc tế thông báo chovăn phòng quốc tế và văn phòng quốc tế sẽ ghi nhận những thay đổi đó vàođăng bạ quốc tế và thông báo cho các nước thành viên biết điều đó và công bốtrên tạp chí của mình
Việc chuyển nhượng nhãn hiệu quốc tế:
Trường hợp nhãn hiệu được đăng ký quốc tế được chuyển giao chongười tại một nước khác với nước của người có tên đăng ký quốc tế thì việcchuyển giao này phải được cơ quan của nước người chuyển giao thông báocho văn phòng quốc tế Văn phòng quốc tế sẽ ghi nhận việc chuyển giao vàoĐăng bạ quốc tế và thông báo cho cơ quan của nước thành viên, công bố trênCông báo của mình Nếu việc chuyển giao đó có hiệu lực trước khi hết thờihạn 5 năm kể từ ngày đăng ký quốc tế, văn phòng quốc tế sẽ yêu cầu sự đồng
ý của nước của chủ mới và công bố, nếu có thể, ngày và số nhãn hiệu tại nước
Trang 22Việc chuyển giao nhãn hiệu được đăng ký quốc tế vì lợi ích của nhữngngười không được hưởng quyền nộp đơn đăng ký nhãn hiệu quốc tế sẽ không
Nếu việc chuyển giao nhãn hiệu đăng ký quốc tế đối với một phần hànghoá, dịch vụ, hoặc chỉ thực hiện đối với một hoặc một vài nước thành viên,được thông báo cho văn phòng quốc tế thì văn phòng quốc tế ghi nhận vàoĐăng bạ Tất cả các nước thành viên có quyền từ chối công nhận hiệu lực củaviệc chuyển giao đó nếu hàng hoá, dịch vụ được chuyển giao tương tự với
Người xin đăng ký có thể xin đăng ký quốc tế bằng cách không chỉ dựavào việc đăng ký nhãn hiệu tại Văn phòng quốc gia (hoặc khu vực) xuất xứ
mà còn dựa vào đơn xin đăng ký quốc gia (hoặc khu vực) tại văn phòng đó
Mỗi nước thành viên mà người xin đăng ký muốn có sự bảo hộ của họ
có thể, trong vòng 18 tháng (thay vì 1 năm) và thậm chí lâu hơn trong trườnghợp có phản đối, tuyên bố không thể bảo hộ nhãn hiệu trong lãnh thổ của họ
Văn phòng của mỗi nước tham gia Hiệp định Madrid có thể nhận đượcphí cao hơn Thoả ước Madrid
Trang 23Việc đăng ký quốc tế bị huỷ bỏ theo yêu cầu của Văn phòng nước xuất
xứ có thể được chuyển hoá thành các đơn xin quốc gia (hoặc khu vực) có hiệulực từ ngày nộp đơn và, khi có thể được, ngày ưu tiên
Hơn nữa, Nghị định thư thiết lập các quan hệ với hệ thống nhãn hiệucủa Cộng đồng châu Âu Cuối cùng, đơn xin do Nghị định thư điều chỉnh cóthể nộp không chỉ ở Pháp mà cả ở Anh
2.5 Thoả ước NICE về phân loại quốc tế đối với hàng hoá và dịch vụ
vì mục đích đăng ký nhãn hiệu (1957) (Do WIPO quản lý).
Thoả ước NICE được ký vào ngày 15/6/1957 tại Nice và được sửa đổitại Stockhom 14/7/1967 và tại Giơnevơ ngày 13/5/1977 và được bổ sung tạiGiơnevơ ngày 28/9/1979.Mặc dù chỉ có 58 nước tham gia, nhưng Văn phòngnhãn hiệu của hơn 140 nước cũng như Văn phòng quốc tế của WIPO, tổ chức
sở hữu trí tuệ Châu Phi và Văn phòng nhãn hiệu Benelux, Văn phòng vì sựthống nhất thị trường nội địa (Nhãn hiệu và kiểu dáng) của cộng đồng châu
Âu, thực sự sử dụng hệ thống phân loại này
Thoả ước NICE quy định về việc phân loại hàng hoá và dịch vụ vì mụcđích đăng ký thương hiệu hàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ Văn phòng nhãnhiệu của các nước thành viên phải cho biết, liên quan đến từng đăng ký, biểutượng của từng cấp hạng
Hệ thống đăng ký bao gồm một danh mục các cấp hạng: có 34 cấphạng cho hàng hoá và 8 cấp hạng cho dịch vụ Danh sách gồm 11000 mục.Tuỳ từng lúc mà cả 2 danh sách được sửa đổi và bổ sung bởi 1 uỷ ban gồmcác chuyên gia đại diện cho tất cả các nước thành viên (Xem phụ lục 1)
2.6 Hiệp ước luật nhãn hiệu hàng hoá (1994) (Do WIPO quản lý thực hiện).
Các thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá khác nhau theo mỗi nước đượcquy định trong các Công ước quốc tế Nhưng các thủ tục này đôi khi đòi hỏicác thể thức rất khác nhau gây khó khăn cho người nộp đơn và chủ sở hữu
Trang 24nhãn hiệu hàng hoá Bên cạnh đó, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hoá nềnkinh tế thế giới đang diễn ra mạnh mẽ tại tất cả các quốc gia trên thế giới,một thị trường chung đang dần dần được hình thành.
Một bước thành công đầu tiên tiến tới hài hoà và đơn giản hoá các thểthức nhãn hiệu hàng hoá là sự ra đời của hiệp ước luật nhãn hiệu hàng hoá.Hiệp ước đưa ra các yêu cầu tối đa các thủ tục đăng ký nhãn hiệu Hiệp ước
đã được thông qua vào tháng 10 năm 1994 và đã được 26 nước phê chuẩn,nước nộp văn kiện gần đây nhất là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nộp văn kiện phêchuẩn tháng 5 năm 2000
Hiệp ước bao gồm các yêu cầu thể thức đơn đăng ký và về việc ghinhận ngày nộp đơn, các yêu cầu ghi nhận sự thay đổi tên và địa chỉ và sự thayđổi quyền sở hữu, các yêu cầu sữa chữa sai sót, và các yêu cầu về việc gia hạnđăng ký Ngoài ra Hiệp ước còn đưa ra một số vấn đề chung, việc đại diện củangười nộp đơn, việc tách đơn và đăng ký và các cách tự xác nhận và sự phânloại hàng hoá và dịch vụ
Nhìn chung, Hiệp ước đưa ra các tiêu chuẩn tối đa mà các nước thànhviên có thể yêu cầu hoặc không thể yêu cầu về mặt thủ tục trước cơ quan nhãnhiệu hàng hoá Các nước thành viên không được phép yêu cầu bất cứ điều gìkhông được quy định rõ ràng là được phép trong các điều khoản quy định vềthủ tục Cơ quan đăng ký nhãn hiệu chỉ có quyển yêu cầu về thông tin bổ sungnếu thấy nghi ngờ về tính trung thực của thông tin nhận được Ngoài ra, Hiệpước loại bỏ một số yêu cầu được coi là ghánh nặng, ví dụ như hợp pháp hoáchữ ký (điều 8(4)), và cuối cùng Hiệp ước đề ra một số điểm thuận lợi choviệc tiến hành một các thủ tục, ví dụ như các nước thành viên phải chấp nhậnđơn yêu cầu bảo hộ cho nhiều nhóm hàng hoá (điều 3(5)), bằng cách cho phéptách đơn hoặc đăng ký (Điều 7), và bằng cách quy định ra một số mẫu tờ khaiquốc tế mà cơ quan nhãn hiệu hàng hoá của tất cả các nước thành viên phảituân theo
Trang 25Các mẫu tờ khai quốc tế bao gồm tất cả các yêu cầu được phép về thủtục trước cơ quan nhãn hiệu hàng hoá Các nước thành viên không được hoặcyêu cầu làm theo mẫu tờ khai quốc tế nếu tờ khai được làm bằng ngôn ngữđược cơ quan chấp nhận Tuy nhiên, các nước thanh viên có thể lập ra “mẫu
Tờ khai quốc tế riêng” Các mẫu Tờ khai này không được có các yêu cầu bắtbuộc ngoài hoặc trái với Hiệp ước hoặc Quy chế
Hiệp ước mang lại lợi ích cho người nộp đơn, chủ sở hữu, cơ quannhãn hiệu hàng hoá và các đại diện nhãn hiệu hàng hoá Người nộp đơn vàchủ sở hữu có lợi từ việc Hiệp ước tạo ra tính pháp lý chắc chắn hơn vì họ cóthể dựa vào một thực tế là các cơ quan nhãn hiệu hàng hoá không được phépyêu cầu những gì không được đề cập rõ ràng trong Hiệp ước Điều đó cùngvới việc cấm đặt ra các yêu cầu rườm rà và tốn kém sẽ làm cho việc nộp đơnnhãn hiệu hàng hoá và việc quản lý hành chính các đăng ký ở nước ngoài dễdàng hơn Vì vậy, các chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá dễ dàng nhận được sựbảo hộ quốc tế nhãn hiệu hàng hoá với chi phí thấp
Các thủ tục thông suốt sẽ làm giảm gánh nặng về mặt hành chính củacác cơ quan nhãn hiệu hàng hoá của các nước phát triển cũng như các nướcđang phát triển Ngoài ra, việc người nộp đơn dễ dàng thực hiện việc nộp đơnlàm tăng số đơn Cả hai yếu tố này làm tăng thu nhập, người nộp đơn đượchưởng lợi do lệ phí nộp đơn giảm xuống Số đơn tăng lên làm cải thiện tìnhhình kinh doanh của các đại diện nhãn hiệu hàng hoá
3 Các quy định về bản quyền nhãn hiệu hàng hoá trên các khu vực thị trường.
3.1 Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá của Hoa Kỳ.
Pháp luật liên bang và pháp luật các bang về nhãn hiệu hàng hoá.
Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá được quy định bởi hai hệ thống phápluật liên bang và pháp luật của từng bang trong hợp chủng quốc Hoa Kỳkhông có một quy định cụ thể nào dành cho Liên bang toàn quyền ban hành
Trang 266262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626262626vào năm 1998 (Trademark Law Revision Act of 1988) Bổsung cho đạo luật này, năm 1995 chính quyền liên bang đã ban hành các đạoluật bảo vệ nhãn hiệu nổi tiếng (well known marks)
Hầu như tất cả các bang đều có đạo luật về bảo hộ hàng hoá riêng Bêncạnh đó các bang đều ban hành các đạo luật về bảo vệ nhãn hiệu hàng hoá nổitiếng (anti dilution acts) Như vậy bên cạnh hệ thống đăng ký nhãn hiệu củaLiên bang, các bang đều có luật lệ và thiết chế đăng ký nhãn hiệu hàng hoácủa riêng mình Hơn thế nữa, nhãn hiệu hàng hoá được bảo vệ ở các bang gắnliền với án lệ liên quan đến pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, ví
dụ chống lại hiện tượng hàng nhái Điều này giải thích tại sao nhãn hiệu hànghoá chỉ được bảo hộ theo thông luật, nếu đã được đưa vào sử dụng trong thựctiễn và bị vi phạm bởi đối thủ cạnh tranh bởi những hành vi gây nhầm lẫn chokhách hàng Điều này khác so với các nước theo hệ thống dân luật, theo đónhãn hiệu được bảo vệ sau khi đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền
Đối tượng bảo hộ.
Theo Lanham Act, nhãn hiệu hàng hoá bao gồm từ ngữ, tên, biểutượng, hình vẽ hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó nhằm phân biệt hàng hoácủa một người cung cấp với hàng hoá của một người cung cấp khác Đặctrưng của nhãn hiệu hàng hoá là tính phân biệt của nó (distintivenes) với cácnhãn hiệu khác Thông qua bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá, pháp luật bảo vệ uy
Trang 27tín (good will) của chủ nhãn hiệu và lợi ích của người tiêu dùng trước hành vigây nhầm lẫn Nhãn hiệu hàng hoá được áp dụng cho hàng hoá, dịch vụ(service mark) và cả những nhãn hiệu xác nhận nguồn gốc, chất lượng, độnguyên chất…, nếu chúng thoả mãn các yêu cầu của một nhãn hiệu(certification marks) Các quy định này về cơ bản có thể so sánh với các quyđịnh của pháp luật Việt Nam.
Để đảm bảo tính phân biệt, nhãn hiệu hàng hoá phải có những dấu hiệulàm nó biệt lập với nhãn hiệu của người khác Tên gọi loại hàng, mô tả hàng,các tên đơn thuần phục vụ những chức năng như tên gọi của dòng họ, địadanh; những nhãn hiệu trái đạo đức xã hội; những nhãn hiệu có nguy cơ gâynhầm lẫn với những nhãn hiệu hàng hoá đã đăng ký (likehood of confusion)đều không được đăng ký
Trước đây đạo luật Lanham quy định: nhãn hiệu chỉ được đăng ký nếu
đã được sử dụng trong thực tiễn Quy định này có xuất xứ từ thông luật bảo
vệ nhãn hiệu như là tài sản của doanh nghiệp trong kinh doanh không lànhmạnh Đây là quy định rất khác biệt của Hoa Kỳ so với các nước theo hệthống dân luật, cũng như so với pháp luật của Việt Nam tuy nhiên từ khi sửađổi vào năm 1988, đạo luật này chỉ quy định người muốn đăng ký chỉ cần cóbằng chứng là mình có ý định sử dụng là đủ (bona intent to use)
Phạm vi và thời hạn bảo hộ.
Từ sau lần sửa đổi năm 1988, thời hạn được bảo hộ của hàng hoá đượcrút ngắn xuống còn 10 năm (trước đó là 20 năm) kể từ ngày đăng ký Thờihạn bảo hộ có thể được gia hạn nhiều lần không hạn chế nếu nhãn hiệu hànghoá vẫn sử dụng trong thực tế
Sau khi được đăng ký, chủ sở hữu văn bằng có độc quyền sử dụng nhãnhiệu cho hàng hoá đã đăng ký, có quyền yêu cầu toà án bảo hộ các quyền hợppháp của mình trước các hành vi vi phạm nhãn hiệu, có quyền yêu cầu cơquan hải quan Hoa Kỳ cấm nhập hàng hoá từ nước ngoài vi phạm nhãn hiệuhàng hoá Sau khi được đăng ký, nhãn hiệu được công bố công khai
Trang 28(constactive notice), mọi doanh nghiệp khác phải coi như đã biết sự tồn tạicủa nhãn hiệu này, và vì thế không thể lấy lý do không biết để biện minh chohành vi vi phạm cùa mình.
Thủ tục đăng ký.
Pháp luật Hoa Kỳ không quy định chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ phảiđăng ký nhãn hiệu hàng hoá, bởi lẽ như đã trình bày ở trên hàng hoá có thểđược bảo vệ theo các thông luật liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh,hoặc thủ tục đăng ký tại môt cơ quan đăng ký bản quyền các bang hoặc Liênbang (Patent and trademark Office) Người nộp đơn phải cam kết nhãn hiệucủa mình thoả mãn luật định
Sau khi kiểm tra, cơ quan đăng ký sẽ công bố nhãn hiệu trên Công báo
và dành cho tất cả những ai có quyền lợi bị vi phạm bởi nhãn hiệu đang chuẩn
bị đăng ký này quyền được khiếu nại trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công
bố Nếu có khiếu nại, mội thủ tục xét xử sẽ được tổ chức nhằm xác định điềukiện đăng ký của nhãn hiệu
Nếu đủ điều kiện, nhãn hiệu được đăng ký vào sổ chính (principalregister) Ngoài ra còn có sổ bổ sung (supplemental register) dành cho cácnhãn hiệu chưa có đủ điều kiện đăng ký, ví dụ như các nhãn hiệu mô tả chủngloại hàng hoá, chúng sẽ được bổ sung nếu đã được sử dụng rộng rãi trongthực tế
Sự vi phạm quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá:
Chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá có quyền yêu cầu toà án bảo vệ cácquyền lợi hợp pháp của mình trước các hành vi vi phạm của bên thứ ba, nếungười đó chứng minh được có nguy cơ gây nhầm lẫn cho khách hàng Nguy
cơ nhầm lẫn có thể xuất hiện nếu:
Trang 29Nếu xác định có hành vi vi phạm chủ sở hữu có thể: (1) yêu cầu chấmdứt hành vi vi phạm; (2) yêu cầu bên vi phạm cung cấp sổ sách để xác địnhthiệt hại và đền bù số lợi tức đáng ra được hưởng; (3) yêu cầu bên vi phạmđền bù thiệt hại, trong những trường hợp cụ thể thiệt hại có thể bao gồm cảchi phí toà án, luật sư Một khoản đền bù gấp ba lần thiệt hại thực tế có thểchấp nhận trong những điều kiện đặc biệt.
3.2 Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá của Liên minh châu Âu.
Việc bảo vệ nhãn mác thương mại toàn châu Âu có thể đạt được thôngqua thoả thuận về Luật nhãn mác thương mại châu Âu vào năm 1993 (nhưngluật này trên thực tế chưa có hiệu lực cho đến tận năm 1996-1997) Luật nàykhông can thiệp tới nhãn mác đã được đăng ký tại từng quốc gia ở châu Âu,nhưng nó đặt ra thủ tục cho phép các quốc gia của EU (và những thành viênkhác) có giấy chứng nhận nhãn mác thương mại EU do trung tâm của Vănphòng của nhãn mác thương mại EU-EUTMO (EU Trade Mark Office) cấp.Giấy này xác định phạm vi bảo hộ nhãn mác hàng hoá tại tất cả các quốc giacủa EU Việc đăng ký được một nhãn mác EU có thể thay thế cho việc đăng
ký tại một nước thành viên nào, nhãn mác thương mại quốc gia vẫn tiếp tục
có hiệu lực tồn tại cùng nhãn mác EU (EUTM- EU trade marks)
Các nhóm sản phẩm đã sử dụng chung nhãn mác EU: Bột giặt, Bóngđèn, Máy giặt, Giấy phô to, Tủ lạnh, Giấy vệ sinh, Máy rửa chén, Chất làmtăng độ màu mỡ của đất, Chiếu trải giường, Sơn nội thất, Giầy dép, Sản phẩmdệt, Máy tính cá nhân…
Đăng ký EUTM.
Việc đăng ký EUTM có thể được làm thông qua văn phòng đại diệncủa nó ở các quốc gia hay trực tiếp tại Alicante, Tây Ban Nha Hiển nhiên,nhãn hiệu này phải chưa được sử dụng ở các nước EU Một nhãn hiệu hànghoá sẽ bị từ chối nếu nó giống hệt với nhãn hiệu hàng hoá và hàng hoá hoặcdịch vụ đã được bảo hộ Điều đó có thể tạo nên khả năng xảy ra nhầm lẫn,
Trang 30xung đột trên một phần của công chúng Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể khiếukiện lên EUTMO khi nhãn hiệu hàng hoá của họ bị lạm dụng bởi các hãngkhác Những yêu cầu về việc chống lại quyết định của EUTMO được trìnhbày đầu tiên ở Hội đồng khiếu nại và sau đó là Tòa án châu Âu Các hànhđộng dân sự đối với những thiệt hại từ việc vi phạm bản quyền đăng ký củaEUTM diễn ra tại các Tòa án quốc gia nơi xảy ra hành vi phạm pháp.
Chủ sở hữu phải sử dụng thực sự trong kinh doanh trên cộng đồng nhãnhiệu đã đăng ký trong thời gian 5 năm sau khi đăng ký, nếu không nhãn hiệuthương mại EU sẽ không có hiệu lực Một bên thứ ba có thể đăng ký vớiEUTMO để có được một nhãn hiệu thương mại EU đã bị huỷ bỏ
Luật nhãn mác thương mại châu Âu đã được cải tiến vào năm 1998nhằm làm hài hoà Luật nhãn mác thương mại với các điều luật có liên quanđến quyền về đăng ký bản quyền về nhãn mác thương mại Tất nhiên vẫn cónhiều hãng vẫn tiếp tục đăng ký ở cấp quốc gia hơn là đăng ký nhãn mácthương mại EUTM Lý do cho vấn đề này là việc đăng ký quốc gia có thể rẻhơn là đăng ký EUTM, đặc biệt nếu như hãng hoạt động mạnh chỉ trong mộthai quốc gia châu Âu
Thương hiệu cộng đồng có thể được chuyển nhượng một cách riêng rẽ
từ bất kỳ một sự chuyển nhượng nào của công việc kinh doanh đối với một số
Trang 31hoặc tất cả hàng hoá hoặc dịch vụ được đăng ký nhãn hiệu Việc chuyểnnhượng hết thảy công việc kinh doanh sẽ kèm theo việc chuyển nhượngthương hiệu hàng hóa trừ nơi mà luật điều chỉnh việc chuyển nhượng có sựthoả thuận điều ngược lại Điều khoản này sẽ áp dụng bắt buộc cho thoả thuận
n3
13131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313
1313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131313131y định trong : “luật về nhãn mác sản phẩm” tháng 6 năm
1996 Theo luật này, nhãn hiệu được hiểu là những hình dáng dấu hiệu, bất cứ
sự kết hợp nào của các yếu tố đó hoặc bất cứ sự kết hợp nào của các yếu tố đóvới màu sắc
Đăng ký nhãn hiệu.
Những người muốn đăng ký nhãn hiệu sẽ đệ trình yêu cầu lên Tổnggiám đốc văn phòng Patent những giấy tờ bao gồm: bản sao nhãn hiệu, bảnsao nhãn hiệu mới thay thế những nhãn hiệu cũ và những giải thích cần thiết,những yêu cầu sẽ chỉ ra đây: (1) Tên hoặc nơi cư trú, nơi ở của người xinđăng ký nhãn hiệu, nếu là pháp nhân thì kèm theo tên của văn phòng đại diện;(2) Ngày nộp đơn: (3) Những hàng hoá và dịch vụ chỉ định
Đơn đăng ký sẽ được xét duyệt theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên.Trong vòng 2 tháng kể từ khi xuất bản đơn đăng ký nhãn hiệu, bất kỳ ai cũng
có thể nộp đơn phản đối sự cho phép đăng ký nhãn hiệu với Tổng giám đốcVăn phòng sáng chế Người phản đối sẽ nộp bản viết phản đối chỉ ra lý do
Trang 32cùng với những dấu hiệu xác nhận chứng cứ Khi bản phản đối cấp đăng kýnhãn hiệu được nộp thì người kiểm tra sẽ chuyển một bản phô tô cho ngườilàm đơn đăng ký nhãn hiệu Nếu trong thời hạn nói trên không có bản phảnđối nào đối với việc cấp đăng ký nhãn hiệu được nộp, người kiểm tra sẽ đưaquyết định việc đăng ký nhãn hiệu được cấp trên đơn xin đăng ký nhãn hiệutrừ phi có quyết định bác bỏ.
Những nhãn hiệu sau đây sẽ không được bảo hộ:
Nhãn hiệu gợi ý theo cách thông thường chân dung của người, tên, bútdanh nổi tiếng, tên nghề nghiệp, tên bút danh hoặc chữ viết tắt nổi tiếng
Nhãn hiệu chỉ theo cách thông thường tên chung, nguồn gốc, nơi bán,chất lượng, hiệu quả sử dụng, số lượng, hình dáng hoặc giá cả, phương phápthời gian chế tạo hoặc sử dụng những hàng hoá hoặc dịch vụ đã chỉ định
Nhãn hiệu gợi ý theo cách thông thường tên chung của những hàng hoáhoặc dịch vụ chỉ định tương tự nơi cung cấp dịch vụ, chất lượng vật phẩmcung cấp cho việc sử dụng dịch vụ, tính hiệu quả sử dụng, số lượng, mốt, giáhoặc phương pháp, thời gian chế tạo chất lượng sử dụng những hàng hoátương tự hàng hoá đã chỉ định
Những nhãn hiệu thường được sử dụng trên những hàng hoá hoặc dịch
vụ chỉ định, những hàng hoá hoặc dịch vụ tương tự
Phạm vi và giới hạn của bảo hộ:
Giới hạn của quyền nhãn hiệu là 10 năm kể từ ngày đăng ký quyền đó.Giới hạn của quyền nhãn hiệu có thể thay đổi bởi đơn đăng ký thay đổi, vớiđiều kiện nhãn hiệu đã đăng ký không là: (1) Nhãn hiệu giống nhãn hiệu củangười khác; (2) Nhãn hiệu có thể gây nhầm lẫn về chất lượng của hàng hoácho người tiêu dùng
Nếu muốn đăng ký sửa lại thời hạn nhãn hiệu sẽ trình yêu cầu lên Vănphòng Patăng những điều sau: tên và nơi cư trú của người làm đơn trongtrường hợp là pháp nhân thì tên của người đại diện nó, và số hiệu đăng ký củanhãn hiệu Đồng thời người nộp đơn nộp phí quy định Đơn đăng ký làm lại
Trang 33thời gian sẽ làm trong vòng 6 tháng sau ngày hết hạn của hiệu lực Nhưng nếu
vì lý do bất khả kháng người đó không thể hoàn thành đơn trong thời hạn trênthì có thể làm đơn này trong vòng 14 ngày kể từ ngày các lý do hết hạn để cóthể nộp đơn nhưng không quá 2 tháng sau của thời gian gia hạn của thời hạn
đó Thời hạn gia tăng sau khi đơn đăng ký làm lại được chấp nhận tính từngày hết hạn của thời hạn hiệu lực trước
Chuyển giao quyền nhãn hiệu:
Khi có 2 hay nhiều mẫu hàng hoá hoặc dịch vụ đã chỉ định, quyền nhãnhiệu có thể được chuyển giao độc lập từng mẫu Tuy nhiên, điều khoản này sẽkhông áp dụng nếu mẫu bị tách biệt lại tương tự như bất kỳ mẫu nào khác củahàng hoá và dịch vụ chỉ định
Quyền nhãn hiệu trong nhãn hiệu tập thể không thể được chuyển giaomột cách độc lập
Thông báo chung về việc chuyển giao quyền nhãn hiệu sẽ được đưatrên báo hàng ngày như quy định bởi lệnh của Bộ thương mại và công nghiệp(MITI) Sự chuyển giao quyền nhãn hiệu trừ sự thừa kế hay kế tục chung sẽkhông được đăng ký cho đến khi 30 ngày trôi qua kể từ khi thông báo chungnhư trên
Quyền nhãn hiệu mà đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp bởi Nhà nướchoặc một tổ chức địa phương công cộng hoặc một cục nào đó hoặc một tổchức phi lợi nhuận hoạt động vì mục đích xã hội sẽ không được chuyển giao
Sự vi phạm quyền nhãn hiệu hoặc quyền sử dụng độc quyền: gồm những hành động sau:
Việc sử dụng nhãn hiệu tương tự như nhãn hiệu đã đăng ký đối vớihàng hoá hoặc dịch vụ đã được chỉ định hoặc việc sử dụng nhãn hiệu đã đăng
ký hoặc những nhãn hiệu tương tự như vậy đối với những hàng hoá tương tựvới những hàng hoá được chỉ định
Trang 34Nắm giữ (vì mục đích chuyển nhượng hoặc phân phối) những hàng hoáhoặc dịch vụ đã chỉ định hoặc những hàng hoá tương tự như hàng hoá đã chỉđịnh và đối với những cái đó hoặc trên bao bì của nó nhãn hiệu đã đăng kýhoặc nhãn hiệu tương tự nó đã được dán lên.
Nắm giữ hoặc nhập khẩu những vật phẩm (được sử dụng bởi nhữngngười mà dịch vụ cung cấp tới và đối với hàng hoá dịch vụ mà nhãn hiệu đãđăng ký hoặc nhãn hiệu tương tự được dán lên) trong việc cung cấp nhữnghàng hoá dịch vụ chỉ định hoặc hàng hoá dịch vụ tương tự hàng hoá dịch vụchỉ định vì mục đích sử dụng những vật phẩm này trong việc cung cấp nhữnghàng hoá dịch vụ trên
Chuyển giao hoặc phân phối những vật phẩm (những thứ dùng để sửdụng bởi người mà những hàng hoá hoặc dịch vụ cung cấp tới và thứ mànhững nhãn hiệu đã đăng ký hoặc những nhãn hiệu tương tự nó được dán lênđó) trong việc cung cấp các hàng hoá dịch vụ chỉ định vì mục đích làm chonhững vật phẩm đó được sử dụng trong việc cung cấp các dịch vụ trên hoặccác hành động nắm giữ, nhập khẩu những vật phẩm đó vì mục đích chuyểnnhượng, phân phối
Nắm giữ những vật phẩm có sự làm lại nhãn hiệu đã đăng ký hoặc nhãnhiệu tương tự vì mục đích sử dụng những nhãn hiệu đó đối với những hànghoá hoặc dịch vụ được chỉ định hoặc đối với những hàng hoá dịch vụ tươngtự
Chuyển nhượng, phân phối hoặc nắm giữ (vì mục đích chuyển nhượng,phân phối) những vật phẩm có sự làm lại nhãn hiệu đã đăng ký hoặc nhãnhiệu tương tự vì mục đích làm cho những nhãn hiệu đó được sử dụng đối vớinhững hàng hoá hoặc dịch vụ dự tính hoặc hàng hoá dịch vụ tương tự
Sản xuất hoặc nhập khẩu những vật phẩm có sự làm lại nhãn hiệu đãđăng ký hoặc nhãn hiệu tương tự vì mục đích sử dụng những nhãn hiệu trênhoặc làm cho nó được sử dụng đối với những hàng hoá chỉ định hoặc tươngtự
Trang 35Sản xuất, chuyển nhượng, phân phối hoặc nhập khẩu (trong thời gianhoạt động thương mại) những vật phẩm được sử dụng độc quyền để chế tạonhững hàng hoá có sự làm lại nhãn hiệu đã đăng ký hoặc nhãn hiệu tương tự.
Khi một người sở hữu quyền nhãn hiệu hoặc quyền sử dụng khiếu nạingười cố tình hay vô ý vi phạm quyền nhãn hiệu hoặc quyền sử dụng độcquyền, đòi bồi thường cho thiệt hại gây ra cho anh ta do sự vi phạm, nhữngkhoản lợi thu được trong suốt quá trình vi phạm sẽ được dự tính số thiệt hạiphải chịu
Người sở hữu quyền nhãn hiệu hoặc quyền sử dụng đặc biệt có thể yêucầu người vi phạm (cố tình hay vô ý) một khoản tiền mà anh ta thường đượcphép nhận cho việc sử dụng nhãn hiệu đăng ký như là khoản thiệt hại mà anh
ta phải chịu
Kết luận chương:
Như vậy trong toàn bộ chương một, chúng ta đã thấy rõ được vai tròcủa nhãn hiệu hàng hoá đối với doanh nghiệp Để xây dựng thành công chomình một nhãn hiệu hàng hoá, doanh nghiệp phải nắm được các yêu cầu củanhãn hiệu hàng hoá và kết hợp với chiến lược sản xuất kinh doanh để lựachọn cho mình chiến lược nhãn hiệu phù hợp Phần hai của chương đề cập tớinhững quy định pháp lý về nhãn hiệu hàng hoá của quốc tế và các khu vực thịtrường Các doanh nghiệp muốn xâm nhập vào các thị trường trọng điểm cầnnắm rõ những quy định này Đây cũng là cơ sở để chúng ta tiếp tục nghiêncứu ở chương hai, so sánh rút ra những điểm phù hợp và bất đồng giữa luậtViệt Nam và luật quốc tế
CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU SẢN
PHẨM TRONG MARKETING QUỐC TẾ.
Trang 36I Thực trạng hệ thống pháp quy liên quan đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá của nhãn hiệu hàng hoá Việt nam.
1 Các văn bản pháp quy liên quan đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá.
Khái niệm nhãn hiệu hàng hoá
Chủ thể quyền nhãn hiệu hàng hoá
Căn cứ phát sinh quyền nhãn hiệu hàng hoá
Quyền của chủ nhãn hiệu hàng hoá
Hiệu lực của văn bằng bảo hộ
Chuyển giao, chuyển nhượng quyền nhãn hiệu hàng hoá
1.1.2 Bộ luật hình sự năm 2000.
Bộ luật quy định hai điều luật nhằm định tội danh và quy định hìnhphạt cho hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: “Tội xâm phạm quyền sởhữu công nghiệp”(Điều 171) và “Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp”(Điều 170)
1.2 Các văn bản hướng dẫn giải thích luật.
1.2.1 Nghị định 63/CP (24.10.1996) được sửa đổi bổ sung theo NĐ 6/2001/ NĐ-CP (01.01.2001) quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp.
Những nội dung liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá được làm rõ trongnghị định như sau:
Trang 37Đối tượng bảo hộ nhãn373
73737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737373737Phạm vi và thời hạn bảo hộ
Hiệu lực của văn bằng bảo hộ, huỷ bỏ văn bằng bảo hộ
Cụ thể quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá
1.2.2 Nghị định số 12/1999/NĐ-CP (6.3.1999) về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Nghị định nêu rõ hành vi vi phạm, hình phạt và mức phạt (xem phụ lục 2)
1.3 Các thông tư hướng dẫn thi hành nghị định.
1.3.1 Thông tư số 3055/TT sở hữu công nghiệp của Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp và các thủ tục khác trong Nghị định 63/CP ngày 24.10.1996 của Chính phủ quy định chi tiết sở hữu công nghiệp.
Hiện nay Nghị định 63/CP đã được sửa đổi bổ sung bằng NĐ6/2001/NĐ-CP ( 01.02.2001) với nội dung đã được đề cập phía trên Thông tưthay thế thông tư này đang trong phần dự luật
1.3.2 Thông tư hướng dẫn thu, nộp và sử dụng phí và lệ phí sở hữu công nghiệp Số: 23 TC/TCT ngày 9/5/1997.
Nội dung của Thông tư được nêu trong phần phụ lục 3
1.4 Các công ước quốc tế liên quan tới nhãn hiệu hàng hoá mà Việt Nam tham gia.
Trang 38Theo quy định trong bộ luật dân sự năm 1995, các quy định của điềuước quốc tế mà Việt Nam là thành viên sẽ được ưu tiên trong trường hợp cácquy định của điều ước mâu thuẫn với các quy định trong luật của Việt Nam.
Cho đến nay Việt Nam đã tham gia công ước Paris về bảo hộ sở hữucông nghiệp vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, tham gia thoả ước Madrid về đăng
1.5 Các Hiệp định song phương mà Việt Nam ký kết với các khu vực thị trường.
1.5.1 Hiệp định giữa Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ.
Về vấn đề đối xử quốc gia: Mỗi bên giành cho công dân của bên kia sựđối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà bên đó dành cho công dân củamình trong việc xác lập, bảo hộ, hưởng và thực thi tất cả các quyền sở hữu trítuệ và mọi lợi ích có được tử các quyền đó (Điều 3 chương II)
Hiệp định quy định mỗi bên phải thực hiện các quy định có nội dungkinh tế của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, năm 1967 (Điều
Công ước Paris được áp dụng với sửa đổi về dịch vụ Để xác định một nhãnhiệu hàng hoá có phải nổi tiếng hay không phải xem xét đến sự hiểu biết vềnhãn hiệu hàng hoá trong bộ phận công chúng có liên quan, gồm cả sự hiểubiết đạt được trong lãnh thổ của bên liên quan do kết quả của hoạt độngkhuyếch trương nhãn hiệu hàng hoá này Không bên nào được yêu cầu rằng
sự nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hoá vượt ra ngoài bộ phận công chúngthường tiếp xúc với hàng hoá hoặc dịch vụ liên quan hoặc yêu cầu rằng nhãnhiệu hàng hoá đó phải được đăng ký (Điều 6 khoản 6 chương II)
Hiệp định nêu khái niệm nhãn hiệu hàng hoá bao gồm cả nhãn hiệudich vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận Mỗi bên quy định về một
Trang 39hệ thống đăng ký nhãn hiệu và việc đăng ký không phụ thuộc vào tính chấtcủa nhãn hiệu hàng hoá (Điều 6 chương II).
Quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu (khoản 2 Điều 6 chươngII) : có quyềnngăn cản tất cả những người không được phép của chủ sở hữu khỏi việc sửdụng trong kinh doanh các dấu hiệu trùng hoặc tương tự cho các hàng hoá vàdịch vụ trùng với những hàng hoá và dịch vụ đã được đăng ký của chủ sở hữunhãn hiệu hàng hoá đó, nếu việc sử dụng như vậy có nguy cơ gây nhầm lẫn.Trường hợp sử dụng một dấu hiệu trùng với các hàng hoá, dịch vụ đã đăng kýthì bị coi là có nguy cơ gây nhầm lẫn Các quyền kể trên không ảnh hưởng tớibất kỳ quyền nào tồn tại trước và không ảnh hưởng tới khả năng quy địnhrằng các quyền có thể đạt được trên cơ sở sử dụng
Đăng ký ban đầu của một nhãn hiệu hàng hoá có giá trị hiệu lực trongvòng 10 năm và được gia hạn không hạn chế số lần, mỗi lần gia hạn có thờihạn 10 năm, khi các điều kiện gia hạn được đáp ứng (Khoản 8 Điều 6)
Mỗi bên yêu cầu việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá là điều kiện để duytrì hiệu lực của bên đăng ký Việc đăng ký có thể bị đình chỉ hiệu lực dokhông sử dụng chỉ sau thời gian ít nhất là ba năm liên tục không sử dụng, trừtrường hợp chủ sở hữu chứng minh được rằng việc không sử dụng đó có lý dochính đáng vì có những cản trở đối với việc sử dụng đó Pháp luật phải côngnhận những điều kiện phát sinh ngoài ý muốn của chủ nhãn hiệu hàng hoágây cản trở cho việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, chẳng hạn như việc chínhphủ hạn chế nhập khẩu hoặc quy định các yêu cầu khác đối với các hàng hoáhoặc dịch vụ mang nhãn hiệu hàng hoá là lý do chính đáng của việc không sửdụng (Khoản 9 Điều 6 chương II)
Một bên có thể quy định các điều kiện cấp li-xăng và chuyển nhượngquyền sở hữu một nhãn hiệu hàng hoá, nhưng không được phép cho phép li-xăng không tự nguyện đối với hàng hoá Chủ nhãn hiệu hàng hoá đã đượcđăng ký quyền chuyển nhượng hàng hoá của mình cùng với hoặc không cùngvới việc chuyển nhượng doanh nghiệp có hàng hoá đó Tuy nhiên, một bên có
Trang 40thể yêu cầu việc chuyển nhượng hợp pháp một nhãn hiệu hàng hoá bao gồmviệc chuyển giao uy tín của nhãn hiệu hàng hoá đó (Khoản 12 Điều 6).
Một bên có thể từ chối đăng ký nhãn hiệu hàng hoá gồm hoặc chứa cácdấu hiệu trái đạo đức, mang tính lừa dối hoặc gây tai tiếng, hoặc dấu hiệu cóthể bêu xấu hoặc hiểu sai về một người đang sống hay đã chết, tổ chức, tínngưỡng hoặc biểu tượng quốc gia của một bên hoặc làm cho đối tượng đó bịkhinh thị hoặc mất uy tín Mỗi bên đều cấm đăng ký như là nhãn hiệu củahàng hoá các từ ngữ chỉ dẫn chung về hàng hoá hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu
đó (Khoản 12 Điều 6 chương II)
1.5.2 Hiệp định khung được ký kết giữa nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với Liên minh châu Âu năm 1995.
1.5.3 Hiệp định khung ASEAN về hợp tác sở hữu trí tuệ được ký kết giữa Việt Nam và các nước ASEAN tháng 12/1995.
2 Những vấn đồng nhất về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm giữa luật Việt Nam và quốc tế.
2.1 Những vấn đồng nhất về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm giữa luật Việt Nam và Hiệp định TRIPS.
Về nhãn hiệu hàng hoá, Việt Nam có những quy định phù hợp với cácquy định của hiệp định TRIPS ( phần II, mục 2,điều 15-21) như sau:
Về chế độ đối xử quốc gia Việt Nam là thành viên Công ước Paris.
Theo Công ước, mỗi thành viên chấp nhận nguyên tắc bảo hộ quyền sở hữucông nghiệp và nguyên tắc đối xử quốc gia cho mọi nước thành viên khác
Khái niệm nhãn hiệu hàng hoá Việt Nam đã có các quy định về bảo hộ
nhãn hiệu hàng hoá tập thể, nhãn hiệu hàng hoá liên kết và nhãn hiệu hànghoá nổi tiếng
Các đối tượng có thể thuộc hoặc không thuộc phạm vi bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá Nghị định 63/CP (24.10.1996) được sửa đổi bổ sung theo NĐ 6/2001/
NĐ-CP (01.01.2001) quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp, quy định rằng: