Trong đó,máy chủ biêndịch địa chỉ NAT can thiệp vào gói tin truyền tải và thay thế trường địa chỉ để cácmáy tính gắn địa chỉ private có thể kết nối vào mạng internet Hình 1HÌNH 1.2.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
=====o0o======
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Công nghệ thông tin, cácthầy cô giáo, bạn bè đã động viên giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình hoàn thành
đồ án này Đặc biệt em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn
Th.s Luơng Xuân Phú về sự tận tình và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ hướng dẫn
em rất nhiều từ những ý tưởng ban đầu cho đến lúc hoàn thành đồ án tốt nghiệpnày
Do thời gian và sự hiểu biết còn hạn chế nên đồ án này không tránh khỏinhững thiếu sót, kính mong sự góp ý, chỉ dẫn của quý thầy cô và bạn bè trong khoaCông nghệ thông tin để đồ án được hoàn thiện hơn và có những kinh nghiệm thực
tế để triển khai những đề tài trong tương lai
Em xin chân thành cảm ơn!
Vinh,tháng 5/2011
Sinh viên
Lê Thanh Ngọc
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
Chương I: TỔNG QUAN VỀ IP 5
1.1.Giới Thiệu về lịch sử IP 5
1.2.Giới thiệu về IPv4 6
Chương II: TÌM HIỂU VỀ IPV6 VÀ ƯU ĐIỂM THỰC TIỄN CỦA IPV6 10
2.1 Giới thiệu về cấu trúc và các dạng địa chỉ IPv6 10
2.2.Tiêu chuẩn hoá và quản lý địa chỉ IPv6 10
2.3 Cấu trúc địa chỉ IPv6 11
2.4 Các dạng địa chỉ IPv6 13
2.4.1 Các dạng địa chỉ IPv4 13
2.4.2 Các dạng địa chỉ IPv6 13
2.4.3 Định danh giao diện trong địa chỉ IPv6 21
2.5 Tìm hiểu về IPv6 header 22
2.5.1 Nhắc lại về IPv4 header 22
2.5.2 IPv6 Header Những thay đổi và cải tiến so với IPv4 25
2.5.3 Header mở rộng ( Extension Header ) trong thế hệ địa chỉ IPv6 28
2.6 Các thủ tục của IPv6 32
2.6.1 Thủ tục ICMPv6 33
2.6.2 Thủ tục Multicast Listener Discovery (MLD) 33
2.6.3 Thủ tục Neighbor Discovery ( ND) 34
2.7 Đặc điểm , lợi ích của IPv6 35
Chương III: TÌM HIỂU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ CHUYỂN ĐỔI TỪ IPV6 SANG IPV4 39
3.1 Những khó khăn, thách thức khi chuyển đổi từ Ipv6 sang Ipv4 39
3.2 Mục đích yêu, cầu khi chuyển đổi 39
3.3.Công nghệ đường hầm tunnel 43
3.3.1 Tổng quan về công nghệ đường hầm Tunnel 43
3.3.2 Phân loại công nghệ Tunnel 44
3.3.3 Nguyên tắc hoạt động của việc tạo đường hầm 45
3.4 Cấu hình bằng tay đường hầm Tunnel 45
3.5 Tunnel Broker 46
3.6.Triển khai DHCP trên Windows Sever 2008 49
3.6.1 Cấu hình TCP/IPv6 49
3.6.2 Cài đặt DHCP Server role 52
KẾT LUẬN 58
1 Kết quả đạt được 58
2 Hạn chế 58
3 Hướng phát triển 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển của khoa học kĩ thuật trên thế giới đã đạt được những thành tựu
to lớn trên nhiều lĩnh vực khác nhau Trong đó phải kể đến là sự phát triển nhanhchóng của cụng nghệ chế tạo điện tử và vi điện tử đã tạo ra được những thiết bịmạng, máy tính với khả năng xử lý ngày càng cao Đi liền với nó là sự phát triểnrất nhanh của mạng Internet toàn cầu Mạng Internet đã tạo ra một môi trường hoạtđộng toàn cầu cho tất cả mọi người tham gia, gần như xóa đi biên giới giữa cácquốc gia, thu ngắn lại khoảng cách địa lý
Một trong những vấn đề quan trọng mà kĩ thuật mạng trên thế giới đang phảinghiên cứu giải quyết là đối mặt với sự phát triển với tốc độ quá nhanh của mạnglưới Internet toàn cầu Sự phát triển này cùng với sự tích hợp dịch vụ, triển khainhững dịch vụ mới, kết nối nhiều mạng với nhau, như mạng di động với mạngInternet đó đặt ra vấn đề thiếu tài nguyên dùng chung Việc sử dụng hệ thống địachỉ hiện tại cho mạng Internet là IPv4 sẽ không thể đáp ứng nổi sự phát triển củamạng lưới Internet toàn cầu trong thời gian sắp tới Do đó nghiên cứu, triển khaiứng dụng một phương thức đánh địa chỉ mới nhằm khắc phục hạn chế này là mộtyêu cầu cấp thiết
Qua việc nghiên cứu , tìm tòi và được sự hướng dẫn tận tình của Thầy ThS
Luơng Xuân Phú đó giúp em xây dựng một đề tài “Nghiên Cứu IPV6 và các vấn
đề chuyển đổi địa chỉa giữa IPV4 và IPV6” làm đồ ỏn tốt nghiệp.
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2 IPV4 Internet Protocol Address Version 4
3 IPV6 Internet Protocol Address Version 6
10 IANA Internet Assigned Numbers Authority
Trang 5Chương I: TỔNG QUAN VỀ IP
1.1.Giới Thiệu về lịch sử IP
Tiền thân của mạng Internet ngày nay là mạng ARPANET Cơ quan quản lý
dự án nghiên cứu phát triển ARPA thuộc bộ quốc phòng Mỹ liên kết 4 địa điểmđầu tiên vào tháng 7 năm 1969 bao gồm: Viện nghiên cứu Stanford, Đại HọcCalifornia, Los Angeles, Đại học Utah và Đại học California, Santa Barbara Đó
chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network - WAN) đầu tiên được xây dựng.
Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974 Lúc đó mạngvẫn được gọi là ARPANET Năm 1983, giao thức TCP/IP chính thức được coi nhưmột chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối với ARPANETphải sử dụng chuẩn mới này Năm 1984, ARPANET được chia ra thành hai phần:phần thứ nhất vẫn được gọi là ARPANET, dành cho việc nghiên cứu và phát triển;phần thứ hai được gọi là MILNET, là mạng dùng cho các mục đích quân sự
Giao thức TCP/IP ngày càng thể hiện rõ các điểm mạnh của nó, quan trọngnhất là khả năng liên kết các mạng khác với nhau một cách dễ dàng Chính điềunày cùng với các chính sách mở cửa đã cho phép các mạng dùng cho nghiên cứu
và thương mại kết nối được với ARPANET, thúc đẩy việc tạo ra một siêu mạng
(SuperNetwork) Năm 1980, ARPANET được đánh giá là mạng trụ cột của
Internet
Mốc lịch sử quan trọng của Internet được xác lập vào giữa thập niên 1980khi tổ chức khoa học quốc gia Mỹ NSF thành lập mạng liên kết các trung tâm máytính lớn với nhau gọi là NSFNET Nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANETsang NSFNET và do đó sau gần 20 năm hoạt động, ARPANET không còn hiệuquả đã ngừng hoạt động vào khoảng năm 1990
Sự hình thành mạng xương sống của NSFNET và những mạng vùng khác đãtạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet Tới năm 1995,
Trang 6NSFNET thu lại thành một mạng nghiên cứu còn Internet thì vẫn tiếp tục pháttriển.
Với khả năng như vậy mạng Internet trở thành mạng lớn nhất thế giới.Mạngcủa mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực như thương mại, chính trị, giáo dục, quân
sự, văn hóa, xã hội… Cũng từ đó các loại dịch vụ trên Internet không ngừng pháttriển tạo cho nhân loại kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thương mại điện tử trên Internet
1.2.Giới thiệu về IPv4
Trước khi tìm hiểu về IPV6 ta sẽ tìm hiểu về IPV4
- Cấu trúc địa chỉ IPv4
Cấu trúc địa chỉ IPv4 gồm 32bit chia làm 4 phần (mỗi phần có 8 bit, tươngđương 1 byte) cách biệt đều từ trái qua phải bit 1 cho đến bit 32, các phần tách biệtnhau bằng dấu chấm(.)
Trang 7- Cấu trúc IP ở lớp A: 8 bit đầu là địa chỉ mạng, 24 bit còn lại là địa chỉ host.
32 bit
Net ID Host ID
Trang 8- Cấu trúc IP ở lớp C : 24 bit đầu là địa chỉ mạng, 8 bit còn lại là địa chỉhost.
32 bit
Net ID Host ID
*) Lớp D : Dùng để gửi IP datagram tới một nhóm các host trên một mạng
*) Lớp E : Dự phòng để dùng trong tương lai
- Hạn chế về công nghệ và nhược điểm của IPv4
Thế hệ địa chỉ Ipv4 có những hạn chế thấy rõ sau :
* Cấu trúc định tuyến không hiệu quả:
Địa chỉ IPv4 có cấu trúc định tuyến vừa phân cấp, vừa không phân cấp Mỗirouter phải duy trì bằng thông tin định tuyến lớn, đòi hỏi router phải có dung lượng
bộ nhớ lớn IPv4 cũng yêu cầu router phải can thiệp xử lý nhiều hơn đối với gói tinIpv4, ví dụ thực hiện phân mảnh, điều này tiêu tốn CPU của router và ảnh hưởnghiệu quả xử lý( gây trễ,hỏng gói tin…)
* Hạn chế về tính bảo mật và kết nối đầu cuối-đầu cuối:
Trong cấu trúc thiết kế của địa chỉ IPv4 không có cách thức bảo mật nào đikèm IPv4 không cung cấp phương tiện hỗ trợ mã hoá dữ liệu Kết quả là hiện naybảo mật ở mức ứng dụng được sử dụng phổ biến, không bảo mật lưu lượng truyềntải giữa các host.Nếu áp dụng IPSec( internet protocol security: là giao thức mạng
về bảo mật ) một phương thức bảo mật phổ biến tại tầng IP, mô hình bảo mật chủyếu là bảo mật lưu lượng giữa các mạng, việc bảo mật lưu lượng đầu cuối-đầu cuốiđược sử dụng rất hạn chế
8 bit 8 bit 8 bit 8 bit
Trang 9Để giảm nhu cầu tiêu dùng địa chỉ, hoạt động mạng IPv4 sử dụng phổ biếncông nghệ biên dịch NAT (Network Address Translator) Trong đó,máy chủ biêndịch địa chỉ (NAT) can thiệp vào gói tin truyền tải và thay thế trường địa chỉ để cácmáy tính gắn địa chỉ private có thể kết nối vào mạng internet (Hình 1)
HÌNH 1.2.Mô hình sử dụng NAT của địa chỉ IPv4 có nhiều nhược điểm:
* Không có kết nối điểm - điểm và gây trễ làm khó khăn và ảnh hưởng tớinhiều dạng dịch vụ(VPN, dịch vụ thời gian thực).Thậm chí đối với nhiều dạng dịch
vụ cần xác thực port nguồn/đích, sử dụng NAT là không thể được Trong khi đó,các ứng dụng mới hiện nay, đặc biệt các ứng dụng client-server ngày càng đòi hỏikết nối trực tiếp end-to-end
* Việc gói tin không được giữ nguyên tình trạng từ nguồn tới đích, có nhữngđiểm trên đường truyền tải tại đó gói tin bị can thiệp, như vậy tồn tại những lỗhổng về bảo mật
Nguy cơ thiếu hụt không gian địa chỉ, cùng những hạn chế của IPv4 thúcđẩy sự đầu tư nghiên cứu một giao thức internet mới, khắc phục những hạn chế củagiao thức IPv4 và đem lại những đặc tính mới cần thiết cho dịch vụ và cho hoạt
Trang 10động mạng thế hệ tiếp theo Giao thức Internet IETF đã đưa ra, quyết định thúcđẩy thay thế cho IPv4 là IPv6.
Trang 11Chương II: TÌM HIỂU VỀ IPV6 VÀ ƯU ĐIỂM THỰC TIỄN CỦA
IPV6
2.1 Giới thiệu về cấu trúc và các dạng địa chỉ IPv6
Ngày nay Internet đã và đang phát triển với tốc độ khủng khiếp, đến nay đã
có hơn 60 triệu người dùng trên toàn thế giới Bước sang những năm đầu của thếkỷ XXI, ứng dụng của Internet phát triển nhằm cung cấp dịch vụ cho người dùngNotebook, Cellualar Modem và thậm chí nó còn thâm nhập vào nhiều ứng dụngdân dụng khác như TV, máy pha café…Để có thể đưa những khái niệm mới dựatrên cơ sở TCP/IP này thành hiện thực, TCP phải mở rộng Vấn đề ở đây là khônggian địa chỉ IP ngày càng cạn kiệt, càng về sau địa chỉ IP (IPv4) không thể đáp ứngđược nhu cầu mở rộng mạng đó Bước tiến quan trọng mang tính chiến lược đốivới kế hoạch mở rộng này là việc nghiên cứu cho ra đời một thế hệ sau của giaothức IP, đó chính là IP Version 6 (IPv6) Địa chỉ thế hệ mới của internet-IPv6 (IPAddress Version 6) được nhóm chuyên trách về kỹ thuật IETF (InternetEngineering Task Force) của hiệp hội Internet đề xuất thực hiện kế thừa trên cấutrúc và tổ chức của IPv4
2.2.Tiêu chuẩn hoá và quản lý địa chỉ IPv6
a) Tiêu chuẩn hoá Ipv6:
Ý tưởng về việc phát triển giao thức Internet mới được giới thiệu tại cuộchọp IETF 25/7/1994 trong RFC 1752 - The Recommendation For the IP NextGeneration Protocol ( giới thiệu thủ tục IP phiên bản mới)
Quá trình phát triển, xem xét, sửa đổi, hoàn thiện hoá các thủ tục Internetphiên bản 6 được thực hiện bởi nhóm làm việc IETF IPv6 Working Group Saunhiều năm nghiên cứu, những hoạt động cơ bản của thế hệ địa chỉ này đã đượcđịnh nghĩa và công bố năm 1998 trong một chuỗi tài liệu chuẩn từ RFC 2460 đếnRFC 2467 Trong đó nổi
bật nhất là tiêu chuẩn hoá địa chỉ IPv6 RFC 2460 - Internet Protocol, Version6(IPv6) Specification, và hai thủ tục thiêt yếu trong hoạt động của IPv6, hỗ trợ choIPv6 : RFC 2461 -mô tả thủ tục Ipv6 Neighbor Discovery Protocol, là thủ tục mớicủa IPv6
Trang 12Cũng trong năm 1998 IETF công bố hai tài liệu chi tiết hơn về địa chỉ IPv6
đó là RFC 2373 - IP Version 6 Addressing Architecture (cấu trúc địa chỉ Ip phiênbản 6) và RFC 2374 - An IPv6 Aggregatable Global Unicast Address Format (mô
tả định dạng địa chỉ unicast địn tuyến toàn cầu) Trải qua thời gian dài điều chỉnh,
cả hai tài liệu này được thay thế bởi hai RFC mới : RFC 3513 - Internet ProtocolVersion 6 (IPv6) Addressing Architecture ( cấu trúc đánh địa chỉ Ip phiên bản 6 )
và RFC 3587 - Ipv6 Global Unicst Address Format ( dạng thức địa chỉ IPv6 Unicsttoàn cầu)
b) Quản lý địa chỉ IPv6 :
Cũng như không gian địa chỉ IPv4, địa chỉ IPv6 được quản lý bởi hệ thốngphân cấp các tổ chức quản lý địa chỉ toàn cầu Trong đó quản lý cao nhất là IANA( Internet Assigned Numbers Authority), tiếp đó là các tổ chức quản lý địa chỉ khuvực (RIR - Regional Internet Registry)
Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương :APNIC
http:// www.apnic.net
Khu vực Châu Âu : RIPE NCC
http:// www.ripe.net
Khu vực Bắc Mỹ : ARIN http:// www arin.net
2.3 Cấu trúc địa chỉ IPv6
Địa chỉ IPV6 có chiều dài 128 bit,nên vấn đề nhớ địa chỉ hết sức khó khăn
Do vậy,các nhà thiết kế đã chọn cách viết 128 bit địa chỉ thành 8 nhóm,mỗi nhómchiếm 2 byte, mỗi byte biểu diễn bằng 2 số hệ 16; mỗi nhóm ngăn cách bởi dấu haichấm(:)
Ví dụ: FEDC:BA98:FDAC:CBDE:3256:0000:7654:3210
Một cách để làm cho đơn giản hơn là các quy tắc cho phép viết tắt Vì khởiđiểm ban đầu chúng ta sẽ không sử dụng tất cả 128 bit chiều dài địa chỉ do đó sẽ
có rất nhiều số 0 ở các bit đầu
Một cải tiến đầu tiên là được phép bỏ qua những số không đứng trước mỗithành phần hệ 16,viết 0 thay vì viết đầy đủ 0000, ví dụ viết 8 thay vì 0008,viết 800
Trang 13Ví dụ: 1080:0:0:0:8:800:FECA:1A82.
Ngoài ra xuất hiện một quy tắc rút gọn khác đó là quy ước về viết hai dấuchấm.Trong một địa chỉ,một nhóm liên tiếp các số 0 có thể được thay thế bởi haidấu chấm
Ví dụ: Ta có thể thay thế nhóm 3 số 0 liên tiếp trong ví dụ trên và được mộtmẫu ngắn hơn 1080::8:800:FECA:1A82
Từ địa chỉ viết tắt này,ta có thể viết lại địa chỉ chính xác ban đầu nhờ quy tắcsau:căn trái các số bên trái của dấu 2 chấm kép trong địa chỉ.Sau đó căn phải tất cảcác số bên phải dấu 2 chấm và điền đầy bằng các số 0
Ví dụ: FEDC:BA98::7654:3210 có địa chỉ đầy đủ là:
Vì như thế sẽ gây nhầm lẫn khi dịch ra địa chỉ đầy đủ
Có một số địa chỉ IPv6 có được hình thành bằng cách gắn 96 bit 0 vào địachỉ IPv4 ( Điều này dễ dàng nhận biết được vì không gian địa chỉ IPv4 chỉ là mộttập con của tập địa chỉ IPv6) Để giảm bớt nguy cơ nhầm lẫn trong chuyển đổi giữa
ký hiệu chấm thập phân của IPV4 và hai dấu chấm thập phân của ký hiệu IPv6, cácnhà thiết kế IPv6 cũng đã đưa ra khuôn mẫu đặc biệt cho cách viết những địa chỉloại này như sau:
Thay vì viết theo cách của 1 địa chỉ IPv6 là 0:0:0:0:0:0:A00:1 ta có thể vẫn
để 32 bit cuối theo mẫu chấm thập phân
::10.0.0.1
Trang 14Lớp D được sử dụng để dùng làm địa chỉ Multicast, một địa chỉ IP lớp D sẽ
là một địa chỉ thuộc một nhóm Multicast nào đó
Địa chỉ Multcast nâng cao hiệu quả mạng lưới bằng cách cho phép Hosttruyền dữ liệu tới một tập nơi nhận được xác định trước Ví dụ một Host có thểmuốn gửi một Video Clip lớn đến một nhóm các nơi nhận Sẽ rất tốn thời gian nếu
nó sử dụng địa chỉ Unicast để gửi riêng rẽ đến từng nơi nhận Nếu Host BroadcastVideo Clip đó qua mạng, sẽ tiêu tốn tài nguyên mạng và gói tin Broadcast cũngkhông vượt được ra khỏi một mạng con Do vậy Host có thể sử dụng địa chỉMulticast và chỉ sử dụng tài nguyên cần thiết
Trang 15Anycast đựoc gắn cho mỗi chức năng nhất định, và địa chỉ Anycast được sử dụng
để thực hiện một chức năng nhất định
RFC 3513 IP Version 6 Addressing Architecture mô tả cấu trúc ba loại địachỉ ipv6 :
a) Địa chỉ Unicast:
Trong IPv4, không rõ ràng là một địa chỉ được gắn cho Node hay gắn chogiao diện IPv6 xác định rõ ràng rằng địa chỉ được cấu hình trên mỗi giao diệnmạng
Địa chỉ Unicast xác định một giao diện duy nhất trong phạm vi tương ứng.Trong mô hình định tuyến, các gói tin có địa chỉ đích là địa chỉ Unicast chỉ đượcgửi tới một giao diện duy nhất Địa chỉ Unicast được sử dụng trong giao tiếp một -một
Địa chỉ unicast IPv6 có thể được phân loại theo phạm vi Một phạm vi cónghĩa là một vùng ứng dụng Phạm vi toàn cầu ( Global Scope) có thể được sửdụng để giao tiếp trên toàn cầu, và phạm vi nội bộ ( Local Scope) được dử dụngcho mục đích trong vòng một site Link-local Scope, được sử dụng trên một linknội bộ, nói cách khác nó có thể được sử dụng trong vòng giới hạn biên của Router
Giả sử một Node (Host) được gắn vào một mạng IPv6 bằng một cápEthernet Ethernet Adapter sẽ có một địa chỉ link-local được cấu hình Nếu Node
đó có kết nối IPv6 toàn cầu, thì giao diện Ethernet đó cần phải được cung cấp mộtđịa chỉ Unicast toàn cầu Và giả sử nếu như phạm vi Site - Local được sử dụngtrong tổ chức thì địa chỉ Site - Local cần phải được cấu hình
- Địa chỉ toàn cầu Global
Đây là dạng địa chỉ tương đương với địa chỉ IPv4 Public Chúng được địnhtuyến và có thể liên kết tới phạm vi toàn cầu Việc phân bổ và cấp phát dạng địachỉ này do hệ thống các tổ chức quản lý địa chỉ quốc tế đảm nhiệm
Địa chỉ Global Unicast toàn cầu được bắt đầu với 3bit Prefix 001
Trang 16Hình 2.4.2: Cấu trúc địa chỉ Global unicast
Địa chỉ IPv6 định danh toàn cầu được phân cấp định tuyến như sau:
*Phần cố định: 3bit đầu tiên xác định dạng địa chỉ Global Unicast
* Phần định tuyến toàn cầu: 45bit tiếp theo Các tổ chức quản lý sẽphân cấp quản lý vùng địa chỉ này, phân cấp chuyển giao lại cho các tổ chứckhác
* Vùng định tuyến trong site: 16bit tiếp theo là không gian địa chỉ mà
tổ chức có thể tự mình quản lý, phân bổ, cấp phát và tổ chức định tuyến bêntrong mạng của mình Với16 bit tổ chức có thể tạo nên 65,536 Subnet hoặcnhiều cấp định tuyến phân cấp hiệu quả sử dụng trong mạng tổ chức
Theo cách thức biểu diễn dạng số Hexa, hiện nay hoạt động liên kết mạngIPv6 toàn cầu đang sử dụng địa chỉ thuộc vùng 2000::/3 Không gian địa chỉ đóđược phân cấp nhỏ hơn cho từng mục đích sử dụng cụ thể Nếu một địa chỉ IPv6được bắt đầu bằng 2000::/3, chúng ta biết đó là vùng địa chỉ định tuyến toàn cầu
Trong thời gian đầu tiên sử dụng địa chỉ IPv6, IANA cấp phát trong vùng2001::/16 cho hoạt động Internet IPv6 Tới thời điểm hiện nay, nhu cầu sử dụngIPv6 gia tăng các vùng địa chỉ khác bắt đầu được cấp phát như 2400::/16
- Địa chỉ Link-local:
10bit đầu tiên của địa chỉ link-local luôn luôn là 1111 1110 10 (tức làFE80::/10 theo dạng thức Hexadecimal) 38bit sau là 0, sau đó là 16bit định danhmạng (Subnet ID) được tạo thành từ địa chỉ MAC trong trường hợp có EthernetAdapter Địa chỉ link-local được cấu hình ngay lập tức khi giao diện được gắn vàomạng Nói cách khác, địa chỉ link-local được tạo đầu tiên, trước khi địa chỉ toàncầu được cấu hình Router ngăn những gói tin chứa địa chỉ link-local Do vậy, địachỉ link-local chỉ được sử dụng trên một link
Trang 17Mẫu địa chỉ cho link-local:
128 Bit
10 Bit 54 Bit 64 Bit
Hình 2.4.2:cấu trúc địa chỉ link-local
Sử dụng phổ biến nhất của địa chỉ link-local là trong quá trình tự động cấuhình của địa chỉ Unicast toàn cầu Như đã nói ở trên, địa chỉ toàn cầu được cấu tạo
từ định danh giao diện (Interface ID) và tiền tố mạng (Network Prefix) NetworkPrefix được nhận từ Router tương ứng trên dường link, do vậy, Node cần phải giaotiếp với Router trước tiên Địa chỉ link-local được sử dụng chính cho mục đích này
Khái niệm định danh giao diện (Interface ID )
Trong mô hình địa chỉ IPv6, bất kể dạng địa chỉ nào, 64bit cuối cùng đượcquy định là các bit định danh giao diện Chúng xác định duy nhất một giao diệntrên một đường link (phạm vi của tính duy nhất có thể rộng lớn hơn) 64 bit địnhdanh giao diện này có thể tự động tạo dựa trên địa chỉ card mạng( địa chỉ MACtrong trường hợp kết nối Ethernet) hoặc gắn ngẫu nhiên
- Địa chỉ Site - Local:
Địa chỉ Site - Local được thiết kế với mục đích sử dụng trong phạm vi mộtmạng, tương đương với địa chỉ dùng riêng trong IPv4 (các vùng 10.0.0.0/8,172.16.0.0/12, 192.168.0.0/16) Phạm vi duy nhất của dạng địa chỉ này là phạm vitrong một mạng dùng riêng ( ví dụ một mạng Office…) Các Router Gateway IPv6không Forward gói tin có địa chỉ Site - local ra khỏi phạm vi mạng riêng của tổchức Do vậy, một vùng địa chỉ Site - Local có thể được dùng trùng lặp bởi nhiều
tổ chức mà không gây xung đột định tuyến IPv6 toàn cầu Địa chỉ Site - Localtrong một Site không thể được truy cập tới từ một Site khác
Địa chỉ Site - Local được xác định cấu hình trong một mạng cấu tạo bởi một
số mạng con 10bit đầu tiên của địa chỉ Site - Local luôn là 1111 1110 11( tức làFEC0::/10 theo dạng công thức Hexadecimal) 38bit sau là 0, sau đó là 16bit địnhdanh mạng (Subnet ID)
1111111010 00000….0000.0000 interface ID
Trang 1810 Bit 38 Bit 16 Bit 64 Bit
Hình 2.4.2 :cấu trúc địa chỉ site-local
Các bit đầu tiên (trong trường hợp này là 10bit) tương tự như các bit nhậndạng lớp địa chỉ (Class bit) của IPv4 nhưng ở IPv6 được gọi là Prefix dùng đểphân biệt các loại,các kiểu địa chỉ khác nhau trong IPv6
b) Địa chỉ Multicast
Địa chỉ Multicast định danh nhiều giao diện Gói tin có địa chỉ đích là địachỉ Multicast sẽ được gửi tới tất cả các giao diện trong nhóm được gắn địa chỉ đó.Địa chỉ Multicast được sử dụng trong giao tiếp một - nhiều
Địa chỉ Multicast được cấu hình trong một nhóm Multicast Nói cách khác,nhiều Node có thể được gắn cho một nhóm Multicast nhất định, và nhóm này đượcgắn một địa chỉ Multicast Do vậy, Node thực hiện truyền dữ liệu sẽ chỉ cần xácđịnh địa chỉ Multicast này để nó gửi gói tin đến mọi Node (chính xác hơn là đếncác giao diện) trong nhóm Multicast này
Địa chỉ Multicast cũng có phạm vi: toàn cầu (Global), tổ chức(Organization-Local), một Site ( Site-Local), link (link-local) và trong Node(Node-local) Phạm vi tổ chức và Node là 2 dạng địa chỉ mới, không có trong dạng
1111111010 00000….0000.0000 Subnet ID
Trang 19địa chỉ Unicast Phạm vi Origanzation-Local được sử dụng trong phạm vi một tổchức với một số Site, tuy nhiên định nghĩa không rõ ràng Phạm vi Node-Local chỉ
có tính ứng dụng trong phạm vi một Node Dạng phạm vi địa chỉ này được địnhnghĩa vì không như địa chỉ IPv4, một Node IPv6 có thể gắn rất nhiều địa chỉ
Dạng thức của địa chỉ Multicast như sau:
8bit đầu tiên trong địa chỉ Multicast luôn luôn là 1111 1111 (tức FF theo dạngthức Hexadecimal)
Để phân biệt dạng địa chỉ Multicast, nhóm địa chỉ Multicast và phạm vi củachúng, trong cấu trúc địa chỉ Multicast sử dụng những nhóm bit tạo thành cáctrường sau đây : Cờ - Flag ( 4bit ), phạm vi - Scope ( 4 bit ) và định danh nhómGroup ID (32 bit)
* Flag (cờ ): sử dụng từ bit thứ 9 đến bit 12 và chỉ ra xem đây có phải làdạng địa chỉ Multicast được định nghĩa trước (Well-Known) hay không Trườngnày có 4 bit "00T0", trong đó 3bit hiện chưa sử dụng được đặt giá trị 0, bit T sẽ xácđịnh đây là dạng địa chỉ IPv6 Multicast được IANA gắn vĩnh viễn (hay còn gọi làWell-Known) hoặc không vĩnh viễn do người sử dụng tự quy định
Gắn vĩnh viễn ( Permanent- Assigned)
Gắn không vĩnh viễn ( Non Permanent - Assigned)
+) Bit T=0 có nghĩa đây là địa chỉ Multicast vĩnh viễn (Well-Known) đượcIANA quy định
+) Bit T=1 có nghĩa đây là dạng địa chỉ Multicast không vĩnh viễn
* Phạm vi ( Scope ): trường này gồm 4 bit Scope chiếm từ bit thứ 13 đến bitthứ 16 Được mã hoá là 4 bit nguyên Nó dùng để giới hạn phạm vi nhóm địa chỉMulticast
Trang 20Các giá trị của trường này bao gồm
Nếu 4 bit này là 0010 giá trị Scope là 2 phạm vi của địa chỉ Multicast là phạm
vi link Gói tin Multicast được gửi trên phạm vi toàn bộ đường link local
Router sử dụng giá trị trường Scope của địa chỉ Multicast để quyết định cóForward lưu lượng Multicast hay không
Ví dụ : địa chỉ Multicast FF02::2 có phạm vi link-local Router sẽ không baogiờ Forward gói tin này ra khỏi phạm vi link local
* Group ID được sử dụng để xác định một nhóm Multicast Có những Group IDđược định nghĩa từ trước (Predefined Group ID)
Ví dụ : Group ID =1 tức là mọi Node Bởi vậy nếu địa chỉ Multicast là ff02 ::1
có nghĩa là Scope ID=2 và Group ID=1, chỉ định mọi Node trong phạm vi một link(link=scope)
c) Địa chỉ Anycast
Trang 21Anycast là một dạng dịa chỉ hoàn toàn mới trong IPv6 Dạng địa chỉ nàykhông được gắn cho Node hay giao diện, mà cho những chức năng cụ thể Thay vìthực hiện truyền dữ liệu đến mỗi Node trong một nhóm như địa chỉ Multicast,Anycast gửi gói tin đến Node gần nhất (tính theo thủ tục định tuyến ) trong nhóm.Anycast không có không gian địa chỉ riêng gắn cho nó Nó dược lấy trong vùng
có địa chỉ Unicast Bởi vậy, địa chỉ anycast cũng có 3 phạm vi như địa chỉ UnicastTrong cấu trúc của bất kỳ một địa chỉ Anycast đều có một phần tiền tố P dàinhất để xác định phạm vi (vùng) mà địa chỉ Anycast đó gán cho các giao diện.Theo cấu trúc này tiền tố P cho phép thực hiện các quy tắc định tuyến đối với địachỉ Anycast như sau :
* Đối với phần phía trong của mạng (vùng) : Các giao diện được gán các địachỉ Anycast phải khai báo trong bảng định tuyến trên Router của hệ thống đó lànhững mục riêng biệt với nhau
* Đối với giao tiếp bên ngoài mạng : Khai báo trên Router chỉ gồm một mục
là phần tiền tố P (có thể hiểu tiền tố này định danh cho một Subnet của mạngtrong)
Mục đích thiết kế của loại địa chỉ Anycast để hỗ trợ những tổ chức mà cấutrúc mạng của nó được chia theo cấu trúc phân cấp Trong đó địa chỉ Anycast đượcgán cho các Router, mà các Router này được chia thành các vùng hay các đoạn.Khi một Packet đến Pouter cấp cao nhất trong hệ thống nó sẽ được chuyển đếnđồng thời các Router trong cùng một vùng (đoạn)
2.4.3 Định danh giao diện trong địa chỉ IPv6
Tự động tạo 64bit định danh giao diện từ địa chỉ MAC
Địa chỉ MAC ( hay còn gọi địa chỉ vật lý, địa chỉ Ethernet, EUI-48) của cardmạng, có độ dài 48bit Trong đó 24bit đầu sử dụng để định danh nhà sản xuất thiếtbị và 24bit sau là phần mở rộng, để định danh card mạng Việc kết hợp một số đinh
Trang 22danh 24bit duy nhất của nhà sản xuất card mạng và một số định danh 24bit duynhất của card nhà sản xuất đó cung cấp ra thi trường sẽ tạo nên một con số 48bit,định danh một card mạng duy nhất trên toàn cầu, được gọi là địa chỉ MAC( viếtdưới dạng Hexa Decimal).
- EUI-64:
Nhằm tạo nên một không gian định danh thiết bị lớn hơn cho các nhà sảnxuất, IEEE đưa ra một phương thức đánh số mới cho các giao diện gọi là EUI-64,trong đó giữ nguyên 24bit định danh nhà sản xuất thiết bị và phần mở rộng tănglên thành 4 bit
Tạo 64bit định danh giao diện từ dạng thức EUI-64 theo quy tắc như sau:
Trong số 24bit xác định nhà cung cấp thiết bị, có một bit được quy định làbit U ( xxxx xxUx xxxx xxxx xxxx xxxx) Thông thường bit này có giá trị 0.Người ta tiến hành đảo bit U nay ( từ 0 thành 1 và từ 1 thành 0), và lấy 64bit saukhi thực hiện như vậy làm 64bit định danh giao diện trong địa chỉ IPv6
Ví dụ : Tạo 64bit định danh giao diện của dịa chỉ IPv6 từ địa chỉ MAC 60-23-16-FC-2F
00-Bước 1: Tách địa chỉ MAC 48bit EUI-48 (00-60-23-16-FC-2F) làm 2 phần,thêm 16bit FF-FE vào để trở thành dạng thức EUI-64 (00-60-23-FF-FE-16-FC-2F)
Bước 2: Đảo bit U của dạng thức EUI-64 trên sẽ thu được 64bit định danhgiao diện : 02-60-23-FF-FE-16-FC-2F
Trang 23
Ta có sơ đồ thực hiện như sau:
2.5 Tìm hiểu về IPv6 header
2.5.1 Nhắc lại về IPv4 header
Hoạt động của Internet dựa trên các thủ tục, là tập các quy trình phục vụcho giao tiếp Trong thủ tục Internet, những thông tin như địa chỉ IP của nơi gửi vànơi nhận gói tin, và những thông tin cần thiết khác được dặt phía trước dữ liệu.Phần thông tin đó dược gọi là phần mào đầu (Header)
Để thấy những thay đổi và nâng cấp trong IPv6 Header, ta sẽ nhắc lại về cáctrường trong IPv4 Header và chức năng của chúng, sau đó sẽ so sánh với HeaderIPv6
FF FE
00 60 23 FF FE 16 FC 2F
0 0 0 0 0 0 U 0
Trang 24IPv4 Header có các trường sau đây
Version -chỉ phiên bản của IP, có giá trị 4
- Internet Header Length - chỉ định chiều dài IPv4 Header (đơn vị đo là khối4byte )
- Service Type - chỉ định dịch vụ mong muốn khi truyền các gói tin quaRouter Trường này có 8bit, xác định quyền ưu tiên, độ trễ, thông lượng, các đặctính chỉ định độ tin cậy khác Trường Service Type gồm TOS (Type of Service) vàPrecedence TOS xác định loại dịch vụ và bao gồm: giá trị, độ tin cậy, thônglượng, độ trễ hoặc bảo mật Precedence xác định mức độ ưu tiên, sử dụng 8 mức từ0-7.Cụ thể là:
111 - Network Control (cao nhất)
Trang 25- Total Length - chỉ định tổng chiều dài gói tin IPv4 ( IPv4 Header + IPv4Payload) Kích thước 16bit, chỉ định rằng gói tin IPv4 có thể dài tới 65,535byte.
- Identification - định danh gói tin Kích thước 16bit Định danh cho gói tinđược lựa chọn bởi nguồn gửi gói tin Nếu gói tin IPv4 bị phân mảnh, mọi phânmảnh sẽ giữ lại giá trị trường định danh này, mục đích để Node đích có thể nhómlại các mảnh, phục vụ cho việc phục hồi lại gói tin
Flags - xác định cờ cho quá trình phân mảnh Kích thước 3bit Có 2 cờ: mộtxác định gói tin bị phân mảnh và cờ kia chỉ định xem có thêm phân mảnh khác tiếptheo phân mảnh hiện thời hay không
Fragment Offset - chỉ định vị trí của phân mảnh trong phần Payload của gói tin banđầu Trường này có kích thước 13bit
Time To Live (TTL) - chỉ định số lượng link tối đa mà một gói tin IPv4 cóthể đi qua trước khi bị huỷ bỏ Trường này dài 8bit TTL được sử dụng như một bộđếm thời gian mà Router IPv4 dùng để quyết định độ dài thời gian cần thiết (bằnggiây) để chuyển tiếp gói tin IPv4 Router hiện đại chuyển tiếp gói tin chưa đến mộtgiây song luôn phải giảm giá trị trường này ít nhất một đơn vị Khi giá trị TTL trở
về 0, gói tin sẽ được huỷ đi và thông điệp lỗi được gửi trả lại địa chỉ IPv4 nguồn
Protocol - xác định thủ tục lớp cao hơn gói tin sẽ được chuyển tiếp Trườngnày gồm 8bit
Ví dụ một số giá trị: 6 là TCP, 17 là UDP, 1 là ICMP
Header Checksum - cung cấp kiểm tra Checksum cho IPv4 Header Có kíchthước 16bit.IPv4 Payload không bao gồm trong Checksum này mà thường chứaChecksum riêng của nó Các IPv4 Node nhận gói tin sẽ kiểm tra IPv4 HeaderChecksum và loại bỏ gói tin nếu không trùng khớp thông tin Khi Router Forwardmột gói tin IPv4, nó phải giảm giá trị trường TTL, do đó trường Header Checksumđược tính toán lại tại mỗi Router giữa nguồn và đích
Source Address - chứa địa chỉ nguồn gửi gói tin IPv4, kích thước 32bit.Destination Address - chứa địa chỉ IPv4 đích, kích thước 32bit
Options - chứa một hoặc nhiều hơn tuỳ chọn trong IPv4 Kích thước trườngnày là một số nguyên lần của 32bit (4byte) Nếu các Options không dùng hết và
Trang 26làm lẻ khối 32bit, các giá trị 0 sẽ được thêm vào để đảm bảo IPv4 Header là một sốnguyên của khối 4byte, như vậy chiều dài IPv4 Header mới có thể chỉ định đượcbằng giá trị của trường Internet Header Length.
2.5.2 IPv6 Header Những thay đổi và cải tiến so với IPv4
IPv6 Header là phiên bản cải tiến, được tổ chức hợp lý hơn so với IPv4Header Trong đó loại bỏ đi một số trường không cần thiết hoặc ít khi sử dụng vàthêm vào những trường hỗ trợ tốt hơn cho lưu lượng thời gian thực
Thực hiện so sánh hai dạng thức Header IPv4 và IPv6, sẽ thấy một số trườngđược giữ nguyên một số trường trong IPv6 Header thực hiện chức năng tương tựtrường của IPv4 Header, có trường được thêm vào và một số trường được bỏ đi
IPv6 có các trường sau
* Những thay đổi của IPv6 Header so với IPv4 Header
a) Chiều dài của IPv6 Header
Như đã mô tả ở trên IPv4 Header có một trường chiều dài không cố định đó
là Options Trường Options được sử dụng để thêm các thông tin về các dịch vụ tuỳchọn khác nhau trong IPv4, như thông tin liên quan đến mã hoá Do đó, chiều dàicủa IPv4 Header thay đổi tuỳ theo tình trạng Do sự thay đổi đó, các Router điềukhiển giao tiếp dựa trên những thông tin trong IP Header không thể biết trướcchiều dài của phần Header Điều này cản trở việc tăng tốc xử lý gói tin
Trang 27Gói tin IPv6 có 2 dạng Header: Header cơ bản và Header mở rộng(Extension Header) Phần Header cơ bản có chiều dài cố định 40byte, thuận tiệnhơn cho việc tăng tốc xử lý gói tin Những thông tin liên quan đến dịch vụ kèmtheo được chuyển hẳn tới một phân đoạn khác gọi là Header mở rộng
Cấu trúc một gói tin IPv6 như sau :
Payload
IPv6 packet
Mặc dù trường địa chỉ nguồn và địa chỉ đích trong IPv6 Header có chiều dài
mở rộng tới 128bit, gấp 4 lần số bit của IPv4, song chiều dài Header của IPv6 chỉgấp 2 lần Header IPv4 Đó là nhờ dạng thức của Header đã được đơn giản hoá đitrong IPv6 bằng cách bỏ bớt đi những trường không cần thiết và ít được sử dụng
b) Những trường bỏ đi trong IPv6 Header
So với IPv4 Header, IPv6 Header đã bỏ đi những trường sau đây:
- Options: Một trong những thay đổi quan trọng là không còn tồn tại trườngOptions trong IPv6 Header Vì vậy, chiều dài Header cơ bản của IPv6 là cố định
- Header Checksum: Header Checksum là 1 số sử dụng để kiểm tra lỗi trongthông tin Header, được tính toán ra dựa trên những con số của Header Do giá trịcủa trường TTL (Time To Live) trong Header thay đổi mỗi khi gói tin được truyềnqua 1 Router, Header Checksum cần phải được tính toán lại mỗi khi gói tin đi qua
1 Router Địa chỉ IPv6 đã giải phóng Router khỏi công việc này, nhờ đó giảm đượctrễ Hơn nữa, lớp TCP ngay phía trên lớp IP có kiểm tra lỗi thông tin, bao gồm cảđịa chỉ nguồn và địa chỉ đích Việc thực hiện phép tính tương tự tại tầng IP làIPv6 header Extension header Under Layer Protocol
data Unit
Trang 28không cần thiết và dư thừa, do vậy Header Checksum được lại bỏ khỏi IPv6Header.
- Internet Header Length: chiều dài phần cơ bản của gói tin IPv6 cố định là40byte, do vậy không cần thiết có trường này
- Identification - Flags - Fragment Offset : thông tin về phân mảnh khôngbao gồm trong IPv6 Header mà chứa hẳn trong một Header mở rộng riêng( Fragment Extension Header ) Trong hoạt động của địa chỉ IPv6, IPv6 Routerkhông tiến hành phân mảnh gói tin Việc thực hiện phân mảnh do ứng dụng thựchiện ngay tại Host nguồn Do vậy, các thông tin hỗ trợ phân mảnh được bỏ đi khỏiphần Header cơ bản là phần được xử lý tại các Router và được chuyển sang phầnHeader mở rộng, là phần được xủ lý tại đầu cuối
c) Những trường trong IPv6 Header thực hiện chức năng tương tự IPv4Header
- Version - 4bit : Cùng tên với trường trong địa chỉ IPv4 Chỉ khác giá trị thểhiện địa chỉ phiên bản 6
- Traffic Class - 8bit: Thực hiện chức năng tương tự trường " Service Type "của địa chỉ IPv4 Trường này được sử dụng để biểu diễn mức ưu tiên của gói tin
Ví dụ: Gói tin nên được truyền với tốc độ nhanh hay thông thường, hướng dẫnthiết bị thông tin xử lý gói tin một cách tương ứng
- Payload Length -16bit: Trường này thay thế cho trường Total Length củađịa chỉ IPv4 Tuy nhiên, nó chỉ xác định chiều dài phần Payload Length bao gồm
cả Header mở rộng Bằng 16bit, có thể chỉ định IPv6 Payload tới 65,535byte
- Hop Limit - 8bit : Thay thế trường Time to Live của địa chỉ IPv4
- Next Header - 8bit : Thay thế trường protocol của địa chỉ IPv4 Nó chỉ địnhđến Header mở rộng đầu tiên (nếu có) hoặc thủ tục lớp trên như TCP, UDP,ICMPv6 Nếu sử dụng để chỉ định thủ tục lớp trên trường này sẽ có giá trị tương tựnhư trường Protocol của địa chỉ IPv4
- Source Address : Địa chỉ nguồn, chiều dài là 128bit
- Destination Address: Địa chỉ đích, chiều dài là 128bit
Trang 29* So với IPv4 IPv6 Header có những trường mới như sau :
- Flow Label : Trường Flow Label có chiều dài 20 bit, là trường mới đượcthiết lập trong IPv6 Trường này được sử dụng để chỉ định rằng gói tin thuộc mộtdòng (Flow) nhất định giữa nguồn và đích, yêu cầu IPv6 Router phải có cách xử lýđặc biệt Flow Label được dùng khi muốn áp dụng chất lượng dịch vụ (Quality OfService - QoS) không mặc định, ví dụ QoS cho dữ liệu thời gian thực ( Voice,Video) Bằng cách sử dụng trường này, nơi gửi gói tin có thể xác định một chuỗicác gói tin, ví dụ Voice Over IP, thành một dòng, và yêu cầu chất lượng dịch vụ cụthể cho dòng đó Theo mặc định, Flow Label được đặt giá trị 0 Có thể có nhiềudòng giữa nguồn và đích, sẽ được xác định bởi những giá trị tách biệt của FlowLabel
2.5.3 Header mở rộng ( Extension Header ) trong thế hệ địa chỉ IPv6
Header mở rộng là đặc tính mới trong thế hệ địa chỉ IPv6
Hình 2.5.3: Header mở rộng của địa chỉ IPv6
Trong IPv4 thông tin liên quan đến những đặc tính mở rộng ( ví dụ xác thực,
mã hoá) được để trong phần Options của IPv4 Header Địa chỉ IPv6 đưa những đặctính mở rộng và các dich vụ thêm vào thành một phần riêng, gọi là Header mởrộng Gói tin IPv6 có thể có một hay nhiều Header mở rộng, được đặt sau Headerchính, trước phần dữ liệu Các Header mở rộng được đặt nối tiếp nhau theo thứ tựquy định, mỗi dạng có cấu trúc trường riêng
Nhờ tách biệt các dịch vụ gia tăng khỏi các dich vụ cơ bản và đặt chúngtrong Header mở rộng, phân loại Header mở rộng theo chức năng, địa chỉ IPv6 đãgiảm tải nhiều cho Router và thiết lập nên được một hệ thống cho phép bổ sungmột cách linh động các chức năng, kể cả chức năng hiện nay chưa thấy rõ ràng
Trang 30Thông thường các Header mở rộng được xử lý tại đích Header mở rộngHop-by-Hop được xử lý tại mọi Router mà gói tin đi qua.
Các dạng Header mở rộng :
Hiện nay có sáu dạng Header mở rộng tương ứng sáu dịch vụ đang đượcđịnh nghĩa: Hop-by-Hop, Destination, Routing, Fragment, Authentication, và ESP(Encapsulating Security Payload) Thứ tự đặt header mở rộng trong gói tin là cầnthiết
* Hop-by-hop: là header mở rộng được đặt đầu tiên ngay sau header cơ bản.Header này được sử dụng để xác định những tham số nhất định tại mỗi hop trênđường truyền dẫn gói tin từ nguồn tới đích Do vậy sẽ được xử lý tại mọi Routertrên đường truyền dẫn gói tin
* Destination Header: được sử dụng để xác đinh các tham số truyền tải góitại đích đến liền kề hoặc đích cuối cùng
- Nếu có Routing Header thì sẽ mang thông tin tham số xủ lý tại mỗi đíchtới
- Nếu không có Routing Header, thông tin là tham số xử lý tại đích cuốicùng
* Routing Header đảm nhiệm xác định đường dẫn định tuyến Node IPv6nguồn có thể sử dụng Routing Header để xác định định tuyến, liệt kê địa chỉ củacác Router mà gói tin phải đi qua Địa chỉ thuộc danh sách sẽ được dùng làm địachỉ đích của gói tin IPv6 theo thứ tự được liệt kê và gói tin sẽ được gửi từ Routernày đến Router khác
* Fragment: Header mở rộng Fragment mang thông tin hỗ trợ cho quá trìnhphân mảnh và tái tạo gói tin IPv6 Fragment Header được sử dụng khi nguồn IPv6gửi đi gói tin lớn hơn Path MTU( Maximum Transmission Unit - kích cỡ gói tinlớn nhất) Trong IPv4 mọi Router trên đường dẫn cần tiến hành phân mảnh gói tintheo giá trị của MTU đặt cho mỗi giao diện Tuy nhiên, chu trình này áp đặt mộtgánh nặng lên Router Bởi vậy trong địa chỉ IPv6, Router không thực hiện phânmảnh gói tin Việc này được thực hiện tại đầu cuối