Những công trình nghiên cứu có liên quan đến trường nghĩa chỉ người như: Các tài liệu viết về từ vựng - ngữ nghĩa của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp và Nguyễn Đức Tồn 2002 trong “ Tìm h
Trang 1nguyÔn thÞ hµ
TÌM HIỂU CÁC TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI
TRONG CA DAO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Vinh 2006
LỜI CẢM ƠN.
Trang 2MỞ ĐẦU.
1 Lý do chọn đề tài … 4
2 Lịch sử vấn đề … 4
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu … 5
4 Phương pháp nghiên cứu … 6
5 Dự kiến bố cục của luận văn … 7
Chương 1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1 Vấn đề tên gọi và trường nghĩa chỉ người … 8
2 Những nghiên cứu về con người trong nghệ thuật … 18
3 Ca dao và vấn đề phản ánh của ca dao về con người … 21
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG CA DAO VIỆT NAM. 1 Kết quả thống kê, khảo sát … 29
2 Phân loại số liệu khảo sát … 34
3 Vị trí xuất hiện giữa các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao Việt Nam ……… 40
4 Khả năng kết hợp của các danh từ chỉ bộ phận cơ thể người với các từ loại khác trong ca dao Việt Nam … ……… 44
Chương 3 ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG CA DAO VIỆT NAM 1 Nhận xét chung 52
2 Đặc trưng ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao Việt Nam ……….52
3 Vai trò của sự phản ánh của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao Việt Nam ……… 77
KẾT LUẬN …… 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO …… 83
TÀI LIỆU KHẢO SÁT … 85
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
1.1 Ca dao Việt Nam là viên ngọc quý luôn toả sáng trong không
gian, thời gian.Với ngôn ngữ tinh tế, sinh động, duyên dáng, giàu hìnhtượng và đầy chất thơ, ca dao luôn đi vào lòng người, được ngườingười thuộc và truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác
1.2 Ca dao phản ánh đời sống, trí tuệ, tâm hồn, tình cảm của conngười Việt Nam Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao, trong
đó có cả những công trình nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ Trong cadao, có một lượng từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người rất đáng quan tâm Đây là đối tượng cũng đã được tìm hiểu trong một số bài viết, luậnvăn Nhưng việc tìm hiểu nhóm từ ngữ này trong ca dao thì chưađược khảo sát đầy đủ và hệ thống
1.3 Nghiên cứu từ ngữ trong ca dao nói chung và từ ngữ chỉ bộphận cơ thể người nói riêng nhằm góp phần tìm hiểu ngôn ngữ từ góc
độ tư duy, văn hoá và xã hội Đây là những lĩnh vực có tính thời sựhiện nay trong ngôn ngữ học
Đó chính là những lý do cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài này
2.1.1 Hướng nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ.
Một số công trình đã tìm hiểu ca dao Việt Nam từ góc độ ngôn ngữ,tiêu biểu như:
Tác giả Cao Huy Đỉnh đã nghiên cứu lời đối đáp trong ca dao trữ tình,(Tạp chí văn học, 9/1996)
Tác giả Mai Ngọc Chừ đề cập đến những ngôn ngữ ca dao Việt Nam,(Tạp chí văn học 2/1991)
Tác giả Nguyễn Văn Khang, nói đến sự bộc lộ giới tính trong giaotiếp ngôn ngữ,(Tạp chí văn hoá thông tin, NXB, Hà Nội)
Trang 52.1.2 Hướng nghiên cứu từ góc độ thi pháp.
Nguyễn Xuân Kính (1992), nghiên cứu tổng thể của ca dao về mặtthi pháp:
- Thi pháp học và việc nghiên cứu thi pháp của ca dao
- Ngôn ngữ trong ca dao
- Kết cấu trong ca dao
- Một số biểu tượng trong ca dao
( Thi pháp ca dao – NXB KHXH, Hà Nội 1992)
Trần Đình Sử (1998), nghiên cứu những đặc điểm của thi pháp
ca dao:
- Nhân vật trữ tình trong ca dao
- Kết cấu trong ca dao
- Hệ thống hình ảnh và ngôn ngữ trong ca dao
2.2 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến trường nghĩa chỉ người như:
Các tài liệu viết về từ vựng - ngữ nghĩa của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn
Thiện Giáp và Nguyễn Đức Tồn (2002) trong “ Tìm hiểu đặc trưngvăn hoá dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người việt “ ( trong sự sosánh với những dân tộc khác) NXB ĐHQG HN…
2.3 Những đề tài khoá luận, luận văn có liên quan đến từ ngữ chỉ
bộ phận cơ thể người:
Luận văn thạc sỹ “Đặc trưng ngữ nghĩa của tục ngữ Việt Nam”(1999) - Nguyễn Thị Thu Hương dưới cái nhìn chung về ngữ nghĩacủa tục ngữ, luận văn tốt nghiệp Đại học “ Khảo sát nhóm tục ngữtiếng Việt chứa từ chỉ bộ phận cơ thể người” - Trần Thị Thanh Hà( khoá 2002-2006) đã đề cập khá rõ về các vấn đề thuộc từ chỉ bộ phận
cơ thể người trong tục ngữ
Riêng việc “ tìm hiểu các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca
dao Việt Nam” đang còn là vấn đề mới mẻ, nên chúng tôi đi vào
nghiên cứu đề tài này
3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Trang 6Luận văn khảo sát các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người xuất hiệntrong ca dao Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu.
Nguồn tư liệu lấy từ các cuốn: “ Ca dao Việt Nam” - Nguyễn BíchHằng, NXB VHTT, H., 2004, cuốn “ Ca dao trữ tình Việt Nam” (do
Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào,Sưu tầm và biên soạn) , NXBGiáo dục, 1998 Ngoài ra còn có cuốn “ Tục ngữ - Ca dao- dân ca ViệtNam” – Vũ Ngọc Phan, NXB văn học, 2005
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Như ta đã biết từ chỉ bộ phận cơ thể người là những từ ra đời rấtsớm, thuộc vốn từ cơ bản của người việt, vì đây là những từ gần gũivới đời sống con người nhất Vì vậy, cao dao đã sử dụng những từ nàylàm chất liệu
Luận văn có nhiệm vụ sau:
-Tổng kết những vấn đề lý thuyết xoay quanh khái niệm tên gọicủa ngôn ngữ và các công trình nghiên cứu có liên quan
- Thống kê, phân loại các từ ngữ gọi tên các bộ phận cơ thểngười trong ca dao Việt Nam
- Miêu tả các đặc điểm về ngữ pháp của các từ ngữ chỉ bộ phận
cơ thể người trong ca dao Việt Nam
- Trình bày đặc trưng ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ bộ phận cơthể người và vai trò của nó trong việc biểu hiện nội dung ngữ nghĩa
4.Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
4.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại.
a) Khảo sát lấy số liệu
b) Thống kê số liệu
c) Phân loại số liệu sau khi đã khảo sát
4.2 Phương pháp miêu tả, phân tích, tổng hợp.
Miêu tả, phân tích cụ thể các từ ngữ sau đó tổng hợp và đi đến kết luận cụ thể
4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Trang 7So sánh, đối chiếu số liệu từ nhiều đến ít Khi có số liệu, người miêu tả, phân tích các từ ngữ chỉ bộ phận người trong ca dao Việt Nam, sau đó đối chiếu với một số thể loại khác có liên quan.
5 Dự kiến bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những khái niệm liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thểngười trong ca dao Việt Nam
Chương 3: Đặc trưng ngữ nghĩa và vai trò của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao Việt Nam
Trang 8Chương 1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 Vấn đề tên gọi và trường nghĩa chỉ người.
1.1.Vấn đề tên gọi và từ.
1.1.1 Từ và khái niệm từ:
Từ là một đơn vị quan trọng đã được bàn luận nhiều trong suốtquá trình nghiên cứu của ngôn ngữ học F.De.Saussure đã viết:
" Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái
gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệmnày khó định nghĩa"(F.De.Saussure ,1973) Cho đến nay đã có hàngtrăm định nghĩa về từ
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về từ nhưng có thểthấy rằng mỗi ý kiến lại làm rõ thêm khái niệm từ ở một khía cạnh nào
đó , chứ chưa có khái niệm nhất quán , nhưng tổng hợp các ý kiến lạithì có thể khái quát lại như sau:
" Từ là một đơn vị của ngôn ngữ , gồm một hoặc một số âm tiết cónghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấutạo nên câu."(13.18)
Từ có nhiều chức năng quan trọng nhưng có hai chức năng cơ bảnthường được nhắc đến : chức năng định danh (gọi tên) và chức năngtạo câu
Như vậy, vấn đề tên gọi của các sự vật, hiện tượng và con người liênquan đến chức năng định danh của từ
Trang 9- “Tên riêng là dùng để chỉ một cá thể ( một con người cụ thể,một sự vật cụ thể, một tổ chức cụ thể)”.( Hoàng Phê Một số vấn đềquan điểm trong vấn đề tên riêng không phải tiếng việt" Ngôn ngữ"3.H.1983.Tr11).
- "Tên riêng là những ký hiệu thuần tuý không có nghĩa, cónhững tên riêng vốn có nghĩa thì cái nghĩa đó thường cũng không ainghĩ đến, nó trở thành một sự "vô nghĩa", chức năng của tên riêng chỉ
là vấn đề nhận diện, làm sao cho nhận diện chúng không nhầm và dễdàng" ( Hoàng Phê ,vấn đề cải tiến và chuẩn hoá chính tả " Ngôn ngữ"3.4 H., Tr 19-20)
Có khi tên riêng lại được định nghĩa:
- " Tên riêng là tên gọi của từng cá nhân, cá thể, phân biệt vớinhững cá nhân, cá thể cùng loại "( Từ điển tếng Việt NXB Đà Nẵng,Trung tâm từ điển học Hà Nội – Đà Nẵng 1995).Còn trong cuốn"Những vấn đề ngôn ngữ học.", Hội nghị khoa học, 2002, (NXBKHXH) lại cho rằng: " Có thể xem tên riêng là ký hiệu ngôn ngữ đặcbiệt được tạo thành từ một hệ thống kí hiệu đã có để gọi tên cho mộtđối tượng khác, có chức năng gọi tên để phân xuất và định danh riêngcho một đối tượng cá biệt, đơn nhất so với đối tượng cùng loại"
Như vậy mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng tổng hợp lại thì
ta có thể khái quát : tên riêng là tên gọi của từng cá nhân, cá thể, nónhư là một ký hiệu để nhằm phân biệt với những cá nhân, cá thể kháccùng loại, chẳng hạn như tên người ( Mai, Huệ, Đào); tên gọi các convật: con Vàng, con Vện ; tên một số loại cây : cây Na, cây Đào ; têngọi các hiện tượng tự nhiên như: Sao Hỏa, Sao Kim ; tên địa danh:Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình…
1.1.2.2 Tên chung:
Có thể khái quát về tên chung như sau:
Trang 10Tên chung là tên gọi thường gắn bó với một lớp đối tượng cùngloại Nó có mối quan hệ với khái niệm mang tính khái quát hoá ,chứcnăng cơ bản của tên chung là gọi tên để thông báo, để biểu niệm.
Ví dụ: Tên người: đàn ông, đàn bà ; tên động vật, chim, thú ; tênthực vật: cây, cỏ ; tên các hiện tượng tự nhiên: sông, núi, biển, hồ
1.2 Trường nghĩa và trường nghĩa chỉ người
1.2.1 Vấn đề trường nghĩa - Tiêu chí để xác lập trường nghĩa.
Khi bàn về vấn đề trường nghĩa thì các nhà nghiên cứu đã có một
số ý kiến như sau:
Theo Nguyễn Thiện Giáp (8.39) thì lý thuyết trường nghĩa xuấtphát từ những tiền đề của trường phái Humboldt mới ( quan niệm mặtnghĩa của ngôn ngữ là một kết cấu chặt chẽ được phân chia ra thànhnhững trường hoặc những phạm vi khái niệm) và phần nào từ những tưtưởng của F.de Saussure về tính hệ thống của ngôn ngữ và nhữngphương pháp kết cấu trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu
tố ngôn ngữ
Đỗ Hữu Châu ( 4.150) cũng khẳng định lý thuyết về trường là sự
cụ thể hoá lý thuyết về tính hệ thống của ngôn ngữ trong lĩnh vực từvựng Như vậy khái niệm trường nghĩa là kết quả của việc nghiên cứutính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa Vốn
từ của một ngôn ngữ có thể được phân chia ra thành những trườngnghĩa khác nhau dựa vào quan hệ ý nghĩa giữa các từ hay giữa cácnhóm từ
Tuy nhiên, cần chấp nhận một thực tế là không thể phân chia triệt
để tất cả các từ trong vốn từ vào các trường và cũng không có mộtranh giới dứt khoát giữa các trường bởi trên thực tế một từ có thể đivào nhiều trường khác nhau tuỳ thuộc vào tiêu chí phân lập trường
Đỗ Hữu Châu quan niệm về trường nghĩa đó là " mỗi tiểu hệ thốngngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng
Trang 11nhất với nhau về ngữ nghĩa.Với các trường nghĩa, chúng ta có thể phânđịnh một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thànhnhững quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường và những quan hệ ngữ nghĩatrong lòng mỗi trường" ( 4.171).
Vậy trường nghĩa là một tập hợp các từ có sự đồng nhất ở một nétnghĩa nào đó Các từ trong cùng một trường luôn có quan hệ ý nghĩavới nhau và quan hệ ý nghĩa này vừa là cơ sở để xác lập vừa có tácdụng liên kết các đơn vị từ vùng trong một trường nghĩa
Có nhiều cách xác lập trường nghĩa và do đó cũng có nhiều kiểutrường nghĩa khác nhau Một số trường nghĩa được nói tới là trườngnghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính vàtrường nghĩa liên tưởng
Cơ sở để xác lập trường nghĩa là ý nghĩa của từ mà ý nghĩa của từ
là ý nghĩa ngôn ngữ nên tiêu chí để xác lập các trường phải dựa trênnhững tiêu chí ngôn ngữ học
Tiêu chí để phân lập trường nghĩa biểu vật là sự đồng nhất ở mộtnét nghĩa biểu vật nào đó giữa các từ Nói cách khác, những từ cùngbiểu thị các đối tượng , các hoạt động trạng thái, tính chất, đặc điểm thuộc cùng một phạm vi hiện thực, cùng một chủ điểm thì hợp thànhtrường biểu vật
Ví dụ: Các từ : đầu, đuôi, tay, cánh, mõm, mỏ, miệng, bụng, lòng,vây có sự đồng nhất ở nét nghĩa biểu vật chúng là những từ chỉ bộphận cơ thể người hay động vật Nhưng giữa các từ đó lại lập thànhtừng nhóm, có sự phân lập thành trường nghĩa, sự vật chỉ bộ phận cơthể người: đầu , tay, miệng, bụng, lòng, da, và trường chỉ cơ thể độngvật: đuôi, cánh, mõm, miệng, bụng, lòng, vây Nếu lấy nét nghĩa phạmtrù khác để phân lập thì cả ba trường này có thể là trường bộ phận củatrường lớn hơn, là trường nghĩa động vật, hay trường nghĩa người
Trang 12Như vậy, trong một trường nghĩa sự vật có thể bao gồm nhiềutrường nghĩa hẹp hơn, cấp độ thấp hơn với số lượng từ ít hơn nhưng lạiđồng nhất ở nhiều nét nghĩa hơn Các từ có càng ít nét nghĩa đồng nhấtthì phạm vi các trường càng rộng và do đó số lượng từ tập hợp trongtrường càng nhiều.
Để xác lập trường nghĩa biểu niệm thì phải dựa vào một nét nghĩađồng nhất nào đó trong nghĩa biểu niệm của các từ Cũng như trườngbiểu vật, một trường biểu niệm lớn có thể bao gồm nhiều trường nghĩabiểu niệm nhỏ hơn dựa trên sự đồng nhất và khác biệt về một hay một
"vỡ", "sứt","mẻ","rách" cũng như vậy chúng ta sẽ thành hai trườngnhỏ: thứ nhất, trường (tình cảm - trạng thái) gồm các từ như: "sợ hải",
"kinh hoàng", "yêu đương", "ngạc nhiên" và trường (tình cảm- quanhệ) gồm các từ như: "yêu", "ghét", "nhớ" (3,256)
Trường nghĩa tuyến tính là một tập hợp các từ thường được đúngtheo quan hệ hàng ngang (tuyến tính) trong cụm từ hay trong câu.Trường nghĩa này cho biết khả năng kết hợp vô cùng rộng rải với các
từ khác do bản thân cấu trúc ngữ nghĩa của nó và do hiện tượngchuyển hoá của nó Vì vậy để xác lập một trường nghĩa tuyến tính phảitính đến hiện tượng này
Theo Đỗ Hữu Châu (4.257) có ba nguyên tắc đồng thời cũng là batiêu chí xác lập trường tuyến tính: các từ lập thành một tuyến tính với
Trang 13một từ trung tâm nào đó là các từ mà quan hệ cú pháp giữa chúng với
từ trung tâm là sự tường minh hoá các quan hệ có tính tiềm ẩn giữa cácnét nghĩa trong cấu trúc ngữ nghĩa của từ trung tâm; các từ đó phảiphù hợp với nét nghĩa biểu vật của từ trung tâm; các từ phải phù hợpvới yêu cầu nét nghĩa tận cùng của từ trung tâm
Ví dụ: lấy từ: nắm"(động từ) làm trung tâm có thể xác lập trườngnghĩa tuyết tính của nó gồm các từ : tay, vai áo, cái bánh, tóc, thời cơ,vấn đề, nội dung, vững chắc, hời hợt , sâu sắc Các từ này phải thoảmãn ba điều kiện cụ thể trên, cụ thể là: các từ này khi kết hợp với từtrung tâm: (ví dụ: nắm vạt áo: hoạt động cụ thể bằng tay, nắm vấn đề:hoạt động của tư duy trừu tượng), các từ này đều có nét nghĩa phù hợpvới nghĩa biểu vật của từ "nắm" là liên quan đến hoạt động của bàn taycon người và liên quan đến một khối được nén chặt hay một lượng nào
đó, các từ này có những nét nghĩa gần với trung tâm "nắm" chứ khônggồm những từ có nét nghĩa quá xa với những nét nghĩa của từ trungtâm như: người yêu, tim đen, hoặc ví dụ: từ tuyến tính của “tay” là búpmăng, mềm, ấm, lạnh nắm, cầm khác từ “đi” là nhanh, chậm, tậptễnh
Trường nghĩa liên tưởng là sự tập hợp các từ theo quan hệ liêntưởng phải phù hợp với một trong những nét nghĩa của từ đang xét
Có hai loại trường liên tưởng: Trường hướng tâm và trường ly tâm
- Trường hướng tâm: là trường mà các từ liên tưởng tới luôn có quan
hệ với từ trung tâm hoặc là điểm xuất phát để hướng tới từ trung tâm
- Trường ly tâm: là trường liên tưởng không có định hướng các từđược liên tưởng đến ngày càng xa với những quan hệ ngữ pháp của từtrung tâm
Ví dụ: Từ " bò" trong tiếng pháp gợi lên sự liên tưởng: 1- Bò cái,
bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ, nhai trầu ; 2- Sự cày bừa, cái cày, cái
Trang 14ách; 3 - Những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong các lối
so sánh, các thành ngữ Pháp ( 4,188)
Lý thuyết về trường nghĩa có tác dụng rất lớn đối với việc miêu tả
từ vựng của các ngôn ngữ một cách có hệ thống Vì vậy khi đi vào tìmhiểu các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao Việt Nam thìchúng ta không thể không nói qua về khái niệm trường nghĩa và tiêuchí xác lập nó
1.2.2 Trường nghĩa chỉ bộ phận cơ thể người.
Nguyễn Đức Tồn khi nghiên cứu vấn đề từ chỉ bộ phận cơ thể ngườiông đã thống kê được trong tiếng Việt cứ 397 từ chỉ bộ phận cơ thểngười và 397 đơn vị này gọi tên 289 bộ phận cơ thể khác nhau của conngười, trong đó những bộ phận được gọi bằng những tên khác nhau(92/289 bộ phận, chiếm tỉ lệ 32%)
* Về cơ sở định danh:
Hệ thống từ chỉ bộ phận cơ thể người có từ rất lâu đời từ khi conngười tri giác được về chính bản thân mình, con người đã xác địnhđược những đặc trưng làm cơ sở định danh cho các bộ phận cơ thể:
- Đặc trưng hình thức:
Đặc trưng này được chọn làm cơ sở cho 52 % (110/221) tên gọicủa bộ phận cơ thể người tiếng Việt (qua khảo sát, phân tích 221 têngọi tiếng việt của Nguyễn Đức Tồn) Ví dụ: nhãn cầu, lá mía, mắt cá
Đặc trưng này là khu biệt của 9% số tên gọi tiếng Việt (20/221)
Ví dụ : Dây thanh, ruột thừa
- Đặc trưng vật lý:
Trang 15Đặc trưng này đã được người việt sử dụng trong 6.6% ( 15/221)
số trường hợp để làm cơ sở định danh bộ phận cơ thể
Ví dụ : ruột già , ruột non, màng cứng
- Kích thước, kích cỡ:
Trong tiếng Việt có khoảng 6.1% (13/221) số tên gọi bộ phận cơthể người được dựa trên đặc trưng kích thước , kích cỡ
Ví dụ: Đại não, tiểu não, ngón cái
- Những đặc trưng tản mạn khác (màu sắc, cấu tạo, hành vi )chỉ có 3.7% (8/221) Số trường hợp tên gọi bộ phận cơ thể người trongtiếng việt dựa trên những đặc trưng này, chẳng hạn: tròng trắng , huyếtmạch
Như vậy, các đặc trưng hình thức và vị trí được sử dụng làm cơ
sở định danh bộ phận cơ thể người nhiều hơn tất cả các đặc trưngkhác Trong đó đặc trưng hình thức luôn luôn đứng đầu, có giá trị nhấtđối với cơ sở định danh Điều này hoàn toàn phù hợp với những quyluật nhận thức và biểu thị đối tượng
* Về cấu trúc ngữ nghĩa:
Theo số liệu thống kê của Nguyễn Đức Tồn qua đối tượng phântích là 251 tên gọi thì trong cấu trúc ngữ nghĩa tên gọi bộ phận cơ thểngười tiếng Việt xuất hiện 10 dạng thông tin ( hay 10 loại nghĩa vị ) đó
là :
- Tên gọi chỉ loại (bộ phận chỉnh thể trực tiếp) trong trường từvựng tiếng việt, tần số nghĩa vị này là 57% (143/251) Chẳng hạn:
“đầu” - " phần trên cơ thể cùng thân thể con người", “tay” - " bộ phận
cơ thể phía trên con người từ vai đến ngón tay"
Vị trí (các yếu tố cụ thể hoá ngữ nghĩa là : trên dưới, trái phải, trong - ngoài, trước - sau ) Tần số nghĩa vị này trong tiếng Việt
-là 53% (134/251) có thể có vị trí tuyệt đối (" trên cùng", " phía trên")
Trang 16hoặc vị trí tương đối (chẳng hạn: dưới (cái gì), sau (cái gì) Ví dụ "lông mày" – “vệt lông mày hình cung ở trên hốc mắt”.
- Chức năng bộ phận cơ thể:
Nghĩa vị này chiếm 34% (85/251) trong trường, có thể có haitrường hợp: chỉ ra chức năng thực của bộ phận cơ thể người như: chứcnăng tiêu hoá , bài tiết, tuần hoàn , hô hấp , hay chỉ ra chức năng giả,chức năng biểu trưng của bộ phận cơ thể người như: bụng , dạ biểutrưng ý nghĩa , tình cảm con người: tốt bụng, sáng dạ
- " Tính sở thuộc" (người hoặc động vật thuộc cả hai) của bộ phận
cơ thể nào đó Trong trường từ vựng tiếng Việt, nghĩa vị này chiếm22% (55/251) Nghĩa vị này thường hàm ẩn trong siêu nghĩa vị " chỉnhthể trực tiếp " Nó được biểu hiện tường minh khi trong ngôn ngữ cóhai từ khác nhau, một từ biểu thị một bộ phận cơ thể người, từ kia biểuthị bộ phận cơ thể động vật, chẳng hạn "lông" - " những sợi đơn haykép mọc ở ngoài da cầm thú hoặc da người"
- Cấu trúc: tần số nghĩa vị này trong trường chiếm 19% (48/251)khi trong định nghĩa không dẫn ra " tên gọi chỉ loại" thì nghĩa vị "cấutrúc" được dùng thay thế cho siêu nghĩa vị này, chẳng hạn: " thuỷ tinhthể" - "bộ phận của mắt dưới dạng thấu kính trong suốt, lồi hai mắt, cogiản được"; " lợi" - "mô cơ bao phủ chân răng"
- Kích thước: Nghĩa vị này có tần số xuất hiện là 14% (35/251) cókhả năng: chỉ ra đại lượng tuyệt đối như: “tá tràng” - " phần ruột nontiếp với dạ dày, dài chừng 12cm", hay chỉ ra đại lượng tương đối như:
“tay” – “bộ phận phía trên cơ thể, từ vai đến ngón”
- Hình thức, hình dạng:
Trong từ vựng tiếng Việt tần số nghĩa vị này là 11% (28/251)chẳng hạn: “nhãn cầu” – “phần chính của mắt, hình cầu, nằm trong hõmmắt”
- Thuộc tính vật lý:
Trang 17Nghĩa vị này chiếm 9% (23/251) trong trường từ chỉ bộ phận cơthể người tiếng việt
Ví dụ: “thịt” - "phần mềm dưới da bao phủ xương trong cơ thể",
"phần mềm của cơ thể người và động vật"
cơ thể người đúng nghĩa của từ (chẳng hạn: đầu, tay, tai, mắt, tim,ruột ) và trường tên gọi "khu vực " tên cơ thể người (ví dụ: vùngthóp, lỗ chân lông, huyết ), tiểu trường tên gọi bộ phận cơ thể ngườinằm ở hạt nhân, tiểu trường tên gọi " khu vực" trên cơ thể thuộc ngoại
vi của trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ bộ phận cơ thể người nói chung
* Về cấu tạo:
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập (hay phân tích tính)
Vì vậy nó chi phối đến đặc điểm định danh trong ngôn ngữ này Cáchđịnh danh theo lối phân tích đóng vai trò chủ đạo trong tiếng việt Cho
Trang 18nên điều tất yếu là trong trường từ vựng - ngữ nghĩa tiếng việt chỉ bộphận cơ thể người có gần 37.8% (150/397), những tên gọi bộ phận cơthể người được xây dựng theo lối tạo từ ghép, chẳng hạn: tâm thất,lưỡng quyền, đồng tử, nhãn cầu
Tên gọi bộ phận cơ thể người là từ đơn tiết, được cấu tạo trên cơ sở
sử dụng một tổ hợp âm tiết biểu thị đặc trưng nào đó được chọn lựa từtrong số các đặc trưng của bộ phận cơ thể người chỉ chiếm gần 27%(108/397) trong trường từ vựng ngữ nghĩa tiếng việt, chẳng hạn: thóp,
sọ, gáy, tay, chân
Kiểu định danh theo kiểu đặc trưng ngữ hoá một cụm từ trongtiếng việt chiếm 29% (117/397) Ví du: tròng trắng, màng lưới, rănghàm, ngón trỏ, bàn tay
Như vậy xét từ phương tiện cấu tạo từ, trong trường từ vựng ngữnghĩa tiếng Việt bộ phận cơ thể người định danh theo lối tạo từ ghép làchủ yếu
Tóm lại, từ chỉ bộ phận cơ thể người là lớp từ thuộc vốn từ vựng
cơ bản, được sử dụng rộng rải trong giao tiếp, phát ngôn, lớp từ này cócấu trúc nghĩa phong phú , cấu tạo đa dạng, sử dụng từ chỉ bộ phận cơthể là một nhu cầu tất yếu để con người bộc lộ hiểu biết về chính bảnthân mình về thế giới
2 Những nghiên cứu về con người trong nghệ thuật.
Cái đẹp của thế giới tự nhiên khi đi vào trong Nghệ thuật, qua sựsáng tạo của con người đã trở nên rực rỡ, lung linh với muôn sắc màukhác nhau Song có lẽ cái đẹp mà Nghệ thuật quan tâm và tập trungchú ý hơn cả là vẻ đẹp của con người Vẻ đẹp hình thể của con ngườixưa nay luôn là đề tài hấp dẫn đối với nghệ thuật Vì vậy ở mỗi mônNghệ thuật có một cách thể hiện về vẻ đẹp hình thể con người khácnhau Cụ thể là:
Trang 192.1 Con người trong điêu khắc.
Trong hệ thống các loại hình nghệ thuật, nếu văn học là nghệ thuật
sử dụng ngôn từ; âm nhạc dùng âm thanh; điện ảnh, sân khấu lấy cơthể diễn viên làm chất liệu để phản ánh thể hiện cuộc sống thì mảngkhối của những vật liệu có sẳn trong tự nhiên( đất, gỗ, đá ) hoặc vậtliệu nhân tạo (thạch cao, đồng ) lại trở thành vật liệu để xây dựnghình tượng của nhà điêu khắc Vẻ đẹp hình thể của con người xưa nayluôn là một đề tài hấp dẫn đối với nghệ thuật nói chung và các nhàđiêu khắc nói riêng Pho tượng David của Michelangelo sống mải cùngthời gian bởi trong tác phẩm này, nhà điêu khắc đã thể hiện vẻ đẹphoàn hảo, tuyệt mỹ về hình thể con người Đó là chân dung một chàngtrai với thân hình lực lưởng, cân đối, đôi mắt gợi cảm mở to vừa điềmtỉnh vừa linh hoạt, sống mũi thẳng, vành môi dứt khoát tất cả đều gợilên vẻ đẹp, sức mạnh và hạnh phúc của tuổi trẻ, khiến cho người xemkhông khỏi kinh ngạc, xuýt xoa.(5,173)
2.2 Con người trong hội hoạ.
Giống điêu khắc, hội hoạ cũng là nghệ thuật tạo hình, nhưng khácđiêu khắc phản ánh hiện thực trong không gian ba chiều , hội hoạ phổbiến phản ánh hiện thực trên mặt phẳng với chất liệu màu sắc, hìnhkhối Vì thế không phải ngẫu nhiên, Leonardovinci coi hình khối làđiều quan trọng nhất và cũng là linh hồn của hội hoạ Bộ môn nghệthuật này vì thế có mục đích tự thân mà nhằm biểu hiện tư tưởng, tìnhcảm của con người trong cuộc sống, chúng ta chiêm ngưỡng bức tranhJoconde của Leonardovinci không thể dững dưng và không khỏi đặt ranhiều câu hỏi: Monalisa đã nghĩ gì trong đôi mắt, nụ cười kia là nụcười vui hay buồn, khinh miệt hay hóm hỉnh Tác giả đã tạo ra bứctranh rất đẹp và đầy ý nghĩa, mang tính tạo hình cao (5.189)
Trang 202.3 Con người trong tác phẩm văn học.
Nếu như hội hoạ, điêu khắc sử dụng màu sắc, đường nét, khốimảng thì công cụ của văn học lại chính là ngôn từ Bằng ngôn từ,văn học đã tạo nên những hình ảnh về con người thật đẹp, cụ thể như: Trong văn học Việt Nam thì “Truyện Kiều” của Nguyễn Du đãmiêu tả vẻ đẹp " nghiêng nước, nghiêng thành" của chị em Thuý Kiều,Thuý Vân cũng đã làm rung động, thán phục biết bao thế hệ ngườiđọc bằng cảm nhận độc đáo của mình, Nguyễn Du đã khắc hoạ nênbức tranh về hình thể của hai chị em Thuý Kiều rất rõ với những câuthơ tiêu biểu như:
Khi miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân tác giả đã vẻ lên vẻ đẹp phúc hậucủa người phụ nữ:
Vân xem trang trọng khác vờiKhuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nangHoa cười ngọc thốt đoan trangMây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Còn khi miêu tả vẻ đẹp của Thuý Kiều thì Nguyễn Du lại miêu tảvới một vẻ đẹp hết sức độc đáo:
Kiều càng sắc s¶o mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơnLàn thu thuỷ, nét xuân sơnHoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanhMột hai nghiêng nước , nghiêng thànhSắc đành đòi một, tài đành hoạ hai
Hay như tác giả Lê Anh Xuân đã miêu tả vẻ đẹp của cô du kích miềnNam:
Em đẹp lắm mùa xuân bừng dậySúng trên vai cũng đẹp như em
Em ơi sao tóc em thơm vậy
Trang 21Hay em vừa đi qua vườn sầu riêng
Ta yêu giọng em cười trong trẻoNgọt ngào như nước dừa xiêm
(5.175) Như vậy, ta thấy ở mỗi loại hình Nghệ thuật có một cách thể hiện khác nhau về hình thể con người nhưng tất cả đều khắc hoạ lên được những hình tượng rất đẹp và đầy sức thuyết phục
Để nghiên cứu sâu về lĩnh vực này thì đòi hỏi rất nhiều thời gian Đây chỉ là những giới thuyết mang tính sơ bộ giúp cho việc nghiên cứu
đề tài mà thôi
3 Ca dao và vấn đề phản ánh của ca dao về con người
3.1 Ca dao Việt Nam - các đặc điểm về ca dao
3.1.1 Ca dao Việt Nam:
Nói về ca dao có nhiều định nghĩa khác nhau
" Ca dao" còn gọi là " phong dao" Thuật ngữ ca dao được dùng vớinhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì "ca" là bài hát cókhúc điệu, " dao" là bài hát không có khúc điệu Ca dao là là danh từghép chỉ dùng toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian,
có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này, ca dao đồng nghĩavới dân ca (19,27),hoặc Ca dao, dân ca là những thuật ngữ tươngđương được dùng để chỉ chung loại trữ tình của văn học dân gian gồmnhiều thể loại.Tất cả trong diễn xướng, đều là những câu hát (TrầnĐình Sử - Đổ Bình Trị)
Ca dao, dân ca Việt Nam vốn có lịch sử lâu đời và phát triển khắpcác miền đất nước, do đó phần lời thơ của nó vô cùng phong phú và đadạng Các nhà chuyên môn phải chia ca dao truyền thống thành nhiềuthể loại nghiên cứu như: ca dao, dân ca lao động; ca dao , dân ca nghi
lễ - phong tục và ca dao, dân ca sinh hoạt (Đinh Gia Khánh) hoặc làphân loại theo chủ đề, đề tài, quan hệ như: quan hệ thiên nhiên, quan
Trang 22hệ xã hội (Vũ Ngọc Phan) Trong giới hạn của luận văn chúng tôi đềcập đến những bài ca dao (phần lời thơ) có liên quan đến các từ ngữchỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao Việt Nam" làm đề tài nghiêncứu.
3.1.2 Các đặc điểm về ca dao.
a - Về mặt cấu tạo:
Các thể thơ trong ca dao đều là những thể thơ dân tộc Có ba thểchính được ca dao sử dụng là: thể lục bát, thể song thất lục bát, thểvãn Trên cơ sở kết hợp các thể trên, ca dao cung cấp thêm những thểhỗn hợp ( hợp thể)
Nhìn một cách tổng quát đại đa số ca dao được sáng tác theo thể lụcbát Thể loại này nhịp điệu rất uyển chuyển, linh hoạt Ngoài ra, với sựkhông gò bó, không hạn chế dài ngắn của tác phẩm, khả năng ghép vôhạn các cặp lục bát vần chân khiến cho thể thơ này nhanh chóng thànhthể thơ tiện dụng, có sở trường trong việc diễn tả cảm xúc, các nộidung phong phú, đa dạng của hiện thực đời sống
Khuôn hình cơ bản của câu lục bát là trên sáu dưới tám:
Thấy anh như thấy mặt trờiChói chang khó ngó, trao lời khó trao
Bây giờ chưa rõ tiêu haoCòn chờ chi đó, má đào phôi pha
Tuy nhiên, trong thực tế các dòng lục có thể co giãn tuỳ vào yêu cầubiểu hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
- Có trường hợp tăng cả cặp:
Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Trang 23Ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua.
Cũng có khi ca dao được viết theo thể song thất lục bát : cứ hai dòng( vế) bảy âm tiết lại tiếp tục đến hai dòng ( vế) lục bát
Thể loại này tạo nên một sự biến đổi mới mẻ so với thể lục bát, rấtthích hợp để diễn đạt một tâm trạng nhiều khúc mắc:
Chim lạc bầy thương cây nhớ cộiNgười xa người tội lắm người ơi
Ví dầu chẳng biết thời thôiBiết rồi mỗi đứa mỗi nơi thêm buồn
Có khi ca dao được viết theo thể vãn: tuỳ theo số tiếng trong mỗi câu
từ 2,3 đến 4,5 mà có thể vãn hai, vãn ba ,vãn bốn, vãn năm Tuy nhiêncác thể vãn hai, vãn ba ,vãn bốn thường chỉ được sử dụng trong nhữngbài vè kể vật, kể việc dùng cho trẻ em hát, vừa hát vừa chơi Ca daotrữ tình chỉ sử dụng thể vãn năm, đôi khi có xen vãn bốn:
Hỡi trời cao đất dày Thuế sao nặng thuế này!
Làng xóm thành bóp bụng Bán đìa nộp thuế Tây
( Ca dao Trung bộ)
Có khi lại sáng tác theo thể tự do: tức thể có thể sử dụng số tiếng việtmột cách tự do theo cảm nhận của tác giả để phù hợp với nội dungphản ánh:
Nước Đông ba chảy qua Đập ĐáNước Vĩ Dạ chảy xuống ao hồ
Em chưa có chồng thì nói việc đế đô
Có chồng rồi thì khác chi trâu dại, bạ chỗ mô cũng cà
b - Về mặt nội dung phản ánh con người trong ca dao:
Trong ca dao trữ tình, tình yêu của người dân lao động được biểuhiện rất nhiều mặt: tình yêu giữa đôi bên trai gái, yêu gia đình, yêuxóm làng, yêu đồng ruộng, yêu đất nước, yêu lao động, yêu giai cấp,
Trang 24yêu thiên nhiên, yêu hoà bình Không những thế ca dao còn biểu hiện
tư tưởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc sống xã hội,trong những tiếp cận với thiên nhiên và sự trưởng thành của tư tưởng
ấy qua các thời kỳ lịch sử
Như vậy, ngoài sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chấtcủa con người, ca dao còn phản ánh ý thức lao động , sản xuất củanhân dân Việt nam và tình hình xã hội thời xưa về mặt kinh tế và chínhtrị, đồng thời ca dao là món ăn tinh thần của nhân dân
Do ở cảm xúc mà cấu tạo nên lời ca, nên tính tư tưởng của nhân dânViệt Nam biểu lộ ở ca dao không những làm cho người ta thông cảmtình yêu thắm thiết, mặn nồng của họ, mà còn cho người ta thấy phẩmchất của họ trong cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội Họ đãvất vả như thế nào trong công cuộc cải tạo thiên nhiên , hào hứng nhưthế nào trong khi thu được thắng lợi, họ đã căm hờn những kẻ áp bứcbóc lột mình và đã bền bỉ đấu tranh chống những kẻ ấy như thế nào, họ
đã ngang trái ở đời như thế nào, đã vươn lên không ngừng như thế nào
để giành lấy được hạnh phúc Đặc biệt đối với những người phụ nữ,dưới chế độ phong kiến, quyền của người cha, người chồng đã làm cho
họ rất khổ cực, họ không có một chút quyền hành gì, số phận của họ
do người khác định đoạt Do đó câu ca dao tuy là trào lộng nhưng cũngrất chua xót:
Lấy chồng chẳng biết mặt chồngĐêm nằm tơ tưởng, nghĩ ông láng giềng
Trong thời kỳ phong kiến, quyền sống của con người luôn luôn bịchà đạp, phụ nữ Việt Nam từ thời xưa là những người khổ cực nhất.Cho nên tuy ca dao những tiếng oán ghét chống đối hầu hết là phụ nữ Kết quả là tình yêu của nam nữ thanh niên ở nông thôn vượt quađược bức tường thành của lễ giáo phong kiến: tình yêu của họ là thứtình yêu liên quan đến đồng ruộng, đến xóm làng như: nhớ người yêu
Trang 25nhớ cả quê hương, nhớ cả thức ăn, thức uống, nhớ cả những công việcvất vả hàng ngày:
Anh đi anh nhớ quê nhàNhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai giải nắng dầm sươngNhớ ai tát nước bên đường hôm nao
Trong cảnh lầm than, tình yêu của nhân dân lao động Việt Nam vẫnthắm thiết, có khi còn thêm gắn bó bằng lời keo sơn, cho nên trongsinh hoạt khó khăn và gian khổ họ vẫn hăng hái và bền bỉ
Lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam hoà với lòng yêu nhữngcảnh thiên nhiên đất nước, hoà với cảnh yêu đồng ruộng, cảnh chợ,con đò, trong tình yêu ấy nhân dân nói lên những cái đặc biệt, nhữngcái phong phú của từng miền như ca ngợi núi rừng hùng vĩ của ĐiệnBiên ca dao có câu:
Đường lên Mường - Lễ bao xa?
Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh!
- Hay nói về cảnh miền Bắc Việt nam:
Nước sông Thao biết bao giờ cạn!
Núi Ba Vì biết vạn nào cây
Trong lao động những câu ca tiếng hát có tác dụng điều chỉnh tiếttấu có tác động gây phấn khởi, làm cho người ta quên mệt nhọc, làmcho lao động hoá nhẹ nhàng và có hiệu suất hơn:
Trâu ơi, ta bảo trâu này,Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với taCấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Lòng yêu quý công cụ, yêu thương loài vật thể hiện trong một chữ
"ai" bình đẳng và thông cảm Chẳng những đối với con trâu, mà đốivới tất cả cái gì có quan hệ gắn liền với đời sống lao động của ngườinông dân, người nông dân đều yêu mến đặc biệt:
Trang 26Giã ơn cái cối cái chày,Nửa đêm gà gáy, có mày, có tao.
Giã ơn cái cọc cầu ao,Nửa đêm gà gáy, có tao, có mày
Tình cảm đã biến cái cối, cái chày, cái cọc cầu ao thành người, hơnnữa thành người thân, người cùng cảnh ngộ Ca dao đã biểu hiện đượcmột cách trung thành đời sống sản xuất của người lao động, ở nôngthôn và tư tưởng, tình cảm của họ đối với đời sống ấy
3.2 Nghệ thuật phản ánh của ca dao.
Ca dao là những bài hát thường ngắn, dưới hình thức truyền miệng,
ca dao đã được nhiều người, nhiều thế hệ sửa chữa, nhưng nó vẫn giữđược chủ đề tư tưởng và tính chất mộc mạc, không bao giờ cầu kỳ Nó
có vẽ như một lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt,miêu tả được những tình cảm sâu sắc
Trong ca dao thường được sử dụng thủ pháp xây dựng hình tượngbằng so sánh và thủ pháp xây dựng hình ảnh bằng lối miêu tả
Ở thủ pháp xây dựng hình tượng bằng so sánh có nhiều kiểu sosánh như: So sánh trực tiếp( tỉ dụ), so sánh gián tiếp (ẩn dụ), so sánhđơn giản, so sánh phức tạp nhiều tầng bậc
So sánh trực tiếp ( tỉ dụ) là " một biện pháp nghệ thuật trong đó việcbiểu đạt bằng ngôn ngữ hình tượng được thực hiện trên cơ sở đối chiếu
và tìm ra những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật thuộc tính, đặcđiểm của sự vật hoặc hiện tượng này qua thuộc tính, đặc điểm của sựvật hiện tượng khác" Phương pháp này thường sử dụng các từ chỉquan hệ so sánh như: như là, như thể, là đặt giữa hai vế (đối tượngđem so sánh và đối tượng được dùng để đối chiếu so sánh) nhằm bộc
lộ cái cách mà chủ thể trữ tình nhìn nhận, cảm nghĩ về sự vật, hiệntượng, trên cơ sở đó làm tăng ấn tượng nghệ thuật, tăng cường khảnăng tạo hình
Trang 27So sánh gián tiếp (ẩn dụ) là kiểu so sánh không dùng các từ chỉ quan
hệ Ở đây đối tượng so sánh ẩn đi, chỉ còn một vế là phương tiện đượcdùng để so sánh lộ ra Do vậy mà cách biểu đạt bằng ẩn dụ hàm súchơn, cảm xúc bộc lộ mạnh mẽ hơn cách biểu đạt bằng tỷ dụ
Ví dụ:
Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng than thở với mây đôi lờiNửa mai rồng ngược mây xuôiBiết bao giờ lại nối lời rồng mây
Trong ca dao còn nhiều kiểu so sánh nhiều tầng bậc, nhiều hình ảnh
ẩn dụ trong ca dao có ý nghĩa khái quát cao nên đã trỡ thành nhữngtượng trưng, ước lệ giúp cho sự biểu đạt ý tình trở nên sắc sảo, hàmsúc
Trang 28Thương thay lũ kiến tý tiKiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi.
Cái cò là cái cò cò quămMày hay đánh vợ mày nằm với ai
Có đánh thì đánh sớm maiChớ đánh chập tối , chẳng ai cho nằm
Ngoài ra trong ca dao còn sử dụng một số thủ pháp nghệ thuậtkhác như: Nhân cách hoá, ngoa dụ, phóng đại
Tóm lại, trong ca dao Việt Nam, hình tượng và ngôn ngữ rấtchọn lọc, không những thế nó còn mang tính nhân dân và tính dân tộcsâu sắc Chính vì vậy mà nhà thơ lớn của Việt Nam đều là nhữngngười đã học tập ở nhân dân rất nhiều
Trang 29Chương 2.
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ
THỂ NGƯỜI TRONG CA DAO VIỆT NAM
1 Kết quả thống kê, khảo sát.
1.1 Tài liệu khảo sát:
Tư liệu khảo sát các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong luận văn
là hai cuốn: “Ca dao trữ tình Việt Nam” (do Vũ Dung,Vũ Thuý Anh,
Vũ Quang Hào sưu tầm và biên soạn) , NXBGD,1998 và cuốn: “Cadao Việt Nam” (Nguyễn Bích Hằng tuyển soạn), NXB VHTT,H.,2004.Ngoài ra luận văn còn sử dụng cuốn: Tục ngữ - Ca dao - Dân ca ViệtNam (Vũ Ngọc Phan), NXB văn học ,2005 làm tư liệu bổ trợ
Sở dĩ chúng tôi chọn các cuốn sách trên là vì đây là những tư liệusưu tập tương đối đầy đủ các đề tài của Ca dao Việt Nam, hơn nữa sốlượng tư liệu cũng phù hợp với đề tài luận văn ( không nhiều quá, cũngkhông ít quá)
Để khảo sát việc sử dụng các bộ phận cơ thể người trong Ca dao,phương pháp của chúng tôi là thống kê các từ ngữ, ghi vào phiếu, sau
đó tiến hành đối chiếu, phân loại các từ ngữ theo tần số ( lượt dùng)
1.2 Kết quả khảo sát:
Kết quả thống kê được phản ánh qua bảng sau Trong bảng này,chúng tôi chia thành các cột, mỗi cột có một thông số nhất định Điềunày làm cơ sở cho việc phân tích, tìm hiểu về đặc điểm kết hợp vàphân tích ngữ nghĩa ở các phần sau
B ng 1ảng 1 : TÇn sè xuÊt hiÖn cña c¸c tõ ng÷ chØ bé phËn ngêi trong ca dao
Trang 31- Nhóm từ có tần số sử dụng cao (trên 20 lần trở lên) gồm các từ:tay, thân, mắt, dạ, chân, miệng, má, mặt ,tóc….
- Nhóm từ có tần số sử dụng trung bình (từ 3 đến 19 lần) gồm các
từ như: lợi, vú, cổ, lông mày, mồm, môi, tai , cằm, bụng , ruột…
- Nhóm từ có tần số sử dụng thấp (chỉ có 1,2 lần) gồm các từ:lưỡi , rốn, lườn, máu, con ngươi…
Trang 32Phân tích các nhóm từ ta thấy có 51 từ chỉ bộ phận cơ thể ngườixuất hiện trong ca dao với tổng số lần là 775 Điều này chứng tỏ một
số từ được dùng nhiều lần Trong đó số từ "tay" xuất hiện nhiều lần(77 lần) Những từ xuất hiện nhiều lần là những từ mang nhiều nétnghĩa, có khả năng chuyển nghĩa như "tay","mắt", "lòng", "miệng" Vídụ: "tay" được nhân dân ta sử dụng nhiều nhất trong số các từ chỉ bộphận cơ thể người bởi vì nó có vị trí, chức năng, ý nghĩa quan trọngđối với đời sống con người " tay" là bộ phận chỉ cơ thể người phíatrên của cơ thể người từ vai đến các ngón, bộ phận luôn đáp vào mắtcon người trong từng cử động nhỏ nhất Chức năng của 'tay" là dùng
để cầm, nắm, làm bất cứ việc gì liên quan đến lao động Vì vậy mà nó
có vai trò quan trọng trong lao động của con người Khi ví vai trò quantrọng của một người nào đó, người ta thường nói " cánh tay phải", "cánh tay đắc lực" chứ không dùng một bộ phận cơ thể khác để so sánh.Hơn nữa một khi xã hội mới ở giai đoạn đầu của tiến trình lịch sử loàingười, khi mà lao động trí óc chưa xuất hiện, máy móc, khoa học kỹthuật, chưa được biết đến thì lao động bằng tay là phương thức laođộng duy nhất của con người Từ vai trò quan trọng trong đời sốngthực, từ chỉ bộ phận cơ thể " tay" khi tham gia cấu tạo trong ca daocũng chiếm một số lượng lớn, phản ánh thực tế và quan niệm củanhân dân ta
Hay như từ" mắt" cũng được sử dụng nhiều trong ca dao Bộ phậnnày có vị trí và chức năng rất đặc biệt, " mắt" là bộ phận con ngườikhông nhìn thấy trực tiếp nhưng lại là bộ phận giúp con người nhìnthấy được toàn bộ thế giới Vì vậy mà vai trò của nó rất quan trọng,
"mắt" là biểu tượng cái nhìn của con người, đồng thời là " cửa sổ tâmhồn", lời nói biểu hiện tính cách, phẩm chất suy nghĩ bên trong củacon người Cho nên điều hiển nhiên là nó sử dụng nhiều trong tiếngViệt
Trang 33Ngoài nghĩa đen chỉ bộ phận cơ thể người chúng còn có thể chuyểnnghĩa để chỉ những vấn đề khác, nó là những từ có giá trị biểu trưngcao, còn những từ được sử dụng ít là những từ chỉ bộ phận nhỏ ít đượcchú ý trong đời sống nhân dân Tổng số lượt từ chỉ bộ phận cơ thểngười xuất hiện là 775 trong khi tổng số câu chứa lớp từ này là 546.Điều này chứng tỏ có hiện tượng một câu tục ngữ sử dụng 2,3 thậm chí
- Chẳng tham nhà ngói em đâu
Tham vì cái nết em xinh miệng cười
(1.91)
* Ca dao sử dụng hai từ chỉ bộ phận cơ thể người
Trang 34- Cau non trầu lộc mỉa mai
Da trắng tóc dài đẹp với ai đây
(2.255)
- Lên non thiếp cũng lên theo
Tay vin, chân trèo, hái trái nuôi nhau.
- Từ ngày ăn phải miếng trầu
Miệng ăn, môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu.
(2.214)
* Ca dao sử dụng bốn từ chỉ bộ phận cơ thể người
- Ước gì trải chiếu ra nằm
Chân duỗi vào lòng đầu gối cánh tay
(2.263)Việc xuất hiện nhiều từ chỉ bộ phận cơ thể người trong một câu
Ca dao thể hiện vai trò quan trọng của chúng khi tham gia cấu tạonghiã của câu
2 Phân loại số liệu khảo sát.
Trong ca dao hệ thống từ chỉ bộ phận cơ thể người được phânchia chi ly, tỉ mỉ ở các mặt: vị trí, chức năng, cấu tạo và ở mỗi mặt lạitiếp tục được chia nhỏ hơn nữa
Từ chỉ bộ phận cơ thể người được chia theo hai tuyến: bộ phận cơthể bên trong và bộ phận cơ thể bên ngoài
Có thể hiểu một cách sơ lược rằng: bộ phận cơ thể bên trong lànhững bộ phận mà mắt thường không nhìn thấy được khi không có sựtác động nào như: xương, máu, gan, dạ…còn bộ phận cơ thể bên ngoài
là những bộ phận nhìn thấy được bằng mắt thường, không cần sự tácđộng nào như: da, mắt, đầu, tay, chân…
Chúng ta có thể phân ra thành bảng sau:
Trang 35Bảng 3 Từ chia theo vị trí trong cơ thể.
Số liệu
Từ chỉ BPCT người trong Ca dao 51 100 %
Từ chỉ bộ phận cơ thể người được chia làm hai bộ phận: bộ phận
cơ thể bên trong và bộ phận cơ thể bên ngoài Nhưng để phân loại mộtcách tỉ mỉ hơn, ta có thể phân loại như sau:
Về mặt vị trí, theo chiều từ trên xuống dưới có: thân, đầu, mình, tay, chân
Ví dụ:
“ Có thân thì phải liệu lo
Chẳng thời ông huyện chửi cho bây giờ”
(1.26)
" Tô đánh mà chẳng biết thân".
(2 442)
" Miếng trầu là miếng tồn
Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu"
(2.16)
" Quần không cái áo cũng không
Em lấy tấm chồng thân tụi mình trơ ".
(Q1-371)
" Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Hai tay rũ xuống như tàu chuối te"
(2.217)
" Đói chân đầu gối phải bò
Cái chân hay chạy , cài dò hay đi"
(2.109)
Và thân, đầu , mình lại chia nhỏ thành: ngực cổ, vai, bụng:
" Trên đầu em đội khăn vuông
Trông xuống dưới ngực cau buồng còn non".
Trang 36" Cổ cô đeo chuỗi hạt vàng
Bây giờ cô lại vơ quàng vỏ xiên"
(2.387)
" Vai mang khăn gói sang sông
Cúi đầu lại mẹ thương chồng phải lo"
(1.497)
" Đau bụng lấy bụng mà chườm
Ví bằng không khỏi hắc hương với gừng"
(2.17)
" Đầu " lại chia nhỏ thành: Tóc, mặt:
" Tóc thời chưa đến ngang vai
Quấn ngang quấn ngữa cho trai phải lòng"
(2 442) " Gió đưa mười tám lá me
Mặt rổ hoa mè ăn nói có duyên".
( 2.182)
" Tay " lại chia thành : cánh tay, cổ tay, bàn tay,ngón tay,móng tay:
" Ước gì trải chiếu ra nằm
Chân duỗi vào lòng đầu gối cánh tay".
( 2 263)
" Gặp đây anh nắm cổ tay
Ai gột nên trắng ai day nên tròn"
( 1.211 )
" Bàn tay có ngón dài ngón vắn
Con một nhà có đứa trắng đứa đen"
( 2.29)
“ Ngồi buồn tính đốt ngón tay
Tính đi tính lại ngón này hơn trăm”
( 1.93)
" Một thương em nhỏ móng tay
Hai thương em bậu khéo may yếm đào"
( 2.440)
Trang 37" Chân" được chia thành: đầu gối , móng chân:
" Đói chân đầu gối phải bò
Cái chân hay chạy cái dò hay đi"
( 2.109) " Bởi thương nên chuốc lấy sầu
Không thương ai dám đá đầu móng chân".
( 2 247)
" Mặt" lại tiếp tục được chia nhỏ thành ; mắt, mũi, tai ,miệng, má, râu:
" Người khôn con mắt đen sì
Người dại con mắt nữa chì nữa thau"
( 2.8) " Cổ tay em vừa trắng lại vừa tròn
Mặt mũi vuông vắn chồng con thế nào".
( 2.262)
" Đàn ông rộng miệng thì tài Đàn bà rộng miệng điếc tai láng giềng".
( Q2- 8) " Nước trong ai chẳng khoả chân
Cái má trắng ngần ai chẳng muốn hôn".
( 1.361)
" Anh là con cái nhà ai
Cái đầu bờm xợp, cái tai vật vờ".
( Q2 - 439) " Xưa kia có thế này đâu
Bởi vì sợ vợ nên râu quặp vào".
" Trên đầu chấy rận lung tung
Rốn lồi quả quýt má hồng trôn niêu".
Trang 38( 2 413)
" Mồm" (miệng) lại được phân chia tỷ mỉ: môi, lưỡi, răng, lợi:
" Những người giúp miệng giúp môi
Nào ai có giúp cho tôi đồng tiền "
( 2 106)
( Có trầu cho miếng đỏ môi
Có rượu cho chén tươi đôi má hồng)
( 1.125) " Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương".
( 2 360)
" Răng đen nhoẽn miệng em cười
Dầu trời đương nực cũng nguôi cơn nồng"
( 1.382)
" Bà già đi chợ cầu đôngBói xem một quẻ lấy chồng lợi chăngThầy bói gieo quẻ nói rằng
Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn".
( 2.419)
" Mắt " lại được phân biệt với " con ngươi":
" Má hồng như thể tô son
Đôi môi cắn chỉ trông mòn con ngươi".
( 1.249)
"Tóc" chia thành: " Tóc mai", "Tóc nguôi", " Tóc tiên":
" Nắm tóc nguôi, tóc nguôi dài Nắm tóc mai, tóc mai cụt
Cầu trời khấn phật cho tóc mai dàiBao giờ tóc chấm ngang vaiThì ta kết nghĩa thành hai vợ chồng"
(1.319)
" Chị kia bới cánh tóc tiên
Chồng chị đi cưới một thiên cá mòi"
( 1.98)
Trang 39+ Theo chiều từ trước ra sau có sự phân biệt giữa: ngực - lưng
" Thò tay vuốt ngực chung tình
Nước sôi còn nguội huống chi mình giận tôi"
( 1.424)
" Những người thắt đáy lưng ong
Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con"
( 2.8)
+ Theo chiều từ ngoài vào trong có sự phân biệt giữa: da , lông ,máu ,bụng, lòng, ruôt, gan, dạ
" Trắng da vì bởi phấn dồi Đen da vì bởi em ngồi chợ trưa".
( Q2-93)
" Lỗ mũi mười tám gánh lông
Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho"
( 2.419)
" Dao vàng cắt ruột máu rơi Ruột đau chẳng mấy bằng lời em than".
( 2.216) " Ra về tay nắm lấy tay
Mặt nhìn lấy mặt, lòng say lấy lòng".
(1.380) " Thương anh chẳng muốn nói ra
Ruột trong thì héo ngoài da thì vàng".
(1.434)
" Gan vàng chẳng cắt mà đau
Cách em một phút dạ sầu như dưa"
(1.209)
" Bởi thương nên dạ mới trông
Không thương em đã lấy chồng còn chi"
(2.247)
" Xương" được phân biệt với : xương sống, xương sườn
" Chẳng làm người bảo rằng ươn
Làm thì xương sống , xương sườn phơi ra".
Trang 40( 2.48)
Sự phân bố các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao phảnánh cách phân bố của các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong các ngônngữ: bộ phận nổi bật thì được gọi tên nhiều hơn, cụ thể là bộ phận phíatrên ,bộ phận phía trước gọi tên nhiều hơn các bộ phận phía dưới, phíasau Bộ phận cơ thể bên ngoài như: đầu , tay, chân…được gọi tênnhiều hơn bộ phận cơ thể bên trong như: gan, mật , máu…các từ chỉ
bộ phận cơ thể người phản ánh sự chia cắt thực tế trong ngôn ngữ và ởmỗi ngôn ngữ sự chia cắt thực tế này không hoàn toàn trùng nhau do
bị chi phối bởi hoàn cảnh xã hội và truyền thống văn hoá của dân tộcnói ngôn ngữ đó Điều này thể hiện rất rõ ở lớp từ chỉ bộ phận cơ thểngười trong tiếng Việt khi đi vào để thực hiện chức năng giao tiếp
Tóm lại:
Trong ca dao Việt Nam, có nhiều từ ngữ với các trường nghĩa khác
nhau, trong đó có nhóm ( trường) chỉ bộ phận cơ thể người Nhóm này
có số lượng khá lớn, tần số sử dụng của mỗi nhóm hay mỗi từ có khácnhau, hoặc chúng đều góp phần biểu đạt những nội dung, tư tưởngnhất định mà ca dao cần thể hiện
3 Vị trí xuất hiện giữa các từ ngữ chị bộ phận cơ thể người trong ca dao Việt Nam.
Từ chỉ bộ phận cơ thể người được dùng trong ca dao rất linh hoạt,
nó có thể đứng đầu, giữa hoặc cuối câu
Bảng 4: VÞ trÝ xuÊt hiÖn cña tõ chØ bé phËn ngêi trong ca dao