1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu thuyết y kawabata từ góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh

148 993 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Thuyết Y. Kawabata - Từ Góc Nhìn Của Chủ Nghĩa Hiện Sinh
Tác giả Nguyễn Khánh Ly
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Hạnh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 740,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền văn hóa văn học dân tộc, Kawabata có vị trí cực kì quan trọng.Ông không những là nhà văn nổi tiếng mà còn là nhà văn hóa có công lớn trongviệc bảo tồn, gìn giữ và phát huy nền

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Nguyễn khánh ly

Tiểu thuyết y kawabata- từ góc nhìn

của chủ nghĩa hiện sinhChuyên nghành: Lí LUẬN VĂN HỌC Mã số: 60.22.32

Trang 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Cấu trúc luận văn

Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ XUẤT HIỆN YẾU

TỐ HIỆN SINH TRONG TÁC PHẨM Y KAWABATA

1.1 Đất nước và truyền thống văn hoá Nhật Bản

1.1.1 Vài nét về đất nước, con người Nhật Bản

1.1.2 Văn hoá Nhật Bản truyền thống

1.1.3 Tư tưởng hiện sinh trong các tác phẩm văn học NhậtBản truyền thống

1.2 Cuộc đời và tính cách Y Kawabata

1.2.1 Một cuộc đời bi kịch

1.2.2 Một tính cách cô đơn, trầm mặc điển hình

1.2.3 Trạng thái hiện sinh trong sáng tạo của Y Kawabata

1.3 Tiếp xúc Đông - Tây và sự du nhập của những trào lưu văn hoá phương Tây vào Nhật Bản

1.3.1 Nước Nhật thời hậu chiến

1.3.2 Sự du nhập của các trào lưu văn hoá phương Tây vàoNhật Bản

1.3.3 Những tìm tòi, thể nghiệm của thế hệ nhà văn Nhật Bảnthời hậu chiến

Chương 2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT Y KAWABATA - TỪ GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH

2.1 Con người thân phận

2.1.1 Con người gánh chịu những nghịch cảnh số mệnh

11 11 12 12

13 13 13 14 19

22 22 2 28 31

31 33 3 39

39 39

Trang 3

2.1.2 Con người khép kín tự đảm trách nỗi cô đơn

2.1.3 Con người với ám ảnh về cái chết định mệnh

2.2 Con người hiện sinh trung thực

2.2.1 Con ngườikhước từ mọi quy tắc, chuẩn mực

2.2.2 Con người bản năng tính dục

2.2.3 Giấc mơ và những cơn ác mộng - sự thật từ vô thức

2.3 Con người chủ thể với hành trình khẳng định ý nghĩa tồn tại

2.3.1 Con người không ngừng kiếm tìm một đời sống có ýnghĩa thực sự

2.3.2 Con người phản tỉnh để tránh nguy cơ bị tha hoá

2.3.3 Con người với khát vọng thể hiện mình

Chương 3 MỘT SỐ ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT Y KAWABATA - TỪ GÓC NHÌN NGHỆ THUẬT HIỆN SINH

3 2 Hệ thống biểu tượng mang tính ám gợi

3.2.1 Biểu tượng trong văn hoá Nhật Bản

3.2.2 Thế giới biểu tượng đầy sức ám gợi trong tiểu thuyết Y.Kawabata

3.2.3 Ý nghĩa của thế giới biểu tượng với việc biểu đạt các tư

44 3 2 2 7 7 82 83

88 93 100

101 101 103 111

113 113 118 124

Trang 4

tưởng hiện sinh trong tiểu thuyết Y Kawabata

3.3 Thủ pháp Dòng ý thức

3.3.1 Thủ pháp Dòng ý thức với việc biểu đạt nội tâm nhân

vật và xây dựng cốt truyện

3.3.2 Dòng ý thức trong tiểu thuyết Y Kawabata và vai trò

của nó trong việc biểu đạt tư tưởng hiện sinh

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

128 128 131

139 142

LỜI CẢM ƠN

Tiếp cận một tác phẩm văn chương từ góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh còn

là một điều khá mới mẻ trong việc nghiên cứu tác phẩm văn chương ở Việt Nam,đặc biệt đối với việc nghiên cứu tác phẩm của Y Kawabata Trong những thể

Trang 5

nghiệm ban đầu, luận văn của chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót.Chúng tôi hi vọng sẽ nhận được sự góp ý chân thành từ thầy cô và bè bạn nếu códịp được trở lại đề tài ở một phạm vi sâu rộng hơn.

Nhân dịp luận văn được bảo vệ, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chânthành tới PGS.TS Nguyễn Văn Hạnh, người đã định hướng đề tài và tận tìnhgiúp đỡ, động viên chúng tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn PGS.TS Biện Minh Điền, TS Phan Huy Dũng, TS PhạmTuấn Vũ, TS Trương Xuân Tiếu, TS Lê Thanh Nga… vì những đóng góp quýbáu giúp chúng tôi hoàn chỉnh đề cương luận văn

Xin cảm ơn Trung tâm thông tin thư viện Đại học Vinh, gia đình, bạn bè đãnhiệt tình ủng hộ, khích lệ

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

Bên cạnh địa vị siêu cường kinh tế, Nhật Bản còn được thế giới biết đến bởinền văn hóa truyền thống độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc mà ở đó, ngay cảnhững điều giản dị nhất như uống rượu, thưởng trà, ngắm hoa, chơi cây cảnh…cũng trở thành thứ nghệ thuật tao nhã, linh diệu với đầy đủ sự cầu kì, tinh tế của

Tác phẩm văn chương nào cũng là tác phẩm văn hoá Kawabata là nhà vănNhật Bản và hơn ai hết, ông là người thiết tha với những giá trị văn hóa truyềnthống và có công lớn trong việc giới thiệu hình ảnh nước Nhật ra thế giới quahoạt động sáng tác Chính vì vậy, tiếp cận tác phẩm Kawabata chính là một trongnhững cách tiếp cận văn hóa bằng văn học, để hiểu hơn đất nước, con người, vănhóa và văn học Nhật, như lời nhà nghiên cứu Thụy Khuê: “tìm hiểu tâm hồnNhật Bản, tất yếu phải tìm đến Kawabata”[34; 977]

1.2 Xuyên suốt chiều dài lịch sử, Nhật Bản có quyền tự hào về một nền vănhọc giàu có bậc nhất thế giới với lịch sử phát triển gần mười hai thế kỷ Nền vănhọc ấy, ngay từ thời cổ đại đã có những tác phẩm nổi tiếng thế giới được lưu

truyền đến tận ngày nay như: Kokiji (Cổ sự kí), Nihonsuki (Nhật Bản thư kí),

Fudoki (Phong thổ kí), Manyyoshu (Vạn diệp tập)…Đến thời trung cổ, văn học

Nhật lại có nữ sỹ cung đình tài hoa Murasaki Shikibu với Truyện Genji, Shonagon với Sách gối đầu- hai đại biểu tiêu biểu cho dòng văn học nữ tính

thịnh hành ở Nhật Bản Đây cũng là quốc gia có nền văn học Thiền phát triển đạtđến đỉnh cao ở Châu Á Cũng nền văn học ấy, đến thời hiện đại, lại có nhiều nhàvăn tầm cỡ thế giới như: A Kutagana, Y Kawabata, M Yukio, O Kenzaburo,

A Kobo, H Murakami, R Murakami… và đặc biệt, chỉ trong vòng gần bamươi năm, Nhật Bản đã vinh dự đón nhận hai giải Nobel về văn học: YasunariKawabata (1968) và Oe Kenzaburro (1994), tạo nên kì tích “có một không hai”của văn học Châu Á

Trang 7

Trong nền văn hóa văn học dân tộc, Kawabata có vị trí cực kì quan trọng.Ông không những là nhà văn nổi tiếng mà còn là nhà văn hóa có công lớn trongviệc bảo tồn, gìn giữ và phát huy nền văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dântộc và giới thiệu hình ảnh Nhật Bản một cách độc đáo với bạn bè thế giới.

Không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực tiểu thuyết với những tác phẩm tiêu biểu

như: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô, Tiếng rền của núi, Người đẹp say ngủ,

Đẹp và buồn Kawabata còn là bậc thầy của thể loại Truyện trong lòng bàn

tay-một sản phẩm kết hợp giữa tư duy coi trọng cái “tinh” của Nhật Bản với nhữngvần thơ Haiku truyền thống trước đó Trong sáng tác, ông là người thành côngtrong việc kết hợp hài hòa những khái niệm mĩ học và triết học Nhật Bản vớinhững khái niệm mĩ học phương Tây một cách chặt chẽ, sinh động để tạo nênnhững tác phẩm độc đáo của riêng mình Sáng tác của ông trở thành những kiệttác mang đậm dấu ấn tư duy, thẩm mĩ và tâm hồn Nhật Bản

Do vậy, nghiên cứu tác phẩm của Kawabata, chúng tôi không chỉ muốn tìmhiểu thêm về cuộc đời và tác phẩm của nhà văn thiên tài người Nhật này mà còn

có tham vọng được chiếm lĩnh phần nào nền văn học Nhật Bản với nhiều thànhtựu

1.3 Trong những năm gần đây, ở nước ta, văn học Nhật nói chung và tácphẩm Kawabata đã được đưa vào giảng dạy một cách phổ biến trong trường Đạihọc, Cao đẳng và Phổ thông trên phạm vi toàn quốc Tuy nhiên, do nhiều hạnchế về mặt tư liệu, phương pháp tiếp cận nên người học chưa thực sự hiểu đúng

và hiểu sâu sắc về tác phẩm

Chính vì vậy, nghiên cứu tác phẩm Kawabata từ góc nhìn lý thuyết hiệnsinh, chúng tôi hi vọng có thể góp phần để tháo gỡ những khó khăn về mặt tưliệu, giúp việc dạy học tác phẩm Kawabata trong nhà trường đạt hiệu quả hơn

1 Lịch sử vấn đề

Trang 8

Kawabata bắt đầu sáng tác từ rất sớm Ngay từ năm mười sáu tuổi ông đã

viết cuốn hồi kí Nhật kí tuổi mười sáu để lưu lại những hồi ức đau buồn từ những trải nghiệm thời niên thiếu của mình Kể từ truyện ngắn đầu tay Vũ nữ xứ Izu cho đến tiểu thuyết cuối cùng Đẹp và Buồn, tác phẩm nào cũng thể hiện một tâm hồn

nhạy cảm, tinh tế, thiết tha với cuộc đời, với cái đẹp và một tài năng văn chươngbậc thầy, một tư duy thẩm mĩ độc đáo khác biệt với lối văn cổ điển Gói gọnnhân sinh, văn hóa, văn học trong những trang viết bé nhỏ mà hàm súc, giàu sứcgợi đến khó tả, Kawabata không chỉ làm người Nhật Bản hài lòng, yêu quý và tựhào mà người nước ngoài, khi tiếp xúc với tác phẩm của ông cũng bị lôi cuốn,khó cưỡng, như lời của Anders Sterling: “có thể nhận ra ở ông đôi nét tương

đồng về khí chất với các nhà văn phương Tây thuộc thời đại chúng ta”[34; 958].

Cùng với giải thưởng Nobel 1968, Kawabata trở thành hiện tượng văn học mangtính toàn cầu Tác phẩm của ông không chỉ được đọc và nghiên cứu ở Nhật Bản

mà còn được dịch, giới thiệu ở nhiều quốc gia trên thế giới

Với lối viết dung dị, mềm mại, thấm đẫm chất thơ, mang vẻ đẹp cô đọng,hàm súc của thơ Haiku và thể hiện đậm nét truyền thống yêu chuộng cái đẹp củangười Nhật Bản trong nội dung tư tưởng, ngay từ những sáng tác đầu tiên, tácphẩm của Kawabata đã trở nên quen thuộc với độc giả Nhật Bản Đặc biệt,những ai yêu thích dòng văn học nữ lưu trước đó có thể tìm thấy trong tác phẩmcủa Kawabata sự nối tiếp biện chứng độc đáo cả về nội dung tư tưởng lẫn vănphong Không chỉ làm phát lộ cái Sabi, Wabi, Aware - những cảm thức thẩm mĩđặc trưng của người Nhật truyền thống, Kawabata còn miêu tả rất tinh tế cuộcsống của xã hội Nhật trong thời hiện đại với biết bao rạn nứt, đổ vỡ, hoangmang Do là người tiên phong của trường phái Tân cảm giác và từng là Chủtịch Hội văn bút Nhật nên tác phẩm của Kawabata, với sự tiên phong và đổi mớicủa nó, thường được giới thiệu trên nhiều tạp chí danh tiếng, có số lượng độc giảđông đảo

Trang 9

Không chỉ được tôn vinh ở Nhật Bản, các tác phẩm của Kawabata còn đượcgiới thiệu rộng rãi ở nhiều nước Tuy nhiên, chỉ sau giải Nobel 1968, Kawabatamới được biết đến trên phạm vi toàn thế giới Pháp là quốc gia đã dịch nhiều tác

phẩm của Kawabata từ tiếng Nhật sang tiếng Pháp, ở cả 2 thể loại Truyện trong

lòng bàn tay và tiểu thuyết Ghi công đầu trong việc giới thiệu Kawabata ở Pháp

là nhà xuất bản Abin Michel với các dịch giả Anne Bayard Sakai, Cécile Sakai(truyện) và Rene Sieffert (tiểu thuyết) Ở Nga, năm 1971, Nxb Matxcơva đã cho

xuất bản tuyển tập tác phẩm của Kawabata với nhan đề Y Kawabata- sinh ra bởi

vẻ đẹp nước Nhật Việc tuyển dịch tác phẩm của Kawabata từ tiếng Nhật sang

tiếng Nga đã tạo điều kiện cho bạn đọc trên thế giới dễ dàng tiếp xúc với tácphẩm của ông- trong số đó có độc giả Việt Nam

Ở Việt Nam, tác phẩm của Kawabata được biết đến lần đầu tiên năm 1969

với bản dịch tiểu thuyết Xứ tuyết của Chu Việt Cùng năm này, Tạp chí Văn (Sài

Gòn) đã cho ra số đặc biệt về Kawabata Trong đó, đăng hàng loạt truyện ngắncùng nhiều bài nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của ông Tuy nhiên, do điềukiện chiến tranh và sự hạn chế về tư liệu, trình độ, phải hai mươi năm sau, vào

1989, bạn đọc mới được tiếp cận tác phẩm thứ hai của Kawabata thông qua bản

dịch Tiếng rền của núi của Ngô Quý Giang Kể từ đó, tác phẩm của Kawabata

liên tiếp được giới thiệu rộng rãi ở Việt Nam Năm 1990, Giang Hà Vị dịch

Ngàn cánh hạc, Vũ Đình Phòng dịch Người đẹp say ngủ Năm 1997, Tuyển tập truyện ngắn của các tác giả đạt giải Nobel của Nxb Văn học có đăng ba truyện

ngắn của ông Đến 2001, Nxb Hội nhà văn cho xuất bản Tuyển tập Y Kawabata gồm bốn tiểu thuyết: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Tiếng rền của núi, Người đẹp say

ngủ Gần đây nhất, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây đã cho xuất bản Tuyển tập Yashunari Kawabata gồm khá đầy đủ tác phẩm của ông trên tất cả các

thể loại: 6 truyện ngắn, 46 truyện trong lòng bàn tay, 6 tiểu thuyết cùng nhữngbài nghiên cứu tiêu biểu về cuộc đời, sáng tác của Kawabata của các nhà nghiên

Trang 10

cứu trong và ngoài nước Đây có thể xem là bước đột phá trong việc giới thiệutác phẩm Kawabata ở Việt Nam, tạo điều kiện cho người đọc tiếp xúc với tácphẩm của ông một cách hệ thống và tương đối đầy đủ

Không chỉ được giới thiệu rộng rãi, tác phẩm của Kawabata còn thu hútnhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài,chúng tôi chỉ đề cập đến những tài liệu có liên quan đến việc khẳng định sự tồn

tại của yếu tố hiện sinh trong tác phẩm Kawabata Nhà văn vô sản Aono Suekiti

trong cuốn Các nhà văn hiện đại Nhật Bản đã đặc biệt lưu ý đến chức năng

“thanh lọc” (catharsic- chữ dùng của Aristot) trong tác phẩm của Kawabata:

“Mỗi lần đọc tác phẩm của ông, tôi lại thấy xung quanh tựa hồ như lắng đi,

không khí bỗng trở nên trong trẻo còn tôi thì hòa tan trong đó” [61; 302] Nhà

văn hiện đại nổi tiếng Nhật Bản, người bạn và cũng là người được đề cử giảiNobel cùng năm với Kawabata - Mishima Yukio, đã nâng Kawabata lên tầm

“người lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp” Nhận định nổi tiếng Kawabata- Vĩnh

viễn lữ nhân của ông là gợi ý, khởi nguồn cho hàng loạt các công trình nghiên

cứu sau này Đặc biệt, nó là gợi ý ban đầu cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểumotip nhân vật “hành trình” trong các tác phẩm của Kawabata, để tìm ra sự nốikết giữa tác phẩm Kawabata với các tác phẩm hiện sinh phương Tây

Ở Nhật Bản, trong dòng văn học hiện đại, Kawabata không phải là nhà văn

đi sâu phản ánh, cập nhật những biến động thời đại trong từng trang viết, bêncạnh thế hệ các nhà văn hậu chiến như Noma Hiroshi, Shiina Rinzo, ShimaoTashio, Takeda Taijun, Abe Kobo… Tuy vậy, không ai phủ nhận những giá trịvăn chương và công lao của Kawabata với văn học dân tộc Ngay đến OeKenzaburo, người khác biệt rất nhiều với Kawabata về suy nghĩ lẫn văn phongcũng phải thừa nhận tài năng của ông Trong diễn từ nhận giải Nobel văn chươngnăm 1994, Oe đã dành phần lớn những trang đầu để tôn vinh Kawabata: “Mộtmặt, Kawabata khẳng định mình đi theo truyền thống của triết học Thiền và cách

Trang 11

thức cảm thụ cái đẹp xuyên suốt nền văn học cổ điển phương Đông Vậy nhưngmặt khác, ông đã vượt thoát khỏi bản thân mình để phân biệt cái trống rỗng làđặc trưng cho những tác phẩm của mình và chủ nghĩa hư vô phương Tây”[9;359- 360] Với nhận định này, Kenzaburo đã hé lộ một trong những đặc trưng cơbản của tác phẩm Kawabata là tính mơ hồ, mông lung, diệu vợi - tiêu chí cơ bảncủa cái đẹp theo quan điểm mĩ học Thiền Tuy nhiên, dù cố gắng phân định ranhgiới về bản chất giữa tính hư vô trong sáng tác của Kawabata với chủ nghĩa hư

vô phương Tây thì trên thực tế, sáng tác của Kawabata vẫn tồn tại một cảm thức

về sự hư vô, trống rỗng, một trạng thái chênh vênh gần như đối lập với chủ nghĩahiện thực, nảy sinh khi mối dây liên hệ giữa con người với con người, con ngườivới thực tại không còn sức mạnh ràng buộc, níu giữ Đây chính là một trongnhững điểm gặp gỡ của tác phẩm Kawabata với các nhà hiện sinh phương Tây.Nhà Đông phương học người Nga N.I.Fedorenco với các bài viết:

Y.Kawabata với triết học và mĩ học, Y Kawabata - con mắt nhìn thấu cái đẹp đã

khẳng định dấu ấn của mĩ học Thiền trong sáng tác Kawabata, khẳng địnhKawabata đã đạt đến cái “khoảng trống” - sự trọn vẹn đầy đủ nhất của Thiền, sựgiải phóng nội dung, tư tưởng khỏi những giới hạn hình thức của một tác phẩm.Thực sự, bản chất của Thiền là sự lãng quên quá khứ và tương lai, chỉ nhớ tớiphút giây đang hiện hữu, phút giây “đốn ngộ” để đạt tới cái bản thể chân xácnhất Ông viết: “Đó là lúc cái bản năng mất đi, cái “hư vô” xuất hiện nhưng đókhông phải là cái hư vô như phương Tây hiểu Ngược lại, là cái vũ trụ trong tâm

con người, là cái khoảng trống trong đó vạn vật đều đạt tới cái bản thể” [62;

301] Với nhận định này, Fedorenco đã gián tiếp chỉ ra những nét tương đồnggiữa các tác phẩm của Kawabata với các tác phẩm văn học hiện sinh về các vấn

đề cốt lõi như “hư vô”, “khoảng trống”, “bản thể”…

Tác giả Phạm Văn Tuấn khi phân chia các giai đoạn sáng tác trong sựnghiệp của Kawabata đã có những nhận xét khái quát: “Các tác phẩm của

Trang 12

Kawabata chứa đầy các tình cảm cô đơn, các nỗi ám ảnh vì cõi chết Thứ tưtưởng bi quan này có lẽ bắt nguồn từ các kinh nghiệm bi thương của tác giả khicòn trẻ”[60] Như vậy, tác giả đã trực tiếp chỉ ra mối quan hệ tương đồng giữacác sáng tác của Kawabata với văn học hiện sinh ở mặt nội dung, tư tưởng: cùnglấy nỗi cô đơn và ám ảnh cái chết làm trục chủ đạo xuyên suốt tác phẩm Mặtkhác, những “kinh nghiệm bi thương” của Kawabata được tác giả nhắc tới sẽ trởthành một trong những tiền đề dẫn đến sự xuất hiện yếu tố hiện sinh trong tác

phẩm Kawabata Không những thế, khi đề cập đến tác phẩm Xứ tuyết, tác giả lại

một lần nữa hé mở mối quan hệ giữa tiểu thuyết này với các tác phẩm văn họchiện sinh: “Qua các ẩn dụ sâu xa trong tác phẩm, Y.Kawabata đã làm cho độcgiả cảm nhận được các sự thật sâu xa trong hoàn cảnh của con người, một thứ

“cố gắng vô ích” và khi Shimamurra thấu hiểu được điều ẩn dấu, chàng vĩnhviễn rời bỏ xứ tuyết”[60]

Nhà nghiên cứu về Nhật Bản Nguyễn Nam Trân trong những trang viết vềthế hệ các nhà văn Nhật Bản đã có những nhận xét về sự gặp gỡ giữa Kawabatavới người đồng nghiệp: “Đây là điểm gặp gỡ giữa Tazinaki và Kawabata Haiông đã mở đường cho một nền văn học mới gọi là Rôjin bungaku lão nhân vănhọc” với thể nghiệm bản thân và mang dấu vết suy đồi”[61] Tuy chỉ khẳng địnhkhông qua chứng minh nhưng tư tưởng khái quát của tác giả về nội dung tưtưởng trong tác phẩm Kawabata biểu hiện ở sự trải nghiệm và “tính chất suy đồi”

đã gián tiếp thiết lập mối quan hệ giữa hai nhà văn này với tác phẩm của các tácgia văn học hiện sinh

Nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Kawabata (1899- 1999), Lưu Đức

Trung đã có bài viết Thi pháp tiểu thuyết Kawabata- nhà văn lớn của Nhật Bản.

Trong đó, ông đã chỉ ra đặc trưng nổi bật trong sáng tác của Kawabata là dấu ấncủa mĩ học Thiền - tiêu biểu là thi pháp chân không, lấy im lặng làm nguyên tắcbiểu đạt Điều này đã được tác giả khẳng định lại một lần nữa trong công trình

Trang 13

Bước vào vườn hoa văn học Châu Á: Yashunari Kawabata, cuộc đời và tác phẩm: “ Đọc tiểu thuyết của Kawabata, mọi người đều cảm nhận thi pháp tiểu

thuyết của ông rất gần gũi với thi pháp thơ Haiku…Thi pháp chân không đòi hỏi

ta mở mắt mà nhìn, lấy tai mà nghe, trải lòng mà đón nhận”[62; 292- 293]

Trong số những bài báo, công trình đề cập đến Kawabata, Tuyển tập

Yashunari Kawabata của Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây là công trình

tập trung nhiều bài nghiên cứu có hệ thống và giá trị Trong bài viết

Y.Kawabata, người cứu rỗi cái đẹp, Nhật Chiêu đã giới thiệu những nét chính

yếu nhất về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Kawabata Với việc khẳng địnhcuộc đời đầy bi kịch của nhà văn và ảnh hưởng của nó trong sáng tác, bài viếtcủa ông thống nhất quan điểm với các tác giả Lưu Đức Trung, Thụy Khuê,N.T.Fedorenko và đã cho chúng tôi những dữ liệu cần thiết để chỉ ra những tiền

đề chủ quan dẫn tới sự xuất hiện yếu tố hiện sinh trong tác phẩm Kawabata

Cũng trong Tuyển tập Yashunari Kawabata, Thụy Khuê có bài viết Từ

Murasaki đến Kawabata Bà đã chỉ ra sự nối tiếp liền mạch như là sự phát triển

biện chứng giữa Kawabata với Murasaki và phác thảo thế giới nghệ thuật thườngthấy trong tác phẩm Kawabata thông qua hệ thống các biểu tượng Khi phân tíchbiểu tượng “người đẹp ngủ”, tác giả đã rất tinh tế khi cho rằng: “Người con gáingủ không phải búp bê và cũng không phải là gái điếm Nàng là sự vong thâncủa con người trong tình huống bi thảm nhất: không còn là người và cũng chưaphải là đất…Người con gái ngủ là một tuyệt tác chua cay nhất nhưng cũng đớnđau nhất mà người ta có thể viết về những kiếp người gần đất xa trời, về cái gọi

là chết thật và chết mê”[34; 1022] Tình trạng thảm kịch của con người mà nhất

là ám ảnh, đe dọa, trạng thái chênh vênh giữa hai bờ sống và chết mà Thụy Khuêchỉ ra chính là một trong những đặc trưng cơ bản của văn chương hiện sinh.Đáng chú ý là khi nhận xét về tài năng và phương pháp của Kawabata, ThụyKhuê không những đã so sánh Kawabata với các nhà hiện tượng học mà còn

Trang 14

gián tiếp chỉ ra mối tương quan giữa Kawabata - các nhà hiện tượng học - Thiền:

“Dùng kĩ thuật giải phẫu Tây phương, ông đi vào lòng người như một nhà hiệntượng học với ánh nội soi chiếu từ bên trong như ánh sáng Thiền Ông đạt đếnthức giác với những nhận xét tế vi không qua luận chứng”[34; 988]

Đến tháng 5/2004, Đào Thị Thu Hằng viết bài Kawabata giữa dòng chảy

Đông Tây Bà đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Kawabata.

Trong đó, không ít những lần bà đã nhắc đến sự ảnh hưởng sâu sắc của Phân tâmhọc đến sáng tác của Kawabata như: vô thức, không gian giấc mơ huyền ảo và cảvấn đề tính dục… Tất cả những điều này sẽ là căn cứ giúp chúng tôi xác địnhmột cách cụ thể hơn những biểu hiện hiện sinh trong các tiểu thuyết củaKawabata

Điểm qua tình hình dịch, giới thiệu và nghiên cứu tác phẩm Kawabata trênthế giới và ở Việt Nam, căn cứ trên những tài liệu đã tiếp cận được, chúng tôithấy nổi lên những vấn đề sau:

- Trước hết, trên thế giới và ở Việt Nam, các dịch giả và nhà nghiên cứu đãquan tâm đến tác phẩm của Kawabata, thể hiện qua khối lượng dịch và nghiêncứu về các tác phẩm của ông Qua đó, các tác giả đã hoàn thành việc phác thảochân dung Kawabata ở khía cạnh con người - tiểu sử, những quan điểm sáng tácnổi bật Đây chính là những tư liệu quan trọng để chúng tôi có thể vận dụngtrong quá trình nghiên cứu tác phẩm Kawabata Đáng quý hơn, trong nhữngcông trình này, các tác giả đã phân tích và khẳng định những giá trị đặc sắcthường thấy trong tác phẩm Kawabata cả về nội dung lẫn nghệ thuật Tất cả đềucho ta những hiểu biết cụ thể, sâu sắc, mới lạ hơn về tác phẩm của Kawabata.Trong đó, nội dung căn bản toát lên từ các ý kiến là khẳng định, ghi nhận vai tròcủa Kawabata trong việc thể hiện, tôn vinh, gìn giữ, bảo lưu những giá trị truyềnthống của văn hoá, thẩm mĩ Nhật Bản Đặt trong bối cảnh nước Nhật sau Thếchiến II với bao khủng hoảng, mất mát, đổ vỡ mọi giá trị, văn hoá truyền thống

Trang 15

bị đe doạ bởi sự ồ ạt của các trào lưu mới lạ từ Tây phương thì sự ghi nhận cônglao của Kawabata như các học giả đã làm là điều rất cần thiết.

- Tuy nhiên, các bài viết chỉ mới dừng lại ở mức độ giới thiệu hoặc chỉ ranhững giá trị nội dung hoặc nghệ thuật một cách khái quát chứ chưa thực sự cómột công trình chuyên sâu về Kawabata Mặt khác, khi tiếp cận các tác phẩmKawabata, các nhà nghiên cứu chủ yếu chỉ tiếp cận ở một số vấn đề nội dungnhư: cái đẹp, tính truyền thống - hiện đại, dấu ấn dân tộc và một số thủ pháp đặctrưng… Hướng tiếp cận cũng chỉ gói gọn trong mấy góc độ: mĩ học truyền thống(mĩ học Thiền), từ Phân tâm học, từ việc so sánh, đối chiếu Đông - Tây, giữaKawabata- các tác giả khác, từ xã hội học (đối chiếu nội dung tác phẩm vớitruyền thống văn hoá, thẩm mĩ Nhật Bản) Do vậy, kết quả nghiên cứu chưa đadạng Nhiều giá trị tiềm ẩn trong tác phẩm Kawabata cần được giải mã bằngnhững góc độ tiếp cận khác nhau, để vừa có thể khẳng định được tính truyềnthống, dân tộc, thẩm mĩ trong tác phẩm Kawabata vừa thấy được tính hiện đại,thời sự của ông trong việc nhìn nhận về cuộc sống, về bản chất con người, vềviệc vận dụng những kĩ thuật văn chương mới mẻ từ phương Tây

- Chủ nghĩa hiện sinh đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới nhưng cho đến

nay, đây vẫn là một trào lưu tư tưởng còn khá xa lạ với người Việt Nam Việcnghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh với tư cách là một trào lưu triết học đã có nhữngthành tựu căn bản Trong khi đó, với tư cách là một hướng tiếp cận tác phẩm vănhọc, nó vẫn chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm Với tác phẩm Kawabata,đặt trong bối cảnh đương thời của nước Nhật, trong sự giao thoa tiếp xúc mạnh

mẽ với văn hóa phương Tây sau thế chiến và trong sự ảnh hưởng sâu sắc của dấu

ấn hiện sinh có trong truyền thống Nhật Bản, chúng tôi thấy, nếu tiếp cận tácphẩm của ông theo góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh (cả trên phương diện quanniệm nghệ thuật về con người lẫn thủ pháp nghệ thuật), chúng ta sẽ khám pháđược một số vấn đề mới mẻ và thú vị

Trang 16

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng: nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người và các thủpháp nghệ thuật tiêu biểu trong 6 tiểu thuyết của Y Kawabata

3.2 Phạm vi nghiên cứu: các tiểu thuyết Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Tiếng

rền của núi, Đẹp và Buồn, Cố đô, Người đẹp say ngủ, in trong Tuyển tập Yashunari Kawabata của Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Nxb Lao

động, xuất bản năm 2003

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Như tên gọi của đề tài, mục đích của chúng tôi là tiếp cận tiểu thuyếtY.Kawabata từ góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh để khám phá thêm những giá trịtiềm ẩn về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm mà các cách tiếp cận từ mĩ học,văn hoá, thi pháp chưa làm rõ được

4.2 Với mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ:

Thứ nhất, chỉ ra những tiền đề cho sự xuất hiện yếu tố hiện sinh trong tácphẩm Y Kawabata

Thứ hai, chỉ ra những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyếtY.Kawabata trên bình diện quan niệm nghệ thuật về con người

Thứ ba, chỉ ra một số thủ pháp nghệ thuật theo lối biểu hiện của văn họchiện sinh được sử dụng trong tiểu thuyết Y Kawabata

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp Phân tích tổng hợp và

So sánh đối chiếu là chủ yếu Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng Phương pháp thống kê để tìm ra tần số xuất hiện của các hình ảnh nghệ thuật trong tác phẩm.

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương:

Chương 1 Những tiền đề cho sự xuất hiện yếu tố hiện sinh trong tác phẩm

của Y Kawabata

Trang 17

Chương 2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết

Y.Kawabata - từ góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh

Chương 3 Một số đặc sắc nghệ thuật của tiểu thuyết Y Kawabata - từ góc

nhìn nghệ thuật hiện sinh

Và cuối cùng là Tài liệu tham khảo

Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ XUẤT HIỆN YẾU TỐ HIỆN SINH

TRONG TÁC PHẨM Y KAWABATA 1.1 Đất nước và nền văn hóa truyền thống Nhật Bản

1.1.1 Vài nét về đất nước và con người Nhật Bản

Trang 18

Nhật Bản nằm trong nền văn minh Đông Á - khu vực tách biệt nhất trong sốcác nền văn minh cổ xưa Nó bị cô lập hẳn so với khu vực Ấn Độ, Trung Đông

và Địa Trung Hải bởi những dãy núi và hoang mạc ở Trung Á và những khurừng già, trập trùng ở Đông Nam Á và bán đảo Mã Lai Đây là khu vực có vị tríđịa lí cô lập, khép kín nên sự giao thương với bên ngoài rất hạn chế Điều đó đãtạo nên một tâm lí dân cư phổ biến là khả năng tự lập, dựa vào nội lực, không cởi

mở khi tiếp xúc với bên ngoài

Trong số những quốc gia ở Đông Á, Nhật Bản lại là quốc gia có vị trí địa lícách biệt hơn cả Nó có bốn bề bao bọc bởi biển và đại dương mênh mông, đượctạo nên bởi bốn hòn đảo lớn là: Hốckaiđô, Kiuxiu, Hônsu và Xicôcư Từ NhậtBản đến Triều Tiên là một trăm dặm, đến Trung Quốc là năm mươi dặm Trongthời cổ đại, trung đại và đầu hiện đại, khi giao thông chưa phát triển và khoa học

kĩ thuật Nhật Bản chưa có trình độ như ngày nay thì sự giao lưu tiếp xúc với bênngoài rất hạn chế Có thể chính vị trí địa lí này đã hình thành cho người Nhậtmột lối sống đặc trưng: đề cao tính chủ thể chủ động, tích cực, linh hoạt Từ đó,dần hình thành một cái tôi cá thể, độc lập, cô đơn, khước từ tha nhân và xã hội Trong đời sống chính trị, kinh tế và sinh hoạt hàng ngày, người Nhật càngbiểu hiện rõ hơn bản tính tích cực, chủ động của mình Tuy là một quốc giaphương Đông nhưng khác với Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên…người Nhật

có sự nhanh nhạy, linh hoạt, biết chớp thời cơ và đặc biệt, tính chủ động, tựquyết rất cao Có thể nói, mang trong mình sự dũng mãnh, quả cảm của dòngmáu Samurai “bất khả chiến bại” từ ngàn xưa, mỗi người dân Nhật là một ngọn

cờ tiên phong trong cuộc sống, tự quyết định, lựa chọn hướng đi để khẳng địnhmình Chính tính chủ động, tích cực và tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhânngười Nhật nói riêng và của cả một tập thể người nói chung đã giúp Nhật Bảntạo nên sức bật thần kì sau công cuộc Duy tân Minh Trị và hồi sinh mạnh mẽ sauhai cuộc thế chiến

Trang 19

Tuy nhiên, như là định mệnh, hệ quả tất yếu của tính chủ động, độc lậpchính là nỗi cô đơn, trầm mặc trong đời sống tâm hồn và sự cô lập, khép kín vớitha nhân Không chỉ hạn chế giao lưu tiếp xúc với các quốc gia bên ngoài, mốiquan hệ giữa những người dân Nhật với cộng đồng cũng rất lỏng lẻo Phần lớnmỗi người là một cá nhân khép kín và khó hiểu Đến thời điểm Kawabata sống

và sáng tác, khi luồng gió phương Tây thổi vào, các mối quan hệ người và thanhân càng bị rạn vỡ và nhạt nhòa Cá nhân thấy lạc loài, xa lạ trước cuộc sống.Chính vì vậy, Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới về số người tự tử - chủ yếu

là những người trẻ tuổi cô đơn, bế tắc, mất phương hướng trong cuộc sống Chủ động, tích cực nhưng lại cô đơn, khép kín, độc lập, tự quyết nhưngcũng dễ bế tắc, mất phương hướng là những đặc trưng trong lối sống và tínhcách của người Nhật Với Kawabata, lối sống này một mặt đã ảnh hưởng đếnông, tác động vào tư tưởng, quan điểm sáng tác Một mặt, nó chính là chất liệu,như một thành tố trực tiếp cấu thành nội dung, tạo nên những nhân vật đậm chấtNhật Bản trong tác phẩm của ông

1.1.2 Nền văn hoá truyền thống Nhật Bản

Bên cạnh yếu tố tự nhiên, văn hóa - đặc biệt là tôn giáo cũng đóng vai tròquan trọng trong việc làm xuất hiện những yếu tố hiện sinh trong tác phẩm củaKawabata Tuy là một quốc gia đa dạng và phức tạp về tôn giáo nhưng ở NhậtBản, đạo Phật vẫn chiếm ưu thế với hơn 92 triệu tín đồ Giáo lí và cách hành xửcủa đạo Phật không chỉ ảnh hưởng lớn đến tính cách của người Nhật (Kawabata

là người say mê nghiên cứu đạo Phật, đặc biệt là Thiền tông) mà còn in dấu ấn rõrệt lên các sản phẩm văn hóa như văn học, điêu khắc, kiến trúc chùa chiền, hộihọa

Phật giáo cung cấp cho người Nhật một cách nhận thức về thế giới tự nhiên,tâm linh, bản ngã Nó tạo cho người Nhật một lối sống thiên về nội tâm trầmlặng, đi sâu vào thế giới bên trong con người hơn là khai phá hiện thực khách

Trang 20

quan Bên cạnh đó, tư tưởng của đạo Phật coi thế giới đang hiện hữu là không cóthực và đầy rẫy đau khổ - nỗi đau khổ có căn nguyên từ trong bản chất và diễn ravới tất cả chúng sinh Chính vì lẽ đó, trong một vòng quay đầy biến ảo, “sắc sắckhông không”, con người chỉ là một thân phận nhỏ bé, một hạt cát nhỏ giữa vũtrụ bao la liên tục xoay vần nghiệt ngã Đạo Phật chỉ ra con người “sinh ra từ cátbụi rồi lại trở về cát bụi” còn Pascal và Heidegger - các nhà hiện sinh phươngTây cũng thống nhất quan điểm đó khi cho rằng, con người “từ hư vô lại trở về

hư vô” Các trường phái của đạo Phật Nhật Bản như Singon, Tendai, Jen đều đỏihỏi ở con người mức độ tập trung và thoát li hoàn toàn với thế giới bên ngoài để

cố gắng “ngộ” được cái bản chất về vũ trụ, cuộc đời, về chính bản thân mình Cóthể nói, con đường đi đến Phật chính là con đường tìm về với căn nguyên khởiphát, tìm về với bản chất của chính mình, với Phật tính Do vậy, đạo Phật kêugọi con người hãy ăn năn, sám hối, tu tâm dưỡng tính thoát khỏi tham, sân, si, ái,dục…, thoát khỏi tình trạng bị sa ngã, trở về với bản chất đích thực của mình.Điều này đã được các nhà hiện sinh phương Tây diễn đạt bằng nhiều khái niệmrắc rối, đậm màu sắc lí trí nhưng thực sự, cả đạo Phật và triết học hiện sinhphương Tây đều chú trọng đến quá trình tìm về với cái bản chất của chính mình

Có thể nói, đạo Phật từ lâu đã chứa đựng những yếu tố hiện sinh Nhà sư

Tâm Ích trong nhiều chuyên luận, đặc biệt là chuyên luận Heideger trên tấm

thảm xanh đã luận chứng rất nhiều về mối quan hệ giữa đạo Phật và hiện sinh.

Thậm chí, ông còn khẳng định, từ khởi thủy, đạo Phật đã mang nhiều màu sắcsâu lắng hiện sinh hơn cả Chủ nghĩa hiện sinh ở phương Tây

Một số vấn đề tương đồng giữa đạo Phật và hiện sinh

Tư tưởng định

mệnh

- Con người sinh ra có

số phận Không ai tránhkhỏi số phận nên hãy

- Con người có địnhmệnh nghiệt ngã: cô đơn,lạc loài, chết chóc Con

Trang 21

biết chấp nhận để monghướng tới một cuộcsống khác.

người vẫn phải cố gắngsống có ý nghĩa dùkhông thể tránh khỏiđịnh mệnh của mình

- Cuộc đời là một chuỗingẫu nhiên, không báotrước Con người bịquăng ném vào số mệnhnên không thể làm chủ

Quan niệm về

con người

- Vô minh

- Cách hành xử của conngười (nhân) sẽ quyđịnh họ là ai ở kiếp sau(quả)

- Phải sống hết tráchnhiệm của mình trongtừng giây phút

- Con người phải trở vềđúng bản chất, tránh bịcám dỗ, tha hoá

- Không biết trước vàkhông thể làm chủ sốmệnh

- Hành động của mỗingười sẽ sáng tạo và quyđịnh bản thân họ

- Phải ý thức về từnggiây phút tồn tại để sốngchủ động và tích cực

- Con người hiện sinhtrung thực

Trang 22

duy lý.

- Đề cao sự nỗ lực củacon người trong quátrình tu luyện

- Đề cao trải nghiệm, kêugọi ở mọi người tính chủđộng và sự nỗ lực

Trong các trường phái của đạo Phật, ở Nhật Bản, Thiền là một trong nhữngtrường phái được coi trọng bậc nhất, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan niệm, lốisống, cách hành xử, văn hóa, nghệ thuật… của người Nhật Bản Thiền một mặtyêu cầu con người dùng phương pháp tĩnh tọa nội tâm, thoát ly mọi vướng bậnbên ngoài để đạt đến sự cân bằng, giác ngộ trong tâm thức nhưng một mặt, nócũng có những yêu cầu rất cao đối với con người với vai trò là chủ thể nhận thức,lĩnh hội thế giới và chính bản thân mình Vì vậy, Thiền giống như một liệu pháptâm thế để nhận thức thế giới, vạn vật theo một cách riêng biệt, độc đáo hơn làmột lí thuyết tôn giáo

Mặt khác, Thiền khác các tông phái còn lại của đạo Phật và các tôn giáokhác là nó không hướng người ta trông cậy vào một đấng toàn năng mà đòi hỏimỗi con người phải tự vươn lên, phát huy những tố chất vốn có của bản thân để

có thể vượt lên trên mọi trở ngại - có nghĩa là điều tiên quyết mà Thiền kêu gọi ởmỗi người chính là tinh thần trách nhiệm và tính tích cực, chủ động Điều này đã

có sự gặp gỡ với tư tưởng triết học của J.P.Sartre về trách nhiệm của con người

Mặt khác, các vấn đề kinh điển của Thiền như Ta là ai? Từ dâu tới? Trở về đâu?

Sinh ra như thế nào? Chết như thế nào? cũng đã gặp gỡ với những băn khoăn

lớn của triết học hiện sinh trong quá trình đi tìm bản thể và ý nghĩa đích thực củacuộc sống Cả Phật giáo và Chủ nghĩa hiện sinh phương Tây đều kêu gọi conngười phải sống một cách chủ động, tích cực trong từng giây phút của thực tại.Nói về điều này, Trịnh Công Sơn, một nhạc sỹ nổi tiếng Việt Nam có nhữngsáng tác được xem là ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng Phật giáo cũng khẳng

Trang 23

định sự gặp gỡ, tương đồng về mặt bản chất giữa Phật giáo và Chủ nghĩa hiệnsinh phương Tây: “Mình cho rằng bậc thượng thừa của hiện sinh chính là Phật.Tại vì Phật dạy ta phải thức tỉnh trong từng sát na của cuộc sống”[57; 211].

“những năm gần đây, tôi thường nghĩ về Phật giáo như một tôn giáo mang nhiềutính hiện sinh nhất Bắt đầu bằng chữ sát na, một đơn vị thời gian siêu nhỏ Phảibiết sống hết mình cho mỗi sát na của thực tại Từ mỗi cái ăn, cái uống, cái điđứng nằm ngồi Với tôi, đó cũng là Thiền, là một cách sống đích thực”[52; 203].Bên cạnh đó, ở Nhật Bản, Thần đạo cũng là một tôn giáo bản địa quantrọng Các nhà nghiên cứu đều cho rằng một trong những đặc tính của tínngưỡng truyền thống Nhật Bản, đặc biệt là Thần đạo là tính hiện thế và lạc quan.Nói cách khác, đó là tín ngưỡng nhằm có được lợi lộc ngay ở thế giới hiện tạichứ không đi tìm hạnh phúc ở thế giới sau khi chết như Thiên Chúa giáo hayPhật giáo Tính hiện thế chính là một trong những điểm tương đồng căn cốt củaThần đạo Nhật Bản với tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh

Có thể nói, đạo Phật nói chung và Thiền nói riêng với các hạt nhân tư tưởngnhư: coi cuộc đời là bể khổ, con người là thân phận nhỏ bé, đáng thương, khônglàm chủ; coi cuộc hành trình tìm về bản ngã là đích tối thượng; khuyến khích conngười nhận thức thế giới và bản thân mình thông qua quá trình chiêm nghiệm,suy tư…đã có điểm gặp gỡ với quan niệm của các nhà hiện sinh phương Tây.Chính sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiền và Thần đạo đã hình thành trong tâmthức người Nhật những yếu tố hiện sinh trước khi chủ nghĩa hiện sinh phươngTây xuất hiện Và rồi, khi gặp gỡ hoàn cảnh bi kịch, khốc liệt, khi số phận conngười được đặt lên bàn cân và nhất là khi có sự giao lưu tiếp xúc với trào lưuhiện sinh phương Tây thì những yếu tố này lại biểu hiện mạnh mẽ, rõ rệt hơn baogiờ hết

1.1.3 Tư tưởng hiện sinh trong những tác phẩm văn học truyền thống Nhật Bản

Trang 24

Chính vì chịu ảnh hưởng của những yếu tố hiện sinh có từ trước đó trongquan niệm, lối sống người Nhật, trong Thiền và Thần đạo nên không chờ đến khichủ nghĩa hiện sinh phương Tây xuất hiện, nhiều tác phẩm văn chương Nhậttrước Kawabata đã ít nhiều biểu hiện tư tưởng hiện sinh.

Ngay từ thế kỉ X, Truyện Genji của Murasaki Shikibu hư cấu trên nền của

xã hội Nhật Bản thời đại Heian dã đề cập nhiều đến vấn đề định mệnh, những trớtrêu của cuộc nhân sinh đối với con người Hoàng tử Genji, nhân vật chính củatiểu thuyết, sau bao biến cố thăng trầm của cuộc sống, đã chết trong đau đớn vàquạnh hiu ở tuổi ngũ tuần khi nếm chịu mùi vị đau thương từ cái chết của ngườiyêu Murasaki và nỗi đau từ sự phản bội của người vợ Cảm thức về nỗi cô đơn,

ám ảnh về cái chết và tính chất nghiệt ngã của số mệnh đã được thể hiện từ rất

sớm trong Truyện Genji: “Tác giả đối lập hai tư chất: một bên là Genji, hoàng tử

đẹp trai, thông minh, lịch sự, sang trọng, đáng yêu, buông thả, tự do nhưng lạiluôn trung thành với người tri kỉ Một bên là Murasaki, đoan trang, trí thức,người đàn bà lí tưởng của thời đại Heian Sự đối chất bật lên những vấn tra củađịnh mệnh, những bấp bênh của tình yêu, của hạnh phúc; những vô nghĩa của

cuộc đời, của sự sống và sự chết”[34; 985] Truyện Genji và tác giả Murasaki

Shikibu, theo như Kawabata thừa nhận, đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng vàphong cách văn chương của ông

Trong diễn từ nhận giải Nobel văn học của mình, Kawabata đã nhắc đếnnền văn học Thiền đạt đến đỉnh cao ở Nhật Bản với những tên tuổi tiêu biểu.Trong số này, ông đặc biệt thích thú và lưu tâm về trường hợp tác giả Ikiu Tínhchất tự do, nổi loạn trong lối sống, trong phong cách văn chương và quan niệmcủa Ikiu về cái chết đã có sự gặp gỡ với quan niệm của các nhà hiện sinh Trongchùa, ông chuyên giáo huấn về tự sát và ngay bản thân mình, ông cũng đã hai lần

tự sát nhưng không thành và cuối cùng chọn cho mình con đường nhịn ăn chođến chết: “Nếu thần có thì thần hãy cứu vớt tôi Nếu thần không có thì mặc kệ ta

Trang 25

làm mồi cho loài cá dưới đáy hồ”[68; 346] Trong Khuồng vân tập, ông đề cập

nhiều đến những chi tiết tình ái tỉ mỉ và chủ trương đi ngược lại các giới luật củanhà chùa: ăn cá, uống rượu, gần phụ nữ Nhiều nhà nghiên cứu khi đề cập đếnhiện tượng Ikiu đều cho rằng thời đại Ikiu sống là thời loạn lạc chiến tranh, đạođức suy sút nên ông muốn phục hồi lại sự tồn tại thiết thực và sinh mệnh tựnhiên của con người

Trong thơ Haiku của Basho, tư tưởng về tính vô thường, về bi kịch cuộcđời, về tự do đích thực cùng mẫu hình con người khao khát, chủ động khám phábản chất và ý nghĩa của cuộc sống xuất hiện kín đáo nhưng phổ biến Hoa anhđào, biểu hiện của tính “vô thường” của tạo hoá, sớm nở tối tàn nhưng vẫn khátkhao phô diễn, cống hiến vẻ đẹp của mình cho cuộc sống là biểu tượng xuất hiệnnhiều trong tác phẩm của Basho:

- Từ bốn phuơng trời xa cánh hoa đào lả tả gợn sóng hồ Bi- oa

- Nhiều chuyện làm nhớ lại hoa anh đào

Nhân sinh quan Basho xem cuộc đời là bến đỗ dừng chân trong thoáng lát

và mỗi con người vào đời là mỗi cuộc lữ hành Chính bản thân Basho đã tự tạocho mình một lối sống phiêu lãng, tự do, thoả sức khám phá vẻ đẹp của mọimiền đất nước Ngay cả khi đã nhuốm bệnh, trong lòng ông vẫn không nguôikhát vọng ngao du sơn thuỷ với tinh thần tự tại:

Nằm bệnh giữa cuộc lãng du mộng hồn còn phiêu bạt những cánh đồng hoang vu

Trang 26

Trong quá trình du lãng đó, các bài thơ ra đời chính là kết quả của sự chiêmnghiệm, suy tư của ông về cuộc đời và con người

Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm của các bậc tiền bối của văn học Nhật trước đómang nặng cảm thức về cái bi ai, cô tịch, trống vắng đậm chất Nhật Bản nhưTazinaki, Akutagana cũng đã ảnh hưởng rất nhiều đến Kawabata, góp phần giántiếp tạo nên sự xuất hiện của các nhân tố hiện sinh trong tác phẩm của Kawabata

Sự ảnh hưởng của Chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác của Kawabata khôngtrực tiếp và mạnh mẽ như trong tác phẩm của Kobo Abe - người được xem là đạidiện xuất sắc nhất của văn học hiện sinh Nhật Bản, cũng không biểu hiện rõ nhưcác nhà văn Nhật hậu chiến như Oe Kenzaburo, Đajai Oxamu và cũng không cómàu sắc dữ dội, bế tắc như các nhà văn hiện đại đang nổi hiện nay như HarukiMurakami, Ryu Murakami, Banana Yoshimoto, Yamada Amy… Tuy nhiên,Kawabata khác các nhà văn này ở chỗ, ông chịu ảnh hưởng nhiều bởi văn hóatruyền thống, bởi cách tư duy Nhật Bản Hiện sinh trong tác phẩm của ôngkhông đơn thuần chỉ là sự tiếp thu các tư tưởng của hiện sinh phương Tây màdường như nó đã có căn cốt từ rất lâu trước đó, trong phong cách sống, cáchquan niệm về con người, cuộc đời, từ các yếu tố hiện sinh có trong Thiền, trongThần đạo Chính những điểm này đã làm cho các yếu tố hiện sinh trong tác phẩmcủa Kawabata vừa có màu sắc tương đồng với các tác phẩm hiện sinh phươngTây nhưng cũng có vô vàn những nét riêng, dị biệt

1.2 Cuộc đời và tính cách Y Kawabata

1.2.1 Một cuộc đời bi kịch

Kawabata sinh năm 1899 trong một ngôi làng gần Osaka Tuy được sinh ratrong một gia đình trí thức có cha là người đặc biệt đam mê văn chương nhưnghạnh phúc không kéo dài với Kawabata Năm bốn tuổi, cha và mẹ ông lần lượtqua đời vì bệnh lao, để lại cậu bé ốm yếu sống cùng ông bà nội Tuổi thơ tangtóc lại tiếp diễn khi lên bảy tuổi, bà nội cũng bỏ cậu bé ra đi và hai năm sau đó là

Trang 27

cái chết của người chị gái duy nhất Kawabata sống một mình cùng người ônggià cả Năm mười lăm tuổi, người ông cũng bỏ ra đi để lại cậu bé Kawabata mộtmình không người thân thích Bắt đầu từ đó, Kawabata sống cuộc đời tự lập, làm

đủ mọi nghề để kiếm sống nuôi thân Như vậy, chỉ trong vòng mười lăm năm,bệnh tật và số phận đã cướp đi của Kawabata năm người thân yêu duy nhất.Chính vì vậy, tiếp cận tiểu sử Kawabata, các nhà nghiên cứu đã gọi ông bằng

biệt danh Soshi Kinomeijin - Chuyên gia tang lễ

Khi trưởng thành, Kawabata lại phải chứng kiến hàng loạt cái chết củanhững người bạn văn: nhà văn Kutagana, Đajai Oxamu, Mishima Yukio và hơnhết là cái chết oan khốc của hàng ngàn người Nhật do thiên tai, chiến tranh, tựsát Ngay cả chính bản thân Kawabata, dù đã lớn tiếng phản đối việc tự sát,nhưng đến lượt mình, ông cũng chủ động chấm dứt cuộc đời một cách lặng lẽ, côđơn bằng khí ga trong một ngôi nhà nhỏ ven biển Điều này đã hé lộ phần nào sự

bi quan và bế tắc trong nhân sinh quan của ông Trong cuộc đời, Kawabata nếmtrải sự chết chóc ngay từ khi còn nhỏ đến lúc về già, cô độc, lặng lẽ từ lúc sốngđến lúc chết Nhưng cũng chính cuộc đời đắng cay đầy mất mát ấy đã hình thànhnên cho bản thân Kawabata một tính chủ thể tự lập, chủ động và tích cực trongcuộc mưu sinh, trong sáng tác và cả trong cách giã từ cõi đời Đó là một cái tôiluôn tự khẳng định mình một cách mạnh mẽ nhất Sống nghĩa là không ngừnghành động và khẳng định mình - điều này có thể rất chính xác với trường hợpKawabata

Có thể nói, đã có sự gặp gỡ, “tao phùng” kì lạ giữa Kawabata và Đức PhậtThích Ca Mâu Ni khi ý thức ban đầu của họ về sự sống lại chính là cái chết vàcảm thức cô đơn, lẻ loi trong một thế giới vô cùng vô tận Ám ảnh về cái chết vàcảm thức quạnh hiu này đã đeo đuổi nhà văn đến suốt cuộc đời Ngay từ năm 16tuổi, Kawabata đã đề cập đến những nỗi đau thương mất mát tinh thần trong

Nhật kí tuổi mười sáu: đó là những trang ghi chép về những ngày cuối cùng của

Trang 28

người ông mù lòa bên giường bệnh, cuộc sống cô độc của một học sinh sớm ýthức được những mất mát lớn lao trong đời và hơn thế, là những dự cảm sâu xa

về một định mệnh cô đơn, gắn chặt với nỗi buồn Khi trưởng thành, trong tùy

bút Đời tôi như một nhà văn và Cái nhìn cuối cùng, Kawabata vẫn còn gợi lại

những dấu ấn tang tóc đó: “ Không bao giờ tôi trút được ám ảnh mình là mộtngười lang thang, u sầu, luôn luôn mơ mộng tuy rằng chẳng bao giờ chìm đắmhoàn toàn trong mơ mà toàn tỉnh thức giữa khi mơ”[34; 1072] Sau thất bại củaNhật trong chiến tranh thế giới thứ hai, Kawabata viết: “Từ sau thất bại, tôi chìmvào nỗi buồn - một nỗi buồn ngự trị triền miên trong tâm thức người Nhật chúng

tôi” [60] Đây cũng có thể là nỗi buồn đặc trưng trong tâm thức người Nhật đã

được nâng lên thành các phạm trù thẩm mĩ đặc thù và nó cũng có thể là nỗi buồnmang đầy tính cá nhân của Kawabata- nỗi buồn của một người trưởng thànhnhưng luôn mang trong mình vết thương của một đứa trẻ mồ côi, mất mát và côđơn giữa thế giới, nỗi buồn của một tâm hồn luôn ý thức cao độ về kiếp ngườibằng tận cùng nỗi xót xa Một cuộc đời chứa đựng đầy bi kịch, sự ám ảnh cáichết như là một định mệnh và nỗi cô đơn như một cảm thức thẩm mĩ đặc thù đãảnh hưởng sâu sắc đến cách nhìn nhận cuộc đời và con người của nhà văn VớiKawabata, cuộc sống và con người là một cái gì đó hư vô, mơ hồ và ngắn ngủi,hiện hữu nhưng mong manh và luôn chực tan vỡ Chính cách nhìn nhận cuộc đờinhư vậy cộng với những đau thương trong cuộc đời thực, kếp hợp với những đặctrưng trong quan niệm, lối sống của người Nhật đã hình thành nên trong trangvăn của Kawabata những yếu tố hiện sinh và nó là mảnh đất thuận lợi cho sựxâm nhập của Chủ nhĩa hiện sinh phương Tây sau thế chiến II

Không chỉ gánh chịu những bi kịch tang tóc trong đời sống cá nhân, trongquãng thời gian từ 1899 đến 1972, Kawabata còn phải chứng kiến hàng loạtthảm họa diễn ra với nước Nhật Năm 1907, chiến tranh Nga - Nhật xảy ra khiếnNhật bị thiệt hại nặng nề về người và nền kinh tế bị suy thoái mạnh mẽ Tiếp sau

Trang 29

đó, chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra (1914 - 1918) cướp đi hơn 23 000 sinhmạng người Nhật vô tội Sau năm 1920, nước Nhật liên tục đối mặt với nhiềuvấn đề không mấy tốt đẹp như: kinh tế suy thoái nghiêm trọng, vụ lộn xộn năm

1922, vụ động đất lớn ở Kanto năm 1923 làm 10 000 người chết (sau cuộc độngđất tai hại này, Kawabata đã lang thang trong nhiều khu phố, vào ban ngày cũngnhư ban đêm, tay cầm cuốn sổ ghi, quan sát những cảnh tàn phá của thiên tai,các cảnh đau khổ của các nạn nhân Những cảm nhận của ông được thể hiện cụ

thể trong tác phẩm Băng đảng Asuka) và đại khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào

đầu những năm 30 Sau cuộc đại khủng hoảng đó, nước Nhật kí hiệp ước với Ý

và Đức để thành lập trục phát - xít Dưới chế độ độc tài phát xít, đời sống củanhân dân Nhật vô cùng khó khăn Các quyền tự do dân chủ, dân sinh và chính trịđều bị bóp nghẹt Chính sách vô cùng bạo tàn của quân phiệt Nhật đã gây vô vànđau thương, tang tóc cho những nơi Nhật chiếm đóng và cho cả người dân trongnước

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nước Nhật điêu tàn, tan nát và đau khổ.Nhật Bản còn phải gánh chịu hai vụ thảm sát lớn vào đầu tháng 8/1945: hai quảbom nguyên tử Mĩ ném xuống đã giết chết gần 100 000 người ở Hiroshima và

70000 người ở Nagasaki Lúc này, Kawabata đang ẩn cư ở Nagasaki để sáng tácnên tất cả những gì ông chứng kiến đều là trực tiếp Chiến tranh đã làm hơn 3triệu người Nhật bị chết và đất nước mất hoàn toàn tài sản quốc gia Đây là sựkiện bi thảm nhất trong lịch sử Nhật Bản và lịch sử nhân loại nói chung

Kawabata đã sống và sáng tác ở một thời đại đau thương và hỗn loạn nhấttrong lịch sử nước Nhật, một thời đại có nhiều nét tương đồng so với nhận địnhcủa Camus về đất nước mình: “Cùng những người lứa tuổi như tôi, tôi lớn lêntheo tiếng gọi của chiến tranh thứ nhất và lịch sử của chúng ta là chuỗi ngày dàitàn sát, bất công và bạo lực”[49; 737] Nước Nhật trong thời gian này là vũngbùn lầy tăm tối nhất trong bể bùn châu Á Chiến tranh và thiên tai xảy ra liên

Trang 30

miên Đói nghèo và bệnh tật đe dọa cuộc sống Trật tự xã hội hỗn loạn Đặc biệt,lúc này, số người diệt vong đã vượt quá mức tưởng tượng Cái án chết chóc đedọa trên đầu và có thể ập xuống bất kể lúc nào Con người trở thành sinh mệnhnhỏ bé, yếu đuối, mong manh, vẫy vùng trong vực thẳm không lối thoát là toàn

bộ xã hội Nhật Bản Chính vì vậy, họ dễ cảm nhận sự vô nghĩa lí của tồn tại, sựphi lí và tàn nhẫn của cuộc sống Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩahiện sinh ăn sâu bám rễ, đã cung cấp cái “hiện thực vô nghĩa lí” cho những trạngthái đang sẵn sàng phủ nhận nó

Có thể nói, nếu toàn bộ xã hội Nhật Bản sau chiến tranh là một bức tranhđược vẽ loang lổ bằng những vệt màu u ám thì tâm hồn người Nhật Bản thời hậuchiến là mảng màu xám lạnh ghê sợ nhất bởi hơn cả sự tàn phá vật chất chính là

sự phá hủy, thương tổn khó có thể chữa lành về tinh thần Là một công dân vàhơn hết lại là một nhà văn của một đất nước bị phá hủy nặng nề sau chiến tranh,tâm hồn nhạy cảm của Kawabata như một tấm gương lớn phản chiếu trong nómọi nỗi đau thương, hoang tàn và đổ vỡ Sự phản chiếu ấy soi rọi vào trong sángtác nên dù dưới ánh sáng của ý thức hay vô thức trong việc thể hiện những yếu

tố hiện sinh thì tác phẩm của Kawabata vẫn mang đậm dấu ấn của chủ nghiã hiệnsinh như một điều tất yếu

1.2.2 Một tính cách cô đơn, trầm mặc điển hình

Tác phẩm văn học trước tiên là sản phẩm sáng tạo của riêng cá nhân nhàvăn Quá trình sáng tác tác phẩm cũng đồng thời với quá trình nhà văn lưu lạinhững dấu ấn về cuộc đời, cá tính, tư tưởng, quan niệm, phong cách, tài năng trong từng trang viết Tất nhiên, không thể có một sự thống nhất tuyệt đối giữabản thân tính cách nhà văn với một tác phẩm cụ thể nhưng nếu toàn bộ các tácphẩm đều toát lên một đặc điểm chung mang tính quy luật thì không thể khôngtính đến sự ảnh hưởng của yếu tố tính cách lên trên đặc điểm ấy Giống như khinghiên cứu tác phẩm của F Kafka, các nhà nghiên cứu đã chú trọng đến đặc

Trang 31

điểm tính cách “lập dị”, khép kín, những tổn thương tâm lí và ảnh hưởng củachúng lên tác phẩm của ông thì khi nghiên cứu tác phẩm Kawabata, người tacũng chú trọng đến tính cách cô đơn, trầm mặc như một nhân tố để lại dấu ấn rõnét trong phong cách văn chương của nhà văn.

Tuổi thơ dữ dội, cô đơn và việc chứng kiến những thảm họa của đất nước đãsớm hình thành cho Kawabata một lối sống trầm lặng, nội tâm, cô độc, làm chotrái tim ông đặc biệt nhạy cảm trước nỗi đau khổ và mất mát Chính Kawabatacũng thừa nhận ảnh hưởng của những “vết thương quá khứ” lên tính cách vàphong cách sáng tác của mình Ngoài đời sống, Kawabata vốn dĩ là một ngườitrầm lặng Ông chọn cho mình lối sống tách biệt không thích tiếp xúc với ngườinước ngoài hoặc báo giới Đặc biệt, Kawabata hay tìm sự yên tĩnh và niềm an ủi

ở các đền chùa hoặc làm một người lữ khách cô đơn, u sầu ở các nơi danh thắng(điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến motip các nhân vật lữ khách trong tácphẩm của ông) Hàng năm, ông hay dành cho mình một khoảng thời gian ẩn cư

để sáng tác Đây chính là lúc ông cắt đứt sự giao lưu với thế giới bên ngoài đểđược sống với chính mình và chuyên tâm vào công việc sáng tạo Công chúngbiết đến Kawabata là nhà văn kín đáo, thích sống trầm lặng, tách biệt với nhữnglợi ích bon chen đời thường Người nước ngoài khi nhận xét về Kawabata đã choông là “tín đồ nhiệt thành của niềm lặng im”(Seidensticket)

Giữa lúc tuyệt vọng trước sự thất bại thảm hại, bi thương hỗn loạn của đấtnước, giữa sự bơ vơ, lạc lõng trước thực tại lịch sử cộng với bản chất vốn sốngtrầm mặc, khép kín, Kawabata không tìm được chỗ dựa vững chắc nơi thực tại.Điều này dẫn ông lẩn trốn vào hành trình của người lữ khách cô đơn hoặc trở vềvới thế giới của cái đẹp tuyền thống Tuy nhiên, cô đơn dường như đã hiện hữu

từ trong bản chất Còn quá khứ, trong lẫn lộn buổi giao thời, đã dần mất đinhững vẻ đẹp truyền thống đáng quý và trở nên xa lạ với hiện tại Thế là côngcuộc truy tìm giá trị bị thất bại, như lời Hoài Thanh nói về các nhà Thơ Mới “say

Trang 32

đắm vẫn bơ vơ” Kawabata lại một lần nữa thất vọng, chơ vơ, mất niềm tin vàomột thực tại đã biến thiên và đầy đổ vỡ Trạng thái này làm cho sáng tác củaKawabata luôn phảng phất nỗi buồn đầy tính nhân bản, xuất phát từ sự cảm nhậncủa con người về sự tồn tại vô nghĩa lí của bản thân trong một cuộc sống đầy rẫynhững diệt vong, phi lí Do vậy, không phải ngẫu nhiên, trong sáng tác,Kawabata lại dành địa vị ưu tiên số một cho những tác phẩm bi ca: “Sau cuộcchiến bại không lâu, chính tôi viết rằng kể từ đây, tôi chỉ ca hát về nỗi buồn của

Nhật Bản (…) Tôi chọn Truyện Genji và thời đại Muromachi để giúp tôi quên đi

chiến tranh và chịu đựng cuộc thảm bại” [34; 1075] Chính tính cách, con người

đã ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách văn chương của ông Đặc biệt, sau nhữngnhân vật chính cô đơn và u sầu như Shimamura, Kikuji, Singo, Eguchi… luônphảng phất bóng dáng sự “hóa thân” của nhà văn

1.2.3 Trạng thái hiện sinh trong sáng tạo của Y.Kawabata

Xét từ phương diện sáng tạo của chủ thể, hoạt động sáng tác là nơi lưu tụnhững phẩm chất căn cốt của người nghệ sỹ: tư duy, cảm xúc, tài năng, cá tính…Tuy chịu ảnh hưởng, quy định bởi những nhân tố bên ngoài nhưng hoạt độngsáng tác vẫn là lãnh địa chủ yếu của thế giới chủ quan - nói cách khác, tác phẩm

là nơi thể hiện và lưu giữ những dấu ấn chủ quan của nhà văn

Tiểu thuyết Kawabata chính là nơi kết tinh của một tài năng văn chươngđộc đáo, một tâm hồn nhạy cảm tinh tế, một tư duy vừa có tính thâm trầm, sâulắng của truyền thống lại vừa có những phẩm chất tư duy của con người thờihiện đại Kawabata không là nhà văn theo một trường phái sáng tác nhất định.Ông lại càng không phải là nhân vật của chủ nghĩa hiện sinh - xét từ phươngdiện triết học lẫn nghệ thuật Những dấu hiệu hiện sinh xuất hiện trong tác phẩmcủa ông vừa là sản phẩm của sự tiếp thu những trào lưu tư tưởng mới phươngTây, vừa là sự tiếp thu các tư tưởng của Thiền, của Thần đạo và còn có một

Trang 33

nguyên nhân khác, đó là sự chi phối từ trạng thái hiện sinh trong sáng tạo củanhà văn.

Trạng thái hiện sinh trong sáng tạo có thể nảy sinh với bất kì nhà văn nào, ởbất kì thời khắc nào của hoạt động sáng tạo, khi xảy ra sự gặp gỡ giữa nhữngnhân tố như: tính chất bi kịch, bế tắc, bất hạnh trong đời tư, kiểu tư duy hiện sinh

và trạng thái tâm lí hiện sinh Ba yếu tố này kết tinh trong hoạt động sáng tạo,định hình nên một trạng thái sáng tác mới gần gũi với trạng thái của các nhà vănhiện sinh Với tư cách một cá nhân, Kawabata phải chịu đựng một cuộc đời bikịch và bất hạnh Với tư cách một công dân, ông phải sống trong một đất nướcđầy bất trắc và đau thương hỗn loạn Còn với tư cách là một nhà văn, Kawabataphải sống trong thời điểm mà J.P.Sartre - ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh đã kháiquát lên “tình thế nhà văn sau năm 1945: “Tính lịch sử chảy ngược vào trongchúng tôi Ở bất kì cái gì chúng tôi chạm đến, trong không khí chúng tôi thở,trong những trang sách chúng tôi đọc và trang sách chúng tôi viết và trong cảtình yêu nữa, chúng tôi đều khám phá ra một điều gì đó cứ như là mùi vị của lịch

sử, nghĩa là một thứ trộn lẫn chua chát, hỗn tạp của cái tuyệt đối với cái nhấtthời”[38; 271] Họ phải sống trong một tình trạng bế tắc, chông chênh và đầy biquan, lo âu về những bất trắc có thể xảy ra đối với mình: “Mỗi một thời khắctrong cuộc đời chúng tôi bị nẫng đi khẽ khàng giữa lúc chúng tôi đang tận hưởng

nó Bởi mỗi một hiện tại chúng tôi hăm hở sống, cứ như là tuyệt đối, đã nhiễmcái chết ngầm”[38; 327] “Cái chết ngầm” mà J.P.Sartre nhắc đến chính là nguy

cơ “tự huỷ” từ bên trong, từ bản thân cuộc sống lẫn bản thân mỗi cá thể Đó làđịnh mệnh không thể tránh khỏi, là “hiện sinh” của thời thế được cá nhân nhậnthức Hiện thực đã làm cá nhân phải thay đổi tư duy và tác động đến tâm lí củamỗi người, giúp họ hình thành một cách nhìn, cách cảm nhận và lí giải cuộc đờitheo một hướng mới

Trang 34

Trong tác phẩm của Kawabata, “cái chết ngầm” mà Sartre nhắc đến đượcbiểu hiện một cách rõ ràng trong cuộc sống hiện tại (tiếng rền của núi, sự suythoái của trà đạo và nhân cách người uống trà, những mối quan hệ luyến áinhuốm màu sắc suy đồi) lẫn biểu hiện kín đáo, âm ỉ trong tâm thức của mỗi chủthể như ông già Singo, Eguchi, hai cô trò Otoko và Keiko… Hoàn cảnh lịch sử,thời thế đã không cho con người được sống bình an và không cho nhà văn mộttâm thế cân bằng để viết Sự cân bằng mà người Nhật vốn dĩ đề cao bị phá vỡ.

Họ bị cái nghiệt ngã của thời thế ném vào cảnh bơ vơ khiến con người có thểcảm nhận tận những ranh giới cùng cực, tận cùng cái phi lí, tận cái đêm đen của

ý thức là thân phận nhỏ bé, đáng thương của mình Điều ấy tuy không tạo chonhà văn một “nguồn hoan lạc vô biên” để sáng tạo nhưng cũng cung cấp cho họmột “mảnh đất hiện thực”(cả chất liệu hiện thực từ cuộc sống lẫn chất liệu hiệnthực trong tâm tưởng) và một trách nhiệm phải phản ánh cuộc sống của conngười và thời đại, của cá nhân bằng sự trải nghiệm sâu sắc của chính mình Bịđặt trong một tình thế bi kịch khi mà có quá nhiều điểm tương đồng giữa mộtcông dân và một nhà văn như vậy nên việc Kawabata viết nên những tác phẩmchứa đựng yếu tố hiện sinh là một hệ quả mang tính lịch sử

Bên cạnh tâm lí hiện sinh được hình thành một cách tự nhiên và lâu dài từtrong đời riêng đến hoạt động sáng tác, kiểu tư duy hiện sinh cũng có ảnh hưởngrất lớn đến việc xuất hiện các yếu tố hiện sinh trong tác phẩm Kawabata Theonhà nghiên cứu Đỗ Minh Hợp, tư duy hiện sinh là cái có trước chủ nghĩa hiệnsinh và ngay cả khi chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện, nó cũng không trở thành kiểu

tư duy độc quyền của một hệ thống, chủ nghĩa nào hết: “Trước hết cần phảikhẳng định dứt khoát rằng, tư duy hiện sinh không phải là nội dung trong các tácphẩm của hàng loạt nhà triết học thế kỷ XX mà vẫn được đề cập ở phần “chủnghĩa hiện sinh” trong tư liệu hiện nay vì tư duy hiện sinh từ lâu đã không còn làđộc quyền của một nhà triết học hay một trường phái triết học nào đó và, nó đã

Trang 35

trở thành tâm tính xác định trong con người của thời hiện đại ở phương Tây mà

có thể nhận thấy ở những biểu hiện đa dạng nhất của tinh thần con người”[29]

TS Lê Thanh Nga, trong bài viết Về tinh thần hiện sinh trong thơ văn Nguyễn

Công Trứ cũng đã trực tiếp khẳng định quan niệm hiện sinh với tư cách là một

“nhận thức có tính chất bản năng của con người” đã xuất hiện trước khi Chủnghĩa hiện sinh phương Tây ra đời: “chủ nghĩa phi lí xuất hiện vào thế kỷ XX thìtrước đấy hàng thế kỉ, người ta đã nhìn ra tính chất trái khoáy của tồn tại ở Việt

Nam, tính chất này đã được phát hiện ít nhất bằng bài ca dao Ngồi buồn đốt một

đống rơm… Thực tế đó cho phép chúng ta một niềm tin rằng, quan niệm hiện

sinh hoàn toàn có thể xuất hiện trong đời sống và trong văn chương NguyễnCông Trứ, thậm chí là xa hơn nữa, tại Việt Nam, theo tư cách là một nhận thức

có tính chất bản năng của con người”[48] Chính vì thế, sự ảnh hưởng của một tưduy hiện sinh trong tác phẩm của Kawabata trước khi có sự can thiệp của Chủnghĩa hiện sinh phương Tây là hoàn toàn có thể xảy ra

Như vậy, bên cạnh nhân tố vị trí địa lí, lối sống và văn hoá truyền thốngNhật Bản, nhân tố chủ quan từ phía Kawabata cũng đóng vai trò quan trọng, làmột trong những tiền đề quyết định sự xuất hiện yếu tố hiện sinh trong tác phẩmcủa ông Một cuộc đời chứa đầy bi kịch, một số phận cô đơn khép kín, một tínhcách Nhật trầm lặng điển hình, một tín đồ Phật giáo trung thành, tất cả nhữngđiều ấy đã đủ để Kawabata trở thành một nhân vật của chủ nghĩa hiện sinh Thânphận ấy lại sống và sáng tác trong một thời đại đau thương và hỗn loạn nhất củalịch sử- một thời đại mà con người chỉ tìm thấy sự mất mát, chết chóc và đổ vỡ,thời đại mà nhà triết học hiện sinh nổi tiếng Đan Mạch Kierkegaard gọi là “thờiđại mất Chúa” Tất cả những điều này đã tạo điều kiện cho Kawabata tiếp thu tưtưởng về thân phận con người, về cách nhìn cuộc đời như một thực tại trống rỗngcủa chủ nghĩa hiện sinh

Trang 36

1.3 Tiếp xúc Đông - Tây và sự du nhập của những trào lưu văn hoá phương Tây vào Nhật Bản

1.3.1 Nước Nhật thời hậu chiến

Nhật Bản là quốc gia có vị trí địa lí tương đối biệt lập, gây nhiều cản trở choviệc thông thương, giao lưu tiếp xúc với thế giới bên ngoài Trong suốt thờitrung đại, Nhật Bản thực hiện chính sách khép kín, “đóng cửa” nên vẫn tươngđối giữ vững những đặc điểm truyền thống của mình Tuy nhiên, cùng với côngcuộc Duy tân Minh Trị và việc khôi phục quyền lực thực tế của Nhật Hoàng năm

1868, lối sống khép kín của người Nhật đã có phần thay đổi do những chính sách

mở cửa của nhà nước để phục vụ cho công cuộc hiện đại hoá trên tất cả các lĩnhvực, đặc biệt nhằm tạo ra những bước chuyển mới về kinh tế Sự đổi mới về kinh

tế khiến cho cả thế giới ngạc nhiên đã tác động mạnh mẽ đến văn học nghệ thuậtNhật Bản Kỹ thuật và văn hóa phương Tây được du nhập vào Nhật Bản mạnh

mẽ tới mức lấn át ảnh hưởng hàng thế kỷ của văn hóa Trung Quốc Nếu trướcđây, văn học chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các giá trị cổ điển Trung Hoa thì đếnnay, nền văn học ấy lại chịu sự chi phối của các quan điểm tự do dân chủ phươngTây Hệ giá trị của người Nhật trở nên đa dạng Nhiều người đã chú trọng nhiềuhơn đến việc tự biểu hiện và đeo đuổi những mục tiêu cá nhân Ngọn gió vănchương được thổi bùng lên và tung bay trong tư tưởng đội ngũ làm văn nghệ TừMori Ogai, Shimazaki Toson rồi đỉnh cao là Natsume Soseki, văn học hiện đạiNhật Bản đã thức tỉnh và sải những bước dài sau đó qua các thời Taisho, Showaqua những tên tuổi lừng lẫy như Akutagana Ryunosuke, Yokomitsu Riichi,Yashunari Kawabata…

Sau chiến tranh, hiện thực xã hội buộc các nhà văn Nhật lại phải thay đổiquan niệm sống và cách viết, đồng thời mở ra cho người viết những cánh cửatình cảm và trí tuệ mới Người ta hiểu rằng coi trọng tự do cá tính không thôichưa đủ Nhà văn phải đối diện với hiện thực và nhìn nhận lại bản thân một lần

Trang 37

nữa Họ phát hiện ra bản thân và tìm cách lí giải cho nỗi thống khổ và mọi sựkhó khăn trong đời sống Chiến tranh có xu hướng được coi là mảng hiện thựclớn nhất của xã hội Nhật Bản Có nhiều tác giả tập trung miêu tả sự hỗn loạn củathời hậu chiến và nỗi thống khổ mà chiến tranh đã mang lại cho con người Bên cạnh chiến tranh, thảm họa thiên nhiên cùng những bất ổn về mặt chínhtrị, quan hệ người - người trong một đất nước có nền kĩ trị phát triển vào bậcnhất trên thế giới cũng trở nên khô cứng hơn Tất cả những điều này đã tác độngkhá sâu sắc vào tâm lí người Nhật ở mọi lứa tuổi, nhất là tầng lớp thanh niên Nóhình thành nên ở người Nhật sau chiến tranh một cái nhìn bi quan, chán nản,hoài nghi và phủ nhận thực tại Để quên đi hiện tại chán ngắt và buồn tẻ, không

ít người Nhật đã tìm đến những cuộc ăn chơi trác táng, trong lối sống hiện đạibuông thả, hỗn loạn, xô bồ, trong tự do tình dục quá trớn và trong tận cùng bế tắc

- tự sát Tất cả lối sống này không những không giúp người Nhật thoát ra khỏitình trạng bế tắc mà càng làm cho họ cảm giác chán ngấy, “buồn nôn” trướccuộc đời, bản thân, dẫn họ đến hành động tự giải thoát bằng cái chết Hình tượngcon người “tha hóa” và luôn có xu hướng sám hối tội lỗi sẽ được xây dựng cụthể, sống động và rõ ràng hơn trong tác phẩm của các nhà văn sau này như OeKenzzaburo, Kobo Abe, Haruki Murakami…

Thực trạng nước Nhật sau chiến tranh, một mặt đã tạo nguồn đề tài và cảmhứng mới cho các nhà văn sáng tạo Mặt khác, nó đã chuẩn bị một mảnh đất hiệnthực màu mỡ để chủ nghĩa hiện sinh khi truyền vào có thể ăn sâu, bám rễ và pháthuy tầm ảnh hưởng nhanh chóng

1.3.2 Sự du nhập của các trào lưu văn hoá phương Tây vào Nhật Bản

Nếu như sự tiếp xúc với phương Tây ở Việt Nam đã được nhà nghiên cứuHoài Thanh nhận định: “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất tronglịch sử Việt Nam mấy mươi thế kỉ” thì ở Nhật Bản, việc giao lưu với phương

Trang 38

Tây tuy chưa phải là “cuộc biến thiên lớn nhất” nhưng nó cũng đã mở ra cho lịch

sử nước Nhật những trang phát triển mới

Sau khi Nhật hoàng bại trận, các trào lưu văn hoá và tư tưởng mới mẻ từphương Tây cũng được truyền vào Nhật Bản một cách mạnh mẽ như: Chủ nghĩatrực giác, Thuyết duy cảm, Chủ nghĩa tự nhiên, Chủ nghĩa hiện sinh, Chủ nghĩasiêu thực và Chủ nghĩa vô sản…Những học thuyết này truyền vào nước Nhật ồ

ạt đã nhanh chóng gây được ảnh hưởng, tạo ra một luồng sinh khí mới trong sángtác văn chương nghệ thuật

Trước tình hình đó, đội ngũ sáng tác đã nhanh chóng tiếp thu những luồng

tư tưởng phóng khoáng, dân chủ và những kĩ thuật văn chương mới mẻ phươngTây Cùng với nó là sự hình thành một tầng lớp đông đảo người đọc mới với guthẩm mĩ và văn hoá tiếp nhận khác trước

Các trào lưu văn học phương Tây và các khuynh hướng hiện đại cũng pháthuy ảnh hưởng ở Nhật Bản thời kì này Những tìm tòi, sáng tác của các nhà vănNhật thời này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của M.Proust, J.Joyce, Freud và các tácgiả Tây Âu khác Xuất hiện nhiều tác phẩm văn học Nhật viết theo tinh thần củaChủ nghĩa trực giác và Thuyết Duy cảm Oe Kenzaburo, giải Nobel văn học năm

1994, đã có những dòng nhận định như sau về công cuộc hiện đại hoá văn học Nhật và sự ảnh hưởng của phương Tây đối với Nhật Bản: “Công cuộc hiện đại

hoá Nhật Bản để lộ ra lịch sử của một nước châu Á cố tách mình ra khỏi khốichâu Á và trở thành một nước kiểu Âu Với văn học Nhật Bản, người ta cũnghướng về Châu Âu, Nga, Mỹ Hôm nay, nhà văn Nhật vẫn nhìn về phương Tây

mà giờ đây bao gồm cả Đông Âu và châu Mỹ Latinh”[39]

Trong mạch nguồn chung ấy, Chủ nghĩa hiện sinh được truyền vào NhậtBản với những tên tuổi như: S.Kierkegaard, M.Heideger, A.Camus, J.P.Sartre…Được sự hỗ trợ từ sự tương đồng có từ trong truyền thống, sự ủng hộ của tâm língười Nhật sau chiến tranh, chủ nghĩa hiện sinh đã nhanh chóng gây được ảnh

Trang 39

hưởng ở Nhật Bản Tư tưởng của Chủ nghĩa hiện sinh về vấn đề thân phận conngười, về việc cổ suý cho tự do đích thực, về việc đề cao con người hiện tồnchân thực với bản năng, về việc đề cao cá tính độc đáo khác biệt của cái tôi cánhân cá thể… tác động không nhỏ đến lối sống của người Nhật cũng như tưtưởng, lối viết của các nhà văn hiện đại Đặc biệt, khi làn sóng hiện sinh truyềnvào Nhật Bản, nó đã khuếch trương lối sống tự do, phóng khoáng, suy đồi củathế hệ người Nhật hậu chiến Có một số người xem lối sống hiện sinh như sự phủnhận lại xã hội tiêu thụ, phủ nhận lại nền chuyên chính, nhà nước (các nhà văntheo lối này bị nhà nước đàn áp và đa số phải tìm đến một hình thức viết kín đáohơn) Có một số khác lại tìm đến Camus, lựa chọn hiện sinh trong sự “bội thựckhoái lạc”, nổi loạn bằng tự do, dục vọng và cả tìm đến cái chết bằng phươngcách tự sát Với giới trẻ Nhật Bản những năm 60, nổi loạn, cái chết và bản năng(ý thức về cái Ego - cái “tôi”) luôn song hành với những câu khẩu hiệu như

“cuộc cách mạng tính dục”, “sự nổi loạn của bản năng”, “sự phục hồi nhântính”… Nói như Trần Thái Đỉnh: “Triết học hiện sinh cũng thực sự mọc lêntrong đống đổ nát nhưng là đổ nát tinh thần”[12; 80], thực tế Nhật Bản sau chiếntranh thế giới thứ hai đã tạo điều kiện cho chủ nghĩa hiện sinh ăn sâu, bám rễtrong đời sống và trong nghệ thuật

1.3.3 Những tìm tòi, thể nghiệm của thế hệ nhà văn Nhật Bản hậu chiến

Nắm bắt được không khí nhuốm màu sắc “hiện sinh” của thời đại cộng vớimột tâm lí sáng tác mới, các nhà văn hiện đại Nhật Bản đã nhanh chóng chuyểnhướng sáng tác, tập trung vào phản ánh cuộc sống, tâm tư của người Nhật hậuchiến, mà cốt lõi của nó là thể hiện đời sống như một thảm kịch, một hư vô, nhưmột hố thẳm và con người bị treo chơi vơi ở đó, vẫy vùng trong sự bất lực vàtuyệt vọng Trong số các nhà văn này có thể kể đến Kenzaburo Oe, Kobo Abe.Mặt khác, sau chiến tranh, cùng với ý thức nổi loạn chống lại mọi lề thói cũ,các nhà văn cũng đã chủ động tìm đến với những tác phẩm của phương Tây Ban

Trang 40

đầu, có thể đó chỉ là sự bắt chước những điều mới lạ Sau đó, nó như là một “cứucánh” để nhà văn thoát khỏi tình trạng bế tắc trong tâm hồn, trong sáng tác vàgiúp họ biểu đạt những nội dung mới của thời đại một cách tự do và hiệu quảhơn: “Nhờ đọc tiểu thuyết Mỹ, tôi đã có thể thoát khỏi sự cô độc để bước vàomột thế giới mới Đầu tiên tôi có cảm giác như lạc lên sao Hỏa nhưng dần dầntôi thoải mái trong thế giới mới này”[17; 537] Trong số các nhà văn Nhật Bảnhiện đại, dù bị xếp vào thế hệ nhà văn “lão thành” sau chiến tranh, nhà văn

“chuyên về văn hoá truyền thống” nhưng Kawabata vẫn chứng tỏ mình là mộtnhà văn cấp tiến, có sự nhạy bén đặc biệt trước các hiện tượng văn hoá và vănchương mới sau chiến tranh Ngay từ những năm đầu thế kỉ XX, Kawabata đãcùng với Yokomitsu Riichi và một số nhà văn khác nổi lên với tên gọi “TrườngShikankaku” Trái với các nhà văn thiên về chính trị, họ chịu ảnh hưởng mạnhbởi những phong trào nghệ thuật hiện đại châu Âu như Chủ nghĩa tương lai, Chủnghĩa biểu hiện, Chủ nghĩa Đađa…

Trong kì Đại hội Văn bút quốc tế được tổ chức tại Tokyo năm 1957,

Kawabata là Chủ tịch của Đại hội và đây là cơ hội để các nhà văn trên khắp thếgiới công nhận nước Nhật Bản với nền văn học mới Dành cho mục tiêu này, ông

đã đi nhiều nước, gặp các nhà văn danh tiếng như T.S.Eliot, F.Mauriac…

Những kĩ thuật văn chương mới học hỏi được từ phương Tây đã được ápdụng trong các tác phẩm của ông Cụ thể, ông đã tiếp xúc với kiểu triển khaitruyện không có cốt truyện, chất hiện thực huyền ảo của phương Tây, cách viếttheo kiểu “dòng ý thức” chịu ảnh hưởng đặc biệt mạnh mẽ của M.Proust,J.Joyce…Điều này đã được phân tích và khẳng định qua rất nhiều bài báo của

các nhà nghiên cúu, trong số ấy có thể kể đến Thuỵ Khuê với bài Từ Murakami

đến Kawabata, Đào Thị Thu Hằng với Kawabata giữa dòng chảy Đông Tây.

Trong số đó, những tư tưởng hiện sinh đã có sự tương đồng khá sâu sắc với

bi kịch đời riêng, với tính cách và với tình thế của một nhà văn hiện đại Và lẽ tất

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w