1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếng cười trong truyện ngắn nguyễn công hoan, vũ trọng phụng, nam cao

102 6,2K 38

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếng cười trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao
Tác giả Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao
Người hướng dẫn Phạm Thị Việt Hà
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 341 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu tiếng cời của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Caotrong thể loại truyện ngắn, chúng tôi muốn góp một tiếng nói xác định nhữnggiá trị, những đóng góp của họ cho văn học ở ph

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

1.2 Cơ sở xã hội của tiếng cời trong truyện ngắn hiện thực phê

phán Việt Nam

15

Trang 2

1.3 Quan niệm nghệ thuật của các tác giả Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và sự chi phối của nó tới tiếng cời trong truyện ngắn

Chơng 3 Tiếng cời trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao nhìn từ góc độ lời văn trào phúng

56

3.2.1 Khái niệm lời trần thuật 573.2.2 Điểm nhìn trần thuật 57

3.2.2.1 Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

58

Trang 3

3.2.2.2 Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn

3.2.4.1 Tu từ từ vựng 763.2.4.2 Tu từ cú pháp 873.2.4.3 Tu từ văn bản 93

3.3.1 Khái niệm lời nhân vật 96

3.3.2.1 Lời đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 973.3.2.2 Lời đối thoại trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng 993.3.2.3 Lời đối thoại trong truyện ngắn Nam Cao 1043.3.3 Lời độc thoại nội tâm 104

3.3.3.1 Lời độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

1.1 Trong sự đa dạng và phong phú của văn học Việt Nam giai đoạn 1930

- 1945, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Caochiếm một vị trí đặc biệt Sự nỗ lực sáng tạo của các cây bút này đã tạo nênnhững thành công cho thể loại truyện ngắn đang trong tiến trình hiện đại hoá

Trang 4

Văn học hiện thực phê phán Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụphê phán, lên án xã hội đơng thời Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, NamCao là ba cây bút tiêu biểu nhất của khuynh hớng văn học này Tuy sắc thái,mức độ khác nhau nhng cả ba đều phê phán, lên án xã hội đơng thời bằng ph-

ơng tiện vô cùng lợi hại: Tiếng cời.

Tìm hiểu tiếng cời của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Caotrong thể loại truyện ngắn, chúng tôi muốn góp một tiếng nói xác định nhữnggiá trị, những đóng góp của họ cho văn học ở phơng diện nghệ thuật tràophúng, đồng thời cũng góp phần đánh giá một trong những giá trị độc đáoquan trọng của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

1.2 Tiếng cời thể hiện trong những sáng tạo nghệ thuật đầy tài năng của các

tác giả Ngời ta thờng gọi Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng là những nhàvăn trào phúng Còn ở Nam Cao, chất trào phúng không phải là một đặc điểmnổi bật nhất, nhng nếu nói tiếng cời là một phơng diện đặc sắc của phong cáchNam Cao thì điều đó là có thật Nam Cao tuy không chuyên về trào phúng nhng

ông có những đóng góp không nhỏ cho nghệ thuật trào phúng Có thể nói nếukhông có tiếng cời của Nam Cao, nghệ thuật trào phúng của văn học thời kỳnày sẽ nghèo đi, bức tranh văn học trào phúng sẽ khuyết một mảng màu Đi vàotìm hiểu tiếng cời trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng,Nam Cao, chúng ta sẽ thấy đợc nét chung và những nét riêng độc đáo của từngtác giả, từ đó góp phần hiểu hơn thế giới nghệ thuật và tài năng của từng nhàvăn

1.3 Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao đều là các tác giả đợc

đa vào giảng dạy trong nhà trờng (Trung học phổ thông và Trung học cơ sở) Vìvậy, đề tài này - nếu đợc thực hiện tốt, sẽ góp phần vào việc giảng dạy trào lu vănhọc hiện thực phê phán trong nhà trờng

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao là ba nhà văn lớn Sựnghiệp văn học của ba cây bút này đã là đề tài cho biết bao công trình nghiêncứu phong phú, đa dạng Chỉ tính riêng những bài viết đề cập đến tiếng cời của

ba tác giả con số cũng đã lên tới trên 100 bài (theo số liệu thống kê của TrầnVăn Hiếu trong công trình “ Ba phong cách trào phúng trong văn học ViệtNam thời kỳ 1930-1945: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao ”[16]) Do phạm vi nghiên cứu của đề tài, dới đây chúng tôi chỉ điểm lại nhữngbài viết đề cập đến tiếng cời của các tác giả ở thể loại truyện ngắn Chúng tôixin tổng hợp lịch sử vấn đề theo từng tác giả

Trang 5

2.1 Về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.

2.1.1 Trớc 1945

Trúc Hà với bài: “Một ngọn bút mới: Ông Nguyễn Công Hoan ” (đăngtrên Nam Phong -1932, in lại trong “Nguyễn Công Hoan- về tác gia và tácphẩm”) đã tỏ ra tinh tế khi nhận ra giọng văn mới mẻ pha chất hài hớc củaNguyễn Công Hoan: “Văn ông Hoan có cái hay, rõ ràng, sáng sủa, thiết thực,hơi văn nhanh gọn Lời văn hàm một giọng trào phúng, lại thờng hay đệm mộtvài câu, hoặc một vài chữ có ý khôi hài, bông lơn, thú vị ” [38,47]

Thiếu Sơn trong “ Phê bình “Kép T Bền” nhận xét: “văn ông Hoan vừavui, vừa hoạt, bao giờ cũng có giọng khôi hài dễ dãi với cách trào phúng sâucay”, “cái đặc sắc của ông Hoan (…) là biết kiếm ra những chuyện tức c) là biết kiếm ra những chuyện tức cời,biết vẽ ngời bằng những nét ngộ nghĩnh thần tình, biết vấn đáp bằng nhữnggiọng hoạt kê lý thú và biết kết cấu thành những tấn bi hài kịch”[38,274-275]

Hải Triều trong bài “Kép T Bền” một tác phẩm thuộc về cái triều lu

“nghệ thuật vị dân sinh” ở nớc ta” đã sắc sảo phát hiện ra ý nghĩa và tác dụngxã hội của tiếng cời trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Nhà phê bình tỏ rarất tinh tế khi cảm thụ nghệ thuật gây cời của nhà văn này: “Với những câuvăn rất thành thực, chắc chắn, hí hớn, ngộ nghĩnh, nhiều khi cục cằn thô bỉnữa chúng ta phải phục Nguyễn Công Hoan là một nhà kể chuyện rất thật và

là một ngời kể chuyện rất có duyên Phần nhiều truyện ngắn của ông linh

động, lại có nhiều cái bất ngờ, làm cho ngời đọc khoái trá vô cùng Nhữngtruyện ngắn của ông tiêu biểu cho thứ văn rất vui (…) là biết kiếm ra những chuyện tức c)” “Tơng lai sẽ cho tabiết ông có thay đổi gì không nhng tôi tin rằng chỉ trong phạm vi tả chân vàtrào lộng, cây bút của Nguyễn Công Hoan mới có thể vững vàng, còn ngoàiphạm vi ấy, tôi e rằng nó sẽ lung lay” [38,63-72]

2.1.2 Sau 1945

Các công trình nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan ngày càng tăng cả về

số lợng và chất lợng Huệ Chi và Phong Lê trong bài viết: “ Vài vấn đề về văn

Trang 6

học sử giai đoạn 1930-1945” nhân đọc cuốn “ Lợc khảo lịch sử văn học ViệtNam ” của nhóm Lê Quý Đôn” cho rằng: tiếng cời Nguyễn Công Hoan “làmột phơng tiện đả kích ( ) nó là tiếng cời sắc nhọn mà có một sức công phámạnh mẽ” (dẫn theo Trần Văn Hiếu) [16,14].

Nguyễn Đăng Mạnh trong “Nhà văn t tởng và phong cách” đa ra nhữngnhận định chính xác và sâu sắc về tiếng cời Nguyễn Công Hoan trong truyệnngắn trào phúng : “Phong cách Nguyễn Công Hoan không thiên về lối thâmtrầm kín đáo Ông thích bốp chát, đánh vỗ ngay vào mặt đối phơng Tiếng cời đảkích của Nguyễn Công Hoan, vì thế, thờng là những đòn đơn giản mà ác liệt( )Thành công của Nguyễn Công Hoan do nhiều nguyên nhân: phơng thức kểtruyện biến hoá, tài vẽ hình, vẽ cảnh sinh động, khả năng dựng đối thoại có kịchtính, dòng kể chuyện tự nhiên, hoạt bát, lối ví von, so sánh, độc đáo, cách chơichữ táo bạo, dí dỏm.vv Nhng về đại thể, bí quyết chủ yếu vẫn là nghệ thuật dẫndắt tình tiết sao cho mâu thuẫn trào phúng, tình thế hài hớc bật ra ở cuối tácphẩm một cách thật đột ngột, bất ngờ” [30, 121-123]

Nguyễn Hoành Khung khẳng định Nguyễn Công Hoan là “ một bậc thầytrong truyện ngắn trớc hết là truyện trào phúng”, “truyện ngắn trào phúngNguyễn Công Hoan là hiện tợng cha có đến hai lần trong văn học Việt Nam( ), tiếng cời trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là tiếng cời hồnnhiên, khoẻ khoắn, mặn mà: Văn truyện Nguyễn Công Hoan là thứ văn của đờisống, rất linh hoạt và đặc biệt là rất vui vẻ Tiếng cời ấy, lối văn ấy là sự kế thừatiếng cời lạc quan, chứa đựng một quan điểm nhân sinh khoẻ mạnh, tích cựctrong truyền thống trào phúng của văn học dân tộc” [ 24,4] Trong “Từ điển vănhọc” (bộ mới) nhà nghiên cứu tái khẳng định: “ Nguyễn Công Hoan có biệt tài

về truyện ngắn trào phúng Đó là bộ phận sáng tác có ý nghĩa nhất định của ông

đối với văn học dân tộc”

Phan Cự Đệ nhận xét: “Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có nhiều nétgần với truyện cời dân gian Nhìn chung, cốt truyện quan trọng hơn tính cáchnhân vật” [ 11,11]

Trong số những nhà nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan, Lê Thị ĐứcHạnh là ngời dành nhiều công sức hơn cả Nhà nghiên cứu nhận xét: “tiếng c-

ời của Nguyễn Công Hoan vừa phong phú, đa dạng, vừa có một bản sắc riêngkhó lẫn với tiếng cời của một nhà văn, nhà thơ nào khác (…) là biết kiếm ra những chuyện tức c) Tiếng cời của

ông có nhiều nhịp độ, cung bậc, lúc thì cời phá lên giòn giã, vui đùa thoải mái,lúc lại châm biếm sâu cay, phũ phàng Thủ pháp gây cời của nhà văn rấtphong phú nhng chủ yếu là cờng điệu, phóng đại mà Nguyễn Công Hoan gọi

Trang 7

là “ nói quá lên một tí” làm cho nhân vật, sự việc trở thành lố bịch, kỳ quặc và

ông thờng dẫn dắt câu chuyện tới chỗ bất ngờ, đột ngột”(in lại trong “NguyễnCông Hoan- về tác gia và tác phẩm”) [38,418]

Trong “Truyện ngắn - Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại” BùiViệt Thắng khẳng định: “Nguyễn Công Hoan tiêu biểu cho một phong cáchtruyện ngắn hài hớc đậm tính chất hiện thực” [49,184]

Với cách tiếp cận thi pháp học, các tác giả Trần Đình Sử, NguyễnThanh Tú trong “Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan” đãnghiên cứu tiếng cời của Nguyễn Công Hoan nh một chỉnh thể nghệ thuật, bắt

đầu từ cái nhìn trong quan niệm nghệ thuật về con ngời, lấy đó làm hệ quychiếu nghiên cứu các hình thức biểu hiện nh cốt truyện, kết cấu, trần thuật, lờivăn [47]

Trần Văn Hiếu trong “Ba phong cách trào phúng trong văn học Việt Namthời kỳ 1930-1945: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao” với cáchtiếp cận phong cách học đã nhận xét về tiếng cời trong truyện ngắn NguyễnCông Hoan là “tiếng cời bốp chát, bạo khoẻ, tinh quái” Tác giả chỉ ra sắc tháitiếng cời của Nguyễn Công Hoan thể hiện ở sở trờng trào phúng và nền tảng t t-ởng nghệ thuật cũng nh những giá trị truyền thống mà nhà văn đã khai thác vàphát huy trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật của mình [16]

2.2.Về truyện ngắn Vũ Trọng Phụng

Nhà văn Vũ Trọng Phụng sáng tác nhiều thể loại: tiểu thuyết, phóng sự,truyện ngắn, kịch Từ trớc tới nay ngời ta tập trung chú ý tìm hiểu, nghiêncứu nhiều nhất các tiểu thuyết nổi tiếng của ông: “Giông tố”, “Số đỏ”, “Vỡ

đê” Các bài viết, các công trình nghiên cứu về truyện ngắn còn rất ít Cha cócông trình chuyên sâu về thể loại truyện ngắn của ông

Truyện ngắnVũ Trọng Phụng không nổi tiếng nh tiểu thuyết và phóng

sự nhng chính thể loại này lại là mối duyên đầu đa ông đến với nghiệp văn.Bạn văn của ông - nhà văn Vũ Bằng đã bày tỏ suy nghĩ của mình khi đọctruyện ngắn “Chống nạng lên đờng” (in trên “Ngọ báo”): “( ) Phải nói rằng

đọc truyện “Chống nạng lên đờng” của Phụng tôi thấy văn anh là trời mà văntôi là vực, và có một lúc tôi đã tự nhủ: “Sao lại có ngời viết truyện ý nhị mà

mê li đến thế” tôi bị Vũ Trọng Phụng chinh phục ngay từ truyện đầu tiên củaanh ( ) Tôi lại phục Vũ Trọng Phụng thêm một tầng nữa vì truyện “Bộ răngvàng” (dẫn theo “ Vũ Trọng Phụng - về tác gia và tác phẩm”) [39,598] LêTràng Kiều kể lại: “Buổi đầu tôi đợc quen biết với ông Vũ Trọng Phụng bằngcâu “Chuyện Ngọ báo”, chuyện lối tả chân, nh các “Mặt trái đời” Ông Vũ

Trang 8

Trọng Phụng viết đâu có vài ba chuyện (…) là biết kiếm ra những chuyện tức c) Tôi phải chú ý đến ông ngay Vìbằng một lối văn rất trôi chảy, gọn ghẽ, rõ ràng, ông kể chuyện có duyên tệ”(dẫn theo “Vũ Trọng Phụng- về tác gia và tác phẩm”) [39,316]

Rõ ràng ngay từ khi mới xuất hiện, truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng đãgây ấn tợng cho độc giả Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong “Lời giới thiệu

“Chống nạng lên đờng” (chùm sáng tác đầu tay mới tìm thấy cuối năm 2000)

kể lại khi đến th viện Berkeley đọc vi phim “Ngọ báo” thấy in truyện “Thủ

đoạn”, tên tác giả kỳ đầu bị in lầm là Nguyễn Trọng Phụng, hai kỳ sau mớichữa là họ Vũ, tên ông chỉ đợc xếp bằng cỡ chữ con ở tận cuối bài (một sự bạc

đãi đối với các cây bút mới), đến truyện “Cô Mai thởng xuân” tên tác giả vẫn

đặt cuối bài bằng cỡ chữ thờng và nhỏ nh thế; nhng chỉ sau đó vài tuần đếntruyện “Một cái chết” thì tên tác giả mới đợc xếp chữ hoa và đặt ngay sau têntruyện (nghĩa là đến đây tên tác giả đã có lợi cho tờ báo và thế là toà báo tìmngay ra cách cho ngời đọc dễ nhận ra tên tác giả) [2,7] Gần đây Lại Nguyên

Ân và Peter Zinoman đã su tầm đợc những tác phẩm khá độc đáo của VũTrọng Phụng mới in một lần trên các báo Hà Nội trớc 1945, cha in sách lầnnào [43], [44] Có nhiều truyện ngắn gần nh thất lạc bản thảo nay mới su tầm

đợc, rất quý Những công trình su tầm ấy là nguồn t liệu quý giá để chúng ta

đợc tiếp cận nhiều hơn với truyện ngắn Vũ Trọng Phụng và tìm hiểu tài năngtrào phúng của ông ở thể loại này

Các bài viết của Lê Thị Đức Hạnh (“ Truyện ngắn và kịch ngắn Vũ TrọngPhụng” - báo “Ngời Hà Nội ” số 127 -18/11/1989 - in lại trong “Vũ Trọng Phụng

về tác gia và tác phẩm”); Nguyễn Thành (“Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng” Tạp chí văn học 6/1995 in lại trong “Vũ Trọng Phụng - về tác gia và tác phẩm”);Tôn Thảo Miên (“ Lời giới thiệu" - truyện ngắn Vũ Trọng Phụng in trong “VũTrọng Phụng toàn tập” Tập 5) đều khẳng định những đóng góp quan trọng củatruyện ngắn Vũ Trọng Phụng về các phơng diện trong đó có nghệ thuật tràophúng

-Lê Thị Đức Hạnh chú ý đến đối tợng đả kích, châm biếm và “ lối viếtgai góc, sắc cạnh, bất kỳ gặp đâu cũng có thể xen ngang, chửi chơi, nói mócnhững gì đáng khinh, đáng ghét, đáng căm hờn là ông không tha [39,35].Nguyễn Thành rút ra nhận xét: “ Khác với “Số đỏ” là một chuỗi cời dài về xãhội “Âu hoá”, tính hài trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng chủ yếu do tác giảlấy từ những nghịch cảnh trong những mối quan hệ nhỏ: quan hệ gia đình; vìvậy, cái hài đôi lúc đi kèm với cái bi” [39,362]

Trang 9

Tôn Thảo Miên khẳng định : “Bằng đôi mắt tinh tờng và khả năng quansát của một “ông vua” phóng sự”, chỉ trong vòng cha đầy mời năm, không kểtiểu thuyết và phóng sự, Vũ Trọng Phụng đã đem đến cho ngời đọc nhiềutruyện ngắn đặc sắc, khẳng định một phong cách trào phúng độc đáo riêng củamình ( ) ấn tợng ông để lại trong lòng độc giả hôm qua và hôm nay khôngchỉ vì ý nghĩa xã hội, vì giá trị nội dung mà điều quan trọng là tài năng độc

đáo trong nghệ thuật trào phúng của ông” [35,8-14]

Trên đây mới chỉ là những nhận xét khái quát Thiết nghĩ cần phải tìmhiểu kỹ hơn tiếng cời trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng để hiểu rõ hơn tàinghệ của cây cời Vũ Trọng Phụng trong “ rừng cời nhiệt đới” (chữ dùng củaVăn Tâm)

2.3 Về truyện ngắn Nam Cao

Trớc năm 1945, truyện ngắn Nam Cao cha đợc chú ý Hầu nh không có

bài nào nghiên cứu sâu về ông Nhng không thể không nói đến bài Tựa “Đôi

lứa xứng đôi” của Lê Văn Trơng Bằng “con mắt xanh” ông đã phát hiện tàinăng của Nam Cao: “Ông đã đem đến cho văn chơng một lối văn mới sâu xa,chua chát và tàn nhẫn của con ngời biết tin ở tài mình, ở thiên chức của mình”,

“ông đã dám bớc chân vào làng văn với những cạnh sắc riêng của mình”[37,493]

Sau năm 1945, cùng với việc su tầm, giới thiệu ngày càng đầy đủ về tácphẩm Nam Cao, các công trình nghiên cứu về nhà văn này cũng ngày thêmphong phú

Nguyễn Đình Thi trong bài viết “Nam Cao” (Báo Văn nghệ, số

35-1952 đăng lại trong “Nam Cao - về tác gia và tác phẩm ”) nhận xét: “VănNam Cao, ngay trong những tác phẩm đầu, đã thực sắc sảo Anh nhìn sâu vào

sự thật một cách sắc cạnh, nhiều khi mỉa mai”[37,46]

Năm 1961 trong cuốn “Nam Cao , nhà văn hiện thực xuất sắc” Hà Minh

Đức đã đa ra nhiều ý kiến xác đáng về tiếng cời Nam Cao : “ Từ những sángtác ở thời kỳ đầu, nghệ thuật châm biếm đã đợc thể hiện trên những trang viếtcủa Nam Cao ( ) Truyện Nam Cao có tiếng cời nhng đó là tiếng cời ra nớcmắt ” [10, 119- 120] Trong một bài viết khác Hà Minh Đức lại khẳng định: “Nam Cao là một nhà văn hiện thực mà chất châm biếm thâm nhập và chi phối

đến chiều sâu của cảm hứng sáng tạo Không có hoặc rất ít có những tiếng cờivui bông phèng, thoả chí ( ) nụ cời và lời châm biếm có nội dung sâu sắc vàhàm ý rõ rệt về t tởng" [11, 39- 40]

Trang 10

Trong bài “ Trào lu chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam từ 1930 1945”, Vũ Đức Phúc có một nhận xét chính xác về Nam Cao: “ ngòi bút hiệnthực hết sức chân thật của Nam Cao đi sâu vào tâm lý nhân vật, kết hợp đợc tínhchất trào phúng một cách chua cay với tính bi kịch có khi đến rùng rợn trongsáng tác về cuộc sống của ngời lao động trong giai đoạn đen tối của xã hội ViệtNam từ 1940-1945 ( ) nhng mặt khác cũng phân tích đợc những nhợc điểm nhỏnhen, ti tiện của họ do sự túng đói gây ra” [ 41,73].

-Trong “Giáo trình lịch sử văn học Việt nam” (1930-1945) - tập 5, phần 2nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung đa ra những nhận xét tinh tế về đặc điểmnổi bật của sáng tác Nam Cao cũng nh những nét riêng của tiếng cời NamCao: “ vừa sắc lạnh gân guốc, vừa chan chứa yêu thơng, vừa tỉnh táo nghiêmngặt, vừa thắm thiết trữ tình, đó là đặc điểm của ngòi bút Nam Cao TrongNam Cao, có tiếng cời trào lộng sắc sảo, lại có tiếng khóc thơng nghẹn ngào( ) đó là tiếng cời và tiếng khóc trong cùng một tâm hồn phẫn uất, yêu thơngnhng bế tắc Tâm hồn đó tạo nên phong cách đó” [23,97]

Bàn về chất giọng Nam Cao, giáo s Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét:

“Nam Cao ghét cay, ghét đắng những thói phàm tục tiểu t sản đặc biệt là lốisống nhỏ nhen ích kỷ, tính giả dối và thái độ hèn nhát Mỗi truyện ngắn của

ông viết về tiểu t sản là một cuộc phân tích, chế giễu cay độc những thói xấu

ấy ( ) tình trạng bế tắc ấy đã đem đến cho Nam Cao những giọng văn riêng,vừa cay đắng, chua chát, lại pha lối tự trào cời ra nớc mắt” (dẫn theo Trần VănHiếu) [16,22]

Nhà nghiên cứu Phong Lê cho rằng : “Có thể nói đến sự suy nghiệm vàtriết lý nh là một giọng điệu riêng ở Nam Cao Giọng điệu đó hiện lên trên tấtcả các trang viết của ông ( ) một giọng điệu vừa triết lý vừa trữ tình, chua chát

mà hài hớc, cô đọng mà biến hoá, căng thẳng mà lắng dịu” [ 28, 43- 51]

Năm 1992 , cuốn “ Nghĩ tiếp về Nam Cao” ra đời nh một bổ sung quantrọng trong lịch sử nghiên cứu về nhà văn Nam Cao Giáo s Phong Lê trong

“Lời bạt” của cuốn sách này tiếp tục khẳng định: “ở văn Nam Cao gần nh có

đủ chất liệu : hài và bi, trào phúng và chính luận, triết lý và trữ tình Nghịch dị

và nhàm tẻ, thô thám và chất thơ” [36, 272]

Lê Thị Đức Hạnh trong bài viết “ Chất hài trong truyện ngắn Nam Cao”

(Tạp chí Tác phẩm mới, số 3-1993, in lại trong “Nam Cao - về tác gia và tác

phẩm”) nhận xét: “Tuy không phải là đặc điểm phổ biến nổi đậm nh chất triết

lý, nhng chất hài ở ngòi bút Nam Cao đợc biểu hiện kín đáo, có khi thấy ở từngtruyện, từng ý hoặc qua những hình ảnh, câu chữ…) là biết kiếm ra những chuyện tức cvới một sắc thái riêng, là

Trang 11

một trong những nét góp phần tạo nên sự độc đáo của truyện ngắn Nam Cao”;

“Có thể nói ở Nam Cao sự suy ngẫm và triết lý đợc tạo thêm chất hài, và cái hàimang chất triết lý tạo thành giọng điệu riêng, khiến cho truyện ngắn Nam Caotrở nên độc đáo hơn, hấp dẫn hơn, dễ đi vào lòng ngời hơn” ở bài viết này nhànghiên cứu có nhắc đến lời của nhà văn Kim Lân trong Hội thảo nhân 40 nămngày mất của nhà văn Nam Cao, đại ý: nói đến Nam Cao mà không nói đếnchất hài thì không còn là Nam Cao [37,416-422]

Năm 1998, giáo s Hà Minh Đức cho in cuốn “Nam Cao - Đời văn và tácphẩm” [10] Tiếp đó là cuốn “Nam Cao về tác gia và tác phẩm” của Bích Thu( biên soạn và tuyển chọn) cũng ra đời [37] Có thể xem đây là những côngtrình mới nhất về Nam Cao ở quy mô đầu sách

Cho đến nay sự nghiệp văn học của Nam Cao vẫn tiếp tục thu hút sựchú ý của giới phê bình và nghiên cứu văn học

2.4 Có thể là cha bao quát đợc đầy đủ nhng qua sự điểm lại những công trình

nghiên cứu về truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, NamCao chúng tôi nhận thấy ở các mức độ khác nhau, các bài viết, các công trình

đều đóng góp những ý kiến chính xác về tiếng cời của ba nhà văn Song hầuhết họ chỉ bàn riêng về từng tác giả, với sự phân tích một số khía cạnh cơ bảncủa nghệ thuật trào phúng trong sáng tác của mỗi ngời Sự so sánh tiếng cờicủa ba cây bút đã đợc đề cập đến nhng mới chỉ là những nhận xét khái quát

Đó là các bài viết: “Vũ Trọng Phụng trong rừng cời nhiệt đới” (Văn Tâm [39];

“Đọc lại truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan” (Nguyễn ĐăngMạnh ) [30]; “Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn CôngHoan” (Lê Thị Đức Hạnh - “Nguyễn Công Hoan 1903-1977”) [14]; “Trào luhiện thực chủ nghĩa trong văn học hiện thực Việt Nam từ 1930-1945” ( Vũ

Đức Phúc ) [4] Gần đây nhất là công trình “Ba phong cách trào phúng trongvăn học Việt Nam thời kỳ 1935 -1945” của Trần Văn Hiếu [16] Công trìnhnày đã tiến hành nghiên cứu phong cách trào phúng của Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng , Nam Cao trong quan hệ đối sánh một cách toàn diện, trựctiếp, tỷ mỉ và có hệ thống Về Nguyễn Công Hoan, Trần Văn Hiếu nghiên cứuthể loại truyện ngắn; về Vũ Trọng Phụng, ông chọn tiểu thuyết “Số đỏ” còn ởNam Cao, tác giả đi vào khảo sát tiểu thuyết “Sống mòn” và một số truyệnngắn ( nhng “Sống mòn” vẫn là đối tợng chính)

Những ý kiến trên đây sẽ là những gợi dẫn vô cùng quý báu cho chúng tôitrong quá trình tiến hành đề tài này Hy vọng công trình sẽ góp thêm một tiếng

Trang 12

nói nhỏ cho việc khẳng định thành tựu phong phú đa dạng trong nghệ thuật tràophúng của ba tác giả tiêu biểu của văn xuôi hiện thực thời kỳ 1930-1945.

3 Nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

Đề tài đi vào tìm hiểu tiếng cời trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, VũTrọng Phụng, Nam Cao để thấy đợc đây là yếu tố đặc sắc tạo phong cách tácgiả

Từ quan niệm nghệ thuật về con ngời của các nhà văn Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng, Nam Cao luận văn đi vào khảo sát tiếng cời từ các góc độ:Tình huống trào phúng, nhân vật trào phúng, lời văn trào phúng Qua đó thấy đợcnghệ thuật tạo dựng tiếng cời của mỗi nhà văn ở thể loại truyện ngắn

Từ sự phân tích cụ thể kết hợp với cái nhìn so sánh, đối chiếu luận văn chỉ

ra những điểm tơng đồng và những nét độc đáo của các tác giả

5 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn đi vào tìm hiểu tiếng cời của các tác giả Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng, Nam Cao ở thể loại truyện ngắn với các yếu tố tạo nên tiếngcời bằng sự phân tích cụ thể, có hệ thống trong quan hệ đối sánh

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn đợc triển khai trong 3 chơng:

Chơng 1 Một cái nhìn chung về tiếng cời trong truyện ngắn hiện thực

phê phán Việt Nam

Chơng 2 Tiếng cời trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng,

Nam Cao - nhìn từ góc độ tình huống và nhân vật trào phúng

Chơng 3 Tiếng cời trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan,Vũ Trọng

Phụng, Nam Cao - nhìn từ góc độ lời văn trào phúng

Trang 13

Chơng 1

một cái nhìn chung về tiếng cời trong truyện ngắn hiện thực phê phán việt nam

1.1.Khái niệm tiếng cời

“Từ điển tiếng Việt” định nghĩa về tiếng cời: 1, Cử động môi hoặcmiệng, đồng thời phát thành tiếng biểu lộ sự thích thú hoặc thái độ tình cảmnào đó 2, Tỏ ý chê bai bằng những lời có kèm theo tiếng cời hoặc có thể gâycời chế nhạo [40, 224]

Tiếng cời là một trạng thái tình cảm, cảm xúc của con ngời, là đặc tínhvốn có của đời sống thực tại: mọi lúc, mọi nơi đều đầy rẫy những cái có thểgây cời Tuy nhiên tiếng cời chỉ bộc lộ khi chủ thể phát hiện ra đối tợng gây c-

ời ấy; tiếng cời nổ ra nh là dấu hiệu của quan hệ “suồng sã” với đối tợng Nói

về giá trị và chức năng của tiếng cời, Bakhtin nhận xét: “Tiếng cời có một sứcmạnh tuyệt vời kéo đối tợng lại gần, tiếng cời lôi cuốn đối tợng vào khu vựctiếp xúc thân mật đến thô bạo, ở đó có thể suồng sã sờ mó nó từ tất cả mọiphía, lật ngửa, lộn trái, nhòm ngó, từ dới và từ trên, đập vỡ vỏ ngoài để nhìnvào bên trong, hồ nghi, phân tích, chia cắt, bóc trần nghiên cứu và thử nghiệmmột cách tự do Tiếng cời xoá bỏ nỗi sợ hãi và thái độ tôn kính trớc khách thể,trớc thế giới, biến nó thành đối tợng của sự tiếp xúc thân mật và bằng cách đóchuẩn bị cho việc nghiên cứu nó một cách hoàn toàn tự do Tiếng cời là nhân tốcơ bản nhất tạo ra thái độ không biết sợ, mà không có tiền đề ấy thì không thểchiếm lĩnh thế giới hiện thực” [4, 50- 51]

Trong văn học, tiếng cời gắn liền với phạm trù cái hài- phạm trù mỹ họcphản ánh một hiện tợng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ratiếng cời ở những cung bậc và sắc thái khác nhau

Cái hài đợc mỹ học Châu âu tìm hiểu từ rất sớm, thu hút sự lý giải củanhiều học giả cho đến tận thế kỷ XX Trong lịch sử t tởng mỹ học cái hài đợcnhận định nh là kết quả của sự tơng phản, sự bất đồng, sự mâu thuẫn giữa: xấu

và đẹp (theo Arixtốt), giữa cái quan trọng giả và quan trọng thật (theoHêghen), cái nhỏ nhặt và cái cao cả (theo Kant), cái vô nghĩa lý và cái hữu lý(Jean Paul), [3,31] Việc tìm hiểu cái hài, thể hiện nguyện vọng khám phábản chất của một kiểu quan hệ đặc thù của con ngời đối với thế giới, một hìnhthức độc đáo của nhận thức và đánh giá hiện thực

Cái hài thờng gắn với tiếng cời Không thể hình dung cái hài nếu thiếutiếng cời Song không phải tiếng cời nào cũng mang tính hài Khi bị cù, khitrong lòng cảm thấy sung sớng, thoả mãn, ngời ta có thể cời, nhng đó là cái c-

Trang 14

ời thiên về bản năng, sinh lý Tiếng cời mang tính hài đòi hỏi trớc hết phải cómột đối tợng cời, tức là cái có thể gây cời và bị cời “Cái hài là sự mâu thuẫn,

sự không tơng xứng mà ngời ta có thể cảm nhận đợc về phơng diện xã hội thẩm mỹ (chẳng hạn giữa hình thức với nội dung, hành động với tình huống,mục đích và phơng tiện, bản chất và biểu hiện) Trong đó, hoặc là chính bảnthân mâu thuẫn hoặc là một trong những mặt của nó đối lập với những lý tởngthẩm mỹ cao đẹp” [13,30]

-Có cái có thể gây cời rồi (đối tợng) lại còn phải có chủ thể cời Đây làmặt thứ hai - mặt chủ quan - của cái hài, không có nó, không có cái hài Bảnthân đối tợng cời không thể gây nên tiếng cời nếu chủ thể không nhận thức đ-

ợc những mâu thuẫn chứa đựng trong nó đặc điểm của nhận thức gắn vớitiếng cời là sự khám phá một số loại mâu thuẫn nào đó trong sự vật, hiện tợng

và quan sát chúng ở một bình diện khác, từ một phía khác, từ góc độ của cáibuồn cời Xét theo phép biện chứng, điều nay có ý nghĩa rất quan trọng.Platon đã từng viết: “Trong thực tế, không thể nhận thức đợc cái nghiêm chỉnhnếu thiếu cái buồn cời, và nói chung, cái đối lập đợc nhận thức nhờ cái đối lậpvới nó”

Đồng thời tiếng cời trong cái hài cũng mang khuynh hớng xã hội, thểhiện không chỉ nhận thức mà còn cả thái độ Cời là một hình thức chế ngự cáixấu Dám cời cái xấu tức là dám tin, tự khẳng định sự tốt đẹp của mình hoặc ít

ra thì cũng là tự thừa nhận ngầm rằng cái xấu là xấu, là đáng ghét, đáng cời.Cái hài là một hình thức đánh giá, thể hiện trình độ con ngời làm chủ đối tợng,làm chủ bản thân mình “Khi cời cái xấu, chúng ta trở nên cao hơn nó” (Secn-sepxki).Tiếng cời chân chính bởi vậy là “vũ khí của ngời mạnh” (Guranhich),

nó thể hiện chính nghĩa và hớng về tơng lai

Cái hài bao hàm một ý nghĩa xã hội gắn liền với sự khẳng định lý tởngthẩm mỹ cao cả Nó là sự phê phán mang tính cảm xúc sáng tạo tích cực, và

có sức công phá mạnh mẽ đối với những cái xấu xa lỗi thời Sức mạnh phêphán của nó vừa có tính phủ định lại vừa mang ý nghĩa khẳng định Nhândanh cái cao đẹp nó phủ định cái lỗi thời, xấu xa

Trong văn học tiếng cời thờng có nhiều cung bậc và mang những sắcthái khác nhau Ngời ta thờng coi u mua, hài hớc là cung bậc đầu tiên và châmbiếm là cung bậc cuối cùng Trong u mua, phép biện chứng của trí tởng tợngphóng khoáng hé mở cho ta thấy đằng sau cái tầm thờng là cái cao quý, sau cáibuồn cời là nỗi đau Hài hớc có mức độ phê phán nhẹ nhàng, chủ yếu gây cờimua vui, trên cơ sở vạch ra sự mất hài hoà, cân đối giữa nội dung và hình thức,

Trang 15

bản chất và hiện tợng đặc biệt là lý tởng và thực tế Hài hớc khéo léo nhẹ nhàngvạch ra các mâu thuẫn, tạo ra tiếng cời bất ngờ, giúp ngời ta nhận ra sự trớ trêucủa tình huống, mỉm cời mà phân biệt đúng sai.

Trái lại, trong châm biếm, đối tợng của tiếng cời là thói h tật xấu nên nổibật lên là cái giọng đả kích, phủ định, tố cáo; dùng lời lẽ sắc sảo, cay độc, thâmthuý để vạch trần thực chất xấu xa của những đối tợng và hiện tợng này hayhiện tợng khác trong xã hội Châm biếm khác với u mua, hài hớc ở mức độ gaygắt của sự phê phán và ý nghĩa sâu sắc của hình tợng nghệ thuật Về phơng diệnxã hội, phần lớn những tác phẩm châm biếm thờng chĩa mũi nhọn vào kẻ thùcủa nhân dân, của t tởng tiến bộ trong lịch sử

Đối với cái hài, dù ở cung bậc nào tiếng cời cũng cần có ba yếu tố tạothành sau đây: Một là bản chất mang tính hài của đối tợng mà ai cũng dễ dàngcảm nhận đợc Đây là yếu tố cơ bản Hai là, sự cờng điệu những đờng nét kíchthớc và những liên hệ của chúng trong việc mô tả đối tợng Ba là sự sắc bén, ýnhị, hóm hỉnh của ngời thể hiện nhằm làm tăng thêm hiệu quả của tiếng cời

Tiếng cời còn mang nhiều sắc thái cung bậc phong phú, đa dạng: cờikhinh bỉ, cời thiện cảm, cời nghiêm khắc, cời chua chát, v.v…) là biết kiếm ra những chuyện tức cCó hàng loạtbiện pháp nghệ thuật gắn với cái hài: tính cách hài, tình huống hài, cờng điệu,nhấn mạnh, nhại, biếm hoạ, biến dạng nghịch dị, tự tố cáo và tố cáo nhau(giữa các nhân vật), các phơng tiện ngôn ngữ (chơi chữ, tơng phản,…) là biết kiếm ra những chuyện tức c)

Tiếng cời có vị trí rất quan trọng, bởi vì tiếng cời xuất phát từ nhận thức

và đánh giá đối tợng sẽ đem lại niềm vui , sự sảng khoái và do đó, cũng là sứckhoẻ cho con ngời Tiếng cời thể hiện sự thông minh, sức mạnh và phẩm chấtcủa con ngời Quan trọng hơn nữa tiếng cời còn là một vũ khí phê phán cácthói h, tật xấu và đáu tranh chống lại các lực lợng phản động, phản nhân dân.Trong hoàn cảnh đất nớc có giặc ngoại xâm, tiếng cời chủ yếu chĩa mũi nhọnvào bọn thực dân cớp nớc, bọn phong kiến bán nớc và phản ánh nhân tình thếthái của xã hội đơng thời

“Cời là đặc tính của con ngời” (Rabơle) Nhng mỗi dân tộc lại có vănhoá cời riêng của mình Văn học dân tộc chính là nơi thể hiện đầy đủ nhất, tậptrung nhất văn hoá cời, bản sắc của dân tộc đó ở mỗi thời đại, mỗi giai đoạnlịch sử tuỳ vào tình hình xã hội, nhiệm vụ lịch sử cụ thể mà tiếng c ời lại pháthuy vai trò, sức mạnh của nó nhằm “tiễn đa tất cả những gì lỗi thời đi vào v-

ơng quốc của bóng tối” (Sêdrin)

1.2 Cơ sở xã hội của tiếng cời trong truyện ngắn hiện thực phê phán Việt Nam

Trang 16

Tìm hiểu tính cách ngời Việt, các nhà nghiên cứu có nhận xét: Hài hớc,hóm hỉnh, hay cời, thích cời là một đặc điểm của ngời Việt Nam Ngời ViệtNam rất biết cời và dùng cái cời của mình rất đúng chỗ Văn học Việt Namkhông bao giờ thiếu vắng tiếng cời.

Trong văn học dân gian tiếng cời râm ran trong ca dao, các truyệntrạng, ở văn học viết dờng nh thời kỳ nào thơ văn trào phúng cũng xuất hiệnsong phát triển mạnh hơn cả có lẽ hai thời kỳ: cuối thời trung đại với nhữngtác giả tiêu biểu: Nguyễn Khuyến, Tú Xơng và thời kỳ 1930-1945 Tiếng cời

đi vào các tác phẩm hiện thực phê phán hầu nh thuộc tất cả các thể loại: kịch,thơ, văn xuôi, nhất là ở văn xuôi với tên tuổi của Nguyễn Công Hoan, VũTrọng Phụng, Nam Cao C.Mác: “ Giai đoạn cuối cùng của một hình tháilịch sử toàn thế giới là tấn hài kịch của nó” Con ngời “đa đám” một hình tháixã hội bằng những tiếng cời muôn vẻ Cái đám ma ấy là một tấn hài kịch, làtấn trò đời, một hiện tợng tất yếu đánh dấu một bớc chuyển tiếp nhất định củalịch sử Khi văn học dùng tiếng cời để “đa đám” một chế độ là văn học đangphát huy “ vũ khí của ngời mạnh” (Guranhich), đang làm một nhiệm vụnghiêm túc đối với lịch sử phát triển xã hội Từ đó ta sẽ thấy tiếng cời xuấthiện nhiều nhất ở những giai đoạn nào

Xã hội Việt Nam từ đầu thế kỷ XX - 1945 có nhiều biến động dữ dội.Những cuộc khai thác thuộc địa, những chính sách cai trị tàn bạo, dã man củathực dân Pháp đã đẩy nhân dân ta lún sâu vào cảnh bần cùng Trớc sự xâm lấn

ồ ạt của văn minh phơng Tây nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc bịphá vỡ; cái mới cha định hình theo chiều hớng tốt đẹp còn cái cũ đã bị lunglay rệu rã

Trong lúc nhân dân lao động bị bóc lột đến xơng tuỷ, bị đẩy vào cảnhbần cùng hoá, lu manh hoá thì quan lại và t sản giàu sụ lên một cách bấtchính, sống một cuộc đời cực kỳ xa hoa, dâm đãng, bọn thực dân lại khuyếnkhích lối sống ăn chơi sa đoạ nhằm âm mu phục vụ chính sách ngu dân vàtruỵ lạc hoá thanh niên ở các thành thị Những tiệm hút, nhà chứa, sòng bạcmọc lên nh nấm Cha bao giờ trên đất nớc này cuộc sống phồn hoa giả dối lại

đầy rẫy những lố lăng, kệch cỡm, xấu xa đến nh vậy Những kẻ lắm tiền thì

độc ác, tham lam Những ngời nông dân lao động thì vẫn đói khổ, bị đày đoạ

đến cùng cực cả về thể xác lẫn tinh thần Bao nhiêu cảnh đời đau khổ, tráingang đang phải gánh chịu những đè nén áp bức bất công Xã hội thực dânphong kiến ở nông thôn cũng nh ở thành thị ngày càng bộc lộ những ung nhọt

đang tấy lên trầm trọng không thể nào che dấu đợc, càng che đậy lại càng lộ

Trang 17

ra những xấu xa đê tiện Trong cái xã hội thực dân phong kiến trớc Cách mạngtháng Tám, không thiếu gì những cái xấu xa, giả dối, kệch cỡm, đáng khôihài Nói nh Nguyễn Công Hoan: đối tợng để trào phúng thì “vô thiên lủng”, và

ai không cời là “lãng phí quá mức sự đúng đắn không cần thiết”

“Một giai cấp sắp rời vũ đài lịch sử bao giờ cũng tự nó diễn lấy vở hài kịchcủa chính bản thân nó” (C.Mác) Giai cấp thống trị thờng tìm cách che dấu sựthật nhng càng che dấu bản chất xấu xa của nó lại càng lộ ra một cách trângtráo Bản thân cái xã hội thuộc địa nửa phong kiến đầy rẫy mâu thuẫn, thối nátvốn đã rất trào phúng rồi Song phải có sự nhạy bén đặc biệt của ngời nghệ sĩtrào phúng thì mới tạo nên đợc những tấn trò nghệ thuật đặc sắc, sinh động

Những tiền đề ấy đã làm xuất hiện trên văn đàn công khai một dòng vănhọc hiện thực phê phán với cảm hứng chủ đạo: sự miêu tả có tính chất phê

phán xã hội lúc bấy giờ Các nhà văn hiện thực tiếp cận với những hiện tợng

đời sống không phải nh một ngời ghi chép thụ động dửng dng mà với ý thứcchủ động khám phá Với cảm quan hiện thực nhạy bén, sâu sắc họ đã lột trầnnhững cái xấu xa của xã hội với những mâu thuẫn đáng cời, những mặt tráicủa xã hội bằng tiếng cời trào phúng Cảm quan trào phúng của các cây búthiện thực đã bắt rễ sâu trên mảnh đất thực tế xã hội Việt Nam đơng thời Vớicảm hứng châm biếm, đả kích các nhà văn đã dùng tiếng cời để vạch trầnnhững mặt trái, những mâu thuẫn trong xã hội Các ngòi bút hiện thực a khámphá, mổ xẻ đã thực sự phát huy sức mạnh của tiếng cời trong văn học Với ph-

ơng thức tự sự chứa đựng dung lợng phản ánh lớn, tiếng cời đã rộ lên trongvăn xuôi hiện thực Nó đợc sử dụng nh một phơng tiện nghệ thuật hữu ích,một vũ khí chống lại kẻ thù để tống tiễn, đấu tranh, loại bỏ những cái xấunhằm hớng tới những điều tốt đẹp hơn Tiếng cời đã cất lên từ những trang văncủa Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Đồ Phồn, Tam Lang, Ngô Tất Tố,Phùng Tất Đắc, Bùi Hiển, Tô Hoài, Nam Cao

Trần Văn Hiếu cho rằng: “Những cây cời này xét ở cờng độ, cung bậc

và sắc thái có thể chia làm hai dòng chính: dòng tả thực gồm các cây bút tiêubiểu: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Đồ Phồn (ngời ta gọi các ông lànhững nhà văn trào phúng) và dòng trữ tình gồm: Tô Hoài, Bùi Hiển, NamCao” [16] Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao là ba nhà văn tiêubiểu hơn cả cho hai dòng phong cách trên thuộc trào lu văn học hiện thực phêphán ở nớc ta: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng tiêu biểu cho dòng tảthực, Nam Cao tiêu biểu cho dòng trữ tình Truyện ngắn là thể loại thể hiện rõtài năng của các cây bút này, ở đó giá trị của tiếng cời đợc phát huy mạnh mẽ

Trang 18

1.3 Quan niệm nghệ thuật của các tác giả Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và sự chi phối của nó tới tiếng cời trong truyện ngắn

1.3.1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật

“Quan niệm nghệ thuật là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con ngời vốn

có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó có khả năng thể hiện đời sốngvới một chiều sâu nào đó” [13,184] Quan niệm nghệ thuật thể hiện tầm lýgiải, tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của chủ thể

Nó là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìmtrong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phơng pháp sáng tác,phong cách nghệ thuật và làm thành thớc đo của hình thức văn học và cơ sởcủa t duy nghệ thuật Mỗi nhà văn lớn đều có một quan niệm nghệ thuật riêng.Quan niệm này sẽ chi phối quá trình sáng tác và là cơ sở để tạo nên t duy nghệthuật

Hạt nhân của quan niệm nghệ thuật là quan niệm nghệ thuật về con

ng-ời bởi vì dù nhà văn có miêu tả khía cạnh nào của thế giới tựu trung lại cũng

đều là nói tới con ngời Quan niệm nghệ thuật về con ngời là sự lí giải, cắtnghĩa, sự cảm thấy con ngời đã đợc hoá thân thành các nguyên tắc, phơngtiện, biện pháp, hình thức thể hiện con ngời trong văn học, tạo nên giá trị nghệthuật và thẩm mỹ cho các hình tợng nhân vật trong đó Nó luôn hớng vào conngời trong mọi chiều sâu có thể có, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất

để đánh giá giá trị nhân văn của một hiện tợng văn học Nghệ sỹ đích thực làngời suy nghĩ về con ngời, nêu ra những t tởng mới để hiểu về con ngời Do

đó việc đi sâu khám phá quan niệm nghệ thuật về con ngời là đi sâu vào thựcchất sáng tạo của họ, đánh giá đúng thành tựu, đóng góp của họ đối với sựphát triển của văn học Quan niệm nghệ thuật về con ngời biểu hiện trong toàn

bộ tác phẩm nhng biểu hiện tập trung trớc hết ở các nhân vật, bởi “nhân vậtvăn học là con ngời đợc miêu tả thể hiện trong tác phẩm bằng phơng tiện vănhọc” [29,277] Nhân vật văn học nào cũng biểu hiện cách hiểu của nhà văn vềcon ngời theo một quan điểm nhất định và qua các đặc điểm mà anh ta lựachọn Nhân vật văn học chính là mô hình về con ngời, tuy nhiên cũng cần phảithấy rằng quan niệm nghệ thuật về con ngời và nhân vật không phải là một,khái niệm quan niệm nghệ thuật về con ngời bao quát hơn khái niệm nhân vật,nhân vật chỉ là biểu hiện cụ thể của quan niệm ấy

Đi sâu chiếm lĩnh giá trị nghệ thuật của một tác phẩm văn học, trớc hết

là phải đi tìm quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con ngời của ngời nghệ sĩ

Trang 19

đã tạo ra tác phẩm văn học ấy Khám phá quan niệm nghệ thuật nghĩa là đitìm cách cắt nghĩa về con ngời ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật Do vậy,nếu bỏ qua quan niệm nghệ thuật về con ngời sẽ dẫn đến hiểu giản đơn bảnchất phản ánh của văn học Sẽ rất khó khăn trong việc đánh giá tiếp cận vănhọc nếu ta không đi từ quan niệm nghệ thuật của nhà văn Bởi quan niệm nghệthuật về con ngời là yếu tố cơ bản then chốt nhất của một chỉnh thể nghệthuật, chi phối toàn bộ tính độc đáo và hệ thống nghệ thuật của chỉnh thể ấy.Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật “giúp ta thâm nhập vào cơ chế t duy của vănhọc, khám phá quy luật vận động, phát triển của hình thức (thể loại phongcách) văn học Đó chính là nội dung ẩn chứa bên trong mọi yếu tố hình thứcvăn học, phân biệt với nội dung cụ thể mà mỗi tác phẩm biểu hiện” [48,82].

Lịch sử văn học nhân loại là lịch sử luôn luôn đổi thay quan niệm nghệthuật về con ngời Mỗi thời đại , mỗi trào lu văn học có quan niệm nghệ thuậtriêng về con ngời Sự đổi mới và đa dạng của văn học trớc hết là đổi mới và đadạng trong quan niệm nghệ thuật về con ngời Tìm hiểu văn học hiện thực phêphán ta thấy trào lu văn học này nhìn xã hội trong quan hệ với số phận và ứng

xử cá nhân Hoàn cảnh là đối tợng quan tâm chính của nó nhng con ngời vẫn

là điểm tựa để nhìn vào hoàn cảnh Văn học hiện thực xem con ngời là sảnphẩm của hoàn cảnh, là tiêu bản của hoàn cảnh Mổ xẻ con ngời là khám phátác động hoàn cảnh lên con ngời Đó là quan niệm mới về con ngời, khác vớiquan niệm con ngời là kẻ mang đạo lí chống lại kẻ vô đạo, là anh hùng thaytrời hành đạo trong văn học trung đại Trong khi khám phá xã hội, thể hiệncon ngời, các nhà văn hiện thực nhìn con ngời một cách hiện thực - con ngờixã hội với những mối quan hệ với hoàn cảnh, môi trờng sống Bằng cảm hứngphân tích, phê phán và bút pháp miêu tả độc đáo, văn học hiện thực phê phánViệt Nam nói chung, truyện ngắn hiện thực phê phán nói riêng đã phát hiện,khám phá con ngời từ nhiều phơng diện trong đó có mặt xấu, có sự tha hoá.Hiểu quan niệm nghệ thuật của các nhà văn hiện thực phê phán là cơ sở để tìmhiểu đặc điểm tiếng cời của mỗi nhà văn Thực tế trong sáng tác của họ bêncạnh cảm quan chung của khuynh hớng hiện thực phê phán, mỗi nhà văn còn

có một cái nhìn riêng về xã hội và con ngời.Chính quan niệm ấy là hạt nhâncủa t duy nghệ thuật, là nhân tố chính để tạo tiếng cời Mỗi ngời có một cáchcời riêng, sở trờng riêng trong nghệ thuật trào phúng xét đến cùng là do quanniệm nghệ thuật chi phối

Hiểu quan niệm nghệ thuật của các nhà văn hiện thực là cơ sở để tìmhiểu đặc điểm tiếng cời của mỗi nhà văn

Trang 20

1.3.2 Mối quan hệ giữa quan niệm nghệ thuật và tiếng cời trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Ngay từ nhỏ nhà văn Nguyễn Công Hoan đã có khiếu hài hớc, tính hay đùanghịch, chế giễu Ông sinh trởng trong một gia đình phong kiến vì chế độ đổi thaynên suy tàn, lép vế; có một quãng đời tuổi thơ sớm đợc tiếp xúc với cảnh ngangtrái của xã hội Điều ấy in dấu ấn khá đậm đến nếp nghĩ, nếp làm sau này của ông.Lớn lên ông làm nghề dạy học - “một nghề bị bạc đãi”, viết văn - “một nghề bịtình nghi” Sự đụng chạm với các tầng lớp nhà giàu ở thành thị, sự giao thiệp vớicác tầng lớp nhà nghèo ở nông thôn, những việc mắt thấy tai nghe ở cửa quyềnlàm cho ông hiểu biết rộng rãi về trờng đời ấn tợng tuổi thơ, ảnh hởng của gia

đình, xã hội và nghề nghiệp đã góp phần hình thành nên quan niệm nghệ thuật củanhà văn

Nguyễn Công Hoan là một trong số những nhà văn hiện thực phê phán đãdũng cảm dùng ngòi bút của mình phơi bày những thối nát, xấu xa của cả một xãhội Phần lớn truyện ngắn của ông tập trung đả kích bọn thực dân, phong kiến.Những trang viết của ông đã phanh phui, lật tẩy, lên án mặt trái của xã hội Cái

“nhìn đế quốc phong kiến, t sản bằng con mắt thù” của nhà văn đã góp phần quyết

định những sáng tác này Thù địch với thực dân phong kiến nhng cha đợc tiếp thumột ánh sáng lý tởng tiến bộ, nhà văn đâm ra “bi quan đối với thời cục, hằn học

đối với chế độ, hoài nghi đối với nhân tâm” Trong “Đời viết văn của tôi” nhàvăn tâm sự: “Tôi là ngời bi quan, hoài nghi nên khinh thế ngạo vật, hay đùa vàchế nhạo Sống dới chế độ thực dân, tôi thấy cái gì cũng là giả dối, lừa bịp

đáng khôi hài Thế mà thằng làm trò khôi hài là thằng thực dân lại làm ra mặtnghiêm chỉnh Thật là buồn cời Cho nên tôi hay chế giễu mỉa mai để khôi hàitác giả việc khôi hài Tôi coi thờng tất cả Tất cả đối với tôi chỉ là trò cời Vìvậy tôi hay pha trò cời (…) là biết kiếm ra những chuyện tức c) cái giọng nói thờng của tôi thờng là trào phúng vàhài hớc”[18,367]

Với cái nhìn nh vậy, tác giả đã hớng tiếng cời của mình vào những hiệntợng ngợc đời, trái khoáy trong xã hội Trớc hết là xã hội thực dân t sản và sau

là những kẻ đã bị xã hội ấy làm cho méo mó, tha hoá, vật hoá đến phi lý Nhàvăn đã nhìn ra một “thế giới bị lộn trái” dới góc độ hài kịch

Nguyễn Công Hoan nhìn đời là một sân khấu hài kịch Xã hội thực dânphong kiến tất cả đối với ông từ đạo lý, công lý, lòng thơng, tình phụ tử, nghĩa

vợ chồng đều trở thành trò hề Nhà văn đã sáng tạo ra biết bao trò hề lớn nhỏ

Trang 21

trong tác phẩm Nhà nớc diễn trò mỵ dân (“Đào kép mới”, “Tinh thần thểdục”) Quan lại làm trò công minh (“ Thật là phúc”) Đàn bà diễn trò tiết hạnh(“Một tấm gơng sáng”) Con cái diễn trò báo hiếu (“ Báo hiếu: trả nghĩa cha”,

“ Báo hiếu: trả nghĩa mẹ”) Kẻ giàu có, quyền thế chơi trò lờng gạt (“ Hé !

hé ! hé”) Trò ăn xin (“Cái vốn để sinh nhai”) Trò nữ công (“Danh lợi lỡngtoàn”) Trò ăn cắp (“ Cụ Chánh Bá mất giày ”, “Đồng hào có ma”) Trò tự tử(“Tôi tự tử”) Thật là cả một thế giới làm trò Làm trò là một trạng thái khôngthật của con ngời Khi mọi ngời đều đóng trò thì ta có một xã hội giả dối,

đánh mất bản chất thật của con ngời

“Chính từ những trò hề trên sân khấu cuộc đời ấy mà toát lên bản chấtthực của những kẻ diễn trò, toát ra “sự trống rỗng và sự vô nghĩa đợc che đậybằng cái vỏ huyênh hoang hào nhoáng, tự cho rằng có nội dung và ý nghĩathực sự” (Tsecnsepxki) ở đây là nội dung đạo đức truyền thống cao đẹp hoặc

là nội dung tân thời Đó chính là chất muối hài mặn mòi - hạt nhân của tràophúng - chất hài Nguyễn Công Hoan” [47,38]

Mỗi truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan thờng là một cảnh tợng, mộttình thế mâu thuẫn đầy tính chất hài hớc trong cái tấn trò đời nhố nhăng đồibại ấy Đối với Nguyễn Công Hoan mỗi con ngời là một diễn viên đóng vaitrong tấn trò đời Bên cạnh việc thể hiện con ngời làm trò, Nguyễn Công Hoancòn miêu tả con ngời bị tha hoá trên hai phơng diện: con ngời bị vật hoá và bị

đánh mất nhân tính Cái nhìn nghệ thuật của nhà văn là cái nhìn vào mặt tráicủa cuộc đời, con ngời Con ngời bị phơi ra với tất cả sự xấu xí, trống rỗng, vôhồn, vô cảm, đê tiện, thấp hèn Trong thế giới nghệ thuật của nhà văn khôngchỉ bọn nhà giàu, quan lại làm trò bị tha hoá mà những lớp ngời khác cũng bịtha hoá Đối với những kẻ quyền thế giàu có diễn trò để lừa bịp ông nhìn chúngbằng con mắt căm ghét, thù nghịch còn những con ngời nghèo khổ vì miếng cơmmanh áo phải diễn trò ăn xin, đói khổ ông nhìn họ với tấm lòng cảm thông Khicon ngời không còn nhân tính, nhân dạng nữa thì nó là đáng cời Một tiếng cời h-ớng về trạng thái nhân sinh thảm hại

Trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, vật hoá là một biểu hiện của sựtha hoá con ngời Cảm nhận về con ngời bị vật hoá thể hiện ở cách xng hô gọitên (dùng đại từ “nó” - từ chỉ chung cho ngời và vật ở ngôi thứ ba) Đối vớiloại nhân vật giàu có quyền thế, béo tốt ông gọi là “cây thịt” Đối tợng cờitrong truyện ngắn thờng bị vật hoá, bị bóp méo nhiều lúc đến mức quái dị.Nguyên tắc vật hoá, thô kệch hoá chân dung nhân vật là một trong những ph-

ơng thức cơ bản để tạo hiệu quả lạ hoá trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Trang 22

Đối tợng trào phúng đợc ông tô đậm “dới hình thức hoạt kê, méo mó, lố bịch,

kỳ quái, thô kệch hoá” (Timôphiep)

Khi mô tả con ngời tha hoá, Nguyễn Công Hoan chú ý nhiều tới phơngdiện con ngời bị đánh mất nhân tính (tha hoá nhân cách, đánh mất lơng tâm).Sống trong xã hội tối tăm, mục ruỗng, hỗn loạn, thiếu một nền giáo dục đạo

đức luân lý chính thống, con ngời tha hoá thảm hại về nhân tính NguyễnCông Hoan đã miêu tả hiện tợng con ngời đánh mất bản chất ngời một cáchphổ biến Những kẻ mất nhân tính ấy chủ yếu thuộc tầng lớp trên của xã hội:quan lại, ông chủ, bà chủ - những kẻ chuyên đeo mặt nạ để làm trò bỉ ổi, đêtiện Nhà văn tố cáo sự đểu cáng, tàn bạo của bọn quan lại, bọn giàu có bằngcách lột mặt nạ, xé toạc những thứ che đậy mỹ miều của chúng Chính những

kẻ “mũ cao áo dài” ấy lại ăn cắp đê tiện nhất (“Cụ Chánh Bá mất giày”,

“Đồng hào có ma”, “Thằng ăn cớp”) Chúng ăn cớp một cách “hợp pháp”,trắng trợn, vô liêm sỉ nhất Những kẻ đó không còn cả tình cảm dành cho cha

mẹ, chỉ mu cầu danh hiếu chứ không có hiếu thảo, sẵn sàng giết mẹ rồi làmtrò đám ma cho mẹ cực to để đợc tiếng hiếu (“Báo hiếu: trả nghĩa mẹ”) Cómột ông Phán hèn tới mức đánh vợ vì vợ không chịu đi ngủ với quan trên củachồng mà miệng còn quát tháo: “luân lí để đâu? giáo dục để đâu?” (“Xuất giátòng phu”) Không ở đâu mà lại phi lí nh ở đây Những kẻ đó chỉ sống với

đồng tiền và danh vọng, chứ không sống với tình cảm tự nhiên của con ngời

Ông Tham (“Mất cái ví”) sợ ông cậu đến thăm, tốn kém, đã bày trò mất ví để

đuổi khéo cậu, “lần sau cậu đừng đến nữa”

Sự đánh mất nhân cách con ngời có khi còn do nghèo đói Đói nghèokhông chỉ làm cho kẻ vô học nảy sinh tâm lí liều lĩnh mà còn làm cho đám tríthức hạ thấp nhân cách của mình nh bốn văn sĩ trong “Cái Tết của những nhà

đại văn hào” Cuộc sống khốn quẫn, tết đến không có gì ăn họ nghĩ cách đi

“ăn chực” ở nhà ngời khác Do bị cuộc sống hành cho khốn đốn quá lâu, họ đãnảy sinh tâm lí “cố thây trắng trợn” (chữ dùng của Vơng Trí Nhàn) mà họkhông tự biết Quả thực cái đói, cái nghèo đã làm cho con ngời không còn biếtliêm sỉ Nó làm cho ngời ta giận mình lành lặn quá không ăn xin đợc Đứa trẻ

ăn mày trong “Cái vốn để sinh nhai” phải tự huỷ hoại bản thân mình thànhquè quặt để ăn xin cho dễ hơn Thật thảm hại!

Từ cách nhìn đời, chỉ là một sân khấu hài kịch, nhìn con ngời trên tinhthần giai cấp, con ngời tha hoá nhân tính, nhà văn đã có thái độ tiếp cận cuộcsống một cách hết sức suồng sã, xoá bỏ mọi khoảng cách, ngôi thứ, đạp đổmọi tôn ti, trật tự, bóc trần mọi giáo lý giả tạo để trơ ra một “thế giới bị lộn

Trang 23

trái” trên những trang viết đậm chất hài hớc Nhà văn cời con ngời tha hoáchính là để cời sự tha hoá của cả xã hội “Quan niệm nghệ thuật này làm chotác phẩm có đợc chiều sâu phổ quát hơn một chủ đề tố cáo bọn thống trị, hoặcnói đúng hơn, tố cáo tình trạng phi nhân tính của đời sống Tố cáo trạng tháiphi nhân tính để đòi có một trạng thái có nhân tính” [47,64] Đó là giá trị nhânvăn của tiếng cời Nguyễn Công Hoan trong truyện ngắn Tiếng cời ấy “bốpchát, bạo khoẻ, tinh quái” (chữ dùng của Trần Văn Hiếu)

Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Mạnh viết: “Phong cách NguyễnCông Hoan không thiên về lối thâm trầm kín đáo Ông thích bốp chát đánh vỗngay vào mặt đối tợng Tiếng cời đả kích của Nguyễn Công Hoan vì thế lànhững đòn ác liệt ( ) Nghệ thuật phóng đại của Nguyễn Công Hoan đã tạonên biết bao trận cời đậm đà khoái trá, một phong cách trào phúng bộc trực,bạo khoẻ rất gần với nghệ thuật dân gian” [30, 121 - 130]

1.3.3 Mối quan hệ giữa quan niệm nghệ thuật và tiếng cời trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng

Trong bài báo “Để đáp lời báo “Ngày nay”: “ Dâm hay không dâm”,nhà văn Vũ Trọng Phụng với một tâm trạng phẫn uất đã bộc lộ thẳng thắn cáinhìn của mình về xã hội đơng thời: “ Riêng tôi, xã hội này tôi chỉ thấy là khốnnạn; quan tham lại nhũng, đàn bà h hỏng, đàn ông dâm bôn, một tụi văn sĩ đầucơ xảo quyệt mà cái xa hoa chơi bời của bọn nhà giàu thì thật là những câuchửi rủa vào cái xã hội dân quê, thợ thuyền bị lầm than, bị bóc lột Lạc quan

đợc cho đời là vui, là không cần cải cách, cho cái xã hội chó đểu này là hay hotốt đẹp rồi ngồi mà đánh phấn bôi môi hình quả tim để đi đua ngựa, chợ phiên,khiêu vũ, theo ý tôi thế là giả dối, là tự mình lừa mình và di hoạ cho đời, nếukhông là vô liêm sĩ một cách thành thực” Điều đó cho thấy con ngời VũTrọng Phụng luôn chất chứa một tâm sự phẫn uất không nguôi Từ tuổi thơ,

ông đã thấm thía nỗi cực nhọc của thân phận đứa trẻ mồ côi nhà nghèo; 15tuổi đã phải bỏ học để lăn vào đời kiếm sống; rồi mấy lần bị thải, cuối cùng

đành chỉ sống bằng cái nghề viết văn, viết báo bạc bẽo Trong khi đó xungquanh ông là cả cái xã hội thành thị Âu hoá đang ăn chơi phè phỡn rất ch ớngtai gai mắt Viết văn với Vũ Trọng Phụng trớc hết là trút lên đầu xã hội “chó

đểu” nỗi phẫn uất sôi sục chất chứa của ông

Vũ Trọng Phụng nhìn đời là “xã hội chó đểu”, là “vô nghĩa lý”: bố contrở thành kẻ thù, vợ chồng hoá ra anh em, nghèo đói trở thành triệu phú, thằngmạt hạng trở thành vĩ nhân Cây bút ham tìm hiểu a phân tích, giải thích vànhiều khi tha thiết hi vọng ấy cảm thấy hoang mang chóng mặt trớc “tấn trò

Trang 24

đời”, quay cuồng điên đảo một cách “vô nghĩa lý” Thực tại đen tối, trong đócái ác, cái xấu hoành hành khiến ông càng thấm thía sự bất lực, vô nghĩa củacon ngời trớc số phận và rơi vào một tâm trạng bi quan, tuyệt vọng sâu sắc.

“Ba chữ “vô nghĩa lý” của Vũ Trọng Phụng vừa là yếu tố nổi (ngôn từ)vừa là yếu tố chìm (quan niệm) tạo một luồng nhỡn tuyến đặc biệt soi thấu mọitrang văn của ông với mọi biểu hiện phong phú” [52, 61] Ba chữ ấy lặp đi lặp lạinhiều lần trong các tác phẩm của ông, xuất hiện với một tần số rất cao “Giông tố”:

12 lần, “ Trúng số độc đắc”: 7 lần, “Số đỏ”: 3 lần, “ Kỹ nghệ lấy Tây”: 3 lần,

“Cơm thầy cơm cô”: 3 lần ( theo thống kê của Nguyễn Quang Trung) [52,54]

Còn ở thể loại truyện ngắn sau khi khảo sát 39 truyện ngắn in trong VũTrọng Phụng toàn tập “ ( tập 5) [35] chúng tôi thống kê đợc đến 8 lần VũTrọng Phụng nhắc tới ba chữ “vô nghĩa lý” ( “ Cái tin vặt”: 1 lần; “ Điên”: 1lần; “ S cụ triết lý”: 4 lần; “Cái ghen đàn ông” : 2 lần) Đó là cha kể các biếnthể của nó nh “vô lý”, “vô nghĩa”, “ nghĩa lý gì” cũng thờng hay xuất hiện.Với Vũ Trọng Phụng hầu nh cái gì cũng có thể gắn với ba tiếng “vô nghĩa lý”:cái cời vô nghĩa lý, bộ mặt vô nghĩa lý, cử chỉ vô nghĩa lý,

Nh vậy “vô nghĩa lý” không chỉ là một điệp khúc ngôn từ mà còn là nốtnhấn t tởng, một cái nhìn nghệ thuật giàu tính triết lý của ông để soi ngắm thếgiới Nguyễn Quang Trung gọi đó là “nhỡn quan vô nghĩa lý” “Nhỡn quannày thấu nhập vào mọi lớp nghĩa, chiếu rọi một ánh sáng lạ vào mọi cấp độ đềtài, chủ đề, kết cấu, hệ thống hình tợng, ngôn từ nghệ thuật của Vũ TrọngPhụng “Thế giới nghệ thuật của ông xét về cơ bản, là thế giới của nhỡn quan

“vô nghĩa lý” ấy” [52,56] Nhãn quan ấy soi chiếu vào mọi tác phẩm của ông

ở các thể loại trong đó có truyện ngắn

Đầu tiên mới chỉ chạm mắt vào nhan đề tác phẩm, độc giả không chỉnhìn thấy những nhan đề mà còn thấy nổi lên một cái nhìn định mệnh: “Bởikhông duyên kiếp”, “Lấy vợ xấu”, “Nhân quả”, Kiếp ngời đợc nhà văn nhìnqua lăng kính duyên số, từ cú huých may rủi của định mệnh

Trong thế giới nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng trớc hết thấy có nhữnghình ảnh, tình tiết có ý nghĩa nh những điều may rủi Về mặt kết cấu các tácphẩm, nhiều truyện ngắn của ông đợc xếp đặt, tổ chức theo nguyên tắc ngẫunhiên, may rủi Một anh chàng bị thụt két vì thua bạc sắp sửa phải vào tù, bạnbàn cách đi đánh bạc để bù vào Đêm ấy Thuỵ (tên nhân vật) và Chung (bạnchàng) lại thắng to (“Máu mê”) Doãn - nhân vật chính trong “Lấy vợ xấu” làanh chàng đẹp trai hào hoa, tài tán gái, có nhiều cô gái đẹp yêu, muốn lấy mộtcô vợ đẹp nhất Hà Thành nhng trên một chuyến tàu ngẫu nhiên anh ngồi cạnh

Trang 25

một cô gái Lào Cai xấu xí, thô kệch Doãn đã lấy “cô gái xấu xí nhất Bắc kỳ”này làm vợ

Ba tiếng “vô nghĩa lý” lặp lại trên các trang viết khi đặt vào lời tác giả,khi đặt vào miệng nhân vật để làm định ngữ chua chát cho mọi đối tợng khácnhau: cuộc đời vô nghĩa lý, bộ mặt vô nghĩa lý, hành vi vô nghĩa lý, cái cời,cái khóc vô nghĩa lý v.v Điều đó nói lên yếu tố t tởng nghệ thuật cơ bản của

Vũ Trọng Phụng có nội dung triết lý bi quan định mệnh nảy sinh nh một tấtyếu ở một con ngời thông minh sắc sảo, ham triết lý thích khái quát, ráo riết đitìm nghĩa lý cuộc đời mà bất lực Cái nhìn thế giới của Vũ Trọng Phụng về đạithể có những điểm khác cái nhìn thế giới của Nguyễn Công Hoan NguyễnCông Hoan nhìn thế giới thông qua một loại ngời, gắn với một tầng lớp ngờinào đấy ở Vũ Trọng Phụng hình nh không phải mỗi cá nhân làm trò, tự nódiễn trò một cách chủ động, có ý thức nh ở Nguyễn Công Hoan mà đó là tròchơi của định mệnh Vũ Trọng Phụng nhìn đời nh một tấn hài kịch mà kẻ đạodiễn không ai khác ngoài số mệnh Số mệnh đùa thế, chơi khăm nh thế, tất cả

đều trở thành nhân vật hài diễn trò ngoài ý muốn

Cái nhìn triết lý bi quan định mệnh chủ nghĩa của Vũ Trọng Phụng cócơ sở xã hội của nó Vũ Trọng Phụng nhìn thấy đời toàn những bất công phi

lý, không thể giải thích đợc Ngời lơng thiện bị vùi dập, kẻ bất lơng cứ phấtlên một cách hỗn láo Đối với Vũ Trọng Phụng, dờng nh không có một lực l-ợng siêu nhiên nào đợc xem là “tử tế” bởi chẳng những nó không phù trợ chongời lơng thiện đem lại những điều tốt lành mà ngợc lại nó thờng đem đếnnhững điều đau khổ, bất công khi nó làm ngơ cho cái ác hoành hành Cái hiệnthực đen tối ấy đã đem đến cho Vũ Trọng Phụng một t tởng bi quan địnhmệnh T tởng ấy chi phối toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn Vì thế một

số nhân vật của ông đã tỏ ra hoài nghi, thậm chí có lúc đã nguyền rủa cả đấngtối linh Trong truyện ngắn “Đời là một cuộc chiến đấu”, Chúa Giêsu và ĐứcGiáo hoàng cũng bị đa ra giễu cợt

Cũng nh Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng thờng nhìn cuộc sống ởmặt trái của nó, nghĩa là nhìn thẳng vào cái mặt bản chất xấu xa ẩn dấu bêntrong đợc che đậy bằng cái vỏ hình thức có vẻ “đẹp đẽ” bên ngoài Gần suốtcuộc đời mình, Vũ Trọng Phụng chỉ sống ở căn gác hẹp phố Hàng Bạc (HàNội) mà xung quanh là cả một xã hội ăn chơi truỵ lạc và bịp bợm, với những

ông vua thuốc lậu, me Tây hạng sang, tiệm hút, sòng bạc, nhà săm…) là biết kiếm ra những chuyện tức cVì vậytuy nghèo khổ, song nhà văn không có điều kiện gần gũi, gắn bó với nhân dânlao động cơ bản, ít thấy đợc phẩm chất tinh thần lành mạnh tốt đẹp của họ

Trang 26

Còn tầng lớp “bình dân” mà ông gần gũi lại khá phức tạp, đó là những kẻnghiện hút, cờ bạc bịp, ma cô, gái điếm…) là biết kiếm ra những chuyện tức c Môi trờng sinh hoạt hạn hẹp ấygiúp cho ông nhìn thấy rõ mặt trái đời thối nát, dơ dáy, càng nung nấu mối bấtbình và cũng gieo vào tâm hồn ông một t tởng hoài nghi, bi quan sâu sắc, mộtthái độ khinh bạc đối với cuộc đời

Tâm trạng phẫn uất mãnh liệt đối với xã hội tạo cho nhà văn cái nhìn sắcsảo đối với hiện thực Niềm phẫn uất khôn nguôi đối với một chế độ bất công,

độc ác, dâm ô, nhố nhăng, bịp bợm và hết sức vô nghĩa lý là linh hồn là chấtsống, là sức mạnh và tài năng cơ bản của Vũ Trọng Phụng Nhà văn của mộtchủ nghĩa hiện thực mãnh liệt đã ném ra hàng loạt tác phẩm có sức công phálớn đối với xã hội thối nát mà ông là nạn nhân Triết lý của Vũ Trọng Phụng cómàu sắc tôn giáo với những Giời, Phật, Chúa, với những định mệnh, tiền kiếp,luân hồi, nhân quả nhng thực ra lại bám rễ sâu sắc vào cuộc đời Cuộc sốngtrần gian ung nhọt là cái nhìn hiện thực cho cảm hứng sáng tạo của ông

Cái nhìn về cuộc đời “ vô nghĩa lý” đã chi phối cái nhìn về con ngời vônghĩa lý của Vũ Trọng Phụng Ông quan niệm con ngời “vô nghĩa lý” là conngời thấp kém về đạo đức, về đời sống tinh thần, nhợt nhạt về nhân tính, đánhmất ý nghĩa của sự tồn tại Ngòi bút Vũ Trọng Phụng xây dựng thành côngnhững nhân vật trào phúng, quái gở hoá đối tợng miêu tả theo kiểu lệch chuẩn,phá vỡ tỷ lệ bình thờng

“ Vô nghĩa lý” trong tác phẩm của ông là một khái niệm đa nghĩa Cóthể hiểu “vô nghĩa lý” là không có đạo đức, nhân cách, tức không có đời sốngtinh thần đẹp đẽ Cũng có thể hiểu “vô nghĩa lý” là sự vô ý thức, tức là sống

mà không có ý thức về sự sống có ý nghĩa, sống một cách máy móc Hiểu mộtcách khái quát “vô nghĩa lý” là sự đảo ngợc, sự lộn ngợc những lô gíc những

đạo lý thông thờng

Trào phúng là phơng tiện nghệ thuật cơ bản nhà văn dùng để thể hiện ýtởng của mình Sáng tác của Vũ Trọng Phụng đầy ắp tiếng cời nhng đó làtiếng cời chua chát đau đớn, nói nh Giáo s Hoàng Nh Mai : “ Nụ cời ấy khổ

Trang 27

Tất Tố, Nguyên Hồng, Trong khung cảnh đó Nam Cao có vẻ nh là ngời đếnsau Vậy mà bằng những tác phẩm viết ra lúc đó ông đã chứng tỏ cho đơngthời và hậu thế ông không đến muộn so với các đồng nghiệp ở một số mặtnhất định ông còn vợt họ và tỏ ra hiện đại hơn.

Cái hiện thực hằn dấu vết trên những trang viết của Nam Cao là mộthiện thực cụ thể, đặc thù: xã hội Việt Nam vào những năm 40 đang xáo trộn,quằn quại trong chặng cuối của quá trình bần cùng hoá, những cơn đói triềnmiên, những làng xóm vật vờ, những số phận tàn lụi, sự tan tác rã rời của mốiquan hệ con ngời, sự tuyệt vọng đổ vỡ của những cá nhân, sự tha hoá nhâncách Văn học hiện thực phê phán giai đoạn trớc cha phải đối mặt với mộtthực tế nh thế, dờng nh đang chững lại Nam Cao có những tâm niệm mới vềnghệ thuật: “ Cứ đứng trong lao khổ mở hồn ra đón lấy tất cả những vang

động của đời” Ông ý thức đợc rằng: “ Văn chơng chỉ dung nạp đợc những

ng-ời biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn cha ai khơi và sáng tạo nhữngcái gì cha ai có” Với những tâm niệm nh vậy nhà văn đi tìm chủ nghĩa hiệnthực mới và ông đã thành công với những sáng tạo nghệ thuật độc đáo củamình

“Phong cách là cái nhìn ” ( M.Prutx) Chính cái nhìn mới về cuộc đời vàcon ngời đã tạo cho ông có một phong cách riêng Nam Cao chọn một chỗ

đứng mới khác các nhà văn trớc ông Nhà văn theo dõi sự bần cùng hoá đờisống làm suy đồi nhân tính, nhân cách con ngời Ông muốn phân tích lý giảihiện thực bằng cách lý giải hành động nhân vật trên phơng diện tâm lý Ôngkhông chú trọng khai thác mối quan hệ giai cấp, những nghịch cảnh giàunghèo Chăm chú và kinh hoàng nhận ra cái chết về thể xác và tinh thần conngời, ông đau đớn trớc tình trạng con ngời bị huỷ hoại nhân tính, bị xói mònnhân phẩm, vì miếng cơm manh áo trong một xã hội tối vô lý Nhân vật trongtác phẩm của ông là những con ngời phải “sống mòn” với cuộc “đời thừa”,

“chết khi đang sống” Nếu nh Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng là nhữngnhà văn quan sát và phản ánh hiện thực thì Nam Cao là nhà văn suy ngẫm vàphân tích hiện thực Sự kiện của hiện thực đợc chú trọng trên bình diện tác

động đến nhân cách con ngời

Nam Cao quan niệm “ Sống tức là có cảm giác t tởng Sống cũng làhành động, nhng hành động chỉ là phần phụ, có cảm giác có t tởng mới sinh rahành động” Theo ông con ngời phải sống sao cho xứng đáng với danh hiệu

Con Ngời, phải có đời sống tinh thần cao đẹp Nhng ý nghĩ sâu sắc của NamCao về một cuộc sống có ý nghĩa lại vấp phải một thực tế đau xót : Trong xã

Trang 28

hội cũ con ngời dờng nh ai cũng phải “sống mòn” Từ ý thức về việc “chếtmòn” về đời sống tinh thần của con ngời, một kiểu chết không thể nào cứuvãn đợc, Nam Cao vô cùng đau đớn khi thấy con ngời phải sống không nh conngời có t tởng, có tâm hồn, có nhân cách, chủ yếu do phải chịu cảnh đói khát,

lo ăn, lo mặc (mà ông gọi là “áo cơm ghì sát đất”), nhng cũng một phần do cáiphi nhân tính trong bản thân mỗi con ngời, nh thói nhỏ nhen, ích kỷ, sự đố kỵ,hèn nhát, giả dối

Nam Cao luôn nhìn con ngời bằng cái nhìn đa diện, nhiều chiều Nhânvật của ông luôn đứng giữa giáp ranh: giữa thiện và ác, cao thợng và thấp hèn,

vị tha và vị kỷ, Ông không xây dựng nhân vật theo kiểu phân tuyến: giàu nghèo, chính diện - phản diện mà chủ yếu đi sâu miêu tả những xung độttrong nội tâm con ngời, đặt con ngời trớc sự lựa chọn của hoàn cảnh, hoặc làbiết vợt lên hoặc là bị chìm đi Điều quan trọng là ông luôn đặt niềm tin vàocon ngời, cái nhìn ấy vừa tỉnh táo, sắc lạnh, vừa yêu thơng nồng hậu Nhân vậtcủa ông không phải là con ngời hoàn toàn theo kiểu hoặc là tốt, hoặc là xấu.Với ông con ngời vừa có mặt tốt, cao cả vừa có những thấp hèn, vấn đề là cầnphải biết vơn lên để sống đẹp hơn

-Nhà văn nhìn con ngời trong tình trạng “sống mòn”, “chết mòn” Đối ợng tiếng cời của ông không phải là bản thân sự “sống mòn” hay “chết mòn”

t-mà là sự không cỡng lại đợc, không thoát ra đợc, không vợt lên đợc tình trạng

đó là do ham muốn, thèm khát thoả mãn những dục vọng tầm thờng Về thựcchất, tiếng cời Nam Cao nhằm vào cái hèn kém tầm thờng của con ngời: hènnhát, ích kỷ, giả dối

Tiếng cời Nam Cao hớng vào nhiều đối tợng và mang nhiều sắc tháikhác nhau Tiếng cời châm biếm, đả kích sâu cay vạch trần sự lố lăng kệchcỡm của bọn thống trị giàu có nhng ngu dốt (“Rửa hờn ”); tiếng cời hồn nhiênngộ nghĩnh rất vui vẻ về những thơng yêu hờn giận của những đôi vợ chồngnông dân sống sau luỹ tre xanh (“Con mèo”, “ Rình trộm”); tiếng cời châmbiếm, mỉa mai chua chát đau lòng nhng bao giờ cũng độ lợng khi phê phánnhững ngời nông dân đã nghèo túng, đói rách, nhng lại sa vào cảnh rợu chè,

và có những danh vọng hão (“Trẻ con không đợc ăn thịt chó”, “Mua danh”);Tiếng cời chua xót, đắng cay tự nhận ra những hèn kém, những bất lực của bảnthân mình, tầng lớp mình (trí thức tiểu t sản)

Đối tợng tiếng cời của Nam Cao chủ yếu không phải nhân vật phảndiện mà là những nhân vật đáng thơng (những nạn nhân của xã hội ): nhữngngời trí thức “tài cao” nhng “phận thấp" (chữ dùng của Tản Đà) giàu khát

Trang 29

vọng nhng bị cuộc sống “áo cơm ghì sát đất”; là những ngời nông dân do cuộcsống đói khổ đã biến thành những kẻ tha hoá, đánh mất cả chất ngời Đây là

điểm khác biệt giữa Nam Cao với Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng.Nguyễn Công Hoan chủ yếu cời hạng ngời giàu có, quyền thế phất lên đợcnhờ chế độ thời Tây, hoặc những thanh niên nam nữ theo mọi nhố nhăng phá

vỡ nền nếp truyền thống tốt đẹp của gia đình phong kiến, gia trởng Vũ TrọngPhụng thì cời cả một xã hội nhí nhố với đủ hạng ngời " vô nghĩa lý " thời Âuhoá Nam Cao chủ yếu hớng tiếng cời vào những nạn nhân đáng thơng vớinhững mảnh đời khốn khổ Tiếng cời ấy bắt nguồn từ chủ nghĩa nhân đạo sâusắc của nhà văn, một t tởng nổi bật in đậm, thấm sâu trên từng trang viết của

ông Nhà văn xuất phát từ yêu thơng mà chế giễu, chế giễu giúp phản tỉnh đểcon ngời nhận ra, biết xấu hổ với cái hèn, cái dối trá, cái ngu xuẩn của mình.Trong tiếng cời Nam Cao có thơng và có giận; vì thơng mà giận, giận bởi quáthơng Bởi mong muốn của nhà văn là con ngời phải sống cho ra con ngời,nghĩa là phải sống nh một con ngời có tình thơng có nhân cách, có lòng tựtrọng

Nam Cao là nhà văn luôn nhìn thẳng vào sự thật của đời sống- sự thực

có biết bao điều chua chát đau lòng Bên cạnh những thảm kịch là nhữngchuyện lố lăng đầy tính hài kịch Nhiều khi trong một con ngời, một sự việc,cái đau đớn xót xa và cái hài hớc đáng cời cứ đan xen nhau Đọc Nam Cao tathấy có cả tiếng cời và nớc mắt, cái bi và cái hài xuyên thấm vào nhau

Nam Cao khóc trong sự buồn và cời trong sự buồn, Ngòi bút tác giảkhông khỏi có những lúc chua chát, giận hờn, mỉa mai trào lộng " Nam Cao

là nhà văn hiện thực mà chất châm biếm thâm nhập và chi phối đến chiều sâucủa cảm hứng sáng tạo Trong truyện ngắn của ông không có hoặc rất ít cónhững tiếng cời vui bông phèng thoả chí " [11,39] Tiếng cời của ông có nộidung sâu sắc và hàm ý rõ rệt về t tởng Tiếng cời ấy thâm trầm đợm vẻ bi th-

ơng, chua xót, đau đớn, pha chất triết lý Nó xuất phát từ tình yêu thơng chânthành, đặt trên nền tảng chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc

Qua những điều vừa tìm hiểu trên đây chúng ta thấy quan niệm nghệthuật là cơ sở, là hạt nhân chi phối các yếu tố khác trong đó có tiếng cời tràophúng Mỗi nhà văn đều có một quan niệm nghệ thuật riêng, do vậy tiếng cờicủa họ mang đậm dấu ấn của chủ thể cời Mỗi ngời đã tạo cho mình giọng cờiriêng, cách cời riêng Xét đến cùng đấy là do cái nhìn khác nhau về thế giới và

về con ngời

Trang 30

Chơng 2

Tiếng cời trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng phụng, Nam Cao - nhìn từ góc độ

tình huống và nhân vật trào phúng

2.1 Tình huống trào phúng

2.1.1 Khái niệm tình huống trào phúng

Dựa trên định nghĩa của Heghen trong “Mỹ học”, nhà nghiên cứu Bùi ViệtThắng đã xác định tình huống trong truyện ngắn: Tình huống giúp cho những gìcòn nằm trong hình thức cha phát triển nay bộc lộ và hoạt động tích cực; là tìnhtrạng có tính chất riêng biệt, trở thành xung đột; là bớc trung gian (giữa tìnhtrạng im lìm và tình trạng hành động) [49- Tr111]

Nguyễn Minh Châu - cây bút truyện ngắn xuất sắc quan niệm: “( )Những ngời cầm bút có biệt tài có thể chọn ra trong cái dòng đời xuôi chảymột khoảnh khắc thời gian mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều

ý nghĩa nhất, ( ) bắt buộc con ngời ở vào một tình thế phải bộc lộ ra cái phầntâm can nhất cái phần ẩn náu sâu kín nhất, thậm chí có khi đó là cái khoảngkhắc chứa cả một đời ngời, một nhân loại” [49,112]

Nh vậy, tình huống có vai trò vô cùng quan trọng trong truyện ngắn Tàinăng của ngời viết truyện ngắn trớc hết thể hiện ở sự sáng tạo tình huống.Tình huống sẽ làm nổi bật các số phận, các tính cách, tâm trạng và những vấn

đề nhà văn muốn đặt ra và t tởng ông ta muốn phát biểu

Trong truyện ngắn trào phúng để gây cời cần có các xung đột tràophúng Nhng tiếng cời cũng chỉ có thể bật ra khi những xung đột trào phúngkia đợc bộc lộ trong những tình huống trào phúng đó Tình huống trào phúng

là cách tổ chức tình tiết làm nổi bật xung đột trào phúng Nó đợc tạo nên từnhững điều bất bình thờng, oái oăm, nghịch lý

2.1.2 Tình huống trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Là bậc thầy về truyện ngắn trào phúng, Nguyễn Công Hoan rất giỏisáng tạo ra những tình huống tạo lập các xung đột trào phúng đa đến cho tácphẩm tiếng cời bất ngờ Tình huống trong truyện ngắn của ông chủ yếu đợcxây dựng trên những nghịch lý của cuộc đời Sau đây là một số tình huống th-ờng gặp trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan:

Trang 31

2.1.2.1 Tình huống nghịch lý, ngợc đời

* Nghịch lý về đạo lý

Nguyễn Công Hoan rất quan tâm tới vấn đề con ngời tha hoá về nhântính Đó là những kẻ mất đạo đức, vô lơng tâm, giả dối, thấp hèn nhng nhiềukhi lại mang một màu sắc hào nhoáng, giả tạo Tiếng cời của nhà văn đãphanh phui, lột trần lớp vỏ bên ngoài ấy để trơ ra cái xấu xa đáng ghê tởm ởbên trong

Những nghịch lý về đạo lý đợc Nguyễn Công Hoan dựng nên trong một

số truyện: “ Báo hiếu: trả nghĩa cha”, “Báo hiếu: trả nghĩa mẹ”, “Răng conchó nhà t sản”,

Ông chủ hãng ô tô Con Cọp, giàu có mời rất đông khách khứa đến giỗcha nhng lại đuổi mẹ ra ngoài trời ma gió rét buốt, sau khi thí bỏ hai đồng hàován ( “Báo hiếu: trả nghĩa cha”) Cũng ông chủ hãng ô tô Con Cọp cùng vợgiết hại mẹ đẻ ra mình rồi làm đám ma to để che mắt thiên hạ, thật là kẻ đạibất hiếu ( "Báo hiếu: trả nghĩa mẹ") Một nhà t sản sẵn sàng đè chết ngời ănmày vì ngời này đói quá, đánh gãy răng hai con chó của hắn để lấy cơm ăn rồi

đền mạng - "bất quá ba chục bạc là cùng" (“Răng con chó nhà t sản”) Mộtmạng ngời không bằng hai cái răng con chó, không bằng ba chục bạc Tiếngcời ở đây chĩa vào sự mất nhân tính của tên t sản, đồng thời cũng là tiếng cờixót xa cho thân phận con ngời yếu hèn trong xã hội vô nhân ấy

* Nghịch lý về hoàn cảnh

Nhà văn đa nhân vật vào những hoàn cảnh mang tính chất nghịch lý đểlàm nổi bật thân phận số kiếp của họ Nhân vật chính ở đây là những ngờisống dới đáy xã hội, thờng gặp hoàn cảnh trớ trêu: Kép T Bền (“Kép T Bền”)phải mua vui cho thiên hạ trong hoàn cảnh đáng khóc vì nghe tin cha ở nhàsắp gần đất xa trời Anh phải cời, phải diễn vai hề trong khi chính anh đang ởtình thế bi đát: cha sắp mất, “ruột anh rầu nh da, xót nh muối” Cái cảnh thơngtâm đi đôi với cái bông lơn cứ diễn ra mãi khiến anh “bề ngoài cời nụ, bềtrong khóc thầm”

Trang 32

Nhà văn tạo dựng những tình huống nghịch lý là để nói tới thực trạng tồi

tệ của xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ này dới chế độ thực dân phong kiến

Loại tình huống thứ nhất mang sắc thái hài kịch, xuất hiện ở nhữngtruyện nhân vật chính là những kẻ có quyền có tiền (đây là đối tợng đả kíchchính của Nguyễn Công Hoan) ở tình huống này nhân vật chính là phản diện,chủ động diễn trò, tự bộc lộ bản chất xấu xa của nó

Loại tình huống thứ hai mang sắc thái bi hài kịch xuất hiện ở nhữngtruyện nhân vật chính là những ngời nghèo khổ lép vế Nhân vật chính làchính diện ( nạn nhân của xã hội thực dân phong kiến thờng làm trò một cáchbất đắc dĩ, diễn trò hề ngoài ý muốn)

2.1.2.2 Tình huống ngẫu nhiên

Truyện cời phải sử dụng cái ngẫu nhiên, dùng cái ngẫu nhiên cho cácyếu tố đợc gặp nhau để hình thành nên cốt truyện, gây bất ngờ cho ngời đọc

Trong truyện “Đồng hào có ma”, chi tiết “ con mẹ Nuôi” đánh rơi đồnghào là bắt đầu cho biến cố phát triển Chi tiết ngẫu nhiên này dẫn đến hành

động ăn cắp của quan, từ đó làm bật ra chủ đề của truyện : đả kích thói “ ănbẩn” của đám quan trờng

Trong “Lại chuyện con mèo” nếu “ tôi” gặp ngời nhà ông chủ, ngời nàynói luôn là “ mèo đẻ” thì không có chuyện Ngời viết truyện phải sử dụng cácyếu tố ngẫu nhiên Một ngời nói cộc lốc: “ờ ! Thôi!” Một ngời nói: “Đi nhàthơng Đơng gắt nh mắm đấy!” Một ngời khác lại nói: “Đẻ” Một ngời nữa:

“Bông băng cồn” Những chi tiết ngẫu nhiên kéo độc giả đi theo mạch nghingờ của “tôi” Thì ra chuyện con mèo đẻ mà ông chủ làm rùm beng nh chuyệncon ngời

2.1.2.3 Tình huống nhân vật dùng mẹo

Đây là tình huống do nhân vật tạo dựng ra bằng cách dùng mẹo, lập mu

đê tiện lừa dối Kẻ lập mu thật trơ tráo Ông Tham (“ Mất cái ví”) bày trò “mấtví” để lần sau ông cậu “khỏi ra chơi, tốn kém lắm” Một cụ Chánh uy quyền,giàu có không muốn bỏ tiền ra mua giày mà bàn với đầy tớ bày trò mất giày

để nhà chủ đền cho đôi mới (“Cụ Chánh Bá mất giày”)

Trang 33

Nhìn chung Nguyễn Công Hoan đã sáng tạo ra những tình huống nhằmlật tẩy, bóc trần cái mặt nạ trò hề của nhân vật Những tình huống ấy thờnglàm nảy sinh xung đột giữa nhân vật này với nhân vật khác.

2.1.3 Tình huống trào phúng trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng

Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng đã xây dựng những tình huống phản ánh

sự đảo ngợc của những logic thông thờng nhằm giễu nhại tính chất vô nghĩa lýcủa cuộc đời, của con ngời trong đó hầu hết là những tình huống vô nghĩa lý

Đó là màn cãi lộn, đôi co giữa Lang Tý và Lang Phế (“ Cuộc vui ít có”)

Vũ Trọng Phụng khéo léo châm ngòi nổ cho cuộc khẩu chiến ấy Cuộc khẩuchiến khởi đầu bằng việc tranh luận xem thiết côn, thuốc cao của mấy chúkhách biểu diễn nội công là thật hay dởm Thế rồi ngời nọ chạm tự ái vặc lạingời kia, ngời kia tức khí cũng cự lại quyết liệt Nào là “thế này mà bảo khôngphải là thuốc cao”, nào là “thôi chịu ông rồi! ở vùng này chỉ một ông biếtnghề thuốc” Ba chữ “ biết nghề thuốc”, “ nh lửa đổ thêm dầu”, hai vị liềnhăng hái tự lột cái “áo gấm danh y” của nhau bằng cách vạch mặt nhau vềtài giết bệnh nhân bằng bốc thuốc rởm ( đám ma nhà chị Hai, dì Chát bốc cóhai thang mà lăn đùng ra chết, bán chỉ một gói thuốc mà nhiêu Toét xuýt bỏmạng, rồi đánh mộng đến lòi con ngơi, ) Cứ chuyện nọ đẻ chuyện kia tạo ratính chất gọi nhau rất đặc sắc của tình huống hài khiến cuộc cãi nhau của hai

ông lang băm tởng nh không bao giờ chấm dứt Lang Tý, Lang Phế chửi nhautheo nguyên tắc “không khảo mà xng”, tố cáo nhau thật quyết liệt và hài hớc.Song hài hớc hơn nữa cuộc cãi lộn còn “bắn bị thơng” những kẻ xung quanh:

vợ chồng Lý Còm, chánh hội Bầu, trởng Toe, cô Thoa bỏ chạy vì xấu hổ

Thật đúng là một “cuộc vui ít có” Đáng lẽ “tôi” và mọi ngời khách nhà

ông thủ quỹ đợc xem một buổi biểu diễn võ thuật ly kỳ thì lại bất ngờ đợcchứng kiến cuộc cãi lộn giữa hai vị “danh s” mà cuộc cãi lộn này cũng gaycấn và không kém phần hài hớc

Trang 34

Những màn cãi lộn của Vũ Trọng Phụng bao giờ cũng quyết liệt do ôngbiết châm ngòi nổ một cách tài tình.

2.1.3.2 Tình huống nghịch lý, ngợc đời

Tình huống này đợc sử dụng trong nhiều truyện ngắn: “Bộ răng vàng”,

“Thủ đoạn”, “ Hồ sê líu hồ líu sê sàng”, “Ông đừng lầm”, Để gây cời tác giảtạo những nghịch lý về đạo đức lối sống

Trong “Bộ răng vàng” không ai có thể tởng tợng đợc chỉ vì một bộ răngvàng mà con dám cạy mồm bố để lấy đi khi bố vừa nằm xuống Chuyện đánhcắp bộ răng vàng tởng rằng chỉ đến thế nhng tác giả còn đẩy nó lên cao tràokhi cho thằng anh lạnh lùng “một cách tự nhiên, nhanh nhẹn nhất đời cúixuống nhặt bộ răng vàng bỏ túi” trong lúc thằng em quá sợ đã trót đánh rơixuống đất sau khi mắng em là “bất hiếu”

“Hồ sê líu hồ líu sê sàng” với câu chuyện về gia đình hoạ sĩ Khôi Kỳtrong phong trào Âu hoá đã cho ta chứng kiến một cảnh đến nực cời xảy ratrong cái gia đình đợc coi là văn minh, Âu hoá này Trong nhà này, mọi thứ

đều lộn xộn bừa bãi, thiếu thốn và lúc nào cũng có vẻ nh “ cha bày xong”hoặc “đến mai xếp dọn” Nhng các chủ nhân của nó lại phải tìm cách làm sao

để ra đờng mọi ngời đều nhầm tởng là “nhà có của” Song mỉa mai hơn là “trong cái cảnh bừa bộn vô trật tự ấy, cái thản nhiên, cái bình tĩnh của bà mẹvới hai cô thì thật là những kỳ công của tạo hoá! Trong óc mấy ngời này đềuchứa những t tởng gì khác, chứ không tráng qua một t tởng nào về việc tề gianội trợ bao giờ” Tuy vậy, ông bố hoạ sĩ của các cô gái quá thì này vẫn luônluôn vui vẻ vì đợc tiếp các công tử, đợc nghe bài vọng cổ Hồ líu sê hồ líu sêsàng của hai cô gái

Cái nghịch lý, ngợc đời có khi lại diễn ra trong chính bản thân con ngời.Nhân vật chính trong “ Từ lý thuyết đến thực hành ” hãnh diện mình là conngời Âu hoá (Tây ở cách ăn nói, đi lại, sinh hoạt ) Để chứng minh mình làcon ngời Âu hoá hoàn toàn anh ta đã hùng hồn diễn thuyết về nạn mọc sừng,cho đó là dấu hiệu của văn minh Anh ta tỏ ra cảm thông với những ngờichồng mọc sừng và bênh vực ngời phụ nữ ngoại tình Nếu bản thân anh ta có

bị mọc sừng thì coi nh một sự nhỏ mọn Nhng buồn cời thay, khi vợ ngoại tìnhanh ta lại bỏ vợ, chán đời, suốt ngày nằm ở tiệm hút Bị trách mắng, anh ta cựlại: “Mày ngu lắm! Thế khi vợ mày nó cắm sừng vào đầu mày thì liệu mày cócòn muốn ăn ở suốt đời với nó không?” Qua câu chuyện này Vũ Trọng Phụngcời anh chàng lời nói không đi đôi với việc làm, đồng thời đả kích lối sống đồi

Trang 35

bại của phơng Tây đang làm cho phong hoá nớc nhà suy đồi (đây mới là đối ợng chính trong tiếng cời của ông).

2.1.3.3 Tình huống nhân vật dùng mu kế

Nhân vật nghĩ ra một âm mu để thực hiện ý đồ của mình Phóng viênbáo Nhất Đông Dơng (“Sao mày không vỡ nắp ơi”) muốn cho báo bán chạy đãthêu dệt theo kiểu “chuyện bé xé ra to” Có một ngời nghiện chết bên cạnh cái

ấm vỡ anh ta thổi lên thành một vụ bức tử Anh chàng Phách trong “Đoạntuyệt” bỏ ngời yêu bằng cách đến nhà ngời yêu nói chuyện luân lý với ông bố

và tỏ ra là ngời cùng t tởng với “ phái cũ” để cô ta vâng lời bố mẹ mà đi lấyngời khác

Một anh chàng nghiện hút, thiếu tiền tìm cách tống tiền ngời yêu cũ

nh-ng vẫn giả vờ chunh-ng tình (“Ta tốnh-ng tiền nó nhnh-ng nó vẫn phải thơnh-ng yêu ta, cóthế mới đáng làm việc không danh giá gì cho lắm”, “Hết tiền sẽ lại có tiền,

có tiền bằng cách không phải tống tiền!”) (“Gơng tống tiền”)

Với tình huống này nhân vật diễn trò để đạt đợc mu kế Trò diễn rấtkhéo ấy là nhờ vào việc xây dựng tình huống Tác giả để cho nhân vật tự bộc

lộ bản chất qua âm mu và hành động

2.1.4 Tình huống trào phúng trong truyện ngắn Nam Cao

Đặc trng của truyện ngắn Nam Cao là truyện tâm lý Ngay từ nhữngdòng mở đầu của mỗi truyện, Nam Cao đã dẫn ta vào những dòng suy nghĩcủa nhân vật Tính chất “đang suy nghĩ”, “đang đối thoại”, “đang độc thoại”,

đang nói chuyện trong tâm tởng của nhân vật là một đặc trng phong cáchtruyện ngắn Nam Cao Bởi thế, “trong những sáng tác của Nam Cao nói chung

và những sáng tác có tính trào phúng nói riêng, sân khấu nội tâm là nơi làmbộc lộ mọi xung đột và làm nảy sinh tiếng cời Đây là nguyên nhân cơ bản tạonét độc đáo của tiếng cời hớng nội rất sâu của Nam Cao” [16,170] Để diễn tảnhững xung đột t tởng trong nội tâm nhân vật, Nam Cao sáng tạo ra nhữngtình huống riêng làm phát sinh xung đột đó một cách tự nhiên Tình huống bihài kịch nội tâm là tình huống chủ yếu trong truyện ngắn Nam Cao

Nhìn chung, tác giả thờng đặt nhân vật vào những tình thế thử thách đểlật tẩy những ý nghĩ, những ham muốn phàm tục, những dối trá vốn đợc che

đậy, dấu kín

Trong “Quên điều độ”, triết lý điều độ của nhân vật Hài: “ Ngời điều độchính là ngời khôn ngoan” đợc đặt trong tình huống có cơ hội hởng lạc (Hàitình cơ gặp lại Th, ngời bạn cũ Th mời Hài một tiệc rợu và một chầu đi hát)

Trang 36

Tình huống này đã làm cho t tởng thèm khát hởng lạc và thái độ giả dối củanhân vật Hài bộc lộ ra một cách hài hớc ở sự “quên điều độ”

“Truyện tình” là một trờng hợp khác Nhân vật chính của truyện là Lu,một cậu học trò ở nhà quê ra tỉnh học Con ngời của thế giới hồn nhiên bình dịnày đã đợc tác giả đặt vào trong một tình thế có hy vọng bớc sang một thế giớikhác, thế giới của những kẻ có lối sống kiểu cách, lãng mạn và giả dối ở thànhthị Tình huống bi hài ở đây là những lời hứa hẹn của Kha, bạn học của Lu(một nữ học sinh con nhà giàu) Những lời hứa hẹn của Kha đã làm cho Lu hyvọng có đợc tình yêu của Kha Nghỉ hè nhng Lu vẫn không về quê, nói dối mẹ

là ở lại học, nhng thực ra là để đợc gần Kha, Kha dạy đàn cho Lu Nhng rồinhững lời hứa của Kha chỉ là hứa hão, Kha bỏ mặc Lu ở nhà để đi chơi vớinhững ngời bạn khác Lu vẫn biết là mẹ và em đang mỏi mắt mong chờ, nhngvẫn đem “ngày giờ quý hoá ăn cắp của mẹ” để “phụng sự một con sáo, muacái lồng mới đáng giá 3 hào rỡi và cho thế là hạnh phúc ” Trong khi đó em

Lu ở nhà ốm nặng, sắp chết ngời cậu đến báo tin mới về thăm em thì đã quámuộn

Trong truyện ngắn đặc sắc “Đời thừa”, Nam Cao đã đặt lý tởng cao xacủa văn sĩ Hộ vào tình thế mà tác giả gọi là “áo cơm ghì sát đất”, để làm bộc

lộ những thói xấu của những nhân vật này: Hành vi thô bạo, tàn nhẫn phảnnhân văn Là một nhà văn, Hộ yêu nghề văn Anh ta hằng ao ớc viết đợcnhững tác phẩm “chứa đựng một cái gì lớn lao” Nhng vì gánh nặng vợ con, vìphải kiếm tiền để sống, phải “kiếm thức ăn đổ vào cái dạ dày”, cho nên anh ta

đã viết “toàn những cái vô vị nhạt nhẽo ” tự ý thức đợc bi kịch đời mình,song Hộ vẫn luôn khao khát thực hiện lý tởng Nhng thực tế cuộc sống gia

đình ( vợ yếu con đau, tiền hết phải vay nợ lãi ) đã biến ớc mơ của Hộ thành

ảo tởng Con ngời luôn lấy tình thơng làm lẽ sống ấy đã có lúc trở nên cụccằn, thô bạo, mất cả nhân cách (uống rợu say mềm, đánh đuổi vợ để rồi phảikhóc trong ân hận một cách bi hài)

Truyện ngắn “Cời” khơi sâu vào đời sống nội tâm của ngời trí thức tiểu

t sản Cuộc sống nghèo đói với những lo toan cơm áo hàng ngày đã làm choquan hệ vợ chồng vốn rất thuận hoà, yêu thơng trở nên căng thẳng bởi nhữngbất hoà vô nghĩa lý, ngu xuẩn Nhân vật “hắn” trong truyện thờng phải dùngtiếng cờng gợng gạo, thiểu não, tội nghiệp của mình nh một “ liều thuốc giảiuất” Truyện “Nớc mắt” cũng đợc xây dựng xung quanh tình huống tơng tự,những con ngời vốn rất yêu thơng nhau nhng chỉ vì túng quẫn mà sinh ra bẳngắt, lục đục, nhiều khi trở nên tàn nhẫn

Trang 37

Nếu tình huống truyện của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng thờnglàm nảy sinh mâu thuẫn giữa nhân vật này với nhân vật khác thì trong truyệnngắn Nam Cao tình huống trong truyện thờng làm nảy sinh xung đột trong nộitâm nhân vật Cái tôi của nhân vật bị lỡng hoá trở thành những t tởng đối thoại

và đối chọi nhau Nh vậy để gây cời Nam Cao thờng đặt nhân vật của mìnhvào những tình huống làm bộc lộ xung đột t tởng

2.2 Nhân vật trào phúng

2.2.1 Khái niệm nhân vật trào phúng

Nhân vật văn học là con ngời đợc miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằngphơng tiện văn học Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thứccơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tợng Nhân vật “làhình tợng nghệ thuật về con ngời, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toànvẹn của con ngời trong nghệ thuật ngôn từ” “Các thành tố tạo nên nhân vậtgồm: hạt nhân tinh thần của cá nhân, t tởng, các lợi ích đời sống thế giới cảmxúc, ý chí, các hình thức ý thức và hành động” (Lại Nguyên Ân) [2, 241-242]

Nói về vai trò của nhân vật G.N Pospelov nhận xét : “Đó là phơng tiệntất yếu quan trọng nhất để thể hiện t tởng trong các tác phẩm tự sự và kịch - nó

là phơng diện có tính thứ nhất trong hình thức của các tác phẩm ấy, quyết địnhphần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa phơng tiện ngôn ngữ vàthậm chí cả kết cấu nữa” [46, 210] Chức năng của nhân vật là phơng tiện kháiquát hiện thực, khái quát những quy luật của cuộc sống con ngời Nhà vănsáng tạo nhân vật là để khái quát các tính cách, số phận con ngời và các quanniệm về chúng

Nói đến những tác phẩm loại hình tự sự nói chung cũng nh nói đếnnhững sáng tác văn xuôi trào phúng nói riêng, không thể không nói đến nhânvật bởi lẽ nội dung t tởng của tác phẩm thờng đợc thể hiện chủ yếu ở nhân vật.Nhân vật trào phúng góp phần không nhỏ trong việc tạo sắc thái và hiệu quảcủa tiếng cời Đây là chỗ có thể tìm ra nét tơng đồng và khác biệt của mỗi câybút văn xuôi trào phúng Việc xây dựng nhân vật trào phúng thành công đếnmức nào là tuỳ thuộc sở trờng của nhà văn

2.2.2 Nhân vật trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Điều ta dễ nhận thấy trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là ông ờng xây dựng nhân vật theo nguyên tắc phân tuyến: giàu - nghèo, thiện - ác,

th-đối nghịch giữa các tầng lớp trong xã hội: kẻ giàu - ngời nghèo, quan lại - dânthờng Sự châm biếm, đả kích nhân vật thờng đợc gắn với chức năng xã hội

Trang 38

của nhân vật ấy Tâm lý, tính cách nhân vật gắn với vị trí xã hội của nó và th ờng đợc biết trớc: quan lại thì ăn tiền, đục khoét, lính tráng thì xỏ xiên đểucáng, hào lý thì tham lam bần tiện, gái mới thì h hỏng

-Khi xây dựng nhân vật, nhà văn Nguyễn Công Hoan chủ yếu dùng bútpháp ngoại hiện chứ không thiên về khám phá nội tâm “Tính chất hài của cáctính cách đợc bộc lộ chủ yếu ở những nét bề ngoài và hành vi của con ngời:ngoại hình, cử chỉ, điệu bộ, hành động, lời nói Các nhà văn hài hớc và cácnhà văn châm biếm hầu nh không thể hiện thế giới nội tâm của các nhân vật(hoặc chỉ thể hiện ở một mức độ ít ỏi) nhng trong tác phẩm của mình họ lạinêu bật và tô đậm chất hài của những chi tiết tạo hình bên ngoài (chân dung,miêu tả lời nói của các nhân vật, các cảnh có tình tiết)” (G.N.Pospelov)[46,182]

Hiện tợng thờng gặp trong văn trào phúng: “ Một mặt văn châm biếmmuốn tái hiện thực tế, phát hiện một cách hiện thực những thiếu sót, và mâuthuẫn của các hiện tợng trong cuộc sống nhng đồng thời sức mạnh của sựphản kháng và sự bất bình lên cao tới mức nó đã dựng lại các hiện tợng đó,phá vỡ tỉ lệ, chế giễu chúng, miêu tả chúng dới hình thức hoạt kê, méo mó, lốbịch, kỳ quái để đặc biệt nhấn mạnh tính chất không thể thừa nhận của chúng”(Timôphiep) [51,209] Chỗ mạnh nhất của Nguyễn Công Hoan là nghệ thuậttả ngoại hình nhân vật dới “hình thức loạt kê méo mó, lố bịch” Hầu nh mọinhân vật của Nguyễn Công Hoan đều xấu xí dù đó là hạng ngời nào Điều nàytrở thành một thói quen, một ý thức thẩm mỹ trong ông- “tôi vẽ ngời xấu nhạyhơn ngời tốt Bởi vì tôi vốn bi quan nên nhìn mọi vật bằng con mắt hoài nghi,chỉ thấy phía xấu”(Nguyễn Công Hoan) [18,351]

Có hai loại chân dung nhân vật kỳ dị trong truyện ngắn của ông Mộtloại làm ngời ta ghét kèm theo nỗi khinh bỉ Đó là chân dung của những ôngquan, bà lớn, những ông chủ, bà chủ Ngời đọc không thể quên chân dung củaquan huyện Hinh (“Đồng hào có ma”) đợc nhà văn vẽ theo lối “vật hóa”:

“Chà! chà! Béo ơi là béo! Béo đến nỗi giá có thằng dân nào vô ý, buột mồmnói ra một câu sáo rằng: “nhờ bóng quan lớn” là ông tởng ngay nó nói xỏ ông( ) mà có lẽ vì ông béo quá, nên lỗ chân lông căng ra, căng thẳng quá đến nỗirâu không có chỗ lách ra ngoài đợc Đến nỗi năm bốn mơi tuổi mà mặt ông cứnhẵn thín nh thờng” Đúng là một khuôn mặt thịt, vô cảm vô hồn Một chândung khác, béo đến phát sợ: “Nguyên bà ấy béo quá - Gớm! Béo đâu béo lạbéo lùng thế! - Béo đến nỗi hai má chảy ra rụt cổ lại Béo đến nỗi bụng sệxuống Béo đến nỗi trông phát ngấy lên! ” (“Hai cái bụng”)

Trang 39

Loại chân dung khác tuy xấu xí nhng gợi niềm cảm thơng ở ngời đọc.

Đây là chân dung của bà cụ quê mùa (“ Báo hiếu: trả nghĩa cha”) : “Mặt mũi

đen đủi, dăn deo, xấu nh con khỉ Hai mắt thì toét toèn những nhử Cái hàmtrên thì chìa ra nh mái hiên Hai tay thì lóng cóng, gí cái nút buộc dải yếm vàotận mắt, lúng túng cởi mãi mới lấy đợc miếng trầu, bỏ vào mồm nhai phómphém Trông lại càng xấu Cái áo vải nâu dày cồm cộp, cái quần một ống-nóinôm na ra là cái váy-lùng thùng nh cái bồ, chỗ thì ớt, chỗ thì khô Có lẽ là bộcánh quý nhất, nên ra tỉnh, mới dám mặc đến, nay bị ớt thì tiếc, nên cố vắt mãicho khỏi đẫm nớc ma (…) là biết kiếm ra những chuyện tức c)” Bà cụ ấy là mẹ của một ông chủ sang trọng “Xấu chàng hổ ai” đó là cách bêu riếu ông chủ của nhà văn Đây là chân dungcủa thằng ăn cắp: “ Trông nó sợ thật Hai mắt trắng dã, lấm la lấm lét Tóc thìbồng lên nh tổ quạ Da đen thui thủi Mặt rạn nh men lọ cổ ” (“Thằng ăncắp”)

Khi nhà văn mô tả những nét xấu xí, kỳ dị của kẻ giàu có, quyền hànhngời ta lại thấy ghê tởm tầng lớp cần phải đánh đổ, tiêu diệt ở tầng lớp giàu

có mà đểu cáng, nhà văn tả ngoại hình để nhằm thể hiện tính cách (ngoại hình

và tính cách nhân vật thống nhất): “Bởi tiếng quan đồng nghĩa với nịnh hót,gian ác và ăn tiền Thì những nét nào ở mặt mũi, ở cử chỉ, ở hành động tô đợctính nịnh hót, gian ác và ăn tiền, ta cứ tha hồ trút vào bức hoạ một tên quan takhông sợ là vu oan cho một điển hình quan lại ” [18,352] Đối với loại nhânvật này xấu về ngoại hình tức là xấu về tính cách, bản chất

Chân dung xấu xí của những kẻ nghèo hèn dễ gây cho ngời đọc cảmgiác tác giả đã đi lạc vào địa hạt của chủ nghĩa tự nhiên Con ngời là một biểuhiện sinh động nhất về bản chất xã hội Khi nhà văn miêu tả những con ngờixấu xí thê thảm kia có nghĩa là ông đã vạch trần sự thối tha của một trạng tháixã hội phi nhân tính, phỉ nhổ vào bản chất vô nhân đạo của nó Những hìnhnhân đồ vật kia chỉ là nạn nhân của sự vô lơng tâm, của sự bóc lột, bất công, nhà văn miêu tả với một thái độ tởng chừng nh khinh miệt, nhng thực ra là vớimột tấm lòng nhân đạo thiết tha Việc miêu tả ấy có ý nghĩa tố cáo sự bấtcông, tàn nhẫn của xã hội phong kiến thực dân thối nát, vô nhân đạo

“Nguyễn Công Hoan vật hóa, thô kệch hóa chân dung nhân vật để “lạhóa” màn trò Nói theo Vũ Ngọc Phan, nhà văn đã để họ làm trò “ với những

bộ mặt phờng tuồng của họ” [47,50] Loại quan ăn bẩn nhất loạt phải béo, cácquan bà cũng nhất loạt phải béo “ Béo” đã trở thành công thức ngoại hình ởcác “quan ông”, “quan bà”: huyện Hinh (“Đồng hào có ma”), Nghị Trinh(“Hai thằng khốn nạn”), bà chủ (“Phành phạch”), bà Bống (“Đàn bà là giống

Trang 40

yếu”) Loại nhân vật dới đáy xã hội lại cực gầy: Anh Tiêu (“Đợc chuyếnkhách”), anh Sẩm (“Anh Sẩm”), thằng ăn cắp, (“Thằng ăn cắp”).

Hai loại nhân vật “béo”, “ gầy” này, xét về mặt ý nghĩa xã hội biểu hiện

sự phân hoá giai cấp, tầng lớp sâu sắc; xét về mặt chức năng, cả béo và gầy

đều thảm hại nh nhau “Béo” là do “ ăn bẩn” nghĩa là ăn cắp, ăn hiếp Do vậyloại quan này thờng diễn trò ăn cắp, ăn cớp “ Gầy” do không có gì mà ănnên phải diễn trò kiếm tiền, trò ăn cắp, ăn xin

Bên cạnh việc miêu tả ngoại hình nhà văn còn chú ý miêu tả hành vicủa nhân vật để thể hiện tính cách Trong “Đồng hào có ma” tác giả đã đểnhân vật quan huyện Hinh tự lột mặt nạ bằng chính hành động của y: “Ônghuyện Hinh cứ ngồi yên sau bàn giấy để nhìn theo con mẹ khốn nạn Rồi khithấy nó đi khuất ông mới đa mắt xuống chân, ông cúi xuống thò tay nhặt đồnghào đôi sáng loáng, thổi từng hạt cát nhỏ ở giày bám vào, rồi bỏ tọt vào túi”

ở trên quan càng oai vệ bao nhiêu thì đến đây càng thấp hèn, đê tiện bấynhiêu, ăn cắp cả những đồng xu nhỏ của dân nghèo

Có thể thấy rằng Nguyễn Công Hoan đã chịu ảnh hởng về nguyên tắcxây dựng nhân vật từ văn học truyền thống: nhân vật phân tuyến (chính diện -phản diện), dùng ngoại hình, hành động để mô tả tính cách Đọc truyện của ông

ta thấy yếu tố hiện đại chiếm u thế song không phải không có yếu tố giao thời.Truyện của ông là cầu nối giữa truyện truyền thống và truyện hiện đại

2.2.3 Nhân vật trào phúng trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng

Nhãn quan “vô nghĩa lý” đã chi phối mạnh mẽ nghệ thuật xây dựngnhân vật của Vũ Trọng Phụng

Là nhà văn hiện thực mang trong mình một lý tởng nhân sinh cao đẹp,

Vũ Trọng Phụng luôn tâm niệm sống một cuộc sống có ý nghĩa Ông từng tâmsự: “ Cuộc sống của chúng ta có thể ví với một ngọn lửa Muốn cháy sánghơn, to hơn, ngọn lửa phải cháy lan ra Cuộc sống con ngời chỉ thực sự có ýnghĩa khi ta phá vỡ cái vỏ cá nhân để sống cả vì ngời khác Mỗi khi cầm búttôi lại tự nhắc tôi làm theo lời răn cao thợng ấy” Không thực sự ý thức đợcmột cuộc sống có ý nghĩa, nhà văn không thể có đợc cái nhìn sâu sắc về conngời “vô nghĩa lý”, không thể sáng tạo ra những nhân vật “vô nghĩa lý” có sứcsống trờng tồn Trong thế giới nhân vật của ông, ta bắt gặp những con ngời cónghĩa lý thể hiện quan niệm sống của nhà văn: Tùng và Lan (“Lỡ lời”) Thiêntruyện “ Lỡ lời ” có ý nghĩa quan trọng trong việc hé ra cánh cửa để ngời đọcnhận diện về quan niệm con ngời của Vũ Trọng Phụng Truyện kể về mối tìnhtrong sáng, cao thợng của Tùng và Lan, biết hy sinh cho hạnh phúc của ngời

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hải Anh (2006), “Đặc trng phong cách ngôn ngữ trần thuật Nam Cao”, Nghiên cứu Văn học, (3),tr.36-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trng phong cách ngôn ngữ trần thuật Nam Cao”, "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Lê Hải Anh
Năm: 2006
15. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Văn học và học văn (tái bản), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và học văn
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
16. Trần Văn Hiếu (2005), Ba phong cách trào phúng trong văn học Việt Nam thời kỳ 1930-1945: Nguyễn Công Hoan- Vũ Trọng Phụng - Nam Cao, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba phong cách trào phúng trong văn học ViệtNam thời kỳ 1930-1945: Nguyễn Công Hoan- Vũ Trọng Phụng - NamCao
Tác giả: Trần Văn Hiếu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
30. Nguyễn Đăng Mạnh (1979), Nhà văn t tởng và phong cách, Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn t tởng và phong cách
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Tácphẩm mới
Năm: 1979
31. Nguyễn Đăng Mạnh (1987), “Lời giới thiệu ” , Tuyển tập Vũ Trọng Phụng , tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời giới thiệu”", Tuyển tập Vũ Trọng Phụng
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1987
45. Vũ Trọng Phụng (2004), Vũ Trọng Phụng toàn tập, tập5, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trọng Phụng toàn tập
Tác giả: Vũ Trọng Phụng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
46. G.N.Pospelov (Chủ biên) (1998), Dẫn luận nghiên cứu Văn học, (TrầnĐình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu Văn học
Tác giả: G.N.Pospelov (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
53. Trần Đăng Xuyền (2001), “Cảm hứng chủ đạo và những xung đột nghệ thuật cơ bản trong văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945”, Văn học, (2), tr.55 - 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng chủ đạo và những xung đột nghệthuật cơ bản trong văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945”, "Văn học
Tác giả: Trần Đăng Xuyền
Năm: 2001

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w