1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếng cười qua một số phương tiện và biện pháp tu từ trong truyện ngắn nguyễn công hoan

55 906 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếng cười qua một số phương tiện và biện pháp tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Tác giả Vũ Thị Kim Chi
Người hướng dẫn ThS. Trần Anh Hào
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 183,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học Vinh Khoa ngữ văn Tiếng cời qua một số phơng tiện và Biện pháp tu từ trong truyện ngắn nguyễn công hoan Khoá luận tốt nghiệp đại học Chuyên ngành: ng

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học Vinh Khoa ngữ văn

Tiếng cời qua một số phơng tiện và Biện pháp tu từ trong truyện ngắn nguyễn công hoan

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: ngôn ngữ

Giáo viên hớng dẫn: ThS Trần Anh hào

Sinh viên thực hiện: Vũ thị Kim Chi

Trang 2

- -Vũ thị kim chi

Tiếng cời qua một số phơng tiện và Biện pháp tu từ trong truyện ngắn nguyễn công hoan

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Giáo viên hớng dẫn: ThS Trần Anh hào

đáo của nhà văn

Trang 3

Truyện ngắn của ông mở ra một thế giới nghệ thuật mới lạ, hấp dẫn Các nhànghiên cứu với nhiều hớng tiếp cận khác nhau đã có nhiều công trình nghiên cứucông phu về tiếng cời trào phúng của nhà văn Song có thể nói, cha có công trìnhnào thật hoàn chỉnh, toàn diện, mang tính hệ thống về vấn đề nghiên cứu tácdụng của các phơng tiện, biện pháp tu từ – một trong những công cụ đặc biệtquan trọng, giúp cho tiếng cời của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có một chiềusâu đáng nể.

Chính vì vậy, đề tài của chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu tiếng cời qua một sốphơng tiện và biện pháp tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, theo hớngtiếp cận ngôn ngữ về phơng diện phong cách học

2 Đối t ợng và mục đích nghiên cứu:

2.1 Đối tợng nghiên cứu:

Do giới hạn của đề tài và hạn chế về thời gian nên chúng tôi chỉ chọn nhữngtruyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan để khảo sát Đi từ góc độ ngônngữ học mà cụ thể là từ điểm nhìn phong cách học, các truyện ngắn ấy sẽ đợctìm hiểu trên hai bình diện:

* Tìm hiểu các phơng tiện và biện pháp tu từ ở các cấp độ khác nhau trong 92truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan

* Tìm hiểu giá trị biểu đạt của các phơng tiện và biện pháp tu từ (cụ thể làtiếng cời) trong 92 truyện đợc khảo sát

2.2 Mục đích nghiên cứu:

Qua việc khảo sát các truyện ngắn cụ thể của Nguyễn Công Hoan, chúng tôitìm ra những phơng tiện và biện pháp tu từ tiêu biểu mà ông hay sử dụng làm hạtnhân cho tiếng cời trong truyện ngắn của mình, và rút ra các giá trị biểu đạt củatừng phơng tiện, biện pháp đó

Trên phơng diện lý thuyết, đề tài góp thêm những cứ liệu trong việc thẩmthấu một tác phẩm văn học Qua đó, giúp cho việc dạy học văn, tiếng Việt trongnhà trờng đạt hiệu quả cao hơn

3 Lịch sử vấn đề liên quan đến đề tài:

Nằm trong guồng quy luật đào thải của tự nhiên và lòng ngời, Nguyễn CôngHoan cùng mấy trăm truyện ngắn của ông vẫn “sừng sững một thế đứng củaTam Đảo, Ba Vì hùng vĩ” trong văn mạch dân tộc Rất nhiều độc giả đã tìm đếntruyện ngắn Nguyễn Công Hoan để đọc, suy ngẫm, thởng thức từng câu chữ có

vẻ tự nhiên, gọn gẽ, nhng lại chan chứa bên trong những trăn trở, suy t và đặcbiệt là không kém phần hài hớc, dí dỏm, thể hiện một trí tuệ sắc sảo, một ócchâm biếm tinh quái Điều gì khiến truyện ngắn của ông có đợc giá trị to lớn và

Trang 4

vị trí đặc biệt nh vậy? Đó là nguyên nhân thôi thúc chúng ta đi tìm cái nghĩa lýsâu xa (mà cụ thể hơn là những công cụ, chất liệu) để xây nên vị thế đó.

Trong sự đa dạng và phong phú của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 –

1945 Nguyễn Công Hoan đợc coi là “ngời mở đờng”, là “lá cờ đầu” của dòngvăn học hiện thực phê phán Việt Nam Ông là một trong những ngời viết truyệnngắn trào phúng thành công nhất, đã tạo nên sự mới mẻ cho thể loại văn học này

- Hai cuốn hồi ký Đời viết văn của tôi, Nhớ gì ghi nấy

Nhng nổi bật và gây ấn tợng nhất là những truyện ngắn mang đậm chất tràophúng, những tác phẩm đó đã đem lại cho ngời đọc những tiếng cời đầy ý nghĩa,với mọi cung bậc hả hê, khoái chá, chua chát, chế giễu, căm hờn nhng cũng làcời ra nớc mắt của một tấm lòng u ái, nhân hậu

Do thế truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan ngày càng thu hút sự chú ý, tìmtòi của giới nghiên cứu, phê bình văn học cả trong và ngoài nớc, nhiều côngtrình về truyện ngắn của ông đợc công bố rộng rãi nh: “Nghệ thuật trào phúngtrong truyện của Nguyễn Công Hoan”, “Nghệ thuật viết truyện ngắn củaNguyễn Công Hoan”, “Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” của Lê Thị

Đức Hạnh

“Chất hài trong câu văn Nguyễn Công Hoan”, “Quan niệm nghệ thuật củaNguyễn Công Hoan”, “Lối văn gây cời trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”của Nguyễn Thanh Tú

Tất cả đợc tập hợp lại và in trong cuốn “Nguyễn Công Hoan – Cây bút hiệnthực xuất sắc” [17]

Ngoài ra còn có các tiểu luận, khoá luận, luận văn nh: Nguyễn KhắcThuần, Bớc đầu khảo sát cấu trúc câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan(luận án thạc sĩ)[15]

Bùi Thị Minh Nhâm, Cấu trúc - ngữ nghĩa lời hội thoại trong tác phẩm NguyễnCông Hoan (luận án thạc sĩ), Đại học Vinh, 1996

Hoàng Thị Mỹ Dung, Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc cáchmạng (luận văn tốt nghiệp), Đại học Vinh, 2000

Trang 5

Trong số những công trình viết về Nguyễn Công Hoan đáng chú ý làchuyên luận “Thi pháp trào phúng Nguyễn Công Hoan” của Trần Đình Sử vàNguyễn Thanh Tú [16] Cuốn chuyên luận này đã đi sâu vào tìm hiểu các quyluật bên trong, khám phá các cơ chế nội tại của nghệ thuật tạo tiếng cời trongtruyện ngắn Nguyễn Công Hoan, các ông đã vận dụng các kiến thức thi pháphọc và phong cách học để phân tích ngôn ngữ, đi vào những góc khuất của cácphơng tiện và biện pháp tu từ Tuy nhiên, chuyên luận đó phần lớn là những

đóng góp nghiêng về góc độ phê bình Mặc dù có đề cập đến các phơng tiện,biện pháp tu từ, nhng đó cha phải là một chuyên luận sâu sắc, toàn diện về cácphơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Từ thực tế nghiên cứu trên đây, luận văn chúng tôi muốn lách vào mộtkhía cạnh nhỏ trong đó: tìm hiểu “Tiếng cời qua một số phơng tiện và biện pháp

tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”, qua đó góp thêm một cách nhìn,cách đánh giá về tài năng của ông Chúng tôi hi vọng rằng, đề tài này sẽ phầnnào tìm hiểu sâu sắc hơn truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan ở góc độ ngônngữ học

4 Giới hạn vấn đề:

Với phạm vi hạn hẹp của luận văn cũng nh trình độ bao quát của ngời viếtcòn hạn chế, đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu tiếng cời qua các phơng tiện và biệnpháp tu từ điển hình mà Nguyễn Công Hoan thờng sử dụng để làm nổt bật tiếngcời trong truyện ngắn trào phúng của mình Ơ phơng tiện tu từ gồm: Mô hình

mở rộng; Mô hình rút gọn; Đảo đổi trật tự bố cục

Ơ biện pháp tu tử gồm: so sánh; tăng cấp; phóng đại; chơi chữ

Vì là bớc đầu làm quen với công việc nghiên cứu khoa học, chắc chắn luậnvăn sẽ không tránh khỏi thiếu sót, suất, chúng tôi rất mong đợc sự thông cảm vàgóp ý của các thầy cô giáo và các bạn;

5.2 Phơng pháp đối chiếu so sánh:

Chúng tôi sử dụng phơng pháp này để so sánh, đối chiếu với các phơng tiện

và biện pháp tu từ mà nhà văn Nam Cao thờng sử dụng để thấy sự gần gũi, khácbiệt của các nhà văn cùng thời

5.3 Phơng pháp phân tích - tổng hợp:

Trang 6

Trên cơ sở thống kê, phân loại, đối chiêu, so sánh, chúng tôi phân tích, tổnghợp các phơng tiện và biện pháp tu từ trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan

để rút ra giá trị biểu đạt và hiệu quả thẩm mĩ của chúng

6 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 3 chơng:

Trang 7

Ch ơng 1 Một số vấn đề chung.

Ơ trong chơng này chúng tôi đề cập tơí môt số vấn đề có liên quan đến đề tài nh: Tiếng cời và tiếng cời trong văn chơng; Phơng tiện và biện pháp tu

từ Qua đó để thấy cái tài của Nguyễn Công Hoan trong việc vận dụng các chấtliệu đó làm nên hạt nhân tiếng cời trong truyện ngắn của mình

1.1 Tiếng c ời và tiếng c ời trong văn ch ơng.

1.1.1 Tiếng cời là gì?

Đứng trớc một hiện tợng phức tạp của đời sống, con ngời bao giờ cũngbộc lộ hai mặt bản chất: Hoặc đồng tình hoặc phản đối; hoặc khẳng định hoặcphủ định; hoặc yêu hoặc ghét; hoặc ca ngợi hoặc giễu cợt

Sự giễu cợt là một mặt quan trọng để biểu hiện thái độ sống của con ngời

và định giá nhân cách của con ngời: “Anh hãy cho tôi biết anh cời ai, tôi sẽ choanh hay, anh là ngời thế nào” (Ngạn ngữ )

Nh vậy, xét ở góc độ thẩm mĩ thì tiếng cời gắn liền với phạm trù “cáihài” - sự giễu cợt Tiếng cời là một yếu tố không thể vắng mặt trong cái hài,bởi đó là dấu hiệu xác nhận mối quan hệ khách thể - chủ thể Nếu cái hài làmột hiện tợng khách quan thì tiếng cời là sự phản ánh của con ngời trớc đối t-ợng khách quan đó, do đó tiếng cời là kết của của cái hài, do cái hài gây nên.Cái hài, do đó thuộc về khách thể thẩm mĩ còn cái c ời thuộc về chủ thể thẩmmĩ

Song song với tiếng khóc chào đời của mỗi một con ngời thì tiếng cờicũng đợc cất lên ngay sau đó, và tiếng cời cũng đồng hành với chúng ta trongsuốt cuộc đời và nó là một phần không thể thiếu của cuộc sống Bên cạnh tiếngcời sinh lý, nó còn là sự bộ lộ của nhiều trạng thái tâm hồn: Vui, buồn, chê,trách, căm hờn Thực tế, tiếng cời Việt Nam là một đặc sắc, một truyền thống,một vốn quý, thể hiện tinh thần lạc quan của dân tộc, nhân dân ta không chỉ cờivui trong niềm phấn khởi mà còn cời chua chát trong nỗi đau thơng tê tái, cờiphẫn nộ trong nỗi căm giận sâu lắng ngời ta gọi đó là “tiếng cời tâm lý xãhội”

Từ đó chúng ta có thể thống nhất rằng: Tiếng cời là phản ứng của chủ thểthẩm mĩ trớc khách thể thẩm mĩ có khả năng gây cời Trong đó chủ thể thẩm mĩ

là chủ thể cời (ngời cời) còn khách thể thẩm mĩ là đối tợng gây cời (ngời bị cời)

Sự phê phán của con ngời đối với cái xấu có khi đợc thể hiện dới hìnhthức vui cời Nh vậy, bản thân đối tợng dĩ nhiên không thể tạo nên tiếng cời nếukhông có chủ thể Tiếng cời chỉ thực sự xuất hiện khi chủ thể nhận ra mặt đốilập có tính hài của đối tợng Mặt khác, không phải mọi cái xấu đều tạo ra tiếngcời, mà tiếng cời cũng có đối tợng nhất định mới gây đợc cời Những cái xấu về

Trang 8

mặt sinh học khiến ngời ngoài không những không thể cời mà trái lại còn thấyxót xa, thong cảm Chỉ có những cái xấu về mặt đạo đức, nhân cách, lối sốngmới là đối tợng gây nên tiếng cời Qua tiếng cời thì những cái gì là mất hài hoàcân đối giữa nội dung và hình thức, giữa bản chất và hiện tợng, giữa lý tởng vàthực tế của đối tợng đợc vạch ra, bị đả kích và cuối cùng sẽ bị tống tiễn ra khỏicuộc sống.

Nh vậy, tiếng cời chỉ thực sự cất lên trớc những thói xấu, những bản chất,những sự khập khiễng không còn phù hợp với quy luật của đời sống, đi chệchkhỏi chuẩn mục thông thờng của sự vật hiện tợng

1.1.2 Y nghĩa của tiếng cời:

Tsecnxépxki nói: “khi chế giễu cái xấu, chúng ta trở nên cao hơn nó”

Nh vậy, tiếng cời ở đây có tác dụng uốn nắn lẽ sống Mặt khác “ta không thểcời cái ta không ghét” [11;53] Do đó, nhiệm vụ của tiếng c ời là đi sâu, thâmnhập vào mặt trái của cuộc sống, phát hiện những cái xấu xa, lố bịch, đối lậpvới lý tởng xã hội hoặc chuẩn mực đạo đức để phanh phui nó ra, làm cho conngời chán ngán và cuối cùng là tống tiễn nó ra khỏi đời sống, chôn vùi nóxuống mộ địa Nhng điều quan trọng là trong khi đa ma cái xấu vào mộ địa,con ngời không chỉ nhằm khắc phục những trở ngại trên con đ ờng đi tới củamình mà qua đó con ngời cần vun xới cho cái mới, cái tiến bộ ngày một đâmchồi nảy lộc

Nh vậy, tiếng cời là hình thức phê phán đặc biệt, phê phán bằng cảm xúc

đối với những gì đối lập với lý tởng thẩm mĩ tốt đẹp, điều đó cũng đồng nghĩavới việc khẳng định cái tiến bộ, cái cao cả

Thấy đợc sự lợi hại của tiếng cời, Nguyễn Công Hoan – nhà văn hiệnthực lớn của nớc ta đã kịp thời nắm lấy nó, lấy nó làm vũ khí đắc lực cho mìnhtrong công cuộc đối phó với một xã hội mà “tất cả thế giới đang diễn kịch” Đó

là xã hội Việt Nam vào khoảng những năm 1930 – 1945, khi tất cả chỉ là “mộtthế giới bị lộn trái” thì tiếng cời Nguyễn Công Hoan đã mang một tầm phổ quát

và dân chủ Tiếng cời chĩa vào sự tha hoá trong xã hội, là tiếng cời đối với trạngthái tha hoá của con ngời nói chung, chứ không đơn giản chỉ cời tầng lớp nào,con ngời nào Tiếng cời của ông đã công kích vào thành luỹ xã hội thực dân nửaphong kiến, lột bỏ cái vỏ hào nhoáng, giả tạo để trơ ra tất cả sự xấu xa, nhơnhuốc bên trong Cời cái xấu, nghĩa là muốn loại bỏ nó, mong muốn cái tốt cái

đẹp, cái thiện đến với con ngời Đấy là vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp của giá trị nhân bảntrong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Trang 9

Để có đợc một tiếng mang ý nghĩa xã hội đó, Nguyễn Công Hoan đã vậndụng tất cả các kỷ năng cũng nh tài năng của mình để viết lên những tác phẩm

để đời, trong những kỷ năng đó có cái điêu luyện của việc vận dụng các phơngtiện và biện pháp tu từ tiếng Việt

1.2 Ph ơng tiện tu từ và biện pháp tu từ:

Trong hoạt động ngôn ngữ, ngời sử dụng ngôn ngữ cần luôn có ý thức rằng,mình luân có trong tay (trong đầu óc) hai loại phơng tiện ngôn ngữ trung hoà vàphơng tiện ngôn ngữ tu từ, đồng thời cũng biết rằng ngoài những biện pháp sửdụng ngôn ngữ theo cách thông thờng còn có những biện pháp sử dụng ngônngữ một cách đặc biệt, gọi là những biện pháp tu từ

Vậy, phơng tiện tu từ là gì? Biện pháp tu từ là gì?

Theo Đinh Trọng Lạc ,“phơng tiện tu từ là phơng tiện ngôn ngữ mà ngoài

ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – lôgic) ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung mà

tu từ học còn gọi là màu sắc tu từ, còn biện pháp tu từ là cách phối hợp sử

dụng trong hoạt động lời nói các phơng tiện ngôn ngữ, không kể là trung hoàhay tu từ (cong gọi là diễn cảm) trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả

tu từ” [12;5]

Quan điểm của Đinh Trọng Lạc xuất phát từ sự phân biệt rõ ràng và sự trìnhbày có hệ thống đối với các phơng tiện tu từ và biện pháp tu từ Theo ông, cầnphải xuất phát từ cách hiểu phơng tiện tu từ và biện pháp tu từ nh trên để tìmhiểu vấn đề, xác định phân loạ và miêu tả hai khái niệm cơ bản này Từ đó cóthể đi đến một hớng xác định đúng đắn, có hệ thống về nội dung nghiên cứu các

đặc điểm tu từ trên các cấp độ: Cấp độ từ vựng và cấp độ ngữ nghĩa; cấp độ cúpháp và cấp độ văn bản, và ông đã phân xuất ra thành “99 phơng tiện và biệnpháp tu từ”

Thế nhng, trong hoạt động thực tế có nhiều hiện tợng ngời ta rất khó xác định

là phơng tiện tu từ hay biện pháp tu từ, cho nên khó có thể đi đến một danh sáchthống nhất, nhất trí về các phơng tiện tu từ và biện pháp tu từ trong tiếng Việt.Nên, từ trớc đến nay, các giáo trình và tài liệu về phong cách học còn có sự nhậpnhằng trong cách phân giới giữa các phơng tiện tu từ và biện pháp tu từ Chẳnghạn:

Hiện tợng “so sánh”, tác giả Nguyễn Thái Hoà cho là phơng tiện tu từ còn

Đinh Trọng Lạc lại cho đó là biện pháp tu từ

“Ân dụ”, cả hai tác giả Nguyễn Thái Hoà và Đinh Trọng Lạc đều cho là

ph-ơng tiện tu từ, nhng Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, lại cho là biện pháp tu từ

“Câu hỏi tu từ”, nhiều nhà ngôn ngữ học cho là biện pháp tu từ nhng giáotrình Đại học Vinh lại cho là một phơng tiện tu từ

Trang 10

Và còn rất nhiều hiện tợng khác cũng không thống nhất đợc với nhau.

Ngay cả Đinh Trọng Lạc khi chỉ ra sự khác biệt rõ rệt giữa phơng tiện tu từ

và biện pháp tu từ nh vậy nhng vẫn thấy: “giữa chúng vẫn có mối quan hệ biệnchứng Một mặt, việc sử dụng các phơng tiện tu từ sẽ tạo ra các biện pháp tu từ,mặt khác việc sử dụng một biện pháp tu từ nào đó trong lời nói cũng có thểchuyển hoá nó thành một phơng tiện tu từ, đây chính là trờng hợp của những cái

gọi là so sánh, phóng đại đã “mòn” đi trong thời gian Hơn nữa, cùng một

ph-ơng tiện tu từ có thể đợc dùng để xây dựng nên những biện pháp tu từ rất khácnhau Và ngợc lại, những phơng tiện tu từ khác nhau có thể cùng tham gia vàoviệc xây dựng cùng một biện pháp tu từ duy nhất” [12;9], cũn vì thế mà các tácgiả Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Hữu Quỳnh không phân chia rõràng, cụ thể ranh giới giữa phơng tiện tu từ và biện pháp tu từ nh Đinh TrọngLạc

Mỗi ngời một quan điểm khác nhau, điều quan trọng là chỉ ra đợc hiệu quả

sử dụng trong những trờng hợp cụ thể, không gặp nhau trên phơng diện lý thuyếtnhng có thể gặp nhau ở thực tiễn sử dụng, và đã có một số nhà khoa học gọichung hai hiện tợng này bằng các tên: các phơng thức tu từ học, phép tu từ, cách

tu từ, thủ pháp tu từ

ở đề tài này chúng tôi không có tham vọng lý giải hết tất cả các ý kiến vềcác phơng tiện và biện pháp tu từ, cũng nh không có đủ điều kiện để miêu tả hếttất cả các phơng tiện và biện pháp tu từ, mà chỉ cố gắng tìm hiểu một số phơngtiện và biện pháp tu từ điển hình mà nhà văn Nguyễn Công Hoan thờng sử dụngtrong truyện ngắn trào phúng của mình, và chúng tôi đặc biệt chú trọng tới cuốn

“99 phơng tiện và biện pháp tu từ” của Giáo s Đinh Trọng Lạc

1.3 Ph ơng tiện và biện pháp tu từ công cụ gây c ời trong truyện

ngắn Nguyễn Công Hoan :

Nh chúng ta đã biết, văn học trào phúng dân gian Việt Nam với hạt nhân làtiếng cời có một vị trí khá quan trọng trong nền văn học dân tộc Mỗi khi mộtchế độ chính trị bị mục ruỗng, rữa nát, khiến đời sống nhân dân cực khổ, lao đao

là một lần tiếng cời dân gian có dịp nổ ra, đã phá, phê phán, châm biếm, để ớcmơ tới một xã hội công bằng và tơi đẹp hơn Trong những điều kiện lịch sử đặcbiệt, tiếng cời Việt Nam luôn có những nhiệm vụ chính trị cấp bách Có tiếng c-

ời đánh đuổi giặc ngoại xâm, có tiếng cời chọc thủng vào tim đen của tầng lớpthống trị phong kiến, nhng cũng không ít tiếng cời vui vẻ, lạc quan của ngời dânlao động Chúng ta đã trải qua mấy nghìn năm dựng nớc và giữ nớc với biết bao

đổi thay của xã hội, trong đó có khi nhân dân ta cời hả hê, cũng có lúc đau

Trang 11

th-ơng, cay đắng mà vẫn cời Chính tiếng cời của Nguyễn Công Hoan bật lên phầnlớn ở trờng hợp thứ hai.

Sống giữa một không khí sôi động với những ngời bạn văn trào phúng trongnền văn học hiện thực phê phán 1930 – 1954, thời kỳ sau những cây bút nổitiếng nh Ngô Tất Tố, Tú Mỡ, Vũ Trọng Phụng… mỗi ng mỗi ngời mỗi vẻ thì tiếng cờicủa Nguyễn Công Hoan nổi lên nh một bằng chứng điển hình cho sự vợt bậc củavăn xuôi trào phúng hiện đại Vì sao Nguyễn Công Hoan lại có đợc vị trí vẻvang đó? Có thể giải thích bằng nhiều nguyên do Nhng lý do quan trọng bậcnhất ở đây là ông đã khai thác một cách triệt để các phơng tiện, biện pháp tu từtiếng Việt và xem nó nh một công cụ thiết yếu – một cẩm nang quan trọng đểthể hiện những ý tởng của mình trong suốt quãng đời cầm bút Và, qua các ph-

ơng tiện, biện pháp tu từ mà Nguyễn Công Hoan sử dụng trong truyện ngắn củamình ngời đọc thấy bao quát và nổi bật lên là chất hài – bởi chất hài vốn là vũkhí rất lợi hại của nhà văn họ Nguyễn, nhiều khi còn “tơi rói, mang theo cả cáirun rẩy của sự sống bên trong (dẫn theo: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn CôngHoan nhà văn hiện thực lớn)

Công cụ là “cái dùng để tiến hành một việc nào đó, để đạt đến một mục đíchnào đó” (Từ điển Việt Nam) Truyện của Nguyễn Công Hoan mang đậm chấthài, cơ bản là do tác giả đã khéo tổng hợp đợc các phơng tiện, biện pháp tu từ -công cụ chủ yếu trong thủ pháp gây cời Tuy nhiên, trong đó vẫn thấy nổi rõ mộtbiện pháp là cờng điệu, phóng đại, nói theo cách nói của Nguyễn Công Hoan là

“nói quá lên một tý” làm cho nhân vật, sự việc trở nên lố bịch, kỳ quặc, hớngcâu chuyện tới chỗ kết thúc bất ngờ, đột ngột Bên cạnh đó, ông cũng chú ý đếnviệc tạo cho truyện những kiểu chơi chữ hóm hỉnh, có khi ở tên truyện và phầnlớn trong nhiều chi tiết của truyện Ngoài ra các biện pháp tu từ nh tăng cấp, liệt

kê, phóng đại cũng đã đợc ông khai thác một cách triệt để Tất cả các biệnpháp đó đợc đặt trong một văn bản mà kết cấu của nó là các phơng tiện tu từ rất

đa dạng, biến hoá: có khi đảo trật tự bố cục, có khi là mở rộng phần mở đầu, mởrộng phần kết thúc, nhng cũng cú khi là rút gọn phần mở đầu, rút gọn phần kếtthúc để rồi đi đến mục đích cuối cùng là làm bật ra tiếng cời có một chiều sâu

bên trong Đó là tiếng cời cay đắng chua chát (Thằng ăn cắp, Kép T Bền, Ngựa

ngời và ngời ngựa…), hoặc tiếng cời đã kích sâu cay gây cho ngời đọc một thái

độ căm phẫn, khinh miệt, một tinh thần phủ định triệt để (Thịt ngời chết, Tinh

thần thể dục…) mà ẩn chìm đằng sau tiếng cời đó là tiếng nói của thời đại.

Thành công của Nguyễn Công Hoan do nhiều nguyên nhân: phơng thức kểchuyện biến hoá, tài vẽ hình, vẽ cảnh sinh động, linh hoạt thế nhng, kể baonhiêu thì chúng ta cũng không thể phủ nhận đợc các công cụ then chốt làm nên

Trang 12

sự thành công của Nguyễn Công Hoan – bậc thầy về truyện ngắn châm biếm,

mẽ nhà văn họ Nguyễn này đã sử dụng các phơng tiện và biện pháp tu từ ,và coi

đó nh là công cụ đắc lực giúp cho vũ khí đả kích cả mình thêm sắc bén hơn

Trang 13

Chơng 2 Tiếng cời qua một số phơng tiện tu từ

trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Chơng 1 (mục 1.2) của khoá luận đã xác định rõ “phơng tiện tu từ lànhững phơng tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản ra chúng còn có ý nghĩa bổsung hay màu sắc tu từ”

Căn cứ vào cấp độ ngôn ngữ đợc sử dụng, các phơng tiện ngôn ngữ đợc chiara: phơng tiện tu từ từ vựng, phơng tiện tu từ ngữ nghĩa, phơng tiện tu từ cúpháp, phơng tiện tu từ văn bản

Các lý thuyết ngôn ngữ học truyền thống xem câu là dơn vị cao nhất, họ chỉnghiên cứu đối tợng ở cấp độ câu trở về, điều đó đã bộc lộ những hạn chế khá rõ

nh thế, nhng với Phong cách học thì cha đủ.

Với quan điểm coi văn bản là một chỉnh thể giao tiếp có tổ chức, có hệ

thống, môn Phong cách học đã lấy văn bản làm đối tợng khảo sát chính, đi sâu

vào nghiên cứu các phạm trù cơ bản của văn bản nh: mở đầu, kết thúc, trật tự bốcục… mỗi ngnhằm mục đích tìm hiểu màu sắc nghệ thuật tu từ văn bản

Theo đó, ở chơng 2 này, chúng tôi đi vào tìm hiểu một số phơng tiện tu từtrong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan ở cấp độ văn bản để xem xét tiếng cờitrong truyện ngắn của ông ở một chỉnh thể cấu trúc trọn vẹn

Nh chúng ta đã biết, mô hình văn bản cơ bản là mô hình văn bản thờnggặp ở các phần, các khối theo trình tự: “Mở đầu - phần chính -kết thúc” Đốilập với mô hình cơ bản, có tính chất trung hoà (về màu sắc biểu cảm - cảmxúc) là các mô hình đợc cải biến, đợc đánh dấu về tu từ học, có tích chất tu từ

học (có màu sắc biểu cảm - cảm xúc) Phong cách học gọi mô hình đó là

những phơng tiện tu từ văn bản (tất cả mô hình văn bản đợc cải biến) đợchình thành do 3 phơng thức: rút gọn phần nào đó, mở rộng phần nào đó và

đảo trật tự phần nào đó

2.1 Một số phơng tiện tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan:

Truyện ngăn Nguyễn Công Hoan tập hợp đầy đủ các phơng tiện tu từ, ở

đầy đủ các cấp độ: từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản Thế nhng, do sự chiphối của đề tài, chúng tôi chỉ có thể miêu tả một số phơng tiện tu từ trong truyệnngắn Nguyễn Công Hoan trên cấp độ văn bản - cấp độ biểu hiện rõ nhất tiếng c-

ời trào phúng của nhà văn

Xét trên phơng diện văn bản, trong một số truyện của Nguyễn Công Hoan

có khi không có phần mở đầu hoặc không có phần kết thúc, hoặc phần mở đầu,phần kết thúc đợc mở rộng ra, đợc bổ sung thêm, tạm gọi là “sự dôi d và thiếu

Trang 14

hụt mang ý nghĩa nghệ thuật của văn bản” [16;192] bởi tính linh hoạt trong bốcục phục vụ cho mục đích nghệ thuật.

Qua quá trình thống kê, phân loại chúng tôi thấy có 38 truyện trong số 92truyện đợc thống kê trong hai cuốn “Nguyễn Công Hoan: Truyện ngắn chọnlọc” dùng phép tôi từ văn bản, chiếm 40% tổng số truyện đợc khảo sát

Trong 38 truyện đó biện pháp tu từ văn bản xuất hiện 41 lần, trong đó:

ở nhóm rút gọn (bao gồm: rút gọn phần mở đầu, rút gọn phần kết thúc, rútgọn cả mở đầu lẫn kết thúc) xuất hiện 23 lần, chiếm hơn 56%

Nhóm mở rộng (bao gồm: mở rộng phần mở đầu, mở rộng phần kết thúc, mởrộng cả mở đầu lẫn kết thúc) xuất hiện 6 lần, chiếm 14%

Nhóm đảo trật tự (bao gồm đảo phần chính lên đầu (bao gồm đảo phần chínhlên đầu và đảo phần kết thúc lên đầu) xuất hiện 12 lần, chiếm 30%

Nh vậy, các phơng tiện tu từ văn bản xuất hiên trong truyện ngắn NguyễnCông Hoan với một tần số khá cao Điều đó chứng tỏ Nguyễn Công Hoan rấtdụng công trong việc thể hiện kết cấu truyện ngắn của mình

2.2 Tiếng cời qua một số phơng tiện tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan:

Tìm hiểu tiếng cời qua một số phơng tiện tu từ trong truyện ngắn NguyễnCông Hoan không thể làm chung chung mà phải đi vào tìm hiểu ở từng phơngtiện cụ thể Trong phần này chúng tôi lần lợt tìm hiểu tiếng cời qua các phơngtiện tu từ văn bản từ mô hình rút gọn đến mô hình mở rộng và cuối cùng là môhình đảo đổi trật tự bố cục

Một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có phần mở đầu đợc rút gọn:

Thanh! Dạ!, Hé! Hé! Hé!, Tinh thần thể dục, Mất cái ví, Cô Kếu, gái tân thời, Oẳn tà rroằn, Cái vốn để sinh nhai, Bữa no … đòn… đòn … đòn….

Câu chuyện không có phần mở đầu, tác giả đi ngay vào phần chính, coi

nh sự việc đã và đang xảy ra, chỉ việc kể tiếp Nhân vật, sự kiện, diễn biến tựbộc lộ đa luôn độc giả vào tình huống đã dàn dựng sẵn, tạo sự bất ngờ cho

độc giả, qua đó tiếng cời đợc bật ra một cách tự nhiên, sảng khoái ngay từ

đầu truyện

Mở đầu truyện Oẳn tà rroằn, tác giả cho ngời đọc chứng kiến ngay cuộc

đối thoại giữa Phong và Nguyệt, từ đó độc giả có thể biết đợc cái sự trơ trẽn,

Trang 15

trâng tráo của hãng “gái đĩ già mồm” ngay cả đứa con trong bụng mình cũngkhông biết là con ai, cứ đổ vầy đổ và hết ngời này đến ngời khác.

Rút gọn phần mở đầu nh vậy, tác giả muốn ngời đọc đi nhanh vào phầntrọng tâm câu chuyện để cùng cời cợt với mình trớc cái gọi là “lòng chung thuỷ”

“không loan chung phợng chạ” của đám gái mới lãng mạn, cụ thể ở đây làNguyệt

Cô Kếu, gái tân thời, ngay từ phần mở đầu đã kích thích ngời đọc bởi tâm

lý tò mò: Cô Kếu là ai? Tại sao cô lại không nhận cái tên đó nữa? khi tác giả chỉdùng một nửa câu ghép với ba chấm lửng: “Nhngg cô có nhận cái tên ấy nữa

đâu… mỗi ng” để liên kết tên truyện và phần chính Ngoài cái tên “Kếu” xấu xí đã phámất cái ý nghĩa đẹp đẽ của cô gái “tân thời” đó ra ngời đọc không biết điều gìthêm về nhân vật Chỉ đến khi đọc hết phần còn lại ngời đọc mới: ồ, thì ra làvậy! Làm ngời đọc không giấu đợc nụ cời dí dỏm, cảm thấy… mỗi ng ơng thơng choth

số phận của các cô gái “tân” nhng sinh không đúng “thời”

Bữa no … đòn… đòn, tác giả vào truyện ngay:

“Và bụi Và tanh Và ồn ào Và hơi ngời Và chen chúc

Chợ họp mỗi lúc một đông.”

đã đa ngời đọc đến cảm nhận không khí đầu buổi chợ: ngột ngạt, lộn xộn, ồnào Thế mà “chợ họp mỗi lúc một đông” thì sự ghê sợ ấy còn tăng lên đếnbao nhiêu nữa khi buổi chợ vào lúc cao điểm? Mở đầu thế này khiến ng ời đọcmuốn tìm hiểu thế giới nhân vật sống trong cái không gian tù bức ấy nh thếnào

Thanh!

Dạ! (Thanh! Dạ!)

Mở đầu truyện là một lời gọi - đáp và đếm xuyên suốt câu chuyện nó lặp lạitới 10 lần, đã đa thẳng độc giả vào phần chính để chứng kiến cảnh nhà chủ saibảo con ở nhiều hay ít

Việc lợc bỏ, rút gọn phần mở đầu nh thế có tác dụng cá biệt hoá tác phẩm,

đem lại cho ngời đọc ấn tợng về một cách viết độc đáo, mới mẻ, khêu gợi tâm lý

tò mò, muốn tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao Thêm vào đó, lời kể chuyệncủa tác giả và lời thoại của nhân vật giao hoà đến mức khó phân biệt, khiến chocâu chuyện trở nên sinh động, tự nhiên, sự giễu cợt ở đây thật nhẹ nhàng, tế nhị

2.2.1.2 Rút gọn phần kết thúc:

“Mô hình văn bản đợc cải biến từ mô hình cơ bản bằng cách rút gọn phầnkết thúc (chỉ còn lại phần mở đầu và phần chính) là một phơng tiện tu từ vănbản, tức một phơng tiện văn bản mang màu sắc tu từ, đối lập với phơng tiện vănbản trung hoà, không có màu sắc đó” [12;122]

Trang 16

Nguyễn Công Hoan thờng sử dụng lối rút gọn phần kết thúc trong truyện

ngắn cảu mình: Đợc chuyến khách, Ngựa ngời và ngời ngựa, Răng con chó

của nhà t sản, Anh xẩm, Nỗi vui sớng của thằng bé khốn nạn….

ở truyện Đợc chuyến khách, tác giả dừng lại ở câu cảm thán “May làmsao, anh lại tranh đợc chuyến khách” Nhng đó có thực sự là cái “may” đúngnghĩa với nó không khi mà anh Tiêu đang ốm, đang trong cơn thổ huyết, vìmiếng cơm manh áo mà anh coi thờng cả tính mệnh của mình Tác giả buôngmột câu lạnh lùng, không nhận xét, bình luận gì thêm Việc rút gọn phần kếtthúc đó càng mở ra trong lòng độc giả sự lo lắng, trăn trở, băn khoăn đối với sốphận của những kiếp “ngựa ngời”

Truyện ngắn - đặc biệt hơn nữa là truyện ngắn trào phúng là một thể loạiviết rất khó Do dung lợng quá ngắn của nó, do sự đòi hỏi của thể loại nên yêucầu ngời viết phải có kỹ thuật rất cao trong việc dùng từ, đặt câu, đặc biệt làtrong bố cục sao cho hợp lý Có những chuyện có khi muốn đa vào phần mở

đầu, phần kết thúc sao cho văn bản trở thành một chỉnh thể hoàn hảo, nhng nhthế có khi hoặc sẽ thừa hoặc làm truyện dài dòng, nhạt nhẽo thêm vì tính cách

nhân vật, sự việc đã đợc bộc lộ rõ ở phần trên Chẳng hạn, nếu trong Ngựa ngời

và ngời ngựa có đoạn kết thúc (nh đã in trong An Nam tạp chí số 18, ngày

1/3/1930) này:

“Anh ấy khóc, phải, anh ấy khóc, anh ấy khóc để lấy giọt nớc mắt rửasạch cái vết ba đào của cảnh phu xe trong kiếp ngựa ngời, tình cờ bị vạ lây vớicái bớc ba đào trong kiếp ngời ngựa”

sẽ làm truyện dài dòng, chất muối hài sẽ nhạt đi, ý nghĩa chủ đề bị bật thẳng rakhông cần thiết

Truyện Răng con chó của nhà t sản kể về một ngời xin ăn mà chủ nhà

không cho, để có miếng cơm, ngời ăn mày đã phải tranh giành với chó, cuốicùng ngời làm chó gãy hai răng Chủ nhà nhảy lên ô tô, nổ máy xình xịch quyếttâm kẹp chết ngời ăn may Truyện ngăn dừng lại ở chi tiết chủ nhà nhảy tót lên ôtô:

“à, mày đánh gãy răng chó ông, ông chỉ kẹp cho mày chết tơi, rồi ông

đền mạng Bất quá ba chục bạc là cùng

Nói đoạn ông tắt đèn pha, phóng xe hết sức nhanh để đuổi theo”

Đọc xong, ta tởng nh tác giả quên cái công việc viết đoạn kết cho truyện

và phân vân không biết cuối cùng ông chủ nhà giàu thơng chó, giận thằng ngờirồi có kẹp chết ngời ta không?

Khi còn là một chơng của cuốn “Những cảnh khốn nạn” tác giả đã để ô

tô ông chủ chẹt nhầm phải tên con quan Đại, rồi khi vào khám xét nhà thì thấy

Trang 17

có giấu thuốc phiện lậu Truyện nh thế gây cời hơn, nhng ý nghĩa tố cáo bịgiảm đi (vì ngời ăn mày không chết).

Tác giả cũng nhận ra điều ấy, cho nên khi in trong “Truyện ngắn chọnlọc” ông đã bỏ đi đoạn cuối và để phần cuối nh đã trích, nhằm dụng ý bộc lộ rõcon ngời thật của tên nhà giàu: bất nhân, không có tính ngời

Đây là một kiểu xây dựng tính cách nhân vật mang đậm tính kịch, tính cáchcủa nhân vật đợc bộc lộ qua ngôn ngữ, hành động của nhân vật Tác giả không cầnbình luận gì thêm, không cần thiết phải kéo dài đoạn kết thúc ngời đọc cũng kịpnhận ra lòng lang dạ thú của tên nhà giàu và căm tức, khinh ghét hắn

Kết thúc chuyện Anh xẩm là một khung cảnh buồn bã, ảm đạm:

“Rồi anh run cầm cập, xếp thau, ôm đàn, cuốn chiếu, cầm gậy, đứng dậy,thong thả lần lối đi

Việc lợc bỏ phần kết thúc nh thế có tác dụng “cá biệt hoá tác phẩm”, đemlại cho ngời đọc ấn tợng về một cách viết mới mẻ, độc đáo, tôn trọng thực tếkhách quan để tính cách nhân vật tự bộc lộ qua ngôn ngữ, hành động, không áp

đặt những suy diễn chủ quan mà giành cho ngời đọc cái quyền đợc rút ra nhữngkết luận của mình, làm cho tác phẩm để lại những d âm sâu xa mãi mãi, sự đừacợt nh mềm đi nhờng chỗ cho cái ngậm ngùi, thơng cảm đối với số phận củamột tầng lớp ngời

2.2.1.3 Rút gọn cả phần mở đầu lẫn phần kết thúc:

“Mô hình văn bản đợc cải biến từ mô hình cơ bản bằng cách rút gọn cả phần

mở đầu lẫn phần kết thúc (chỉ còn lại phần chính) là một phơng tiện tu từ vănbản, tức một phơng tiện văn bản trung hoà, không có màu sắc đó” [12;123]

Mở đầu Hai cái bụng tác giả viết:

“Hôm nay thì nó lại đi rồi Tai nó ù Mắt nó loá Nó nằm vật ở lề đ ờng.Miệng nó há hốc ra mà thở”

Làm nh ngời đọc đã biết trớc đợc nguyên nhân của những triệu chứng trên là

do “nó đói” và giờ chỉ việc kể tiếp cái chuyện ngời ăn mày “chỉ thèm đợc ăn”.Cuối truyện là một bức tranh đối lập “ Bà ấy chỉ thèm ăn đợc” Tác giả đã lợc

đầu, lợc đuôi chỉ để lộ ra sự tơng phản giữa cái bụng đói của ngời ăn xin với cáibụng qua no đủ của ngời giàu ở phần chính Thế nhng, toàn bộ đã làm cho câu

Trang 18

chuyện có ý nghĩa trào phúng sâu sắc và có sức tố cáo mạnh mẽ Ngời đọc cămtức, phẫn nộ trớc nghịch cảnh xã hội phong kiến xa: ngời nghèo đói thì không cómiếng cơm manh áo để tồn tại, ngời giàu thì ngắc lên đến tận cổ.

2.2.2 Mở rộng:

2.2.2 1.Mở rộng phần mở đầu:

“Mô hình văn bản đợc cải biến từ mô hình cơ bản bằng cách mở rộngphần mở đầu, là một phơng tiện tu từ văn bản, tức một văn bản mang màu sắc tu

từ, đố lập với một phơng tiện văn bản trung hoà, không có màu sắc đó”[12;124]

Khi cần phải “rào đón, thuyết phục” độc giả-tác giả mạnh dạn mở rộng phần mở

đầu Có khi tác giả mở rộng theo kiểu phản đề (đi ngợc lại vấn đề để giải thíchvấn đề) Cách mở đầu này rất độc đáo, hấp dẫn và mang nhiều yếu tố hài hớc,

châm biếm, tạo tính hấp dẫn, lôi cuốn ngời đọc: Đồng hào có ma, Thịt ngời

chết… đòn…

Mở đầu truyện Đồng hào có ma, tác giả định giới thiệu nhân vật huyện

Hinh hình dạng khác thờng để phù hợp với tính cách đê tiện, nên đã nêu lên một

lý thuyết kỳ quặc ngợc đời để khẳng định cho lý lẽ của mình: Những ngời béokhoẻ ở đời là do họ thích ăn bẩn chứ không thích ăn sạch:

“tôi cực lực công kích sách vệ sinh đã dạy ta ăn uống phải sạch sẽ, nếu ta muốn

đợc khoẻ mạnh, béo tốt Thuyết ấy sai! Trăm lần sai! Nghìn lần sai! Vì tôi thấy

sự thực, ở đời này, bao nhiêu những anh béo khoẻ, đều là những anh thích ănbẩn cả”

Đoạn này khơi gợi ở ngời đọc một sự tò mò, thích thú, chờ đợi xem sự giảithích của tác giả Đây chỉ là phần thông tin bổ sung cho tac phẩm chứ không phải

là phần thông tin cơ bản đó chỉ là cái cớ để tác giả kể về thói tham lam, đục khoétcủa quan lại và dễ dàng lôi nhân vật huyện Hinh ra để chứng minh:

“Thì đấy, các ngài cứ nhìn ông huyện Hinh hẳn các ngài phải chịu ngayrằng tôi không nói đùa”

Từ sự rộng đó tác giả có thể tha hồ lôi ra những kiểu ăn vốn không đợc

“vệ sinh” lắm của tên quan huyện và cời vào mũi hắn

Có khi tác giả mở rộng vấn đề theo một kiểu lập luận phi lôgic Để phêphán, chống đối lại viêc làm tán tận lơng tâm của bọn quan lại mà tiêu biểu làtên tri huyện t pháp có tâm địa hết sức dã man, tác giả đã mở rộng phần đầu câuchuyện bằng một lập luận ngợc đời pha thêm chút hài hớc:

“Vì mới chết lần này là lần đầu, nên anh Xích cha có lịch duyệt về khoảnấy”

Trang 19

Sau đó,để chứng minh cho sự “không lịch duyệt ” ấy tác giả đa ra lý lẽrất chặt chẽ ở phần tiếp theo Lý luận giải thích đa ra rất nghịch lý, cái chết conngời liên quan đến sự khám xét mới đợc chôn cất, một nghịch lý có tính chất tốcáo bọn quan lại Sự mở rộng phần mở đầu đã bóng gió xa xôi cho ta hiểu điều

đó

Có khi tác giả tạo ra sự dí dỏm cho câu chuyện bằng cách mở rộng phần

đầu theo một lý lẽ riêng:

“Điều tôi lấy làm bực mình nhất là thế nào cũng có một độc giả đa nghi,xem xong câu chuyện này, bảo một ngời bạn rằng:

- Hắn bịa

Tôi hãy cãi trớc rằng:

- Tha không bịa tí nào” ( Một tấm gơng sáng).

Lý lẽ này có chức năng “thuyết phục” độc giả về phần nội dung chính củachuyện là “ không bịa”

Có khi tác giả mở rộng phần mở đầu theo kiểu đánh đố, tạo sự dí dỏm cho

độc giả:

“Đố ai biết anh phu xe đơng lững thững dắt cái xe không ở đằng ngã t đầu

phố kia, đi nh thế tự bao giờ đấy?” (Ngựa ngời và ngời ngựa).

Lối kết cấu mở rộng phần mở đầu chủ yếu nhằm phục vụ cho một luậngiải định trớc về một vấn đề đợc đặt ra một cách có ý thức Nó có khả năngthuyết phục ngời đọc một cách mạnh mẽ, khiến ngời đọc vui vẻ, đồng tình với

nụ cời châm biếm sâu cay của tác giả

2.2.2.2 Mở rộng phần kết thúc:

Lối kết cấu mở rộng phần kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoantạo cho câu chuyện có ý nghĩa bổ sung, làm tăng ấn tợng vì tính khách quan củacâu chuyện, khiến cho tác gỉa có điều kiện phát biểu những quan điểm riêng,những cách đánh giáđầy biểu cảm, cảm xúc riêng mà trong diễn biến câuchuyện không thể xen vào

Truyện Lập gioòng đáng lẽ phần kết thúc chỉ cần viết nh thế này là đủ:

“Ây thế rồi thày quản, miệng thì ha hả, đầu thì gật gật, tay thì lôi kéo, bắtcon mẹ vào trong túp hàng nớc, có lẽ để khám cho kỹ hơn

- Đó, nguyên nhân vì thế nên con mẹ mới trốn thoát”

Nhng thực tế tác giả lại mở rộng phần kết thúc bằng cách thêm vào mộtcâu dới dạng chuyện trò với ngời đọc cho câu chuyện thêm vui, thêm chất hài:

“Nhng xin các ngài giữ kín hộ, đừng nói chuyện với ai”

Một số truyện khác: Chính sách thân dân, Báo hiếu: Trả nghĩa mẹ, Cái

thú tổ tôm,… đòn… cũng có lối kết thúc mở rộng nh vậy.

Trang 20

Kết thúc Báo hiếu: Trả nghĩa mẹ, là một lờ bình giá hết sức mỉa mai, giễu cợt:

“Não nùng thay! Bà cụ ở dới suối vàng có thơng chăng tá? Giá bà cụ biếtrằng mình đợc con cháu báo hiếu, làm đám ma long trọng dờng này, thì hẳncũng ngậm cời Mà nhất là giá bà cụ lại trông thấy trớc rằng con trai và con dâumình nó thơng mình quá thế, thì chắc lúc “thụ bệnh” cũng chẳng đành tâm mànhắm mắt!”

2.2.3 Mở rộng cả phần mở đầu lẫn phần kết thúc:

“Mô hình văn bản đợc cải biến từ mô hình cơ bản bằng cách mở rộng cả phần

mở đầu lẫn phần kết thúc là một phơng tiện tu từ văn bản, tức một phơng tiệnvăn bản mang màu sắc tu từ, đối lập với phơng tiện văn bản trung hoà, không cómàu sắc đó”[12;127]

Thằng ăn cớp là một truyện đặc sắc bởi hai lần sử dụng phơng tiện tu từ

văn bản: Mở rộng phần mở đầu và mở rộng phần kết thuc Đây là một câuchuyện đợc nhà văn khách quan ghi lại từ câu chuyện chủ quan của thằng ăn c-

ớp Để bổ sung cho nguyên nhân “bỏ nghề đi ăn cớp” ở phần đầu (đợc mở rộng)hiện thực câu chuyện (viên quan) đợc khúc xạ qua nhân vật “tôi”, khúc xạ mộtlần nữa qua tac giả, tạo ra đoạn mở rộng phần cuối bằng cách đối thoại giữa

“tôi” - ngời kể chuyện với tác giả:

“Đấy, anh tính, nh vậy tôi còn có thể theo đuổi nghề ăn cớp để bị cớp lạinữa không? Thành ra khó nhọc vất bao nhiêu, mình không ăn thua gì, rút cục chỉbéo họ đợc ngồi mát ăn bát vàng ấy thế mà riêng chỉ có mình bị mang tiếng làthằng ăn cớp lúc nào cũng ngơm ngớp sợ pháp luật, có tức không”

Nếu hiện thực câu chuyện chỉ đợc khúc xạ một lần qua tác giả thì câu

chuyện chẳng có gì đáng cời, tên truyện Thằng ăn cớp là chỉ chính thằng ăn cớp.

Trong truyện có “tôi” nghĩa là hiện thực đợc khúc xạ qua hai lần, tên truyện

Thằng ăn cớp không còn là chỉ thằng ăn cớp nữa mà chỉ chính viên quan ăn cớp

kia, thì câu chuyện mới đáng cời, thủ đoạn ăn cớp “cao tay” của viện quan kiamới đợc tô đậm

ở Tôi tự tử, đoạn văn mở rộng phần đầu có tác dụng tạo ra một cái nềncho sự tri giác thẩm mĩ (ấn tợng mạnh mẽ về tính hiện thực, tính chân thực củahiện tợng, sự kiện đợc miêu tả) đối với tác phẩm, để câu chuyện thêm kháchquan và nh một thông báo đối với độc giả là nhân vật - ngời kể chuyện trực tiếptham gia vào biến cố của chuyện, tác giả chỉ là ngời ghi chép lại câu chuyện củanhân vật ngời kể chuyện:

“Một loạt truyện ngắn của ông vừa rồi về quan trờng tôi có đọc hết Tôinhận thấycó truyện ông bịa thêm nhiều, có truyện ông bịa thêm ít, nhng cốt

Trang 21

truyện đều có thực cả Tôi không oán trách gì ông, trái lại, nhân tiện hôm nay

gặp ông đây, tôi xin hiến ông một tài liệu để ông viết” (Tôi tự tử).

Bình thờng nếu theo hình thức mình kể chuyện mình thì truyện ngắn Tôi

tự tử chỉ cần bắt đầu, chẳng hạn: “Ngày ấy tôi mới ra làm quan, ngồi ở huyện T.

V- một huyện rất còm cõi ” cũng đủ để nêu lên nội dung câu chuyện Nhngnhờ có đoạn mở rộng phía sau, câu chuyện kể đợc lồng vào một cảnh nh cóthực-cảnh tác giả gặp một bạn đọc Tác giả lúc này chỉ nh một ngời ghi chép

đúng nguyên văn lời kể của nhan vật - ngời kể chuyện mà thôi Với cách mởrộng này ngời đọc nh đợc chuẩn bị trớc để hiểu rằng mối quan hệ của nhân vậtvới các biến cố đợc miêu tả là mối quan hệ trực tiếp

Và, nếu nh ngời đọc còn nghi ngờ về tính chân thực của câu chuyện tácgiả lại tiếp tục mở rộng phần kết thúc để một lần nữa khẳng định, rồi khái quát,nâng cao thông tin, bổ sung thêm những nét tính cách của nhân vật:

“Nhờ việc tự tử, tôi thoát nạn, và sự gian dối ấy có lợi cho tôi trong nhữnglần thăng thởng về sau Bởi thế, trong có ngót mời hai năm trời, tôi đã thăng đếnchức bố chánh, giàu có sung sớng và nhàn hạ Bây giờ đến tuổi về hu, tôi nhớ lạiviệc cũ, cho là có nói thật cũng không hại gì cho bớc đờng công danh của tôi

Cho nên tôi kể lại cho ông viết câu chuyện tự tử này” (Tôi tự tử).

Nh vậy, việc mở rộng phần kết thúc đã bổ sung cho phần mở rộng mở đầucủa câu chuyện làm cho ngời đọc hoàn toàn đợc thuyết phục, nếu nh chẳng hạncòn nghi ngờ rằng chẳng có một tên quan nào “ vạch áo cho ngời xem lng”, tự r-

ớc tiếng xấu vào mình nh vậy Đồng thời, qua phần mở rộng này ngời đọc cònhiểu thêm bản chất của nhân vật: Ngoài thói vô trách nhiệm tên quan này còn làmột kẻ trắng trợn, trơ trẽnvà trâng tráo

2.2.3 Đảo trật tự bố cục:

ở truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, ta thấy có nhiều cách bố cục rấtsinh động Khi thì nhà văn đa ngời đọc đi dần vào vấn đề (Xin chữ của Nghè)khi thì rào đón trớc bằng những câu “tâm sự” dí dỏm (Đồng hào có ma), lúc lại

đột ngột tả thẳng ngay vào nhân vật (Hai cái bụng) hoặc ở chỗ khác lại miêu tả

sự kiện theo trình tự thời gian(Xuất giá tòng phu), lúc lại xáo trộn thời gian:Việc xảy ra sau kể trớc, việc xảy ra trớc kể sau (Lập gioòng)” [6;124]

Đấy là một nhận xét xá đáng về bố cục truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Theo trật tự thông thờng thì truyện Gói đồ nữ trang phải bắt đầu từ phần

mở đầu, chẳng hạn: “Ngày ấy tôi trọ học ở nhà bà cụ đẻ ra cô Hồi Bà cụ goáchồng mà chỉ sinh đợc mình cô ta, cho nên chiều chuộng hết sức ” Nhng đểcâu chuyện thêm sinh động, nội dung câu chuyện thêm hài, tính thời sự của sựviệc đợc nhấn mạnh, khoảng cách thời gian khi kể (hiện tại) và thời điểm sự việc

Trang 22

xảy ra (quá khứ) đợc rút ngắn tác giả đảo một phần của phần chính lên trớcphần mở đầu:

“Tởng là việc cớp hay cháy nhà đâu, chẳng hoá ra cô Hồi mất gói đồ nữtrang Mới độ năm giờ mà cả nhà trong nhà ngoài mất ngủ!

Rõ ràng con gói nó lại, con để nó ở đây này, bây giờ con sờ thì khôngthấy nữa, mà cả gầm giờng con cũng sờ rồi”

Đây là một cách nêu vấn đề trực tiếp, gợi một tâm lý thích thú, muốn theo dõi ởngời đọc

Sau tên truyện Lập gioòng là cả một chuỗi lời đối thoại dẫn đến kết quả

chú lính bị phạt Chi tiết chú lính bị phạt không những là kết quả của câu chuyệnhai thầy trò đi tuần mà còn là điểm mở đầu để tác giả khơi gợi sự tò mò, thíchthú theo dõi câu chuyện Đólà hiệu quả của việc đảo phần kết thúc lên trớc phầnchính

Nếu tác giả dùng phần mở đầu nh thờng lệ để giới thiệu nhân vật với mộttính cách xấu xa, đê tiện rồi mới trình bày câu chuyện xảy ra nh thế nào, thìcách lý giải chắc chắn là mang tính áp đặt chủ quan và nhất là không đem lại sựbất ngờ thú vị cho ngời đọc Đằng này, bắt đầu vào truyện, ngời kể đã ẩn mình

đi, để cho bản thân sự việc sẽ nói sự vô lý của tên quản: hắn để ngời buôn lậutrốn thoát còn bắt chú lính phải chịu phạt, sau đó bộc lộ trực tiếp thái độ giễu cợt

ở phần cuối đợc mở rộng:

“Đó, nguyên do vì thế nên con mẹ mới trốn thoát

Nhng xin các ngài giữ kín hộ, đừng nóichuyện với ai”

Tiểu kết chơng 2:

Mở rộng phần mở đầu, mở rộng phần kết thúc, rút gọn phần mở đầu, rút gọnphần kết thúc, đảo trật tự bố cục nêu trên đây thực chất là những kiểu cách kếtcấu một văn bản nghệ thuật phong phú, đa dạng, mới mẻ, hấp dẫn, đem lạithông tin, bổ sung tu từ thẩm mĩ, giúp cho văn bản có một giá trị biểu đạt đặcbiệt Việc sử dụng chúng không chỉ đơn thuần nhằm tạo nên vẻ đẹp riêng biệt,

độc đáo của mỗi tác phẩm mà còn chủ yếu phụ thuộc vào từng ý đồ nghệ thuậtcủa tác giả, phù hợp với từng nội dung biểuđạt của mỗi tác phẩm NhàvănNguyễn Công Hoan là ngời rất chú ý đến phơng thức kể chuyện biến hoá, nghệthuật dẫn dắt tình tiết sao cho mâu thuẫn trào phúng, tình thế hài hớc đợc bật ra

ở tác phẩm một cách đột ngột, bất ngờ: “ viết lối văn hài hớc và trào phúng, tôimuốn độc giả đọc mỗi truyện của tôi, đều có tiếng cời chua chát, để khinh đểghét, để thù những kẻ đáng khinh, đáng ghét, đáng thù” [10;368]

Theo chúng tôi đây là những yếu tố quan trọng tạo nên cảm giác khác lạ ởmỗi ngời khi tiếp xúc với truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Ơ ông, những phơng

Trang 23

tiện tu từ văn bản rất đa dạng, phong phú và có hiệu quả nghệ thuật cao, chúng

đã góp phần tạo nên sức sống lâu dài cho tác phẩm

Ch ơng 3 Tiếng cời qua một số biện pháp tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.

Nếu nh với các phơng tiện tu từ ,tiếng cời trong truyện ngắn Nguyễn CôngHoan có phần nhẹ nhàng, dí dỏm và chỉ dừng lại ở mức độ giễu cợt, thì ở cácbiện pháp tu từ ,tác giả đã vận dụng chúng một cách triệt để để tạo ra tiếng cờichâm biếm, công phá đến mức trào phúng, tạo ra chiều sâu đả kích cho tác phẩm

và qua đó thể hiện rõ ngòi bút nhân đạo của nhà văn

Chơng 1 ( mục 1.2) đã nêu rõ: Biện pháp tu từ là những cách phối hợp

sử dụng trong hoạt động lời nói các phơng tiên ngôn ngữ không kể là cómàu sắc tu từ hay không trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ(tức tác dụng gây ấn tợng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ, hoàn cảnh… mỗi ng)

Cũng nh các phơng tiện tu từ, các biện pháp tu từ cũng đợc chia ra: Biệnpháp tu từ từ vững, biện pháp tu từ ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp

tu từ văn bản

ở chơng này của đề tài chúng tôi chỉ có thể miêu tả một số biện pháp tu

từ tiêu biểu trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan ở các cấp độ khác nhau mà

ông đã sử dụng nhằm làm nổi bật tiếng cời trong truyện ngắn trào phúng củamình, đó là các biện pháp tu từ: So sánh, chơi chữ, phóng đại, tăng cấp

3.1 So sánh:

“So sánh (còn gọi: so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từngữ nghĩa, trong đó ngời ta đối chiếu hai đối tợng khác loại của thực tế kháchquan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó,nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tợng” [12;154]

Trang 24

Khi tìm hiểu biện pháp so sánh, chúng ta cần phân biệt giữa so sánh tu

từ và so sánh luận lý, trong đó cái đợc so sánh và cái so sánh là các đối tợngcùng loại và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tơng đơng giữa hai đối t-ợng

Ví dụ:

* So sánh luận lý: - Mặt con cũng tròn nh mặt mẹ

- Thuỷ cũng cao nh trang

(Giá trị của (a+b) (a-b) bằng giá trị của a2 – b2 )

* So sánh tu từ: - Răng trắng nh ngà.

Mô hình cấu tạo so sánh hoàn chỉnh gồm bốn yếu tố:

1 2 3 4 Răng trắng nh ngà

Yếu tố 1: Yếu tố đợc hoặc bị so sánh, tuỳ theo việc so sánh là tích cực hay

tiêu cực

Yếu tố 2: Yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động, có vai

trò nêu rõ phơng diện so sánh

Yếu tố 3: Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh.

Yếu tố 4: Yếu tố đợc đa ra làm chuẩn để so sánh.

Thực tế vận dụng ngời ta có thể thay đổi cấu trúc này, chẳng hạn:

a Đảo ngợc trật tự so sánh: nh AB

“Nh chiếc đảo bốn bề chao vật sóngHồn tôi vang vọng cả hai miền”

(Chế Lan Viên)

b So sánh nhiều tằng bậc: A có thể đi với B 1 , B 2 , B 3 …B B n

“Hồn tôi giếng ngọc trong veo Trăng thu trong vắt biển chiều trong xanh”

c Bớt cơ sở (thuộc tính) so sánh: A nh B

“Tình anh nh nớc dâng cao Tình enh nh giải lụa đào tẩm hơng”

(Ca dao)Ngoài ra còn một số kiểu loại khác nữa:

- Yếu tố thứ 3 là từ hô ứng: Bao nhiêu … đòn… bấy nhiêu

- Yếu tố thứ 3 là từ: Là

- Yếu tố thứ 3 là: Nh, tựa nh, giống, hơn, kém … đòn…

3.1.1 Biện pháp so sánh trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan:

Từ cơ sở của biện pháp so sánh trên, sau khi tìm hiểu 92 truyện ngắn củaNguyễn Công Hoan, chúng tôi thu nhận đợc các kết quả sau:

Trang 25

Trong 92 truyện, xuất hiện 458 lần biện pháp so sánh, chiếm trên 71,7%tổng số biện pháp tu từ đợc thống kê Trong đó, so sánh hình tợng xuất hiện 145lần, chiếm 31,65% tổng số biện pháp so sánh, còn lại là so sánh luận lý, chiếmgần 70%

ở biện pháp so sánh trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, chúng tôithấy ông thờng sử dụng các cấu trúc:

- A nh B: (xuất hiện 164 lần)

“Nhanh nh mũi tên” (Thằng ăn cắp).

“Mềm nh sợi bún” (Thằng ăn cắp).

“Xấu nh con khỉ”(Báo hiếu: Trả nghĩa cha).

- A nh B1,B2, B3… mỗi ngBn: (xuất hiện 19 lần)

“ những bài lâm khốc, nh than nh khóc, nh oán, nh hờn”(Báo hiếu: Trảnghĩa mẹ)

“Trong lúc nh điên, nh cuồng” (Thịt ngời chết)

Căn cứ vào từ ngữ làm yếu tố thể hiện quan hệ so sánh, có thể chia ra cáchình thức so sánh mà Nguyễn Công Hoan đã dùng:

a.Yếu tố 3 là từ nh (tựa nh, giống nh) xuất hiện 177 lần, chiếm 85,9%.

b Yếu tố 3 là từ hô ứng: Bao nhiêu bấy nhiêu , xuất hiện 10 lần, chiếm

4,85%

c Yếu tố 3 là từ hơn, xuất hiện 19 lần, chiếm 9,22%.

Nh vậy, cấu trúc và kiểu loại so sánh trong truyện ngắn Nguyễn CôngHoan cũng rất đa dạng, phong phú

3.1.2 Tiếng cời qua biện pháp so sánh trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan:

Trong quá trình khảo sát biện pháp so sánh mà Nguyễn Công Hoan dùngtrong truyện ngắn của mình, chúng tôi thấy một điều rằng, ông không dụngcông lắm trong việc chọn lựa các cấu trúc so sánh, nghĩa là ông không quan tâm

đến việc mình dùng cấu trúc này thì hiệu quả thẩm mĩ sẽ nh thế nào, dùng cấutrúc nọ thì hiệu quả tu từ sẽ ra sao Bởi thế, chúng tôi không đi sâu vào phântích các kiểu loại cấu trúc so sánh mà chỉ xem đó nh là căn cứ để phân địnhdạng thức của nó mà thôi

Điều chúng tôi quan tâm ở đây là khi đọc những truyện ngắn của NguyễnCông Hoan-ngời đọc dù có thờ ơ bao nhiêu cũng không thể không cời thầm khibắt gặp những đoạn so sánh ví von thú vị, bất ngờ trong truyện Vậy, NguyễnCông Hoan đã dùng sức mạnh gì để thổi vào biện pháp so sánh tạo cho nó có đợcmột giá trị biểu đạt cao nh vậy? Xin tha, sức mạnh đó không ở đâu xa mà nó nằmngay trong kiểu loại so sánh hình ảnh, hình tợng mà ta đã nhắc đến

Trang 26

So sánh hình tợng khác với so sánh logic là trong so sánh logic các đối ợng đa ra để so sánh đối chiếu với nhau là cùng loại cùng bản chất Còn trong sosánh hình ảnh, hình tợng là các đối tợng khác loại, khác bản chất.

t-Vì so sánh khác loại, khác bản chất cho nên các so sánh hình tợng thờng

là những phát hiện vè sự giống nhau theo một cách nhìn riêng, một cách nhìn

đặc biệt nào đó mà làm cho các đối tợng vốn xa nhau đợc chuyển hoá cho nhau

và có những nét giống nhau Chẳng hạn, thi sĩ Xuân Diệu đã có một phát hiệnbất ngờ khi ông nói:

“Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần”

Nhà văn họ Nguyễn này rất nhạy bén trong việc phát hiện ra những tìnhhuống gây cời, những chi tiết hài hớc trong các sự vật, hiện tợng xung quanh D-ờng nh nhà văn luôn luôn nhìn xã hội đơng thời dới lăng kính trào phúng Mọichi tiết đời thờng diễn ra cũng rất bình thờng trong cuộc sống: ăn, ở, mặc, đilại đối với những con mắt thờng thì chẳng có gì đáng nói, thế nhng khi nó đợc

đặt dới con mắt tinh quái,đậm chất muối hài của ông Hoan, cộng với ngôn ngữ,giọng điệu dờng nh là cạnh khoé, dờng nh là mỉa mai, châm chọc, dờng nh là đámóc của ông thì những chi tiết ấy là cả một vấn đề, tất cả nh đợc nhại lại, đaylại, khúc xạ qua ngôn ngữ, qua trí tởng tợng bay bổng của tác giả để châm biếm,mỉa mai và hài hớc

Chúng ta hãy cùng xem cách nhìn ngời của Nguyễn Công Hoan:

“Hai ông bà cùng béo tốt, đẹp đẽ Nhất là ông, cái bụng phỡn ra, nấptrong bộ quần áo xếp nếp cứng thẳng nh cái hộp Tóc bóng mợt, nhẵn nh cái gáo

lĩnh úp trên đầu, không chịu kém vẻ đẹp với bộ ria sửa khéo nh vẽ” (Báo hiếu:

Trang 27

“Béo tốt, đẹp đẽ” là bóng bẩy, “quần áo xếp nếp cứng thẳng” là bóngbẩy, nhng lại đợc so sánh với “cái hộp” “Tóc bóng mợt”, “nhẵn” là hào nhoánglại đợc so sánh với “cái gáo lĩnh”, cộng với bộ ria khéo nhng không đợc tựnhiên lắm, nó chỉ “nh vẽ” mà thôi Cái gáo, cái hộp là những đồ vật thông tục,thô thiển lại đợc đem ra so sánh với những vẻ hào nhoáng, cao xa của một ôngchủ lớn hãng ô tô “Con cọp” Tả thế thì còn già là “đẹp đẽ” nữa mà chỉ còn làcách nói mỉa mai, châm chọc Cái mã tởng nh là có phúc ấy giờ đã hiện nguyênhình là một con buôn chính hạng Chỉ bằng những so sánh tởng vu vơ nhng cóchủ ý ông đã lột trần bộ mặt của một hạng ngời.

ở một ví dụ khác Nguyễn công Hoan đã dùng ngôn ngữ kể chuyện củamình để tạc một “mặt nạ” nhng đồng thời cũng dùng biện pháp so sánh để xétoang “mặt nạ”ấy đi:

“Cả một vùng trời lam lồng lộng, cả một giải n ớc đỏ mênh mang, cảmột con đê xám ngòng ngèo, cả một lan ruộng xanh mú tít, đẹp thì có đẹp,nhng ông cho là nó cha có vẻ nên thơ bằng đôi má lúm đồng tiền của thiếunữ”(Nạn râu)

Lời văn cũng rất “nên thơ”, nhà cấu trúc lặp lại cấu trúc “cả một ”đều

đặn và dùng một loạt những tính từ bóng bẩy làm bổ ngữ: “lồng lộng” “mênhmang” “ngòng ngèo” “xanh mú tít” Ngời kể chuyện đã đặt vào trờng nhìn nhânvật một cảnh “nên thơ” Ngời đọc tởng đó là một nhân vật đầy tính lãng và mạnbay bổng, nhng chỉ bằng một so sánh, cái “mặt nạ” lãng mạn bay bổng kia rơixuống, chỉ còn trơ ra một bộ mặt thật háu gái của ông “cha có vẻ nên thơ bằng

đôi má lúm đồng tiền của thiếu nữ”, qua đó ngời đọc nhận ra một kiểu cời rấthóm đợc ẩn sau một lớp vỏ ngôn từ

Trong văn chơng, so sánh là phơng thức tạo hình, phơng thứcgợi cảm Nói

đến văn chơng là nói đến so sánh A.phơrăngxơ đã định nghĩa: “Hình tợng làgì? chính là sự so sánh ” và Gôlúp: “Hầu nh bất cứ sự biểu đạt hình ảnh nàocũng có thể chuyển thành hình thức so sánh” [1;146] Một so sánh đẹp là sosánh phát hiện: phát hiện những gì ngời thờng không nhìn ra, không nhận thấy.Nhận thấy đợc những tính năng cũng nh những công dụng đó, Nguyễn CôngHoan đã khai thác một cách triệt để tạo cho văn mình có một thế đứng riêng.Nhà văn có những lối ví von so sánh độc đáo, những liên tởng bất ngờ thú vị:

Cái áo của cô Kếu vẽ hoa “rắc rối nh thời cục nớc Tàu” (Cô Kếu gái tân thời) Lại có cách so sánh để “đá móc” một sự vật hiện tợng khác: “Mỹ thuật

nhất là cái ngực đầy nh cái ví của nhà t bản, chứ không nh cái óc của ông Nghị

ngay cả trớc ngày họp hội đồng” (Sammandji) Có so sánh thì lại rất bất ngờ,

ngộ nghĩnh: “Xe thứ 7, thì một cô xấu nhng tân thời, mặt phấn má hồng, môi đỏ,

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phan Mậu Cảnh. Ngôn ngữ học văn bản. Đại học vinh. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học văn bản
3. Nam Cao. Tác giả và tác phẩm. NXB Hội nhà văn, H.2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả và tác phẩm
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
4. Trơng Chính, Phong Châu. Tiếng cời dân gian Việt Nam. NXB KHXH, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng cời dân gian Việt Nam
Nhà XB: NXB KHXH
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử Nguyễn Khắc Phi. Từ điển thuật ngữ văn học. NXB Giáo dục,1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Lê Thị Đức Hạnh. Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan. NXB KHXH, H.1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Nhà XB: NXB KHXH
7. Nguyễn Công Hoan. Ngựa ngời và ngời ngựa. NXB Văn học, H.2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngựa ngời và ngời ngựa
Nhà XB: NXB Văn học
8. Nguyễn Công Hoan. Truyện ngắn chọn lọc, tập 1. NXB Hội nhà văn, 1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn chọn lọc
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
9. Nguyễn Công Hoan. Truyện ngắn chọn lọc. tập 2, NXB Hội nhà văn, 1958 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn chọn lọc
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
10. Nguyễn Công Hoan. Đời viết văn của tôi. NXB Văn học, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ời viết văn của tôi
Nhà XB: NXB Văn học
11. Đỗ Văn Khang. Mỹ học đại cơng. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học đại cơng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
12. Đinh Trọng Lạc. 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dôc, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dôc
13. Đinh Trọng Lạc. Phong cách học văn bản. NXB Giáo dục, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học văn bản
Nhà XB: NXB Giáo dục
15. Nguyễn Hữu Quỳnh. Tiếng Việt hiện đại. Trung tâm Biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam. H.1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt hiện đại
16. Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Tú, Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan. NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
17. Nguyễn Khắc Thuần. Bớc đầu khảo sát cấu trúc câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (luận án thạc sỹ). Đại học Vinh, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bớc đầu khảo sát cấu trúc câu văn trong truyện ng"ắn "Nguyễn Công Hoan
14. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hoà. Phong cách học tiếng Việt Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w