Nhiều chương trình mang tính quốc tế và quốc gia trênquy mô rộng và có chiều sâu với nội dung phong phú đã được triển khai bao gồmcải tạo môi trường sống, thực hiện tốt an toàn vệ sinh t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -THỰC TRẠNG VÀ MỘT VÀI YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN BỆNH UNG THƯ Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG THUỘC TỈNH HÀ TĨNH
CHUYÊN NGÀNH : SINH HỌC THỰC NGHIỆM
Trang 2tử vong vì bệnh ung thư WHO đã cảnh báo rằng thế kỉ 21 là thế kỉ của bệnh ungthư, bởi vậy việc phòng chống và điều trị ung thư hiện nay trở thành một trongnhững ưu tiên hàng đầu Nhiều chương trình mang tính quốc tế và quốc gia trênquy mô rộng và có chiều sâu với nội dung phong phú đã được triển khai bao gồmcải tạo môi trường sống, thực hiện tốt an toàn vệ sinh thực phẩm, loại bỏ nhữnghóa chất có liên quan đến ung thư trong đời sống hàng ngày; phòng và chống cácbệnh do virus bằng vacxin; tầm soát tốt và chẩn đoán sớm ung thư nguyên phátvới các phương tiện hiện đại đồng thời tìm ra những phương pháp chữa trị mới
có hiệu quả hơn như hóa chất, vật lý trị liệu, phẫu thuật sớm, liệu pháp gene
Hàng năm trên thế giới và trong nước có nhiều công trình nghiên cứu vềbệnh ung thư song đó vẫn luôn là một vấn đề thời sự nóng bỏng đối với các nhà
y học lâm sàng, cận lâm sàng và các nhà sinh học Các công trình này tập trungvào nghiên cứu dịch tễ học, các mối liên quan gây bệnh và cải tiến phương phápphòng bệnh cũng như điều trị
Bệnh ung thư đang hoành hành dữ dội trên thế giới cũng như ở Việt Nam.Trong vài năm gần đây chúng ta thường nghe và cập nhật thông tin về nhữnglàng ung thư xuất hiện trên toàn quốc mà giới truyền thông gọi là sự bùng phát
Trang 3các “làng ung thư” Đây là một hiện tượng y tế dịch tễ rất đáng được quan tâm
vì nó ảnh hưởng đến cuộc sống và sức khỏe của toàn cộng đồng Tỉnh Hà Tĩnhcũng không nằm ngoài bối cảnh đó Để góp phần làm sáng tỏ thực trạng và một
số yếu tố liên quan, góp thêm tiếng chuông cảnh báo đối với việc bảo vệ môi
trường chống lại căn bệnh này chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng và một vài
yếu tố liên quan đến bệnh ung thư ở một số địa phương thuộc tỉnh Hà Tĩnh”
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm nghiên cứu các mục tiêu sau đây:
- Phát hiện thực trạng diễn biến của bệnh ung thư trên địa bàn một số địaphương thuộc tỉnh Hà Tĩnh
- Xác định được tỷ lệ mắc bệnh theo tuổi, giới tính, địa phương và các dạngbệnh ung thư có số người mắc cao
- Tìm hiểu các yếu tố liên quan để đưa đến thực trang trên: ô nhiễm moitrường, di truyền dòng họ
- Tổng hợp, đưa ra các điều kiện phòng, chống bệnh hiện nay
Nội dung nghiên cứu
- Các hiểu biết cơ bản về bệnh ung thư: đặc điểm bệnh học, giải phẫu học,sinh lý học
- Tỷ lệ người mắc bệnh trên các cộng đồng dân cư vùng nghiên cứu
- Sự phân bố theo giới tính, độ tuổi người mắc bệnh và các dạng bệnh ungthư phổ biến
- Các yếu tố liên quan đến thực trạng trên như thành phần môi trường nước,không khí
Trang 4Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các hiểu biết bệnh lý, sinh lý cơ bản về bệnh ung thư
1.1.1 Khái niệm bệnh ung thư
Ung thư (UT) là tên chung dùng để gọi một nhóm bệnh gồm trên 200 loạikhác nhau về nguồn gốc của tế bào, căn nguyên, tiên lượng và cách thức điều trịnhưng có những đặc điểm chung, đó là sự phân chia không kiểm soát được của
tế bào, khả năng tồn tại và phát triển ở các cơ quan và tổ chức lạ
Tên gọi “ung thư” (theo tiếng Hy Lạp là “oncos”, tiếng La-tinh là
“canser”) do bác sĩ cổ đại Hippocrat đặt cho chứng bệnh này vì vẻ ngoài củakhối u ác tính giống như con cua có những “chiếc vòi” xuyên sâu vào trong tếbào khoẻ mạnh
“Ung” là danh từ chỉ loại nhọt lớn, gây đau nhiều, thường nguy hiểm chotính mạng; tính từ nghĩa là thối “Thư” nghĩa là bùa chú (rất khó loại trừ) Như
vậy, theo dân gian UT được dùng để chỉ một người bị nổi ung nhọt, gây thối rữa,
nhiều đau đớn, rất khó loại trừ và nguy hiểm tính mạng
Theo y học, UT là một khối u ác tính, thường có di căn, rất khó tiệt trừ, dễgây tử vong Nói cách khác, ung thư (tiếng Anh là “cancer”) là một nhóm cácbệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một cách vô tổ chức và những tế bào đó
có khả năng xâm lấn các mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cậnhoặc di chuyển đến nơi xa (di căn)
Ở động vật và thực vật, UT là tên gọi chung của tất cả các mô tăng sinh.Quá trình chuyển biến từ tế bào bình thường thành tế bào tăng sinh gọi là UThoá Ở vật nuôi thường gặp các bệnh như: UT mắt ở bò, UT da ở ngựa… Ởngười, UT là loại u rất nguy hiểm (u ác tính), giai đoạn muộn thường di căn, cắt
bỏ u dễ tái phát và gây chết người
Trang 5Theo tổ chức Y tế thế giới WHO (World Health Organization), “ung thư”
là một thuật ngữ chung cho một nhóm lớn các bệnh có thể ảnh hưởng đến bất kỳphần nào của cơ thể Các từ khác được sử dụng là “khối u ác tính và khối ungthư” Một trong những đặc điểm nổi bật của UT là sự hình thành nhanh chóngcác tế bào bất thường phát triển vượt quá giới hạn bình thường và sau đó có thểxâm nhập các phần tiếp giáp của cơ thể và lây lan sang các bộ phận khác Quátrình này được gọi là di căn Di căn là nguyên nhân chính gây tử vong do UT
1.1.2 Các loại ung thư
Các tế bào UT trong một khối u (bao gồm cả tế bào đã di căn) đều xuấtphát từ một tế bào duy nhất phân chia mà thành Do đó một bệnh UT có thể đượcphân loại theo loại tế bào khởi phát và theo vị trí của tế bào đó Tuy nhiên, trongnhiều trường hợp, người ta không xác định được khối u nguyên phát UT có thểđược phân loại dựa theo tính chất giải phẫu bệnh hoặc theo cơ quan bị tổnthương:
• UT biểu mô (carcinoma) có nguồn gốc từ tế bào biểu mô (ví dụ như ởống tiêu hóa hay các tuyến tiêu hóa), chiếm khoảng 85% Phổ biến còn có UT
da, UT cổ tử cung, carcinoma hậu môn, UT thực quản, carcinoma tế bào gan, UTthanh quản, carcinoma tế bào thận, UT dạ dày, nhiều loại UT tinh hoàn và UTtuyến giáp
• Bệnh lý huyết học ác tính (hematological malignancy) như bệnh bạchcầu (leukemia) và u lympho bào (lymphoma), xuất phát từ máu và tủy xương.Loại UT này chiếm khoảng 5% trong các loại bệnh UT
• UT mô liên kết (sarcoma) là nhóm UT xuất phát từ mô liên kết, xươnghay cơ (sarcoma xương, sarcoma sụn, sarcoma cơ vân) Chúng chiếm tỷ lệkhoảng 6%
• U hắc tố do rối loạn của tế bào sắc tố
Trang 6• U quái bắt nguồn từ các tế bào mầm Có nguồn gốc hỗn hợp: u não, u môđệm đường tiêu hóa (GIST), u trung biểu mô (ở màng phổi hay màng tim), utuyến ức, u quái, u hắc tố UT não và các dạng UT hiếm gặp khác chiếm tỷ lệtổng cộng khoảng 4% trong các loại UT.
Ngày nay tuy đã phát hiện được khoảng 200 loại UT, tuy nhiên trong đó cónhững loại thường gặp như: UT phổi, UT vú, UT gan, UT dạ dầy, UT thực quản,
UT buồng trứng, UT bạch huyết, UT tử cung, UT da, UT xương, UT não, UT đạitràng, UT tiền liệt tuyến, UT cổ tử cung
1.1.3 Cơ chế phát sinh bệnh ung thư
UT nảy sinh từ một tế bào bất thường Tế bào này phải trải qua nhiều thời
kỳ biến dạng liên tục trước khi trở thành tế bào UT có tính xâm nhập Quá trìnhphát triển từ một tế bào duy nhất thành một khối UT trải qua nhiều giai đoạn
Thông thường, các tế bào bình thường có một tuổi thọ nhất định và tuânthủ theo một quy luật chung là phát triển - già - chết Các tế bào chết đi lại đượcthay thế bằng các tế bào mới Cơ thể có một cơ chế kiểm soát quy luật này mộtcách chặt chẽ và duy trì số lượng tế bào ở mỗi cơ quan, tổ chức ở mức ổn định.Bệnh UT bắt đầu khi có một tế bào vượt qua cơ chế kiểm soát này của cơ thể, bắtđầu phát triển và sinh sôi không ngừng nghỉ, hình thành một đám tế bào cóchung đặc điểm là phát triển vô tổ chức, xâm lấn và chèn ép vào các cơ quan và
tổ chức xung quanh Các tế bào UT có liên kết lỏng lẻo, dễ dàng bứt ra khỏi khối
u mẹ, theo mạch máu và mạch bạch huyết di cư đến các tổ chức và cơ quan mới,bám lại và tiếp tục sinh sôi nẩy nở (quá trình này gọi là “di căn”) Sự lan tràn nàycòn tùy thuộc vào loại UT UT phổi và vú hay chuyển di đến não bộ, gan, xương
UT tuyến tiền liệt ở đàn ông hay chuyển di đến xương UT não bộ chỉ tunghoành tại chỗ và hiếm khi đi qua nơi khác Các UT chèn ép hoặc di căn vào các
cơ quan giữ chức năng sống của cơ thể làm cho bệnh nhân tử vong
Trang 7Ngày nay, người ta đã biết rằng sự phát triển bình thường của tế bào trong
cơ thể được kiểm soát bằng ba nhóm gene:
- Nhóm gene sinh trưởng (oncogenes) chịu trách nhiệm về sự phát triển
và biệt hóa của tế bào Nếu nhóm gene này bị tổn thương (biến dị), nó hoạt độngkhông theo đúng quy luật và sẽ khiến các tế bào phân chia liên tục và phát triểnmột cách không kiểm soát được
- Nhóm gene ức chế (oncogene supressors): Chịu trách nhiệm ức chế genesinh trưởng, không cho các tế bào tham gia tùy tiện vào chu kỳ sinh trưởng Nếugene này bị mất hoặc bị tổn thương, các gene sinh trưởng bị mất kiểm soát vàhoạt động một cách bất thường khiến cho các tế bào sẽ sinh sản bất bình thường
- Nhóm gene sửa chữa: Là nhóm gene chịu trách nhiệm điều chỉnh nhữngsai sót trong hoạt động của hai loại gene trên Nếu loại gen này bị tổn thương thìnhững biến dị của hai loại gen trên sẽ không được khắc phục và sẽ dẫn đến sựsinh trưởng bất bình thường của tế bào
1.1.4 Nguyên nhân mắc bệnh ung thư
Nguyên nhân sinh UT rất đa dạng, ngoài một số tác nhân đã biết rõ gây
UT như thuốc lá, amian… vẫn còn nhiều nguyên nhân gây UT đang được nghiêncứu Nghiên cứu nguyên nhân UT dựa vào sự hiểu biết các quá trình sinh họcliên quan đến bệnh tật, dựa vào bằng chứng dịch tễ học mô tả và phân tích baogồm sự giải thích những khác biệt quan sát được về tần suất của một số loại UTtheo giới tính, tuổi tác, hoàn cảnh kinh tế xã hội và địa dư
Ngày nay nhờ những tiến bộ vượt bậc của khoa học, đặc biệt trong lĩnhvực sinh học phân tử người ta biết rõ UT do nhiều nguyên nhân sinh ra Một tácnhân sinh UT có thể gây ra một số loại UT và ngược lại một loại UT có thể donhiều nguyên nhân khác nhau Hiểu biết về các yếu tố nguy cơ gây UT giúp dựbáo nguy cơ mắc UT để có các biện pháp sàng lọc phát hiện sớm, giáo dục và tư
Trang 8vấn sức khỏe Nguyên nhân sinh UT gồm 2 nhóm chính là các yếu tố môi trường
và tác nhân bên trong
1.1.4.1 Các yếu tố môi trường
- Tác nhân vật lý
+ Bức xạ ion hóa: tác động của tia xạ gây UT ở người phụ thuộc 3yếu tố quan trọng: Tuổi tiếp xúc càng nhỏ càng nguy hiểm (nhất là bàothai), mối liên hệ liều - đáp ứng, cơ quan bị chiếu xạ (tuyến giáp, tủyxương rất nhạy với tia xạ)
+ Bức xạ cực tím làm tăng nguy cơ UT da
- Tác nhân hóa học
+ Thuốc lá gây ra khoảng 30% trong số các trường hợp UT chủ yếu
là UT phế quản, vùng mũi họng, tụy, đường tiết niệu
+ Chế độ ăn uống và các chất gây ô nhiễm thực phẩm: ngũ cốc bịnấm mốc có chất Aflatoxin gây UT gan nguyên phát, ăn nhiều chất béođộng vật làm tăng nguy cơ UT vú, đại tràng…
+ Các UT liên quan đến nghề nghiệp do tiếp xúc thường xuyên vớimột số chất trong công nghiệp: chất dẻo, sản phẩm thô của dầu mỏ…
+ Hóa trị liệu: sử dụng hóa trị bệnh khác có thể dẫn tới UT
- Các tác nhân sinh học
+ Virus sinh UT như Virus Epstein- Barr (EBV) gây UT vòm mũihọng, virus viêm gan B, C gây UT gan…
+ Ký sinh trùng và vi trùng: vi khuẩn HP (Helicobacter pylori) gây
UT dạ dày; ký sinh trùng schistosomiasis gây UT bàng quang
1.1.4.2 Các nguyên nhân bên trong
- Yếu tố di truyền: khoảng 15 năm trở lại đây nhờ những tiến bộ trong lĩnh
vực nghiên cứu sinh học phân tử người ta đã biết được sự liên hệ chặt chẽ giữacác biến đổi vật liệu di truyền và sự xuất hiện một số bệnh UT Một số UT di
Trang 9truyền như UT đại trực tràng, UT vú, UT tuyến nội tiết và các UT trẻ em cókhuynh hướng dễ gặp trong cùng gia đình, cùng dòng họ…
- Suy giảm miễn dịch và AIDS: khi cơ thể nhiễm vi rút HIV có thể gây
UT sarcoma Kaposi do cơ thể không có sức đề kháng
- Nội tiết tố: dùng lâu dài thuốc nội tiết ngừa mãn kinh và ngừa loãng
xương ở phụ nữ lớn hơn 40 tuổi làm tăng nguy cơ UT nội mạc tử cung…
1.1.5 Các phương pháp điều trị ung thư
Ngày nay, nhờ những tiến bộ lớn lao trong UT học, sinh học phân tử, yhọc đã có khả năng phòng chống trên 80% các loại UT Việc chọn lựa phươngpháp điều trị phụ thuộc vào vị trí và “độ” của khối u, giai đoạn của bệnh cũngnhư tổng trạng của bệnh nhân Một số điều trị UT thực nghiệm cũng đang đượcphát triển
- Điều trị phẫu thuật
Trong một thời gian dài phẫu thuật được xem là phương pháp duy nhất đểđiều trị UT và đến nay nó vẫn còn được xem là hòn đá tảng trong điều trị UThiện đại Những tiến bộ vượt bậc trong kỹ thuật mổ, trong gây mê hồi sức đãhoàn thiện kết quả của phẫu thuật Theo một số tác giả Timothy J.Eberlein, JonhM.Daly thì ngày nay 60% đến 75% các bệnh nhân UT được điều trị bằng phẫuthuật và các kỹ thuật ngoại khoa còn được sử dụng để chẩn đoán, xếp hạng chohơn 90% các bệnh UT Phẫu thuật có thể phối hợp với các phương pháp điều trịkhác như xạ trị, hóa trị, nội tiết, miễn dịch…
- Điều trị tia xạ
Điều trị tia xạ là sử dụng tia bức xạ ion hóa để điều trị UT, là phương phápđiều trị thứ 2 sau phẫu thuật đã được áp dụng hơn 100 năm nay Có 2 loại điềutrị tia xạ:
+ Tia xạ ngoài: nguồn phóng xạ nằm ngoài cơ thể gồm các máyđiều trị tia xạ như cobalt, gia tốc… Với sự phát triển các kiến thức sâu về vật lý
Trang 10phóng xạ, sinh học phóng xạ cùng với việc phát triển hệ thống vi tính trong lập
kế hoạch điều trị đã làm cho điều trị tia xạ chính xác hơn, hiệu quả điều trị đượctăng lên
+ Tia xạ áp sát: nguồn phóng xạ được đặt trong cơ thể bệnh nhân.Các đồng vị phóng xạ được sử dụng là các nguồn mềm có thể uốn nắn được nhưCesium 137, Iridium 192 hoặc Radium 226
là căn bản cho các nguyên tắc hóa trị lâm sàng
tế bào hơn
+ Liệu pháp hướng đích xa hơn: ngoài việc thêm các kháng thể đơndòng và ức chế đường truyền tín hiệu nhỏ, các nhà nghiên cứu đang phát triểncác họ mới của các phân tử như oligodeoxynucleotides antisense và smallinterfering RNA (siRNA)
Trang 11+ Công nghệ nano: công nghệ mới để sản xuất vật liệu mới là cáchạt cực nhỏ dẫn đến phương pháp rất hứa hẹn cho hình ảnh chính xác hơn đểchẩn đoán chính xác vị trí của khối u, chuyển những thuốc đặc biệt và có hiệuquả vào trong các tế bào UT
+ Phẫu thuật tự động: dùng để chỉ thao tác của dụng cụ phẫu thuật
từ xa bằng cánh tay robot và các thiết bị khác điều khiển bởi một bác sĩ phẫuthuật Da Vinci Robot hiện đang được sử dụng trong các bệnh viện ở Anh
+ Liệu pháp dữ kiện biểu hiện RNA và proteomic: Dữ kiện biểu
hiện RNA (RNA expression profiling) cho phép các nhà khoa học xác định số
lượng tương đối của hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn hoặc phân tử RNA tạimột thời điểm Trong trường hợp UT, nó có thể giúp phân biệt các bệnh UT hoạtđộng hơn và các dạng ít hoạt động đồng thời giúp dự đoán các loại thuốc có khảnăng đáp ứng với khối u
+ Liệu pháp hỗn hợp sinh hàn và HIFU được sử dụng thay cho phẫu
thuật để giết chết tế bào UT Trong liệu pháp hỗn hợp sinh hàn (cryotherapy)những cây kim nhỏ hóa lạnh -10000C sử dụng khí argon được cắm thẳng vàokhối u Sau đó vùng can thiệp sẽ được giải lạnh bằng khí helium Liệu phápHIFU (siêu âm tập trung cường độ cao) nung nóng khối u đến 10000C để tiêudiệt nó Hai phương pháp này không xâm lấn mà thời gian phục hồi cũng nhanhhơn
1.2 Lược sử nghiên cứu bệnh ung thư
1.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh ung thư trên thế giới
UT đã ảnh hưởng tới con người trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại Mô
tả lâu đời nhất của bệnh UT được phát hiện trong bảy văn bản bằng giấy cóiPapyri Ai Cập vào khoảng những năm 3000-1500 TCN ghi chi tiết về nhữngđiều kiện phù hợp với các mô tả hiện đại về bệnh UT Trong đó, “Edwin Smith”
mô tả 8 trường hợp khối u và loét ở vú
Trang 12Một số bằng chứng sớm nhất về bệnh UT được tìm thấy trong các khối u
xương hóa thạch Hominid 4 triệu năm tuổi và UT mũi họng và xương thấy trong
các xác ướp Ai Cập cổ đại từ 3.000 TCN Mẫu bệnh UT được tìm thấy còn tronghộp sọ của một phụ nữ sống trong thời đại đồ đồng (1900-1600 TCN) là dấu hiệucủa bệnh UT đầu và cổ Xương cốt của xác ướp Hoàng đế Peru có niên đại 2.400năm trước mang dấu hiệu bất thường của u ác tính
Từ những năm TCN đã xuất hiện nhiều học giả nghiên cứu và phát hiện về
UT như: Hippocrates, bác sĩ vĩ đại người Hy Lạp (460-370 TCN, AulusCornelius Celsus (25 TCN-50), Aretaeus ở Alexandria (thế kỷ thứ 3-2TCN),Leonides (năm 180), Galen (130-201)
Vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất, nền Y học Ả Rập trở nên nổi tiếng đặcbiệt là trong cuộc chiến chống UT Avicenna (980 - 1037) ở Baghdad là ngườinhận thấy rằng một khối u phát triển chậm, xâm nhập và phá hủy các mô lân cận
mà không gây ra cảm giác gì Ở Á Đông trong sự phát triên của Y học cũng đã
có những nghiên cứu về bệnh ung bướu khá sớm như Lý Thời Trân (540) đờinhà Đường trong “Luận thảo cương mục” đã nêu rõ sự nguy hiểm chết người củabệnh cổ trướng Danh y Hoa Đà (200) cũng đã đề xuất biện pháp mổ não do triệuchứng u não gây đau đầu dữ dội
Albucasis (1013 - 1106) người Tây Ban Nha đề nghị phẫu thuật cho bệnhnhân UT giai đoạn đầu và nung các mô xung quanh khu vực nơi khối u đã được
gỡ bỏ Trước khi điều trị, ông thanh lọc mật đen ở bệnh nhân và khi tĩnh mạchphồng lên ông xác định vị trí để điều trị Trong trường hợp xuất huyết nghiêmtrọng, Albucasis đốt các tĩnh mạch hoặc động mạch
Từ năm 1300 - 1600, các bác sĩ phẫu thuật đã rất tiến bộ trong việc hiểu rõhơn về bệnh UT John (1307-1390) bác sĩ phẫu thuật người Anh mô tả các triệuchứng của UT biểu mô trực tràng bao gồm sự xuất huyết và tắc nghẽn
Trang 13Guy de Chauliac (1300 - 1370) ở Pháp, khi tổn thương được phát hiệnsớm, ông thực hiện phẫu thuật và điều trị tổn thương lớn với thuốc mỡ Ôngkhuyên rằng nên có chế độ ăn uống phù hợp để thanh lọc cơ thể bệnh nhân
Trong thời kỳ Phục Hưng từ thế kỷ 15, các bác sĩ đã bắt đầu thu nhậnnhững kiến thức về giải phẫu học và sinh lý học của cơ thể người Điều này bắtđầu một kỷ nguyên mới với sự tiến bộ của phẫu thuật và phát triển của liệu pháphợp lý dựa trên những quan sát lâm sàng
Fallopius (1523-1562) là giáo sư giải phẫu ở Vésale mô tả một vài loạiUT; khi tổn thương được phát hiện sớm, ông thực hiện cắt bỏ, nung đốt và điềutrị tổn thương ở giai đoạn muộn với các thuốc mỡ khác nhau Một trong nhữngthuốc mỡ yêu thích nhất của ông là arsen (ngày nay chúng ta biết rằng arsen làchất gây UT)
Fabricius Hildanus (1560-1634) ở Đức viết cuốn sách mô tả chi tiết hoạtđộng mổ xẻ các hạch bạch huyết nách ở bệnh nhân UT vú
Marco Aurelio Severini (1580-1656) miêu tả các khối u lành tính và áctính khác nhau của vú với chẩn đoán khác nhau Ông là người đầu tiên minh họa
mô tả với bản vẽ Ông cũng mô tả rõ ràng về u xơ tuyến vú và khuyên nên loại
bỏ khối u lành tính có nguy cơ bị thoái hóa
Gaspard Aselli (1581-1625) phát hiện ra hệ thống bạch huyết đã dẫn tới sựsụp đổ lý thuyết thể dịch và nổi lên lý thuyết bạch huyết Khám phá này thực sựquan trọng vì hệ thống bạch huyết có một vai trò quan trọng trong quá trình pháttriển di căn của nhiều bệnh UT Jean Pecquet (1622-1674) phát hiện các ốngngực là nơi đổ về của các mạch bạch huyết Lý thuyết bạch huyết nói rằng khối ulành tính gây ra do đông máu cục bộ của bạch huyết bị rò rỉ từ các mạch bạchhuyết, trong khi bệnh UT ác tính lại phát sinh từ quá trình lên men và thoái hóabạch huyết Lý thuyết này thống trị tư duy y học trong gần 150 năm, nhưng cuốicùng đã biến mất do thiếu chứng cứ xác nhận
Trang 14Giải phẫu tử thi được thực hiện đầu tiên bởi Harvey (1628) dẫn đến sựhiểu biết về sự lưu thông máu qua tim và cơ thể mà trước đây còn là một bí ẩn.Dựa trên thông tin mới, Frederick Hoffman và George Stahl đề xuất vào năm
1695 rằng cuộc sống bao gồm các chuyển động liên tục và thích hợp của cácchất dịch cơ thể như máu và bạch huyết xuyên qua các phần rắn
Trong khoảng thời gian đó, theo bác sĩ Sennert (1572-1637) người ta tinrằng bệnh UT lây nhiễm và người UT bị loại trừ khỏi bệnh viện vì sợ bệnh dịch.Đối mặt với tình hình này, Jean Godinot (1661-1739) xây dựng một trong cácbệnh viện đầu tiên dành riêng cho bệnh nhân UT tại Reims năm 1740
Bác sĩ phẫu thuật Pháp Jean Louis Petit (1674-1750) và sau này là bác sĩphẫu thuật người Scotland Benjamin Bell (1749-1806) là người đầu tiên loại bỏcác hạch bạch huyết, mô vú nằm dưới cơ ngực
Henri Francois le Dran (1685-1770) quan sát thấy rằng UT phát triển tạimột vùng và sau đó lan ra các hạch bạch huyết thông qua các ống dẫn bạchhuyết Lý thuyết này rất quan trọng bởi vì nó giải thích tại sao bệnh UT vú có thểdẫn đến phổi Ông đề nghị phẫu thuật các khối u và các hạch bạch huyết trongnách Ông biết rằng các hạch bạch huyết nách đã bị ảnh hưởng vì nó đã là một
UT và không nên sử dụng các thuốc mỡ bôi lên vết thương được sử dụng phổbiến trong thời gian đó
Bernard Peyrilhe (1735-1804) là người tiến hành thử nghiệm tiên phongtrên một tổn thương của bệnh UT vú Ông rút một số chất lỏng và tiêm vàokhoang phúc mạc của một con chó Từ thí nghiệm của mình, ông quan sát thấyrằng bệnh UT đầu tiên được phát triển tại một vùng và sau đó lây lan sang các bộphận khác của cơ thể thông qua các ống dẫn bạch huyết Trong điều trị, ông cắt
cơ ngực lớn và mổ xẻ các hạch bạch huyết nách
Năm 1761, Giovanni Morgagni (Ý) là người đầu tiên tạo nên cuộc cáchmạng lớn Ông phân tích các tổn thương gây ra cái chết của bệnh nhân UT dựa
Trang 15trên 700 trường hợp các mô tả phẫu thuật tử thi thực hiện trên những bệnh nhân
UT vú, UT dạ dày, UT trực tràng và UT tuyến tụy Nó đã đặt nền tảng cho khoahọc UT và các nghiên cứu về bệnh UT sau này
John Hunter (1728-1793), một bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng người Scotlandcho rằng một số bệnh UT có thể chữa trị bằng phẫu thuật và mô tả phương phápphân biệt các khối u Nếu khối u chưa xâm lấn vào các mô gần đó và vẫn chưa di
căn thì có thể cắt bỏ Ông là người đầu tiên nói đến mối liên quan giữa UT và di
truyền, tuổi tác, khí hậu Ông ước tính tuổi trung bình bệnh UT phát triển ởngười là 40-60 tuổi và phát hiện ra rằng đối với một người phụ nữ dưới 40 bệnh
UT vú thường chết sớm Ông nhận thấy rằng vú, tử cung, môi, mũi, tuyến tụy,môn vị dạ dày và tinh hoàn là các bộ phận thường xuyên nhất bị tác động
Thế kỷ 19 chứng kiến sự ra đời của khoa học UT với những khám phá và
sử dụng kính hiển vi hiện đại Năm 1844, Wells khám phá ra kĩ thuật gây mê tạonên sự phát triển rộng rãi trong việc phẫu thuật các bệnh UT cổ điển như phẫuthuật cắt bỏ vú Cuối thế kỷ 19, sự xuất hiện những kính hiển vi có độ phóng đạilớn để nghiên cứu mô UT, các nhà khoa học đã đạt được những kiến thức mới vềquá trình gây bệnh UT Những nghiên cứu này cho thấy các tế bào UT khác nhau
rõ rệt so với các tế bào bình thường xung quanh, đó là nguồn gốc phát sinh cáckhối UT
Với những tiến bộ kỹ thuật quan trọng, các nhà khoa học Đức tạo ra cuộccách mạng khi cho rằng căn bệnh UT là của các tế bào chứ không phải là bạchhuyết Muller (1838) lý luận rằng các tế bào khối u phát sinh từ những phần tửnảy chồi, được gọi là mầm gốc nằm rải rác giữa các thành phần tế bào bìnhthường Học trò của Muller là Rudolph Virchow (1821-1902), nhà bệnh lý họcnổi tiếng người Đức đã bác bỏ các lý thuyết mầm gốc bằng việc chứng tỏ các tếbào UT có nguồn gốc từ các tế bào khác, mặc dù ông đã sai khi cho rằng UT dicăn lây lan là do một chất lỏng Karl Thiersch (1889-1934) tiếp tục cho thấy
Trang 16bệnh UT di căn phát sinh không phải từ một chất lỏng mà là từ sự lây lan của các
tế bào ác tính Do đó trong thế kỷ 19, các lý thuyết bạch huyết và mầm gốc bịbác bỏ và thay thế bằng lý thuyết hiện đại của tế bào UT Như vậy, UT lần đầutiên được coi là một bệnh của cơ thể, sau đó là một bệnh của mô và cuối cùng trởthành một bệnh của tế bào gây ra do sự rối loạn của các tế bào
Rudolf Virchow là người sáng lập bệnh học tế bào đã cung cấp cơ sở khoahọc cho sự nghiên cứu hiện đại của bệnh UT và tương quan các khóa học lâmsàng của bệnh này từ những phát hiện vi mô Cách tiếp cận này mang tới sự pháttriển của phẫu thuật UT hiện đại Mô bị cắt bỏ được kiểm tra dưới kính hiển vi
để thực hiện các chẩn đoán chính xác về bệnh UT Theo Morgagni (1761), cáckết quả khám nghiệm tử thi quan sát thấy bằng mắt với các khóa học lâm sàngcủa bệnh tật giống các vi bệnh lý của Virchow Phương pháp này làm tăng sựhiểu biết về hậu quả bệnh UT và đặt nền tảng cho sự phát triển của giải phẫu UT
James Paget (1814-1899) là một bác sĩ phẫu thuật lớn, ông miêu tả bệnh
UT xương và bệnh UT vú, một loại chàm núm vú có liên quan với bệnh UT
Joseph Lister (1827-1912) ở Glasgow áp dụng lý thuyết khử trùng và vôtrùng trong phẫu thuật của Louis Pasteur (1822-1895) Ông không chỉ khử trùngcác tổn thương và vết thương mà bất cứ gì chạm vào vết thương trong thời gianthao tác
Bác sĩ phụ khoa người Pháp Récamier mô tả cuộc xâm lược của các mạchmáu bởi các tế bào UT vào năm 1839, đó là UT di căn
Thành công nhất là William Stewart Halsted, người bắt đầu thực hiện thủthuật cắt bỏ tuyến vú vào năm 1882 Thủ thuật cắt bỏ tuyến vú căn bản Halstedthường bao gồm loại bỏ cả bộ ngực, những hạch bạch huyết có liên hệ lẫn những
cơ ngực phía dưới Điều này thường dẫn đến đau đớn và khuyết tật, nhưng đãđược coi là cần thiết để ngăn ngừa bệnh UT tái phát Những thủ thuật cắt bỏ
Trang 17tuyến vú căn bản vẫn là tiêu chuẩn cho đến những năm 1970 khi sự hiểu biết mới
về UT di căn đã dẫn đến nhận thức mới
Năm 1895, Rontgen phát hiện ra tia X-quang và bức xạ này vẫn được sửdụng để chẩn đoán mắc bệnh và điều trị UT (xạ trị) Một bước đột phá lớn vàquan trọng trong sự hiểu biết của chúng ta về tế bào sinh học là vào năm 1953khi Francis Crick và James Watson khám phá ra cấu trúc của DNA Kể từ đó,chúng ta đã bắt đầu nghiên cứu và tìm hiểu các nguyên nhân gây ra UT ở mứcphân tử và xây dựng các phương pháp trị liệu mới dựa trên kiến thức này
Đầu thế kỷ 20, số lượng các trung tâm UT tăng lên ở Châu Âu và lần đầutiên trong lịch sử, sự đa ngành, nói cách khác là tập hợp của các ngành học khácnhau (phẫu thuật, X quang, các phòng thí nghiệm nghiên cứu ) kết hợp hóa trị
để chống lại các bệnh UT Thế kỷ này cho thấy sự tiến bộ lớn trong sự hiểu biếtcủa chúng ta về vi cấu trúc và chức năng của các tế bào sống Các nhà nghiêncứu theo đuổi các lý thuyết khác nhau về nguồn gốc của UT bằng những nghiêncứu và thí nghiệm có hệ thống Từ khi ra đời, lĩnh vực virus học khối u đã cungcấp cái nhìn đột phá về các nguyên nhân gây UT của con người Peyton Rouskhai sinh ra lĩnh vực khoa học này vào năm 1911 bởi sự phát hiện ra virus gâydịch cúm gia cầm có khối u ở gà, tuy nhiên phải mất 40 năm sau cộng đồng khoahọc mới thấu hiểu tác dụng của việc tìm kiếm này Sau đó việc xác định các loạivirus UT động vật có vú vào năm 1930 bởi Richard Shope và John Bittner, vànăm 1950 bởi Ludwik Gross tạo ra sự quan tâm mạnh mẽ tới virus học khối ucho thấy khả năng và vai trò quan hệ nhân quả của các loại virus gây bệnh UT ởngười Điều này thay đổi thái độ trong những năm 1960 và 1970 khi phát hiệncác virus khối u của con người như EBV, viêm gan siêu vi B và cácpapillomavirus Chứng minh cụ thể cho sự phát triển của các vắc xin UT đầu tiênchống UT là do nguyên nhân truyền nhiễm Virus học khối u được công nhậnrằng virus có thể phục vụ như là công cụ phát hiện ra UT, dẫn đến những đột phá
Trang 18cách mạng trong thập niên 70-80 bao gồm các khái niệm về gene sinh UT Tiếptheo công nghệ phân tử tiên tiến hơn mở đường vào những năm 1980-1990 choviệc xác định các loại virus khối u như virus gây UT máu type 1, vi rút viêm gan
C và vi rút sarcoma Kaposi's Ước tính hiện nay cho thấy vi rút có liên quan đến15% đến 20% các bệnh UT của người trên toàn thế giới
Thế kỉ 21 đã cho thấy một sự hiểu biết lớn về những điều cơ bản nhất củabệnh UT và những khám phá mới đang được khám phá gần như hàng tuần Điềunày hứa hẹn sự phát triển của các liệu pháp điều trị mới và phòng ngừa sẽ đánhbại được căn bệnh này trong tương lai gần
Năm 2008, giải Nobel y học được trao cho nhóm các nhà khoa họcFrançoise Barré-Sinoussi và Luc Montagnier (Pháp) phát hiện ra vi rút HIV và
GS Harald zur Hausen (Đức), người phát hiện ra mối quan hệ giữa vi rút HPV(Human Papilloma virus) với bệnh UT cổ tử cung Vi rút HPV tìm thấy ở 99,7%
số phụ nữ bị UT cổ tử cung và ước tính hơn 5% trong tổng số các ca UT trêntoàn thế giới Phát hiện này chính là tiền đề cho sự thành công của các loại vắcxin phòng chống UT cổ tử cung hiện đang được hàng triệu em gái vị thành niên
ở nhiều quốc gia sử dụng
Năm 2009, giải Nobel Y học được công bố cho các nhà khoa học gồmElizabeth H Blackburn, Carol W Greider và Jack W Szostak Công trìnhnghiên cứu của họ về bệnh UT và lão hóa thông qua việc khám phá ra cơ chế cácnhiễm sắc thể (chromosomes) được bảo vệ bởi các telomere và các enzymetelomerase Khám phá này hỗ trợ cho việc nghiên cứu phòng chống UT và lãohóa, giúp vén lên bức màn bí ẩn về các cơ chế phát triển bệnh, đồng thời mởđường cho việc phát triển các liệu pháp chữa bệnh hiệu quả cũng như giải quyếtđược vấn đề lớn trong lĩnh vực sinh học
Theo thống kê của cơ quan nghiên cứu UT quốc tế IARC (InternationalAgency for Research on Cancer) thì năm 2002, trên toàn thế giới ước tính có
Trang 19khoảng 10,9 triệu người mới mắc bệnh UT Nhìn chung số bệnh nhân UT ngàycàng tăng Người ta đã dự báo được tỉ lệ người mắc bệnh UT ở các nước pháttriển, các nước đang phát triển và các nước nghèo đã dần dần thay đổi theo thờigian
Theo thống kê trên toàn cầu tính đến đầu năm 2002, số người mắc bệnh
UT hiện đang sống trên 5 năm sau chẩn đoán (độ lưu hành: prevalence) là24.570.000 người, trong số này UT vú có khoảng 4,4 triệu người, đại trực tràng
là 2,83 triệu người và tiền liệt tuyến là 2,36 triệu người Độ lưu hành này tuỳthuộc bởi nhiều yếu tố như địa dư (châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ…), mứcsống (nước giàu, nước nghèo) và loại UT Tỉ lệ tử vong ước tính khoảng6.724.000 trong đó số người chết do UT phổi chiếm số lượng cao nhất (1,18triệu người), tiếp đến là UT dạ dày (934.000 người) và UT gan (588.000 người).Các loại UT khác có tỉ lệ chết thấp hơn
Dưới đây liệt kê tỉ lệ một số loại UT thường gặp:
- UT phổi: chiếm tỉ lệ cao nhất ở nam giới kể cả các nước phát triển vàđang phát triển (chiếm khoảng 12,4% các loại UT) Tỉ lệ mắc bệnh và tử vongtăng cao từ tuổi 40 trở lên và đạt cực đại ở tuổi 75 Tỉ lệ tử vong do UT phổi ướctính bằng tổng cộng của 4 loại UT đại trực tràng, vú, tiền liệt tuyến và tuỵ
- UT dạ dày: ước tính có khoảng 934.000 bệnh nhân loại UT này mới mắchàng năm Có nhiều nguyên nhân gây ra UT dạ dày, nhưng ước tính khoảng 30%
số ca mới xuất hiện ở các nước phát triển và 47% ở các nước đang phát triển là
có liên quan đến vi khuẩn HP (Helicobacter Pylori) Một số vùng như Đông
Nam Á, Nam Mỹ, Đông Âu… có tỉ lệ UT dạ dày cao hơn các vùng khác trên thếgiới
- UT vú: là loại UT thường gặp nhất ở nữ (chiếm khoảng 23% tổng số cácloại UT), đặc biệt phụ nữ ở các nước đang phát triển Tỉ lệ UT vú tăng cao ở tuổi
Trang 2050, 60 và cao nhất ở độ tuổi 70 Dự báo tần suất mắc bệnh là 111/ 100.000 dânvào những năm đầu của thế kỷ 21.
- UT đại trực tràng: chiếm khoảng 9,4% tổng số các loại UT Loại UT nàythường có liên quan đến chế độ ăn uống và mức sống…, bệnh thường gặp ở cácnước phát triển hơn là ở những nước nghèo Bệnh có yếu tố di truyền Nguy cơ
UT đại trực tràng tăng cao ở những người có tiền sử viêm đại tràng từ trước
- UT gan: chiếm khoảng 5,7% tổng số các loại UT và có liên quan mậtthiết với tiền sử viêm gan virus B và C Các nước khu vực châu Á có tỉ lệ mắc
UT gan cao
- UT cổ tử cung: ước tính có khoảng 493.000 người mới mắc hàng năm.Virus HPV có lẽ là một trong những yếu tố gây nguy cơ cao mắc bệnh này ở cácnước nghèo và đang phát triển
1.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh ung thư ở Việt Nam
Những năm đầu thập kỷ 20, ở Việt Nam đã có các bệnh viện để khám và chữa
bệnh cho người Pháp và người bản xứ Lúc bấy giờ, trên thế giới các nhà y họcđang tìm kiếm cách chữa trị bệnh UT Tại Đông Dương, để đáp ứng yêu cầukhám chữa bệnh của nhân dân, một tổ chức UT tư nhân là Viện Radium ĐôngDương (Institut du Radium de L’indochine) đã ra đời tại Hà Nội vào ngày19/10/1923 Hoà bình được lập lại trên miền Bắc, ngành UT học ở Việt Nam bắtđầu có điều kiện phát triển hơn Để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao vềchuyên môn của ngành UT, được sự đồng ý của Chính Phủ, ngày 17/7/1969, Bộ
Y tế đã ra quyết định thành lập Bệnh viện K Từ đây, ngành nghiên cứu và chữatrị UT Việt Nam cũng bắt đầu bước sang một giai đoạn phát triển mới, góp phầnđắc lực trong việc phục vụ sức khoẻ cho các tầng lớp nhân dân Trong nhữngcông trình nghiên cứu về các bệnh tim mạch nổi tiếng và trên thế giới, giáo sưTôn Thất Tùng cùng các cộng sự (1960-1970) đã phát hiện và đóng góp rất lớn
Trang 21vào các dạng UT tim mạch Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (1950-1965) đã mở đườngcho nghiên cứu các bệnh UT phổi và vòm họng.
Cùng với sự phát triển của Y học Việt Nam nói chung thì trong công tácnghiên cứu phòng chống cũng như điều trị bệnh UT ở Việt Nam bước đầu đã cónhưng thành tựu Rất nhiều công trình khoa học liên quan đến UT đã được đượcthực hiện Việc nghiên cứu UT cũng được đẩy mạnh trong các trường học nhất làcác trường y Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về UT được tiến hành tại cáctrường Đại học Y Hà Nội và Học viện Quân y
Việc xác định tỷ lệ mắc UT chỉ có thể có được từ những ghi nhận UT dựa vàoquần thể Ghi nhận UT cung cấp thông tin về gánh nặng bệnh tật tại Việt Nam,
và để ước tính tình hình UT cho cả nước Năm 2004, Nguyễn Bá Đức, Lại PhúThưởng và cộng sự công bố công trình nghiên cứu về “Tình hình UT ở Việt Nam
ở giai đoạn 2001-2004 qua ghi nhận UT tại một số vùng địa lý”
Năm 2004, Huỳnh Quyết Thắng công bố “Nghiên cứu dịch tễ học mô tả một
số bệnh UT tại Cần Thơ năm 2001-2004”
Nguyễn Chấn Hùng và cộng sự (2004) công bố “Kết quả bước đầu nghiêncứu dịch tễ học mô tả một số bệnh UT tại 6 vùng địa lý Việt Nam giai đoạn2001-2003”
PGS TS Hồ Huỳnh Thùy Dương (2005) Trường Đại học Khoa học tự nhiên
TP Hồ Chí Minh nghiên cứu thành công “Các quy trình dùng sàng lọc tínhkháng phân bào của cây thuốc ở mức tế bào và phân tử” Quy trình này thiết thựcgiúp cho ngành dược có thêm một công cụ trong việc nghiên cứu sàng lọc cáchoạt chất có khả năng sản xuất thành thuốc trị UT
Nguyễn Hoài Nghĩa, Tất Tố Trinh và cộng sự (2007) công bố “Khảo sátđộng học của quá trình apoptosis trên dòng tế bào UT vú MCF-7”
Công trình nghiên cứu do TS Trần Lê Quan và cộng sự cùng các nhà khoahọc Nhật Bản thực hiện đã chứng minh được rằng cây thuốc Việt Nam hoàn toàn
Trang 22có khả năng ức chế tế bào UT Kết quả cho thấy những cây thuốc như: tô mộc,dừa cạn, bá bệnh, bí kỳ nam, hà thủ ô trắng, hoàng đàng đều có hoạt tính ứcchế sự phát triển của tế bào UT.
Năm 2009, Nguyễn Thanh Tân công bố “Một số đặc điểm về tuổi, giới và vịtrí của khối u trong bệnh lý UT đại trực tràng”
Năm 2009, Trần Văn Thuấn và cộng sự công bố “Nghiên cứu ứng dụngkháng thể đơn dòng trong điều trị UT vú”
Cũng như các nước trên thế giới, số người mắc bệnh UT ở Việt Nam đang có
xu hướng ngày một gia tăng Bệnh gặp ở mọi tầng lớp xã hội, mọi lứa tuổi, mọingành nghề khác nhau Bệnh UT cũng chiếm tỷ khá cao với 114,1/100.000 dânđối với nam và 82,3/100.000 dân đối với nữ Đó là thông tin mà Bộ Y tế đưa ratại Hội thảo “Giám sát một số bệnh không lây nhiễm” tổ chức tại Hà Nội ngày25/10/2004 Theo ghi nhận UT ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một sốtỉnh, ước tính mỗi năm có khoảng 150.000 người mới mắc và khoảng 50-70nghìn người chết vì UT Tại Hải Phòng, UT phổi chiếm vị trí số 1 với tỷ lệ mắc
là 17,7/100.000 dân Trong khi đó ở Thừa Thiên - Huế, tỷ lệ mắc thô của UTphổi là 6,7/100.000 dân
Trang 23Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tất cả nam, nữ thuộc mọi lứa tuổi mắc bệnh UT sinh sống trên địa bàntỉnh Hà Tĩnh
2.2 Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại 3 địa điểm thuộc tỉnh Hà Tĩnh:
- Thôn 7, xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân (Dân số: 650 trong đó 337 nữ và
Trang 242.3 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp ghi nhận quần thể: là việc thu thập một cách hệ
thống, thường xuyên và liên tục các trường hợp ung thư được chẩn đoán trongmột cộng đồng xác định theo một phương pháp thống nhất nhằm cung cấp hìnhảnh chính xác nhất về tình hình bệnh ung thư trong cộng đồng đó
Ghi nhận quần thể UT tỉnh Hà Tĩnh được tiến hành cho địa bàn Hà Tĩnh vớidân số ước tính là 1.227.554 người (trong đó có 608.184 nam và 619.370 nữ)(theo kết quả tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009) Nguồn số liệu chủ yếu là hồ
sơ bệnh án, sổ ghi kết quả của khoa Giải phẫu bệnh - tế bào, sổ ra vào viện, sổkhám bệnh, sổ ghi kết quả các khoa nội soi, siêu âm, sổ ghi nhận tử vong tạibệnh viện tỉnh Hà Tĩnh (Các bệnh viện tuyến huyện và trung tâm y tế xã, nơikhông có các điều kiện cần thiết tối thiểu để chẩn đoán bệnh ung thư như chẩnđoán tế bào không tham gia cung cấp số liệu) Số liệu về tình hình tử vong trongcộng đồng không được thu thập do các ghi nhận tử vong hiện nay không có mụcphân loại tử vong theo nguyên nhân bệnh tật
- Tiền sử bị bệnh trong gia đình
- Tuổi và giới tính của người mắc bệnh
- Chế độ dinh dưỡng và một số thói quen có hại như hút thuốc,uống rượu hoặc vệ sinh kém
- Các nguyên nhân mắc bệnh UT
- Mức độ hiểu biết về bệnh của đối tượng điều tra
Trang 25Arsenic trong phòng thí nghiệm bằng máy Steroglass ION3.
- Độ bụi được đo bằng máy Dusttrak 8520-TSI
- SO2 được đo theo TCVN 5971:1995
- NO2 được đo theo TCVN 6137:1996
Phương pháp thống kê toán học
Số liệu được xử lý bằng phần mềm tin học Excell, Epi-info 6.0 Các chỉ sốđược tính toán:
Tỷ lệ mắc thô theo giới, vị trí/năm
Số ca trung bình /năm của loại ung thư đó
× 100.000 Dân số trung bình của địa phương
Tỷ lệ mắc đặc trưng theo tuổi, giới, vị trí
Số ca trung bình /năm của loại ung thư đó thuộc nhóm tuổi quan tâm
× 100.000 Dân số trung bình trong nhóm tuổi
Trang 26Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.1 Thực trạng bệnh ung thư ở tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2005-2009
Qua điều tra về thực trạng bệnh UT tại Hà Tĩnh trong 5 năm gần đây,chúng tôi thu được kết quả như sau:
3.1.1.1 Tỉ lệ mắc bệnh ung thư ở Hà Tĩnh từ năm 2005-2009
Bảng 3.1 Kết quả điều tra bệnh ung thư năm 2005-2009
Năm
n
Tỉ lệmắc/100.000dân
n
Tỉ lệ mắc /100.000dân
n
Tỉ lệ mắc /100.000dân
(n là số lượng người mắc bệnh ung thư)
Nhận xét: Theo kết quả thu được thì tỷ lệ bệnh UT ở Hà Tĩnh trong 5 nămgần đây là khá thấp Trong đó cao nhất là năm 2006 tỷ lệ bệnh UT là11,24/100.000 dân; 12/100.000 đối với nam và 10,49/100.000 đối với nữ Năm
2008 thấp nhất với tỉ lệ chung mắc bệnh UT là 7,9/100.000 dân; 6,41/100.000đối với nam và 8,07/100.000 đối với nữ (2005)
Dịch tễ học là môn học nghiên cứu về sự phân bố và những yếu tố liênquan đến bệnh tật trong một quần thể dân cư Dịch tễ học cung cấp những thông
tin có giá trị về các mô hình và nguyên nhân sinh bệnh Xuất độ (Incidence)
được tính bằng số ca UT mới xuất hiện trong một quần thể dân cư, thường đượctính theo số ca UT mới mắc mỗi năm trên 100.000 dân Đây là chỉ số tốt nhất
Trang 27của tần suất mắc bệnh UT Tỉ lệ này thường được dùng để cung cấp những dữ
liệu về sự xuất hiện UT trong quần thể dân cư theo nhóm tuổi, giới tính, chủngtộc người ta có thể tính tỉ lệ mới mắc cho toàn bộ dân cư hoặc từng bộ phậncủa quần thể dân cư với những đặc trưng phân bố khác nhau [1]
UT là vấn đề sức khoẻ được quan tâm ở nhiều nước Tổ chức Y tế Thếgiới WHO khuyến cáo về mô hình bệnh tật trong thế kỉ 21: Các bệnh không lâynhiễm trong đó có UT sẽ trở thành nhóm bệnh chủ yếu đe dọa đến sức khỏe conngười chiếm 54% nguyên nhân gây tử vong ở người [2] Theo ước tính củaWHO, các loại UT thường gặp tính chung cả 2 giới nam và nữ năm 2002 trêntoàn cầu cho thấy khoảng 10,9 triệu ca UT mới mắc và khoảng 6,7 triệu ngườichết vì UT [1] Dự báo vào năm 2015 mỗi năm thế giới sẽ có 15 triệu người mớimắc bệnh UT và 9 triệu người chết do UT, trong đó 2/3 là ở các nước đang pháttriển [2]
Ở vùng châu Á Thái Bình Dương, UT là một trong 3 nguyên nhân chínhgây tử vong ở người Tỉ lệ chết do UT lên tới 100/100.000 dân ở các nước Úc,Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore [2] Theo nghiên cứu của Viện
UT quốc gia, ở nước ta cứ 100.000 dân số thì có 106 nam và 59 nữ tử vong vìbệnh UT [3]
Theo công trình nghiên cứu “Tình hình bệnh UT ở Việt Nam năm 2000”của Phạm Thị Hoàng Anh, Nguyễn Mạnh Quốc, Nguyễn Bá Đức, Nguyễn ChấnHùng thì số trường hợp UT xuất hiện trong cả nước vào nǎm 2000 ước tínhkhoảng 36024 trường hợp ở nam giới và 32786 trường hợp ở nữ giới Tỷ lệ mắcthô cho mọi UT ở nam giới là 91,5/100.000 dân, ở nữ giới tỷ lệ mắc thô là81,5/100.000 dân Tỷ lệ mắc này tương tự của các nước đang phát triển và trongkhu vực, thấp hơn so với các nước phát triển Ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh thì
tỷ lệ mắc thô cho nam và nữ lần lượt là 149,8 nam/100.000 dân; 99,8 nữ/100.000dân; 127,4 nam/100.000 dân và 97,8 nữ/100.000 dân [4]
Trang 28Việt Nam
Kết quả điều tra về độ tuổi người mắc bệnh được thể hiện qua các bảng từ3.2 đến 3.5 và biểu đồ 3.1
Trang 29Bảng 3.2 Tỷ lệ mắc bệnh ung thư theo độ tuổi trong các năm
2006
(X ± SEM)n=138
2007
(X ±SEM)n=128
2008
(X ± SEM)n=97
2009
(X ±SEM)n=116