Thời kỳ quá độ mãnkinh của phụ nữ kéo dài trong bao lâu tuỳ thuộc vào mỗi cá nhân, có thể trongmột năm hoặc kéo dài hai đến bốn năm.Dù là xảy ra đột ngột hay kéo dài thì thời kỳ tiền mãn
Trang 1Bộ Giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Vinh
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Trang 2Ban Giám hiệu Trờng Đại học Vinh
Khoa Đào tạo Sau đại học Trờng Đại học Vinh
Khoa Sinh học Trờng Đại học Vinh
Bộ môn Sinh lý Ngời và Động vật - Khoa Sinh học - Đại Học Vinh Tập thể các bác, các chú, các cô công tác tại các trạm y tế, các trung tâm ở Con Cuông, Quỳnh Lu, thành phố Vinh.
Xin biết ơn sự hy sinh, động viên, giúp đỡ của chồng, con, bố
mẹ gia đình nội ngoại và sự giúp đỡ tận tình của bạn bè, đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Cuối cùng xin khắc sâu ơn mẹ ngời đang ở rất xa con nhng luôn
ở trong trái tim con, mẹ à!Đây có lẽ là món quà có ý nghĩa nhất mà con dành tặng mẹ nhng đã quá muộn, con xin lỗi đáng lẽ con phải tặng mẹ sớm hơn.
Vinh, 31 tháng 12 năm 2008
Hồ Thị Ngân
Trang 3MỤC LỤC
Trang
1.3.2 Tình hình sức khoẻ tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh 81.4 Thực trạng thay đổi sinh lý ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh 91.5 Một số nguyên nhân và biểu hiện rối loạn thường gặp ở tuổi tiền
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
mãn kinh ở các địa điểm nghiên cứu
37
Trang 43.2 BÀN LUẬN 43 3.2.1 Thực trạng độ tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh ở địa điểm
MỞ ĐẦU
Trong cuộc đời, cơ thể người phụ nữ trải qua bảy giai đoạn: sơ sinh, nhiđồng, dậy thì, trưởng thành, tiền mãn kinh, mãn kinh và già Trong đó tiềnmãn kinh, mãn kinh là hai giai đoạn thay đổi có tính chất đặc trưng trong đờingười phụ nữ [32]
Nửa đầu thế kỷ XX, tuổi thọ bình quân của phụ nữ khoảng 50 tuổi, khi
đó đại đa số phụ nữ sau khi kết thúc tuổi sinh đẻ không lâu đã bị qua đời Mộttrong những nguyên nhân chính là do chưa ý thức được tầm quan trọng củaviệc bảo vệ sức khoẻ thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh ở nữ giới [7]
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tình hình dinh dưỡng và điềukiện sinh hoạt cũng được cải thiện Tiến bộ y học đã kéo dài tuổi thọ bìnhquân của loài người trên toàn thế giới nên sau khi mãn kinh phụ nữ sống tiếp20-30 năm, chiếm 1/3 đến 2/5 cuộc đời [24] Vì vậy trong những năm gần đâytuổi tiền mãn kinh và mãn kinh đang trở thành một đối tượng được ưu tiênchăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng Tuổi mãn kinh có liên quan đến nhân tố khíhậu, di truyền, tình hình kinh tế gia đình xã hội, nơi cư trú có độ cao so vớimực nước biển [34] Người có chế độ dinh dưỡng hợp lý, chế độ sinh hoạtđiều độ thói quen vệ sinh tốt thì tuổi mãn kinh kéo dài hơn Ngược lại, trong
Trang 5thời gian dài không đảm bảo hàm lượng dinh dưỡng, trọng lượng nhẹ sống ởcao nguyên nghiện thuốc thì tuổi mãn kinh sẻ sớm hơn Thời kỳ quá độ mãnkinh của phụ nữ kéo dài trong bao lâu tuỳ thuộc vào mỗi cá nhân, có thể trongmột năm hoặc kéo dài hai đến bốn năm.
Dù là xảy ra đột ngột hay kéo dài thì thời kỳ tiền mãn kinh, mãn kinh làmột trong những giai đoạn chuyển tiếp mà người phụ nữ nào cũng phải trảiqua Đối với một vài người thời kỳ này đi qua suôn sẻ, gần như chẳng có triệuchứng gì, nhưng có nhiều người có nhiều triệu chứng rất khó chịu do sự mấtđiều hoà của công năng hệ thống thần kinh thực vật và sự co thắt mất ổn địnhcủa mạch máu Trong số bệnh lý được phát hiện thì đứng hàng đầu vẫn lànhững bệnh nhiễm trùng: Viêm âm đạo, nấm âm đạo, viêm cổ tử cung, lộtuyến cổ tử cung, viêm phần phụ, viêm âm hộ và viêm nội mạc tử cung Cácbệnh nói trên xuất hiện chiếm 77,2% trong lứa tuổi 46-65 [16] Trong thực tếthành phần dân số này rất cần được chăm sóc, họ không những đã góp nhiềucông sức vào việc tạo dựng nền tảng hạnh phúc, sự bền vững gia đình, nuôidạy thế hệ tương lai cho đất nước mà còn góp phần không nhỏ vào sự pháttriển kinh tế xã hội, không ít người đây là thời kỳ đỉnh cao của sự nghiệp.Vìvậy giữ gìn tốt sức khoẻ thời kỳ mãn kinh tạo điều kiện cho phụ nữ có điềukiện tích luỹ kinh nghiệm xã hội, kinh nghiệm sống giảm nhẹ hoặc kéo chậmlại những phiền nhiễu do bệnh tật gây ra, dự phòng khả năng phát bệnh, đảmbảo sức khoẻ tốt để phát huy sự thông minh tài cán trên cương vị công tác, tiếptục cống hiến cho gia đình và xã hội Đây không chỉ là tâm nguyện của phầnlớn phụ nữ khi đến tuổi mãn kinh, mà còn trách nhiệm của những người làmcông tác khoa học là nhu cầu tiến bộ xã hội, thịnh vượng quốc gia dân tộc [25]
Để góp phần cải thiện sức khoẻ, tìm hiểu thời điểm và một số chỉ tiêuhình thái sinh lý của tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh ở phụ nữ chúng tôi tiếnhành nghiên cứu đề tài
Trang 6“ Thực trạng và một số chỉ tiêu sinh học của phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh
và mãn kinh ở Nghệ An”
Mục tiêu của đề tài:
1 Đánh giá thực trạng tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh ở phụ nữ
2 Xác định một số chỉ số sinh học ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh ở phụ nữ
3 Tìm hiểu các biểu hiện và bệnh thường gặp ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh ởphụ nữ
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KHÁI NIỆM VÀ THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN MÃN KINH
1.1.1 Khái niệm mãn kinh
Trong giai đoạn chuẩn bị cho sự kết thúc chu kỳ kinh nguyệt, cơ thể củangười phụ nữ có rất nhiều thay đổi, đó là những sự thay đổi về tinh thần, sứckhỏe, cũng như những sự thay bên trong và bên ngoài cơ quan sinh dục Córất nhiều định nghĩa khác nhau về vấn đề mãn kinh Từ tháng 10 năm 1999Hiệp hội Y học về mãn kinh quốc tế đã đi đến thống nhất định nghĩa về mãn
kinh là: sự chấm dứt vĩnh viễn kinh nguyệt và buồng trứng ngừng rụng trứng vĩnh viễn ở phụ nữ trong độ tuổi 45-55 tuổi trở lên Khi đó có sự thiếu hụt hormon estrogen trầm trọng trong cơ thể người phụ nữ [17], [60]
1.1.2 Quanh mãn kinh
Khoảng thời gian từ lúc xuất hiện các triệu chứng đầu tiên của rối loạnquanh mãn kinh cho đến 12 tháng sau chu kỳ sinh lý cuối cùng [32 ]
Trang 7Chu kỳ kinh cuối cùng(Mãn kinh)
*Thời kỳ hậu mãn kinh
Bắt đầu tại thời điểm mãn kinh và kết thúc vào độ tuổi 65 trước khichuyển sang giai đoạn già lão [33], [35]
1.2 SƠ LƯỢC LỊCH SỮ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới
Năm 1500 trước Công nguyên [60], đã có những mô tả đầu tiên về triệuchứng bốc hoả ở phụ nữ mãn kinh (Ai cập, Papyus Ebes) Các rối loạn quanhmãn kinh đã được các tác giả mô tả và công bố vào những năm 1970.Titis,1710; Buehl, 1772 và Regemann, 1773 nghiên cứu về các rối loạn quanh mãnkinh (RLQMK) Năm 1727, một tác giả khuyết danh soạn thảo một bảng
Trang 8hướng dẫn cho các phụ nữ về các RLMK (climateric), nhưng chưa dùng đến
từ "quanh mãn kinh"[60]
Vào năm 1730, một từ điển y học tiếng Anh đưa ra từ "quanh mãn kinh”
để chỉ các phụ nữ lớn tuổi Năm 1776, báo cáo khoa học đầu tiên về cácRLMK được xuất bản (Fothergill) [62]
Từ năm 1816- 1893, các công trình đã nghiên cứu nhiều về hiện tượngmãn kinh và các rối loạn xung quanh hiện tượng này Năm 1816, nhà phụkhoa người Pháp De Gardanne (theo [26] )đưa ra từ ménopausie (mãn kinh),sau đó được rút gọn thành ménopause (mãn kinh) Năm 1827, thuật ngữ
"climateric" để chỉ tình trạng rối loạn quanh mãn kinh ở phụ nữ lần đầu tiênxuất hiện trong một sách giáo khoa về phụ khoa bằng tiếng Anh Năm 1857,Tilt (theo [26])soạn thảo cuốn sách bằng tiếng Anh về các rối loạn quanh mãnkinh, trong đó đưa ra giả thuyết rằng: các triệu chứng của rối loạn quanh mãnkinh được gây ra bởi tình trạng "thoái hoá của buồng trứng" Năm 1892,Florante [55] ghi nhận vai trò sinh lý nội tiết hoàng thể Năm 1893, Resgis( Theo [26]) báo cáo về điều trị rối loạn tâm lý trong thời kỳ quanh mãn kinhbằng tiêm dưới da chất chiết xuất từ buồng trứng
Từ năm 1990 đến nay, các nghiên cứu đã đi sâu vào nghiên cứu các cơchế sinh lý của hiện tượng tiền mãn kinh và mãn kinh ở phụ nữ Năm 1900,Knonenberg F [63] đã chứng minh trên thực nghiệm tác dụng nội tiết củabuồng trứng trên đường sinh dục Năm 1921, Efstratiadé M [54] đưa ra giảthuyết về tác dụng của thùy trước tuyến yên lên buồng trứng, cơ chế điều hoà
về sau đã được chứng minh thông qua con đường nội tiết bởi tác giảAschheim và Zondek (1932) (Trích dẫn theo [11])
Năm 1933, lần đầu tiên phân lập được estradiol (Hãng Schering) [60] Năm 1934, Bumel JE [47] lần đầu tiên phân lập được progesterone,trong đó đã đồng thời phân lập và tổng hợp được chất này Năm 1966, (theo
Trang 9Wilson, (trích dẫn [11]) xuất bản cuốn sách “Feminine Forever” nói về cuộcsống của phụ nữ mãn kinh và cách điều chỉnh các rối loạn của độ tuổi này.
Từ những năm 1990 đến nay, nhiều nghiên cứu về liệu pháp nội tiếtthay thế (HRT) được tiến hành, nhiều loại chế phẩm khác nhau được ứngdụng trong thực tiễn Đặc biệt từ sau hội nghị dân số và phát triển họp tạiCairo năm 1994, khái niệm sức khoẻ sinh sản được đề cập một cách toàn diệnhơn và vấn đề ''Sức khoẻ sinh sản của phụ nữ mãn kinh" càng được nhiều nhàkhoa học quan tâm Chỉ tính riêng từ tháng 1/1998 đến tháng 8/1999 đã có 65công trình nghiên cứu sức khỏe sinh sản của phụ nữ mãn kinh và được công
bố tại các nước Hoa Kỳ, Anh, Pháp,Ý, Đan mạch, Thụy Điển (theo [64]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam vấn đề tiền mãn kinh và mãn kinh cũng đã thu hút sự quan
tâm của các nhà nghiên cứu ngành sản phụ khoa Năm 1996, Phạm Minh Đức
và cộng sự [4], [5], nghiên cứu chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ và học sinh
Hà Nội Một số chỉ số sinh lý sinh dục và sinh sản của nữ sinh và phụ nữ đãđược Phan Thị Sang [27] nghiên cứu ở Huế Nguyễn Thị Thanh Thủy, (1996)[33] đã công bố một số yếu tố liên quan đến nguy cơ đốt sống do lún xương ởphụ nữ mãn kinh Cao Ngọc Thành và cộng sự (1998) [30], đã nghiên cứutình hình kinh nguyệt của phụ nữ và học sinh, sinh viên ở Thừa Thiên- Huế
và Quảng Trị Phạm Gia Đức, Nguyễn Trọng Hiếu, Lê Nguyên thông (1998)[6], nghiên cứu tuổi mãn kinh ở phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn ThịNgọc Phượng, (1999, 2000) [24], [25], đã khảo sát những thay đổi về tâmsinh lý của phụ nữ tuổi mãn kinh tại Thành phố Hồ Chí Minh, sức khoẻ phụ
nữ tuổi mãn kinh ở Việt Nam và liệu pháp nội tiết hormon thay thế ( 1999,2000) [24], [25] Các triệu chứng rối loạn vận mạch và thay đổi tâm lý ảnhhưởng đến chất lượng cuộc sống thời kỳ mãn kinh ở phụ nữ cũng đượcNguyễn Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc Thoa đề cập đến năm 2000 [21], Năm
2001, Nguyễn Ngọc Huy [11] nghiên cứu các đặc điểm tâm sinh lý và bệnh
Trang 10lý âm hộ, âm đạo của phụ nữ mãn kinh Tôn nữ Minh Quang (2002), [26]nghiên cứu đặc điểm sức khỏe sinh sản ở phụ nữ mãn kinh ở Huế
1.3 THỰC TRẠNG TIỀN MÃN KINH, MÃN KINH
1.3.1 Tuổi mãn kinh trung bình
Bảng 1.1 Tuổi mãn kinh trung bình của phụ nữ thời Cổ đại và Trung cổ
Trong bốn thập kỷ trở lại đây, có nhiều nghiên cứu về độ tuổi mãn kinh
và các triệu của RLQMK người và người ta thấy rằng, tuổi có kinh nguyệtsớm hơn, tuổi thọ cao hơn nhưng tuổi mãn kinh trung bình của phụ nữ châu
Âu và Bắc Mỹ dao động ít, nằm xung quanh độ tuổi 50, và tuổi mãn kinh ởcác nước Châu Âu đến muộn hơn so với Bắc Mỹ [63] Kinh nghiệm của nhiềuphụ nữ cho thấy rằng mãn kinh thường đi kèm các triệu chứng và các mức độkhác nhau nhưng phụ nữ châu Âu thường biểu hiện rõ hơn Như chúng ta đãbiết, chu kỳ kinh nguyệt xảy ra do kết quả của một vòng cung phản hồi nhữngthông điệp chỉ huy đi từ vùng dưới đồi đến tuyến yên
Bảng 1.2 Tuổi mãn kinh trung bình của phụ nữ Âu Mỹ
nghiên cứu ( n)
Tuỗi mãn kinhtrung bình
Trang 11Burch (1967) Tân Caledonie 485 50,7
Bên cạnh các yếu tố kinh tế xã hội, nhiều bệnh lý trong độ tuổi tiền dậythì và tuổi hoạt động sinh dục cũng có khả năng ảnh hưởng đến tuổi mãnkinh, đặc biệt là các bệnh lý mãn kinh như bệnh suy van tim, suy thận mãntính, bệnh lý tuyến giáp, đái tháo đường Theo thống kê của Ballinger [45]trên 1067 phụ nữ mắc ung thư trước 20 tuổi và có điều trị hoá chất hoặc xạ trị,nguy cơ mãn kinh sớm của nhóm nghiên cứu cao gấp 4 lần nhóm đối chứng,đồng thời 42% các phụ nữ thuộc nhóm nghiên cứu mãn kinh trước 31 tuổi sovới 5% của nhóm đối chứng [11]
Theo Dương Thị Cương, 1997, [50] ,[51] tuổi mãn kinh trung bình củaPhụ nữ Việt Nam nằm khoảng 49-50 tuổi Tại Thừa Thiên Huế, Quảng Trị,Cao Ngọc Thành [30] ghi nhận tuổi mãn kinh trung bình 48,5 tuổi Tuổi mãnkinh liên quan đến thời điểm dậy thì và độ dài vòng kinh, có kinh càng muộnthì mãn kinh càng sớm; phụ nữ có độ dài vòng kinh dưới 26 ngày thì sẽ mãnkinh sớm hơn 1,4 năm so với phụ nữ có vòng kinh dài hơn Tuổi mãn kinhcũng có liên quan đến tình trạng kinh tế, nếu mức sống thấp thì tuổi mãn kinh
Trang 12đến sớm [39], [40]
1.3.2 Tình hình sức khỏe ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh
Thời kỳ tiền mãn kinh là thời kỳ ''phục bệnh'' Nếu không kịp thời pháthiện sớm có biện pháp điều trị, ủ bệnh lâu, sau đột ngột phát hiện ra hậu quảxấu Đặc biệt là ung thư ác tính, nếu phát hiện bệnh sớm, hiệu quả trị bệnh sẽtốt; nếu phát hiện muộn trong tình trạng thiếu phương trị bệnh tận gốc và hiệuquả thấp, bệnh nhân sẽ khó tránh khỏi tử vong Vì vậy, dự phòng và phát hiệnbệnh ung thư, sẽ cứu được sinh mệnh người bệnh [10]
Cùng với sự tăng trưởng của tuổi tác, tỷ lệ phát sinh bệnh ung thư ngàycàng tăng cao, theo con số thống kê về tình hình phát triển bệnh ung thư ởphụ nữ cho thấy ước có khoảng 40% phụ nữ ung thư vú và ung thư phần phụ,trong đó tuổi phát bệnh chủ yếu là tiền mãn kinh và đã mãn kinh [19], [22],[58] Do vậy, người phụ nữ vào thời kỳ này cần nâng cao nhận thức để tựmình có những hiểu biết cần thiết và bảo vệ sức khỏe bản thân Ngoài ra phụ
nữ thời kỳ này phải học các phương pháp tự kiểm tra, nắm chắc một sốphương pháp, tri thức y học cơ bản để tự theo dõi sức khỏe bản thân Phụ nữmãn kinh nên định kỳ 6 tháng hoặc 12 tháng đi kiểm tra sức khỏe để kịp thờiphát hiện bệnh tật, tiến hành các biện pháp để bảo vệ sức khỏe, theo chỉ dẫncủa bác sỹ, nhằm chủ động phòng và chữa bệnh vì những triệu chứng thời kỳmãn kinh có liên quan đến toàn bộ các chức năng của cơ thể [20]
1.4 THƯC TRẠNG THAY ĐỔI SINH LÝ
Từ khi sinh ra cho đến lúc về già cơ thể con người luôn có sự thay đổi
và chuyển hoá về sinh lý và tâm lý Đặc biệt là nữ giới, quá trình phát triển
và chuyển hoá đó biểu hiện rất rõ nét và được các nhà khoa học phân ranhiều thời kỳ khác nhau như: Thời kỳ trẻ, sơ sinh, tuổi dậy thì, tiền mãn kinh,mãn kinh, hậu mãn kinh [32], [5] [4]
Sự phân chia này dựa trên những biến đổi về sinh lý và tâm lý của con
Trang 13người Tuy nhiên ở độ tuổi nào thì rơi vào thời kỳ mãn kinh hoặc tiền mãnkinh? Đây vẫn là ước định của mỗi người Bởi vì bên cạnh sự phát triểnchung, còn có sự biến đổi về tâm lý, sinh lý của mỗi con người Đăc biệt nữgiới có sự thay đổi riêng biệt, có phụ nữ tắt kinh ở tuổi 40 nhưng có phụ nữlại xảy ra ở tuổi 50 [41], [58].
Thời kỳ mãn kinh được tính từ cuối thời kỳ sinh dục đến lúc già của đờingười, là giai đoạn quá độ từ khi còn khả năng sinh đẻ đến lúc mất đi khảnăng ấy (ở cả hai giới) Tuy nhiên mức độ biểu hiện của bệnh ở thời kỳ nàygiữa nam và nữ không giống nhau Biểu hiện của nam giới chủ yếu về mặttâm lý thường không rõ ràng, còn biểu hiện của nữ thường cụ thể thông quanhững biến đổi về buồng trứng, mức độ hành kinh [4], [5], [6], 32], [57]
Trong giai đoạn mãn kinh chức năng của buồng trứng giảm sút, cơ thểdần dần lão hoá, có sự mất cân bằng của hormon trong cơ thể, sự quấy nhiễucủa các loại triệu chứng dẫn đến sự thay đổi diện mạo tinh thần và các loạiphản ứng tâm sinh lý, sự thay đổi của các yếu tố như nội phân tiết và các yếu
tố sinh lý tạo ra, trong đó có một sự thay đổi là do hiện tượng mãn kinh đemđến, còn lại là do sự suy yếu già đi của cơ thể [30], [56]
Chất estrogen hormon nữ sau khi mãn kinh đột nhiên giảm xuống, sau
đó chỉ còn giữ ở mức độ rất thấp, nên thời gian một năm trước và sau khimãn kinh, sự biến động của chất estrogen rất lớn, làm cho những triệu chứngthời kỳ mãn kinh rất rõ ràng Tuy nhiên, có một số người sau khi mãn kinh cóthể xuất hiện mức estrogen tăng cao nhất thời, chủ yếu do ảnh hưởng của hoạttính noãn bào còn dư thừa mà không phải do phóng noãn gây nên [23], [35]
Vì vậy, trong vòng 5 năm sau khi mãn kinh có một số phụ nữ thỉnh thoảngvẫn thấy huyết ở âm đạo [7], [38], [40]
Cùng với sự giảm thấp mức độ chất estrogen phụ nữ trong vòng thời kỳmãn kinh thường xuất hiện triệu chứng chính là sự rối loạn chức năng của hệ
Trang 14thần kinh thực vật rất dễ sinh ra thay đổi tâm lý như lo lắng, bi quan có cảmgiác mất mát gì đó làm cho phụ nữ có phản ứng tâm lý khác biệt, bất thường[32] Bởi phụ nữ ở thời kỳ tiền mãn kinh do đến tuổi phải nghỉ công tác, họphải rời xa tập thể, khi đó con cái cũng đã trưởng thành và rời xa gia đình đểhọc tập hoặc công tác, thể lực sa sút, hoạt động xã hội ngày càng giảm, vì thế
tư tưởng dần sản sinh cảm giác cô độc Ngộ nhận mình đã già, không còn cóích gì cho xã hội và con cái nữa, thấy cuộc sống tẻ nhạt, hoài nghi về giá trịtồn tại của mình, từ đó sinh ra trạng thái bi quan, tiêu cực, lo lắng, u uất và dễkích động [34], [40]
Đối với những phụ nữ trí thức lấy hoạt động đại não làm chính, tuy vẫngiữ cương vị công tác đó nhưng vì khả năng ghi nhớ giảm, tư duy không tậptrung ảnh hưởng đến hiệu suất công việc, vì vậy cảm thấy lo lắng, hoảng sợ,căng thẳng [41] Có phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh phát sinh những thay đổi vềtính cách hoặc hành vi Bình thường vốn rất hoà nhã, khoan dung đại lượngbỗng trở nên nóng tính, nổi nóng bất thường hoặc suy nghĩ hẹp hòi hay đanghi, tự ti, đố kỵ, lãnh cảm Có những người lại thích giải bày tâm sự vớingười khác Khi gặp một người nào đó họ đem hết u uất trong lòng ra để nói,
có khi làm cho người nghe cảm thấy phát chán Những hoạt động tâm lý tiêucực này sẽ tạo ra sự cản trở ức chế công năng sinh lý của các bộ phận khácdẫn đến tiêu hoá không tốt, chán ăn uống, huyết áp tăng cao, lâu dài có thểgây bệnh
Những triệu chứng tinh thần kể trên không phải là kết quả tất nhiên củamãn kinh, cũng có phụ nữ không có triệu chứng tinh thần trên hoặc có ở mứcrất nhẹ [32], [40] Đặc trưng tính cách loại kinh tế, nhân tố môi trường củamỗi cá nhân đều liên quan đến mức độ nghiêm trọng của triệu chứng Nếunhững phụ nữ khi còn trẻ tinh thần ổn định thì đến thời kỳ mãn kinh trạng tháitinh thần tương đối ổn định Nếu khi trẻ quá yếu đuối thì đến thời kỳ mãn
Trang 15kinh dễ phát sinh triệu chứng tinh thần như: lo nghĩ, nóng ruột, ức chế, biquan, cô đơn, đây là một phản ứng tâm lý thường gặp ở phụ nữ Cơ sở sinh lýcủa nó là sự giảm kích tố estrogen trong não làm cho chất dẫn truyền thầnkinh trong huyết thanh tăng cao Vì vậy nên phụ nữ nông thôn rất dễ vượt quathời kỳ mãn kinh so với phụ nữ có cuộc sống sung túc, điều kiện sống tốt, địa
vị xã hội và trí thức tương đối cao Các yếu tố đó cùng với điều kiện kháchquan về công việc, gia đình, xã hội tác động đến họ, đa phần mọi người đềudần dần thích ứng với sự thay đổi đó, cơ thể dần cân bằng yếu tố nội phân tiếtlàm cho những phản ứng tâm lý khác thường đó tự nhiên tiêu tan đi, bên cạnh
đó cũng có một số ít phụ nữ tác động ảnh hưởng đó lại thành những trở ngại
về mặt tâm lý cần phải kịpthời trị liệu [34]
1.5 MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN VÀ BIỂU HIỆN RỐI LOẠN THƯỜNG GẶP TUỔI
TIỀN MÃN KINH, MÃN KINH
1.5.1 Nguyên nhân
* Sự thay đổi cấu tạo buồng trứng thời kỳ mãn kinh
Buồng trứng nằm ở hai bên tử cung, có hình bầu dục dẹt, màu xám,nằm ở phía dưới sau ống dẫn trứng Noãn nang nguyên thủy trong buồngtrứng trẻ sơ sinh có khoảng 75 vạn, đến khi dậy thì giảm xuống còn khoảng
30, 40 vạn Sau khi bước vào tuổi dậy thì, hàng tháng mỗi bên buồng trứng cóhàng loạt nang noãn phát triển, thường cuối cùng chỉ có một nang noãn trởthành nang noãn ưu thế và thành thục rụng xuống, các nang noãn còn lại pháttriến đến một mức độ nào đó rồi tự thoái hoá Sự rụng trứng và thoái hoá làmgiảm thiểu, đến khoảng 45 tuổi thì chỉ còn lại hơn 8 ngàn noãn nang, hơn nữacòn có sự biến chất Khi mãn kinh, một số rất ít noãn nang còn lưu lại trong
vỏ buồng trứng; thời kỳ hậu mãn kinh, noãn nang tự nhiên tiêu hao hết.Buồng trứng của phụ nữ trưởng thành bề mặt có hơi lồi lõm, lớn khoảng4cm×3cm×1cm, nặng khoảng 5-6g Khi mãn kinh, do lớp vỏ mỏng đi, cấutạo xơ gia tăng, mạch máu xơ cứng, thể tích buồng trứng dần dần thu nhỏ lại,
Trang 16tính chất trở nên cứng, trọng lượng chỉ còn 1/2-1/3 thời kỳ phát triển [7], [17], [19].
* Sự thay đổi chức năng buồng trứng ở thời kỳ mãn kinh
Buồng trứng có chức năng nội tiết và sinh sản như sinh ra trứng thànhthục, tiết ra hormon sinh dục, là tuyến sinh dục của nữ giới Cơ quan bài tiết
và khống chế sự phát dục, làm cho chức năng sinh dục và kinh nguyệt ở nữbình thường Khi phụ nữ bước vào tuổi mãn kinh, chức năng sinh sản và phântiết của buồng trứng dần dần suy thoái theo sự thoái hoá của buồng trứng, sốlượng noãn nang trong buồng trứng giảm đi liên tục và có sự biến chất Theonghiên cứu đồng thời với khi buồng trứng ít rụng trứng và chức năng sản sinhsuy thoái, chức năng phân tiết cũng suy thoái Khi không rụng trứng sẽ khôngphân tiết progesterone, sự tổng hợp và phân tiết hormon sinh dục nữ giảmdần, đặc biệt là lượng estradion sản sinh ra hạ thấp [21], [26], [40]
* Một số nguyên nhân khác
Ngoài nguyên nhân trên thì hiện tượng ăn uống kém và stress vẫn đượccoi là nguyên nhân gây ra tiền mãn kinh Bởi chúng ta biết rằng các vấn đềtiền mãn kinh đều có những lý do sinh lý và sinh hoá rõ ràng, nhưng nếumuốn tìm ra nguyên nhân gốc rể cần xem xét tổng thể người phụ nữ bao gồmcác khía cạnh cảm xúc, tinh thần và tâm linh [7]
Ngoài ra khoa học đã xác minh hai hiện tượng ảnh hưởng lớn đến thờigian mãn kinh là: yếu tố di truyền và việc hút thuốc lá, trong đó yếu tố ditruyền thì khó tránh được còn yếu tố hút thuốc lá thì hoàn toàn có thể tránhđược [41] Người hút thuốc lá sẽ mãn kinh sớm hơn người không hút thuốckhoảng 2 năm Những nhân tố khác có liên quan đến thời gian mãn kinh lànhững người đẻ nhiều và những người béo phì thì thời gian mãn kinh hơimuộn [15] Những người không sinh đẻ, trị liệu bệnh trầm cảm, tiếp xúc hoáchất độc hại, hoặc từ nhỏ đã bị nhiễm chất phóng xạ hoặc dùng hoá chất điềutrị đều có dấu hiệu mãn kinh trước tuổi Đồng thời các kết quả nghiên cứucũng đã chứng minh việc uống thuốc tránh thai, yếu tố kinh tế, tình trạng hôn
Trang 17nhân, chủng tộc, không liên quan gì đến
Các nghiên cứu cho thấy rằng, có nhiều nguyên nhân gây các rối loạn thường
gặp ở tuổi tiền mãn kinh, mãn kinh Tuy nhiên nguyên nhân chính là doestrogen giảm dần theo độ tuổi [6], [7], [39] Chu kỳ hàng tháng được bắt đầuvới sự sản xuất hormone phóng thích Gn-RH ở hạ đồi, làm tuyến yên phântiết kích nang tố FSH Nồng độ FSH cao trong huyết thanh khởi phát sựtrưởng thành nang noãn trong buồng trứng, một quá trình xảy ra mất 14 ngày.Khi nang noãn trưởng thành, buồng trứng căng lên và tiết estrdiol, chất này có
ba chức năng: kích thích sự tăng trưởng nội mạc tử cung, ức chế sự phân tiếtFSH và tăng mạnh sản xuất hormon tạo hoàng thể Nếu không có hiện tượngthụ tinh, giai đoạn hoàng thể kéo dài 14 ngày, trong thời gian đó hoàng thểsuy thoái dần [21], [25] Hệ quả là nồng độ progesterol giảm xuống làm chonội mạc tử cung teo đi, sau đó bong ra tạo thành kinh nguyệt vào khoảng ngày
28 của chu kỳ Khoảng 45 tuổi, chuỗi diễn biến được điều hoà một cách phứctạp này bắt đầu chệch choạc, đó là lúc bắt đầu chuyển tiếp sang tiền mãn kinh
và mãn kinh Vì tính kém đáp ứng này, buồng trứng tiết ít estrogen hơn, làmgiảm hồi tác âm trên tuyến yên và hệ quả tăng nồng độ FSH, thường thìbuồng trứng trở nên nhỏ hơn, ít nang noãn hơn, kinh nguyệt ít đều rồi ngừnghẳn và nồng độ estrogen suy giảm trầm trọng Sau này có nhiều nghiên cứucho thấy estrogen có thể tạm thời làm chậm sự mất xương ở phụ nữ [39]
1.5.2 Một số biểu hiện rối loạn thường gặp ở tuổi tiền mãn kinh, mãn kinh
Giai đoạn tiền mãn kinh kéo dài khoảng 3-5 năm trước khi kinh nguyệtdừng hẳn Nguồn gốc của mọi sự thay đổi trong thời kỳ này là do sự giảm đápứng của buồng trứng với các nội tiết tố hướng sinh dục, dẫn đến những rốiloạn trong sự trưởng thành noãn bào Điều này sẽ dẫn đến những chu kỳkhông rụng trứng hoặc rụng trứng khó khăn (khoảng 40% chu kỳ không rụngtrứng) Do đó đầu tiên lượng progesterone và estrogen giảm Hậu quả của sựvắng dần những chu kỳ rụng trứng và cơ chế ức chế ngược âm là tình trạng
Trang 18cường độ estrogen tương đối với những biểu hiện lâm sàng [35], [39].
Rối loạn kinh nguyệt biểu hiện như chu kỳ ngắn lại hoặc thưa ra, bị rong kinh,rong huyết hoặc cường kinh [41] Các hình thái khác nhau của rối loạn kinhnguyệt quanh tuổi mãn kinh là:
Trong vòng 1-2 năm các kỳ hành kinh trở nên thưa hơn và không đều.Lượng máu mất trong khi hành kinh giảm đi và cuối cùng là mất hẳn, nội mạc
tử cung teo
Vòng kinh trở nên thất thường và lượng máu mất tăng lên vì hành kinhkéo dài Nội mạc tử cung không có biểu hiện thay đổi do phóng noãn, cókhuynh hướng các tuyến nội mạc bị giản thành nang do tình trạng kích thíchestrogen kéo dài
Hành kinh mất đột ngột: Hiện tượng này thường liên quan đến mộtstress nào đó đối với người phụ nữ Hội chứng tiền mãn kinh xuất hiện hoặcnặng thêm nếu đã có sẵn các hiện tượng như tăng cân, chướng bụng, đau vúhoặc rối loạn tâm lý như: lo âu, căng thẳng, mệt mỏi, Tuy nhiên nếu có rốiloạn kinh nguyệt cần phân biệt xuất huyết âm đạo bất thường do nguyên nhânthực thể hoặc ác tính [32], [44], [45]
Cơn bốc hoả và một số triệu chứng liên quan: Phụ nữ trong giai đoạnmãn kinh thỉnh thoảng có thể thấy những cơn nóng bừng ở ngực, ở lưng, ở cổ,mặt, kéo dài khoảng 30 giây đến 3 phút gây khó chịu, thậm chí mất ngủ nếuxảy ra vào ban đêm Một số triệu chứng liên quan như đổ mồ hôi nhiều vềđêm, rối loạn lưu thông mạch máu ở chân tay gây cảm giác nặng chân Cơnbốc hoả thường xuất hiện nhiều hơn khi căng thẳng hoặc khi đi vào chổ nóng,
ăn đồ cay, nóng Nên thư giãn, tránh căng thẳng, tránh chỗ nóng, tránh thức
ăn cay nóng [11], [32], [53]
Tính tình trở nên buồn vu vơ, trầm uất, dễ nóng nảy, cáu gắt, trí nhớgiảm Niêm mạc sinh dục dần dần teo mỏng làm âm hộ, âm đạo khô rát, khó
Trang 19giao hợp, dễ bị xây xước và nhiễm trùng Đối với cơ quan tiết niệu biểu hiệntiểu tiện nhiều lần đôi khi không tự chủ được, tiểu buốt dù nước tiểu vẫn trong
và không có dấu hiệu nhiễm trùng [1] [7] [34] Hệ xương thiếu nội tiết dẫnđến loãng xương khiến xương dòn, dễ gãy Thường gặp nhất là gẫy đầu dướixương cẳng tay, cổ xương đùi Ngoài ra còn vẹo cột sống, đau vùng thắt lưng,đau thần kinh toạ Đối với tim mạch: Xơ cứng thành mạch, chủ yếu nguy cơbệnh mạch vành hay nhồi máu cơ tim [12] Đối với hệ sinh dục, ung thư sinhdục, nội tiết tố buồng trứng giảm khơi dậy một số ung thư sẵn có [27] Timđập nhanh, tức ngực người bệnh có cảm giác tự nhiên tim đập nhanh, mạnh
có kèm cảm giác tim chạy lên cổ họng, tức ngực, nếu xảy ra ban đêm sẽ khóngũ Nếu máu cung cấp lên não không đủ sẽ gây chóng mặt, đau đầu Nếumáu cung cấp đến tay chân không đủ tay chân dễ bị lạnh, huyết áp dễ daođộng Ngoài ra da là đối tượng chịu tác động của estrogen cũng là tiêu chíquan trọng của đặc tính sinh dục cấp II [25], [39] Sự phân bố của lông trên
cơ thể, lớp mỡ dưới da là đặc thù bên ngoài của làn da phụ nữ do sự cân bằnggiữa kích thích tố nữ và kích thích tố nam quyết định Nữ giới 50 tuổi trở đidần dần xuất hiện hàn loạt dấu hiệu lão hoá
Cổ tử cung teo nhỏ dần, thấy rõ vài năm sau mãn kinh hoàn toàn Lớp niêmmạc ống cổ tử cung mỏng dần và nhạt màu Lỗ nhỏ cổ tử cung thu nhỏ lại,ranh giới giữa biểu mô trụ và biểu mô lát lùi sau vào phía trong lỗ ngoài cổ tửcung Ngay sau khi mãn kinh chất nhầy cổ tử cung có thể còn khá tốt nhưngkhi nồng độ estrogen xuống thấp lượng chất nhầy sẽ giảm mạnh, chất nhàyđặc quánh, nhiều thành phần tế bào hơn và không kết tinh dương xỉ [39] Ở
âm đạo, sau khi mãn kinh âm đạo dần trở nên chật hơn, ngắn hơn và các nếpgấp ngang giảm nhiều, các nhú quanh tiền đình và thành âm đạo trở nênphẳng Niêm mạc âm đạo dần dần mỏng đi, dễ bị nhạt màu, dễ bị loét và cóthể phát triển các vùng dính [32], [11]
Trang 20Bệnh tật
- Ung thư tử cung
Ung thư tử cung phát sinh ở tầng của màng tử cung có tên ung thư màng tửcung Bệnh u ác tính ở cơ quan sinh dục nữ, ung thư cổ tử cung là bệnhthường gặp [38]
Trước những năm 50 của thế kỷ XX, theo thống kê chung tỷ lệ phátsinh ung thư tử cung và ung thư cổ tử cung là 1/5-1/10 Mấy chục năm trở lạiđây, tỷ lệ mắc bệnh này ở các quốc gia trên thế giới có xu hướng tăng dần ởphụ nữ mãn kinh và sau mãn kinh[6], [14], [27]
- Viêm âm đạo
Do sau khi mãn kinh hormon estrogen giảm xuống, sức đề kháng ở âmđạo và gần, ngoài âm đạo giảm sút nên dễ bị các bệnh như viêm nhiễm, gâyviêm bên trong và bên ngoài âm đạo Vì vậy, điều quan trọng là phải là biếtphòng bệnh bằng cách chú ý giữ vệ sinh cá nhân, giữ cho khô ráo bộ phận âmđạo, hết sức tránh các kích thích bên ngoài âm đạo, tránh dùng nước nóng,dùng xà phòng để rửa, thời kỳ cấp tính không nên quan hệ tình dục, chú ýnghỉ ngơi, tránh mặc quần áo lót nilon mà mặc vải bông rộng, tắm rửa vệ sinhhàng ngày [38]
- Chứng bệnh xương, khớp
Phụ nữ sau 30 tuổi lượng xương dần thoái hoá, mỗi năm giãm 0,25-1%.Sau khi mãn kinh (trong vòng 15 năm đầu) do lượng estrogen giảm, tốc độthoái hoá xương nhanh hơn, mỗi năm từ 1%-5%, đặc biệt là 3-5 năm đầu saukhi mãn kinh tốc độ thoái hoá nhanh nhất, gây ảnh hưởng chủ yếu là xốpxương [7], [33] Các nhân tố khác như: do già yếu nên công năng của tế bàoxương giảm, hấp thụ can xi kém, hình thành vitamin D kém gây ảnh hưởngđến xương cốt toàn cơ thể Theo Nguyễn Thị Thanh Thuỷ [33], những ngườithừa cân liên quan đến sự hình thành bệnh xương khớp mãn tính và bệnh
Trang 21gout Không phải người phụ nữ nào sau khi mãn kinh đều mắc chứng loãngxương, mà chỉ có phụ nữ da trắng và da vàng, còn phụ nữ da đen thì khôngmắc chứng bệnh này Theo nghiên cứu, phụ nữ đã mãn kinh có tới 30% mắcbệnh loãng xương Kết quả nghiên cứu chứng minh, những nhân tố dễ gâychứng loãng xương là: do di truyền, do nghiện thuốc lá, nghiện rượu, do uống
đồ có hàm lượng cafein quá nhiều, do ít vận động mạnh, do thiếu can xi, domãn kinh quá sớm, Vì vậy cần phải chú ý coi trọng và dự phòng [7], [34]
- Mãn kinh và bệnh tim mạch:
Trong một nghiên cứu, các nhà khoa học đã tiến hành theo dõi tim mạch của5.000 người ( cả nam và nữ) để tính tỷ lệ mắc bệnh động mạch vành Kết quảnhư sau:
Tuổi Tỷ lệ mắc bệnh của nam Tỷ lệ mắc bệnh của nữ
Từ những con số trên, ta có thể thấy rằng, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
có sự bảo vệ của nhiều yếu tố nên tránh được sự phát bệnh, nhưng sau tuổi
50, những yếu tố bảo vệ này mất đi, tỷ lệ phát bệnh sẽ tăng lên rất cao [34].Ngày nay, người ta đã ý thức được rằng các yếu tố bảo vệ nói trên có thể làoestrogen
Ở phụ nữ đã mãn kinh, tỷ lệ mắc bệnh động mạch vành cao gấp ba đếnbốn lần so với những phụ nữ cùng độ tuổi nhưng chưa mãn kinh Căn bệnhnày là nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở phụ nữ [38], [39] Hệ thống timmạch của phụ nữ sau khi mãn kinh có những thay đổi như sau:
- Thay đổi chất trong máu: mỡ trong cơ thể con người bao gồm cholesterol,
mỡ trung tính Chúng kết hợp với anbumin để có thể tuần hoàn Sau khi mãnkinh, lượng cholesterol, mỡ trung tính và lượng LDL-C trong máu tăng, nồng
Trang 22độ HDL-C giảm rõ rệt Nguyên nhân là lượng oestrogen bị thiếu, dẫn đến tácdụng thay thế cholesterol giảm Phụ nữ mãn kinh nhân tạo cũng có nhữngthay đổi kể trên Hiện tượng thay đổi lượng mỡ trong máu có liên quan đến sựgia tăng tỷ lệ phát sinh bệnh tim mạch của phụ nữ sau khi mãn kinh [25].
- Thay đổi sự trao đổi chất: sau khi mãn kinh, do tuổi tác tăng, khả năng traođổi chất của các tế bào trong cơ thể giảm, hoạt động thể lực kém, nhiệt lượngtiêu hao ít hơn so với thời trẻ tuổi Vì vậy, nếu không chú trọng đến chế độ ănuống, thể trọng sẽ dần tăng, dẫn đến phát phì, lượng mỡ trong cơ thể tăng (đặcbiệt là ở bụng, đùi, eo), cơ thể nặng nề, hoạt động khó khăn [2] Phụ nữ saukhi mãn kinh sẽ phát sinh khuynh hướng không mẫn cảm với insulin Tronggiai đoạn này, các tổ chức trong cơ thể giảm độ mẫn cảm với tác dụng củainsulin, khiến cơ thể phải sản sinh nhiều insulin mới có thể duy trì lượngđường trong máu ở mức bình thường Vì thế, lượng insulin trong máu sẽ tăngcao Sau khi mãn kinh, tốc độ lưu thông máu có thể giảm Đây là nhân tố dẫnđến phát sinh xơ vữa động mạch [1]
-Thay đổi động lực học mạch máu: các nghiên cứu cho thấy, ở phụ nữ saukhi mãn kinh, việc giảm oestrogen sẽ làm tăng sức căng của tiểu động mạch
và sự bất ổn định của mạch máu, khiến sức cản của mạch máu cũng tăng, kếtquả điều tra bệnh tim cho thấy phụ nữ bị bệnh nhồi máu cơ tim chậm hơnnam giới từ 10-15 năm Phụ nữ dưới 55 tuổi rất ít bị đau thắt cơ tim Trướckhi mãn kinh tỷ lệ phụ nữ bị bệnh tim mạch chỉ bằng 1/10-1/30 so với namgiới, nhưng sau khi mãn kinh tỷ lệ mắc bệnh tăng nhiều, bằng và có khi caohơn nam giới Tính trung bình, sau khi mãn kinh phụ nữ tăng thêm 10 tuổi thìbệnh tim và tỷ lệ chết vì tim tăng gấp 7 lần [14]
Đặc điểm bệnh nhồi máu cơ tim ở phụ nữ mãn kinh: Triệu chứng đầutiên là những cơn đau co thắt cơ tim, số phụ nữ mà cơ tim bị tắc nghẽn chưađược phát hiện và cơ tim tắc nghẽn nhiều hơn nam giới, tỷ lệ sống lâu thấp
Trang 23hơn nam giới, nhưng ở phụ nữ sau khi trị liệu được một năm thì tỷ lệ khỏibệnh và sống lâu hơn nam giới, tỷ lệ phát bệnh chết đột tử thấp hơn nam giớinhiều [36], [38].
+ Cao huyết áp
Sự khác biệt lâm sàng rõ nhất ở người tăng huyết áp tuổi mãn kinh làtriệu chứng bốc hoả và cảm giác khó thở, cảm giác khó thở của phụ nữ tuổimãn kinh có tăng huyết áp cảm thấy như có cái gì đè ngực, không thở vàođược cũng như không thở ra được, cảm thấy như sắp chết đến nơi và nếu đohuyết áp lúc đó thường huyết áp vọt lên cao Trong nghiên cứu thuần tập củaHonjo H, 1997 tổng số 315 phụ nữ (tuổi 30-70) được lựa chọn ngẫu nhiên từquần thể chung [61].Thời gian nghiên cứu trung bình 5,2 năm có 166 phụ nữtiền mãn kinh và 105 sau mãn kinh, trong đó 44 người đã cắt tử cung Nghiêncứu cắt ngang phân tích phụ nữ sau mãn kinh so sánh với người tiền mãn kinh
và trong thời kỳ mãn kinh huyết áp tâm trương tăng 4-5mmHg Như vậy mãnkinh liên quan đến tăng huyết áp theo tuổi [12]
- Chứng giảm trí nhớ.
Từ những năm 70 trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã phát hiện các triệuchứng giảm trí nhớ ở thời kỳ mãn kinh có những dấu hiệu đần ngốc(Altheimer disease, AD) [7] Vì thế có ý kiến coi chứng hay quên ở thời kỳmãn kinh là một loại bệnh Triệu chứng lâm sàng của bệnh AD là năng lực trínhớ tiềm năng giảm sút, năng lực nhận thức thiếu sót như mất trí, ngộ nhận,quên, chứng hay quên làm cho khả năng công tác sinh hoạt đều giảm Tiếnhành các xét nghiệm hỗ trợ để xác định rõ về bệnh tật, trong các bệnh vềchứng hay quên thì bệnh AD chiếm từ hơn 50% trở lên Hiện nay toàn thếgiới số người mắc bệnh AD 12 triệu người [41]
- Bệnh về hô hấp
Trang 24Sự tích tụ mỡ ở vùng cơ hoành, ở các xương sườn và bụng khiến cholồng ngực giãn nở khó khăn Sức căng của thành ngực bị giảm làm tiêu haonăng lượng khí thở tăng lên khoảng 30% ở trường hợp tăng cân đơn thuần[31] Lồng ngực co giãn khó làm giảm thể tích khí dự trữ nên dung tích toànthể đều bị giảm dẫn đến giảm ôxy trong máu, kích thích người bệnh thở gấphơn Nhờ có việc tăng tần số thở ( số lần thở) mà lượng khí cácbonic đượcthải ra ở mức bình thường và không bị tích nhiều trong máu Những người ở
độ tuổi tiền mãn kinh, mãn kinh giảm cấu tạo và chức năng hô hấp dẫn tớigiảm sinh lý hô hấp Vì vậy mà khó thở khi ngủ, tăng huyết áp do mỡ tích tụtrong ổ bụng và thành ngực nên hạn chế vận động của cơ hoành và các cơ hôhấp thành ngực, mỡ lắng đọng trong thành phế nang và các khí, phế quản nên
sự thông khí ở phổi bị giảm, mỡ lắng đọng ở cổ, thân lưỡi phì to và cuốnglưỡi sa xuống làm cho đường hô hấp bị tắc ở những mức độ khác nhau [36]
Trang 25CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là 1596 phụ nữ ở độ tuổi từ 45-53, được chiatheo bốn khoảng tuổi 45,1- 47,0; 47,1- 49,0; 49,1-5 1,0; 51,1- 53,0 Mỗikhoảng tuổi gồm 399 người, được chia đều cho ba địa điểm miền biển, miềnnúi và thành phố
2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Phỏng vấn trực tiếp và phiếu điều tra để xác định tuổi tiền mãn kinh và
mãn kinh Sau đó tiến hành cân đo các chỉ tiêu hình thái ; Điều tra bệnh án
của đối tượng nghiên cứu tại các trung tâm Y tế, trạm xá cùng với sự trợ giúpcủa các chuyên gia Y tế trong các đợt khám sức khỏe định kỳ để xác định cáctriệu chứng và một số bệnh thường gặp ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh
2.3 CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU
- Thực trạng tuổi mãn kinh ở phụ nữ tại các điểm nghiên cứu
- Các chỉ tiêu hình thái: chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực, vòngbụng, vòng mông, vòng đùi
- Tính toán các chỉ số chỉ số BMI (Body Mass Index), WHR (Waist to
Trang 26Hip Ratio).
- Khảo sát một số biểu hiện và bệnh thường gặp ở thời kỳ tiền mãn kinh
và mãn kinh
- Các chỉ tiêu sinh lý: huyết áp, tần số tim, tần số hô hấp, thời gian nín thở
- Tính toán các chỉ số chỉ số BMI (Body Mass Index), WHR (Waist toHip Ratio)
- Các rối loạn bệnh thường gặp ở thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp dịch tễ học: Dùng phiếu in sẵn để điều tra độ tuổi tiềnmãn kinh, mãn kinh [9]
Phỏng vấn trực tiếp theo phiếu điều tra, điều tra các biểu hiện và bệnh liênquan đến tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh (đã được cơ quan y tế khám, xác định)
- Phương pháp nhân trắc học để xác định một số chỉ tiêu hình thái nh sau:
Chiều cao đứng (H): Đo chiều cao đứng bằng thước dây nhựa mềm,
chia độ tới mm, cố định trên một mặt phẳng đứng đối tượng cởi bỏ giày, dép,mặc quần áo mỏng, đứng thoải mái, hai tay duỗi thẳng, mắt nhìn thẳng, haigót chân chụm, khi đo phải chạm thước tại 4 điểm: chẩm, vai, mông, gót
chân Đo khoảng cách từ gót chân tới đỉnh đầu, đọc chính xác tới mm (Đơn
vị tính cm).
Cân nặng (P): Xác định cân nặng bằng cân bàn Đối tượng cởi bỏ giày,
dép, mặc quần áo mỏng, lên xuống bàn cân nhẹ nhàng Khi kim không
chuyển động nữa thì đọc kết quả chính xác tới g (Đơn vị tính kg).
Vòng ngực (W): Vòng ngực được đo bằng thước dây mềm, độ chia
chính xác đến mm Đo vòng ngực lúc thở ra và lúc hít vào tối đa rồi chiatrung bình giữa hai lần đo Khi đo, mặc áo mỏng, thước dây được vòng từ
trước ra phía sau ngang mức mỏm xương bả vai (Đơn vị tính cm).
Trang 27Vũng bụng: vị trớ đo ở trờn rốn 2,54 cm, đo sau khi đối tượng vừa thở
ra Đo bằng thước dõy khụng co giản, độ chia chính xác đến mm (Đơn vị tớnh cm).
Vũng mụng: đo ngang qua 2 mấu chuyển lớn của xương đựi Đo bằng
thước dõy khụng co giản, độ chia chính xác đến mm.(Đơn vị tớnh cm).
Vũng đựi: đo tại vị trớ lớn nhất của đựi bằng thước dõy khụng co giản,độ
Tần số mạch đập: đợc đo theo phơng pháp thông thờng Xỏc định bằng cỏch
bắt mạch ở động mạch quay vựng cổ tay, đo 3 lần, lấy giá trị trung bình (Đơn
vị nhịp / phỳt).
Đo huyết ỏp: ở trạng thỏi yờn tĩnh bằng huyết ỏp kế thủy ngõn theo phương
phỏp Korotkov (Đơn vị mmHg).
Tần số hô hấp: lấy tần số hô hấp lúc bình thờng, sau đó yêu cầu đối tợng vận
động tại chỗ đứng lên ngồi xuống 20 lần trong 30 giây và sau đó 50-60 giây
lấy tần số hô hấp sau vận động, theo phơng pháp của Sermeep, 1986.(Đơn vị nhịp / phỳt)
Thời gian nín thở tối đa
Theo liệu pháp Stange, đo thời gian nín thở ở t thế ngồi Yêu cầu đối tợngthở ra và hít vào 3 lần thật sâu đến lần hít vào hết sức thứ t thì dùng ngón taybịt mũi, bấm đồng hồ để tính thời gian xuất hiện thở ra sẽ cho ta biết thời gian
nín thở tối đa (Đơn vị nhịp / phỳt)
2.5 PHƯƠNG PHÁPXỬ Lí SỐ LIỆU
Số liệu được xử lý theo phương phỏp thống kờ trờn mỏy vi tớnh theochương trỡnh Epiinfo 6.0, spss for window 13.0 và sự hỗ trợ phần mềm Excel
2003
Trang 28CHƯƠNG III
KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.1 THỰC TRẠNG TUỔI TIỀN MÃN KINH VÀ MÃN KINH
Kết quả nghiên cứu về thực trạng tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh của
phụ nữ ở Nghệ An được trình bày ở bảng 3.1, 3.2 và biểu đồ 3.1, 3.2
Bảng 3.1 Biểu hiện tiền mãn kinh và mãn kinh ở độ tuổi 45-53
tại các điểm nghiên cứu
Địa điểm n
Số ngườikinh nguyệtbình thường
Số người códấu hiệutiền mãnkinh
Số người đãmãn kinhtrong vòng
12 tháng
Số người
đã mãnkinh sau 1năm
Trang 29Qua bảng 3.1 cho thấy:
- Trong tổng số 1596 đối tượng được nghiên cứu, có 431 người bắt đầu xuấthiện dấu hiệu tiền mãn kinh như rối loạn kinh nguyệt, bốc hỏa Số người đãmãn kinh trong vòng 12 tháng là 316 và số người đã mãn kinh sau một năm
là 450 Độ tuổi trung bình của nhóm kinh nguyệt bình thường là một 45,4 tuổitiền mãn kinh là 46,9, tuổi mãn kinh 49,4 và đối tượng mãn kinh sau một năm
là 50,1 tuổi
Bảng 3.2 Tuổi trung bình tiền mãn kinh và mãn kinh ở phụ nữ Nghệ An
Quỳnh Lưu Con Cuông tp Vinh
Biểu đồ 3.1 So sánh độ tuổi trung bình của tiền mãn kinh
Trang 30Qua bảng 3.2 và biểu đồ 3.1, 3.2 cho cho thấy tuổi trung bình thời kỳtiền mãn kinh 46,9 ± 1,9, tuổi mãn kinh 49,4 ± 2,1 Tuổi tiền mãn kinh vàmãn kinh trung bình cao nhất là ở thành phố Vinh, tiếp đến là Quỳnh Lưu,thấp nhất là Con Cuông , tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa sosánh với p>0,05.
49.4
49.1
49.7
48.8 48.9 49.0 49.1 49.2 49.3 49.4 49.5 49.6 49.7
Địa điểm
Biểu đồ 3.2 So sánh độ tuổi trung bình của mãn kinh
3.1.2 MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HỌC CỦA TUỔI TIỀN MÃN KINH VÀ MÃN KINH
Bảng 3.3 Cân nặng, chiều cao và BMI phụ nữ độ tuổi tiền mãn kinh
tại Nghệ An
n Cân nặng (kg) Chiều cao(cm) BMIQuỳnh Lưu
(a) 143 51,9 ± 7,4 153,6 ± 4,5 22,0 ± 2,76Con Cuông
(b) 151 52,4 ± 6,8 152,9 ± 4,4 22,4 ± 2,79
TP Vinh
(c) 137 55,4 ± 7,0 154,0 ± 4,7 23,4 ± 2,74
Trang 31Biểu đồ 3.4 So sánh chiều cao của tuổi tiền mãn kinh ở ba vùng
Kết quả khảo sát trên 431 phụ nữ tiền mãn kinh được thể hiện qua bảng3.3, và biểu đồ 3.3; 3.4
Trang 32- Ở tuổi tiền mãn kinh chiều cao giảm dần theo độ tuổi, ngược lại, cânnặng tăng dần theo độ tuổi.
- Chiều cao và cân nặng của phụ nữ ở Vinh cao nhất Phụ nữ QuỳnhLưu có chiều cao đứng cao hơn, nhưng cân nặng thấp hơn ở Con Cuông
- Sự sai khác về cân nặng giữa Quỳnh Lưu và Con Cuông không có ýnghĩa thống kê p>0,05, tuy nhiên giữa Quỳnh Lưu với thành phố Vinh vàCon Cuông với thành phố Vinh có ý nghĩa p<0,001.Chiều cao có sự sai khácgiữa nhóm Con Cuông và nhóm thành phố Vinh với p<0,001
Bảng 3.4 Cân nặng chiều cao và BMI của phụ nữ tuổi mãn kinh
tại Nghệ AnĐịa điểm Tuổi mãn kinh
Cân nặng (kg) Chiều cao
Trang 33Biểu đồ 3.6 So sánh cân nặng tuổi mãn kinh ở các vùng
Qua bảng 3.4 và biểu đồ 3.5 và 3.6 cho thấy:
- Phụ nữ độ tuổi mãn kinh, cân nặng có sự khác nhau giữa các vùng;cân nặng của phụ nữ tại TP Vinh cao hơn phụ nữ Quỳnh Lưu và Con Cuông;
sự khác biệt có ý nghĩa với p<0.001; còn cân nặng của phụ nữ ở Quỳnh Lưu
Trang 34và Con Cuông khác nhau không đáng kể (p>0.05)
- Ở tuổi mãn kinh, chiều cao của phụ nữ tại TP Vinh cao hơn phụ nữCon Cuông Sự khác biệt với p<0.001; còn phụ nữ Quỳnh Lưu có chiều caocao hơn phụ nữ Con Cuông và Quỳnh Lưu thấp hơn TP.Vinh nhưng không
Bảng 3.5 Chỉ số BMI của phụ nữ tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh
Trang 3522.9
23.4 23.6
Biểu đồ 3.7 So sánh chỉ số BMI tuổi tiền mãn kinh và tuổi mãn kinh ở ba vùng
Qua bảng 3.5 và biểu đồ 3.7 cho ta thấy:
- Chỉ số BMI của nhóm phụ nữ tuổi mãn kinh cao hơn nhóm phụ nữtiền mãn kinh
Bảng 3 6 Vòng mông và vòng bụng tuổi tiền mãn kinh
Trang 36Kết quả bảng 3 6 cho thấy,
- Số đo vòng bụng tuổi tiền mãn kinh lớn nhất ở nhóm phụ nữ thành
phố, tiếp theo là ở phụ nữ miền núi, thấp nhất là ở vùng biển Theo nghiêncứu của nhiều tác giả, số đo này liên quan đến sự vận động Có thể rằng, thờilượng vận động ở nhóm phụ nữ thành phố hạn chế hơn
- Sự sai khác giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê với p<0,001
Bảng 3.7 Vòng bụng và vòng mông tuổi mãn kinhĐịa điểm n Vòng bụng
(cm)
Vòng mông
(cm)
WHRQuỳnh Lưu (a) 112 80,3 ± 4,38 92,2 ± 4,42 0,87 ± 0,25Con Cuông (b) 100 83,8 ± 4,13 95,3 ± 4,51 0,88 ± 0,23Tp.Vinh (c) 104 92,5 ± 4,18 99,1 ± 4,44 0,93 ± 0,22Chung 316 85,5 ± 4,23 95,5 ± 4,46 0,89 ± 0,24
Kết quả bảng 3.7 ở tuổi mãn kinh cho thấy tương tự như ở tuổi tiền
mãn kinh Qua các nghiên cứu thì giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh có sựsai khác nhiều về mặt hình thái, vì giai đoạn này cơ thể có sự tăng cân độtbiến đối với một số phụ nữ Sự thay đổi kích thước vòng bụng, vòng mông bịảnh hưởng nhiều bởi yếu tố dinh dưỡng và thời lượng vận động Vòng bụng
và vòng mông giữa các vùng có sự khác biệt lớn với p<0,001
Bảng 3.8 Chỉ số WHR của tuổi tiền mãn kinh và tuổi mãn kinh
Địa điểm Tuổi tiền mãn kinh Tuổi mãn kinh
Quỳnh Lưu (a) 143 0,82 ± 0,21 112 0,87 ± 0,25Con Cuông (b) 151 0,85 ± 0,23 100 0,88 ± 0,23
Tp Vinh (c) 137 0,92 ± 0,21 104 0,93 ± 0,22
Trang 370.76 0.78 0.8 0.82 0.84 0.86 0.88 0.9 0.92 0.94
Quỳnh Lưu
Con Cuông
Tp.
Vinh
Địa điểm
WHR tuổi tiền mãn kinh WHR tuổi mãn kinh
Biểu đồ 3.8 So sánh chỉ số WHR tuổi tiền mãn kinh và tuổi mãn kinh
- WHR là một trong những chỉ số để ước tính sự phân bố mỡ trong cơthể Khi kích thước vòng bụng, vòng mông tăng dẫn đến WHR tăng và ngược lại.Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.8 và biểu đồ 3.8 cho thấy, chỉ số WHR ở tuổimãn kinh cao hơn tuổi tiền mãn kinh Điều này cho thấy, ở tuổi mãn kinh,lượng mỡ tích tụ ở vùng bụng và mông tăng lên Giữa các vùng không có sựkhác biệt đáng kể với P>0,05
- Chỉ số WHR của thành phố Vinh cao nhất tiếp đến là Con Cuông vàQuỳnh Lưu thấp nhất
- Sự khác nhau giữa ba vùng không có ý nghĩa thống kê p>0,05
Bảng 3.9 Vòng đùi, vòng ngực của tuổi tiền mãn kinh, mãn kinh