1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện yên thành

81 290 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện yên thành
Tác giả Phạm Thị Mai
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Văn Sơn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khuyến Nông và PTNT
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 525 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, được sự quan tâm của chính quyền huyện cũng như các tổ chức kinh tế và xã hội khác, trên địa bàn huyện đã được triển khai nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp.. Đánh g

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ

- -THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG MỞ RỘNG CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH KHUYẾN NÔNG TRÊN ĐỊA

BÀN HUYỆN YÊN THÀNH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PTNT

Người thực hiện : Phạm Thị Mai Lớp : 46K3 - Khuyến Nông và PTNT Người hướng dẫn: ThS Hoàng Văn Sơn

VINH - 5.2009

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một công trình nghiên cứu hay một học vị nào.

Tất cả các thông tin và tư liệu sử dụng trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc trích dẫn và chú thích rõ ràng.

Vinh, tháng 5 năm 2009

Sinh viên

Phạm Thị Mai

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều người Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô đã dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường Đặc biệt là sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và các thầy cô đã đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận.

Cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ công nhân viên trạm khuyến nông Yên Thành

và tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và thực hiện đề tài này.

Con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới bố mẹ và tất cả người thân đã luôn động viên khích lệ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con để con hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này

Tôi xin cảm ơn tất cả sự giúp đỡ của các bạn trong lớp 46 K3- Khuyến nông

& PTNT

Vinh, tháng 5 năm 2009

Sinh viên

Phạm Thị Mai

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Hiệu quả kinh tế của mô hình hầm Biogas (ĐVT: ngàn đồng)

Bảng 3.2 Tình hình chăn nuôi của huyện Yên Thành qua một số năm (2005-2007)Bảng 3.3.Ý kiến của các hộ chưa làm bếp( ĐVT: %)

Bảng 3 4 Hiệu quả kinh tế của 1 ha Bí xanh

Bảng 3.5: Tình hình nuôi cá ruộng

Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế của 1 sào (500m2) mô hình cá vụ 3

Bảng 3.7: Tốc độ phát triển cá lúa

Bảng 3.8: Định mức chi phí cho 1 sào(500m2) khoai mô hình và đối chứng

Bảng 3.9: Hiệu quả kinh tế của khoai mô hình và khoai đối chứng (tính cho 1 sào

500m2)

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIẺU ĐỒ, HÌNH VẼ

H ình 3.4 Tình trồng bí xanh trên địa bàn huyện giai đoạn (2005 - 2008)Hình 3.5 Tốc độ phát triển cá ruộng từ năm (2002-2008)

Hình 3.1 Cơ cấu các nghành kinh tế (tính theo giá so sánh)

Hình 3.2 Cơ cấu lao động ở Yên Thành năm 2007

Hình 3.3 Tình hình phát triển hầm KSH trên địa bàn huyện

Hình 3.4 Cánh đồng bí ở Lăng Thành

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Khuyến nông 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Nguyên tắc của hoạt động khuyến nông 5

1.1.3 Các phương pháp khuyến nông 6

1.2 Mô hình 6

1.2.1 Khái niệm mô hình 6

1.2.2 Mô hình trong khuyến nông 8

1.2.3 Vai trò của việc xây dựng mô hình 9

1.2.4 Cơ sở lý luận của việc xây dựng mô hình 10

1.2.5 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng mô hình 11

1.2.6 Mục tiêu của việc thử nghiệm trên đồng ruộng 12

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

15 2.1 Đối tượng nghiên cứu 15

2.2 Phạm vi nghiên cứu 15

2.3 Nội dung nghiên cứu 15

2.4 Phương pháp nghiên cứu 15

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 15

2.4.2 Phương pháp phân tích số liệu 16

Trang 8

2.5 Các chỉ tiêu đánh giá 16

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18

3.1 Đặc điểm tự nhiên – Kinh tế - xã hội của địa phương tác động tới vấn đề nghiên cứu

18 3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 18

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 20

3.2 Tình hình chung về phát triển mô hình trên địa bàn huyện Yên Thành 22

3.3 Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình 24

3.3.1 Thực trạng phát triển và khả năng mở rộng hệ thống Biogas của huyện .25 3.3.1.1 Tình hình phát triển của hệ thống Biogas trên địa bàn 25

3.3.1.2 Khả năng mở rộng hệ thống biogas sinh học trên địa bàn huyện Yên Thành

30 3.3.1.3 Một số giải pháp phát triển mô hình 33

3.3.2 Thực trạng và khả năng nhân rông mô hình sản xuất bí xanh trên địa bàn

34 3.3.2.1 Thực trạng phát triển mô hình bí xanh 34

3.3.2.2 Những khó khăn khi nhân rộng mô hình 38

3.3.3 Thực trạng và khả năng nhân rộng mô hình nuôi cá ruộng trên địa bàn huyện Yên Thành

40 3.3.3.1 Hiện trạng phát triển mô hình nuôi cá ruộng ở Yên Thành 40

3.3.3.2 Những thuận lợi của Yên Thành khi phát triển mô hình 44

3.3.3.3 Khả năng mở rộng mô hình và những tồn tại 44

Trang 9

3.3.3.4 Những giải pháp góp phần nâng cao tính bền vững của mô hình 46

3.3.4 Mô hình sản xuất khoai lang Nhật bản KCL 266 47

3.3.4.1 Tình hình thực hiện mô hình 47

3.3.4.2 Những thuận lợi của mô hình trong điều kiện ở Yên Thành 51

3.3.4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng nhân rộng của mô hình 51

3.4 Kết quả thảo luận 53

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Từ xưa cho tới nay, nông nghiệp luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của đất nước, cũng như trong đời sống văn hóa tinh thần hàng ngày của người dân Việt Nam Nông nghiệp không những tạo ra những sản phẩm vật chất phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người, như: lúa, ngô, khoai, sắn, mà nông nghiệp còn góp phần tạo nên những giá trị tinh thần to lớn trong cộng đồng Nông nghiệp được xem là “sợi dây”, là yếu tố tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, tạo nên bản sắc văn hóa riêng “văn hóa làng Việt” và ‘nền văn minh lúa nước” Ngày nay khi cả thế giới đang bước vào thời kỳ hội nhập, cùng với quá trình đó là sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ Tuy nhiên với một nước mà lao động trong ngành nông nghiệp còn chiếm tới 70% lao động như ở nước ta hiện nay, thì ngành nông nghiệp cũng đang giữ một vai trò hết sức quan trọng Từ nhận thức thực tiễn đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy nền nông nghiệp nước nhà ngày càng phát triển hơn, tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, nông nghiệp sạch và phát triển bền vững như: chính sách về đất đai, chính sách về thuế, chính sách xóa đói giảm nghèo,

Một trong những biện pháp mà Nhà nước đang thực hiện đó là việc xây dựng các mô hình thực nghiệm và nhân rộng các mô hình đó Với mục đích thông qua

Trang 10

việc thực hiện các mô hình sản xuất đó các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, cách thức làm ăn mới sẽ được chuyển giao cho người dân Từ những kiến thức khoa học mới kết hợp với kinh nghiệm sản xuất lâu đời của người dân sẽ tạo điều kiện cho người dân thay đổi được cách làm ăn kém hiệu quả trước đây “con trâu đi trước cái cày đi sau” Từ đó họ có thể tự mình thay đổi điều kiện sống của hộ gia đình nói riêng và kinh tế nông thôn nói chung theo hướng tiến bộ hơn Được sự hỗ trợ của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, trong những năm qua, việc thực hiện các mô hình sản xuất nông nghiệp ngày càng trở nên rầm rộ hơn trên phạm vi

cả nước với nhiều chủng loại mô hình và quy mô rộng lớn hơn trước kia

Tuy nhiên, có một thực tế đã và đang xảy ra là: bên cạnh những mô hình có tính khả thi cao, có hiệu quả cao về mặt kinh tế và xã hội được người dân hưởng ứng và nhân rộng thì cũng có một số mô hình tỏ ra kém hiệu quả chưa thu hút được sự tham gia của người dân nên chỉ tồn tại được trong một thời gian rất ngắn chỉ 1- 2 năm, thậm chí có những mô hình chỉ được thực hiện trong giai đoạn thực nghiệm

Vậy phải chăng các mô hình này chưa có khả năng nhân rộng hay tính bền vững của mô hình bị đe dọa là do chưa có sự tham gia của người dân vào việc thiết

kế, xây dựng và quản lý các dự án đó? hay do các mô hình này chưa thực sự phù hợp với nguyện vọng và điều kiện của địa phương? Có nhiều cách lý giải khác nhau về vấn đề này nhưng nhìn chung người ta chủ yếu quan tâm tới vai trò và mối quan hệ giữa bốn nhà: Nhà nước, nhà khoa học, nhà kinh doanh và nhà nôngYên thành là một huyện bán sơn địa nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An Với 78% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (số liệu thống kê năm 2007) việc phát triển nông nghiệp có vai trò rất quan trọng đối với huyện Trong những năm qua, được sự quan tâm của chính quyền huyện cũng như các tổ chức kinh tế

và xã hội khác, trên địa bàn huyện đã được triển khai nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, việc phát triển mô hình trên địa bàn huyện cũng không nằm ngoài tình trạng chung của cả nước Những kết quả đạt được chưa tương xứng với công sức và tiền của cũng như nguyện vọng của người dân trong huyện

Trang 11

Từ thực tế trên đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn thật khách quan, toàn diện và chính xác về bản chất của vấn đề cũng như tình hình triển khai, áp dụng và phát triển các mô hình trong điều kiện cụ thể ở Yên Thành, từ đó trả lời được câu hỏi

“tại sao lại như thế?” Một khi vấn đề này đã được làm sáng tỏ chúng ta sẽ có những cách thức, phương pháp tổ chức thực hiện các mô hình này một cách hợp lý

và hiệu quả hơn, phù hợp với yêu cầu của người dân và điều kiện cụ thể ở Yên Thành

Đánh giá đúng về tình hình phát triển và khả năng mở rộng của các mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện đồng thời trả lời được một phần câu hỏi trên, từ

đó có cơ sở đưa ra các giải pháp phát triển đúng đắn đã trở thành yêu cầu cấp thiết khi xây dựng kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế của huyện, đặc biệt là trong tình hình mới hiện nay Đấy chính là mục đích mà đề tài “ thực trạng và khả năng nhân rộng một số mô hình khuyến nông tại Yên Thành” muốn hướng tới

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Việt Nam là một nước nông nghiệp, với gần 70 % lao động hoạt động trong

lĩnh vực nông nghiệp nên việc phát triển nông nghiệp luôn được xem là vấn đề trọng tâm trong phát triển kinh tế của đất nước Xu hướng phát triển chung của nền nông nghiệp thế giới mà đặc biệt là khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức WTO như hiện nay thì yêu cầu phải tìm ra định hướng đúng cho sự phát triển của ngành nông nghiệp trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Đề tài“ Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện Yên Thành” sẽ góp phần cung cấp thêm thông tin và một phương pháp khi đánh giá tình hình sản xuất nông nghiệp đất nước nói chung và trên địa bàn huyện Yên Thành nói riêng

Đề tài này tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển và đánh giá khả năng

mở rộng của một số mô hình khuyến nông đã được triển khai thực hiện trên địa bàn huyện trong một số năm gần đây, qua kết quả nghiên cứu thu được sẽ cung cấp cở sở dữ liệu khoa học và thực tiễn về tình hình phát triển và khả năng mở rộnh của các mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách của địa phương nhận thức được đầy đủ và chính xác về tình

Trang 12

hình nhân rộng các mô hình sản xuất trên địa bàn huyện và những tiềm năng phát triển của huyện để từ đó có những chính sách phù hợp để phát triển nông nghiệp huyện nhà Đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu các vấn đề liên quan.

Đề tài nghiên cứu “Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông tại Yên Thành” nhằm mục đích khái quát hóa thực trạng và tình hình phát triển của một số mô hình khuyến nông đã được triển khai thực hiện trên địa bàn huyện Yên Thành trong thời gian gần đây Từ đó đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình, tăng khả năng phát triển mở rộng của các mô hình khuyến nông trong những năm tới

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài “thực trạng và khả năng nhân rộng một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện Yên Thành” với mục tiêu nghiên cứu là :

• Hiểu đúng về thực trạng phát triển mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện Yên Thành

• Sử dụng kết quả nghiên cứu thu được để làm cơ sở khoa học cho các hoạt động xây dựng và phát triển mô hình khuyến nông và đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng mô hình trong hoạt động khuyến nông

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Trang 13

và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và cải thiện nông thôn mới.

Cho đến nay định nghĩa được sử dụng khá rộng rãi là: Khuyến nông là một tiến trình hệ thống của việc trao đổi các ý tưởng, kiến thức và các kỹ thuật dẫn đến

sự trao đổi cùng nhau các quan điểm, chính sách, kiến thức, giá trị và thái độ nhằm vào việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên để nâng cao mức sống cho người dân và phát triển nông thôn theo hướng bền vững về sinh kế và môi trường[1, tr.11]

1.1.2 Nguyên tắc của hoạt động khuyến nông

 Tinh thần trách nhiệm cao

Khuyến nông là công việc mang đầy tinh thần trách nhiệm Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì bản thân mỗi khuyến nông viên phải mang trong mình tinh thần tự nguyện với trách nhiệm cao

 Làm cùng với dân chứ không làm thay dân

 Không cho không

Cần phải tuân thủ một nguyên tắc rằng khuyến nông chỉ đóng vai trò hỗ trợ những khâu khó khăn ban đầu mà từng hộ nông dân không thể tự đầu tư khi áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới

 Khuyến nông vừa là nhịp cầu thông tin hai chiều vừa là cơ quan nghiên cứu phát triển

 Khuyến nông phối hợp chặt chẽ với các tổ chức cơ quan khác

 Khuyến nông làm việc với từng nhóm đối tượng khác nhau

 Luôn thích ứng và không cứng nhắc

Trang 14

1.1.3 Các phương pháp khuyến nông

Mỗi tổ chức tùy thuộc vào cách tiếp cận của họ với nông dân mà có phương pháp khuyến nông riêng, tuy nhiên nhìn chung có ba phương pháp khuyến nông chủ yếu sau đây:

1.2 Mô hình

1.2.1 Khái niệm mô hình

Với mỗi cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu mà mỗi ngành khoa học và những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau lại có cách hiểu và định nghĩa về mô hình theo những cách riêng Khái niệm mô hình được sử dụng rộng rãi trong tin học, triết học, kinh tế học, …

• Theo quan điểm triết học

Mô hình là sự biểu thị mối quan hệ giữa tri thức con người về các khách thể

và bản thân các khách thể đó Mô hình không chỉ là một phương tiện mà mô hình còn là một trong những hình thức của sự nhận thức tri thức, là bản thân tri thức Trong quan hệ với lý thuyết mô hình không chỉ là công cụ tìm kiếm những khả năng thực hiện lý thuyết mà nó còn là công cụ kiểm tra các mối liên hệ, quan hệ, cấu trúc Tính quy luật được diễn đạt trong lý thuyết ấy có tồn tại thực hay không.[1],[2]

• Theo quan điểm của tin học, kinh tế học

Mô hình là hệ thống các hệ thức toán học(mô hình toán học), là các quá trình vật lý(mô hình vật lý) hay hình ảnh mang tính chất quy ước của đối tượng nghiên cứu, diễn tả các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố của một hệ thống thực tế tự nhiên, xã hội, …Mô hình chỉ có ý nghĩa thiết thực khi sự phân tích nó thuận tiện

Trang 15

hơn cho người nghiên cứu trực tiếp đối tượng bằng những phương tiện hiện có.[2],[2]

Là khái niệm trừu tượng về tiêu chuẩn hay biểu mẫu của một hệ thống nào

đó của ngôn ngữ( hệ thống âm vị, hệ thống ngữ pháp, ); là khái niệm về những đặc trưng chung nhất của một hiện tượng ngôn ngữ nào đó, là sơ đồ chung mô tả một hệ thống hay một tiểu hệ thống ngôn ngữ nào đó.[3],[2]

Như vậy theo nghĩa hẹp, mô hình là mẫu, khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra những sản phẩm hàng loạt; là thiết bị, cơ cấu tái tạo hay bắt chước cấu tạo

và hoạt động của một cơ cấu khác (của nguyên mẫu hay cái được bắt chước) vì mục đích khoa học và sản xuất Hiểu theo nghĩa rộng thì mô hình là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả, …) ước lệ của một khách thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hoặc các hiện tượng)

Khái niệm mô hình đã được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và xem nó như là một công cụ, một phương pháp có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu khoa học

Nếu hiểu mô hình theo nghĩa hẹp thì với những nguồn lực đầu vào như nhau nếu cùng tuân thủ đúng các yêu cầu theo quy định thì sẽ cho ra một kết quả đầu ra giống nhau ở tất cả mọi không gian và thời gian:

Đầu vào → Đầu ra

Khái niệm mô hình chỉ được hiểu đầy đủ và đúng nghĩa khi tính chất tiêu chuẩn, khuôn, mẫu được đáp ứng một cách đầy đủ, nó được xem như là “nguyên tắc không thay đổi” trong quá trình thực hiện Nếu ta làm theo một yêu cầu khác thì khi đó khái niệm mô hình đã có sự “biến thái”

Nguyên tắc đầu vào giống nhau sẽ cho kết quả đầu ra như nhau đã được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng dụng, nguyên tắc này cũng đã chứng tỏ được vai trò và tầm quan trọng của nó trong các lĩnh vực đòi hỏi tính chính xác và

tỷ mỉ cao: Tin học, toán học, …

1.2.2 Mô hình trong khuyến nông

Trang 16

Trong ngành nông nghiệp nói chung và ngành khuyến nông phát triển nông thôn nói riêng khái niệm mô hình được hiểu và vận dụng theo một cách khác để phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam Ở đây khái niệm mô hình được hiểu dưới dạng mô hình hóa, tức là người ta sử dụng mô hình để tái hiện lại những đặc trưng của khách thể nào đó dựa trên khách thể khác tương tự được xây dựng lên để phục vụ cho việc nghiên cứu nó, khách thể đó được gọi là mô hình.

Nhu cầu về mô hình hóa phát sinh từ việc nghiên cứu bản thân khách thể một cách trực tiếp gặp khó khăn, tốn kém, cần nhiều thời gian hoặc không thể làm được vì khách thể quá lớn hoặc quá phức tạp Cơ sở của mô hình hóa là sự tương

tự nhất định về điều kiện sản xuất, trình độ sản xuất và những yếu tố liên quan tác động tới hoạt động sản xuất nông nghiệp, chính sự tương tự này cho phép chuyển

từ mô hình sang chính khách thể, nhờ đó cho phép ta sử dụng các kết quả thu nhận được nhờ mô hình lên khách thể, chẳng hạn mô hình sản xuất bí xanh sẽ cho ta biết được những yếu tố tác động lên việc sản xuất bí, trước hết là những yếu tố ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng quả bí

Ngày nay phương pháp mô hình hóa được sử dụng nhiều và nó đã chứng tỏ được ưu thế của mình, đó là tính tổng quát, tiện lợi, nhanh chóng và tiết kiệm trong nghiên cứu Mô hình hóa là một trong những biện pháp của quá trình nhận thức khoa học nói chung

Theo cách hiểu này thì trong nông nghiệp có nhiều loại mô hình khác nhau trong đó mô hình thực nghiệm đang là mô hình được sử dụng phổ biến nhất Mô hình thực nghiệm là sự tái hiện lại đối tượng nghiên cứu dưới dạng đơn giản hóa, sau đó nhờ biểu hiện mối quan hệ giữa các mô hình thông qua các công thức toán học và các công cụ khác người ta lý giải được những vấn đề đặt ra đồng thời thu nhận được những thông tin mới về đối tượng nghiên cứu Trong một số trường hợp mô hình thực nghiệm tương ứng với nguyên bản, lúc này mô hình có thể thay thế đối tượng và trở thành đối tượng nghiên cứu Sau khi nghiên cứu thu được thông tin cần thiết trên mô hình thực nghiệm nhười ta hiệu chỉnh phương hướng

và biện pháp nghiên cứu thích hợp rồi nghiên cứu nguyên bản

Trang 17

Ở các nước có nền nông nghiệp tiên tiến sản xuất trên các dây chuyền công nghệ cao thì họ có đủ khả năng và điều kiện để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật của mô hình, nên khái niệm mô hình cũng được hiểu theo đúng nghĩa hẹp của nó Còn ở Việt Nam do các nguồn lực sản xuất có hạn, người ta không thể quản lý được hết các yếu tố đầu vào do đó sản phẩm đầu ra cũng khác nhau tùy thuộc vào từng điều kiện sản xuất khác nhau.

Trong hoạt động khuyến nông ở Việt Nam khái niệm mô hình được hiểu như

là một điểm khuyến cáo về một kỹ thuật mới trong sản xuất Kết quả của một công trình nghiên cứu cho phép đưa ra một mô hình thực nghiệm về lĩnh vực sản xuất

cụ thể Người ta tiến hành đưa ra môi trường thực nghiệm này thử nghiệm trên đồng ruộng để chứng minh hiệu quả kinh tế - môi trường và xã hội của mô hình, dựa vào kết quả của mô hình thực nghiệm đó người ta sẽ đưa ra những khuyến cáo

về kỹ thuật mới đó

Xây dựng mô hình khuyến nông đã được thực tiễn chứng minh là một biện pháp khuyến nông rất hiệu quả

1.2.3 Vai trò của việc xây dựng mô hình.

Xây dựng mô hình là một phương pháp khuyến nông theo nhóm do cơ quan nghiên cứu và khuyến nông áp dụng nhằm chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật Các cơ quan này xây dựng mô hình trình diễn với sự tham gia của người dân nhằm trình bày các bước áp dụng kỹ thuật đó và chứng minh lợi ích, tính khả thi của một tiến bộ kỹ thuật qua đó thuyết phục người dân làm theo và nhân rộng ra đại trà Kết quả mong đợi của một mô hình trình diễn là phương pháp và quy trình

kỹ thuật được thử nghiệm tại điều kiện cụ thể của địa phương và được người dân

ở địa phương đó chấp nhận các tiến bộ kỹ thuật của mô hình được giới thiệu, thông qua đó mô hình được nhân ra diện rộng

Như vậy xây dựng mô hình trình diễn là hoạt động không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học mà đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, đây là hoạt động

“thực hành ” những gì đã nghiên cứu được trước khi chúng được đưa vào sản xuất đại trà

Trang 18

1.2.4 Cơ sở lý luận của việc xây dựng mô hình

Nông nghiệp là một hệ thống sản xuất ngoài trời có địa bàn rộng và nhạy cảm với sự thay đổi của tự nhiên Đối tượng của hoạt động sản xuất nông nghiệp

là những cơ thể sống chúng chịu tác động mạnh mẽ của các quy luật sinh học Năng suất và chất lượng của các vật nuôi, cây trồng phụ thuộc nhiều vào các yếu tố: đất, nước, khí hậu, Tuy nhiên mỗi loại vật nuôi ,cây trồng lại chịu ảnh hưởng của các yếu tố đó ở các mức độ khác nhau Thực tế sản xuất cho thấy các tiến bộ KHKT đã mang lại hiệu quả kinh tế, nhưng chỉ thực sự đạt hiệu quả cao khi nó được áp dụng trong điều kiện thích hợp Một giống vật nuôi, cây trồng có thể cho năng suất và phẩm chất tốt ở địa phương này nhưng chưa chắc đã có hiệu quả tốt ở địa phương khác, điều này đòi hỏi các nhà khoa học và những người có liên quan phải xây dựng các mô hình thí điểm trình diễn để lựa chọn được phương án phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương

Những nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng được tiến hành suy cho cùng đều nhằm cải thiện và nâng cao mức sống cho người dân và cho toàn xã hội Các cải tiến mới đều được thử nghiệm và kiểm chứng để đảm bảo rằng chúng phù hợp với điều kiện thực tế trước khi chúng được áp dụng rộng rãi trong sản xuất hay nói cách khác những thử nghiệm này cho ta biết khả năng thích nghi và phạm

vi ứng dụng của các phương pháp đề nghị “Các mô hình trình diễn chỉ được xây dựng khi các cải tiến tiềm năng đã được các thử nghiệm này chứng minh đầy đủ Nghĩa là cần bảo đảm tới mức tối thiểu các rủi ro và sự thất bại của mô hình trình diễn phải được triệt tiêu” [ 3]

Thực tế đã khẳng định: muốn làm giàu bằng con đường nông nghiệp thì không thể sản xuất theo kiểu quảng canh, tự cung tự cấp như trước mà phải áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào thâm canh tăng năng suất và tiến đến sản xuất theo hướng hàng hóa nhằm phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới Tuy nhiên người Việt Nam từ xưa tới nay vốn lao động sản xuất dựa theo kinh nghiệm là chủ yếu, điều này đã ăn sâu vào tiềm thức bao nhiêu thế hệ nông dân Việt Nam Việc thay đổi tư duy sản xuất cũ là rất khó để đạt được mục tiêu

Trang 19

phát triển nông nghiệp thì việc xây dựng mô hình là rất quan trọng, thông qua các

mô hình ứng dụng những kỹ thuật mới chúng ta có thể thuyết phục người dân trước khi phổ biến ra diện rộng, góp phần khẳng định tính khả thi của một phương

án sản xuất để người dân yên tâm phát triển và nhân nhanh ra diện rộng

Phát triển nông nghiệp nông thôn là sách lược quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước Để phục vụ cho mục tiêu đó, hiện nay có nhiều kỹ thuật tiến bộ do các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu ra nhằm nâng cao hiệu quả sản xuẩt Để người dân hiểu, chấp nhận và làm theo phương pháp mới đó thì cách khuyến nông được xem là tốt nhất hiện nay đó là xây dựng các mô hình trình diễn với sự tham gia của người dân Để cho người dân thấy được trực tiếp kết quả đó là cách thuyết phục tốt nhất

1.2.5 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng mô hình

Đối tượng mà hoạt động khuyến nông hướng tới để phục vụ đó chính là người nông dân, họ là tầng lớp lao động có trình độ học vấn không đồng đều và có phần hạn chế hơn so với lao động trong các nghành kinh tế khác Đa phần trong số

họ làm việc dựa vào kinh nghiệm là chính, khả năng tiếp thu các tiến bộ khoa học

kỹ thuật mới còn hạn chế hơn nữa tính rủi ro cao trong sản xuất đã tạo nên tâm lý bảo thủ, dè dặt trong tiếp thu cái mới Vì vậy các tổ chức khuyến nông phải xây dựng các mô hình thử nghiệm ngay trên chính địa bàn của họ nhằm chứng minh cho người dân thấy được ưu điểm của những kỹ thuật mới để họ tin tưởng và làm theo

Có nhiều cách khác nhau để chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật tới cho người dân như: tập huấn, thông tin tuyên truyền, xây dựng mô hình trình diễn, mỗi phương pháp có những ưu và nhược điểm nhất định trong đó phương pháp xây dựng mô hình được xem là lựa chọn tối ưu trong hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ, bởi đó là cách làm kết hợp lý thuyết và thực hành một cách chặt chẽ và cho người dân thấy được trực tiếp kết quả thực tế Từ thực tế “tai nghe, mắt thấy” đã tạo niềm tin, phấn khởi tiếp thu cái mới ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất

Trang 20

Mô hình trình diễn được xem như là một quá trình và là một chuỗi những hoạt động mà cơ quan khuyến nông giới thiệu những kỹ thuật bằng cách trình diễn thực tế để qua đó nông dân có cơ hội quan sát, học tập và nhân rộng nó bằng cách học hỏi lẫn nhau Hiệu quả từ mô hình trình diễn là niềm tin, là cơ sở để mở rộng đầu tư phát triển sản xuất góp phần đáng kể trong việc làm cho năng suất, sản lượng các loại vật nuôi cây trồng không ngừng tăng nhanhvà có những bước đột phá, tạo tiền đề thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.

Khi một kỹ thuật mới ra đời, thông thường nó sẽ trải qua các giai đoạn như: Thử nghiệm và kiểm chứng trong các điều kiện khác nhau – xây dựng mô hình trình diễn – sản xuất khu vực hóa – mở rộng sản xuất Như vậy một mô hình có khả năng nhân rộng hay không là tùy thuộc vào mức độ chấp nhận và thừa nhận những lợi ích mà nó mang lại cho người dân Sức lan tỏa của mô hình phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả kinh tế - xã hội – môi trường mà mô hình mang lại

1.2.6 Mục tiêu của việc thử nghiệm trên đồng ruộng

Một mô hình ra đời là kết quả của một quá trình nghiên cứu, phân tích và tính toán kỹ lưỡng sao cho nó đạt hiệu quả cao nhất Việc thử nghiệm những cải tiến mới của các mô hình trên điều kiện cụ thể của địa phương là nhằm xác định một cách chắc chắn rằng những biện pháp kỹ thuật đưa ra đã:

• Đúng đắn về mặt kỹ thuật, lâu bền và có khả năng thích ứng cao

• Hấp dẫn về mặt kinh tế và bản thân nông dân có đủ điều kiện để áp dụng

• Được chấp nhận về mặt văn hóa – xã hội[3, tr.253]

Đây cũng chính là điều kiện để mô hình có tính bền vững lâu dài và có khả năng nhân ra diện rộng Một khi mô hình đã đáp ứng được các yêu cầu đó thì bản thân mô hình sẽ có sức hấp dẫn đối với người dân Bởi suy cho cùng thì đó cũng chính là mục đích cuối cùng mà người dân lao động đang tìm kiếm

Đúng đắn về mặt kỹ thuật, lâu bền và có khả năng thích ứng cao Các nhà khoa học khi nghiên cứu xây dựng mô hình đã đưa ra các giải pháp tối ưu nhất về mặt kỹ thuật để có thể khai thác hết tiềm năng của mô hình sản xuất đó Điều này

Trang 21

có nghĩa là những cải tiến kỹ thuật mới đưa ra đã được chọn lọc và chứng tỏ sự đúng đắn của nó Tuy nhiên những điều kiện trong phòng và vườn thí nghiệm có

sự sai khác so với điều kiện cụ thể ở ngoài thực địa, nhiều khi sự sai khác này lại làm thay đổi hẳn hiệu quả của mô hình do đó tính đúng đắn của kỹ thuật còn phải xem xét trong từng điều kiện sản xuất cụ thể khác nhau

Tính đúng đắn về mặt kỹ thuật không chỉ dừng lại ở việc đáng đắn về mặt chi phí sản xuất, tức là giải pháp phối hợp “ đầu vào” phải dẫn tới tăng “đầu ra” hay giảm chi phí mà nó còn tạo nên hiệu quả lâu dài đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên và xã hội, một khi mô hình đã kết hợp được hài hòa kinh tế - xã hội – môi trường thì mô hình đó sẽ có tính bền vững rất cao

Hoạt động sản xuất nông nghiệp trải dài theo không gian và phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên do đó những kỹ thuật sản xuất có thể mang lại hiệu quả sản xuất cao ở địa phương này nhưng chưa hẳn đã mang lại hiệu quả tốt ở địa phương khác Điều này đòi hỏi những cải tiến của mô hình đưa ra phải có tính thích nghi cao thì nó mới có khả năng nhân rộng lớn

Mục tiêu mà mỗi mô hình hướng tới là nâng cao đời sống cho người dân nói chung chứ nó không vì lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân nào Tính thích ứng cao của mô hình còn phải tính đến sự thích ứng với nhiều đối tượng khác nhau Trình

độ học vấn của đại bộ phận nông dân còn có phần hạn chế và không đồng đều, những gì được xem là “cao siêu” đều được họ tiếp nhận không nhiệt tình Do đó những mô hình sản xuất mới đưa ra không những đúng đắn về mặt kỹ thuật mà nó còn phải dễ hiểu, dễ làm và bản thân mỗi nông hộ có thể tự thực hiện chúng mà không bị phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố bên ngoài Một giải pháp tối ưu là giải pháp dành cho tất cả các nông hộ Còn làm ngược lại thì có thể đào rộng thêm

hố sâu khác biệt giữa các hộ nhất là giữa hộ nghèo và hộ giàu

Hầu hết các cải tiến của mô hình đều có tính mềm dẻo nhất định, sự phối hợp tối ưu của đầu vào có quan hệ chặt chẽ với số lượng và chất lượng các nguồn tài nguyên, sự sử dụng chúng trong hiện tại và tiềm năng trong tương lai, do đó việc thử nghiệm trên đồng ruộng cần phải đưa đến việc phát triển sự lựa chọn các

Trang 22

phương thức phối hợp đầu vào tối ưu Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi “đổi mới ” đạt đến giai đoạn phổ biến rộng rãi biện pháp cải tiến sau khi nó đã được hiệu chỉnh.

Một cải tiến mới, một mô hình mới chỉ thực sự có sức lôi cuốn mãnh liệt đối với hộ nông dân khi chính bản thân hộ nhận thức được những lợi ích mà mô hình mới, cải tiến mới đó mang lại Lợi ích đầu tiên và cũng là động lực để họ tham gia

mô hình chính là lợi ích về mặt kinh tế, có thể lợi ích về mặt xã hội và môi trường cũng được họ quan tâm tuy nhiên lợi ích kinh tế mới là mục đích mà họ cần Mỗi cải tiến mới đều đòi hỏi phải đầu tư thêm tiền mặt, do đó chỉ có thể có được sức hút kinh tế nếu như các sản phẩm đầu ra đều có thể bán lấy tiền “ hoặc làm giảm các chi phí khác” với giá cả hợp lý Mỗi hộ có năng lực về tài chính và có các nguồn lực khác nhau do đó mức độ tham gia mô hình và khả năng tuân thủ đúng các yêu cầu kỹ thuật của mô hình cũng có sự khác nhau

Sự chấp nhận về mặt văn hóa xã hội đối với các cải tiến cũng là vấn đề cần quan tâm khi xây dựng và thử nghiệm mô hình Một nét đặc trưng của nông dân Việt Nam đó là lao động theo kinh nghiệm, theo “lề lối cũ” họ rất e dè trong việc tiếp thu cái mới Sỡ dĩ như vậy là do họ sợ tạo nên sự khác biệt trong cộng đồng,

họ sợ nếu chẳng may việc họ làm không thành công thì sẽ bị cộng đồng coi khinh, mặc dù ngày nay tâm lý này đã không còn án ngữ trong đa số bộ phận người dân nhưng thẳm sâu trong lòng họ vẫn còn tâm lý đó, có thể nó tồn tại ở các dạng khác nhau Điều này đòi hỏi chúng ta phải có một khoảng thời gian dài kiên trì trước khi được đại đa số chấp nhận và làm theo

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Với thời gian thực tập và xâm nhập thực tế có hạn, để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi đã nghiên cứu một số mô hình trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản đã và đang được triển khai trên địa bàn huyện Yên Thành trong đó chủ yếu là các mô hình: mô hình nuôi cá ruộng, mô hình trồng Bí xanh, mô hình trồng khoai lang Nhật KCL266, mô hình làm hầm khí sinh học Biogas

Trang 23

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Trong khoảng thời gian thực tập từ ngày 20/2 – 20/4 tôi

đã nghiên cứu các hộ tham gia thực hiện mô hình trong khoảng thời gian từ năm 2002 – 2009

- Phạm vi không gian: Là các hộ tham gia thực hiện mô hình trên địa bàn huyện

2.3 Nội dung nghiên cứu

• Tìm hiểu thực trạng phát triển các mô hình khuyến nông trong điều kiện cụ thể ở Yên Thành

trên địa bàn huyện

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu và thu thập số liệu phục vụ cho đề tài tôi đã sử dụng một số công cụ và phương pháp nghiên cứu sau:

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

Các thông tin sơ cấp và thứ cấp trong khóa luận này được thu thập bởi các công cụ sau:

 Thu thập tài liệu thứ cấp:

Qua các tài liệu liên quan (các đề tài khoa học, các tạp chí), tài liệu thống kê, niên giám thống kê, ngoài ra tôi còn sử dụng các thông tin từ các báo cáo tổng kết hàng năm, hàng tháng của trạm Khuyến Nông, các xã,

 Thu thập tài liệu sơ cấp:

Chọn ngẫu nhiên các hộ làm hầm khí sinh học, hộ nuôi cá ruộng, hộ trrồng khoai lang Nhật KCL266 và các hộ trồng Bí xanh ở các xã khác nhau trong huyện theo danh sách được cung cấp rồi tiến hành phỏng vấn theo bảng câu hỏi phỏng vấn nông hộ đã lập sẵn Phương pháp phỏng vấn sâu cán bộ Khuyến Nông và những người am hiểu về mô hình nghiên cứu nhằm thu tìm hiểu đánh giá của những đối tượng này về các mô hình đó

2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu

Trang 24

- Sử dụng phần mềm Excel và các công thức tính trong Word

- Phương pháp phân tích, so sánh giữa các nông hộ và các mô hình

2.4 Các chỉ tiêu đánh giá

Hiện nay cũng chưa có một chỉ tiêu nào được xem là chuẩn để đánh giá một

mô hình khuyến nông là có hiệu quả hay chưa có hiệu quả, tùy từng góc độ và quan điểm về vấn đề đó như thế nào mà người ta đưa ra những chỉ tiêu đánh giá riêng cho từng mô hình cụ thể, ví dụ: Khi trồng thử nghiệm một giống ngô A trên cánh đồng B, kết quả cho thấy năng suất của giống ngô đó thấp Nếu xét ở góc độ kinh tế thì mô hình đó được xem là thất bại tuy nhiên nếu ta nhìn nhận vấn đề dưới góc độ khoa học thì mô hình đó lại được xem là thành công vì nó đã chứng minh giống ngô A không thích hợp với điều kiện canh tác ở cánh đồng B

Khi tiến hành khảo nghiệm quy trinh sản xuất được quán triệt khi thực hiện nhưng khi mô hình đó được nhân ra diện rộng thì tùy vào từng điều kiện khác nhau mà các yêu cầu kỹ thuật cũng có sự thay đổi cho phù hợp hay nói cách khác các nguyên tắc của mô hình đã được “địa phương hóa” thậm chí đã được “gia đình hóa” mô hình

Để đánh giá khả năng nhân rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện Yên Thành, trong phạm vi đề tài “Thực trạng và khả năng nhân rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện Yên Thành” này tôi sử dụng các chỉ tiêu: Quy mô của mô hình ( số hộ tham gia, diện tích nuôi/trồng qua các thời điểm khác nhau, số hầm Biogas được xây dựng, …); hiệu quả kinh tế - môi trường – xã hội của mô hình và tác động của nó tới đời sống người dân; đánh giá của ngườu dân về mô hình đó Các chỉ tiêu này được sử dụng để làm công cụ đánh giá khả năng nhân rộng của mô hình khuyến nông trên địa bàn nghiên cứu Đây cũng chính là quan điểm nghiên cứu của đề tài “ Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện Yên Thành”

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Trang 25

3.1 Đặc điểm tự nhiên – Kinh tế - xã hội của địa phương tác động tới vấn đề nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

- Vị trí địa lý:

Huyện Yên Thành là một huyện nằm cách trung tâm thành phố Vinh 50 km

về phía Tây Có đường quốc lộ 7 và đường tỉnh lộ 538 đi qua

• Phía Bắc giáp với các huyện Quỳnh Lưu, Nghi Lộc

• Phía Tây giáp với huyện Tân Kỳ

Vị trí địa lý thuận lợi cùng với sự hoạt động mạnh của 2 tuyến giao thông chạy qua địa bàn là điều kiện rất tốt cho huyện trong việc thông thương trao đổi hàng hóa và là cơ hội để giao lưu với các huyện trong tỉnh và các địa phương khác

- Đất và cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn:

Yên Thành là một huyện bán sơn địa, với tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 54.849,1 ha, trong đó đất sử dụng để sản xuất nông nghiệp: Đất nông nghiệp là 17.500 ha bao gồm: Đất trồng cây hàng năm là 13.801 ha ( đất trồng lúa

và lúa – màu 13.156 ha; đất trồng cây hàng năm khác 645 ha) Đất vườn tạp 2.833 ha; đất trồng cây lâu năm 345 ha; đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản là 60 haĐất lâm nghiệp có rừng: 9.054 ha; đất chuyên dùng 7.315 ha; đất ở 1.230 ha; đất chưa sử dụng, sông suối và núi đá 2.5 ha

Địa hình của huyện của sự phân hóa tương đối rõ: khoảng 2/3 diện tích đất nằm về phía Đông của huyện là vùng đồng bằng chiêm trũng, đất đa màu mỡ cùng với hệ thống sông ngòi rộng khắp, đặc biệt là sông Đào chảy tự nhiên quanh năm

do đó ở đây chủ yếu phát triển nghề canh tác lúa nước, nuôi cá và trồng một số loại rau màu Phía Tây của huyện là chủ yếu là đồi núi, do sự phân cắt của địa hình nên hình thành nhiều vùng tiểu khí hậu khác nhau, đặc điểm địa hình tạo điều kiện cho vùng này phát triển ngành lâm nghiệp, chủ yếu là trồng rừng nguyên liệu và chăn nuôi một số loài gia súc: Trâu, bò, dê, Nhưng bên cạnh đó, đất đai chủ yếu

Trang 26

là đồi núi có sự phân cắt cũng gây nhiều khó khăn cho địa bàn trong việc giao lưu trao đổi và buôn bán hàng hóa của nông dân, hàng năm cứ đến mùa lụt bão các tuyến đường giao thông ở đây hầu như ngừng trệ.

Đất canh tác trên địa bàn huyện đã được sử dụng thâm canh ở trình độ cao, đặc biệt là đất canh tác lúa đã cho năng suất và thu nhập cao hơn hẳn so với cánh đồng lúa của các huyện phụ cận: Đô Lương, Nghi Lộc, Tuy nhiên phần lớn diện tích đất đồi núi phía Tây của huyện lại chưa mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân, các xã ở đây còn loay hoay trong việc xác định loại cây trồng phù hợp,

ở đây chủ yếu là vườn, đồi tạp chỉ có một số diện tích không đáng kể đã được quy hoặch trồng cây nguyên liệu giấy nên cũng chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có của vùng

Xu hướng CNH – HĐH như hiện nay đã làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp đáng kể, thực tế này đòi hỏi chính quyền và nhân dân trong huyện phải xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý để tăng thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích để thích nghi với sự phát triển của xã hội

- Đặc điểm thời tiết khí hậu:

Yên Thành là huyện có đặc điểm tiểu khí hậu mang tính chất đặc trưng của vùng, mùa hè gió Tây Nam khô nóng hoạt động mạnh, mùa đông gió mùa Đông Bắc lạnh và kèm theo mưa phùn, lụt bão, hạn hán thường xuyên xảy ra

+ Nhiệt độ trung bình năm là 25,7oC, tháng 2 là tháng nhiệt độ thấp nhất, trung bình tháng là 16,2o C, tháng 7 là tháng nhiệt độ cao nhất trung bình là 33,5oC.+ Độ ẩm trung bình năm là 87,9 % Thấp nhất là tháng 12, độ ẩm trung bình tháng là 84%, tháng 4 độ ẩm cao nhất, trung bình tháng là 91,8%

+ Lượng mưa trung bình hàng năm là 1873mm, lượng mưa ít nhất vào tháng

11, trung bình tháng là 25,7mm Mưa nhiều nhất là tháng 8, trung bình tháng là 412,8mm

- Thủy lợi: Hệ thống thủy lợi cũng khá thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp

trên địa bàn, nhờ có con sông Đào lấy nước từ sông Lam chảy ngang qua phục vụ

Trang 27

tưới tự chảy cho diện tích 10.000 ha sản xuất, và hệ thống hồ đập cung cấp nước

cơ bản cho 7000 ha ở vung đất cao

Nhìn chung huyện Yên Thành có khí hậu rất thuận lợi cho việc sinh trưởng

và phát triển của nhiều loại cây trồng và vật nuôi Tuy vậy huyện vẫn còn gặp nhiều khó khăn: Từ tháng 1 đến tháng 3 nhiệt độ trung bình thường thấp, lượng mưa và số giờ nắng ít Tháng 7 - 8 thì nhiệt độ lại cao cộng với gió Lào và thường xuyên có lũ lụt Vì vậy đã làm ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất cũng như đời sống của người dân trong huyện

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Tình hình kinh tế:

Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của UBND huyện, trên địa bàn huyện đã có sự chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu sản xuất tuy nhiên sự chuyển dịch này còn hạn chế

Hình 3.1 Cơ cấu các nghành kinh tế (tính theo giá so sánh)

Từ lâu nông nghiệp luôn là thế mạnh phát triển và chiếm giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế chung của huyện tuy nhiên khi nông nghiệp của huyện còn mang nặng tính tự cung tự cấp như hiện nay thì đây cũng là một khó khăn cho huyện trong xu thế kinh tế thế giới đang phát triển mạnh như hiện nay

- Dân số và lao động:

Trang 28

Yên Thành là một huyện đất chật người đông, toàn huyện có 61.418 hộ với 274.107 người, mật độ dân số bình quân toàn huyện là 500 người/km2 ( số liệu thống kê 1/1/2008) Số dân đông trong đó chủ yếu là lao động trẻ dồi dào sức khoẻ (46% số người trong độ tuổi lao động) là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế huyện nhà Trong những năm qua cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên tốc độ chuyển dịch còn chậm.

Hình 3.2 Cơ cấu lao động ở Yên Thành năm 2007

Với 77,6% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông - lâm – ngư, với nghề nghiệp chủ yếu là độc canh cây lúa do đó đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn Tình trạng thiếu việc làm xảy ra ở hầu hết các xã Trong một số năm gần đây, sau khi thu hoặch vụ mùa xong thì hầu hết thanh niên khỏe mạnh đã đi tìm việc ở các khu công nghiệp phía Nam hoặc là đi xuất khẩu lao động, có nhiều

xã như: Sơn Thành, Đô Thành, Mã Thành , Trong xã chỉ có người già, trẻ nhỏ

và học sinh còn lại là đi làm ăn xa Đây cũng là nguyên nhân gây nên hiện tượng giảm sức lao động phục vụ cho nghành nông nghiệp của huyện nhà

- Tình hình xã hội:

 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp của huyện

Cơ sở hạ tầng là điều kiện thiết yếu để phát triển kinh tế nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, nhận thức được tầm quan trọng đó trong những năm

Trang 29

qua chính quyền địa phương đã đầu tư nguồn ngân sách cùng với huy động nguồn vốn đóng góp trong nhân dân nên trên địa bàn toàn huyện đã xây dựng được nhiều công trình mang tính chiến lược cao: Điện, đường, trường, trạm, Các công trình này ngày càng hoàn thiện và đổi mới hơn, cụ thể như sau:

 Hệ thống giao thông:

Giao thông được ví là mạch máu của nền kinh tế - xã hội, giao thông có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sản xuất kinh doanh nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Mặc dù kinh tế của huyện còn gặp nhiều khó khăn song trong những năm qua hệ thống giao thông trên địa bàn đã ngày càng được nâng cấp, tu bổ kịp thời Số km đường nhựa và đường bê tông hóa ngày càng tăng lên về số lượng và chất lượng Hai tuyến giao thông quan trọng trên địa bàn là đường tỉnh lộ 538 và đường quốc lộ 7 Đây là hai tuyến đường có vai trò quan trọng trong việc trao đổi buôn bán và thông thương giữa huyện và các vùng phụ cận

 Y tế, giáo dục

Hiện nay toàn huyên có 38/38 xã thị trấn đã có trạm xá khang trang với đầy

đủ các trang thiết bị cơ bản phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, có

2 bệnh viện lớn là: viện Công Thành và viện Lang Vườn

Yên Thành từ xưa được nhiều người biết đến như là một vùng đất hiếu học, số học sinh đông với ý thức học cao, chất lượng giáo dục tốt nên hàng năm tỷ lệ học sinh trên địa bàn huyện đậu đại học cao đẳng tương đối cao

3.2 Tình hình chung về phát triển mô hình trên địa bàn huyện Yên Thành

Huyện Yên thành luôn xác định “Khuyến nông là một mắt xích quan trọng trong việc đưa nền nông nghiệp huyện nhà phát triển theo hướng hàng hoá”, để tạo điều kiện cho việc áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất từ ngày thành lập cho đến nay, trạm khuyến nông Yên Thành đã phối hợp với nhiều tổ chức cơ quan triển khai nhiều hoạt động thiết thực và hiệu quả trong đó có hoạt động xây dựng các mô hình trình diễn Trung bình mỗi năm trạm khuyến nông tiến hành xây dựng

từ 5 – 10 mô hình sản xuất, nguồn vốn để thực hiện mô hình được huy động từ chính sách hỗ trợ của Trung tâm khuyến nông tỉnh, nguồn ngân sách của huyện và

Trang 30

của một số tổ chức cơ quan khác, như: Sở Khoa Học Công Nghệ, công ty giống cây trồng Bioseed Điển hình có một số mô hình có hiệu quả sau:

- Mô hình trồng cỏ năng suất cao Song hành cùng chương trình vỗ béo đàn

bò của trạm Khuyến nông là sự phát triển mạnh mẽ của mô hình trồng cỏ chăn nuôi Với quy mô 2 ha trồng thử nghiệm giống cỏ voi năm 2005 tại xã Tây Thành, đến nay trên địa bàn huyện đã có hơn 20 ha cỏ các loại: cỏ Voi, cỏ Sữa, cỏ VA06 Vùng trồng cỏ chủ yếu tập trung tại một số xã phía Tây huyện như: Tây Thành, Quang Thành, Đồng Thành, Kim Thành

- Mô hình nuôi cá ruộng: Kể từ khi bắt đầu (năm 2002) cho tới nay (2008)

mô hình nuôi cá vụ 3 và cá xen lúa đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân trong huyện, đến nay trên địa bàn huyện đã có gần 700 ha diện tích nuôi cá ruộng, thu hút sự tham gia của 37/38 xã trên địa bàn huyện tham gia

- Mô hình khảo nghiệm các giống Sắn Tiến hành vào năm 2004 trên diện tích 10 ha bước đầu cho năng suất trung bình 960 tạ/ha, thu nhập 28 triệu đồng/ha, đây là mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao cho vùng đất khá cằn cỗi trên địa bàn

và giải quyết được phần nào nhu cầu thức ăn cho vật nuôi trên địa bàn huyện Đến năm 2007 diện tích trồng sắn năng suất cao trên địa bàn huyện là 1200 ha

- Mô hình IPM trên Dứa, mô hình này với diện tích ban đầu là 20 ha, kết quả mô hình cho thấy năng suất dứa là 420 tạ/ha, thu nhập 45 triệu đồng/ha, diện tích nhân rộng đến năm 2007 là 50 ha

- Mô hình khảo nghiệm các giống đậu xanh, tiến hành vào năm 2006 trên quy mô 7 ha, năng suất mô hình đạt bình quân 140 tạ/ha, thu nhập 13 triệu đồng/ha Diện tích nhân rộng năm 2007 là 300 ha

- Mô hình dưa leo F1, tiến hành năm 2005 với quy mô 2 ha, năng suất bình quân 38 tạ/ha, thu nhập từ mô hình bình quân 35 triệu đồng/ha Diện tích nhân rộng năm 2007 là 50 ha

- Mô hình lúa AC 5 thực hiện từ năm 2004-2006 trên diện tích 40 ha, kết quả

mô hình cho thấy năng suất bình quân đạt 64 tạ/ha, thu nhập 20 triệu đồng/ha Đến

nă 2007 diện tích trồng giống lúa này trên địa bàn huyện đã là 200 ha

Trang 31

- Mô hình trồng thử nghiệm giống lúa KP 1 vào năm 2004 với diện tích ban đầu là 5 ha Kết qủa thu hoạch cho năng suất 26 tạ/ha, thu nhập 20 triệu đ/ha Đến năm 2007 diện tích trồng giống lúa KP 1 trên toàn huyện là 400 ha.

3.3 Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình

Địa hình của huyện Yên Thành có sự phân chia tương đối rõ ràng, với hơn một nửa diện tích của huyện nằm về phía Đông là vùng đồng bằng đất đai phì nhiêu, có nhánh sông Lam chảy qua và có sông Đào quanh năm chủ động cung cấp nước thuận lợi cho việc phát triển các loại cây lương thực và rau màu Phía Tây chủ yếu là đồi núi thấp phân cắt thành nhiều vùng tiểu khí hậu, sinh thái khác nhau nên ở đây có tiềm năng phát triển nghề rừng và kinh tế trang trại, gia trại

Với đặc điểm địa hình đó, hàng năm việc xây dựng các mô hình trồng lúa, rau màu và chăn nuôi được chú trọng hơn đối với các xã phía Đông của huyện còn các xã phía Tây thì được chú trọng đầu tư các chương trình lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc lớn: trâu, bò,

Yên Thành từ lâu đã được mệnh danh là “vựa lúa” của tỉnh Nghệ An và nghề trồng lúa đã gắn bó với biết bao thế hệ người dân, người Yên Thành vẫn luôn

tự hào “đói cơm đói gạo thì ra Yên Thành” Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường như hiện nay mà đặc biệt là Việt Nam đã gia nhập WTO thì việc độc canh cây lúa với các giống lúa chất lượng còn hạn chế như hiện nay lại là một trở ngại đối với

sự phát triển kinh tế huyện nhà Mặc dù đã được sự đầu tư hỗ trợ của các tổ chức,

cá nhân trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi với mục tiêu dần xoá bỏ thế độc canh cây lúa, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân toàn huyện nói chung và người nông dân nói riêng Hàng năm trạm khuyến nông đã tổ chức tập huấn, tuyên truyền và xây dựng một số mô hình mới mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với trồng lúa Tuy nhiên đối với người dân cây lúa vẫn đang chiếm giữ một vai trò rất quan trọng trong ý thức của họ, đó là cây trồng “chắc bền” và không thể thiếu, do đó một bộ phận nông dân Yên Thành vẫn còn có tâm lý dè dặt trong việc tiếp thu các giống cây trồng mới

3.3.1.Thực trạng phát triển và khả năng mở rộng hệ thống Biogas của huyện

Trang 32

3.3.1.1 Tình hình phát triển của hệ thống Biogas trên địa bàn

Là huyện thuần nông, chủ yếu sản xuất nông nghiệp nên hàng năm thu được một số lượng lớn phụ phẩm nôngnghiệp thuận lợi cho việc phát triển nghành chăn nuôi Sự phát triển nhanh của nghành chăn nuôi chủ yếu ở các hộ gia đình trong điều kiện chưa hoàn chỉnh quy hoạch và đầu tư cơ sở chuồng trại, cống rãnh chưa

đủ tốt để xử lý chất thải Kết quả của sự chăn nuôi thiếu tính bền vững như vậy là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng hơn

Trước tình hình thực tế đó, công nghệ KSH biogas là một giải pháp hợp lý

và bền vững trong việc xử lý chất thải chăn nuôi Việc ứng dụng công nghệ KSH biogas từ chất thải chăn nuôi được coi là một giải pháp tích cực, gần gũi với người nông dân và là một giải pháp đa tiện ích: Tạo nguồn năng lượng tái sinh, tạo nguồn phân bón hữu cơ giàu dinh dưỡng và dễ hấp thu cho cây trồng, làm giảm ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi

Mô hình làm bếp Biogas sử dụng KSH đã manh nha ở Yên Thành từ năm

1999, ban đầu chỉ là một số hộ học hỏi kinh nghiệm từ tivi, sách báo, rồi làm theo chứ chưa có sự hướng dẫn kỹ thuật của những người có chuyên môn, do đó lượng gas tạo ra ít, hệ thống bồn chứa hay bị tắc nghẽn Từ sau khi thực hiện Quyết định số 350/BNN-KNKL ngày 12 tháng 2 năm 2003 của bộ trưởng bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc triển khai dự án “hỗ trợ phát triển chăn nuôi

ở một số tỉnh Việt Nam”, Yên Thành được chọn là một trong 12 huyện của tỉnh tham gia dự án từ pha I, thì việc xây dựng hầm KSH trên địa bàn huyện mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ, với quy mô số hộ tham gia ngày càng đông đảo

Mỗi năm trạm khuyến nông của huyện được giao một số chỉ tiêu nhất định, khuyến nông các xã sẽ nạp danh sách các hộ đăng ký tham gia, hộ nào đăng ký trước sẽ được duyệt xây dựng công trình trước với thủ tục thanh toán tiền hỗ trợ đơn giản: việc thực hiện chuyển khoản tiền hỗ trợ 1 triệu đồng/ công trình được chuyển thẳng tới hộ thông qua đường bưu điện nên người dân dễ dàng và nhanh chóng trong việc tiếp nhận nguồn hỗ trợ

Trang 33

Do nhu cầu làm hầm KSH của các hộ là rất lớn trong khi chỉ tiêu được giao lại hạn chế nên nhiều hộ đã tự bỏ vốn đầu tư, tự thuê thợ về xây theo quy trình kỹ thuật riêng, những hộ xây dựng tự phát không theo quy trình kỹ thuật của dự án hầu hết không nhận được tiền hỗ trợ xây dựng.

Từ năm 2003 – 2008 trên địa bàn huyện đã xây dựng được hơn 643 công trình KSH đã được đưa vào sử dụng rất hiệu quả, mô hình này đã được triển khai trên phạm vi 37/38 xã của huyện

Hình 3.3 Tình hình phát triển hầm KSH trên địa bàn huyện

Trước năm 2003 bước đầu còn bỡ ngỡ, thiếu kiến thức về mô hình nên nhiều

hộ còn hoài nghi về hiệu quả của nó số hộ thưm gia còn rất ít (toàn bộ khoảng 10 hộ) Năm 2003 Yên Thành được chọn tham gia chương trình KSH và là huyện dẫn đầu trong tổng số 10 huyện tham gia dự án từ pha I, với tổng số 25 hầm Biogas được xây dựng Đến ra năm 2004, thực tế hiệu quả của mô hình đã được người dân thừa nhận, người dân được tuyên truyền phổ biến về vai trò của công nghệ Biogas cũng như những lợi ích của nó nên số hộ tham gia tăng dần, số lượng hầm tăng đáng kể, với tổng số hầm là 155 tăng hơn năm 2003 là 130 hầm Như vậy có thể xem năm 2003 là năm thực sự đưa mô hình Biogas vào nhân rộng trên địa bàn huyện Các năm 2006, 2007 số hầm Biogas được xây có giảm hơn tuy nhiên so với tình hình chung của toàn tỉnh thì mức thay đổi đó cũng không đáng kể và phù hợp

Trang 34

với tình hình chung của cả tỉnh, Yên Thành vẫn nằm trong tốp dẫn đầu về tình hình xây dựng hầm Biogas Điều này cũng phần nào nói lên tinh thần tiếp thu công nghệ mới tiến bộ của người dân nơi đây.

Tùy thuộc vào tình hình chăn nuôi, đặc biệt là tình hình dịch bệnh mà số hầm KSH được xây nhiều hay ít, nhưng nhìn chung khi nhận thức của hộ nông dân

về lợi ích của mô hình ngày càng được nâng cao thì dù có được nhận hỗ trợ hay không các hộ vẫn mạnh dạn đầu tư xây dựng công trình Năm 2005 huyện Yên Thành đã xây vượt chỉ tiêu 36 công trình, năm 2008 vượt chỉ tiêu 22 công trình tuy nhiên việc người dân tự thuê thợ về xây theo thiết kế riêng cũng đã tồn tại nhiều hạn chế: Theo tính toán của các nhà khoa học thì cấu trúc hầm chứa dạng vòm cầu

là cấu trúc tiết kiệm kinh phí xây dựng nhất và lượng gas tạo ra nhiều nhưng do các hộ không xây được kiểu vòm cầu mà lại xây kiểu ống cống nên tốn nguyên vật liệu hơn, lượng gas tạo ra ít và lại hay phải làm vệ sinh bồn chứa hơn so với kiếu vòm cầu

Như vậy do quy mô chăn nuôi của các hộ ngày càng lớn đòi hỏi phải có hệ thống Biogas để xử lý chất thải và đun nấu thì người dân không thể trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước (mặc dù khoản tiền hỗ trợ 1 triệu đồng là rất lớn so với mức thu nhập eo hẹp của họ) Mô hình Biogas ngày càng được nhân rộng trên địa bàn với quy mô rộng lớn, hiện nay có những xã đã có từ 20 – 50 công trình, điển hình như: Xuân Thành 30 bếp, Vĩnh Thành 90 bếp, Phúc Thành 30 bếp, Long Thành 80 bếp và một số xã khác Công nghệ KSH đã chứng tỏ là giải pháp đúng đắn góp phần vào sự phát triển bền vững của nghành nông nghiệp và là người bạn đồng hành thân thiết với bà con nông dân nói chung và người dân Yên Thành nói riêng

b) Hiệu quả kinh tế của mô hình hầm KSH biogas

Khi tìm hiểu tình hình thực tế việc sử dụng bếp Biogas trên địa bàn huyện, với mẫu câu hỏi đã chuẩn bị trước, tiến hành phỏng vấn một số hộ đang sử dụng bếp Biogas cho thấy hiệu quả kinh tế của việc sử dụng công nghệ KSH so với trước khi tham gia mô hình như sau

Trang 35

Bảng 3.1 Hiệu quả kinh tế của mô hình hầm Biogas (ĐVT: ngàn đồng)

Tổng Gas

CN

Chất đốt khác

Đô ThànhHồng ThànhHợp ThànhHoa ThànhHồng ThànhHậu Thành

1.5001.0007501.0001.2001.0006008001.0005001.200800800001.50001.500

1.0005001.5001.2001.2001.5001.3002.0007501.5001.5001.0008.001.5008001.0002.0001.500

2.5001.5002.2501.2002.2002.7002.3002.6001.5502.5001.5001.5002.0001.3001.6001.0002.0003.000

4004003002500002000000025000500200

200600700000100020020005000200500000

600400300950000300020020005002502005005000

1.9001.1001.9506001.2502.7002.3002.6001.2502.5001.3001.3002.0001.8001.7508001.5002.800

4900

1430Qua bảng 3.1 Ta thấy trước khi tham gia mô hình thì chi phí mua gas công

nghiệp của các hộ là 4.260.900, chi phí cho mua củi là 2.077.700 ngàn đồng còn

sau khi tham gia mô hình thì chi phí mua gas đã giảm đi được Tính ra sau khi làm

mô hình biogas thì trung bình giảm chi phí cho hộ trung bình từ 0.5 - 2 triệu

Trang 36

đồng/hộ/năm tiền mua gas công nghiệp và chất đốt khác, cá biệt có nhiều hộ nuôi

từ 20 con lợn trở lên thì gas được tạo ra dùng không hết Khi tìm hiểu tình hình thực tế, chúng tôi nhận thấy một số hộ như hộ ông Phạm Văn Vinh ở Hậu Thành

là hộ nuôi 20 con lợn, trước đây khi chưa xây dựng hầm KSH thì hàng tháng hộ phải mua 1,5 triệu tiền củi và 1,5 triệu tiền gas công nghiệp nhưng từ khi xây dựng hầm thì không những hộ không mất tiền mua chất đốt mà lượng gas tạo ra còn dư thừa, để tránh lãng phí hộ còn cho các hộ xung quanh nấu nhờ

Theo kết quả nghiên cứu của viện khoa học năng lượng thuộc viện KH và

CN Việt Nam thì chất khí thoát ra từ hầm khí Biogas bao gồm 2/3 khí mêtan, 1/3 khí CO2 và năng lượng khoảng 4.500 - 6.000 calo, 1 m3 khí với mức năng lượng 6.000 calo có thể tương đương với 1 lít cồn, 0,8 lít xăng, 0,6 lít đầu thô, 1,4 kg than hoa hay 2,2 kwh điện năng [4] Như vậy năng lượng được sinh ra từ hầm Biogas là rất lớn, nó giải quyết được vấn đề năng lượng phục vụ cho nhu cầu đun nấu cho hộ gia đình

Tóm lại công trình hầm khí sinh học là công trình chỉ đầu tư một lần lúc xây dựng cơ sở vật chất ban đầu nhưng lại có giá trị sử dụng lâu dài Sau thời gian hoàn vốn những năm sau sử dụng thì đó là toàn bộ lãi thu được qua nghiên cứu chỉ tiêu kinh tế ta thấy mô hình Biogas hộ gia đình là một phương án đầu tư đúng đắn và mang lại hiệu quả kinh tế cao Đứng ở góc độ kinh tế thì mô hình này là một giải pháp mới - một phương án khả thi về mặt kinh tế

c) Hiệu quả môi trường của mô hình

Sau khi được ủ lên men thì hàm lương Nitơ trong phân gia súc được chuyển hoá thành Amôniac làm cho cây trồng dễ hấp thu hơn, trong thành phần chất thải cặn còn có P, K, Mg và một số nguyên tố vi lượng khác do đó khi bón cho cây trồng sẽ hạn chế được việc sử dụng phân hoá học Một điều quan trọng nữa là trong quá trình lên men kỵ khí các vi khuẩn gây bệnh cho con người bị loại trừ

3.3.1 Khả năng mở rộng hệ thống biogas sinh học trên địa bàn huyện Yên Thành

Trang 37

Việc phát triển hệ thống Biogas có liên quan chặt chẽ tới nhiều yếu tố khác nhau trong đó chủ yếu là sự phát triển của nghành chăn nuôi, khả năng tài chính của hộ, phong tục tập quán, chủ trương chính sách,

a) Về chăn nuôi

Chăn nuôi là yếu tố quan trọng hàng đầu để phát triển hệ thống Biogas bởi nguyên liệu chính và chủ yếu để tạo nên năng lượng gas chính là phân và chất thải của động vật Tùy vào lượng phân nhiều hay ít mà hầm có kích thước lớn hay bé Quy mô tối thiểu để xây dựng hầm Biogas là hộ nuôi từ 3 – 5 con lợn có trọng lượng 50kg trở lên là có thể cung cấp đủ phân để làm hầm Biogas

Yên Thành là huyện thuần nông rất thuận lợi cho việc phát triển ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi lợn Mặc dù trong mấy năm gần đây dịch lở mồm long móng và nhiều bệnh khác đang hoành hành nhưng nhìn chung tổng đàn gia súc gia cầm của huyện không những không giảm mà còn có xu hướng tăng

Bảng 3.2 Tình hình chăn nuôi của huyện Yên Thành qua một số năm (2005-2007)

21.71220.143152.4601.854871.646162

21.81520.617153.8941.440916.626121

23.21522.069152.7172.1171.084.776177

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện)

Qua bảng số liệu ta thấy nhìn chung số lượng các đối tượng nuôi đều tăng đặc biệt là đàn lợn năm 2006 số lợn là 21.815 con, tăng so với năm 2005 là 103 con sang năm 2007 số lợn tiếp tục tăng nhanh, hơn năm 2006 là 1.400 con Mặc dù trong những năm gần đây tình hình dịch bệnh xảy ra phổ biến và Yên Thành cũng

là huyện phải gánh chịu hậu quả đó tuy nhiên sự phát triển của nghành nông nghiệp sẽ kéo theo việc phụ phẩm nông nghiệp tạo ra nhiều nen nhìn chung trong những năm tới tổng đàn lợn của huyện có xu hướng tăng Đây là nguồn nguyên liệu đầu vào rất quan trọng, bảo đảm cho tính bền vững của mô hình, hiện nay

Trang 38

nguồn cung cấp phân chính cho các hầm Biogas chủ yếu là nguồn phân từ các chuồng trại chăn nuôi lợn Xu hướng cơ giới hoá trong nông nghiệp sẽ kéo theo việc sức kéo của trâu bò trên đồng ruộng giảm tuy nhiên trong những năm gần đây

mô hình nuôi cỏ phục vụ cho chăn nuôi bò lai, bò nhốt chuồng đang phát triển mạnh ở Yên Thành, nguồn phân bón từ mô hình nuôi bò lai cùng với nguồn phân

từ nuôi lợn sẽ là nguồn nguyên liệu quan trọng cung cấp cho hệ thống hầm Biogas trong lương lai Số hộ chăn nuôi trên địa bàn là rất lớn, tỷ lệ này chiếm 97% trong tổng 61.418 hộ trên địa bàn huyện, trong số các hộ chăn nuôi này thì tỷ lệ hộ chăn nuôi lựon chiếm tới 80 – 90 % tổng số hộ chăn nuôi Số lượng hầm biogas được xây dựng vào năm cao nhất (2004), thì tỷ lệ 155/58.347,1 hộ chăn nuôi trên địa bàn tham gia mô hình là quá nhỏ bé Đây là tiềm năng phát triển rất quan trọng của huyện

b) Chủ trương chính sách và khả năng tài chính của hộ

Tuỳ vào từng thời điểm khác nhau mà chi phí để xây dựng một mô hình cũng

có sự khác nhau nhưng nhìn chung bình quân chi phí để xây một hầm Biogas là

3-4 triệu đồng.Yên Thành có nhiều hộ nuôi từ 3-4 con lợn trở lên, tuy nhiên không phải hộ nào nuôi nhiều lợn cũng là hộ có kinh tế khá giả, qua khảo sát các hộ tham gia mô hình cho thấy 70% trong số đó là các hộ có mức kinh tế khá, 28% số hộ có kinh tế trung bình và hộ nghèo chiếm tỷ lệ 2% trong số hộ tham gia (đánh giá nghèo do hộ tự nhận), con ssố thống kê này cũng phần nao cho phép ta kết luận rằng: mô hình này không phù hợp với tình trạng kinh tế của cá hộ có mức sống thấp hay nói cách khác cơ hội để hộ nghèo tham gia những mô hình có mức đầu tư cao như mô hình loại này là rất thấp Phần đông nông dân Yên Thành vẫn sống ở mức trung bình hoặc nghèo nên chi phí để xây dựng một hầm KSH đối với hộ cũng không phải là điều dễ dàng nếu không được hỗ trợ từ dự án Một câu hỏi được đặt ra là tại sao mô hình này mang lại hiệu quả thiết thực cho hộ và thực tiễn các hộ đã làm mô hình này trên địa bàn huyện đã chứng tỏ điều đó nhưng đến nay

mô hình này vẫn chưa lan rộng ra khắp tất cả các hộ chăn nuôi có nhu cầu về chất

Trang 39

đốt và vệ sinh môi trường Khi tiến hành phỏng vấn 15 hộ nuôi từ 3 con lợn trở lên nhưng không làm hầm KSH chúng tôi thu được kết quả sau

Bảng 3.3.Ý kiến của các hộ chưa làm bếp( ĐVT: %)

1 Lý do chưa có hầm

- Chưa có đủ vốn

- Không muốn thay đổi tập quán sinh hoạt

- Thiếu thông tin về mô hình

- E ngại độ bền vững

6751315

2 Hộ sẽ xây hầm Biogas nếu:

Như vậy, Thực tế đa số các hộ chăn nuôi có nhu cầu làm bếp Biogas nhưng chưa xây dựng hầm Biogas là do thiếu vốn xây dựng cơ bản ban đầu, nếu được hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng thì 100% số hộ chăn nuôi sẽ xây hầm (kể cả các hộ không muốn thay đổi phong tục tập quán hay những hộ thiếu thông tin về mô hình

và còn e ngại về độ bền vững của công trình), nếu được hỗ trợ 50% kinh phí xây dựng thì sẽ có 60 % số hộ tham gia mô hình, số hộ tham gia giảm dần theo mức giảm của nguồn vốn hỗ trợ Có thể nói nguồn vốn hỗ trợ có ý nghĩa rất lớn đối với

sự phát triển của mô hình đặc biệt là đối với hộ nghèo Để tạo điều kiện cho những

hộ khó khăn có thể tiếp cận được với công nghệ Biogas đồng thời góp phần vào tiến trình xoá đói giảm nghèo trên địa bàn thì các cơ quan, tổ chức chính quyền cũng cần có chính sách hỗ trợ cho những đối tượng này, đồng thời tuyên truyền phổ biến kiến thức vê mô hình cho người dân để họ có thể yên tâm đầu tư xây dựng mô hình

Từ khi biết chính sách hỗ trợ mới (tăng mức hỗ trợ từ 1 triệu đồng/công trình lên 1,5 triệu đồng) nên mặc dù chưa có chỉ tiêu cụ thể nhưng năm 2009 trên địa

Trang 40

bàn huyện đã làm mới 29 công trình Chính sách hỗ trợ cũng là một yếu tố rất quan trọng chi phối khả năng nhân rộng mô hình làm hầm KSH trên địa bàn huyện Như vậy năng lực tài chính của hộ cũng là một nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của mô hình trên địa bàn

c) Nhận thức của người dân

Bên cạnh những hộ đã biết thông tin về mô hình, có thể thông tin mà họ biết còn hạn chế tuy nhiên nó cũng giúp cho hộ nhận thức được tầm quan trọng của mô hình để tiến hành đầu tư xây dựng, thì cũng có nhiều người do không được tiếp cận với những thông tin về mô hình dẫn đến hiện tượng hiểu không đứng về bản chất vấn đề: Họ còn nghi ngờ về mức độ vệ sinh của gas nấu, lo sợ nếu sử dụng phân làm hầm Biogas thì sẽ không có đủ phân bón ruộng,

Trạm khuyến nông Yên thành chỉ có một cán bộ thuộc phòng chăn nuôi đảm trách công việc này nên việc tuyên truyền về tính năng công dụng của mô hình của

mô hình đến người dân còn hạn chế là điều khó tránh khỏi Nhưng qua thời gian khi người dân đã hiểu đúng, hiểu đủ về mô hình thông qua các hộ đã làm họ sẽ mạnh dạn hơn khi quyết định đầu tư

3.1.3 Một số giải pháp phát triển mô hình

Mô hình Biogas là mô hình mang lại lợi ích trực tiếp cho nông hộ, nó là giải pháp hữu hiệu cho vấn đề chất đốt và tình trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn,

vì vậy để mô hình ngày càng phát triển thì ngoài sự quan tâm của cả cộng đồng còn rất cần tới những chiến lược phát triển lâu dài của nhà nước và các tổ chức có liên quan Một trong những giải pháp góp phần nhân rộng mô hình này là:

- Giải pháp kinh tế:

Dù hộ có nhu cầu xây dựng công trình như thế nào nhưng nếu không đủ khả năng về tài chính thì cũng khó mà thực hiện được So với thu nhập của người nông dân thuần túy như Yên Thành thì số tiền 3 – 4 triệu đồng để xây một hầm Biogas

là không nhỏ, do đó để tạo cơ hội cho nhiều người được tiếp cận với công nghệ này thì cần hỗ trợ vốn cho hộ xây dựng hầm Biogas và tăng cường đầu tư vốn cho phát triển nghành chăn nuôi

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Hiệu quả kinh tế của mô hình hầm Biogas (ĐVT: ngàn đồng) - Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện yên thành
Bảng 3.1. Hiệu quả kinh tế của mô hình hầm Biogas (ĐVT: ngàn đồng) (Trang 35)
Bảng 3.2. Tình hình chăn nuôi của huyện Yên Thành qua một số năm (2005-2007) - Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện yên thành
Bảng 3.2. Tình hình chăn nuôi của huyện Yên Thành qua một số năm (2005-2007) (Trang 37)
Bảng 3. 4. Hiệu quả kinh tế của 1 ha Bí xanh - Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện yên thành
Bảng 3. 4. Hiệu quả kinh tế của 1 ha Bí xanh (Trang 42)
Bảng 3.5: Tình hình nuôi cá ruộng - Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện yên thành
Bảng 3.5 Tình hình nuôi cá ruộng (Trang 49)
Bảng 3.7: Tốc độ phát triển cá lúa - Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện yên thành
Bảng 3.7 Tốc độ phát triển cá lúa (Trang 50)
Bảng 3.8: Định mức chi phí cho 1 sào(500m 2 ) khoai mô hình và đối chứng. - Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện yên thành
Bảng 3.8 Định mức chi phí cho 1 sào(500m 2 ) khoai mô hình và đối chứng (Trang 56)
Bảng 3.9: Hiệu quả kinh tế của khoai mô hình và khoai đối chứng (tính cho - Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện yên thành
Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế của khoai mô hình và khoai đối chứng (tính cho (Trang 57)
Phụ lục 1. BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN NÔNG HỘ - Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện yên thành
h ụ lục 1. BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN NÔNG HỘ (Trang 70)
Hình 3.4. Cánh đồng bí  năng suất cao ở Lăng Thành - Thực trạng và khả năng mở rộng của một số mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện yên thành
Hình 3.4. Cánh đồng bí năng suất cao ở Lăng Thành (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w