1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tổ chức, hướng dẫn chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố vinh

93 12,5K 62
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng tổ chức, hướng dẫn chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh
Tác giả Trần Thị Quỳnh Trang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục mầm non
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 261 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu của Đ.V.Mendgierinxkaia,R.I.Giucopxkaia, V.P.Gialogina và nhiều ngời khác đã bàn đến những phơng pháp tổ chức, hớng dẫn chơi cho trẻ,chúng đợc chia thành hai nh

Trang 1

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Chơi đóng vai theo chủ đề (ĐVTCĐ) là mô phỏng lại cáchoạt động và các mối quan hệ của ngời lớn trong xã hội bằngcách nhập vào (đóng vai) một nhân vật nào đó để thựckiện chức năng xã hội của họ Bằng việc tham gia trò chơi, trẻ

“tiếp xúc một cách độc đáo với xã hội ngời lớn” (Nguyễn ánh

Tuyết [21] ), ở chúng hình thành tính chủ định của quátrình tâm lý, rèn luyện những phẩm chất ý chí, phát triển tduy…qua đó hình thành nền móng của nhân cách Bởi vậy,

tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ có ý nghĩa hết sức quan trọng

đối với trẻ mẫu giáo, đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo lớn (5-6tuổi) - giai đoạn chuẩn bị bớc vào trờng phổ thông

Để chơi ĐVTCĐ thực sự là “phơng tiện để trẻ học làm

ngời” [21] thì vai trò của ngời giáo viên mầm non rất quan

trọng Giáo viên cần nắm đợc bản chất trò chơi, hiểu đợc

đặc điểm tâm lý của trẻ, từ đó có phơng pháp tổ chức, ớng dẫn hợp lý

h-Qua quan sát thực tiễn trong các đợt rèn luyện nghiệp vụ

s phạm tại các trờng mầm non, chúng tôi nhận thấy phơngpháp tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ của giáo viên mầm noncha phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ, chơi ĐVTCĐ cha

hấp dẫn trẻ, cha thực sự là “cuộc sống của trẻ thơ” (Nguyễn

ánh Tuyết [20]) Do đó, việc tiến hành nghiên cứu thực trạng

tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ mẫu giáo lớn (MGL), từ

đó đề xuất những biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao chấtlợng của hoạt động chơi ĐVTCĐ trở nên cực kỳ quan trọng

Trang 2

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài tìm hiểu “Thực trạng

tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL ở một số ờng mầm non trên địa bàn thành phố Vinh” cho luận

tr-văn cuối khoá của mình

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ chotrẻ MGL ở một số trờng mầm non trên địa bàn thành phốVinh

- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổchức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL

3 Đối tợng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

5 Giả thuyết khoa học

Hiện nay trò chơi ĐVTCĐ cha hấp dẫn trẻ, cha thực sựchiếm vị trí trung tâm của hoạt động vui chơi ở lứa tuổimẫu giáo Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do giáoviên mầm non cha có các biện pháp hiệu quả để tổ chức, h-ớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 3

6.2 Tìm hiểu thực trạng tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐcho trẻ MGL trên địa bàn thành phố Vinh.

6.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quảviệc tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL trong chơngtrình “Đổi mới hình thức chăm sóc – giáo dục trẻ” hiện nay

7 Phơng pháp nghiên cứu

7.1 Phơng pháp nghiên cứu lý luận

- Mục đích: nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.

7.2 Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Quan sát

- Mục đích: tìm hiểu thực trạng tổ chức, hớng dẫn chơi

ĐVTCĐ cho trẻ MGL ở một số trờng mầm non trên địa bànthành phố Vinh

7.2.2 Điều tra bằng bảng hỏi (Anket)

- Mục đích: tìm hiểu nhận thức, thái độ và những

pơng pháp mà ngời giáo viên mầm non sử dụng để tổ chức, ớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL

h-7.3 Sử dụng toán học trong xử lý số liệu

8 Đóng góp mới của đề tài

- Hoàn thiện thêm cơ sở lý luận về trò chơi ĐVTCĐ vàviệc tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL, đặc biệt làxây dựng quy trình các bớc tổ chức, hớng dẫn trẻ MGL chơi

ĐVTCĐ

- Làm rõ thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non vềtrò chơi ĐVTCĐ và thực trạng tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐcho trẻ MGL

- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quảviệc tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL trong chơngtrình “Đổi mới hình thức chăm sóc – giáo dục trẻ” hiện nay

Trang 5

ơng 1 :

Cơ sở lý luận

1 Sơ lợc về lịch sử vấn đề nghiên cứu

Chơi ĐVTCĐ và việc tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ có ýnghĩa rất quan trọng trong công tác giáo dục trẻ lứa tuổi mẫugiáo, do đó đã đợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nớcquan tâm

Trò chơi ĐVTCĐ từ lâu đã đợc các nhà nghiên cứu nhìn

nhận là trung tâm trong các hoạt động vui chơi của trẻ em

mẫu giáo Các tác giả N.K.Krupxkaia, D.V.Mendgierinxkaia,

X.L.Rubinstein, L.X.Vugotxki, P.G Xamarucova đã nghiêncứu một cách toàn diện về trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo

Về ý nghĩa của trò chơi, các tác giả đã thống nhất

rằng trò chơi ĐVTCĐ là phơng tiện hữu hiệu để giáo dục

toàn diện nhân cách trẻ Qua trò chơi trẻ tích lũy những kinh nghiệm xã hội (P.G Xamarukova) [23], những phẩm chất đạo

đức của con ngời (A.A.Liublinxkaia) [11], trên cơ sở đó hình thành mối quan hệ tích cực với các sự kiện và nguyên tắc

đạo đức xã hội (A.V.Cherkhop, T.E.Conhincova ) Mặt khác,

trò chơi ĐVTCĐ có ảnh hởng đến sự hình thành tình cảm

tập thể của trẻ (V.P.Gialogina) [26], góp phần giáo dục thẩm

mỹ, hình thành kinh nghiệm vận động cho trẻ

(P.V.Giaparogiet [25], I.G Nherovich [27] )

Trong những tác phẩm của mình, các nhà nghiên cứu

cũng đã nêu ra đặc điểm của trò chơi ĐVTCĐ: Ph.L.

Phratkina đã tìm hiểu về sự phát triển chủ đề trong trò chơi của trẻ em [28]; còn R.M.Rimbury lại quan tâm đến sự

phát triển nội dung và cấu trúc trò chơi [29] Đông đảo các

nhà tâm lý học, giáo dục học Xô viết đã chỉ ra nội dung của

Trang 6

trò chơi ĐVTCĐ chính là cuộc sống xã hội muôn màu muôn vẻ

của ngời lớn đợc trẻ em phản ánh trong khi chơi.

Các nhà nghiên cứu đã dành sự quan tâm nhất định

đến việc tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ ở các lứa tuổi,

trong đó có lứa tuổi MGL P.G Xamarukova [23, tr.52]

đã chỉ ra các nhiệm vụ cơ bản trong chỉ đạo chơi ĐVTCĐcho trẻ, đó là:

- Phát triển chơi ĐVTCĐ nh một hoạt động.

- Sử dụng trò chơi vào mục đích giáo dục tập thể và

giáo dục cá nhân

- Phát triển tính tự lực và tự tổ chức trong trò chơi

ĐVTCĐ, đặc biệt là đối với trẻ 5-6 tuổi

Các công trình nghiên cứu của Đ.V.Mendgierinxkaia,R.I.Giucopxkaia, V.P.Gialogina và nhiều ngời khác đã bàn

đến những phơng pháp tổ chức, hớng dẫn chơi cho trẻ,chúng đợc chia thành hai nhóm biện pháp chính:

- Nhóm các biện pháp tác động gián tiếp (cung cấp

kiến thức về cuộc sống, tạo cơ sở vật chất và môi trờng cầnthiết phục vụ trò chơi…); tác giả T.Đ.Marcova, N.Karpinxkaia còn nêu ra một số biện pháp nh: sử dụng các tác phẩm văn họctrẻ em, các tác phẩm hội họa… để mở rộng nội dung trò chơi

- Nhóm các biện pháp tác động trực tiếp (cô hớng dẫn

trẻ chơi, cô tham gia vào quá trình chơi của trẻ…)

ở Việt Nam, lý luận về trò chơi ĐVTCĐ và việc tổ chức,hớng dẫn chơi ĐVTCĐ luôn giữ vị trí nhất định trong cáccông trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học và Giáo dụchọc

Tác giả Nguyễn ánh Tuyết, trong giáo trình “Tâm lý

học trẻ em” [21] đã tìm hiểu và phân tích cấu trúc của trò

chơi ĐVTCĐ ở lứa tuổi mẫu giáo (bao gồm chủ đề và nội

Trang 7

của trẻ trong khi chơi; đồ chơi và hoàn cảnh chơi ) Đồng

thời bà đã chứng minh vai trò của chơi ĐVTCĐ trong sự pháttriển toàn diện nhân cách trẻ, cũng nh quan tâm đến sựphát triển trò chơi này ở các độ tuổi

Trong giáo trình Giáo dục học Mầm non - Tập III do

Đào Thanh Âm chủ biên [2], cũng trình bày về bản chất,

đặc thù, ý nghĩa và sự phát triển của trò chơi ĐVTCĐ, đồng

thời đề xuất nhiệm vụ, biện pháp hớng dẫn chơi cho trẻ mẫugiáo, tuy nhiên, chỉ nói chung ở các độ tuổi

Về vấn đề tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫugiáo, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà đã đề cập tới nhữngnhiệm vụ và phơng pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ ở từng độ

tuổi cụ thể (3-4 tuổi; 4-5 tuổi; 5-6 tuổi) trong cuốn “Tổ

chức cho trẻ vui chơi ở trờng mẫu giáo” [6].

Trong chơng trình “Chăm sóc giáo dục mẫu giáo và

hớng dẫn thực hiện (5-6 tuổi)” của Bộ Giáo dục và Đào tạo

[1994] cũng đề ra khá cụ thể các yêu cầu nội dung, phơngpháp hớng dẫn chơi ĐVTCĐ (trong nhóm trò chơi sáng tạo) chotrẻ MGL

Từ năm học 2001 - 2002 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã

đa vào thí nghiệm diện hẹp tài liệu “Hớng dẫn thực hiện

đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi” [7], trong đó đề ra một số yêu cầu và nội dung

chơi ĐVTCĐ theo các chủ điểm lớn của năm học Chơng trìnhthử nghiệm này cha áp dụng chính thức nhng đã chứng minh

đợc tính hiệu quả của nó Tuy nhiên, do tính chất mới mẻ vàmang tính thử nghiệm của chơng trình nên rất ít các nghiêncứu tập trung vào việc tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ theo h-ớng tích hợp chủ điểm

Gần đây nhất, trong luận án tiến sỹ Tâm lý học

“Nghiên cứu những điều kiện tâm lý của sự phát triển tính

Trang 8

độc lập ở trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ”, Nguyễn Thị Mỹ

Trinh đã đề cập đến việc tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐtheo chủ điểm cho trẻ MGL trong giai đoạn hiện nay, nhngchỉ dừng lại ở phạm vi phát triển tính độc lập cho trẻ [18] Tóm lại, trò chơi ĐVTCĐ và việc hớng dẫn chơi ĐVTCĐ

đợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc đề cập khá toàn

diện Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, khi việc đổi mới

hoạt động giáo dục trẻ trở thành xu thế chính của khu vực vàthế giới thì cần có những nghiên cứu sâu sắc hơn về việc

tổ chức và hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ lứa tuổi Mẫu giáo

2 Trò chơi ĐVTCĐ và việc tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL

2.1 Những vấn đề chung về trò chơi ĐVTCĐ: 2.1.1 Phân biệt chơi, hoạt động chơi và trò chơi.

Trong nhiều công trình nghiên cứu về Giáo dụcmầm non trong và ngoài nớc, chúng ta thờng xuyên bắt gặp

các thuật ngữ chơi, trò chơi, hoạt động vui chơi Những

thuật ngữ này thực ra đồng nhất hay khác biệt nhau, vàtrong Giáo dục mầm non, chúng nên đợc hiểu nh thế nào ?

Chơi, tiếng Anh là “play” đợc hiểu là đùa vui, giải trí

[16, tr.878] Còn trong cuốn Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân

chủ biên [15, tr.181], thì chơi có nghĩa là “hoạt động bằng

chân tay, hoặc bằng trí tuệ nhằm mục đích thấy cái vui, thỏa mãn ý thích” Trong tác phẩm “Về phạm trù chơi trong

Giáo dục mầm non” [8], tác giả Đặng Thành Hng cho rằng

chơi và hoạt động chơi là phạm trù rất rộng, cần đợc giải thích trên nguyên tắc tiến hóa Nó là một dạng hoạt động của sinh vật, bao gồm một phạm vi rộng những sự việc, quan

hệ, hành vi hoặc hành động có tính chất tự nguyện, thích

Trang 9

ngời, chơi là một hoạt động ngày càng đợc xã hội hóa Tóm

lại, chúng ta có thể thấy sự gặp gỡ của các tác giả ở chỗ xem

chơi nh là một hoạt động tự nguyện, bày ra để giải trí, và hoạt động chơi là một dạng hoạt động mang tính xã hội của con ngời.

Trò chơi (trong tiếng Anh là “game”) đợc định

nghĩa là “a form of play” (một dạng, một kiểu loại của chơi hay hoạt động chơi); là “amusement with rules” (trò vui gắn

với những quy tắc, luật lệ) [16, tr.468] Còn Văn Tân và

những cộng sự của ông lại định nghĩa trò chơi là “cuộc vui

bày ra để giải trí” [15, tr.817] Vậy, có thể nói trò chơi là

hình thức vật chất của chơi, hoạt động chơi và mang bản chất xã hội.

Tóm lại, để hoạt động chơi diễn ra cần có trò chơi,nhng khi trẻ tham gia vào trò chơi, cha chắc chúng đã thựchiện hành động chơi nếu trẻ không tự nguyện, không cảmthấy sự phấn khích, thoả mãn, hay chúng chơi vì một mục

đích vật chất nào khác Nh vậy, nếu trẻ tự nguyện tham gia

vào trò chơi, và các hành động chơi mang lại sự phấn khích, thoả mãn cho chúng thì nói đến trò chơi cũng đồng nghĩa với chơi, hoạt động chơi và ngợc lại.

2.1.2.Khái niệm trò chơi ĐVTCĐ

Trò chơi ĐVTCĐ, một hình thức của hoạt động vui

chơi, đợc nhiều tác giả nhìn nhận là dạng phát triển hoàn

thiện nhất của trò chơi mô phỏng ở trẻ em ở đề tài nghiên

cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm trò chơi ĐVTCĐ đồngnhất với các tác giả A.V.Giaparogiet [5], P.G Xamarucova [23],Nguyễn ánh Tuyết ([20], [22]), nhấn mạnh cả hai yếu tố

đóng vai - sự hiện diện của tính tợng trng và có chủ đề - sựhiện diện của cốt truyện

Trang 10

Nh vậy, trò chơi ĐVTCĐ là loại trò chơi mà trẻ mô phỏng lại một mảng nào đó (tức là chủ đề) của cuộc sống ngời lớn trong xã hội bằng việc nhập vai một nhân vật nào đó nhằm thực hiện chức năng xã hội của họ

(Nguyễn ánh Tuyết, [20])

Trò chơi ĐVTCĐ xuất hiện vào năm đứa trẻ lên 3 tuổi.Việc xuất hiện đó liên quan đến các điều kiện: trẻ tích lũy

đợc nhiều ấn tợng về thế giới xung quanh, có nhiều đồ chơi

và đợc giao tiếp thờng xuyên hơn với ngời lớn (N.M.Akxarina,[1])

Động cơ thúc đẩy sự xuất hiện trò chơi ĐVTCĐ chính

là việc giải quyết mâu thuẫn cơ bản của trẻ lứa tuổi mẫugiáo: trẻ muốn vơn tới cuộc sống chung với xã hội ngời lớn nhngkhả năng còn quá non nớt, cha thể độc lập trong cuộc sống.Khi tham gia trò chơi ĐVTCĐ, trẻ đợc thỏa mãn nguyện vọng

đợc sống và hoạt động giống nh ngời lớn, thỏa mãn nhu cầu

độc lập của bản thân Bên cạnh đó, trẻ tham gia trò chơi vớinhững động cơ nhỏ hơn - nh hứng thú đợc hoạt động với các

đồ vật, các sự kiện (L.X.Xlavina), cố gắng vơn tới nhữnghành động chung trong xã hội bạn bè cùng lứa tuổi (R.I.Giucopxkaia)

2.1.3 Đặc điểm và cấu trúc của trò chơi ĐVTCĐ 2.1.3.1 Đặc điểm của trò chơi ĐVTCĐ.

Trò chơi ĐVTCĐ mang những đặc điểm chung củahoạt động vui chơi ở trẻ em, bao gồm:

- Trò chơi mang tính chất tự nguyện – trẻ thích thì

chúng chơi với nhau, khi chán thì không chơi nữa Theo ĐàoThanh Âm [2], chơi là một hoạt động không nhằm tạo ra sảnphẩm - kết quả vật chất mà chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu đợcchơi của trẻ - kết quả tinh thần Tóm lại, “động cơ của hoạt

Trang 11

động vui chơi nằm ngay trong quá trình chơi chứ khôngphải ở kết quả” (A.N Leonchep [10], Đ.B Enconhin [24]).

- Chơi là một dạng hoạt động mang tính tự lập

và chơi ĐVTCĐ là hoạt động độc lập đầu tiên của trẻ mẫu

giáo Trong khi chơi, trẻ mẫu giáo thể hiện rõ nhất ý thức làmchủ, trẻ hoạt động hết mình, tích cực và độc lập (Nguyễn

ánh Tuyết, [21])

- Trò chơi ĐVTCĐ luôn mang tính hợp tác Trong

trò chơi đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các thành viên, sựkết hợp hài hòa giữa hình ảnh nhân vật, hành động chơi vàngôn ngữ, để tạo thành phơng tiện mô phỏng các hoạt độngxã hội của ngời lớn Qua trò chơi, xã hội trẻ em hình thành

- Trò chơi ĐVTCĐ mang tính chất kí hiệu – tợng trng Trong trò chơi trẻ sử dụng vật thay thế cho vật thật, thực

hiện hành động chơi thay thế cho hành động thật, vai chơi lànhân vật có thật trong đời sống xã hội Tuy nhiên, nội dungchơi lại phản ánh một mảng hiện thực nào đó của cuộc sống[21]

- Trong trò chơi ĐVTCĐ, tính sáng tạo của trẻ đợc biểu hiện một cách rõ nét “Mầm mống sáng tạo của trẻ

bắt đầu đợc thể hiện trong hoạt động chơi là khi xuất hiện

ý định chơi” [2] Trong khi chơi, trẻ không bắt chớc một cáchmáy móc những gì trẻ nhìn thấy mà vận dụng phối hợpnhững kinh nghiệm, những biểu tợng đã biết vào việc môphỏng hiện thực cuộc sống của ngời lớn

Ngoài những đặc điểm chung của hoạt động vuichơi, trò chơi ĐVTCĐ của trẻ em còn mang những đặc điểmriêng, chính là cấu trúc tơng đối phức tạp của nó, bao gồmchủ đề chơi, nội dung chơi, vai chơi, hành động chơi, cácmối quan hệ trong trò chơi, đồ chơi và tình huống chơi

2.1.3.2 Cấu trúc của trò chơi ĐVTCĐ :

Trang 12

- Chủ đề chơi:

Chủ đề chơi “là các mảng hiện thực đợc phản ánh

vào trò chơi“ (Nguyễn ánh Tuyết, [20]), “ là môi trờng của

hiện thực đợc thể hiện trong trò chơi” (Đ.B Enconhin, [24]).Chủ đề trò chơi phụ thuộc vào thời đại, vào các hiện tợng xãhội lịch sử trong cuộc sống và những điều kiện khác

Chủ đề chơi phát triển tuân theo một quy luật nhất

định Từ những trò chơi với chủ đề sinh hoạt chuyển sang

những trò chơi có chủ đề lao động sản xuất, sau đó lànhững trò chơi phản ánh những sự kiện, hiện tợng, và cácmối quan hệ xã hội

A.V.Giaparogiet cho rằng chủ đề của hoạt động chơi

gồm ba yếu tố cơ bản: hoàn cảnh, hành động và đối tợng.

Căn cứ vào nội dung đợc phản ánh trong trò chơi, chủ đề

chơi đợc phân thành ba nhóm: nhóm trò chơi phản ánh sinh hoạt (trò chơi “Gia đình”, “Trờng Mầm non” ); nhóm trò chơi phản

ánh các ngành nghề trong xã hội (trò chơi Bác sĩ, Lái xe ); nhóm trò chơi phản ánh các sự kiện trong xã hội (trò chơi “Đi chợ Tết”,

“Hội chợ triển lãm“ ) (Nguyễn Thị Thanh Hà) [7]

- Nội dung chơi:

Thuật ngữ này thờng đợc sử dụng khi nghiên cứu trò

chơi Nội dung chơi chính là khía cạnh hiện thực đợc phản

ánh trong trò chơi, tất nhiên sự phản ánh này chỉ là “tái tạo”

(Nguyễn ánh Tuyết) lại hiện thực cuộc sống mà trẻ tiếp nhậndới con mắt trẻ thơ của mình

Nh vậy, ta có thể thấy một chủ đề chơi sẽ đợc thểhiện bởi nhiều nội dung chơi khác nhau và sự phát triển nội

dung chơi tỷ lệ thuận với sự phát triển tâm lí của trẻ, “sự

phát triển nội dung trò chơi thể hiện sự thâm nhập ngày càng sâu của đứa trẻ vào cuộc sống của ngời lớn xung

Trang 13

Đ.B.Enconhin đã chỉ ra ”sự phát triển trò chơi trẻ em

đi từ nội dung phản ánh hoạt động với đối tợng của con ngời

đến phản ánh mối quan hệ giữa con ngời với con ngời” [24].

Nội dung chơi phát triển từ đơn giản đến phức tạp,

từ trò chơi mô phỏng hành động của con ngời với đồ vật

đến trò chơi thể hiện mối quan hệ giữa con ngời với con

ng-ời, và cuối cùng là những trò chơi với nội dung chính là sựtuân thủ các quy tắc hành vi xã hội và các quan hệ xã hội bêntrong của con ngời (A.N Leonchep, V.X Mukhina )

là những chức năng mang tính nghề nghiệp nh dạy học,

khám bệnh, bán hàng…) “Đóng vai là con đờng giúp trẻ

thâm nhập vào cuộc sống” (Đào Thanh Âm, [2]) Trong khi

đóng vai trẻ không chỉ phản ánh trung thành những ấn tợng

đã tiếp nhận mà còn đa vào trong vai chơi những kinhnghiệm cá nhân của mình

Trẻ muốn thực hiện một vai nào đó thì phải thỏa mãnnhững điều kiện sau: trẻ đợc tiếp xúc làm quen với con ngời

và hành động thực của họ trong cuộc sống; mặt khác những

ấn tợng mà trẻ tiếp nhận phải gây đợc cảm xúc mạnh mẽ chotrẻ

Hành vi nhập vai của trẻ trong trò chơi bao gồm việclựa chọn đồ chơi, vật thay thế để thể hiện hành động củanhân vật và quan hệ của nhân vật đó trong chủ đề chơi(A.V Giaparogiet, [5])

- Hành động chơi:

Trang 14

Theo Nguyễn ánh Tuyết [21], vai chơi quy định hành

động chơi của trẻ, nó gồm hành động với đồ vật và hành

động với các nhân vật khác Hành động chơi chỉ là hành

động mô phỏng và mang tính tợng trng (J Piagiet [14]) Tính

tợng trng của hành động chơi thể hiện ở chỗ: trẻ sử dụng vậtthay thế tợng trng cho vật thật, dùng hành động chơi môphỏng hành động thật, vai chơi là nhân vật có thật trongcuộc sống xã hội

Nhng mặt khác, hành động chơi của trẻ lại mang tính

hiện thực (A.N Leonchep, P.I Phratkina ) vì hành động

chơi đợc trẻ lấy từ cuộc sống thực và phơng thức hành động

là hoàn toàn có thực, tơng ứng với đồ chơi Ví dụ, một trẻ

chơi trò chơi “Chăm sóc em bé” với búp bê làm con, trẻ cũngtrải nghiệm những hành động của ngời mẹ (cho con ăn, rucon ngủ…) và những cảm xúc của ngời mẹ (yêu thơng, lolắng…)

Ngoài ra, hành động chơi của trẻ còn mang tính khái

quát, “trong hành động chơi trẻ mô phỏng cái điển hình, cái

chung” (A.N Leonchep) Tính khái quát của hành động chơicho phép trẻ tiến hành trò chơi trong những điều kiện đồ

chơi khác nhau Ví dụ, trẻ có thể làm đoàn tàu với những

chiếc ghế xếp thành dãy, hay với các hòn gạch xếp lại thànhhàng

- Những mối quan hệ trong trò chơi:

Trong trò chơi ĐVTCĐ chứa đựng hai mối quan hệ giữanhững đứa trẻ tham gia chơi: đó là quan hệ chơi và quan

hệ thực

+ Quan hệ chơi: là sự tác động qua lại giữa các vai

chơi nhằm thể hiện mối quan hệ xã hội của ngời lớn trong chủ

đề chơi

Trang 15

+ Quan hệ thực : là sự tác động qua lại của những

đứa trẻ tham gia trò chơi nhằm thỏa thuận, điều tiết việcthực hiện chủ đề chơi

Mối quan hệ giữa các vai chơi (tức là quan hệ chơi)trong trò chơi ĐVTCĐ là yếu tố quan trọng tạo nên bản chất xãhội của trò chơi [21] chính những mối quan hệ nàylàm nảy sinh luật chơi, xác lập mối quan hệ của trẻ khi thamgia trò chơi (tức là quan hệ thực)

- Đồ chơi và tình huống chơi :

Đồ chơi là cơ sở vật chất quan trọng để tiến hành trò

chơi Có hai loai đồ chơi trong trò chơi ĐVTCĐ: đồ chơi do

ngời lớn làm, mô phỏng theo những đồ vật thật (gọi là đồ

chơi hình tợng); và đồ chơi - đồ vật thay thế cho vật thực

(còn gọi là vật thay thế) …

Do tính tợng trng của hành động chơi nên trẻ có thể

sử dụng các vật thay thế khác nhau, tuy nhiên đồ vật sử dụnglàm vật thay thế phải giúp trẻ thực hiện đợc thao tác chơi phùhợp (L.X.Vgotxki)

Do đồ chơi là vật thay thế nên thao tác chơi của trẻkhông trùng với hành động của vai, đó là lí do làm nảy sinh

tình huống chơi Tình huống chơi là tình huống trẻ tởng

t-ợng ra trong khi chơi, trẻ đặt mình vào đó để thực hiệnhành động chơi, góp phần tạo nên nội dung chơi Dù chơitrong tình huống không có thực nhng thái độ tình cảm trẻ

đặt ra trong tình huống là hết sức chân thực

2.1.4 Vai trò của trò chơi ĐVTCĐ đối với sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ mẫu giáo Trò chơi ĐVTCĐ là phơng tiện để hình thành và phát triển tính chủ định của các quá trình tâm lý.

Chơi ĐVTCĐ gắn liền với những sự vật hiện tợng trẻquan sát hàng ngày, trò chơi đòi hỏi trẻ phải tập trung vào

Trang 16

những đối tợng đợc đa vào chủ đề, nội dung, vai chơi vàtình huống chơi Để trò chơi thành công, đứa trẻ phải tậptrung t duy, chú ý và ghi nhớ nhằm giải quyết tốt nhiệm vụ

đợc đặt ra trong trò chơi Qua trò chơi, năng lực nhận thức,

óc tởng tợng, sự chú ý và ghi nhớ có chủ định của trẻ đợc huy

động một cách tích cực, nhờ đó đợc phát triển mạnh mẽ.

.Trò chơi ĐVTCĐ là phơng tiện giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo

- Trẻ sử dụng vật thay thế và thực hiện hành động chơi

để đóng vai, đó là điều kiện để phát triển chức năng ký

hiệu tợng trng trong t duy, từ đó phát triển t duy tợng trng

chỉ có tác dụng củng cố biểu tợng đã có mà còn là một điều

kiện để phát triển tính hình tợng trong t duy của trẻ mẫu

giáo

- Trong trò chơi ĐVTCĐ việc tạo nên tình huống tởng ợng (liên kết các sự kiện của cốt chuyện, lựa chọn phơng tiện

t-thể hiện vai chơi, xây dựng hoàn cảnh chơi…) là điều kiện

hình thành và phát triển trí tởng tợng cho trẻ mẫu giáo.

- Chơi ĐVTCĐ là hoạt động mang tính hợp tác, do đó khitham gia trò chơi, đứa trẻ buộc phải có trình độ giao tiếpbằng ngôn ngữ nhất định Nhờ vậy trẻ mới có thể diễn đạtmạch lạc nguyện vọng của mình với trò chơi, có thể tiếp thu

Trang 17

Những chủ đề và nội dung vô cùng phong phú của trò chơi

ĐVTCĐ chính là điều kiện để trẻ phát triển ngôn ngữ một

cách tích cực

.Trò chơi ĐVTCĐ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giáo dục đạo đức cho đứa trẻ.

- Trong trò chơi, trẻ tích cực và sáng tạo tiếp nhận những

quy tắc hành vi cũng nh một số chuẩn mực đạo đức của xã hội Khi tuân thủ những qui định về hành vi của vai chơi,

trẻ phải điều tiết hành vi của mình để thực hiện các quytắc của trò chơi, của vai chơi Từ đó, đứa trẻ nắm luônnhững nguyên tắc đạo đức của các vai, đồng thời ở trẻ hìnhthành những chuẩn mực đạo đức của xã hội Trên cơ sở đó,

thiết lập mối quan hệ tích cực đối với cuộc sống xung quanh

(trẻ biết yêu thơng con ngời, biết quan tâm và có tinh thầntrách nhiệm với ngời khác…)

- Trò chơi ĐVTCĐ tác động rất mạnh đến sự phát triển

đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo [21] Trò chơi gợi lên ở trẻ

những “rung động mang tính ngời”, khi nhập vai, chúng phản ánh mối quan hệ giữa ngời và ngời Trong khi chơi, trẻ

bộc lộ những cảm xúc buồn, vui, lo lắng, thơng yêu…, dùtrong hoàn cảnh tởng tợng nhng hết sức chân thực Nhữngrung động đó trong khi chơi giúp cho đời sống tình cảmcủa trẻ ngày càng phong phú và sâu sắc

- Bên cạnh đó, trò chơi ĐVTCĐ có ảnh hởng lớn đến sự

hình thành tình cảm tập thể (V.P Gialogina, [26]) Khi chơi,

trẻ cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận, giải quyết các mâu thuẫn,giúp đỡ lẫn nhau trong việc thực hiện nội dung chủ đề chơi

Đây chính là cơ sở hình thành “xã hội trẻ em” ở lứa tuổi mẫu

giáo

- Ngoài ra, qua trò chơi ĐVTCĐ ở trẻ còn hình thành

những phẩm chất đạo đức cần thiết của con ngời lao động

Trang 18

mới, nh sự nỗ lực ý chí, tính kỷ luật, tinh thần chủ động,tính kiên nhẫn, lòng dũng cảm… Theo Nguyễn ánh Tuyết,những đức tính này do nội dung trò chơi và vai chơi quy

định Nếu trẻ đóng vai bác sĩ thì phải tận tình, chu đáovới bệnh nhân; nếu trẻ đóng vai ngời lính gác thì phải giữ

kỷ luật nghiêm minh…

Tham gia chơi ĐVTCĐ là điều kiện để phát triển khả năng thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo

Thông qua các hành động chơi, trẻ hiểu đợc những cáihay, cái đẹp trong các mối quan hệ xã hội, trong cách ứng xử,giao tiếp giữa ngời với ngời Cũng trong quá trình chơi, trẻ đ-

ợc bồi dỡng năng lực cảm thụ cái đẹp từ những đồ dùng, đồchơi, về màu sắc, hình dáng , từ đó trẻ biết giữ gìn cái

đẹp, mong muốn tạo ra cái đẹp trong cuộc sống

Trò chơi ĐVTCĐ có thể giúp trẻ phát triển về thể chất cũng nh hình thành các kĩ năng lao động ban

đầu (Đ.V Giaparogiet, [5]) Khi đóng vai một nhân vật nào

đó, mặc dù chỉ là giả vờ nhng ở mức độ nhất định trẻ cũngphải thực hiện những hành động, những thao tác hoạt độnglao động của nhân vật mà mình đóng vai (cô công nhân,bác cấp dỡng, chú lái xe…) Nh vậy, hoạt động đó vừa giúp trẻlàm quen với những kĩ năng lao động đơn giản, vừa gópphần phát triển thể lực cho trẻ

Ngoài ra, trò chơi ĐVTCĐ là phơng tiện hữu hiệu để phát triển tính độc lập cho trẻ mẫu giáo Đây là hoạt

động theo nhóm đầu tiên của trẻ, qua trò chơi, trẻ bộc lộ hếtmình, hoạt động tích cực chủ động, tự tin Trẻ biết phát huytoàn bộ sức lực và trí tuệ của bản thân; phát huy nhữngphẩm chất và năng lực cần thiết (sự nỗ lực ý chí, khả năng tựkiểm tra, đánh giá và điều chỉnh hành vi) trong khi chơi

Trang 19

Tóm lại, trò chơi ĐVTCĐ có vai trò hết sức quan trọng đốivới sự phát triển tâm lý, đồng thời là một phơng tiện giáo dụctoàn diện cho trẻ mẫu giáo.

2.2 Trò chơi ĐVTCĐ ở tuổi MGL

Trẻ MGL tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau, nhnghoạt động chủ đạo vẫn là hoạt động vui chơi và vị trí trungtâm là trò chơi ĐVTCĐ Trẻ 5-6 tuổi đã gần nh hoàn thiện vềcác chức năng tâm - sinh lý của con ngời Trẻ đã tích lũy đợcvốn biểu tợng đủ lớn, đa dạng về các hoạt động và các mốiquan hệ xã hội của ngời lớn; hình thành đợc một số kỹ năng

lao động đơn giản, do đó trẻ tham gia trò chơi ĐVTCĐ một

cách tích cực và đạt hiệu quả hơn so với các lứa tuổi khác.

ở trẻ 5-6 tuổi, cấu trúc của trò chơi ĐVTCĐ có sự phát triển phát triển mạnh mẽ, trở nên hoàn thiện hơn :

- Chủ đề chơi của trẻ trở nên phong phú hơn, đa dạng

hơn Trong những chủ đề quen thuộc, trẻ không chỉ giới hạn

ở “Gia đình”, ”Khám bệnh” mà đã mở rộng hơn với cácchủ đề nh “Cửa hàng bách hóa”, ”Bệnh viện”, ”Du lịch” tạo thành một xã hội thu nhỏ Ngoài các chủ đề sinh hoạt, trẻ

đã chơi với các chủ đề về hoạt động xã hội và phản ánh các

sự kiện xã hội (“Mừng ngày Quốc khánh”, “Vui Tết Trungthu” )

- Nội dung trò chơi đã phát triển hơn một bớc, từ chỗ

chỉ đơn thuần phản ánh các hành động của ngời lớn, trẻ MGLcòn phản ánh những quy tắc đạo đức và mối quan hệ xã hộibên trong giữa ngời với ngời Trẻ không chỉ phản ánh những

sự kiện chúng trực tiếp tham gia mà còn cả những việcchúng tiếp nhận gián tiếp qua dạo chơi, tham quan và hoạt

động hàng ngày (xem tivi, sách báo )

- Trẻ MGL đã biết lập kế hoạch chơi ĐVTCĐ, cho dù còn giản

đơn Theo R.M Rimbury [29], cấu trúc của trò chơi ĐVTCĐ ở trẻ

Trang 20

MGL còn có thêm giai đoạn chuẩn bị Lúc đầu, các cháu chỉ

trao đổi và thỏa thuận về chủ đề chơi (“chúng ta sẽ chơi trògì?”), cũng có thể có sự phân công vai chơi Dần dần, trẻ đãbiết thảo luận xác định hớng phát triển nội dung chơi (tức làcốt chuyện) Ví dụ: trong trò chơi “Gia đình”, hai trẻ thỏathuận với nhau: ”trớc tiên, mẹ cho con ăn, sau đó hai bố mẹ đacon đi học, rồi bố đi làm, mẹ đi chợ ”

Chính việc lập kế hoạch trò chơi này đã giúp cho nộidung trò chơi đầy đủ hơn, mối quan hệ giữa các vai chơichặt chẽ hơn Theo tác giả P.G Xamarucova thì bớc pháttriển mới này bắt đầu trớc tiên ở những trẻ hay chơi chung vớinhau, vì nó đòi hỏi nhiều kỹ xảo tổ chức, sự hiểu biết nănglực lẫn nhau của trẻ MGL

- Vai chơi của trẻ cũng có bớc phát triển cả về số lợng lẫn

chất lợng Mỗi trò chơi có thể có từ 4-5 vai chơi trở lên; trẻ

không chỉ đòi hỏi thể hiện vai chơi giống nh hành độngthực mà còn yêu cầu thể hiện những tình cảm đạo đức củanhân vật (bác sĩ không chỉ khám bệnh và kê đơn thuốc,

mà còn phải thể hiện sự quan tâm chăm sóc bệnh nhân tậntình, chu đáo)

- Các mối quan hệ trong trò chơi cũng phức tạp và sâu

sắc hơn Quan hệ vai chơi đa dạng: cùng một trẻ thể hiện

nhiều vai chơi trong các tình huống khác nhau (ở bệnh viện,cháu A là bác sỹ, khi đến cửa hàng, cháu đóng vai ngời muahàng, và khi về nhà lại trở thành một ông bố )

Trẻ đã phân biệt một cách có ý thức quan hệ chơi và

quan hệ thực, có thể đảm bảo cả hai mối quan hệ mà không

làm gián đoạn trò chơi (khi có sự cố, trẻ chủ động dàn xếp vớicác bạn rồi thoải mái tiếp tục chơi)

- Cùng với sự phát triển chủ đề chơi và nội dung chơi,

Trang 21

Trẻ MGL thích những đồ chơi phức tạp gần giống với môhình vật thật; trẻ còn có nhu cầu chơi với vật thay thế và đồchơi tự làm (tự lắp ráp, chế tạo các đồ chơi)

Nếu có sự chỉ đạo của cô giáo, trong giai đoạn này, trẻMGL sẽ tự chuẩn bị hoàn cảnh chơi (lựa chọn đồ chơi, tự sửasang, tự chế tạo đồ chơi phù hợp)

Trẻ MGL còn có đặc điểm nổi bật đó là sự thể hiện tính độc lập hơn hẳn so với các lứa tuổi khác Trẻ

MGL có khả năng tự chọn chủ đề chơi, trò chơi, chọn nhómchơi, bàn bạc thống nhất nội dung chơi, lên kế hoạch chơi,phân vai chơi, chọn chỗ chơi, đồ dùng, đồ chơi, tự điềuchỉnh hành vi chơi để thực hiện kế hoạch trò chơi, và tựnhận xét, đánh giá hoạt động chơi

Tính độc lập trong khi chơi ĐVTCĐ của trẻ MGL còn đợc

thể hiện rõ nét với vai trò “thủ lĩnh” của mỗi nhóm chơi.

“Thủ lĩnh” là đứa trẻ đợc các bạn vị nể nhất, bởi trẻ đó luôn

có nhiều sáng tạo và khả năng tổ chức trò chơi [21] Đứa trẻ

“thủ lĩnh” (hay là trởng các nhóm chơi) thờng nhận nhiệm

vụ phân vai và chỉ huy, điều khiển các vai khác Trẻ này ờng nhận các vai chính trong trò chơi, nh vai mẹ trong tròchơi “Bán hàng”, vai bác sĩ trong trò chơi “Bệnh viện”, côgiáo trong trò “Lớp học” Do vai trò chỉ huy của mình,

th-những hành vi của đứa trẻ “thủ lĩnh” có ảnh hởng nhất

định đến các mối quan hệ trong nhóm chơi

- Ngoài ra, một số trẻ 5-6 tuổi đã thể hiện nhiều yếu

tố sáng tạo thông qua việc xây dựng nội dung chơi, xác

định hành vi chơi, thông qua việc tạo môi trờng vật chất cầnthiết cho trò chơi

Để trò chơi ĐVTCĐ phát triển phù hợp với sự phát triểncủa trẻ 5-6 tuổi, và trở thành một phơng tiện giáo dục trẻ

Trang 22

hiệu quả thì rất cần sự tổ chức, hớng dẫn đúng đắn củangời giáo viên mầm non.

2.3 Tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL

2.3.1 Khái niệm “Tổ chức, h ớng dẫn chơi ĐVTCĐ”

- Tổ chức, tiếng Anh là “to oranize”, hay “arrange for”

đợc hiểu là sắp xếp, chuẩn bị [16] Còn trong “Từ điển Tiếng

Việt” thì tổ chức có nghĩa là “sửa soạn một việc để tiến

hành đợc trong những điều kiện mang lại kết quả tốt”[14].

- Hớng dẫn là “to conduct” (chỉ dẫn), “to guide”, “to

lead” (dẫn dắt) [16], là “ dìu dắt, chỉ bảo đờng lối” [15].

- Từ những t liệu trên, chúng ta có thể hiểu tổ chức, hớng dẫn là sắp xếp, chuẩn bị những điều kiện để tiến

hành một việc nào đó và chỉ dẫn cách thức thực hiện việc

đó nhằm mang lại kết quả tốt nhất.

Nh vậy, việc tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ là một

hoạt động bao gồm công tác chuẩn bị cho trò chơi và quá trình chỉ dẫn thực hiện trò chơi, nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.

2.3.2 Yêu cầu, nhiệm vụ khi tổ chức, h ớng dẫn chơi

ĐVTCĐ cho trẻ MGL

Trẻ MGL đã quen với những trò chơi ĐVTCĐ ở các lứatuổi trớc, các nhóm chơi tơng đối ổn định và bền vữngtrên cơ sở của các nhóm chơi từ lớp nhỡ chuyển lên; dần xuấthiện nhiều trò chơi tập thể có thể kéo dài hàng tuần, hàngtháng; số lợng vai chơi đông, kéo theo việc mở rộng và xuấthiện nhiều chủ đề chơi mới làm cho nội dung trò chơi trởnên phong phú, trẻ có thể chơi tơng đối thuần thục Trò chơi

ĐVTCĐ trong giai đoạn này có thể phát triển ở dạng hoànthiện nhất của nó Điều đó đòi hỏi ngời giáo viên phải cónhiệm vụ và phơng pháp hớng dẫn tơng ứng, mà trọng tâm

Trang 23

công việc là giúp trẻ tổ chức trò chơi theo ý định của cháu(Nguyễn Thị Thanh Hà, [6, tr.31]).

2.3.2.1 Những yêu cầu cần đảm bảo khi giáo viên mầm non tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL:

*Về chủ đề chơi, bên cạnh những trò chơi quen thuộc

phản ánh sinh hoạt, trẻ biết chơi những trò chơi phản ánh các

sự kiện diễn ra trong xã hội (nh ngày Hội, ngày Lễ; đi chợTết, diễu hành 1/5 )

*Trong nội dung chơi, trẻ biết phản ánh công việc, thái

độ, quan hệ giữa ngời với ngời trong sinh hoạt, trong lao

động, đồng thời phản ánh những nét tính cách riêng biệt,những hành vi đạo đức của nhân vật mà trẻ sắm vai [7].Cốt chuyện trò chơi phong phú, trẻ biết kết hợp cốt chuyệncủa các trò chơi cũ để tạo nên trò chơi mới

*Vai chơi và hành động chơi của trẻ phong phú, đa dạng,

trẻ biết vận dụng các phơng tiện biểu cảm để thể hiện nhữngnét tính cách riêng của nhân vật

*Về các mối quan hệ qua lại trong trò chơi :

- Trẻ biết chọn ngời điều khiển trò chơi và phục tùngngời đó

- Trẻ biết thực hiện đúng các luật chơi (ngầm định)

và những quy định chung của tập thể (nhóm chơi)

- Trẻ biết sử dụng các công trình xây dựng vào tròchơi chung, biết phối hợp với các trò chơi khác trong cùng mộtchủ đề chơi [3]

- Trẻ biết giúp đỡ, nhờng nhịn, phối hợp với bạn bè đểtạo thành một tập thể trong chủ đề chơi chung

*Vào khoảng cuối năm học, trẻ có thể bộc lộ những khả

năng sáng tạo trong xây dựng cốt chuyện, chơi và chuẩn bị

đồ chơi, địa điểm chơi

Trang 24

*Trong trò chơi, kỹ năng tự tổ chức trò chơi của trẻ phải

đợc phát triển ở mức độ cao: trẻ tự nghĩ ra chủ đề chơi,

biết cùng thảo luận để đi tới thống nhất kế hoạch chơi, tự tổchức thực hiện trò chơi và điều chỉnh hành vi chơi để thựchiện kế hoạch đã đề ra, biết nhận xét đánh giá hoạt độngchơi của mình và của bạn

2.5.1.2 Những nhiệm vụ mà ngời giáo viên mầm non cần thực hiện khi tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL

Tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ có nghĩa là giúp trẻ tham

gia vào trò chơi đó, đồng thời thúc đẩy sự phát triển củadạng hoạt động này theo các hớng đã nêu trên Nh vậy, khi tổchức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL, ngời giáo viên mầmnon phải giải quyết những nhiệm vụ sau:

a Phát huy tính tự lập (hay tính độc lập) trong khi

đề, nội dung, kế hoạch và cách thức thực hiện trò chơi)

- Tự thực hiện trò chơi (tự thảo luận, xây dựng nội

dung chơi, lập kế hoạch chơi, tự phân vai, nhập vai và thựchiện kế hoạch chơi)

- Tự đánh giá hoạt động chơi (khả năng nhận xét,

đánh giá hành vi của mình, của bạn trong quá trình thựchiện hoạt động chơi)

Theo bà, để thực hiện nhiệm vụ phát triển tính

độc lập cho trẻ MGL trong hoạt động chơi ĐVTCĐ, giáo viên

Trang 25

mầm non cần thực hiện các biện pháp để tăng cờng đồng

bộ các điều kiện tâm lý sau cho trẻ:

- Tăng cờng hứng thú đối với trò chơi ĐVTCĐ.

- Mở rộng vốn sống, vốn kinh nghiệm về các hoạt động

và quan hệ xã hội cho trẻ.

- Hoàn thiện ở trẻ kỹ năng tự tổ chức trò chơi.

- Hình thành, bồi dỡng ý chí trong khi chơi cho trẻ.

b Mở rộng chủ đề chơi mà đặc biệt là phát triển nội

dung của các trò chơi cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

- Giáo viên cần giúp trẻ quan tâm, hiểu rõ hơn, phong phúhơn, về một số sự kiện diễn ra trong đời sống xã hội nh: Tết cổtruyền, những sự kiện văn hóa của tỉnh nhà, của Đất nớc nhằm

mở rộng chủ đề chơi cho trẻ.

- Cần phát triển nội dung trò chơi bằng cách liên kết nội

dung của các trò chơi khác nhau trong cùng chủ đề Cô giáocần hớng trẻ chơi theo chủ đề chung rộng hơn, thiết lập mốiquan hệ giữa các nhóm chơi, giúp trẻ tích cực giao tiếp vớinhau, cùng phản ánh cuộc sống đa dạng vào trò chơi củamình

- Ngoài ra cô cần đa vào trò chơi của trẻ những gợi ý,những đề nghị, những tình huống có vấn đề để trẻ giảiquyết nhằm phát triển nội dung chơi

c Phát triển kỹ năng chơi

- Cô cần tăng cờng số lợng hành động chơi của các vai

(vai mẹ trong trò chơi “Gia đình” không chỉ chăm sóc concái, đi chợ, nấu ăn, mà còn là khách du lịch cùng với gia

đình đi tham quan )

- Ưu tiên phát triển ở trẻ kỹ năng nhập vai Cô cần khuyến

khích nhằm phát triển ở trẻ khả năng phản ánh hiện thựctrong trò chơi bằng việc tái hiện các cử chỉ, thói quen, giọng

điệu, lối trang phục, của nhân vật

Trang 26

- Phát triển kỹ năng hành động theo nhóm

Khi tổ chức, hớng dẫn chơi, cô giáo phải phát huy tính

hợp tác của trẻ trong việc cùng nhau thảo luận kế hoạch chơi,hớng trẻ vào hoạt động chung của nhóm, chỉ cho trẻ biết cáchphối hợp hành động cùng nhau trong chủ đề chơi chung.Trong quá trình chơi cần giáo dục cho trẻ ý thức tôn trọngnhững yêu cầu chính đáng của bạn chơi, dạy trẻ biết giúp đỡnhau cùng thực hiện trò chơi

d Mặt khác, cần lu ý khi tổ chức trò chơi ĐVTCĐ phải

đảm bảo sự tự nguyện, hứng thú và phát huy tính sáng tạo ở trẻ Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng, bởi hoạt động vui

chơi có đặc trng chính là sự tự nguyện, sáng tạo - “chơi làhoạt động tự nguyện, ham thích của ngời chơi” (Nguyễn ánhTuyết)

2.3.3.Trình tự tiến hành và các ph ơng pháp, biện pháp tổ chức, h ớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL

Trong khoá luận này, chúng tôi xem việc tổ chức, ớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL không chỉ đơn thuần là tổchức một hoạt động cho trẻ, mà cao hơn là việc tổ chức hoạt

h-động này nh một phơng tiện để giáo dục trẻ Do đó, trình

tự tiến hành tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ bao gồmnhững bớc sau:

2.3.3.1 Xác định mức độ phát triển của trò chơi

Trang 27

- Trẻ đã có kỹ năng tổ chức trò chơi chung cha? Trẻ cócùng nhau xác định trớc sẽ chơi gì và chơi nh thế nàokhông? Trẻ có yêu cầu gì với vai chơi không? Các tình huốngthiếu đồ chơi hay không thống nhất về vai chơi, cáchchơi, có xảy ra không, và nếu xảy ra thì trẻ có tự giảiquyết đợc không? Đối chiếu với yêu cầu lứa tuổi, nề nếp và

kỹ năng tổ chức trò chơi của trẻ đã phù hợp cha?

- Cốt chuyện của trò chơi (nếu là trò chơi quen thuộc)

đã có cha? Mức độ phong phú và tính logic của các tình tiếttạo nên cốt chuyện nh thế nào?

- Trong các trò chơi, trẻ thực hiện các hành động đóngvai ra sao? Loại hành động ấy có phù hợp với yêu cầu lứa tuổikhông?

- Quan hệ thực giữa các cháu hình thành ra sao? Đã cónhóm chơi ổn định cha? Trong nhóm có thủ lĩnh không?Vai trò và tính chất quan hệ giữa “thủ lĩnh” và các thànhviên khác của nhóm chơi nh thế nào?

- ở trẻ, nề nếp sử dụng và giữ gìn đồ chơi đã đợc thựchiện triệt để cha?

Những nội dung trên đây là những thông tin không thểthiếu mà ngời giáo viên cần nắm đợc để có thể hình dung mộtcách cụ thể những việc cần làm, nhằm tổ chức, hớng dẫn chơi

ĐVTCĐ cho trẻ Quan sát trẻ chơi hằng ngày, trò chuyện với trẻ lànhững phơng pháp thích hợp giúp giáo viên có đợc cái nhìn t-

ơng đối đầy đủ về trò chơi ĐVTCĐ của trẻ MGL

2.3.2.2 Xác định nhiệm vụ, lựa chọn biện pháp tơng ứng, xây dựng kế hoạch tổ chức, hớng dẫn chơi

ĐVTCĐ.

Qua việc phân tích ở bớc một, giáo viên cần chỉ ranhững nhiệm vụ cần làm và cách thức giải quyết nhữngnhiệm vụ đó

Trang 28

Nên xác định những nhiệm vụ cấp thiết cần giảiquyết trớc, đó là các nhiệm vụ liên quan đến vốn sống, đếnhứng thú của trẻ, kế đến là những nhiệm vụ phát triển kỹnăng tự tổ chức thực hiện trò chơi Đồng thời, giáo viênmầm non cũng cần xác định đợc thời điểm trong ngày sẽ

giải quyết nhiệm vụ đó Ví dụ: việc hoàn thiện kỹ năng tổ

chức trò chơi cho trẻ 5-6 tuổi nên giải quyết ngoài giờ (khi đidạo hay đón trẻ ) qua việc trò chuyện với trẻ, nhắc nhở trẻ

đầu giờ chơi hay lu ý cuối giờ chơi Sau đó cô giáo lập kếhoạch tổ chức, hớng dẫn chơi theo chơng trình “Chăm sócgiáo dục trẻ” của nhóm lớp (có thể tham khảo mẫu kế hoạchcủa Nguyễn Thị Thanh Hà [7] ở phần phụ lục)

2.3.2.3 Chuẩn bị cho trẻ chơi.

Việc chuẩn bị trò chơi ĐVTCĐ bao gồm chuẩn bịnhững điều kiện tâm lý cho trẻ tham gia vào trò chơi,chuẩn bị cơ sở vật chất cho trò chơi và chuẩn bị khônggian, thời gian thực hiện trò chơi

a.Chuẩn bị những yếu tố tâm lý bên trong giúp trẻtham gia thực hiện trò chơi một cách tốt nhất

- Mở rộng, làm phong phú vốn hiểu biết, vốn kinh

nghiệm của trẻ liên quan đến chủ đề chơi.

Việc tích lũy vốn kiến thức cho trẻ cần đợc tiến hànhmột cách bài bản, có hệ thống, thông qua các tiết học của trẻMGL

Ngoài ra, trong các hoạt động ngoài tiết học, giáo viêncần cho trẻ hoạt động tích cực với đồ vật (Nguyễn KhắcViện, [17]) Thông qua sinh hoạt hàng ngày, yêu cầu trẻ giúpcô một số công việc vừa sức, nhờ đó hình thành những kỹnăng lao động đơn giản cho trẻ

Trang 29

Bên cạnh đó, trong những chuyến dạo chơi, tham quan,giáo viên chú ý kết hợp cho trẻ quan sát và nhận xét nhữnghiện tợng xã hội, những mối quan hệ giữa ngời với ngời

Một biện pháp khác cũng khá hiệu quả là cho trẻ xemtranh ảnh, băng hình về các hoạt động xã hội tơng ứng vớichủ đề chơi, sau đó tiến hành đàm thoại với trẻ về nội dung,phơng thức của hoạt động đó Mặt khác, cô giáo cần liên tụccủng cố những ấn tợng trẻ đã nhận đợc bằng cách tái tạo lạichúng trong các hoạt động khác nh tạo hình, âm nhạc

- Một yếu tố tâm lý quan trọng cần chuẩn bị để

giúp trẻ tham gia trò chơi ĐVTCĐ, đó là tăng cờng hứng thú

của trẻ đối với trò chơi.

Để làm đợc điều đó, giáo viên cần sử dụng các biệnpháp tạo ra cái mới trong những trò chơi ĐVTCĐ quen thuộc,

nh thay đổi chỗ chơi, bổ sung vai chơi, tăng cờng đồ chơimới ; hoặc hớng dẫn trẻ quan sát các hoạt động xã hội củangời lớn trực tiếp qua dạo chơi, tham quan hay gián tiếp quaxem băng hình, tranh ảnh ; đàm thoại với trẻ để trẻ thấy đ-

ợc cái hay, cái hấp dẫn của các hoạt động xã hội mà trẻ sẽ phản

ánh trong trò chơi của mình

- Kỹ năng tự tổ chức trò chơi cũng là điều kiện tâm

lý cần tăng cờng cho trẻ trong khâu chuẩn bị chơi

Giáo viên cần phát triển ở trẻ kỹ năng tổ chức trò chơi

bằng các biện pháp chủ đạo nh :

+ Trò chuyện, đàm thoại, giải thích để hình thành

ở trẻ nhận thức về sự cần thiết phải có tính tổ chức trong

các hoạt động xã hội

+ Tham gia vào trò chơi với vai trò ngời “thủ lĩnh”, cô làm mẫu việc tổ chức trò chơi, trẻ thực hiện cùng cô (với

trò chơi ĐVTCĐ mới) Khi giúp trẻ lập kế hoạch chơi, cô nên lập

kế hoạch ở dạng thô sơ, nhng vẫn có trình tự đi từ thấp đến

Trang 30

cao, từ đơn giản đến phức tạp để việc tiến hành chơicủa trẻ đỡ lộn xộn.

+ Tham gia vào vai trò ngời thực hiện, cô hớng dẫn

cho trẻ tự tổ chức các trò chơi ĐVTCĐ (khi trò chơi ở giai đoạn

đầu)

+ Để trẻ tự tổ chức trò chơi, cô quan sát và gợi ý khi

trẻ gặp khó khăn (đối với các trò chơi ĐVTCĐ mà trẻ đã chơithuần thục)

b.Chuẩn bị cơ sở vật chất cho trò chơi

Khi chuẩn bị cơ sở vật chất cho trò chơi, giáo viên cầnchuẩn bị: đồ dùng, đồ chơi, vật thay thế,

- Đồ dùng, đồ chơi, vật thay thế.

Với mỗi trò chơi ĐVTCĐ, giáo viên phải chuẩn bị cho trẻnhững đồ chơi tơng ứng Ví dụ: trò chơi “Gia đình” cầncác đồ chơi nh búp bê, bộ đồ chơi nấu ăn,

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà [7] đã hết sức lu ý khâuchuẩn bị đồ chơi cho trẻ MGL Tuy nhiên, bà nhấn mạnh:

“Không phải bao giờ đồ chơi cũng đóng vai trò tích cực thúc

đẩy sự phát triển của trẻ, nhất là ở lứa tuổi MGL” Đôi khi

chính sự chuẩn bị đồ chơi quá đầy đủ sẽ quy định toàn bộtrò chơi của trẻ một cách thụ động, trẻ chỉ chú ý sử dụng đồchơi mà quên mất việc tạo ra các tình huống chơi

Vậy, khi nào nên thay chúng bằng những đồ vật thaythế? Muốn trả lời câu hỏi đó cần phân tích mức độ phát triểntrò chơi cụ thể của các cháu, chủ yếu thông qua việc phân tíchtrình độ khái quát của hành động chơi Khi trẻ đã nắm đợcnhững hành động chơi của một vai nào đó, cô nên cung cấpcho trẻ một số đồ dùng thay thế để trẻ sử dụng trong trò chơi

- Vật liệu chơi

Trẻ MGL có nhu cầu sử dụng đồ chơi tự làm rất lớn, nên

Trang 31

hành động chơi thì cô giáo không nên bày biện đầy đủ

đồ chơi nữa, thay vào đó nên cung cấp cho trẻ một số

nguyên vật liệu để trẻ làm đồ chơi Ví dụ: trong trò chơi

“Cửa hàng quần áo” cô chuẩn bị cho trẻ một số giấy báo, giấymàu để trẻ tự cắt quần áo

ở lứa tuổi này, hành động chơi đợc rút gọn, mang tínhchất mô phỏng, không gắn chặt với đồ chơi nữa, nên tốtnhất, trớc khi bắt đầu trò chơi, giáo viên yêu cầu trẻ tự chuẩn

bị đồ dùng, đồ chơi, sắp đặt góc chơi phù hợp với tìnhhuống chơi trẻ đã định

c Chuẩn bị không gian, thời gian thực hiện trò chơi.

- Không gian chơi hay chỗ chơi:

Thờng thì chỗ chơi của trẻ đợc giáo viên ấn định ngay

từ đầu tại các góc chơi Nhng ở lứa tuổi MGL, cô cần pháthuy tính độc lập cho trẻ trong việc để trẻ tự ý chọn chỗ chơi.Khi chuẩn bị chỗ chơi, giáo viên cần lu ý đảm bảo các yêucầu vệ sinh ở góc chơi nh: diện tích, ánh sáng, độ ẩm, nhiệt

độ

- Thời gian chơi:

Thời gian chơi phải đủ cho trẻ thực hiện các giai đoạnchơi, thông thờng trẻ cần từ 30-50 phút trở lên để thực hiệntrò chơi Thời gian càng nhiều thì trò chơi của trẻ càngphong phú, phức tạp và ngợc lại

2.3.2.3 Hớng dẫn trẻ chơi.

*Khi hớng dẫn trẻ MGL chơi ĐVTCĐ, giáo viên phải luônluôn lu ý việc phát huy tính tự nguyện, tính độc lập, sáng

tạo của trẻ ở trẻ MGL, tính độc lập đã phát triển ở mức độ nhất

định, cô chỉ cần sử dụng các biện pháp hớng dẫn gián tiếp nh trao đổi gợi mở, gợi ý, nhận xét, tạo các tình huống có vấn đề

để trẻ giải quyết, động viên, khuyến khích trẻ…

Trang 32

*Tuy nhiên, đối với những trò chơi mới, hay xuất hiện

những tính huống s phạm cần giải quyết…, giáo viên phải sử

dụng các biện pháp hớng dẫn trực tiếp (can thiệp vào trò chơi

của trẻ) khi hớng dẫn trẻ chơi ĐVTCĐ Cô phải dựa vào quan sát

của mình để xác định đúng thời điểm can thiệp vào trò chơi của trẻ, tránh không làm mất hứng thú chơi và làm ngắt

quãng trò chơi của trẻ

Cô cần trực tiếp hớng dẫn trẻ chơi trong những trờng hợp sau:

- Đối với trò chơi mới

- Khi trẻ nào đó không tự tham gia vào trò chơi

- Khi trẻ gặp khó khăn trong việc thỏa thuận, hợp tác, vớicác bạn khác

- Khi trò chơi của trẻ trở nên đơn điệu, lặp lại, hay cóchiều hớng bị phá vỡ

- Khi xảy ra xung đột, vi phạm các luật lệ đã định

- Khi giáo viên thấy rằng trẻ bị cô lập, tẩy chay

*Trong quá trình hớng dẫn trẻ MGL chơi ĐVTCĐ, giáo

viên cần để trẻ thể hiện kỹ năng tự tổ chức trò chơi thông

qua các giai đoạn: chuẩn bị chơi, thực hiện trò chơi và nhậnxét hoạt động chơi

a.Giai đoạn chuẩn bị chơi

Trẻ 5-6 tuổi phải đợc tự bàn bạc thỏa thuận với nhau

tr-ớc khi chơi, do đó, cô để trẻ tự chọn chủ đề chơi hay trò

chơi, chọn nhóm chơi, chọn thủ lĩnh nhóm chơi, xác địnhnội dung trò chơi, lên kế hoạch chơi, phân vai chơi và lựachọn chọn chỗ chơi, đồ dùng, đồ chơi, vật thay thế

Cụ thể, cô chỉ cần hỏi “hôm nay các cháu đã quyết

định chơi trò gì cha? Trò chơi của các cháu sẽ nh thếnào? ” Câu hỏi của cô phải làm cho trẻ tin rằng chính trẻ đ-

Trang 33

để điều khiển trò chơi Tiếp theo, cô để trẻ thỏa thuận vớinhau để gọi tên trò chơi, thỏa thuận để thống nhất nộidung chơi, lên kế hoạch chơi, phân vai chơi và chọn gócchơi, đồ dùng, đồ chơi…

Ví dụ: trò chơi “Bệnh viện” thì “thủ lĩnh” sẽ nhận vai

“bác sỹ viện trởng” Vai chính này có nhiệm vụ theo dõi,

điều khiển trò chơi sao cho các nhóm chơi quy tụ xungquanh chủ đề chơi Cô nên hớng trẻ vào việc lựa chọn vaichính và luôn đổi vai để số lợng trẻ tham gia vai chínhnhiều hơn

- Khi phân vai chơi, cô nên lu ý đến trẻ đã có những

đức tính tốt theo yêu cầu của vai chơi Nhng cũng có khiphân cho những trẻ cá biệt làm “thủ lĩnh” mặc dù trẻ đó

không có những đức tính cần thiết của vai chơi đó Ví dụ :

Một cháu hay quát mắng bạn có thể cho đóng vai “bác sỹ”,

”y tá” Thông qua vai chơi này giúp trẻ có thái độ tôn trọng,yêu thơng bệnh nhân

- Những trẻ đợc bầu làm “thủ lĩnh” thờng thay cô ớng dẫn bạn thỏa thuận chơi trong nhóm Cô cần đóng vai trò

h-“cố vấn”, giúp đỡ trẻ đó điều khiển trò chơi

b Thực hiện trò chơi Với trẻ MGL, các nhóm chơi đợc hình thành tơng đốibền vững, một vài nhóm chơi đã biết tự liên kết với nhau để

thực hiện trò chơi chung Giáo viên chỉ là ngời “cố vấn” cho

trẻ, còn ngời điều khiển trực tiếp các nhóm chơi là các “thủ lĩnh” đã đợc trẻ bầu ra trớc khi chơi Trẻ thủ lĩnh có trách

nhiệm xem xét, phân công các nhóm, sau đó các nhóm tựphân vai với nhau, các vai hành động thống nhất với nhautrong nhóm chơi chung

Trang 34

Giáo viên hớng trẻ thực hiện trò chơi thông qua việc

thực hiện kế hoạch chơi, thực hiện vai chơi và điều khiển hành vi chơi.

- Nội dung trò chơi rất phong phú và đợc mở rộng theosáng kiến của trẻ Có thể bằng câu hỏi gợi ý, cô đặt ra chotrẻ những tình huống có vấn đề, giúp trẻ suy nghĩ mở rộngnội dung chơi Cô cũng cần lu ý để đảm bảo kế hoạch chơidiễn ra nh đã định hớng ban đầu

- ở giai đoạn này, trẻ không chỉ hớng vào các quan hệvới nhau trong nhóm chơi mà còn hớng vào những quan hệqua lại giữa các nhóm chơi Khi hiểu đợc vị trí của mìnhtrong trò chơi chung, đồng thời trẻ hiểu đợc nhiệm vụ, nộidung quan hệ của mình với vai khác trong trò chơi Cô khôngtham gia trực tiếp vào trò chơi, nhng cô theo dõi sự tham giacủa tất cả trẻ để kịp đa ra những gợi ý cho cả nhóm hoặctừng trẻ tham khảo

- Trong giai đoạn thực hiện trò chơi, giáo viên cần chú ýrèn luyện ý chí cho trẻ bằng cách tạo ra những khó khăn đòi hỏivai chơi phải giải quyết (nh khách du lịch đi tham quan bị lạc

đờng, hay xe của bác lái taxi bị hỏng…), đồng thời dạy trẻ biết

điều chỉnh hành vi của mình để thực hiện vai chơi

đa ra ý kiến xem chơi nh thế nào cho trò chơi vui hơn, thú

vị hơn

Trang 35

- Cô giáo là ngời đa ra những nhận xét khái quát cuốicùng Khi nhận xét hành vi của từng trẻ, thái độ của cô rấtquan trọng, vì dựa vào đó, các mối quan hệ qua lại giữa trẻtrong trò chơi tiếp theo sẽ tốt hơn Khi nhận xét, cô cần nhấnmạnh sự đoàn kết hợp tác giữa các vai chơi, khẳng định vịtrí của từng trẻ trong tập thể chơi, vì đây là những điềukiện rất quan trọng để phát huy tình cảm tập thể cho trẻ.

- Không nhất thiết buổi chơi nào cũng phải nhận xét

đầy đủ quá trình chơi, mà có thể chỉ nhận xét những nét

đặc trng nổi bật nhất của buổi chơi

2.4 H ớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL trong ch ơng trình đổi mới hình thức tổ chức hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ.

Đổi mới giáo dục mầm non là yêu cầu cấp thiết của nớc

ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc,nhằm thực hiện mục tiêu chiến lợc phát triển Giáo dục mầmnon nh Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW

Đảng khóa VIII đã chỉ ra Cùng với xu thế chung của khu vực,của thế giới và sự đổi mới của giáo dục phổ thông của nớc ta,trong 3 năm từ 1998-2000, Trung tâm NCGDMN đã nghiên

cứu đề tài trọng điểm cấp Bộ “Đổi mới hình thức tổ chức

hoạt động học tập và vui chơi trong trờng lớp mẫu giáo theo hớng tiếp cận tích hợp theo chủ đề”, nhằm đóng góp vào sự

nghiệp đổi mới phơng hớng của bậc học Mầm non, chuẩn bịnhững tiền đề cho việc đổi mới toàn diện chơng trìnhchăm sóc - giáo dục trẻ từ 3-6 tuổi

*Cơ sở khoa học của việc đổi mới hình thức chăm sóc - giáo dục trẻ mẫu giáo [4]

Trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo đang trong thời kì tiềnthao tác, các chức năng sinh lý và tâm lý còn cha phân hóa

rõ rệt, do vậy, trẻ cha thể lĩnh hội các tri thức khoa học theo

Trang 36

các môn học riêng biệt, mà chỉ có thể tiếp nhận văn hóa

theo các hình thức mang tính tích hợp, trong đó các lĩnhvực văn hóa đợc lồng ghép, đan cài, hòa quyện vào nhautheo chủ đề

*Trong Giáo dục mầm non, quan điểm tích hợp là nhìn

nhận thế giới tự nhiên, xã hội, con ngời trong một thể thống nhất Trong đó hoạt động vui chơi vốn mang tính tích hợp,

chính trong hoạt động này trẻ tiếp thu kinh nghiệm xã hội ởnhiều góc độ, rất cần cho trẻ trong quá trình “nên Ngời”

*Trong chơng trình “Đổi mới hình thức chăm sóc

- giáo dục trẻ mẫu giáo”, hoạt động vui chơi của trẻ đợc

tổ chức ở các góc hoạt động.

- Góc hoạt động là nơi trẻ có thể chơi và tự hoạt động

một mình, hoặc trong nhóm nhỏ với những bạn cùng sở thích

để xem xét, tìm hiểu, khám phá cái mới, hoạt động với đồvật và rèn luyện kỹ năng (TS Trần Lan Hơng [9])

- Mục đích tổ chức các góc hoạt động là tạo ra một

môi trờng thuận lợi cho trẻ, giúp chúng phản ánh các hoạt

động thực tiễn đa dạng của ngời lớn Phát huy ở trẻ tính tíchcực cá nhân, tính độc lập; giáo dục trẻ tính hợp tác Ngoài racòn góp phần làm cho chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ bớtcăng thẳng, đồng thời cung cấp cho trẻ hiểu biết về thế giớixung quanh

- Có nhiều loại góc hoạt động: góc tạo hình, góc xây

dựng, âm nhạc, góc tự nhiên, góc khoa học, góc phân vai

Giáo viên tổ chức các góc theo đặc trng của từng chủ đề,

khả năng mua sắm trang thiết bị, diện tích lớp, số trẻ, vàkinh nghiệm của trẻ

*Tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL theo chủ điểm:

Trang 37

- Giáo viên cung cấp cho trẻ vốn tri thức, kỹ năng xoay

quanh nội dung chủ điểm (thông qua các tiết học, qua dạochơi, tham quan, xem tranh ảnh, sách báo…), liên tục hệthống hoá và củng cố những biểu tợng mà trẻ đã tiếp nhận đ-ợc

- Kích thích ở trẻ hứng thú mô phỏng lại những nội dung

đa dạng của chủ điểm vào hoạt động vui chơi của mình

- Tuỳ theo mỗi chủ điểm mà giáo viên có phơng án tổ chứcgóc hoạt động cho phù hợp Mỗi trò chơi của trẻ ở các góc chơiphản ánh một nội dung của chủ điểm, tất cả tạo thành một tròchơi ĐVTCĐ tái hiện một mảng hiện thực cuộc sống Giáo viênchuẩn bị đồ dùng, đồ chơi, vật thay thế, trang trí các góc phù

hợp với trò chơi Ví dụ: Trong chủ điểm “Trờng mầm non”:

+ Góc phân vai: trò chơi “Cửa hàng bán đồ dùng họctập”

Chuẩn bị: giấy màu, bút màu, đất nặn, kéo, hồ dán…

Sự chuẩn bị nói trên có khi phải diễn ra trong một thời giandài, giáo viên lu ý hớng dẫn trẻ cùng giúp cô chuẩn bị trang trí gócchơi, vừa có tác dụng rèn luyện kỹ năng tự tổ chức trò chơi chotrẻ, vừa nhằm kích thích hứng thú của trẻ đối với hoạt động chơi.Cuối cùng, kết hợp hoạt động của trẻ và sản phẩm đợc tạo ra ở cácgóc, các cháu chơi ĐVTCĐ “Trờng Mầm non”

- Khi hớng dẫn trẻ chơi, giáo viên phải chỉ cho trẻ thấy mốiliên quan chặt chẽ giữa các trò chơi cùng chủ điểm, từ đó giúp

Trang 38

trẻ biết liên kết các trò chơi với nhau, phản ánh các mối quan hệ

xã hội đa dạng Ví dụ: với chủ điểm “Trờng mầm non”, cô giáo

có thể gợi hỏi trẻ nh sau: “Để có thể học giỏi, các con phải làmgì? (Đến trờng) ở trờng ai dạy dỗ các con? (Cô giáo) Chúngmình thờng đợc cô giáo dạy học ở đâu nhỉ? (trong lớp học) Đểlớp học luôn xinh xắn, đẹp đẽ thì các con phải làm gì? (trangtrí lớp học) Ngoài việc học ra, chúng mình còn đợc chơi rấtnhiều trò chơi vui vẻ và bổ ích ở đâu? (Sân chơi) Chính nhờcác bác công nhân xây dựng đã làm nên những khu vờn, nhữngsân chơi rất đẹp cho chúng mình đấy…”

- Trong khi trẻ chơi, giáo viên cần duy trì hoạt động tíchcực của các nhóm, đồng thời tạo ra các tình huống để pháttriển kỹ năng hoạt động theo nhóm của trẻ và liên kết các trò

chơi Ví dụ: “Hôm nay, các bác xây dựng đã hoàn thành Công trình Sân chơi của bé rồi, các con có muốn đến tham quan

không?”

- Khi hớng dẫn trẻ nhận xét hoạt động chơi, giáo viên khôngchỉ cho trẻ nhận xét về mối quan hệ trong từng trò chơi mà cònnhận xét về mối quan hệ giữa các nhóm chơi

3 Kết luận chơng 1

- Trò chơi ĐVTCĐ, một hình thức của hoạt động vuichơi, đợc nhìn nhận là dạng phát triển hoàn thiện nhất củatrò chơi mô phỏng ở trẻ em Khi tham gia trò chơi, trẻ thỏamãn nguyện vọng đợc sống và hoạt động giống nh ngời lớn,thỏa mãn nhu cầu độc lập của bản thân Đồng thời, chơi

ĐVTCĐ có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và pháttriển tâm lý, nhân cách của trẻ mẫu giáo

- Trò chơi ĐVTCĐ ở trẻ MGL phát triển mạnh mẽ và có cấutrúc tơng đối hoàn thiện Trong khi chơi, trẻ 5-6 tuổi thểhiện vốn sống phong phú, kỹ năng chơi thành thạo, đặc

Trang 39

biệt, ở trẻ bộc lộ sự phát triển tính độc lập qua kỹ năng tự tổchức trò chơi.

- Để trò chơi ĐVTCĐ phát triển phù hợp với sự phát triểncủa trẻ 5-6 tuổi, rất cần có sự tổ chức, hớng dẫn đúng đắncủa giáo viên mầm non

Khi tổ chức, hớng dẫn trẻ MGL chơi ĐVTCĐ, ngời giáo viênphải phát huy tính độc lập; mở rộng chủ đề chơi, nội dungchơi; phát triển kỹ năng chơi và đảm bảo sự tự nguyện,hứng thú, kích thích khả năng sáng tạo của trẻ trong khi chơi

Các bớc tiến hành tổ chức, hớng dẫn trẻ MGL chơi ĐVTCĐ:Bớc 1: Xác định mức độ phát triển của trò chơi ở trẻ trongcác nhóm chơi

Bớc 2: Xây dựng kế hoạch tổ chức, hớng dẫn chơi

Bớc 3: Chuẩn bị cho trò chơi

Bớc 4: Hớng dẫn trẻ chơi

- Trong chơng trình “Đổi mới hình thức chăm sóc - giáodục trẻ mẫu giáo” hiện nay thì hoạt động vui chơi, trong đó

có chơi ĐVTCĐ của trẻ đợc tổ chức tại các góc hoạt động

Tổ chức, hớng dẫn trẻ MGL chơi ĐVTCĐ theo chủ điểm :

- Cung cấp, hệ thống hoá và củng cố vốn tri thức, kỹ

năng xoay quanh nội dung chủ điểm

- Kích thích ở trẻ hứng thú mô phỏng lại những nội dung

đa dạng của chủ điểm vào hoạt động vui chơi của mình

- Tuỳ theo mỗi chủ điểm mà giáo viên có phơng án tổ chứccác góc hoạt động cho phù hợp

- Chỉ cho trẻ thấy mối liên quan chặt chẽ giữa các trò chơicùng chủ điểm, từ đó giúp trẻ biết liên kết các trò chơi với nhau,tạo ra trò chơi ĐVTCĐ

- Duy trì hoạt động tích cực của các nhóm, đồng thời tạo

ra các tình huống để phát triển kỹ năng hoạt động theo nhómcủa trẻ và liên kết các trò chơi

Trang 40

ơng 2

Thực trạng tổ chức, hớng dẫn chơi

đóng vai theo chủ đề cho trẻ MGL

1 Cách thức tổ chức nghiên cứu thực tiễn

1.1 Mục đích nghiên cứu thực tiễn

- Tìm hiểu thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non

về trò chơi ĐVTCĐ và việc tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ chotrẻ MGL

- Tìm hiểu thực trạng hớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL

1.2 Nội dung và cách thức nghiên cứu:

1.2.1 Tìm hiểu thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về trò chơi ĐVTCĐ và việc tổ chức, h ớng dẫn chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGL

1.2.1.1 Phơng pháp thu thập t liệu:

- Phơng pháp điều tra bằng bảng hỏi (Anket)

Sử dụng 40 phiếu Ankét dành cho giáo viên mầm non phụtrách lớp 5-6 tuổi ở các trờng mầm non trên địa bàn thành phốVinh nhằm tìm hiểu nhận thức của họ về trò chơi ĐVTCĐ ở trẻMGL, những phơng pháp, biện pháp tổ chức, hớng dẫn chơi

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Akxarina N.M (1977), Sự phát triển và giáo dục trẻ từ 1-3 tuổi, Nxb Thể dục thể thao, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển và giáo dục trẻ từ 1-3 tuổi
Tác giả: Akxarina N.M
Nhà XB: Nxb Thể dục thể thao
Năm: 1977
2. Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hoà, Đinh Văn Vang (1997), Giáo dục học mầm non - Tập III, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hoà, Đinh Văn Vang
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1997
3. Bộ giáo dục & đào tạo (1994), Chơng trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo và hớng dẫn thực hiện 5-6 tuổi, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chơng trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo và hớng dẫn thực hiện 5-6 tuổi
Tác giả: Bộ giáo dục & đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
4. Bộ giáo dục & đào tạo (2001), Hớng dẫn thực hiện chơng trính chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo nội dung đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hớng dẫn thực hiện chơng trính chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo nội dung đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục
Tác giả: Bộ giáo dục & đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
5. Giaparogiet A.V (1987), Những cơ sở giáo dục học mẫu giáo - Tập I,II, Tài liệu lu hành nội bộ trờng ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở giáo dục học mẫu giáo
Tác giả: Giaparogiet A.V
Năm: 1987
6. Nguyễn Thị Thanh Hà (1991) Tổ chức cho trẻ vui chơi ở trờng mẫu giáo, Trờng s phạm mẫu giáo TW3, Tài liệu lu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức cho trẻ vui chơi ở trờng mẫu giáo
7. Nguyễn Thị Thanh Hà (1996) Tổ chức cho trẻ vui chơi nhà trẻ - mẫu giáo Sở giáo dục TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức cho trẻ vui chơi nhà trẻ - mẫu giáo
8. Đặng Thành Hng, “Về phạm trù chơi trong giáo dục mẫm non ”, Tạp chí khoa học giáo dục, Số 82/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phạm trù chơi trong giáo dục mẫm non ”, "Tạp chí khoa học giáo dục
9. Trần Lan Hơng “Môi trờng học tập trờng trờng mầm non” Tài liệu bồi d- ỡng Đổi mới giáo dục mầm non “ ” (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trờng học tập trờng trờng mầm non”" Tài liệu bồi d-ỡng Đổi mới giáo dục mầm non "“
10. Luiblinxcaia A.A (1977)Tâm lý học trẻ em, Tập I . Sở giáo dục TP Hồ ChÝ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em, Tập I
11.Leonchep A.N (1989) Hoạt động, ý thức, nhân cách . Nxb GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động, ý thức, nhân cách
Nhà XB: Nxb GD Hà Nội
12. Macarenco A.C (1957) Tuyển tập các tác phẩm s pham Tập 4. Nxb GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các tác phẩm s pham
Nhà XB: Nxb GD Hà Nội
13. Trần Nga “Tổ chức hoạt động vui chơi trong trờng mầm non” Tài liệu bồi dỡng, đổi mới giáo dục mầm non (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động vui chơi trong trờng mầm non” "Tài liệu bồi dỡng, đổi mới giáo dục mầm non
14. Piaget J. (1996) Tuyển tập tâm lý học Nxb GD Hà Nội 15. Văn Tân (1994) Từ điển tiếng Việt. Nxb KHXH - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tâm lý học "Nxb GD Hà Nội15. Văn Tân (1994) "Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb GD Hà Nội15. Văn Tân (1994) "Từ điển tiếng Việt. "Nxb KHXH - Hà Nội
16. Nguyễn Thị Mỹ Trinh (2004) Nghiên cứu những điều kiện tâm lý của sự phát triển tính độc lập ở trẻ 5- 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ, Luận án tiến sĩ Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu những điều kiện tâm lý của sự phát triển tính độc lập ở trẻ 5- 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ
17. Đặng Ngọc Viễn (1999) Từ điển Anh - Việt. Nxb GD - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Anh - Việt
Nhà XB: Nxb GD - Hà Nội
18. Nguyễn Khắc Viện (1974) Ngây thơ. Nxb Phụ nữ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngây thơ
Nhà XB: Nxb Phụ nữ Hà Nội
19. Nguyễn ánh Tuyết (1995) Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trờng phổ thông, Bộ giáo dục và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trờng phổ thông
20. Nguyễn ánh Tuyết (2000), Trò chơi trẻ em, Nxb Phụ nữ - Hà Nội 21.Nguyễn ánh Tuyết (2001), Tâm lý học trẻ em, Nxb GD - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi trẻ em, "Nxb Phụ nữ - Hà Nội21.Nguyễn ánh Tuyết (2001), "Tâm lý học trẻ em
Tác giả: Nguyễn ánh Tuyết (2000), Trò chơi trẻ em, Nxb Phụ nữ - Hà Nội 21.Nguyễn ánh Tuyết
Nhà XB: Nxb Phụ nữ - Hà Nội21.Nguyễn ánh Tuyết (2001)
Năm: 2001
22. Nguyễn ánh Tuyết (1997), Tổ chức, hớng dẫncho trẻ mẫu giáo chơi, Nxb ĐHQG - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức, hớng dẫncho trẻ mẫu giáo chơi
Tác giả: Nguyễn ánh Tuyết
Nhà XB: Nxb ĐHQG - Hà Nội
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: ý kiến của giáo viên mầm non về những yêu cầu cần phát   triển ở trẻ MGL khi tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ. - Thực trạng tổ chức, hướng dẫn chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố vinh
Bảng 1 ý kiến của giáo viên mầm non về những yêu cầu cần phát triển ở trẻ MGL khi tổ chức, hớng dẫn chơi ĐVTCĐ (Trang 42)
Bảng 3: ý kiến của giáo viên về những phơng pháp, biện pháp tăng c- c-ờng vốn sống cho trẻ đã sử dụng. - Thực trạng tổ chức, hướng dẫn chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố vinh
Bảng 3 ý kiến của giáo viên về những phơng pháp, biện pháp tăng c- c-ờng vốn sống cho trẻ đã sử dụng (Trang 46)
Bảng 4:  ý kiến của giáo viên mầm non về những phơng pháp, biện  pháp tăng cờng hứng thú cho trẻ trong trò chơi ĐVTCĐ. - Thực trạng tổ chức, hướng dẫn chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố vinh
Bảng 4 ý kiến của giáo viên mầm non về những phơng pháp, biện pháp tăng cờng hứng thú cho trẻ trong trò chơi ĐVTCĐ (Trang 48)
Bảng 5: Tổng hợp tần số phân bố trò chơi trong giai đoạn chuẩn bị chơi - Thực trạng tổ chức, hướng dẫn chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố vinh
Bảng 5 Tổng hợp tần số phân bố trò chơi trong giai đoạn chuẩn bị chơi (Trang 51)
Bảng 6: Tổng hợp tần số phân bố trò chơi của giai đoạn thực hiện trò chơi - Thực trạng tổ chức, hướng dẫn chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố vinh
Bảng 6 Tổng hợp tần số phân bố trò chơi của giai đoạn thực hiện trò chơi (Trang 54)
Bảng 7: tổng hợp tần số phân bố trò chơi của giai đoạn nhận xét hoạt động chơi - Thực trạng tổ chức, hướng dẫn chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố vinh
Bảng 7 tổng hợp tần số phân bố trò chơi của giai đoạn nhận xét hoạt động chơi (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w