1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng thừa cân béo phì và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, thể lực và thể chất của học sinh ở một số trường tiểu học huyện diễn châu

75 1,5K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Thừa Cân Béo Phì Và Ảnh Hưởng Của Nó Lên Một Số Chỉ Tiêu Phát Triển Hình Thái, Sinh Lý, Thể Lực Và Thể Chất Của Học Sinh Ở Một Số Trường Tiểu Học Huyện Diễn Châu
Người hướng dẫn PGS.TS. Nghiêm Xuân Thăng
Trường học Trường Tiểu Học Thị Trấn Diễn Châu
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Theo định nghĩa thông thường thì thừa cân Overweight là tình trạngtrọng lượng cơ thể vượt quá giới hạn cân nặng bình thường và mất cân đốigiữa sự tăng trưởng về thể trọ

Trang 1

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình củanhiều người Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô cùng sâu sắc tới PGS.TS.Nghiêm Xuân Thăng, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quátrình xây dựng đề cương đến khi tổ chức triển khai nghiên cứu, thu thập sốliệu, xử lý và trình bày báo cáo kết quả.

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau Đại học,Khoa sinh học, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành mục tiêu họctập về luận văn của mình

Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới Trường tiểu học Thị trấn DiễnChâu, Trường Tiểu học Diễn Hải, trường tiểu học Diễn Lâm đã hỗ trợ nhiệttình trong việc tổ chức thực hiện, thu thập số liệu nghiên cứu để hoàn thànhluận văn

Tôi rất xúc động và vô cùng biết ơn: Bạn bè, gia đình, các em tôi đãđộng viên chia sẻ, giúp đỡ, khích lệ tôi hoàn thành luận văn này

Vinh 2010

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3.Nội dung nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4

1.1 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU THỪA CÂN - BÉO PHÌ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 4

1.1.1 Nghiên cứu thừa cân - béo phì trên thế giới 4

1.1.2 Tại Việt Nam 5

1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÍ LUẬN VỀ THỪA CÂN - BÉO PHÌ 8

1.2.1 Định nghĩa thừa cân - béo phì 8

1.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá thừa cân - béo phì 8

1.2.3 Nguyên nhân thừa cân - béo phì 11

1.2.4 Hậu quả của thừa cân -béo phì 17

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 22

2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 22

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.3.1 Các chỉ số hình thái 24

2.3.2 Các chỉ số sinh lý 25

2.3.3 Các chỉ số phát triển thể chất 25

2.3.4 Phương pháp khống chế sai số 25

2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 26

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 27

Trang 3

3.2 Một số chỉ số phát triển hình thái ở trẻ em thừa cân béo phì lứa tuổi 6-11 tại

3 trường tiểu học thuộc huyện Diễn Châu 31

3.2.1 Chiều cao đứng 31

3.2.2 Cân nặng 32

3.3 Một số chỉ số sinh lí ở trẻ thừa cân béo phì 43

3.3.1 Tần số tim 43

3.3.2 Huyết áp 43

3.3.3 Tần số thở 45

3.4 Một số yếu tố phát triển thể chất ở trẻ TC-BP 6-11 tuổi và nhóm đối chứng 46

3.4.1 Tố chất nhanh 46

3.4.2 Tố chất mạnh 49

3.4.3 Tố chất bền 51

3.5 Sự phát triển trí lực của trẻ em thừa cân béo phì 53

BÀN LUẬN 55

KẾT LUẬN 60

KIẾN NGHỊ 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC

Trang 4

BMI: Body mass in dex (chỉ số khối cơ thể)

HA: Huyết áp

TC: Thừa cân

TC-BP: Thừa cân – béo phì

HAHS: Huyết áp hiệu số

HATT: Huyết áp tâm thu

HATTr: Huyết áp tâm trương

Trang 5

Bảng 3.1: Thực trạng thừa cân - béo phì ở trẻ 6-11 tuổi ở 3 trường tiểu học thuộc

Huyện Diễn Châu theo giới 27

Bảng 3.2: Thực trạng thừa cân - béo phì ở trẻ 6-11 tuổi ở 3 trường tiểu học thuộc Huyện Diễn Châu 29

Bảng 3.3: Chiều cao đứng trẻ TC-BP và trẻ bình thường ở các lứa tuổi 6-11 tại 3 trường Tiểu học thuộc Huyện Diễn Châu 31

Bảng 3.4: Chỉ số cân nặng trẻ TC-BP và trẻ bình thường các lứa tuổi 6-11 tuổi, tại 3 trường Tiểu học huyện Diễn Châu 32

Bảng 3.5: Chỉ số BMI ở trẻ TC-BP và trẻ bình thường lứa tuổi 6-11 tuổi huyện Diễn Châu 34

Bảng 3.6: Chỉ số BMI và thể trạng thay đổi theo tuổi và giới tính 35

Bảng 3.7 Vòng bụng và vòng mông ở trẻ thừa cân ,béo phì 40

Bảng 3.8 Vòng ngực của trẻ thừa cân ,béo phì và nhóm đối chứng 41

Bảng 3.9: Chỉ số Pignet theo tuổi và giới ở trẻ TC-BP và nhóm chứng 43

Bảng 3.10: Một số chỉ tiêu tim mạch của trẻ thừa cân - béo phì 44

Bảng 3.11: Một số chỉ tiêu hô hấp ở trẻ TC-BP 6-11 tuổi 45

Bảng 3.12: Sự phản xạ của trẻ TC-BP và trẻ bình thường (Đơnvị :số chấm /15 giây) 47

Bảng 3.13: Sự phát triển tố chất mạnh của trẻ TC-BP và trẻ bình thường lứa tuổi 6-11 tuổi (Đơn vị tính :cm) 49

Bảng 3.14 : Sự phát triển tố chất bền của trẻ TC-BP và trẻ bình thường lứa tuổi 6-11 tuổi (Đơn vị tính :giây) 51

Bảng 3.15: Kết quả học tập của trẻ 6-11 tuổi nhóm TC-BP so với nhóm đối chứng 53

Trang 6

Biểu đồ 3.1:So sánh tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh 6-11 tuổi theo giới 28

Biểu đồ 3.2: So sánh tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ 6-11 tuổi 29

Biểu đồ 3.3: So sánh tỷ lệ thừa cân - béo phì giữa các độ tuổi khác nhau 30

tại 3 trường Tiểu học huyện Diễn Châu 32

Biểu đồ 3.4: So sánh cân nặng của nam TC-BP với trẻ bình thường 33

Biểu đồ 3.5: So sánh cân nặng của nữ TC-BP so với trẻ bình thường 40

Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ các mức BMI của nam và nữ ở các độ tuổi 6 - 11 36

Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ % của trẻ 6-11 tuổi có chỉ số BMI < 18, 5 (gầy) 36

Biểu đồ 3.8: Tỷ lệ % của nam và nữ có chỉ số BMI = 18,5 - 23,5 (vừa) 37

Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ % nam, nữ có chỉ số BMI = 23,5-28,5 (thừa cân) 38

Biểu đồ 3.10: Tỷ lệ % của nam và nữ ở lứa tuổi 6-11 tuổi 38

Biểu đồ 3.11: Tỷ lệ phân loại thể trạng theo BMI ở nam lứa tuổi 6-11 tuổi 39

Biểu đồ 3.12: Tỷ lệ phân hoá thể trạng theo BMI ở nữ tuổi 6-11 tuổi 39

Biểu đồ 3.13: Vòng ngực của trẻ TC-BP và nhóm đối chứng 42

Biểu đồ 3.14: So sánh dung tích sống của trẻ TC-BP 46

Biểu đồ 3.15: Sự phát triển tố chất nhanh ở trẻ TC-BP và nhóm chứng 48

Biểu đồ 3.16: Sự phát triển tố chất mạnh ở trẻ TC-BP và nhóm chứng 50

Biểu đồ 3.17: Sự phát triển tố chất bền của trẻ TC-BP và trẻ bình thường lứa tuổi 6-11 tuổi 52

Biểu đồ 3.18:Kết quả học tập của trẻ 6-11 tuổi nhóm TC-BP so với nhóm đối chứng 53

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo định nghĩa thông thường thì thừa cân (Overweight) là tình trạngtrọng lượng cơ thể vượt quá giới hạn cân nặng bình thường và mất cân đốigiữa sự tăng trưởng về thể trọng và chiều cao Béo phì là sự tăng cân quá mức

so với chỉ số phát triển trung bình theo độ tuổi đáng có ,được xác định tươngquan với chiều cao theo chỉ số khối cơ thể BMI (Body mass in dex) do tăngquá mức khối mỡ toàn thân hoặc tập trung vào các mô mỡ (vùng bụng ,dưới

da, xung quanh nội quan )

Tình trạng thừa cân và béo phì ở tất cả các độ tuổi kể cả nam và nữ đangtăng lên ở mức báo động khắp nơi trên thế giới, nó nổi lên như một vấn đềsức khoẻ cộng đồng hàng đầu ở tất cả các nước đã và đang phát triển Năm

1997, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO: World Health Organization) họp tạiPháp đã cảnh cáo: "Bệnh béo phì, cơn dịch của thế kỷ” và đầu năm 2000, đãbáo động các quốc gia về sự phát triển dịch đầu tiên không nhiễm khuẩn tronglịch sử nhân loại, đoólà bệnh béo phì [20]: [61]

Thừa cân (TC) và béo phì (BP) thật sự là một mối đe doạ trong tương lai,gặp cả ở người lớn và trẻ em, đặc biệt là những khu vực thành thị, thị trấn.Tình trạng bệnh béo phì không chỉ đơn giản làm ảnh hưởng xấu đến thẩm mỹ,

mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ Người càng béo thì các nguy cơ càngnhiều Béo phì là nguyên nhân của nhiều bệnh mãn tính như bệnh tim mạch,đái đường, rối loạn hộ hấp, viêm xương khớp, sỏi mật, ung thư… Ở Pháp mỗinăm có 100.000 người chết vì các biến chứng này Khi tỷ lệ bệnh béo phì giatăng thì kéo theo sự tăng nhanh các bệnh mãn tính và chi phí sử dụng dịch vụ

Y tế cũng tăng lên Ở Pháp năm 1997, có 9 triệu người béo phì, chiếm tỷ lệ16%, tăng gấp 3 lần số người béo phì năm 1987, trong đó trẻ em béo phì tăng50% so với năm 1991 Với sự thay đổi nhanh chóng trong lối sống thì người

Trang 8

ta có thể ước tính trong tương lai gần có khoảng 25% trẻ em Châu Âu mắcchứng béo phì [54].

TC và BP có thể phòng ngừa được, nhưng khi đã mắc thì điều trị rất khókhăn tốn kém và hầu như không có kết quả Nhà di truyền học và Dinh dưỡnghọc Philip Prognel (Pháp) đã cảnh báo “Nếu không có chiến dịch phòng ngừađích thực về mặt sức khoẻ, ta sẽ tạo ra một cộng đồng những người tàn tật”.Béo phì trẻ em không chỉ ảnh hưởng tới sức khoẻ lâu dài và tuổi thọ màcòn là yếu tố nguy cơ cho béo phì ở người lớn vì 75% trẻ em béo phì tồn tạiđến tuổi trưởng thành Gần 1/3 người lớn bị béo phì có tiền sử béo phì từ thờitrẻ em Dư luận xã hội đã bắt đầu chú ý đến tình trạng béo phì ở trẻ em, không

ít người lớn đã phải dùng thuốc chống béo hoặc đến các thẩm mỹ viện để lấybớt mỡ thay cho rèn luyện thân thể và các chế độ ăn hợp lý Sự song song tồntại giữa mô hình bệnh tật do thiếu ăn và thừa ăn là đặc diểm của dinh dưỡngtrong thời kỳ chuyển tiếp ở Việt Nam: Bằng chứng là sự tăng trưởng liên tụccủa nền kinh tế và sự xoá bỏ cơ chế bao cấp đã tạo điều kiện cho những thayđổi về dinh dưỡng, khẩu phần thực tế trung bình đang thay đổi theo mô hìnhchung của các nước ở thời kỳ chuyển tiếp, tập quán ăn uống và lối sống cũngđang thay đổi Từ năm 2000 tới nay, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (SDD) dưới

5 tuổi đang giảm dần một cách liên tục, từ 32,1% năm 2000, giảm xuống còn29,6% năm 2008 còn béo phì lại đang có xu hướng tăng rõ rệt, hiện nay trên10% dân số ở tình trạng TC-BP so với năm 1960 chỉ khoảng 1% Theo tổngđiều tra dinh dưỡng năm 2000 tỷ lệ trẻ từ 11 - 14 tuổi trên toàn quốc TCBP là1,88% Trẻ ở lứa tuổi này đã có những độc lập về ăn uống và chịu ảnh hưởngcủa những hiểu biết sai lệch trong ăn uống như ăn quá thừa năng lượng cùngvới lối sống ít hoạt động thể lực dẫn đến tình trạng béo phì [34]

Nghệ An mặc dầu là một tỉnh còn nghèo ,đại bộ phân kinh tế còn chậmphát triển, nhưng những năm gần đây do thu nhập tăng nhanh đời sống được

Trang 9

nâng cao đặc biệt là cư dân ở thành phố ,thị xã ,thị trấn nên tình trạng thừacân ,béo phì đã xuất hiện và ngày một tăng nhanh ở người lớn cũng như trẻ em.Trước tình hình đó ở Nghệ An gần đây cũng đã có một số nghiên cứu của Sở Y

tế Viện vệ sinh dịch tễ và của TS Hoàng Thị Ái Khuê và cộng sự về TC -BP ở

độ tuổi 45-65[42]

Để góp thêm số liệu chứng minh tình trạng thừa cân béo phì ở lứa tuổi học

đường và ảnh hưởng của nó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng

thừa cân - béo phì và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lí, thể lực và thể chất ở học sinh độ tuổi 6 - 11 ở một số trường tiểu học Huyện Diễn Châu”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng thừa cân - béo phì ở học sinh Tiểu học trên địa bànHuyện Diễn Châu thuộc các vùng có mức sống và điều kiện khác nhau: thịtrấn, vùng núi và vùng biển

-Tìm hiểu ảnh hưởng của thừa cân - béo phì đối với học sinh: Các chứcnăng sinh lý, thể lực, thể chất ,hoạt động vận động, thần kinh: Khả năng tưduy, trí nhớ

3.Nội dung nghiên cứu

-Điều tra thống kê số lượng và tỷ lệ số học sinh ở tình trạng thừa cân vàbéo phì ở một số trường tiểu học thuộc huyện Diễn Châu

-Nghiên cứu sự phát triển một số chỉ tiêu hình thái ở trẻ thừa cân béophì :chiều cao ,cân nặng ,chỉ số Pignet, BMI

-Các chỉ số sinh lí ở trẻ em thừa cân béo phì :tần số tim mạch ,huyết áptâm thu ,huyết áp tâm trương, tần số hô hấp ,dung lượng sống

-Sự phát triển các tố chất nhanh ,mạnh ,bền

-Khả năng tư duy ,tiếp thu ,trí nhớ

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU THỪA CÂN - BÉO PHÌ TRÊN THẾ GIỚI

VÀ Ở VIỆT NAM

1.1.1 Nghiên cứu thừa cân - béo phì trên thế giới

Thừa cân và béo phì đã tăng lên đến mức báo động trong những năm gầnđây và giờ đây đã trở thành một vấn đề sức khoẻ thế giới Đặc biệt tỷ lệ bệnhnày cao hơn ở các nước phát triển, song nó không chỉ phổ biến ở các nướcphát triển mà còn đang tăng dần ở các nước đang phát triển, kể cả những nước

mà tình trạng SDD vẫn còn phổ biến, và đang trở thành một vấn đề sức khoẻnghiêm trọng [57] Đặc biệt người ta quan tâm đến BP trẻ em vì đó là mối đedoạ lâu dài đến sức khoẻ, tuổi thọ và kéo dài tình trạng BP đến tuổi trưởngthành Hiện nay số người mắc BP trên toàn cầu đã vượt quá 250 triệu, chiếm7% dân số người trưởng thành trên thế giới Đặc biệt ở các nước Âu Mỹ, tỷ lệngười mắc BP lên tới 30 - 40% ở người lớn và trên 10% ở trẻ em [57] Theothống kê ở Mỹ từ năm 2003 - 2004 cho thấy tỷ lệ thừa cân của trẻ em và vịthành niên là 17,1% và 32% là béo phì [81] Theo kết quả điều tra tại Tây BanNha năm 2004 - 2005 trên 1.178 trẻ từ 4-18 tuổi,cho thấy tỷ lệ béo phì ở trẻ 4-

6 tuổi là 12,5%, tỷ lệ béo phì ở nhóm tuổi 11-14 tuổi là 7,2% [80] Còn tạiThái Lan tỷ lệ béo phì ở học sinh tiểu học năm 1993 cũng khá cao với tỷ lệ15,6% và ở Hồng Kông tỷ lệ béo phì ở lứa tuổi 3-18 năm 1995 là 10,8% trong

đó tỷ lệ béo phì của con trai lớn hơn con gái [64]; [67] Năm 1881 ở Anh, tỷ

lệ BP ở trẻ nam 5-11 tuổi là 7-12%, nữ 6,5 - 10% Đến năm 1992 tỷ lệ này lànam 10 - 14,5%, nữ 8-16,5% và đến năm 2000 có đến 20% trẻ em dưới 4 bị

TC và 10% bị béo phì [61] Đặc biệt ở Mỹ, theo nghiên cứu từ năm 1971

1974, tỷ lệ BP ở trẻ nam 611 tuổi là 18,2%, nữ là 13,9% và đến năm 1988

-1991 thì tỷ lệ này đã là 22,3% và 22,7% Tại Mỹ, TC trẻ em gái 4-5 tuổi tăng

từ 5,8% năm 1974, lên 10,8% năm 1994 Năm 1986 - 1998 Struass nghiên

Trang 11

cứu 8270 trẻ em 4-12 tuổi,cho thấy tỷ lệ trẻ em TC-BP tăng lên rõ rệt hằngnăm khoảng 2% Năm 1998 tỷ lệ trẻ em Nam Phi TC là 21,5%, trẻ Mỹ gốcTây Ban Nha TC là 21,8% Số liệu nghiên cứu ở người lớn TC cũng chỉ rarằng TC tăng 50% trong vòng 10 năm [77] Năm 1990 trẻ em Mỹ TC chiếm20% Ở Mỹ trong 15 năm gần đây trẻ 6 - 17 tuổi BP chiếm 40 - 50% Năm 2001

ở Mỹ có 25% trẻ em TC [55] Tỷ lệ BP ở Mỹ tăng gấp đôi trong những năm

1990, từ khoảng 12% năm 1990 lên 23% năm 1998 Hiện nay, bệnh Bp ở Mỹđang được quan tâm hàng dầu

Còn ở miền Đông Bắc nước Ý năm 1993 khảo sát 1523 trẻ 4-12 tuổi thì

tỷ lệ BP ở trẻ nam là 15,7%, nữ là 11% [66] Theo Albala ở Chi Lê năm 1998

có 12% trẻ đi học bị BP [44] Tại Cộng hoà liên bang Nga trong năm 1994

-1995 tỷ lệ trẻ BP 6 - 8 tuổi nam là 26%, nữ là 18% Tại Nam Phi tỷ lệ trẻ BP6-8 tuổi năm 1994 nam 25%, nữ 20% [61]

Tại Trung Quốc, năm 1979 trẻ TC 7-9 tuổi, nam là 3,9%, nữ là 2,1% đếnnăm 1993 tỷ lệ TC nam đã lên 14% và nữ 12% Còn ở Nhật Bản điều tra trên

8000 trẻ 6-14 tuổi, năm 1979 tỷ lệ BP ở trẻ nam là 6,4%, nữ là 7,7% Năm

1998 tỷ lệ tương ứng là 9,8% và 8,8% Tỷ lệ trẻ BP ở Học sinh tiểu học TháiLan năm 1993 cũng khá cao 15,6% Ở lứa tuổi 3-18 tuổi ở Hồng Kông năm

1995, tỷ lệ BP là 10,1% và ở nam là 11,3% cao hơn nữ 8,9% Tỷ lệ các hộ có trẻTC-BP là 3-15% Hiện nay, BP ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ, được ưutiên thứ hai trong phòng chống bệnh tật ở các nước Châu Á và được xem như làmột trong những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và y tế

Bệnh BP phát triển kéo theo một loạt những hiệu quả của nó Ngoàinhững hậu quả lên sức khoẻ như đã nói ở trên, BP ở trẻ em là một điều báotrước sự gia tăng tỷ lệ Bp ở người lớn, đưa đến hậu quả về kinh tế là một vấn

đề đáng quan tâm

1.1.2 Tại Việt Nam

Hiện nay nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ mở cửa, chuyển tiếp,phát triển nhanh, đời sống ngày càng được nâng cao, bởi vậy tỷ lệ trẻ TC-BP

Trang 12

đang có xu hướng tăng lên Theo điều tra hàng năm của Viện dinh dưỡng vớiquy mô toàn quốc, TC ở trẻ dưới 5 tuổi năm 1999 là 1,1% đến năm 2000 là2,7% [39] Các điều tra hàng năm của VDD cho biết tỷ lệ trẻ TC dưới 5 tuổitrước năm 1995 không đáng kể, hầu như không có, nhưng tăng từ 2,0% năm

1996 lên 3,3% năm 2001 Như vậy từ năm 1995 đến nay, TC, BP ở Việt Nam

đã là một hiện tượng dịch tễ đáng báo động tăng nhanh theo thời gian và đãtrở nên vấn đề có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng [39] Theo điều tra y tế quốcgia năm 2001 - 2002 tỷ lệ TC trẻ TC 5-10 tuổi ở Đông Nam Bộ là 2,2%; ởTây Bắc là 1,6% [6] Năm 1996 nghiên cứu của Lê Thị Khánh Hoà cho thấy

tỷ lệ TC ở trẻ 3-6 tuổi ở một quận nội thành Hà Nội chiếm 1,1% Xu hướng

TC của trẻ xuấy hiện ở lứa tuổi 48-59 tháng và tăng dần theo lứa tuổi, trẻ namcao hơn trẻ nữ [12] Theo một nghiên cứu của viện Pasteus Nha Trang năm

1997 - 1998 trên 3305 trẻ từ 3-10 tuổi ở Thành phố Nha Trang thì tỷ lệ BP là3,5% và BP ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ [29] Theo nghiên cứu của Lê Thị Hải ởhọc sinh 6-11 tuổi tại 2 trường tiểu học năm 1997 thì tỷ lệ TC chung của trẻ là4,1%, trong đó BP ở trẻ nam là 2,8%, ở trẻ nữ là 2,2% Tỷ lệ TC tăng dầntheo tuổi 6-7 tuổi là 3,4%; 8-11 tuổi là 4,4% [8] Theo nghiên cứu của TrầnThị Hồng Loan năm 1998 trên 911 học sinh 6-11 tuổi tại một quận nội thành -Thành Phố Hồ Chí Minh thì tỷ lệ TC là 12,2% ở trẻ nam 17,6% cao rõ rệt sovới trẻ nữ 6,8%, tỷ lệ TC cao nhất ở độ tuổi 7-9 tuổi [26] Nghiên cứu củaNguyễn Thị Thu Hiền năm 2001 tại Hà Nội, tỷ lệ học sinh 6-11 tuổi TC là10,4%, nam 13%, nữ 7,5% Tỷ lệ BP là 6,2% trong đó nam 7,3%, nữ 5,1%.Theo nghiên cứu của Vũ Hưng Hiếu năm 2001 tại Hà Nội, tỷ lệ trẻ 6-11 tuổi

TC là 9,9% [10] Theo nghiên cứu của Phạm Duy Tường, Tạ Thị Loan năm

2001 trẻ em 12-15 tuổi tại một trường tiểu học ở Hà Nội tỷ lệ TC là 5% [33].Nghiên cứu của Lê Thị Hương, Hà Huy Khôi năm 1999 tại trường tiểu họcKim Liên - Hà Nội tỷ lệ TC là 4,1% tại trường tiểu học Thượng Cát - Từ

Trang 13

Liêm, tỷ lệ thừa cân là 0,6% [18] Nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Liên và cộng

sự tại 3 trường tiểu học Tràng An, Tô Hoàng, Lê Ngọc Hân, tỷ lệ thừa cânnăm 1995 là 2,6% năm 1996 là 3,9% năm 1997 là 4,9%, năm 1998 là 6,0%,năm 2000 là 10,4% [25]

Gần đây ở Huế, tác giả Võ Thị Diệu Hiền và Hoàng Khánh đã tiến hànhnghiên cứu tình hình TCBP của trẻ em từ 11-15 tuổi ở 4 trường THCS ở Huếnăm 2007 cho thấy tỷ lệ thừa cân 8,3% trong đó béo phì là 0,38% Nghiêncứu đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em 7-15 tuổi năm 2004 ở vùng nôngthôn ven biển Thaí Bình, Phạm Ngọc Thái và Đặng Văn Nghiễm đã cho thấy

tỷ lệ trẻ em thừa cân là 1,1% [17] Nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Thu năm

2003 tỷ lệ TC-BP ở trẻ 6-11 tuổi tại 3 trường tiểu học thuộc Quận Cầu Giấy là6,8% (trong đó nam thừa cân 9,1%,nữ thừa cân 4,4%), béo phì là 3,2%(Trong đó nam béo phì là 5,5%; nữ béo phì là 0,8%).[1]

Tình trạng thừa cân - béo phì có xu hướng gia tăng và việc dự phòngthừa cân - béo phì ở Việt Nam đang thực sự cần thiết Trước thực trạng đó,một số nghiên cứu về tình hình thừa cân - béo phì ở người trưởng thành đượctiến hành trên địa bàn Hà Nội tại một số quận như nghiên cứu của Đỗ KimLiên (2003) [29], Trần Xuân Ngọc (2002) [36], Phạm Thị Thảo Trang năm

2002 [41] hoặc đối với một số đối tượng đặc biệt như các cán bộ đến khámtại Bệnh viện Hữu nghị nghiên cứu của Trần Đình Toán (1998) [42], cán bộngành Công an [47] hoặc các bà nội trợ [48] Hoặc một số nghiên cứu trên đốitượng là người cao tuổi như kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thành năm

2007 tỷ lệ TC-BP ở độ tuổi 45-65 tại Thành Phố Vinh-Nghệ An là 10,93%trong đó TC là 9,98% và BP là 0,95% [2]

Theo Lê Thuý Tươi (theo [37] cho biết, cách đây 10 năm trẻ 11 tuổi béophì có số cân nặng lớn nhất là 67kg thì nay tại phòng khám và điều trị béo phìViện Y Dược học Dân tộc nhiều trường hợp trẻ mới 11 tuổi nhưng nặng tới

Trang 14

99-100kg Thực tế tại các phòng khám dinh dưỡng, phòng điều trị béo phì ởcác bệnh viện đều có số người thừa cân - béo phì đến điều trị ngày càng tăngcao [19], [28], [34].

Như vậy chúng ta thấy tỷ lệ TC-BP trẻ em có xu hướng ngày càng tăng,đặc biệt ở các thành phố lớn, và chiếm tỷ lệ cao ở độ tuổi học sinh tiểu học, tỷ

lệ TC nam cao hơn nữ

1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÍ LUẬN VỀ THỪA CÂN - BÉO PHÌ

1.2.1 Định nghĩa thừa cân - béo phì

Thừa cân (Overweght) là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng nên mấtcân đối so với chiều cao (tỷ lệ cân nặng/ chiều cao) (theo [28], [72], [78]).Béo phì là sự tăng cân nặng cơ thể quá mức trung bình đáng có, được xácđịnh tương quan với chiều cao theo chỉ số khối cơ thể BMI (Body MassIndex) do tăng quá mức tỷ lệ khối mỡ toàn thân hoặc tập trung mỡ vào mộtvùng nào đó của cơ thể [21]

1.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá thừa cân - béo phì

Tình trạng BP là kết quả của một sự cân bằng năng lượng dương tính,năng lượng ăn vào lớn hơn năng lượng tiêu hao BP là một trạng thái bệnh lýđược đặc trưng bởi sự tích tụ mỡ nhiều quá mức cần thiết cho những chứcnăng của cơ thể, thường gây ra các biến chứng quan trọng đối với sức khoẻ.Một cách đơn giản có thể định nghĩa béo phì là tình trạng tích luỹ thái quá vàkhông bình thường của Lipid trong các tổ chức mỡ tới mức có ảnh hưởng xấuđến sức khoẻ Thừa cân là tình trạng cân nặng hiện tại vượt quá cân nặng

“nên có” so với chiều cao, còn béo phì là lượng mỡ tăng không bình thườngmột cách cực bộ hay toàn thể [20] Hiện nay, tổ chức Y tế thế giới thườngdùng chỉ số khối cơ thể BMI, để nhận định tình trạng gầy béo

Các công trình nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong tăng lên khi chỉ số BMIquá thấp (gầy) hoặc quá béo (béo) Việc tích luỹ mỡ dư có liên quan đến kích

Trang 15

cỡ tế bào mỡ gia tăng Ở những người BP nặng, số lượng tế bào mỡ cũng giatăng Mặc dù cơ chế tích mỡ ở người BP chưa được sáng tỏ, các ảnh hưởngđơn thuàn của cơ thể như vậy dẫn đến mất cân đối giữa việc nạp và tiêu thụnăng lượng.

Chỉ số BMI được tính theo công thức:

BMI = W/(H2)Trong đó: W (weight) là khối lượng của cơ thể (tính bằng kg)

H (Hight) là chiều cao cơ thể (tính bằng m)Phương pháp xác định mức độ thừa cân - béo phì theo tiêu chuẩn:

Hiện nay tiêu chuẩn xác định thừa cân - béo phì theo BMI là (theo [9],[2], [7])

Bảng đánh giá theo tiêu chuẩn của WHO và dành riêng cho Châu Á (IDI và WPRO)

BMI (kg/m²)

IDI và WPROBMI (kg/m²)Cân năng thấp(gầy) <18,5 <18,5

* Phân loại BP theo hình thái của mô mỡ hoặc tuổi bắt đầu BP [71]

- Béo bắt đầu từ nhỏ (TE, thanh thiếu niên): Là BP liên quan tơí tăng sốlượng tế bào mỡ Số lượng tế bào mỡ có thể tăng 2-4 lần, và kích thước cũng tăng

- Béo bắt đầu ở người lớn: Là BP do tăng kích thước tế bào mỡ (hay phìđại tế bào mỡ) Số lượng tế bào mỡ bình thường nhưng kích thước tăng

Hầu hết BP đều có kích thước tế bào mỡ, nhưng chỉ có dạng BP bắt đầu

từ nhỏ và dai dẳng là có tăng cả số lượng và kích thước tế bào mỡ Dạng BPnày thường là béo bụng và sẽ sớm phát triển nhưng bất thường trong cuộc

Trang 16

sống Có 2 giai đoạn để xuất hiện bệnh béo phì trẻ em dai dẳng là BP trong 2năm đầu của cuộc sống và BP giữa 4-11 tuổi, trong đó nghiêm trọng nhất là

BP bắt đầu ở giai đoạn sau Loại BP liên quan tới tăng số lượng tế bào mỡthường đề kháng với điều trị

Cách phân loại này gần đây đã hấp dẫn rộng rãi sự chú ý của nhiều tácgiả vì 2 loại BP này có thể đáp ứng khác nhau với điều trị [21]

* Phân loại theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu học:

Theo Phan Thị Kim (theo [22]) và nhiều tác giả khác, tiêu chuẩn phân biệtthừa cân - béo phì theo BMI và cân nặng (theo [6], [15], [37], [77], [78])

- Béo phì - béo trung tâm (béo phần trên, béo hình quả táo, béo kiểu đànông): Là dạng BP có mỡ tập trung chủ yếu ở vùng bụng

- Béo đùi (béo phần thấp, béo hình quả lêm béo kiểu phụ nữ): Là dạng

BP có mỡ tập trung chủ yếu ở vùng mông và đùi

Phân loại này giúp tiên đoán nguy cơ sức khoẻ của BP Béo bụng cónguy cơ cao mắc và tử vong do các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, tiểu dường

so với béo phần thấp [62]

Tỷ số vòng eo/ vòng mông (WHR : Waist-hip radio) và vòng thắt lưngcũng có giá trị để đánh giá sự phân bố của mỡ WHR > 1,0 ở nam và WHR >0,85 ở nữ thì nguy cơ về tăng huyết áp,tăng Cholesteron máu, tiểu đường vàbệnh tim mạch đều tăng (theo [24], [27], [67], [73]

WHR được tính theo công thức:

WHR = Vòng bụng (cm)/ Vòng mông (cm)Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả [27], [28], [48], [67] cho thấy Vòng bụng có liên quan chặt chẽ với chỉ số BMI và tỷ số WHR, do đó nóthường được coi như một chỉ tiêu đơn giản để đánh giá khối lượng mỡ bụng

và mỡ toàn cơ thể Nguy cơ tăng lên khi cơ thể có vòng eo khoảng 94-102cm

ở nam, 80 - 88cm ở nữ và tăng lên rõ khi các trị số là ≥ 102cm ở nam và ≥

Trang 17

88cm ở nữ( Han et al 1995) ( theo [55], [56] ) Như vậy, có nghĩa là sử dụngvòng eo đơn lẻ cùng có ý nghĩa dự báo nguy cơ thùa cân - béo phì và các vấn

đề sức khoẻ liên quan [32], [52], [67]

1.2.3 Nguyên nhân thừa cân - béo phì

- Tập quán ăn uống, khẩu phần ăn giàu Lipid hoặc đậm độ năng lượng cao

Chế độ ăn thay đổi nhanh trong thời kỳ chuyển tiếp là yếu tố nguy cơ củanhiều bệnh mãn tính Cơ thể vốn đã quen với chế độ ăn thanh đạm từ khi còn

bé, qua nhiều thế hệ (thuyết nguồn gốc bào thai của các bệnh mãn tính)chuyển sang một chế độ ăn giàu đạm, giàu béo đã tỏ ra bất lực trong quá trìnhthích nghi Sự bất lực đó trước hết thể hiện bằng thừa cân (mất cân bằng nănglượng) tiến tới béo phì và các bệnh có nguyên nhân rối loạn chuyển hoá

Chế độ ăn giàu Lipid hoặc đậm độ năng lượng cao có liên quan chặt chẽ với

sự gia tăng tỷ lệ BP Các thức ăn giàu chất béo thường ngon nên người ta thường

ăn quá thừa mà không biết Những tài liệu của tổ chức Lương thực và Nôngnghiệp (FAO) và Tổ chức Y tế thế giới (WTO) về cơ cấu khẩu phần (tính theo %năng lượng) ở các nước xếp theo mức thu nhập quân dân cho thấy như sau:

+ Về Protein: Tỷ lệ chung năng lượng do Protein của các loại khẩu phầnkhông khác nhau nhiều (xung quanh 12%) nhưng năng lượng do Proteinnguồn gốc động vật tăng dần khi thu nhập quốc dân tăng dân

+ Về Lipid: Mức thu nhập càng cao thì tỷ lệ năng lượng do Lipid, nhất làLipid nguồn gốc động vật càng cao

+ Về Glucid: Mức thu nhập càng cao thì năng lượng do Glucid nói chung

và tinh bột nói riêng giảm dần, nhưng năng lượng do các loại đường ngọt(Sacaroza) tăng lên

Các cá nhân háu ăn, ăn uống quá độ vì một vài lý do khác nhau Họ cóthể ăn uống vô độ khi bị stress, ăn nhiều hơn như cầu, ăn đêm, hoặc có thể

Trang 18

dùng một chế độ ăn sai thành phần tiêu chuẩn đều dẫn đến tăng cân Nhưngngay cả khi ăn cùng một lượng quá tiêu chuẩn thì những cá nhân khác nhaulại tăng trọng lượng khác nhau vì còn phụ thuộc vào gen di truyền, songngười ta đã chỉ ra rằng ăn nhiều hơn mức bình thường cần thiết, thì sẽ tăngcân [60].

Một khẩu phần ăn nhiều mỡ, dù số lượng nhỏ cũng có thể gây thừaCalo và gây tăng cân Trẻ em BP thường háu ăn và ăn nhiều lần Nếu ăn nhiềuchất ngọt, và thói quen ăn nhiều vào bữa tối cũng là nguy cơ gây béo

Khẩu phần nhiều mỡ hoặc tổng nhiệt lượng cao đều dẫn đến TC và BP.Nghiên cứu của Lê Thị Hải và Trần Thị Hồng Loan cho thấy tổng nhiệt lượng

và tỷ lệ Lipid trong khẩu phần ăn của nhóm BP cao hơn hẳn của nhóm chứng[8]; [26] Hiện nay ở nước ta, khi mà nền kinh tế đang chuyển tiếp thì cấu trúcchế độ hàng ngày đang thay dổi rất nhanh: Tỷ lệ chất béo và chất ngọt caohơn và cũng đa dạng phong phú hơn Những người có thói quen ăn nhiều chấtngọt sẽ dễ bị béo phì Theo nghiên cứu khẩu phần của Nguyễn Tố Mai năm

1988, tỷ lệ P:L:G là 12:10:78 [27] Theo nghiên cứu khẩu phần ăn củaNguyễn Thị Ngọc Trâm năm 1992 tỷ lệ P:L:G là 14: 75 [35] Theo nghiên cứukhẩu phần ăn của Trần Thị Phúc Nguyệt năm 2002 tỷ lệ P:L:G là 15:23:62[31] Ta thấy năng lượng do Lipid cung cấp tăng nhanh từ 1992 đến 2002

Năng lượng do Protein cung cấp tăng từ từ Điểm chú ý là tỷ lệ nănglượng từ Glucid giảm dần theo thời gian (78 - 56 - 62%) Bên cạnh đó tỷ lệProtein động vật so với tổng số tăng lên khá nhanh (28,2 - 43,2-57,3%),nhưng tỷ lệ Lipid thực vật lại giảm đi (40,3-34,0-26,3%) [31] Đây chính làhình ảnh cơ cấu bữa ăn của nền kinh tế trong thời kỳ chuyển tiếp

Một số nghiên cứu cho thấy, trẻ bú sữa mẹ ít bị BP hơn trẻ bú bình.Đặc biệt sữa mẹ phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, giảm nguy cơ suydinh dưỡng và giảm nguyên nhân trung gian gây béo phì Tỷ lệ BP ở trẻ bú

Trang 19

mẹ chỉ bằng quá nửa bé bú biìn (2,8% so với 4,5%) Thời gian bú mẹ càng dàithì tỷ lệ BP càng giảm Những nghiên cứu trước đây cũng cho rằng, sữa mẹdường như có chứa những hoat chất sinh học hạn chế sự phát triển của tế bào

mỡ Trẻ bú sữa mẹ có nồng độ Insulin trong máu thấp hơn so với bú bình.Insulin là một Hocrmon có tác động quan trong trong việc tích mỡ Một số tácgiả thì cho rằng, do thức ăn nhân tạo có nhiều Protein và muốn hơn nên làmtăng áp lực thẩm thấu máu gây cảm giác khát ở trẻ, kích thích trẻ bú nhiềuhơn và tăng cân [11]

- Giảm hoạt động thể lực

Cùng với yếu tố ăn uống, sự gia tăng của tỷ lệ thừa cân - béo phì đi songsong với giảm hoạt động thể lực trong một lối sống tĩnh tại hơn Trước đây,khẩu phần mỡ tăng là yếu tố chủ yếu làm tăng TC, BP thì nay sự giảm hoạtđộng đã là một yếu tố chính Thời gian dành cho xem tivi, đọc báo, làm việcbằng máy tính, nói chuyện qua điện thoại, lái xe, ăn uống… cao hơn Sự giảmvận động tại nơi học tập, làm việc và tại gia đình còn nghiêm trọng hốn vớigiảm mức tập thể dục và luyện tập [52]; [60]

Trẻ em thừa cân ở thành thị có tỷ lệ cao hơn ở nông thôn Nguyên nhânchủ yếu là do tác động bởi kinh tế, thiếu cơ hội để vui chơi bên ngoài mà chỉ

ở nhà xem tivi, tìm thức ăn để ăn Trong khi trẻ ăn ở nông thôn, ngoài khí hậutrong lành, còn nhiều hoạt động ở ngoài trời, và sân nhà rộng

Nghiên cứu của klesges, tỷ lệ trao đổi chất trong suốt quá trình xem tivi

là hạ thấp một cách đáng kể và có mỗi quan hệ giữa TC, BP và thời gian xemtivi [63] Xem tivi thường kèm theo ăn vặt và bản chất các thức ăn này thườnggiàu calo Vì vậy xem tivi là sự kết hợp của tăng năng lượng ăn và giảm nănglượng tiêu hao ở trẻ

Theo nghiên cứu của Locard và cộng sự 1992 [62] cho thấy sự liên quangiữa ngủ ít và TC, BP Nguyên nhân chưa rõ nhưng theo một số tác giả có thể

Trang 20

đây là phản ánh kiểu sống của gia đình thiếu điều độ do thiếu hoạt động thểlực tạo nên những sống thấp điện não khi ngủ Cũng có thể do tiêu mỡ của cơthể là tối đa về đêm, và ít ngủ làm giảm tiêu mỡ [23]; [71].

Kiểu sống tĩnh tại có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới TC và BP Nhưvậy cần phải có các bước tích cực khuyến khích phát triển các hoạt động thểlực trong cộng đồng

- Yếu tố gia đình - di truyền

Yếu tố di truyền có vai trò nhất định đối với béo phì Những đứa trẻ béothường hay có cha mẹ béo, tuy nhiên, nhìn trên đa số cộng đồng, yếu tố nàykhông lớn có những gen quan trọng cấu thành [60] Có đến 20 gen có quan

hệ đến tính nhạy cảm với thừa cân, béo phì ở các cá thể khác nhau trong đó cógen Ob với sản phẩm là Leptin được chú ý nhất Khi có môi trường thuận lợicho béo phì, bao gồm chế độ ăn dư thừa và ít nhu cầu hoạt động thể lực, cácgen này có thể làm tăng tính mẫn cảm đối với thừa cân, béo phì Có nhiềunghiên cứu đã chứng minh rằng, cân nặng của trẻ liên quan đến bố mẹ đẻ củachúng Nguyên nhân ở 2161 trẻ em tiểu học 6-13 tuổi ở Thành phố HatYai -Thái Lan (1996) cho thấy, những gia đình có tiền sử TC, BP thì trẻ có khảnăng TC, BP cao gấp 3,1 lần so với những gia đình không có tiền sử TC, BP

Ở Đài Loan (1997), TE có bố mẹ TC, BP sẽ bị TC, BP gấp 5 lần so với nhómchứng, và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ TC, BP nhóm bệnh vànhóm chứng ở những gia đình có anh chị em ruột TC, BP [46] Ở nước ta theonghiên cứu của Lê Thị Hải tại Hà Nội cho thấy 51,8% trẻ TC, BP có bố hoặc

mẹ TC, BP 9,8% có cả bố và mẹ TC, BP So với nhóm chứng, tỷ lệ trẻ có bốhoặc mẹ TC, BP là 11,5% và cả 2 bố mẹ TC, BP là không có [8] Gen quy dịnh

TC, BP chiếm khoảng 25-40% nguyên nhân gây TC, BP [60]

- Yếu tố môi trường, văn hoá, kinh tế xã hội (KTXH)

Tình trạng thừa cân, béo phì còn liên quan đến tình hình kinh tế của gia

Trang 21

đình và tình trạng văn hoá xã hội Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ người béo

ở tầng lớp nghèo thường thấp (do thiếu ăn, lao động chân tay nặng, phươngtiện đi lại khó khăn) và TC, BP thường gặp ở tầng lớp KTXH cao hơn Ở cácnước đã phát triển, có mỗi quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tình trạng KTXH với TC,

BP, khi thiếu ăn không còn phổ biến nữa thì tỷ lệ TC, BP lại thường cao ởtầng lớp nghèo, ít học so với ở tầng lớp trên [41] Nước ta cũng như nhữngnước đang phát triển, phần lớn cha mẹ đều nghĩ rằng trẻ béo là khoẻ mạnhhơn, béo là biểu hiện sự giàu có, vì thế nên thường khuyến khích trẻ ăn đểtăng cân

Theo nghiên cứu của Lê Quang Hùng 1999 [14], cân nặng lúc để của trẻ

TC, BP cao hơn nhóm bình thường có ý nghĩa thống kê với (p < 0,01) Người

ta còn nhận thấy những đứa trẻ có cân nặng sơ sinh hoặc khi một tuổi thấp thì

về sau, mỡ có khuynh hướng tập trung ở bụng Một công trình nghiên cứu ở

TE 3-6 tuổi và 7-9 tuổi ở 4 nước cho thấy có mỗi quan hệ có ý nghĩa giữa tìnhtrạng thấp còi và thừa cân Tuy cơ chế còn chưa rõ ràng nhưng phát hiện nay

có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng quan trọng Ở các nớc nghèo, số đông TE bịthấp còi và thiếu cân nhưng khi thu nhập tăng, điều kiện sống thay đổi, chúng

dễ dàng trở nên TC, BP mà chúng ta đều biết, phòng chống TC, BP ở TEcũng vất vả không kém gì phòng chống SDD, thiếu cân

Từ một xã hội thiếu ăn sang đủ ăn, đời sống kinh tế tăng nhanh, người ta

có xu hướng ăn nhiều hơn so với nhu cầu Một chế độ ăn đậm độ năng lượngcao, phối hợp với giảm hoạt động thể lực sẽ dẫn tới thừa cân và béo phì [24]

- Thừa cân, béo phì nguyên nhân do ngủ ít

Ngủ ít cũng được tìm thấy như một yếu tố nguy cơ cao ở trẻ thừa cân,béo phì [65] Nguyên nhân chưa rõ, nhưng theo một số tác giả, có thể đây làmột phản ánh của kiểu sống gia đình thiếu điều độ từ: ngủ tới ăn, hoặc dothiếu hoạt động thể lực tạo những sóng thấp trên điện não khi ngũ của trẻ,

Trang 22

cũng có thể do hoạt động tiêu mỡ của cơ thể là tối đa về đêm và sự ngủ ít làmgiảm tiêu mỡ nói chung [40].

- Thừa cân - béo phì do nguyên nhân bệnh tật

Một số bệnh tật cũng là nguyên nhân dẫn tới thừa cân - béo phì chủ yếu

là các bệnh liên quan đến vùng dưới đồi não, nơi có những trung khu điềukhiển sự ăn uống của con người [68], [72] Các bệnh não như bị khối u, viêmnhiễm, thấm dịch, phù nề; các bệnh mạch máu não như dị thường mạch máu,

u mạch máu, xuất huyết, tắc mạch, đặc biệt là các chấn thương sọ não do tainạn giao thông, do va đập sẽ ảnh hưởng không tốt đến các chức năng vùngđồi thị và dưới đồi thị dẫn đến các triệu chứng ăn nhiều, uống nhiều, ít vậnđộng, do đó làm cho cơ thể béo ra Những người béo do bệnh não thường làbéo đều toàn thân [52], [56], [76]

Ngoài ra, những người có bệnh nội tiết làm cho việc chuyển hoá chất mỡ

bị rối loạn, những phụ nữ bị bệnh bộ phận sinh dục (cắt buồng trứng, tửcung…) rất dễ bị phát phì [11]; [43]; [67]; [73]

- Thừa cân - béo phì nguyên nhân do mẹ nhiều tuổi

Một số bằng chứng cho thấy phụ nữ lớn tuổi mới sinh con lần đầu thìđứa trẻ thường có nguy cơ bị thừa cân - béo phì cao hơn Đa số phụ nữ ngàynay sinh con đầu lòng ở tuổi rất muộn, điều này cũng đã góp phần làm tăng tỷ

lệ thừa cân - béo phì ở trẻ em [6], [30], [64], [68] Việc làm mẹ muộn là mộtnhân tố nguy cơ của thừa cân - béo phì, vì độ tuổi sinh nở có liên quan đếnlượng mỡ cơ thể, đặc biệt là khoảng thời gian giữa hai lần sinh tăng Quy môgia đình giảm, những đứa con đầu lòng luôn chiếm sự chia sẻ lớn hơn và sựkết hợp giữa mẹ già - con muộn, đặc biệt là con một nhiều hơn có thể gópphần vào làm tăng nguy cơ thừa cân - béo phì [7], [30], [68]

Ngoài ra, thừa cân - béo phì còn do một số nguyên nhân khác như:

- Bỏ thuốc lá: Hút thuốc lá có thể sẽ giảm cân Khi bỏ thuốc lá thì cơ thể

Trang 23

tăng cân Khi cai thuốc lượng adrenalin hạ xuống, lượng isulin tăng lên, hệthống tim mạch đỡ bị kích thích, sự oxy hoá gluco dễ dàng hơn Nhờ đó cơthể lợi được khoảng 500calo /ngày dẫn tới việc tăng cân.

- Giới tính :lượng mỡ trong cơ thể bình thường chiếm khoảng 12% trọnglượng ở phái nam ,25% ở nữ (theo [27]) Như vậy trong cơ thể nữ thường cólượng mỡ đôi ở cơ thể nam

- Tuổi tác : Tuổi tác cũng liên quan đến sự gầy béo của cơ thể

1.2.4 Hậu quả của thừa cân -béo phì

Thừa cân -béo phì đang là mối đe doạ nhgiêm trọng đến sức khoẻ conngười TC,BP là một trong những yếu tố nguy cơ chính của các bệnh mãntính không lây như bệnh mạch vành ,tăng huyết áp ,viêm xương khớp,sỏimật,bệnh tiểu đường typ II không phụ thuộc Insulin TC,BP thường kết hợpvới tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong và TC,BP cũng không tốt cho sức khoẻ

-Thừa cân - béo phì và đối với bệnh tim mạch

Bệnh tim mạch bao gồm bệnh mạch vành, đột quỵ và các bệnh mạchngoại vi TC, BP là một yếu tố nguy cơ độc lập với bệnh mạch vành, là yếu tốbáo trước quan trọng này, chỉ đưứn sau tuổi và rối loạn chuyển hoá Lipid.Nguy cơ này cao hơn khi tuổi còn trẻ mà béo bụng Hơn thế nữa, tử vong dobệnh mạch vành đã tăng lên khi thừa cân, dù chỉ 10% so với trung bình.Nghiên cứu của Freedman DS cho thấy béo phì ở TE có liên quan đến yếu tốnguy cơ bệnh mạch vành ở tuổi người lớn [53] Cả huyết áp tâm thu và tâmtrương đều tăng khi BMI tăng Những người béo có nguy cơ tăng huyết ápcao hơn người bình thường Nguy cơ này càng cao thì tuổi còn trẻ và thờigian càng kéo dài Người ta nhận thấy giảm 7,5mmHg huyết áp tâm trươngtrong khoảng 70-110mmHg sẽ giảm được 29% nguy cơ bệnh mạch vành và46% nguy cơ đột quỵ không phụ thuộc theo giới, tuổi và chủng tộc [24].Huyết áp tâm thu còn liên quan dương tính với tỷ lệ mỡ cơ thể và BDNGD

Trang 24

dưới xương bả vai Những yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch đã ảnh hưởnglên trẻ BP từ tuổi tiền dậy thì [50] Theo Trần Văn Huy, BP cũng góp phầnvào sự tăng huyết áp một cách có ý nghĩa so với nhóm chứng [16].

Mối liên quan giữa TC, BP với đột quỵ chưa được chứng minh như đốivới bệnh mạch vành Ở đây, người ta thấy mối liên quan giữa tỷ số vòng eo/vòng mông (VE/VM) với đột quỵ tỏ ra chặt chẽ hơn so với chỉ số BMI và cáckích thước nhân trắc khác VE/VM có mối liên quan với mỡ nội tạng trongbụng Tăng VE/VM đi kèm với tăng Glucose, Insulin, Triglycerid, giảmLiporotein có tỷ trọng cao (HDL-C: High Density Lipoprotein Cholesterol) vàtăng Lipoprotein có tỷ trọng thấp trong máu (LDL-C: Low DensityLipoprotein Cholesterol), là nguy cơ cho bệnh mạch vành [26] Người ra cũngnhận thấy một tiền sử TC, BP kéo dài có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn là béo ởtuổi trung niên [24]

- Thừa cân - béo phì đối với bệnh tiểu đường

Có mối liên quan chặt chẽ giữa TC, BP và bệnh tiểu đường không phụthuộc Insulin [61] Nguy cơ bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin tăng lênliên tục khi BMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm Một nghiên cứu gần đâycho thấy để có thể giảm tới 65% trường hợp bệnh tiểu đường không phụthuộc Insulin ở nam và 74% ở nữ nếu BMI không vượt quá 24 Các nguy cơ

đó tiếp tục tăng lên khi TC, BP ở thời kỳ TE và thiếu niên, tăng cân liên tục,hoặc kéo bụng Khi cân nặng giảm, khả năng dung nạp Glucoza tăng, sựkháng lại Insulin giảm

- Thừa cân béo phì đối với bệnh sỏi mật

TC, Bp làm tăng nguy cơ bị sỏi mật ở mọi lứa tuổi và giới gấp 3-4 lần,nguy cơ này cao hơn khi mỡ tập trung quanh bụng Ở người TC, BP cứ 1kg

mỡ thừa làm tăng tổng hợp 20mg Cholerterol/ ngày Tình trạng đó làm tăngbài tiết mật, tăng mức bão hoà Cholesterol trong mật cùng với mức cơ động

Trang 25

của túi mật giảm dần tới bệnh sỏi mật

- Thừa cân - béo phì đối với bệnh xương khớp

Lớp mỡ dư ở người thừa cân - béo phì có ích như một lớp bảo vệ cho cáckhớp và xương Mặt khác, thừa cân - béo phì cũng gây ra những điều bấtthường cho bộ xương và các khớp (theo [11]; [37], [81]) như sau:

Khi đứng, hai chân của người béo phì không được thẳng, các khớp đầugối thường bị lệch do lớp thịt và mỡ dày ở hai đùi trong đẩy xương đùikhuỳnh ra hai bên một cách bất thường Bởi vậy, người béo phì có nhiều khảnăng bị viêm và sưng khớp đầu gối gấp 3 lần so với người bình thường Hiệntượng viêm này cũng hay xẩy ra ở các ngón tay Trọng lượng cơ thể nặng quákhiến cho cột sống và các khớp xương khác của cơ thể phải gồng gánh quásức nên hiện tượng đau khớp thường xẩy ra Ngoài ra, thoái hoá khớp, đauthắt lưng xẩy ra khi trọng lượng cơ thể tăng thì sức nặng đè lên các khớp cànglớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối, cổ chân làm cho các khớp nàysớm bị tổn thương và lão hoá nhanh Hậu quả là gây đau đớn và khó khăntrong vận động, sinh hoạt hằng ngày của người bệnh

Theo Nguyễn Thị Lâm (theo [27], [28]) cho thấy thừa cân - béo phì liênquan với sự hình thành bệnh viêm khớp xương mãn tính và bệnh gout Ở phụ

nữ béo phì trong và sau thời kỳ tiền mãn kinh, có biểu hiện đau khớp gối.Tăng nguy cơ mắc bệnh gout với béo phì có thể liên quan với sự tăng axit urictrong máu

- Thừa cân - béo phì và bệnh hô hấp

Sự tích tụ mỡ ở vùng cơ hoành, ở các xương sườn và ở bụng khiến cholồng ngực giãn nở khó khăn Sức căng của thành ngục bị giãn làm cho tiêuhao năng lượng khi thở tăng lên khoảng 30% ở trường hợp béo phì đơn thuần

Tỷ lệ này có thể tăng gấp đôi hoặc gấp ba khi có thêm sự giảm thông khí ởphế nang Lồng ngực co giãn khó làm giảm thể tích khí dự trữ nên dung tích

Trang 26

toàn thể (ở cả lần thở ra và hút vào) đều bị giảm, nhất là ở người béo phì, dẫntới sự giảm oxy trong máu, kích thích người bệnh thở gấp hơn Nhờ có việctăng tần số thở (số lần thở) mà lượng khí cacbônic được thải ra vẫn ở mứcbình thường và không bị tích nhiều trong máu (theo [37], [72], [76])

Thừa cân - béo phì làm giảm cấu tạo và chức năng hô hấp dẫn tới giảmsinh lý hô hấp Ở người thừa cân - béo phì sự làm việc về hô hấp tăng, chủyếu là kết quả của sự gắng sức quá nhiều vào lồng ngực do hậu quả của sựtích luỹ tế bào mỡ xung quanh xương sườn, bụng và cơ hoành Vì vậy, khóthở trong khi ngủ xẩy ra trên 10% đối với phụ nữ và nam giới có BMI > 30hoặc hơn [11]; [37], [48] Có tới 65 - 75% người tắc nghẽn thở trong khi ngủ

là người thừa cân - béo phì Khó thở khi ngủ có ở 77% người có BMI > 40.Khó thở khi ngủ về đêm gây ra buồn ngủ ngày, tăng andritcarbonic huyết, đauđầu buổi sáng, tăng huyết áp phổi và thậm chí giảm dịch não thất phải (WHO

2001 - theo ( theo [27]) Do những nguyên nhân sau đây:

- Mỡ tích tụ trong ổ bụng và thành ngực nên hạn chế vận động của cơhoành và các cơ hô hấp thành ngực

- Mỡ lắng đọng trong thành phê nang và các khí, phế quản nên sự thôngkhí ở phổi bị giảm

- Mỡ lắng đọng ở cổ, thân lưỡi phì to và cuống lưỡi sa xuống làm chođường hô hấp bị tắt với những mức độ khác nhau

- Thừa cân - béo phì ảnh hưởng đến tuổi thọ

Thừa cân - béo phì gây ra nhiều chứng bệnh làm giảm tuổi thọ Nhất làngười thừa cân - béo phì có tỷ lệ mắc bệnh tim, tắc nghẽn mạch máu não cao,những căn bệnh như nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp… đều rất phổ biến Vìvậy, tuổi thọ của những đối tượng này giảm khoảng từ 4 đến 8 năm so vớingười bình thường, chưa kể đến những trường hợp đột tử (theo [11], [71],[72], [76])

Trang 27

Qua nghiên cứu người ta thấy, cứ tăng 1kg so với trọng lượng cơ thể lý

sẽ bị giảm thọ 8 tháng tuổi và ở tất cả các lứa tuổi, nếu trọng lượng cơ thểcàng tăng thì tuổi thọ càng giảm (theo [37]) Nhóm người có cân nặng vượtquá mức bình quân từ 30-40% thì mức tử vong tăng 40%; nếu vượt quá mứctrên 40% thì tỷ lệ tử vong tăng tới 90% Ở lứa tuổi 45, nếu trọng lượng cơ thểthừa 11kg thì sẽ giảm 1/4 và nếu thừa 23kg thì sẽ giảm 1/2 cuộc sống còn lại(theo [11])

- Thừa cân - béo phì đối với sức khoẻ trẻ em

Cần quan tâm đến các hậu quả nhiều mật của TC, BP ở TE Nguy cơ đầutiên của TC, BP ở TE là khả năng kéo dài TC, BP đến tuổi trưởng thành vớicác hậu quả của nó, đặc biệt là các bệnh tim và tiểu đường Những nghiên cứugần đây ở Mỹ về TC ở thanh thiếu niên đã chỉ ra: Trẻ có W/H cao, hay BMIcao có nguy cơ gia tăng đối với một số bệnh mãn tính ở người lớn và nguy cơ

tử vong tăng Các nghiên cứu theo chiều dọc cũng cho thấy BMI tăng ở thanhthiếu niên sẽ dự đoán xẩy ra sớm những nguy cơ của các bệnh mãn tính, và

TC, BP khởi phát sớm có ảnh hưởng lớn đến bệnh tim mạch hơn là khởi phátmuộn (theo [79]) Sự kéo dài của TC, Bp cũng dễ xẩy ra khi TC, BP ở tuổi TElớn, và tuổi thiếu niên, mức độ BP càng nặng Các biểu hiện rốn loạn chuyểnhoá Lipid, tăng huyết áp và kháng Insulin hay gặp ở TE béo phì Các biếnchứng thường gặp ở TE béo phì, theo một số tác giả là đau xương khớp, tănghuyết áp, rối loạn hô hấp như ngáy, khó thở khi gắng sức [3]

Trang 28

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu một số chỉ tiêu như chiều cao đứng, cân nặng và BMI của

1674 ở trẻ 6-11 tuổi tại 3 Trường tiểu học thuộc Huyện Diễn Châu Phát hiện

60 người thừa cân - béo phì trong đó có 39 nam và 21 nữ

2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Dựa vào phương pháp phân loại TC-BP của các tác giả ,chúng tôi tiếnhành đo một số chỉ số nhân trắc học (chiều cao đứng, cân nặng, tính BMI) đểxác định người TC-BP Sau đó tiến hành đo một số chỉ số hình thái, sinh lý ở

60 người đã xác định bị TC-BP.Sau đó xem ảnh hưởng đến các tố chất nhanh,mạnh, và bền

Trang 29

+ Chiều cao đứng: Đo bằng thước gỗ, có độ chia độ tới mm Chiều cao

3 tr êng tiÓu häc thuéc huyÖn DiÔn Ch©u

Tr êng tiÓu häc ThÞ trÊn Tr êng tiÓu häc DiÔn H¶i Tr êng tiÓu häc DiÔn l©m

340 em

khèi líp 1

330 em khèi líp 2

360 em khèi líp 3

329 em khèi líp 4

315 em khèi líp 5

Tæng sè chän ® îc 1674 em

MÑ trÎ TC,

BP

TrÎ TC, BP

TrÎ b×nh th êng

MÑ trÎ BT

C¸c yÕu tè liªn quan TC, BP

Trang 30

được ghi theo centimét với 1 số lẻ Để thước đo theo chiều thẳng đứng, sáttường, vuông góc với mặt đất nằm ngang Người được đo bỏ giàu dép, đứngquay lưng vào tường sao cho gót chân, mông, vai và đầu theo một đường thẳng,

áp sát vào thước đo đứng, mặt nhìn thẳng theo một đường thẳng nằm ngang, haitay buông thỏng theo thân mình Kết quả được ghi theo cm với một số lẻ

+ Cân nặng: Sử dụng cân Microtois đã được chuẩn hoá (độ cân 0,1 độ) trọnglượng cơ thể được ghi theo kg với 1 số lẻ Cân được kiểm tra và chỉnh cân về vị trícân bằng ở số 0 trước khi cân Cân được đặt ở vị trí bẳng phẳng, ổn định, học sinhkhi cân được cởi bỏ áo khoác ngoài và không đi giày, dép, mũ, nón Học sinhđược cân đứng ở giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng đượcphân bố đều có cả hai chân Kết quả được ghi theo kg với một số lẻ

+ Vòng bụng và vòng mông: Đo bằng thước dây không co giãn, kết quảđược ghi theo centimét với 1 số lẻ

* Vòng bụng: vị trí đo ở trên rốn, đo sau khi đối tượng vừa ra

* Vòng mông: Đo tại vùng lớn nhất của mông

Tính chỉ số BMI = Cân nặng/ (cao đứng)

Trang 31

-Tố chất mạnh: Thông qua sức bật cao tại chỗ không vung tay.

-Tố chất bền: Thông qua hoạt động 50m để thể hiện sức bền và khả năngchịu đựng, dẻo dai của trẻ

2.3.4 Phương pháp khống chế sai số

- Chọn ngẫu nhiên cỡ mẫu đủ lớn, nhằm hạn chế sai số ngẫu nhiên

- Có các định nghĩa, tiêu chuẩn, chỉ tiêu rõ ràng để phân loại đúng tìnhtrạng dinh dưỡng, lựa chọn đúng nhóm bệnh, nhóm chứng

- Kỹ thuật đo chính xác Các công cụ thu thập thông tin đều được thửnghiệm và có độ chính xác cao

- Bộ câu hỏi rõ ràng, ngôn ngữ dễ hiểu

- Giám sát chặt chẽ toàn bộ quá trình nghiên cứu

2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu được phân tích, trình bày theo bảng tần số, tỷ lệ, trung bình.Biểu diễn bằng đô thị, bảng biểu Sử dụng phần mềm vi tính Epi Info 6.0 vàchương trình SPSS

Trang 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 Thực trạng thừa cân béo phì ở học sinh 6-11 tuổi ở 3 trường tiểu học thuộc huyện Diễn Châu

Bảng 3.1: Thực trạng thừa cân - béo phì ở trẻ 6-11 tuổi ở 3 trường tiểu học thuộc

Huyện Diễn Châu theo giới

Trang 33

0 1 2 3 4 5 6

Tỷ Lệ %

Độ Tuổi

Nữ Nam

Biểu đồ 3.1:So sánh tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh 6-11 tuổi theo giới

Bảng số liệu 3.1 và biểu đồ 3.1 cho thấy

Ở trẻ nam tỷ lệ thừa cân, béo phì tăng dần theo độ tuổi 6-11 tuổi

Ở độ tuổi 7 tuổi tỷ lệ này ở nữ giảm nhưng nam lại tăng

Trong cùng dộ tuổi tỷ lệ nam thừa cân, béo phì cao hơn nữ

Mức độ chênh lệch về thừa cân, béo phì ở nam nữ ở độ tuổi 7,8 và 10tuổi là nhiều Còn các độ tuổi khác ít hơn

Chung cho cả 6-11 tuổi tỷ lệ thừa cân ở nam là 3,2% ở nữ là 2,1%

Tỷ lệ béo phì ở nam là 1,14% và nữ là 0,62%

Thừa cân, béo phì ở nam là 4,5%; ở nữ là 2,61%

Ở độ tuổi 6-11 tỷ lệ thừa cân, béo phì chung cho cả 2 giới là 3,6%

Trang 34

Bảng 3.2: Thực trạng thừa cân - béo phì ở trẻ 6-11 tuổi ở 3 trường tiểu học thuộc Huyện

Tỷ lệ %

Độ Tuổi

Thừa Cân Béo Phì

Biểu đồ 3.2: So sánh tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ 6-11 tuổi

Trang 35

Tỷ Lệ %

Độ Tuổi

Biểu đồ 3.3: So sánh tỷ lệ thừa cân - béo phì giữa các độ tuổi khác nhau

Kết quả nghiên cứu ở bảng số liệu 3.2 và biểu đồ 3.2 và biểu đồ 3.3 chothấy:

- Ở độ tuổi 6-11 tuổi tỷ lệ thừa cân, béo phì tăng dần theo tuổi

- Chung cho các độ tuổi tỷ lệ thừa cân 6-11 tuổi là 2,7% và tỷ lệ béophì là 0,9% Xét riêng tỷ lệ thừa cân, béo phì đều tăng dần từ 6-11 tuổi

Chung cho cả 2 giới tỷ lệ thừa cân, béo phì đạt cao nhất ở lứa tuổi 11tuổi chiếm tỷ lệ 4,6% (Với tỷ lệ thừa cân là 3,33% và béo phì là 1,33% vàthấp nhất ở độ tuổi 7 tuổi (tỷ lệ thừa cân là 2,83% và béo phì là 0,8%)

Ở độ tuổi 6-11 tuổi tỷ lệ chung của thừa cân - béo phì tăng dần theotuổi từ 3,14% đến 4,6%

Trang 36

3.2 Một số chỉ số phát triển hình thái ở trẻ em thừa cân béo phì lứa tuổi 6-11 tại 3 trường tiểu học thuộc huyện Diễn Châu

3.2.1 Chiều cao đứng

Chiều cao đứng là một chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá sự phát triểncủa cơ thể trẻ em Sự tăng kích thước cơ thể theo chiều cao thể hiện sự pháttriển của xương trong quá trình tăng trưởng Chiều cao là một trong các chỉ sốphản ánh trung thành chất lượng cuộc sống và là bằng chứng thể hiện sựchăm sóc dinh dưỡng cho cơ thể

Bảng 3.3: Chiều cao đứng trẻ TC-BP và trẻ bình thường ở các lứa tuổi 6-11

tại 3 trường Tiểu học thuộc Huyện Diễn Châu

Nhìn vào bảng 3.3 ta thấy chiều cao đứng của nam và nữ ở trẻ TC-BP

và nhóm chứng lứa tuổi 6-11 đều tăng dần theo tuổi .Chiều cao đứng củanam cao hơn của nữ Tất cả đặc biệt có ý nghĩa với p<0,001

Trang 37

Và không có sự khác biệt về chiều cao đứng giữa trẻ TC-BP và trẻ bình thường.

3.2.2 Cân nặng

Cân nặng nói lên khối lượng cơ thể hay độ lớn của toàn bộ cơ thể ,nó liênquan đến mức độ hấp thu chất dinh dưỡng và tỷ lệ giữa hấp thu và tiêu hao.Trẻ em được nuôi dưỡng tốt sẽ tăng cân.Do đó cân nặng sẽ phần nào nói lêntình trạng thể lực ,dinh dưỡng và sự tăng trưởng phát triển của cơ thể trẻ.Bảng 3.4: Chỉ số cân nặng trẻ TC-BP và trẻ bình thường các lứa tuổi 6-

11 tuổi, tại 3 trường Tiểu học huyện Diễn Châu

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Hoàng Thị Minh Thu, 2003. Thực trạng TC-BP ở trẻ 6-11 tuổi và các yếu tố liên quan ở 3 trường tiểu học thuộc Quận Cầu Giấy. Luận văn thạc sĩ y tế công cộng .Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng TC-BP ở trẻ 6-11 tuổi và các yếu tố liên quan ở 3 trường tiểu học thuộc Quận Cầu Giấy
2.Trần Thị Thành, 2007. Nghiên cứu thực trạng và một số chỉ số sinh học ở người thừa cân-béo phì độ tuổi 45-65 tại Thành Phố Vinh-Nghệ An.Luận văn thạc sĩ sinh học .Trường Đại Học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và một số chỉ số sinh học ở người thừa cân-béo phì độ tuổi 45-65 tại Thành Phố Vinh-Nghệ An
3. Tạ Văn Bình, 2001. Bệnh béo phì - nguy cơ và thái độ của chúng ta. Tạp chí Y học thực hành số 12. Bộ Y tế xuất bản tr 16-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh béo phì - nguy cơ và thái độ của chúng ta
4. Nguyễn Ngọc Hợi, 1995. Điều tra sự phát triển thể chất của học sinh .Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra sự phát triển thể chất của học sinh
5. Bộ Y tế, Viện Dinh dưỡng, 2000. Vai trò của dinh dưỡng trong một số bệnh mạn tính” Cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người Việt Nam. NXB Y học 209 - 212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của dinh dưỡng trong một số bệnh mạn tính” Cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người Việt Nam
Nhà XB: NXB Y học 209 - 212
6.Đào Khang,Nguyễn Văn Nhận, 2003. Bệnh béo phì va cách điều trị ,Nhà xuất bản Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh béo phì va cách điều trị
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
7. Từ Giấy, Hà Huy Khôi, Từ ngữ và cộng sự, 1996. Một số chỉ tiêu giám sát về khẩu phần và tình trạng dinh dưỡng 1996. Tình hình dinh dưỡng và chiến lược hành động ở Việt Nam. NXB Y học tr89-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu giám sát về khẩu phần và tình trạng dinh dưỡng 1996. Tình hình dinh dưỡng và chiến lược hành động ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Y học tr89-98
8. Lê Thị Hải, 1997. Tìm hiểu tỷ lệ béo phì ở học sinh tại 2 trường Tiểu học nội thành Hà Nội. Tạp chí vệ sinh phòng dịch tập VII, số 2, tr 48-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tỷ lệ béo phì ở học sinh tại 2 trường Tiểu học nội thành Hà Nội
9. Lê Thị Hải, Nguyễn Thị Lâm, 2003. Thực trạng TC, Bp của trẻ 7-12 tuổi tại Hà Nội năm 2002. Tạp chí Y học Việt Nam, số 9, 10, tập 288+289 chuyên đề dinh dưỡng. Tổng hội Y học Việt Nam xuất bản. tr 25-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng TC, Bp của trẻ 7-12 tuổi tại Hà Nội năm 2002
10. Vũ Hưng Hiếu, Lê Thị Hợp, 2002. Thực trạng về một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tình trạng TCBP của học sinh tiểu học quận ĐỐng Đa - Hà Nội. Tạp chí y học thực hành. Số 48/2002, Bộ Y tế xuất bản. Tr 50-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng về một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tình trạng TCBP của học sinh tiểu học quận ĐỐng Đa - Hà Nội
12. Lê Thị Khánh Hoà, 1996. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếi tố liên quan ở trẻ em 3-6 tuổi tại một quận nội thành Hà Nội. Luận văn thạc sỹ dinh dưỡng cộng đồng. Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếi tố liên quan ở trẻ em 3-6 tuổi tại một quận nội thành Hà Nội
13. Lê Thị Hợp, 2003. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng TC và BP ở TE dưới 10 tuổi. Tạp chí Y học dự phòng, tập XIII, số 4 (61). Tổng hội Y dược học Việt Nam xuất bản tr 76 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng TC và BP ở TE dưới 10 tuổi
14. Lê Quang Hùng, Cao Quốc Việt, Đào Ngọc Diễn, 1999., Đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm béo phì ở trẻ em. Tạp chí Nhi khoa, tập 8 số 1. Tổng hội Y dược học Việt Nam xuất bản 30-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm béo phì ở trẻ em
15. Lưu Diễm Kiêu, 2004. Phòng chữa bệnh béo -tri thức cơ sở của bệnh béo ,(Dương Thu Ái, Nguyễn Kim Hanh dịch) ,Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chữa bệnh béo -tri thức cơ sở của bệnh béo
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
16. Trần Văn Huy (1992), Sự liên quan giữa mập phì và tăng huyết áp. Tạp chí Y học Việt Nam, số 5 tập 165. Tổng hội Y dược học Việt Nam 17-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự liên quan giữa mập phì và tăng huyết áp
Tác giả: Trần Văn Huy
Năm: 1992
17. Nguyễn Thị Kim Dung và cộng sự, 2002. Tình trạng TC và BP các tầng lớp dân cư thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1996 - 2001. Tạp chí Y học thực hành. Số 48, Bộ Y tế tr.22-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng TC và BP các tầng lớp dân cư thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1996 - 2001
20. Hà Huy Khôi, 1997. Phương pháp dịch tễ học dinh dưỡng. NXB Y học 32-57; 85-118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dịch tễ học dinh dưỡng
Nhà XB: NXB Y học 32-57; 85-118
21. Hà Huy Khôi - Từ Giấy, 1998. Dinh dưỡng hợp lý và sức khoẻ. Nhà xuất bản Y học 9-148; 177-307; 338-363 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng hợp lý và sức khoẻ
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học 9-148; 177-307; 338-363
22. Hà Huy Khôi, 1998. Góp phần xây dựng đường lối dinh dưỡng ở Việt Nam. Nhà xuất bản Y học 147 - 156; 176 - 179; 224 - 247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần xây dựng đường lối dinh dưỡng ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học 147 - 156; 176 - 179; 224 - 247
23. Hà Huy Khôi, 2001. Dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp. NXB Y học Hà Nội 1-383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội 1-383

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng đánh giá theo tiêu chuẩn của WHO và dành riêng cho Châu Á (IDI  và WPRO) - Thực trạng thừa cân   béo phì và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, thể lực và thể chất của học sinh ở một số trường tiểu học huyện diễn châu
ng đánh giá theo tiêu chuẩn của WHO và dành riêng cho Châu Á (IDI và WPRO) (Trang 13)
Sơ đồ 2: Sơ đồ bố trí nghiên cứu - Thực trạng thừa cân   béo phì và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, thể lực và thể chất của học sinh ở một số trường tiểu học huyện diễn châu
Sơ đồ 2 Sơ đồ bố trí nghiên cứu (Trang 27)
Bảng 3.1: Thực trạng thừa cân - béo phì ở trẻ 6-11 tuổi ở 3 trường tiểu  học thuộc Huyện Diễn Châu theo giới - Thực trạng thừa cân   béo phì và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, thể lực và thể chất của học sinh ở một số trường tiểu học huyện diễn châu
Bảng 3.1 Thực trạng thừa cân - béo phì ở trẻ 6-11 tuổi ở 3 trường tiểu học thuộc Huyện Diễn Châu theo giới (Trang 31)
Bảng 3.2: Thực trạng thừa cân - béo phì ở trẻ 6-11 tuổi ở 3 trường tiểu học  thuộc Huyện Diễn Châu - Thực trạng thừa cân   béo phì và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, thể lực và thể chất của học sinh ở một số trường tiểu học huyện diễn châu
Bảng 3.2 Thực trạng thừa cân - béo phì ở trẻ 6-11 tuổi ở 3 trường tiểu học thuộc Huyện Diễn Châu (Trang 33)
Bảng 3.3: Chiều cao đứng trẻ TC-BP và trẻ bình thường ở các lứa tuổi 6-11  tại 3 trường Tiểu học thuộc Huyện Diễn Châu - Thực trạng thừa cân   béo phì và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, thể lực và thể chất của học sinh ở một số trường tiểu học huyện diễn châu
Bảng 3.3 Chiều cao đứng trẻ TC-BP và trẻ bình thường ở các lứa tuổi 6-11 tại 3 trường Tiểu học thuộc Huyện Diễn Châu (Trang 35)
Bảng 3.6: Chỉ số BMI và thể trạng thay đổi theo tuổi và giới tính - Thực trạng thừa cân   béo phì và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, thể lực và thể chất của học sinh ở một số trường tiểu học huyện diễn châu
Bảng 3.6 Chỉ số BMI và thể trạng thay đổi theo tuổi và giới tính (Trang 39)
Bảng 3.7. Vòng bụng và vòng mông ở trẻ thừa cân ,béo phì - Thực trạng thừa cân   béo phì và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, thể lực và thể chất của học sinh ở một số trường tiểu học huyện diễn châu
Bảng 3.7. Vòng bụng và vòng mông ở trẻ thừa cân ,béo phì (Trang 44)
Bảng 3.8. Vòng ngực của trẻ thừa cân ,béo phì và nhóm đối chứng - Thực trạng thừa cân   béo phì và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, thể lực và thể chất của học sinh ở một số trường tiểu học huyện diễn châu
Bảng 3.8. Vòng ngực của trẻ thừa cân ,béo phì và nhóm đối chứng (Trang 44)
Bảng 3.10: Một số chỉ tiêu tim mạch của trẻ thừa cân - béo phì - Thực trạng thừa cân   béo phì và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, thể lực và thể chất của học sinh ở một số trường tiểu học huyện diễn châu
Bảng 3.10 Một số chỉ tiêu tim mạch của trẻ thừa cân - béo phì (Trang 47)
Bảng 3.11: Một số chỉ tiêu hô hấp ở trẻ TC-BP 6-11 tuổi - Thực trạng thừa cân   béo phì và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, thể lực và thể chất của học sinh ở một số trường tiểu học huyện diễn châu
Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu hô hấp ở trẻ TC-BP 6-11 tuổi (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w