Theo quy luật lão hóa của cơ thể , tuổi càng cao sức khỏe càngyếu, sức đề kháng càng giảm dẫn đến các bệnh lão khoa như tim mạch, hôhấp, tiêu hóa, tiết niệu, xương khớp, thần kinh...vì v
Trang 1TrƯờNG ĐạI họC vinh Khoa giáo dục thể chất
Khoá luận tốt nghiệp
Thực trạng tập luyện thể dục thể thao ở
nguời cao tuổi tại phờng hng dũng - thành phố vinh
Ngành s phạm giáo dục thể chất
Giáo viên hớng dân: ThS Đậu Bình Hơng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Khuyên
Lớp : 47A - GDTC
Vinh – 2010 2010
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Đậu Bình
H-ơng, ngời hớng dẫn, chỉ đạo, nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốtnghiệp cuối khoá này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa GDTC – 2010 Trờng
Đại học Vinh, cùng các cụ trong Ban Chủ nhiệm Câu Lạc bộ Ngời cao tuổiphờng Hng Dũng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốtnghiệp này
Trang 2Và qua đây cho tôi gửi lời cảm ơn tất cả bạn bè đồng nghiệp đã độngviên giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình nghiên cứu, thu thập xử lí số liệucủa đề tài.
Dù đã cố gắng hết sức mình nhng do điều kiện về thời gian và trình độcòn hạn chế, đề tài mới chỉ nghiên cứu trong phạm vi điều tra hẹp, không thểtránh khỏi những sai sót nhất định Vậy rất mong nhận đợc ý kiến đóng gópcủa thầy cô và các bạn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Theo phỏp lệnh của Nhà nước Việt Nam ra ngày 12/5/2000 quy địnhNCT nam nước ta từ 60 tuổi trở lờn và Nữ từ 55 tuổi trở lờn Đến kỳ họp thứ 5(20/5 - 20/6/2009), Quốc hội khoỏ XII quy định về độ tuổi để xỏc định NCTViệt Nam là 60 tuổi trở lờn ở cả nam và nữ (theo chuẩn quy định của Liờn
Trang 3hiệp quốc) Theo số liệu của Tổng cục thống kê đến 1/4/2007 nước ta cókhoảng 8,05 triệu NCT, chiếm 9,45% dân số và tuổi thọ TB Nam là 72 tuổi,
Nữ cao hơn Nam khoảng 4 – 5 tuổi Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là tuổi thọbình quân khoẻ mạnh lại thấp, chất lượng sức khoẻ NCT Việt Nam chỉ đứngthứ 116 trong số 174 nước trên thế giới
Theo quy luật lão hóa của cơ thể , tuổi càng cao sức khỏe càngyếu, sức đề kháng càng giảm dẫn đến các bệnh lão khoa như tim mạch, hôhấp, tiêu hóa, tiết niệu, xương khớp, thần kinh vì vậy, nhu cầu được chămsóc sức khoẻ đứng hàng đầu trong số những nhu cầu tâm lý tuổi già và đâycũng là vấn đề đang được Nhà nước, xã hội và gia đình hết sức quan tâm
Ngày nay đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần có nhiều tiến bộ và sựphát triển nhanh của y học,chế độ dinh dưỡng hợp lí nên tuổi thọ của NCTđược nâng lên, chất lượng cuộc sống NCT được quan tâm rất nhiều.Tuy nhiên
ở Việt Nam chúng ta điều kiện kinh tế xã hội còn gặp rất nhiều khó khăn nênviệc chăm sóc sức khoẻ NCT còn nhiều hạn chế,đặc biệt là ở các vùng nôngthôn Các thiết bị hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ cho NCT trên thị trường hiện nayrất nhiều nhưng không phải ai cũng có điều kiện để sử dụng nó Vì vậy biệnpháp chăm sóc sức khoẻ tốt nhất cho NCT hiện nay theo Vũ Như Tô là là việctập luyện TDTT
Luyện tập TDTT nhẹ nhàng giúp NCT lưu thông và điều hoà các mạchmáu trong cơ thể, hạn chế sự lắng đọng các phân tử Cholesterol ở thành mạchmáu – nguyên nhân chính gây xơ vữa mạch máu và các bệnh tim mạch Sựvận động vừa có tác dụng sử dụng hết những lượng mỡ dư thừa làm đầu óctỉnh táo, thư thái, làm chậm quá trình tiến tới bệnh thoái hoá khớp, loãngxương, teo cơ…
Trang 4Để góp một phần nhỏ nhằm chăm sóc sức khoẻ NCT, chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu “Thực trạng tập luyện thể dục thể thao ở Người cao tuổi tại Phường Hưng Dũng, Thành phố Vinh”.
Mục tiêu của đề tài là :
- Điều tra tỷ lệ NCT và cơ sở vật chất phục vụ tập luyện TDTT của các câu lạc bộ tại phường Hưng Dũng thành phố Vinh
- Đánh giá thực trạng tập luyện TDTT ở NCT tại phường Hưng Dũng thành phố Vinh
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Tỷ lệ người cao tuổi và tình hình sức khoẻ của người cao tuổi thế giới
và Việt Nam.
1.1.1 Quy định tuổi của người cao tuổi
Điều 1 của pháp lệnh NCT số 23/2000/PL- UBTVQH10 ngày28/04/2000 quy định mốc tuổi của NCT ở Việt Nam là 60 tuổi cho cả 2 giới
Trang 5Liên hiệp quốc cũng quy định người có độ tuổi từ 60 trở lên được xác định làngười cao tuổi Tuy nhiên ở một số nước quy định độ tuổi NCT khi người đó
có cống hiến gì cho gia đình và xã hội hay không
1.1.2 Tỷ lệ và thực trạng đời sống người cao tuổi ở Việt Nam
Tính đến ngày 01/04/2007 cả nước có trên 8,05 triệu NCT, chiếmkhoảng 9,45% dân số, trong đó: người từ 60 tuổi là 3,92 triệu, chiếm 4,61%dân số; người từ 70-79 tuổi là 2,9 triệu, chiếm 3,41% dân số; người từ 80 tuổitrở lên là 1,17 triệu, trong đó có 9.830 người từ 100 tuổi trở lên, gần đếnngưỡng của già hóa dân số, bởi theo quy định của thế giới, một nước có 10%NCT trong tổng số dân được coi là nước già hóa dân số Già hóa dân số ởViệt Nam đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, quy mô càng lớn
Theo điều tra của viện nghiên cứu NCT năm 2000 về tình trạng sứckhỏe của NCT, có 4,9% NCT hiện nay cảm thấy mình khỏe mạnh, 48% cho
là sức khỏe của trung bình và gần 50% cho là sức khỏe yếu Trong đó nữ cósức khỏe yếu hơn nam giới Có 21% số NCT bị ốm 1 đợt/năm, 20% bị ốm2đợt/năm Trong điều tra năm 2002, trung bình ở NCT ốm 2,4 đợt trong 12tháng và số ngày ốm trong năm là 17 ngày
Các bệnh thường gặp ở NCT nước ta là bênh hô hấp, tim mạch, tiêuhóa, thần kinh và xương khớp Tỷ lệ NCT khi bị ốm đau đến y tế cơ sở khám
Trang 6chữa bệnh là cao nhất 34%, sau đó là ở tuyến trên; chữa trị tại nhà là 13% vàđến y tế tư nhân 6%.
* Thực trạng đời sống người cao tuổi ở Việt Nam
• Về trình độ học vấn và thu nhập
Trong năm 2005, trên toàn quốc có khoảng 2554 giáo sư, phó giáo sưtrên 60 tuổi, khoảng 80.000 người trên 60 tuổi có học vị từ đại học trở lên Đây là những người có thu nhập tương đối ổn định
Những NCT có trình độ học vị từ công nhân kỹ thuật bậc cao trở lêncùng với những người cao tuổi được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hoặc trợcấp đặc biệt nhìn chung là những người có cuộc sống tương đối ổn định Theoước tính của vụ bảo trợ xã hội của Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội, tínhđến năm 2007 ở nước ta có khoảng 2 triệu người cao tuổi có thu nhập ổn địnhnói trên
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số lượng không nhỏ NCT không
có thu nhập và phải sống dựa vào con cháu và sự bảo trợ của xã hội NhiềuNCT vẫn phải tham gia vào các công việc khác nhau để kiếm sống Theo sốliệu từ Tổng Cục Thống Kê năm 2003 thì cứ 3 cụ ông thì có 1 cụ hoạt độngkinh tế, trong khi đó 5 cụ bà mới có 1 cụ hoạt động kinh tế, nhưng ở lĩnh vựcnội trợ thì cụ bà lại có tỷ lệ cao gấp 5 lần đàn ông
• Về tinh thần
Giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần ở NCT có một khoảngcách Dường như đời sống tinh thần của các cụ ít phụ thuộc vào kinh tế hơn.Một ngiên cứu về NCT với hỗ trợ của Traphaco cho thấy, đời sống vật chất ở
Hà Nội chắc chắn cao hơn Thanh Hóa nhưng tỷ lệ NCT ở Hà Nội cảm thấykhông thoải mái lại cao gấp 5 lần Thanh Hóa
Sau khi nghỉ hưu, NCT sinh hoạt tại các khối xóm, nên sự tiếp xúc,chia sẻ chủ yếu thông qua hoạt động giao tiếp và các tổ chức đoàn thể ở khối
Trang 7xóm nơi cư trú Nhưng do đặc thù công việc, thời gian và cách sống, nênNCT ở thành thị ít có điều kiện giao lưu với cộng đồng hơn nông thôn Mặc
dù về điều kiện kinh tế trung binh, điều kiện chăm sóc dinh dưỡng và y tế ởnông thôn thấp hơn nhiều so với thành phố, nhưng hầu hết NCT vẫn thíchđược sống ở nông thôn, nơi có đời sống tinh thần vui vẻ hơn
• Về tình trạng y tế và chăm sóc sức khỏe
Theo nghiên cứu của Đàm Viết Cương và cộng sự (2006) ở Viện Chiếnlược và chính sách y tế, NCT tại các tỉnh nghiên cứu ít có kiến thức về phòngchống 1số bệnh thường gặp như tăng huyết áp, đau khớp Khoảng hơn 45%người cao tuổi có kiến thức phòng bệnh cao hơn nam cao tuổi
Đối với ốm cấp tính, hình thức tự điều trị và sử dụng dịch vụ y tế tưnhân là hai hình thức phổ biến: khoảng 40% người cao tuổi sử dụng dịch vụ y
tế của nhà nước khi bị ốm Những người trên 85 tuổi có tỷ lệ sử dụng dịch vụbệnh viện thấp hơn 2 lần so với nhóm tuổi từ 60-64 do khả năng đi lại hạnchế
Khoảng cách tới cơ sở y tế, điều kiện kinh tế và tâm lý ngại làm phiềnđến con cháu là những yếu tố có ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ y tế củaNCT Hầu hết NCT mong muốn được khám chữa bệnh ở những cơ sở y tếgần nhà như khám tại nhà, khám ở cơ sở y tế tư nhân hoặc khám chữa bệnhtại trạm y tế xã, phường
Đối với những gia đình nhiều thế hệ, NCT được con cái quan tâm chămsóc tốt hơn so với trươc đây Tuy nhiên, do tình trạng đô thị hóa ở vùng nôngthôn hiện nay nên đã làm cho con cái ít có thời gian chăm sóc cha mẹ NCTchủ yếu chỉ được con cái chăm sóc khi ốm đau Tự chăm sóc là hình thức phổbiến đối với NCT hiện nay
Việc chăm sóc sức khỏe cho NCT hiện nay của nghành y tế mang tínhthụ động Hoạt động tuyên truyền giáo dục sức khỏe phổ biến kiến thức về
Trang 8chăm sóc sức khỏe cho NCT gần như chưa được thực hiện một cách có tổchức, có kế hoạch dựa trên mô hình bệnh tật cụ thể ở địa phương.
Về tình hình tập luyện thể dục thể thao
Nhận thấy tác dụng to lớn của việc tập luyện thể thao, hiện nay ngườicao tuổi ở nước ta đã tích cực tham gia tập luyện các môn thể thao phù hợpvới sức khỏe hay sở thích của bản thân Các môn thể thao dược NCT ViệtNam lựa chọn là đi bộ, cầu lông, bóng bàn, đánh cờ, các môn dưỡng sinh,…Trong đó các môn thể thao đi bộ và dưỡng sinh được lựa chọn nhiều nhất
1.1.3 Quy luật lão hoá của cơ thể con người
Theo quy luật lão hóa của con người, tuổi các cao thì hệ miễn dịch củacon người càng kém, kéo theo đó là sức khỏe giảm sút, dẫn đến sự già yếu vàbệnh tật
Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến sự già yếu là do gen di truyền Nhómnguyên nhân thứ 2 ảnh hưởng đến sự già yếu là thần kinh, tinh thần, sinh lý,thói quen sống, môi trường và xã hội
Quá trình già hoá xảy ra không đồng bộ và không đồng thời Có bộphận già trước, có bộ phận già sau, có bộ phận già nhiều, có bộ phận già ít Sựphát dục, trưởng thành và già hoá của mỗi người thì khác nhau, do vậy conngười có 2 loại tuổi: tuổi lý lịch và tuổi sinh học
Gần đây, các nhà nghiên cứu của Mỹ đã xác nhận cụ thể bảng thời giansuy thoái các bộ phận quan trọng trong cơ thể như sau:
* Sự già hoá của hệ hô hấp
Sự linh hoạt của phổi bắt đầu chậm dần sau tuổi 20 Đến tuổi 40, mộtvài người sẽ xuất hiện chứng thở dốc, hen suyễn Về cấu tạo, do xương lồngngực bị vôi hoá, cơ hô hấp teo lại, làm cho kích thước lồng ngực và độ giãn
nở của lồng ngực giảm đi, làm cho sự vận động ngày càng thêm khó khănkhiến không khí dễ lưu lại trong phổi, gây ra hen suyễn
Trang 9Các tế bào của đường hô hấp và của phổi đều bị xơ hoá, phế nang giảmđàn hồi Dung tích sống sau tuổi 60 giảm gần 2 lần so với tuổi thanh niên.Tần số thở tăng 20-30% và độ sâu hô hấp giảm, hấp thụ oxy giảm.
* Sự già hoá hệ thống thần kinh
Sự già hoá của thần kinh có thể đến sớm và trở thành các chứng bệnhthần kinh thường gặp ở người cao tuổi Những yếu tố nguy cơ già hoá bệnh lý
đã hình thành phát triển ngày từ giai đoạn tuổi chuyển tiếp và là những "biếnchứng" của các chứng bệnh nội khoa
Số lượng nơron thần kinh của não bộ bắt đầu giảm từ tuổi 20 Khi sắpchào đời, số lượng nơron thần kinh trong não đạt tới khoảng 1.000 tỉ nhưng từlúc 20 tuổi, số lượng này sẽ thấp dần theo năm tháng Đến lúc bạn 40 tuổi, sốlượng nơron thần kinh bắt đầu giảm đi nhiều hơn, tới 10 ngàn nơron/ngày, kếtquả là ảnh hưởng đến trí nhớ, tính điều hoà và các chức năng của não
Trong quá trình hoá già, trọng lượng của não giảm dần Lúc 85 tuổi,trọng lượng não giảm xuống còn 1.180-1060g, ở tuổi 25 trọng lượng nãokhoảng 1.400-1.260g Khả năng cảm thụ của não người già giảm (thị lực vàthính giác )
Sự dẫn truyền xung động thần kinh ở não người già giảm làm cho việchình thành các phản xạ chậm và yếu hơn Các quá trình hưng phấn và ức chếtrong hệ thần kinh mất cân bằng, độ linh hoạt thần kinh cũng giảm Việc hìnhthành định hình động lực ở người già cần thời gian dài, khả năng ngoại suygiảm
Về tâm lý, người già dễ bị kích động, khả năng tập trung chú ý và tính
ổn định cảm xúc đều giảm
* Sự già hoá hệ thống tim mạch
Những biến đổi do lão hoá ở hệ tim mạch (đặc biệt là xơ vữa độngmạch) là nguyên nhân góp phần gây ra các bệnh lý tim mạch ở người cao
Trang 10tuổi Đến tuổi 40, tim bắt đầu suy yếu Cùng với sự già đi từng ngày của cơthể, hiệu suất vận chuyển máu của tim tới toàn thân cũng theo đó kém dần.Nam giới trên 45 tuổi và nữ giới trên 55 tuổi có nguy cơ bộc phát bệnh tim làrất lớn.
Ở tuổi già, trọng lượng tim cũng giảm Tính hưng phấn, dẫn truyền và
co bóp của tim đều giảm dần trong quá trình già hoá Số lượng ty lạp thể, hàmlượng glycogen, cũng như khả năng tái tạo các chất cao năng như ATP và CPcủa cơ tim đều giảm
* Sự già hoá của các tố chất vận động.
Với sự lão hoá thần kinh và cơ, các tố chất vận động cũng bị lão hoá.rong đó, sức nhanh và sự mềm dẻo thoái hoá sớm xảy ra sau tuổi 15-16; tiếpđến, tố chất sức mạnh cũng giảm sút với mức độ cũng khác nhau Ví dụ, từ 20đến 50-60 tuổi, sức mạnh tối đa của cơ co bàn tay, cơ duỗi cẳng tay và vaigiảm sút Trong khi đó, sức mạnh các cơ khác bắt đầu giảm từ tuổi 30-35.Nguyên nhân của giảm sức nhanh là do giảm tính hưng phấn của các trungtâm thần kinh và của cơ, giảm sợi cơ nhanh II-A trong bắp cơ
Tố chất khéo léo giảm rất rõ cùng lứa tuổi Khả năng phối hợp và điềukhiển động tác, cảm giác lực cơ đều giảm sút
1.4 Tác dụng của luyện tập TDTT đối với sức khoẻ
Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã chứng minh tác hại của giảmvận động; ở NCT khả năng vận động thể lực do biến đổi sinh lí của cơ thể Sựgiảm vận động quá mức và bổ sung dinh dưỡng không hợp lí ở NCT sẽ làmgiảm nhanh sức khoẻ, dễ phát sinh bệnh tật và rút ngắn tuổi thọ Tập luyện thểthao rất cần đối với mọi người, đặc biệt là NCT Có nhiều biện pháp nhằmhạn chế quá trình lão hoá như: chế độ ăn uống, chế độ sinh hoạt, bảo đảm giấcngủ, dinh dưỡng, sử dụng thuốc…Nhưng luyện tập rất quan trọng, dễ thựchiện nhất, không tốn kém, không độc hại Tập luyện góp phần hạn chế những
Trang 11hậu quả của giảm vận động, tăng lưu thông máu, tăng cung cấp oxy cho tổchức, phục hồi hoạt động của hệ xương, cơ khớp, khôi phục hoạt động củacác hệ chức năng và khả năng thích nghi của cơ thể, mặt khác còn hạn chếmột số chứng bệnh và hạn chế thường gặp.
Luyện tập TDTT còn đem lại nguồn vui cho cuộc sống, thêm lạc quanyêu đời, tạo nên sự thoải mái về tinh thần Sinh hoạt trong các câu lạc bộ củaNCT có tác dụng động viên trao đổi kinh nghiệm, duy trì giao tiếp, hạn chếnỗi cô đơn, củng cố niềm tin là những yếu tố rất quan trọng đối với NCT
Theo học thuyết phản xạ vận động - nội tạng của R.M Mogendovichthì giữa hoạt động của bộ máy vận động và các cơ quan tuần hoàn, hô hấp, bàitiết có mối liên quan chặt chẽ Thiếu vận động, các mối liên hệ phản xạ thầnkinh bị rối loạn, dẫn đến rối loạn điều hoà hoạt động của hệ thống tim - mạch
và các hệ thống khác, rối loạn trao đổi chất và phát triển các bệnh thoái hoá
Do vậy, sử dụng các bài tập TDTT bù vào sự thiếu hụt vận động có tác dụngnâng cao sức dẻo dai, củng cố và tăng cường trạng thái chức năng của hệthống cơ, xương khớp, tim mạch và thần kinh Đặc biệt nâng cao trạng tháichức năng của hệ thống miễn dịch và máu, giúp cơ thể phòng chống bệnh tật
Thể dục chữa bệnh là phương pháp điều trị toàn diện, chủ động ,tíchcực vì nó huy động tiềm lực của chính bản thân người bệnh vào việc chữabệnh Biện pháp: các bài tập vận động thể lực và tập thở có định lượng vậnđộng; kết hợp chặt chễ giữa thể dục và vệ sinh và sinh hoạt hợp lí; sử dụngtriệt để các yếu tố thiên nhiên như khí hậu, ánh nắng, nước… áp dụng cácphương pháp xoa bóp chữa bệnh và xoa bóp hồi phục Nhiều công trình khoahọc chứng minh thể dục chữa bệnh làm tăng tác dụng của thuốc trong điều trị
y học
Hiệu quả chung quan trọng nhất của tập luyện TDTT là tăng tiêu haonăng lượng, nâng cao khả năng chịu đựng của cơ thể với các yếu tố bất lợi với
Trang 12môi trường bên ngoài như: các stress, nhiệt độ cao và thấp, thiếu oxy; nângcao khả năng miễn dịch không đặc hiệu, giúp cơ thể phòng chống được cácbệnh cảm cúm.
Nhiều nghiên cứu đã thấy rằng, tập luyện sức bền với liều lượng hợp lí
là một phương pháp hiệu quả chữa các bệnh suy nhược thần kinh, mất ngủnhờ kích thích tuyến dưới đồi tăng baì tiết có tác dụng giảm đau và an thần
Nhiều nhà tâm lí cho rằng, những người ưa thích tập luyện TDTT rènluyện sức khoẻ thường cởi mở và tự tin hơn, ít bị ảnh hưởng của các yếu tốstress, là một phương pháp tốt nhất để phòng chống một số bệnh tim mạchnhư THA và bệnh mạch vành
Tập luyện sức bền có tác dụng tăng quá trình trao đổi chất ở tế bào,tăng cường đào thải các chất độc ra khỏi cơ thể theo con đường bài tiết, hôhấp và tiêu hoá Tăng số lượng hồng cầu, hemoglobin, bạch cầu và kết quả làtăng độ bão hoà oxy máu, giúp cơ thể phòng chống bệnh tật
Đối với NCT do tiến trình lão hoá tự nhiên không ngừng diễn ra và lànguyên nhân gây suy giảm chức năng các hệ cơ quan trong cơ thể dẫn đếnbệnh tật Tập luyện sức bền làm cho tim co bóp có tác dụng đáp ứng nhữngthay đổi của cơ thể
Hiện nay, dưới sự chỉ định của cán bộ y tế và hướng dẫn tập luyện củacán bộ TDTT, có rất nhiều bệnh được chữa trị bằng phối hợp thuốc và tậpluyện TDTT Như bài tập cho người thừa cân béo phì, đau lưng, tiểu đường,khớp, mạch vành, cao huyết áp, hen phế quản…
Nhiều nhà khoa học bằng sự nghiên cứu đã đưa ra nhận định, hoạt độngTDTT đặc biệt có hiệu quả khi kết hợp với chế độ ăn uống hợp lí Chính vìthế mà ở các nước phát triển hiện nay, các phong trào tập luyện TDTT vì sứckhoẻ đã phát triển rầm rộ cả về quy mô lẫn nội dung
Trang 13Như vậy để có được cuộc sống vui, khỏe, có ích, người cao tuổi cầnthường xuyên luyện tập thể dục Tuy nhiên nếu tập không đúng cách thì cókhi còn phản tác dụng Trước khi tham gia tập thể dục các cụ cần tự lượngsức mình để chọn lựa một môn thể thao phù hợp với sức khỏe bản thân mình,điều quan trọng và cần thiết là các cụ tự xét xem mình có vấn đề gì về timmạch hay không? Nếu có vấn đề về sức khỏe thì các cụ nên đi khám và hỏi ýkiến bác sĩ để việc tập luyện thể thao an toàn và hiệu quả hơn.
Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã du nhập rất nhiều môn thể thao có tác dụng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, đặc biệt là các môn thể dục dưỡng sinh Môn thể thao này du nhập vào Việt Nam từ những năm
90 của thế kỉ XX tuy nhiên chỉ ít người biết đến Chỉ trong những năm gần đây khi nhận thấy tác dụng của môn thể thoa này thì phong trào luyện tập dưỡng sinh đã phát triển rộng rãi khắp Việt Nam và được đông đảo người cao tuổi tham gia hưởng ứng
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành trên 1035 NCT tại phường Hưng Dũng thành phố Vinh
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp đọc và phân tích tài liệu
Là phương pháp sử dụng sử dụng các tài liệu lien quan của các tạp chí, internet và các đề tài luận văn trước để thu thập thông tin và so sánh kết quả nghiên cứu của đề tài
Trang 14Phương pháp này được sử dụng trong việc nghiên cứu những cơ sở lí luận của đề tài thông qua việc đọc và tham khảo tài liệu sẽ giúp chúng tôi có những kết luận chính xác hơn.
2.2.2 Phương pháp điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra theo 2 cách: phỏng vấn trực tiếp và điều tragián tiếp
- Phương pháp điều tra gián tiếp theo mẫu phiếu điều tra đã thiết kế sẵn: điều tra thực trạng tập luyện TDTT ở NCT phường Hưng Dũng (phụ lục)
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Để điều tra phong trào tập luyện TDTT
ở NCT phường Hưng Dũng, chúng tôi tiến hành phỏng vấn trưởng câu lạc bộ(CLB) NCT phường Hưng Dũng và các thành viên phụ trách trong CLB
2.2.3 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu thu được xử lí theo phần mềm Excel 2003
2.3 Thời gian nghiên cứu
2 12/2009 – 1/2010 Điều tra, giải quyêt
nhiệm vụ 1
Điều tra được số lượng NCT và cơ sở vật chất phục vujtaapj luyện của các CLB tại phường Hưng Dũng, Tp Vinh
3 1/2010 – 3/2010 Điều tra, giải quyết
nhiệm vụ 2
Tìm hiểu xong tình hình tập luyện TDTT ở NCT
Trang 15tại phường Hưng Dũng
4 3/2010 – 5/2010 Xử lí số liệu, hoàn
thành đề tài, chuẩn bị báo cáo
Thông qua giáo viên hướng dẫn, hoàn thành luận văn và bảo vệ trướchội đồng khoa học
2.4 Địa điểm nghiên cứu:
- Trường Đại học Vinh
- Phường Hưng Dũng – Thành phố Vinh
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Một số đặc điểm về khu vực nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Một số đặc điểm về khu vực nghiên cứu
Phường Hưng Dũng trực thuộc thành phố Vinh với diện tích602.000ha, dân số hơn 12.009 người phân bố trên 18 khối Phía Bắc giápphường Hưng Lộc; phía Nam giáp phường Trường Thi, Bến Thuỷ; phía Tâygiáp phường Hà HuyTập; phía Đông giáp phường Hưng Hoà và sôngLam.Trong đó một nửa dân số phường Hưng Dũng làm nghề nông HưngDũng nằm ở khu vực miền Trung chịu thời tiết khá khắc nghiệt, thời tiết biếnđổi liên tục, nói chung phân thành 2 mùa rõ rệt Mùa đông nhiệt độ xuống tới
Trang 164oC và mùa hè lên tới 42oC đi kèm theo nó là gió Phơn Tây Nam (gió Lào)khá nóng Độ ẩm vào khỏang 85 – 90%.
3.1.2 Số lượng và tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng - thành phố Vinh
B ng 3.1 S lảng 3.1 Số lượng và tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng ố lượng và tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng ượng và tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũngng v t l ngà tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng ỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng ệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng ười cao tuổi tại phường Hưng Dũngi cao tu i t i phổi tại phường Hưng Dũng ại phường Hưng Dũng ười cao tuổi tại phường Hưng Dũngng H ng D ngư ũng
th nh ph Vinhà tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng ố lượng và tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng
TP Vinh (2009) 296.806 25.007 8,425 4,131 3,073 1,221Việt Nam (2006) 84.150.000 7.759.162 9,22 4,51 3,32 1,39 Theo số liệu thu được ở bảng 3.1 cho thấy: tỷ lệ NCT hiện đang sinhsống ở phường Hưng Dũng cao hơn tỷ lệ NCT thành phố Vinh nhưng thấphơn nhiều so với tỷ lệ NCT của cả nước theo điều tra năm 2006 Chúng tôithiết nghĩ nguyên nhân là do phường Hưng Dũng trực thuộc thành phố(Vinh)nên tỷ lệ NCT thấp hơn cả nước (gần 80% dân số sống ở vùng nôngthôn).Trong đó, cùng với tăng tuổi tác thì tỷ lệ NCT cũng giảm dần
Theo số liệu của viện nghiên cứu người cao tuổi, số lượng NCT ngàycàng tăng và tăng nhanh trong những năm gần đây, tỷ lệ tính trên tổng dân sốtheo các năm 1989, 1999, 2007 là 7,2%, 8,2%, 9,45% và dự báo đến năm
2010 sẽ tăng đột biến; đến năm 2029, con số này có thể lên 15% Số NCThiện sống ở nông thôn nhiều hơn thành phố Theo điều tra năm 1999 của cụcdân số, số người cao tuổi sống ở thành thị chỉ chiếm tỷ lệ 21,68% tổng sốNCT
3 1 3 Một số đặc điểm liên quan đến đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên 1035 người cao tuổi tạiphường Hưng Dũng – thành phố Vinh Tổng số NCT của phường Hưng Dũng
Trang 17là 1085 người, trong đó có 20 người hiện đi vắng không cư trú tại thành phốVinh và 30 người không trả lời phiếu điều tra hoặc thông tin chưa đầy đủ nênchúng tôi đã loại ra.Tỷ lệ bỏ cuộc là 4,61% Cuối cùng chỉ có 1035 ngườiđược đề cập trong nghiên cứu gồm 445 nam và 590 nữ.
B ng 3 2 C c u theo gi i tính v tu i c a ảng 3.1 Số lượng và tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng ơ cấu theo giới tính và tuổi của đối tượng nghiên cứu ấu theo giới tính và tuổi của đối tượng nghiên cứu ới tính và tuổi của đối tượng nghiên cứu à tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng ổi tại phường Hưng Dũng ủa đối tượng nghiên cứu đố lượng và tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng ượng và tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũngi t ng nghiên c uứu
Sốlượng Tỉ lệ
Sốlượng Tỉ lệ
Sốlượng
Tỉ lệ
Nam 248 23,96 152 14,69 45 4,35 445 42,99
Nữ 287 27,73 215 20,77 88 8,50 590 57,01Chung 535 51,69 367 35,46 133 12,85 1035 100
Số liệu thu được ở bảng 3.2 cho thấy: Tuổi tác càng tăng tỷ lệ NCTcàng giảm, ở các độ tuổi tỷ lệ nữ cao tuổi đều cao hơn nam, trong đó tỷ lệnam cao tuổi giảm nhanh hơn nữ, đến 80 tuổi tỷ lệ nữ cao gấp đôi so với nam
Tỷ lệ nữ cao tuổi cao hơn so với nam (nữ 57,1%, nam 42,99%)
Chúng tôi thiết nghĩ nguyên nhân chủ yếu là do nam giới làm việcnặng, sử dụng rượu, thuốc lá nhiều hơn trong khi kinh nghiệm chăm sóc sứckhoẻ kém hơn nữ
Theo Nguyễn Thế Hụê, cơ cấu giới tính của NCT nước ta có sự chênhlệch lớn, nghiêng về nữ cao tuổi Năm 1999, cứ 100 cụ ông ở các nhóm tuổitương ứng với cụ bà, thì số cụ bà ở nhóm tuổi từ 60 đến 64 có 122 người, từ
65 đến 69 có 125 người, từ 70 đến 74 có 141 người, từ 75 đến 79 có 167người, từ 80 đến 84 có 192 người và từ 85 trở lên có 232 người Sở dĩ có sựchênh lệch cao về tỷ lệ giới tính trong nhóm dân số cao tuổi là do tuổi thọtrung bình của nữ cao hơn nam giới Hơn nữa, Việt Nam phải trải qua nhữngnăm tháng chiến tranh kéo dài, nhiều nam giới hy sinh ngoài mặt trận Trong
Trang 18số những người trở về, một số bị thương, tật nguyền, di chứng Đã ảnhhưởng không nhỏ đến các nhóm nam cao tuổi trong tháp dân số Việt Nam
B ng 3 3 Th c tr ng cu c s ng gia ình c a ngảng 3.1 Số lượng và tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng ực trạng cuộc sống gia đình của người cao tuổi ại phường Hưng Dũng ộc sống gia đình của người cao tuổi ố lượng và tỉ lệ người cao tuổi tại phường Hưng Dũng đ ủa đối tượng nghiên cứu ười cao tuổi tại phường Hưng Dũngi cao tu iổi tại phường Hưng Dũng
Hiện đang sống
Nam(n = 445)
Nữ(n = 590)
Chung(n = 1035)
Theo nghiên cứu của trường đại học tại Chicago (Mỹ), những ngườisống độc thân là những người có độ tuổi không cao và hay có vấn đề về timmạch, do họ ít có thời gian quan tâm đến sức khoẻ, ăn uống thất thường, haythức đêm và hay hút thuốc và uống rượu Đây cũng là nguyên nhân là tăng tầnsuất bệnh ở NCT
NCT sống độc thân dễ bị trầm cảm và ít tham gia vào các hoạt động xãhội và tập luyện thể thao hơn
Theo thống kê của Hoàng Thuý, ở nước ta giữa hai thập kỷ(1979 1989) và (1989- 1999), tỷ lệ NCT đang tăng dần Hiện tại có 6,4% NCT đangsống độc thân và tỷ lệ này khác nhau tuỳ địa bàn, 17% NCT sống trong giađình có một thế hệ, 34% sống trong gia đình có hai thế hệ, 47% sống tronggia đình có ba thế hệ Chỉ có 2% số gia đình có bốn thế hệ cùng chung sống
-Bảng 3.4 Nguồn thu nhập kinh tế của NCT phường HưngDũng -TP Vinh
(n = 445)
Nữ(n = 590)
Chung(n = 1035)