Tầm quan trọng của việc nghiên cứu dề tài Việt nam nằm trong khu vực nhiệt đới nóng ẩm, phân làm bốn mùa rõ rệt, với nền nhiệt độ cao, độ ẩm không khí lớn, lượng mưa hàng năm từ 1500 đến
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ - -
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TRỪ SÂU TRONG SẢN XUẤT
RAU Ở HỌP TÁC XÃ HƯNG ĐÔNG, THÀNH PHỐ VINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tầm quan trọng của việc nghiên cứu dề tài
Việt nam nằm trong khu vực nhiệt đới nóng ẩm, phân làm bốn mùa rõ rệt, với nền nhiệt độ cao, độ ẩm không khí lớn, lượng mưa hàng năm từ 1500 đến 2000mm đây là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại sâu bệnh hại cây trồng phát triển, gây phá hại mùa màng, làm giảm năng suất cây trồng, gây thiệt hại nhiều mặt về kinh tế để phòng chống sự gây hại của sâu bệnh thì phương pháp sử dụng thuốc hoá học là phổ biến nhất và cũng là phương pháp tác động diệt trừ nhanh nhất.Từ lâu thuốc bảo vệ thực vật đặc biệt là thuốc trừ sâu được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam.Việc sử dụng thuốc trừ sâu đã mang lại hiệu quả rất lớn, giúp diệt trừ và hạn chế được nhiều loại dịch hại trong một thời gian rất ngắn, giúp bảo vệ mùa màng, nâng cao được năng suất cây trồng Tuy nhiên ngoài những ích lợi, mà thuốc hoá học mang lại thì việc sử dụng không hợp lý và khoa học của một bộ phận người dân đã gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực:
- Làm ô nhiễm môi trường sinh thái do tích tụ trong đất, ô nhiễm không khí
do khuyếch tán và quá trình ô nhiễm nguồn nước, thậm chí cả nguồn nước ngầm
- Thuốc hoá học khi tiêu diệt côn trùng gây hại đồng thời nó cũng tiêu diệt các loài sinh vật có ích, các loài thiên địch như: Ong, tôm, cá và động vật có xương sống khác
- Khi sử dụng nhiều lần một loại thuốc hoặc sử dụng thuốc không đúng khoa học, sủ dụng thuốc nồng độ, liều lượng thấp làm cho sâu bệnh không chết, hoặc khi sử dụng không làm cho sâu chết hẳn, qua nhiều lần như vậy sẽ làm cho sâu bệnh có tính kháng thuốc
- Khi sử dụng thuốc thì không tránh khỏi các ảnh hưởng của thuốc đổi vởi người phun, gây ra các ảnh hưởng trước mắt như đau đầu, chóng mặt, khó thở, hoặc có thể gây ảnh hưởng lâu dài như nhiễm độc thuốc mãn tính v v…Thậm chí các loại thuốc phun khi chưa hết thời gian cách ly hoặc thời gian phân huỷ của thuốc quá lâu, khi con người dùng các sản phẩm đó thì có thể sẽ bị nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật
Sản xuất rau đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người, rau cung cấp chất xơ, các vitamin cần thiết như: A, B, D, E … và các khoáng chất cần
Trang 3thiết, rau kích thích ăn ngon vì vậy dân ta có câu “cơm không rau như bệnh không thuốc” là như vậy, cho nên ngày nay khi cuộc sống của con người ngày càng cao thì nhu cầu về rau càng tăng đặc biệt có yêu cầu khắt khe hơn về rau sạch, rau an toàn Để quyết định đến năng xuất, chất lượng, an toàn của rau thì vấn đề sử dụng thuốc trừ sâu nói riêng và thuốc BVTV nói chung an toàn, hiệu quả, khoa học và hợp lý là điều rất quan trọng, bức thiết trong tình hình hiện nay Ngoài ra trong việc sản xuất rau có rất nhiều loại sâu hại phá hoại khác nhau thuộc nhiều bộ côn trùng khác nhau do đó việc phòng trừ chúng rất phức tạp cần nhiều loại thuốc trừ sâu khác nhau, các loại thuốc trừ sâu có phổ tác dụng rộng hoặc các thuốc có tác dụng chuyên tính để phòng trừ hiệu quả các loại sâu đó
Do đó việc nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc hoá học trên rau có giá trị rất lớn trong thực tiễn Nó cung cấp các thông tin khoa học để thấy được tình trạng sử dụng thuốc trừ sâu nói riêng và TBVTV nói chung hiện nay của người dân trồng rau như thế nào Đây là cở sở cho việc áp dụng các biện pháp sử dụng thuốc hoá học hợp lý cũng như biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM; giảm thiểu ô nhiễm môi trường do sử dụng thuốc hoá học, góp phần vào sự thành công của nền nông nghiệp sạch, bền vững Là cở sở để các chính quyền địa phương và các cở quan chức năng có liên quan có các định hướng, phương hướng kế hoạch hợp lý, lâu dài trong việc quản lý buôn bán, sử dụng thuốc BVTV, phương hướng chỉ đạo nhân dân, thực hiện tốt các vấn đề liên quan đến việc thực hiện sản xuất rau sạch, rau an toàn Đồng thời cũng giúp nhân dân thấy được thực trạng sử dụng thuốc BVTV của chính họ và có ý thức hơn trong quá trình sử dụng thuốc để đạt được an toàn
Để đáp ứng được các yêu cầu, đòi hỏi trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Thực trạng sử dụng thuốc trừ sâu trong sản xuất rau ở họp tác xã
Hưng Đông, thành phố Vinh”
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Trang 4Trên cở sở đánh giá tình trạng sử dụng thuốc trừ sâu trên rau ở người dân Hưng Đông nhằm cung cấp dẫn liệu khoa học hợp lý, hiệu quả các loại thuốc phù hợp để diệt trừ các loại sâu bệnh phá hoại và quá trình sản xuất rau an toàn hiệu quả.
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn
1.1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1.1 Biện pháp hoá học phòng trừ dịch hại
Biện pháp hoá học phòng trừ dịch hại là biện pháp sử dụng hợp lý các chất hoá học trong phòng chống sâu, bệnh và cỏ dại gây hại cây trồng nhằm kìm hãm
sự phát triển của dịch hại ở mức gây hại kinh tế nhưng không ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng và thiên địch
Biện pháp hoá học sử dụng thuốc BVTV phòng trừ dịch hại có điểm mạnh
là tiêu diệt dịch hại nhanh, ngăn chặn được nạn dịch trong thời gian ngắn, đưa lại kết quả nhanh, trực tiếp đem lại hiệu quả kinh tế, dể sử dụng và có khả năng áp dụng ở nhiều vùng khác nhau
Nhược điểm của biện pháp hoá hoá học là sẽ tiêu diệt cả các loài sinh vật có ích, gây ra hiện tượng kháng thuốc của dịch hại, xuất hiện các loài dịch hại mới phá hoại mạnh hơn, làm ô nhiễm môi trường, gây độc cho người và động vật
Để khắc phục những hạn chế của biện pháp hoá học là sử dụng thuốc phải tuân thủ các nguyên tắc như: đúng loài sâu bệnh cần phòng trừ và ngưỡng kinh tế, đúng ký sinh, ăn thịt cần bảo vệ, đúng thuốc và thuốc có tính chọn lọc, đúng nồng
độ và liều lượng, đúng kỹ thuật, đúng lúc, đúng phạm vi
1.1.1.2 Những hiểu biết về thuốc trừ sâu
a Khái niệm về thuốc trừ sâu
Thuốc trừ sâu bao gồm các hợp chất vô cơ, hữu cơ, các vi sinh vật gây hại cho côn trùng và những sản phẩm của chúng có thể giết được các côn trùng sống trên cây, trong đất, trong nước, ngoài đồng, trong nhà ở, gây hại cho cây trồng, cây rừng, nông sản, gia súc, gia cầm và con người
Tên thương mại (tên thương phẩm): là tên do công ty sản xuất hoặc phân phối đặt ra để phân biệt sản phẩm của công ty này và công ty khác
Trang 6Tên hoạt chất: là thành phần hoá học chủ yếu có tác dụng tiêu diệt dịch hại.Chất độc là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một luợng rất nhỏ cũng có thể gây độc cho sinh vật.Phá huỷ các chức năng cơ bản của sinh vật và có thể làm cho các sinh vật đó chết.
Tính độc là đặc tính vốn có của chất độc,là khả năng gây độc cho sinh vật của một hợp chất nào đó
Nồng độ: là tỷ lệ giữa lượng thuốc cần dùng để pha với một đơn vị thể tích (đơn vị tính là %, g/l…)
Liều lượng: là lượng chất độc được tính bằng gam hay miligan cần có để gây được một tác động nhất định lên cơ thể sinh vật.Hoặc có thể tính là lượng thuốc cần cho một đơn vị diện tích (kg/ha, lít/ha…)
Liều gây chết trung bình (Median Lethat Dose) ký hiệu là LD50: là liều lượng chất độc cần thiết để gây chết cho 50 % số cá thể dùng trong thí nghiệm là chuột hoặc thỏ Đơn vị tính là mg họat chất trên 1 kg vật thí nghiệm
Bảng 1.1: Phân loại độ độc của thuốc BVTV theo quy dịnh của WHO
Nhóm
độc Mức độ độc
Trị số LD 50 của thuốc(mg/kg)
Ở dạng lỏng Ở dạng rắnQua miệng Qua da Qua miệng Qua da
Ib Độc 20-200 40-400 5-50 10-100
II Độc trung
bình 200-2000 400-4000 50-500 100-1000III Ít độc > 2000 > 4000 > 500 > 1000
Thời gian cách ly: Là khoảng thời gian kể từ khi phun thuốc lần cuối đến khi thu hoạch nông sản nhằm đảm bảo cho thuốc BVTV có đủ thời gian phân huỷ đến mức không còn có thể gây ra những tác động xấu đến cơ thể người và vật nuôi khi tiêu thụ nông sản đó
Dư lượng: là lượng hoạt chất và các sản phẩm trung gian sau khi phân hủy
có độc tính còn lưu lại trong nông sản, môi trường
Bảng 1.2: phân loại độ độc của thuốc BVTV của Việt Nam
Trang 7Phân nhóm và ký
hiệu
Biểu tượng LD50 qua miệng chuột(mg)
Thể rắn Thể lỏngI.Rất độc(chữ rất
độc đen trên giải đỏ)
Đầu lâu xương trên nền trắng
< 50 <200
II Độc cao(chữ độc
cao trên giải vàng)
Chữ thập đen chéo trên nền trắng
> 2000 >3000
b Phân loại thuốc trừ sâu
Có rất nhiều cách phân loại thuốc trừ sâu:
* Phân loại theo nguồn gốc và thành phần hoá học của thuốc:
- Thuốc có nguồn gốc vô cơ: CuSO4, S, CaO…
- Thuốc tổng hợp hữu cơ gồm các nhóm
+ Nhóm clo hữu cơ: DDT, 666, thiodan, lindan…
+ Nhóm thuốc lân hữu cơ: Difterex, Monstor, Ofatox…
+ Nhóm thuốc Cacbamat: Bassa, Marsshal
+ Nhóm thuốc tổng hợp hữu cơ: Trebon
+ Pyrethioit (cúc tổng hợp): Fastac, Arrivo
+ Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: Rotenon, Nicotin…
+ Thuốc kháng sinh: Validacin, Kasuran…
+ Thuốc có nguồn gốc vi sinh vật: chế phẩm BT, NPV, Kuang Hwa BAO
WP 16000 IU/mg
* Phân loại theo dạng thuốc
Bảng 1.3 Đặc điểm, ký hiệu của các dạng thuốc trừ sâuDạng thuốc Chữ viết tắt Ghi chú
Trang 8Nhũ dầu ND, EC Thuố ở dạng lỏng trong suốt dễ bắt
lửa và cháyDung dịch DD, SL, AS Tan đều trong nước
Bột hoà nước BTN, WP, DF, WDG Dạng bột mịn, khuếch tán trong nước
thành dung dịch huyền phùHuyền phù FL, FC, SC Lắc đều trước khi sử dụng
Hạt H, G, GR Chủ yếu là rải vào đất
Dạng sữa EW Lắc đều trước khi sử dụng
Thuốc phun bột D, BR Dạng bột mịn dùng phun khô không
hoà tan trong nước
Ngoài ra một số dạng khác như viên nén, thuốc xông hơi, thuốc bả…
* Phân loại theo phương thức tác động:
- Thuốc gây ngán
- Thuốc xua đuổi
- Thuốc diệt sản
- Thuốc dẫn dụ
+ Thuốc điều tiết sinh trưởng
* Phân loại theo con đường xâm nhập:
- Thuốc tác động trực tiếp: Là những thuốc xâm nhập vào cơ thể qua biểu bì, thuốc tiếp xúc còn gọi là thuốc ngoại tác động
- Thuốc tác động thấm sâu: Thuốc có khả năng thấm qua các lớp tế bào biểu bì của cây để tiết dịch hại nằm dưới lớp biểu bì mà không có khả năng di chuyển trong cây
- Thuốc tác động vị độc: Là tác động của thuốc khi xâm nhập vào bộ phận tiêu hoá của động vật, chất độc ăn qua đường miệng vào trong ruột, hoà tan trong dịch
vị của dạ dày và ruột giữa, thấm qua thành ruột và di chuyển đến các cơ quan trong cơ thể để gây hại
- Thuốc tác dụng xông hơi: thuốc có thể sinh ra khói, khí, mù có tác dụng diệt côn trùng, nấm, vi khuẩn, chuột.Thuốc tác động xông hơi có thể dùng phun lên
Trang 9cây, xông hơi trong nhà ở, kho tàng, nhà kính hàng hoá để tiêu diệt các vi sinh vật hại.
- Thuốc tác dụng nội hấp (lưu dẫn): là khả năng của thuốc có thể nhập và di chuyển trong cây để tiêu diệt dịch hại bằng cách tiếp xúc và vị độc
1.1.1.3 Phương pháp sử dụng thuốc trừ sâu
a Kỹ thuật sử dụng thuốc trừ sâu
Phun bột là dùng thuốc trừ dịch hại ở dạng bột phun đều lên bề mặt vật phun, không bị gió cuốn đi xa thuốc bám dính trên bề mặt phun.Điểm mạnh của phương pháp này là đơn giản, năng xuất lao động cao, không phải dùng nước đặc biệt có ý nghĩa với những vùng có địa hình phức tạp vận chuyển nước khó khăn.Nhược điểm là thường gây ô nhiễm môi trường, khi gió to thường bị cuốn đi
xa, mưa to thường giảm hiệu lực của thuốc
Rắc thuốc hạt là dùng thuốc hạt rắc vào đất, ở trong đất thuốc được giải phóng dần và có tác dụng trong thời gian lâu dài, trong một số trường hợp thuốc được rắc vào cây để bảo vệ.Ưu điểm của phương pháp này là dễ sử dụng, ít ảnh hưởng tới môi trường, ít gây cháy lá, hiệu quả cao tác dụng lâu dài và cho hiệu quả kinh tế cao hạn chế là khi sử dụng nhiều thường gây ô nhiễm đất
Phun lỏng là các thuốc trừ dịch hại trong các hệ phân tán lỏng như dung dịch huyền phù, dung dịnh keo, nhũ tuơng dưới dạng các vật liệu nhỏ lên vật phun Điểm mạnh của phương pháp này là lượng chế phẩm thường ít, ít gây ô nhiễm môi trường, khả năng bán dính cao.Nhược điểm là phải dùng nước dẫn đến khi phun ở những vùng xa nguồn nước sẽ mất công vận chuyển nuớc và cho năng suất thấp
Xử lý khô còn gọi là trộn giống là dùng thuốc ở dạng bột trộn với hạt giống làm cho hạt giống được phủ môt lớp thuốc, những dịch hại ở ngoài vỏ hạt giống sẽ bị thuốc ngấm vào.Điểm mạnh của phương pháp này là khá đơn giản, không đòi hỏi dụng cụ và
kỹ thuật phức tạp, xử lý xong có thể gieo trồng ngay, bất kỳ hạt nào cũng có thể dùng phương pháp này.Hạn chế của nó là chỉ diệt được dịch hại ở ngoài vỏ hạt
Xử lý ướt hay ngâm giống là hạt giống được ngâm trong dung dịch nước thuốc dạng huyền phù, nhũ tương hay dung dịch thật trong thời gian nhất định
Trang 10Thời gian dài hay ngắn phụ thuộc vào dung dịch của hạt giống, loại dịch hại đặc điểm của thuốc và điều kiện ngoại cảnh.
Xử lý nửa khô hay nửa ướt là trải hạt giống ra đất hoặc nền ximăng pha thuốc với nồng độ cao, pha đều 3 lít nước/1 tạ hạt sau khi phun trộn đều cũng có thể ủ với thời gian nhất định
Xông hơi là sử dụng các thuốc BVTV có khả năng bay hơi làm ô nhiễn không khí xung quanh dịch hại, qua con đường hô hấp thuốc xâm nhập vào dịch hại và gây tác dụng dựa vào đặc diểm của thuốc hoá học hay dựa vào tỷ trọng của hơi thuốc so với không khí có thể đặt thuổc trên hay dưới hạt giống
Bã độc là hỗn hợp chất độc và thức ăn của dịch hại và chất bám dính.Có nhiều cách làm bã độc (bã khô, bã ướt, bã nửa ướt, bã lỏng)
b Nguyên tắc “4 đúng” trong sử dụng thuốc BVTV
- Đúng lúc
Thuốc trừ sâu và thuốc BVTV nói chung được sản xuất nhiều chủng loại, nếu không sử dụng đúng vừa không hiệu quả, gây lãng phí vừa ô nhiễm môi trường.Do vậy khi sử dụng thuốc phải chọn đúng loại thuốc cho đúng sâu bệnh và cây trồng để đảm bảo thuốc vừa có thể phòng trừ dịch bệnh, vừa không tiêu diệt các loài thiên địch có lợi vừa bảo vệ cây trồng
Ví dụ thuốc2, 4D chủ yếu tác dụng với các loại cây 2 lá mầm, thuốc Fuione chuyên tiêu diệt bệnh nấm đạo ôn hại lúa hoăc thuốc Validacin hữu hiệu với bệnh khô vằn hại lúa hoặc sâu mèo hồng hại cao su.Những thuốc có tính chọn lọc nếu
sử dụng đúng sẽ cho hiệu quả cao Nhiều chế phẩm bhư thuốc boocđô, tilt super có tác dụng với nhiều loại bệnh, hoặc wofatox, selecron, padan được dùng để trừ các loài sâu hại có miệng gặm nhai, miệng chích hút, đây là những thuốc nhiều tác dụng [15] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Đúng thuốc có nghĩa là thuốc trừ sâu chỉ dùng để trừ sâu hại hay các loại côn trùng và nhện gây hại, thuốc trừ bệnh để trừ bệnh hại hay các loại sinh vật gây bệnh hại, thuốc trừ cỏ chỉ dùng để phòng trừ cỏ dại.Việc sử dụng thuốc phải đúng đối tượng phòng trừ có ghi trên bao bì của thuốc
Trang 11-Đúng thời điểm
Khi sử dụng thuốc sâu phải xác định đúng thời điểm cần phun thuốc đòi hỏi phải bám chắc các quy luật phát sinh, phát triển của dịch hại.Không phải cứ thấy sâu bệnh hại là phun thuốc hoặc để cho sâu bệnh lây lan và phát triển mạnh mới phòng trừ mà phải phòng trừ đúng lúc theo đúng ngưỡng phòng trừ ( ngưỡng gây hại kinh tế).Mặt khác cần theo dõi, điều tra và dự báo chiều hướng phát triển của dịch hại để xác định thời điểm đúng nhất.Nếu thời tiết thuận lợi dịch hại phát triển nhanh thì phải ngăn chặn sớm.Bên cạnh đó khi sủ dụng thuốc phải chọn đúng thời điểm, phun thuốc lúc có thời tiết thích hợp
Việc xử lý đúng lúc đòi hỏi phải có sự theo dõi sát sao, điều tra và dự tính
dự báo dựa trên kinh nghiệm của nông dân, đồng thời cần căn cứ các quan trắc, tính toán của cơ quan chuyên môn
-Đúng nồng độ và liều lượng
Mỗi loại thuốc trước khi đưa vào dùng cho cây trồng đều được khảo nghiệm nhiều lần, từ phòng thí nghiệm đến đại trà.Qua khảo nghiệm người ta tìm ra liều lượng và nồng độ tối ưu với từng loài hoặc nhóm loài dịch hại, đối với từng loài cây trồng, thậm chí đối với từng giai đoạn sinh trưởng của mỗi loại cây trồng
Nồng độ và liều lượng được hướng dẫn trrên nhãn thuốc còn được căn cứ vào độ an toàn cho nông sản và môi trường.Do vậy, khi sử dụng không được tuỳ tiện tăng, giảm nồng độ và liều lượng quy định vì sẽ làm giảm hiệu quả của thuốc
và ảnh hưởng đến chất lượng nông sản và ô nhiễm môi trường
-Đúng cách
Đối với từng loại thuốc trừ sâu nói riêng và thuốc BVTV nói chung đều được hướng dẫn sử dụng từng thuốc và đa dạng thuốc Chế phẩm dạng bột, thấm nước, dạng sữa phải pha với nước; dạng hạt, viên nhỏ thì rải vào đất;có dạng để phun mù, phun sương với lượng rất nhỏ hoặc thuốc dạng thuốc để xông hơi, khử trùng kho tàng sâu
Trang 12Đối với mỗi đối tượng dịch hại lại có hướng dẫn để tiêu diệt khác nhau.Ví
dụ đối với sâu đục thân, đục cành hại cam khi dùng thuốc như selecron để phòng trừ phải dùng bơm tiêm bơm vào lỗ đục ở trên thân việc phun phía ngoài thì không
có tác dụng.Nhiều loài dịch hại phát triển ở mặt dưới lá do vậy khi phun thuốc phải chú ý phun đúng chỗ chúng cư trú mới có tác dụng
Bên cạnh đó đúng cách còn có nghĩa là phải phun thuốc một cách hợp lý, an toàn.Sử dụng đầy đủ các phương tiện phòng độc, chú ý đến an toàn cho người và súc vật
c Một số điểm cần lưu ý để đảm bảo an toàn khi sử dụng thuốc trừ sâu
- Đọc kỹ thông tin trên nhãn thuốc:
+ Tên thương mại, thành phần, hàm lượng hoạt chất, dạng thuốc, công dụng của thuốc
+ Thông tin về độ độ độc của thuốc
+ Hướng dẫn sử dung thuốc
+ Những biện pháp an toàn khi sử dụng, sau khi sử dụng và biện pháp sơ cứu khi bị ngộ độc thuốc
+ Cách bảo quản, khả năng tạo hỗn hợp với các thuốc khác
+ Thời gían cách ly
+ Dấu kiểm tra chất lượng của cơ sở gia công
- Vận chuyển thuốc trừ sâu:
Trang 13+ Trước khi rời khỏi cửa hàng phải: Kiểm tra bao bì xem thuốc có bị rò rỉ hay không, được gói cẩn thận chưa và hỏi người bán hàng biện pháp cần phải làm nếu thuốc bị đổ bể.
+ Không chuyên chở thuốc lẫn lộn với các vật dễ cháy nổ, lương thực, thực phẩm, vật dụng của trẻ em v.v…
+ Hạn chế trở thuốc bằng các phương tiện chật hẹp vì dễ gây ngộ độc cho người đi cùng và môi trường
- Cất giữ, bảo quản thuốc trừ sâu:
+ Nên mua thuốc với lượng đủ dùng tránh dư thừa
+ Cất giữ thuốc nơi riêng biệt, không để gần gia súc, gia cầm, lương thực, thực phẩm v.v…
+ Nơi cất giữ thuốc không được ở nơi đầu gió, không gần giếng ăn hoặc kênh rạch, không bị nắng rọi và mưa dột
+ Luôn kiểm tra nơi cất giữ thuốc, không để thuốc bị đổ vỡ, rò rỉ.Nếu xảy
ra phải dọn ngay
+ Nơi cất giữ phải đảm bảo trẻ em, người không phận sự, gia súc không ra vào được nơi đó
- Khi cân đong, pha thuốc:
+ Cần mang đủ đồ bảo hộ lao động khi cân đong, pha thuốc
+ Đọc kỹ hướng dẫn ghi trên bao thuốc hoặc công thức của các chuyên gia
để biết liều lượng pha và các thông tin khác
+ Chuẩn bị đủ dụng cụ cân đong, những loại này đều được đánh dấu riêng.+ Kiểm tra cần phun, cẩn thận khi mở nắp chai thuốc, tránh vun toé thuốc, tránh cân đong nơi có trẻ em nô đùa
+ Cân đong chính xác lượng thuốc cần dùng
+ Không được cân đong, pha thuốc hoặc rửa bình bơm nơi ao hồ, sông, suối, giếng, kênh mương
- Phun thuốc:
+ Bảo hộ lao động đầy đủ khi phun thuốc
+ Kiểm tra đồng ruộng đảm bảo không có người và gia súc có mặt nơi đó
Trang 14+ Đọc kỹ nhãn để biết mối nguy hiểm đối với môi trường
+ Gắn biển báo nơi sau khi phun thuốc
+ Rửa sạch bình bơm ngay sau khi phun xong
+ Phun đều khắp ruộng
+ Không nên phun thuốc khi trời nổi gió, chuyển mưa, ngược chiều gió, lúc trưa nắng
+ Không phun thuốc khi cơ thể suy yếu mệt mỏi
+ Không cho trẻ em và phụ nữ mang thai phun thuốc
+ Không đưa béc phun vào miệng thổi
+ Không phun rải bay tat vào nguồn nước uống, nhà ở
- Dọn sạch thuốc đỗ vãi:
+ Bảo hộ lao động khi tiếp xúc với thuốc
+ Không được dùng nước để cọ rửa vì sẽ làm thuốc tràn lan khắp nơi
+ Rắc bùn cưa, cho đất bột, cát lên trên mặt phun thuốc
+ Nếu thuốc hoặc chất thấm nước có khả năng bay mù ra xung quanh phải tưới nước từ từ hoặc phủ lên đó một tấm vải nhựa hoặc vải dầu
+ Thu gom thuốc đổ vải và vật dụng xử lý cho vào túi nhựa và tiến hành tiêu huỷ
- Tiêu huỷ thuốc và bao bì chứa thuốc:
+ Nếu bao bì bằng giấy thì cho xuống hố đốt Nếu bằng nhựa nhưng trên nhãn ghi không được đốt thì phải đạp vỡ, đâm thủng rồi chôn xuống đất
+ Nếu bao bì làm bằng vật liệu không cháy thì đập vở, đâm thủng
- Vệ sinh sau khi tiếp xúc với hoá chất
+ Cỡi bỏ ngay đồ bảo hộ lao động
+ Tắm gội sạch sẽ bằng xà phòng
+ Giặt giũ đồ bảo hộ lao động
+ Thay quần áo sạch trước khi nghĩ ngơi, ăn uống, hút thuốc
- Các biện pháp sơ cứu khi nhiễm độc thuốc trừ sâu và thuốc BVTV nói chung + Đọc kỹ nhãn về chống độc và chuẩn bị một số đồ sơ cứu cần thiết
+ Bình tỉnh đưa nạn nhân rời xa nơi nhiễm thuốc, cỡi đồ nhiễm thuốc và rữa sạch vùng da nhiễm thuốc
Trang 15+ Gây nôn nếu nạn nhân còn tỉnh táo và nhãn thuốc cho phép
+ Đặt nạn nhân nằm ổn định, giử ấm nếu thấy lạnh, lau cằng nước sạch nếu nạn nhân thấy nóng sốt
+ Theo dõi nhịp thở nếu ngừng thở thì làm hô hấp nhân tạo
+ Tuyệt đối không cho hút thuốc, uống sữa, uống rượu
+ Đưa nạn nhân đến y, bác sỹ và nhớ mang theo nhãn thuốc
1.1.1.4 Một số hiểu biết cơ bản về rau
Các loại rau bao gồm: rau ăn lá, rau ăn quả, rau ăn củ… được gọi chung là cây thực phẩm
Khác với cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp… cây thực phẩm thường có có cấu tạo riêng:
- Thân có cành lá xum xuê, mềm mỏng, mơ màng và yếu ớt… nên rất dễ bị sâu bệnh xâm nhập gây hại
- Phần lớn các bộ phận của các loại cây thực phẩm có chứa nhiều chất dinh dưỡng và dễ tiêu như: đường, đạm và nhiều sinh tố, vitamin, nước….mà các loại cây trồng khác không có nên được các loài côn trùng yêu thích
- Sản phẩm của cây thực phẩm chủ yếu là hàng hoá tươi sống, khi sử dụng một số không qua chế biến cho nên trong quá trình thu hoạch, vận chuyển và bảo quản dễ bị các loài sâu và nấm bệnh xâm nhập, gây hại làm ảnh huởng tới chất lượng và làm hao hụt một số lượng khá lớn
Rau xanh là loại cây thực phẩm ngắn ngày, sinh trưởng tập trung, phát triển nhanh và có những loại rau lại cho thu hoạch nhiều đợt trong một vụ với thời gian 1-2 tháng.Bởi vậy ở một số loại rau thường có nhiều loại sâu bệnh gây hại và phá tập trung trong thời gian ngắn, mang tính chất huỷ diệt cho nên công tác phòng trừ đôi khi gặp khó khăn
Đối với mỗi loại rau đòi hỏi có một chế độ canh tác khác nhau và cao hơn hẳn so với các loại cây trồng khác như: làm đất phải kỹ, lượng phân chuồng phải hoai mục, phân đạm phải cân đối và lượng nước tưới phải thường xuyên, nhưng không được ngập úng, mặt khác có nhiều loại rau có thể trồng xen, trồng gối nhau liên tiếp Vì vậy cũng dễ tạo điều kiện cho sâu, bệnh phát sinh gây hại và tích luỹ [18] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Trang 161.1.2 Cơ sở thực tiễn
Trên thực tế, sản xuất nông nghiệp luôn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro gây tổn thất nghiêm trọng đến năng xuất và chất lượng nông sản.Một trong những nguyên nhân là các loài dịch hại.Việc sử dụng thuốc trừ sâu nói riêng và thuốc bảo
vệ thực vật nói chung ở Việt Nam hiện nay ngày càng tăng đã góp phần quan trọng trong việc phòng chống các loài dịch hại, đảm bảo năng xuất, chất lượng nông sản
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay việc đảm bảo chất lượng nông sản là rất quan trọng.Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp đang phụ thuộc quá nhiều vào các loại hoá chất, phân bón và thuốc BVTV.Hầu hết các loại cây trồng đang được sản xuất hiện nay đều có sử dụng các loại phân bón hoá học và thuốc BVTV.Đặc biệt là đối với các lại cây trồng yêu cầu trình độ thâm canh cao thì lại càng đòi hỏi dùng nhiều hơn Đối với các loại cây trồng như các loại rau quả, cà phê, chè, lúa gạo…
Việc quản lý, sử dụng thuốc trừ sâu nói riêng và thuốc BVTV nói chung chưa hợp lý ở nước ta đã kéo theo một loạt các vấn đề bất cập trong sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.Các loại thuốc bị hạn chế sử dụng và cấm sử dụng vẫn được người dân sử dụng theo khảo sát của viện y học lao động và vệ sinh môi trường, nồng độ một số chất BVTV như Wofatox, Diazino, Benzonyl, Dimetylamin trong môi trường lao động thường cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 7-
21 lần [26] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Thông tin từ Cục BVTV (2007) cho biết đã kiểm tra, lấy mẫu và phân tích
dư lượng thuốc BVTV trên một số loại rau quả, chè khô ở chín chợ đầu mối, hai siêu thị ở Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, kết quả phân tích 44 hoạt chất BVTV trong
77 mẫu kiểm tra cho thấy 43/77 mẫu (chiếm 55, 84%) có dư lượng thuốc BVTV [26] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Việc sử dụng thuốc trừ sâu nói riêng và thuốc BVTV nói chung nhiều lần
đã dẫn đến việc số vụ nhiễm độc thuốc ngày càng nhiều Báo cáo của Trung tâm Y
tế dự phòng Nghệ An cho biết số người có triệu chứng nhiễm chất BVTV sau khi
sử dụng tới 91, 23% tại vùng Tây Tựu, Mai Đình (Hà Nội) và Đan Phượng (Hà Tây) có 98% số người phun thuốc có triệu chứng nhiễm độc nhẹ( trích theo báo Lao động ra ngày 20-3-2004) Theo báo cáo của Cực Y tế Dự phòng - Bộ Y tế năm 2007 có 4.670 vụ nhiễm độc thuốc BVTV với 5.207 trường hợp, có 101
Trang 17trường hợp tử vong.Những trường hợp ăn uống nhầm có 540 ca chiếm 10,4% với
3 ca tử vong.Số trường hợp lao nhiễm độc do lao động là 273 ca chiếm 5,2% có 2 trường hợp tử vong [25] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
1.1.3 Cơ sở pháp lý
Điều 21 điều lệ quản lý thuốc BVTV ban hành kèm theo nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 3/6/2002 của Chính phủ quy định: Tổ chức, cá nhân được phép sử dụng thuốc BVTV có trong danh mục thuốc được phép sử dụng và hạn chế sử dụng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật theo hướng dẫn của cán bộ chuyên môn hoặc phải theo đúng chỉ dẫn ở nhãn thuốc; sử dụng đúng thuốc, đúng đối tượng, đúng liều lượng, đúng nồng độ, đúng thời gian, đúng phương pháp và phạm vi cho phép, đúng thời gian cách ly, đảm bảo an toàn cho người, cây trồng, vật nuôi, vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường [6] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Theo Quyết định số 89/2006/ QĐ-BNN ngày 2-10-2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định về quản lý thuốc BVTV nêu rõ:
Điều 26 nguyên tắc chung
chỉ được sử dụng thuốc BVTV trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng hoặc danh mục hạn chế sử dụng do Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn ban hành hàng năm.Nghiêm cấm sử dụng các loại thuốc cấm sử dụng ở Việt Nam; các loại thuốc ngoài danh mục được phép sử dụng, ngoài danh mục hạn chế sử dụng; các loại thuốc không rõ nguồn gốc, xuất xứ; các loại thuốc có nhãn chỉ bằng tiếng nước ngoài.Cấm sử dụng thuốc BVTV trái với hướng dẫn đã được ghi trên nhãn thuốc đó
Việc sử dụng thuốc BVT phải đảm bảo nguyên tắc 4 đúng và phải tuân thủ thời gian cách ly đã được ghi trên nhãn của từng loại thuốc
Điều 27 trách nhiệm của người sử dụng thuốc BVTV
Người sử dụng thuốc BVTV phải chụi trách nhiệm trước Pháp luật về việc
sử dụng tuỳ tiện, không đảm bảo thời gian cách ly, sử dụng không đúng kỹ thuật được khuyến cáo để lại dư lượng thuốc BVTV trong nông sản vượt quá mức cho phép, sử dụng thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục, thuốc không có nguồn gốc xuất
Trang 18xứ, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, vật nuôi, môi sinh và môi trường.Nếu gây thiệt hại về vật chất cho người khác thì phải bồi thường
Theo Quy định số 23/2007/QĐBNN ngày 28 tháng 03 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc ban hành danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam Ban hành kèm theo Quyết định này:
- Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam (danh mục kèm theo) gồm:
+ Thuốc sử dụng trong nông nghiệp: thuốc trừ sâu: 264 hoạt chất với 832 tên thương phẩm; thuốc trừ bệnh: 214 hoạt chất với 572 tên thương phẩm; Thuốc trừ cỏ: 125 hoạt chất với 377 tên thương phẩm; Thuốc trừ chuột: 13 hoạt chất với
19 thương phẩm; Thuốc điều hòa sinh trưởng: 40 hoạt chất với 93 tên thương phẩm; Chất dẫn dụ côn trùng: 4 hoạt chất với 5 tên thương phẩm; Thuốc trừ ốc: 11 hoạt chất với 58 tên thương phẩm; Chất hỗ trợ (chất trải): 4 hoạt chất với 5 tên thương phẩm;
+ Thuốc trừ mối: 11 hoạt chất với 11 tên thương phẩm;
+ Thuốc bảo quản lâm sản: 5 hoạt chất với 6 tên thương phẩm;
+ Thuốc khử trùng kho: 5 hoạt chất với 5 tên thương phẩm;
- Danh mục thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng ở Việt Nam gồm:
+ Thuốc sử dụng trong nông nghiệp: thuốc trừ sâu: 6 hoạt chất với 11 tên thương phẩm; Thuốc trừ chuột: 1 hoạt chất với 3 tên thương phẩm;
+ Thuốc trừ mối: 2 hoạt chất với 2 tên thương phẩm;
+ Thuốc bảo quản lâm sản: 4 hoạt chất với 4 tên thương phẩm;
+ Thuốc khử trung kho: 3 hoạt chất với 9 tên thương phẩm;
- Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng ở Việt Nam gồm:
+ Thuốc trừ sâu, thuốc bảo quản lâm sản: 21 hoạt chất;
+ Thuốc trừ bệnh: 6 hoạt chất;
+ Thuốc trừ chuột: 1 hoạt chất;
+ Thuốc trừ cỏ: 1 hoạt chất;
Trang 19Quyết định số 19/2005/QĐ-BNN của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển Nông thôn ngày 24/03/2005 về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật sử dụng cho cây rau.Ban hành theo quyết định này:
- Danh mục thuốc bảo vệ thực vật sử dụng cho cây rau gồm:
+ Thuốc trừ sâu: 49 hoạt chất với 91 tên thương phẩm;
+ Thuốc trừ bệnh: 54 hoạt chất với 108 tên thương phẩm;
+ Thuốc trừ cỏ: 5 hoạt chất với 5 tên thương phẩm;
+ Thuốc kích thích sinh trưởng: 9 hoạt chất với 15 tên thương phẩm;
+ Thuốc trừ ốc sên: 1 hoạt chất với 1 tên thương phẩm
1.2 Tình hình nghiên cứu việc sử dụng thuốc trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới
Thuốc hóa học bảo vệ cây được dùng đầu tiên thế giới vào nặm 1885 là thuốc Boocđô được dùng để trừ bệnh cho cây.Tiếp đó là việc sản xuất ra thuốc trừ sâu hữu cơ, đặc biệt là thuốc Clo hữu cơ (DDT) vào cuối những năm 1940, một kỉ nguyên của biện pháp hóa học phòng trừ dịch hại bắt đầu Theo Phó giáo sư tiến sĩ
Hà Quang Hùng (1998): “Biện pháp hóa học ra đời đã đưa lại hiệu quả nhanh chóng, thuận tiện trong phòng trừ dịch hại, phòng trừ được những ổ dịch và dập tắt nạn dịch hại có nguy cơ lan tràn” [13] Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp đã làm tăng năng suất cây trồng đáng kể và chi phí đầu tư Theo Cayxerujxki và Cachiaxki (1975), ở Liên Xô hiệu quả của một rúp dùng thuốc bảo vệ thực vật thu được: lúa mì là 3 rúp, củ cải đường là 20 rúp, cây ăn quả
là 10 rúp, cà chua là 17 rúp Ngoài việc làm tăng năng suất dùng thuốc bảo vệ thực vật còn là tăng năng suất lao động lên 7 đến 9 lần [11] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Bên cạnh đó đã làm giảm đáng kể lượng lớn thiệt hại do sâu bệnh, cỏ dại gây ra Theo tạp chí Zemledelie (Liên Xô cũ) trong bài “Thiệt hại trong nông nghiệp thế giới” cho rằng năm 1969 tổng thiệt hại trong nông nghiệp toàn thế giới
do sâu hại gây ra là 29, 7 tỉ USD (tương đương 13, 8% so với khả năng của mùa màng), do bệnh gây ra là 24, 8 USD (11, 6%), do cỏ dại gây ra là 20, 4 USD (9, 5%) Tất cả là 75 tỉ USD (tương đương 35% khả năng mùa màng)., , so với sản lượng thực tế của thế giới(140 tỷ) thì thiệt hại trên chiếm 54%[9].Theo FAO
Trang 20(1984) trên thế giới tổn thất do dịch hại gây ra là khoảng 47-60 USD/ha, riêng ở Hoa Kỳ thiệt hại 51USD/ha(trích theo Trần Ngọc Lân) [15] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008) Đối với rau thiệt hại do sâu, bệnh và cỏ dại gây ra cũng rất đáng kể.Theo Culacov.E.P(1965)thiệt hại trên rau của toàn thế giới là78, 2 triệu tấn tương đương 6, 4 tỷ USD, trong đó do sâu là 23,4 triệu tấn (2 tỷ USD) [9] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008) Theo số liệu của Zakharenco(1975)trình bày tại Đại hội Bảo vệ thực vật quốc tế lần thứ VIII:thiệt hại do sâu bệnh và cỏ dại gây ra cho cây rau của toàn thế giới chiếm khoảng 27% khả năng của mùa màng.Trong đó do
cỏ dại là 10%, do sâu là 8% và do bệnh là 9% [11] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Nhịp độ sử dụng thuốc BVTV trên thế giới ngày một tăng.Theo thống kê của ngân hàng phát triển Châu Á (1987) mức tiêu thụ thuốc BVTV phòng trừ dịch hại trên thế giới tính bằng đô la Mỹ như sau: năm 1964 là 950 triệu, 1971 là 2,39
tỉ, 1975 là 5, 5 tỷ, 1980 là 7, 5 tỷ, 1985 là 16 tỷ, 1990 là 21,5 tỷ và 1991 là 26, 8 tỷ
đô la Mỹ Trong khoảng thời gian từ 1960 đến 1985, mức độ tiêu thụ các loại thuốc hoá học tăng như sau: thuốc trừ cỏ mỗi năm tăng 16,7%, thuốc trừ sâu tăng
11, 8% và thuốc trừ bệnh tăng 8, 8%(trích theo Phạm Văn Lầm) [16]
Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1998 toàn thế giới sử dụng hết 3,1 triệu tấn hoạt chất thuốc BVTV.Các nhóm thuốc được sử dụng chính
là thốc diệt cỏ 46%, thuốc trừ sâu 31%, thuốc diệt nấm 18%, các loại khác 5%.Riêng các nước Châu Á trong năm 1985 đã sử dụng tới 16% tổng số sử dụng trên thế giới, trong đó thuốc trừ sâu chiếm 75,8%, thuốc trừ cỏ 13,4%, thuốc trừ bệnh 8,4% [24] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Trong Báo cáo của Đại hội Bảo vệ thực vật quốc tế lần thứ VIII cho thấy: Ở Nhật Bản, 1 ha trồng trọt thu được 74 tạ sản phẩm phải dùng hết 11,4 kg/ha thuốc hoá học nguyên chất Ở Mỹ 1 ha trồng trọt thu được 26 tạ sản phẩm dùng hết 2, 3 kg/ha thuốc nguyên chất và ở Liên Xô 1ha trồng trọt thu được 20 tạ sử dụng hết 1,
2 kg/ha thuốc nguyên chất [11] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Tại một số nước có nề kinh tế phát triển mức sử dụng thuốc BVTV cũng tăng rất nhanh Theo Báo cáo trong Đại hội bảo vệ thực vật quốc tế lần thứ VIII (1975) thì năm 1964 ở Liên Xô đã dùng 215.000 tấn thuốc để phun cho 74, 4 triệu đất trồng
Trang 21trọt.Đến năm 1974 khối lượng thuốc được dùng là 364.000 tấn phun cho 125 triệu ha [12] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008) Còn ở Ba Lan con số này cũng tăng lên nhanh chóng, năm 1962 là 51.000 tấn đến năm 1964 là 66.000 tấn và năm 1965 là 85.000 tấn [9] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008).
Ở Bănglađét trong nghiên cứu của FAO về tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở nước này cho rằng: “ Theo báo cáo của chính phủ, thuốc bảo vệ thưc vật được sử dụng tăng gấp đôi năm 1992 là 7,350 nghìn tấn lên 16, 2 nghìn tấn năm 2001” [28] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
1.2.2.Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu và hoá chất BVTV nói chung ở Việt Nam 1.2.2.1 Những nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc BVTV nói chung ở Việt nam
Thuốc bảo vệ thực vật bắt đầu được sử dụng ở Việt Nam vào cuối những năm 1920,lúc đầu chỉ có một số ít các loại thuốc được sử dụng như DDT, Lindan, Parathion-ethyl, polyclorocamphere.Sự ra đời của biện pháp hoá học ở Việt nam
đã mang lại những bước chuyển mới cho sản xuất nông nghiệp Làm tăng năng xuất cây trồng lên dáng kể và giảm chi phí vả thời gian lao động Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Bình Quyền và Nguyễn Minh Tuyên trong nghiên cứu sử dụng thuốc hoá học phòng trừ sâu hại vào thời gian cuối vụ bông ở Ninh Thuận, Đồng Nai, Đăc Lăc: Việc phun từ 1-3 lần thuốc trừ sâu hoá học vào thời gian cuối
vụ bông đã tạo diều kiện cho năng xuất bông hạt cao hơn so với diện tích không phun thuốc từ 1,5 -4, 2 tạ/ha [20] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Trong những năm gần đây, lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng tăng lên đáng kể.Cuối những năm 1980, cả nước sử dụng khoảng10.000 tấn/năm, đến những năm đầu thập kỷ 1990 là 21.600 tấn/năm Diện tích canh tác sử dụng thuốc BVTV cũng tăng lên 80-90% (trích theo Trần Thị Thành, 2005) [21] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008) Theo Trần Khắc Thi (1995) lượng thuốc BVTV được dùng ngày càng nhiều, nếu năm 1991 là 21.000 tấn, năm1992 là 24.415 tấn, thì đến năm1994 đã là 30.000 tấn (trích theo Ngô Thị Hồng Vân) [24] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Bảng 1.4 Khối lượng thuốc BVTV sử dụng ở Việt Nam từ 1991 – 1994
Trang 22Chủng loại Khối lượng thuốc BVTV sử dụng qua các năm
Khối lượng %
Khối lượng %
Khối lượng %
Khối lượng %Thuốc trừ sâu 17590 82,2 18100 73,1 17700 69,1 20500 68,3Thuốc trừ
bệnh 2700 12,6 2800 11,5 3800 14,8 4650 15,5Thuốc diệt cỏ 500 3,3 2600 10,6 3050 11,9 3500 11,7Thuốc khác 410 1,9 915 3,7 1050 4,1 1350 4,5Tổng 21400 100 24415 100 25600 100 30000 100
Nguồn, Trần Khắc Thi (1995), Tạp chí Khoa học Kỹ thuật số 1, 1995 [24]
Theo số liệu của FAO (2004), trong vòng gần một thập kỷ từ 1991 đến
1998 lượng thuốc BVTV được sử dụng ở Việt Nam đã tăng lên gấp đôi, sự tăng lên này cao nhất là năm 1998 với khoảng trên 40000 tấn [29] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Hình1.1 Sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam, 1991 – 1999
Nguồn, Craig Meiser, DECRG-IE(2004), báo cáo về sự nghèo nàn của môi sinh do sử dụng thuốc BVTV ở Đồng bắng Sông Cửu Long.
Hiện nay việc sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc BVTV ở Việt Nam đã đến mức báo động.Nó đã có những ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất, môi trường
và sức khoẻ con người.Theo nghiên cứu tổng thể của Cục BVTV năm 2000, có 2.500kg thuốc trừ sâu bị cấm sử dụng đã được tìm thấy (Methamidophos, DDT và các chất hoá học khác), cùng với 4.753 lít và 5.645kg thuốc nhập khẩu trái phép và thuốc trừ sâu giả [28]
Trang 23Báo cáo thống kê của vụ KHCN & MT năm 2007, lượng thuốc BVTV nhập vào Việt Nam là 77000 tấn; tổng lượng thuốc BVTV trôi nổi, không được phép sử dụng đang lưu trữ cần tiêu huỷ trên cả nước là khoảng 150 tấn thuốc nước và thuốc bột với khoảng 70 tấn bao bì [25] (dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008).
Theo kết quả thanh tra của Cục BVTV trong đợt thanh tra diện rộng năm
2002 về quản lý kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV, trong số 6.840 hộ được thanh tra việc sử dụng thuốc BVTV có 151 sử dụng thuốc BVTV bị cấm chiếm 2,2%; 126 hộ phun thuốc ngoài danh mục chiếm 1,84%; 32 hộ sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc chiếm 0,46%; 244 hộ sử dụng thuốc không đúng thời gian cách ly chiếm 3,5%; 120 hộ phun thuốc không đúng kỹ thuật (nồng độ, liều lượng, thời gian phun) chiếm 14,9%; có 1105 hộ phun thuốc quá nhiều lần trong một vụ sản xuất chiếm 16,2%; 4161 hộ sử dụng thuốc BVTV đúng quy trình kỹ thuật chiếm 60,8% [7] (dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Theo nghiên cứu khảo sát tình hình sử dụng thuốc BVTV tại 38 Tỉnh Thành trên toàn quốc của Cục BVTV (2006) có đến 81,4% số hộ mua thuốc để ngay trong nhà, 16% để ngoài vườn và 7% để trong chuồng gia xúc Việc cất giữ thuốc tuỳ tiện chỉ là một biểu hiện của sự thiếu hiểu biết: có 94% số hộ sử dụng thuốc không có hướng dẫn và chưa đến 20% số hộ được hỏi hiểu biết về tính độc hại của thuốc BVTV Có đến 70% số người pha chế thuốc không theo hướng dẫn và 50% dùng tay trần pha chế thuốc Nhiều loại thuốc Clo hữu cơ, chứa thuỷ ngân, arsen và các kim loại nặng, thuốc thuộc nhóm lân hữu cơ có độ độc cao như Methyl Parathion, Methamidophos, Phosphamidon … đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng.Tuy nhiên, các loại thuốc này vẫn được nhập lậu và sử dụng khá nhiều như Wofatox, Monitor (trên 40% người sử dụng), Kelthan (80% người sử dụng), DDT và 666 (hơn 2% người sử dụng) [28] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Số liệu thanh tra của phòng Thanh tra pháp chế, Cục BVTV năm 2007 cho thấy: 35% số hộ kiểm tra có hành vi sử dụng thuốc BVTV không đúng kỹ thuật, chủ yếu tập trung vào nhóm nông dân nghèo [28] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
1.2.2.2 Những nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc BVTV trên rau
Trang 24Ở Việt Nam tình hình sử dụng thuốc BVTV trên rau đã đến mức đáng lo ngại.Lượng thuốc được ngày càng nhiều, đặc biệt là các loại thuốc cấm, thuốc không có trong danh mục, không rõ nguồn gốc và các loại thuốc kích thích sinh trưởng.Ở Từ Liêm, Hà Nội mỗi vụ rau phun thuốc từ 28 - 30 lần (Phạm Bình Quyền và ctv, 1995) [19] (dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008).
Khi nghiên cứu hiện trạng thuốc BVTV và phân bón trong sản xuất rau tại
Hà Nội và Nình Bình, Nguyễn Thị Lan (2003) đã đưa ra kết luận: Thuốc BVTV được dùng khá đa dạng trong sản xuất rau Trong tổng số 27 loại đã được người dân sử dụng thì thuốc trừ sâu chiếm phần lớn 20/27 loại tỉ lệ 74,1%, thuốc trừ bệnh 5/27 loại tỉ lệ 18,5, còn lại là thuốc trừ cỏ một loại và chất kích thích sinh trưởng một loại.Trong số 20 loại thuốc trừ sâu được sử dụng thì dạng hoá học chiếm chủ yếu với 17/20 loại, các loại thuốc sinh học chỉ có 3/20 loại Đặc biệt là một số loại thuốc trừ sâu đã bị cấm như: Wofatox và Monitor vẫn được người dân
sử dụng Cũng theo kết quả nghiên cứu cho thấy: Thuốc được phun định kỳ cho rau từ khi cây còn bé.Tại HTX Văn Đức năm 1999 trên rau bắp cải có hộ phun từ
2 - 3 lần / tuần (tương ứng 15 - 17 lần cho một vụ rau).Năm 2001, 10 -14 lần phun/vụ rau.Bên cạnh đó nông dân còn sử dụng nhiều loại thuốc nhập lậu từ Trung Quốc Vì theo họ giá thuốc nhập lậu rẻ và phổ tác dụng rộng [14] (dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Theo kết quả nghiên cứu của Ths Lê Thị Kim Oanh (2002) khi nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc trừ sâu ở vùng trồng rau họ thập tự ngoại thành Hà Nội và phụ cận cho thấy: có 32 loại thuốc được sử dụng gồm 8 nhóm thuốc trừ sâu chính (Wofatox 50EC, Monitor 50EC) và thuốc không có trong danh mục được phép sử dụng Người dân thường tập trung vào một số loại thuốc cho hiệu quả sao trong năm đó khi hiệu quả của thuốc có phần giảm họ lập tức chuyển sang dùng thuốc khác Về kết quả thời điểm sử dụng thuốc, tỉ lệ số người dân phun thuốc định kỳ là cao nhất ở tất cả các địa phương (chiếm 48,9 -66,7%) Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do nông dân cho rằng việc phun thuốc theo định kỳ là đơn giản nhất, dễ thực hiện, không mất công điều tra, suy nghĩ, cứ định kỳ một khoảng thời
Trang 25gian nhất định (3,5 hay 7 ngày) là phun thuốc Theo họ việc làm này sẽ tránh được
rủ ro và ăn chắc hơn để thu hoạch sản phẩm bán ra thị trường Điều tra cũng cho thấy ở các vùng trồng rau 100% số dân được phỏng vấn không dùng thuốc theo khuyến cáo ghi trên nhãn mà đều tự ý tăng liều lượng cao hơn khuyến cáo trung bình từ 1,7 -2,4 lần Người dân chủ yếu dùng hỗn hợp 2 hay nhiều loại thuốc lại với nhau Có từ 66,7 - 90,0 số hộ dùng hỗn hợp hai loại thuốc và nhiều hơn hai loại thuốc [19] (dẫn Theo Trần Văn Quyền, 2008)
Kết quả khảo sát việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau tại Đông Anh (Hà Nội) của Phạm Văn Hội và các cộng sự đã cho thấy có 83 loại thuốc được sử dụng trong việc phòng trừ sâu tơ, bọ nhảy, nhện, ruồi đục lá, sâu cuốn lá…Số lần phun trung bình là 3,55-7,97 lần/sào và liều lượng dùng 0,26-1,70 kg/sào/vụ Điều đáng lưu ý là một số loại rau phổ biến như rau cải, cà chua, bắp cải,
bí xanh số lượng các loại thuốc thương phẩm được dùng từ 33-35 loại trong đó có 5 loại thuốc chính như: Tập Kỳ 1.8 EC, Sherpa 25 EC, Cymerin 10 EC, Validacin 5L (trích theo Ngô Thị Hồng Vân) [24] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Ở Nghệ An tình hình sử dụng thuốc BVTV cũng có nhiều bất cập, thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục, thuốc không có nguồn gốc xuất xứ tràn lan trên thị trường.Việc nghiên cứu thực trạng thuốc BVTV trên các loại cây trồng còn chưa đụơc chú ý.Cho đến nay chỉ có một vài nghiên cứu về tình hình sử dụng và phân tích dư lượng thuốc BVTV trên rau
Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Thị Hồng Vân (2005) trong nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc BVTV và đánh giá dư lượng của nó trên một số loại rau
ăn lá tại một số địa phương và trên thị trường thành phố Vinh cho thấy: tại hai xã Quỳnh Minh và Quỳnh Lương huyện Quỳnh Lưu người dân đã sử dụng 33 loại thuốc BVTV để phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại trên rau Các loại thuốc này chủ yếu
có nguồn gốc tổng hợp hoá học thuốc các nhóm lân hữu cơ, clo hữu cơ, cacbamat, pyrethroi…các loại thuốc này chủ yếu là các thuốc thuộc nhóm độc cao, nhóm độc
II có 14 loại chiếm tỷ lệ cao nhất 42,42%, tiếp đến là nhóm độc IV(ít độc) với 13 loại chiếm 39,4%, nhóm độc III có 3 loại chiếm 9,09% và có 3 loại chưa xác định
Trang 26được nhóm độc Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy viện sử dụng thuốc của nông dân chủ yếu theo thói quen mà không theo một chỉ dẫn nào cả Liều lượng dùng vượt so với quy định từ 1-2,5 lần và số lần phun thực tế gấp 1-4 lần so với hướng dẫn ghi trên bao bì.Ví dụ như cải xanh cố lần phun là 14-16 lần/vụ, hành ta
là 4-5 lần vụ.Khoảng cách giữa hai lần phun từ 6-7 ngày, thời gian cách ly là 1 tuần Kết quả phân tích dư lượng thuốc BVTV ở 5 mẫu rau (3 mẫu lấy trên thị trường TP Vinh, 2 mẫu nhà lưới) thì có 2 mẫu rau trên thị trường có dư lượng thuốc BVTV tuy nhiên không có mẫu nào dư lượng vượt quá mức quy định [24] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Trong nghiên cứu của Trần Thị Thành về tình hình sử dụng thuốc BVTV và đánh giá dư lượng của nó trên một số loại rau ăn quả, củ tại một số địa phương và trên thị trường thành phố Vinh (2005) cho thấy có 22 loại hoạt chất BVTV được
sử dụng với 27 loại thương phẩm, trong đó thuốc trừ sâu chiếm 45,4%, thuốc trừ bệnh 54,6% Thuốc có nguồn gốc hoá học chiếm 95,4% và thuốc có nguồn gốc sinh học chiếm 4,65 Đặc biệt là có một số loại thuốc nhập lậu từ Trung Quốc cũng được sử dụng như Yan Xuan Quinh Zing Bai Cai, 558…Tỷ lệ nhóm độc như sau: nhóm độc I(4,45%), II(27,2%), III(9.09%), IV(54,5%) Liều lượng dùng thực
tế của các loại thuốc đều cao hơn hướng dẫn trên bao bì từ 2-8 lần, như ở cà chua thì padan gấp 6,7 lần, Netoxin gấp 8 lần.Số lần phun trung bình từ 7-8 lần/vụ.Thời gian cách ly ở cà chua là 15 ngày, ở su hào, củ cải là 15-20 ngày Kêt qủa phân tích 5 mẫu rau (3 mẫu lấy trên thị trường thành phố Vinh, 2 mẫu rau nhà lưới) thì
có 2 mẫu rau trên thị trường ( cà chua và su hào) có dư lượng thuốc BVTV [21] (dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)
Theo Báo cáo Thanh tra của Chi cục bảo vệ thực vật Nghệ AN năm 2005, tiến hành thu mẫu rau trên thị trường TP Vinh và gửi đi phân tích dư lượng ở Viện Công nghệ sinh học cho thấy trong số 24 mẫu rau có 8 mẫu có dư lượng thuốc BVTV chiếm 33,33% trong đó có một mẫu cà dừa có dư lượng vượt quá mức cho phép [5] (dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008) Một kết qủa phân tích khác, trong 19 mẫu rau quả tại địa bàn tinh Nghệ An cho thấy có 9 mẫu phân tích có dư lượng
Trang 27thuốc BVTV trong đó có 6 mẫu có dư lượng thuốc BVTV trong đó có 6 mẫu có dư lượng thuốc BVTV nằm trong mức an toàn chiếm 31% và 3 mẫu vượt mức an toàn chiếm 16% (trích theo Ngô Thị Hồng Vân) [24] (Dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008)