1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nhận thức của sinh viên ngành giáo dục tiểu học trường đại học vinh về luật giáo dục

60 1,2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Nhận Thức Của Sinh Viên Ngành Giáo Dục Tiểu Học Trường Đại Học Vinh Về Luật Giáo Dục
Tác giả Đào Thị Thủy
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 399 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

giáo viên tiểu học nói riêng cần phải có những hiểu biết về pháp luật nóichung và Luật giáo dục cũng như Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của LuậtGiáo dục nói riêng để nắm bắt được nhữn

Trang 1

trờng đại học vinh khoa giáo dục tiểu học

- -đào thị thuỷ thực trạng nhận thức của sinh viên ngành giáo dục tiểu học - trờng đại học vinh về luật giáo dục khóa luận tốt nghiệp đại học ơ ngành giáo dục tiểu học

Vinh, 05/2010 MỤC LỤC Trang A - MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đớch nghiờn cứu 3

3 Khỏch thể và đối tượng nghiờn cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

Trang 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Bố cục của khoá luận 4

B- NỘI DUNG 5

Chương 1 Quá trình xây dựng và ban hành Luật Giáo dục Việt Nam 5

1 Cơ sở lí luận của khóa luận……… 5

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu……… 5

1.2 Một số khái niệm cơ bản……… 6

2 Sự cần thiết phải ban hành Luật Giáo dục 7

2.1 Yêu cầu khách quan 7

2.2 Yêu cầu chủ quan 8

3 Sự phát triển của Luật Giáo dục từ năm 1998-2005 9

3.1 Luật Giáo dục 1998 9

3.1.1 Bố cục 9

3.1.2 Đối với bậc Giáo dục tiểu học 11

3.2 Luật Giáo dục 2005 12

3.2.1 Sự cần thiết phải ban hành 12

3.2.2 Kế thừa Luật Giáo dục 1998 13

3.2.3 Cơ sở ban hành Luật Giáo dục 2005 14

3.2.4 Bố cục và nội dung cơ bản của Luật Giáo dục 2005 15

3.3 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, năm 2009 .16

Trang 3

3.3.1 Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục .16 3.3.2 Quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo sửa đổi, bổ sung một số điều của

Luật Giáo dục 17

3.3.3 Bố cục và nội dung của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục 18

3.3.4 So với bố cục của Luật giáo dục 2005 38

4 Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 Thực trạng nhận thức của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học trường Đại học Vinh về những điểm mới của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục 39

1 Về phương diện tiếp cận Luật Giáo dục 40

2 Về công tác phổ biến tuyên truyền Luật Giáo dục trong chương trình học 41

3 Về tính cần thiết của việc tìm hiểu về Luật Giáo dục 43

4 Thực trạng nhận thức của mỗi cá nhân sinh viên về Luật Giáo dục 44

5 Tiểu kết chương 2 47

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

1.Kết luận……… 49

2.Kiến nghi……… 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 4

A - MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

đã trải qua hơn 20 năm kể từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm1986) của Đảng Trong quá trình xây dựng đất nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa, Đảng ta luôn quan tâm đến sự nghiệp phát triển Giáo dục và Đàotạo, Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng12/1996) tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu”.[1]

Như vậy, Giáo dục và đào tạo giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệtrẻ thành con người phát triển toàn diện, có đức có tài, có kiến thức văn hoá,khoa học kỹ thuật, có kỹ năng nghề nghiệp, giàu lòng nhân ái, có khả năngsáng tạo trong lao động Phát triển Giáo dục và đào tạo không chỉ là nhiệm vụcủa ngành Giáo dục mà còn là nhiệm vụ của toàn Đảng, Nhà nước, của cáccấp các ngành, của đoàn thể, của mỗi người Việt Nam và là sự nghiệp của

toàn dân Vì phát triển và đổi mới Giáo dục và Đào tạo là một trong những nội dung quan trọng trong tiến trình đổi mới toàn diện đất nước.

Để phát triển sự nghiệp Giáo dục, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước vềGiáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục

vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đáp ứng yêu cầuxây dựng và bảo vệ tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh Ngày 2/12/1998, Quốc hội nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Giáo dục Để hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật Giáo dục, ngày 30/08/2000, Chính phủ ban hành Nghị địnhhướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục, bao gồm những quy định

về chương trình giáo dục, sách giáo khoa và giáo trình, thi và cấp văn bằng;

về mạng lưới tổ chức, hoạt động, cơ sở vật chất của nhà trường và các cơ sởGiáo dục khác; về tuyển dụng, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, thỉnh giảng và

Trang 5

khen thưởng đối với nhà giáo; về chính sách đối với người học; và về các điềukiện tài chính của hệ thống Giáo dục quốc dân.

Sau 7 năm thực hiện, Luật Giáo dục (1998) đã bộc lộ những ưu điểm và hạnchế của mình Trên cơ sở kế thừa và phát huy những ưu điểm của Luật Giáodục 1998, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá XI, kỳhọp thứ 7, từ ngày 05/05 đến ngày 14/06/2005, đã họp và thông qua LuậtGiáo dục 2005, Luật này kế thừa, sửa đổi, bổ sung và thay thế cho Luật Giáodục 1998, với 9 chương và 120 điều, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006

Tuy nhiên, đất nước ngày càng đổi mới thì công cuộc cải cách hành chính, cảicách giáo dục cũng được đổi mới và kéo theo đó là những đổi mới về LuậtGiáo dục Từ khi Luật Giáo dục được ban hành đến nay cũng đã có những đổimới nhất định nhằm đáp ứng và phù hợp với yêu cầu của thời đại Tính đếntháng 10/2009, Luật Giáo dục sửa đổi 2005 vừa tròn 3 năm 10 tháng, trongbáo cáo tổng kết 3 năm thi hành Luật Giáo dục (2006-2008) cho biết: “Xéttrong cả ba năm (2006-2008) công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạmpháp luật, đặc biệt là ban hành văn bản theo kế hoạch, chưa đáp ứng được yêucầu đã đề ra, số lượng văn bản đạt rất thấp; nhiều văn bản thuộc thẩm quyềncấp trên và nhiều văn bản thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng chưa được banhành, gây khó khăn lớn trong công tác chỉ đạo điều hành, không đáp ứngđược yêu cầu đòi hỏi cấp thiết của tình hình thực tiễn, làm chậm quá trình đưaquy định của Luật giáo dục vào cuộc sống và làm giảm uy tín của Bộ trongcông tác này”; “Số lượng văn bản theo kế hoạch soạn thảo quá lớn so với khảnăng thực hiện, trong khi đó nhiều văn bản đã được ban hành ngoài kếhoạch…”.[2]

Trên cở sở đó, ngày 25/11/2009, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 6, đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật Giáo dục nhằm hướng dẫn những cán bộ công chức trongngành nắm được những quy định để thực hiện tốt vai trò của mình và cũng là

để phù hợp với thực tiễn Cùng với yêu cầu đó, với nhà giáo nói chung và

Trang 6

giáo viên tiểu học nói riêng cần phải có những hiểu biết về pháp luật nóichung và Luật giáo dục cũng như Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của LuậtGiáo dục nói riêng để nắm bắt được những thông tin thiết thực nhất phục vụcho quá trình công tác của mình.

Xuất phát từ thực tiễn cần thiết đó tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng nhận thức của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Vinh

về Luật Giáo dục” nhằm trang bị thêm kiến thức về Luật Giáo dục và nâng

cao hiểu biết của bản thân – là một giáo viên tương lai, cũng như người học

và các đồng nghiệp trong ngành Giáo dục

2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm tìm hiểu những điểm mới và khảo sát nhận thức của sinh ngành giáodục tiểu học, trường Đại học Vinh về Luật Giáo dục

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Luật Giáo dục Việt Nam

- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức của sinh viên ngành giáo dục tiểuhọc, trường Đại học Vinh về Luật Giáo dục

4 Giả thuyết khoa học

Có thể nâng cao được hiểu biết cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học trườngĐại học Vinh nếu như thăm dò được khả năng nhận thức về Luật Giáo dụccủa họ

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu về sự ra đời của Luật giáo dục

- Tìm hiểu nội dung của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục

- Khảo sát nhận thức của sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, trường Đạihọc Vinh về Luật Giáo dục

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc, nghiên cứu, tổng kết những tàiliệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Trang 7

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu và thăm dò nhận thức củasinh viên về Luật Giáo dục

- Phương pháp toán học: tính các trị số trung bình, phương sai và độ lệchchuẩn để tìm hiểu mức độ tập trung hiểu biết của sinh viên

7 Bố cục của khoá luận

A- Mở đầu

B- Nội dung chính

Chương 1: Quá trình xây dựng và ban hành của Luật Giáo dục Việt

Nam

Chương 2: Nhận thức của sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, Trường

Đại học Vinh về Luật Giáo dục

C- Kết luận

- Tài liệu tham khảo

- Phụ lục

Trang 8

B- NỘI DUNG Chương 1

Quá trình xây dựng và ban hành Luật Giáo dục Việt Nam

1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Luật Giáo dục Việt Nam đã được ban hành năm 1998 là cơ sở pháp lý đầutiên thống nhất quan điểm chỉ đạo về quản lý, dạy và học, từng bước đưa toànngành giáo dục đi vào quy mô Tính đến năm 2005, Luật Giáo dục đã đượcban hành 7 năm và cũng đã đạt được những thành quả nhất định Tuy nhiên,

để phù hợp với thực tiễn khách quan, với sự phát triển của đất nước, Luậtcũng cần phải sửa đổi cho phù hợp đi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghia xã hội Cũng từ đó, sau 3 năm sửa đổi

và ban hành, Luật Giáo dục Việt Nam cũng đã thể hiện được những ưu điểm

và hạn chế của mình Trên cơ sở những đòi hỏi khách quan của xã hội, cuốinăm 2009, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã họp vàthông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục nhằm từngbước kiện toàn hơn nữa trong toàn ngành giáo dục Tuy sau hơn 10 năm banhành và sửa đổi, Luật đã có những bước tiến quan trong nhưng vẫn chưa cómột cá nhân hay cơ quan, tổ chức nào tìm hiểu và quan tâm đến Luật mộtcách đầy đủ, để trau dồi kiến thức, tạo cơ sở pháp lý trong quá trình công tác,cũng như chưa có tổ chức hay cá nhân nào nghiên cứu những nhận thức vềLuật Giáo dục Chính vì vậy, trong phạm vi hạn chế của mình, tôi mạnh dạnchọn đề tài này với mong muốn sẽ tìm hiểu được quá trình nhận thức về LuậtGiáo dục cụ thể của sinh viên và sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, trườngĐại học Vinh nói riêng để có thể tìm ra nguyên nhân của thực trạng này

Trang 9

1.2 Một số khái niệm cơ bản

Có một số ý kiến khác nhau khi đưa ra khái niệm về Luật, Giáo dục vàLuật Giáo dục nhưng nhìn chung được hiểu như sau:

- Luật: (nói chung) là những qui phạm do Nhà nước ban hành mà mọi

người phải tuân theo và chấp hành,nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ,đảmbảo các quyền con người và quyền công dân, bảo đảm trật tự xã hội và anninh quốc gia

Tuy nhiên, ở mỗi phương diện, Luật lại được hiểu theo những khía cạnhkhác nhau:

1 Trong khoa học tự nhiên - đó là những phát biểu mô tả lại những mốitương quan đều đặn, sảy ra thường xuyên, có tính hiển nhiên giữa các hiệntượng tự nhiên

2 Trong logic và toán học - đó là bản chất của những ý nghĩ , tư duy dựatrên lý trí

3 Trong kinh tế học và tâm lý học - đó là sự mô tả bản chất của các hànhđộng, ứng xử và sự tác động tương tác của con người

4 Trong xã hội con người - luật là những câu từ, thể chế để qui định các

cư xử và sự trừng phạt các lỗi lầm của con người

Trong chính trị và pháp luật: luật lệ là các nguyên tắc đạo đức cho phépvà/hoặc cấm đoán những mối quan hệ giữa người với người hay giữa các tổchức, cũng như việc trừng phạt những người vi phạm các nguyên tắc đạo đức

Trong đạo đức học và triết học đạo đức, những luật lệ này được gọi là luậtpháp của con người để phân biệt giữa các điều luật khác được dùng cho tất cảcác vật thể sống Cơ sở của những luật này có thể là những nguyên tắc đạođức bị bắt buộc một cách hợp pháp hoặc những tiêu chuẩn đạo đức có từ ngànđời (thuần phong mỹ tục) [www.hn-ams.org]

- Giáo dục: là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi

gợi và biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của cả người dạy và

Trang 10

người học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách cảthầy và trò bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng các yêu cầutồn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại.

- Luật Giáo dục: là văn bản có tính pháp lý do nhà nước ban hành quy

định đến các vấn đề có liên quan đến giáo dục tạo cơ sở cho hệ thống giáodục và quản lý giáo dục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình

2 Sự cần thiết phải ban hành Luật Giáo dục

2.1 Yêu cầu khách quan

Ngày nay, cục diện thế giới có nhiều thay đổi, cách mạng khoa học vàcông nghệ liên tục phát triển với trình độ cao thúc đẩy quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền sản xuất và đời sống xã hội, cạnhtranh kinh tế, thương mại, khoa học, công nghệ diễn ra gay gắt Cộng đồngquốc tế phải cùng nhau hợp tác những vấn đề có tính toàn cầu cần được giảiquyết mà không một quốc gia riêng lẻ nào tự có thể giải quyết được Hơn nữa,

xu thế hội nhập quốc tế, hợp tác và cạnh tranh gay gắt trong khu vực và trêntoàn thế giới đã trở thành thách thức đối với việc đào tạo nguồn nhân lực ởtừng quốc gia

Bên cạnh đó, khoa học công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt, côngcuộc cải cách giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, đòi hỏi giáo dụcphải tạo ra những con người có phẩm chất mới phù hợp với cuộc sống xã hộihiện đại: toàn diện về trí thức, năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng vớimọi thay đổi của xã hội Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủchương, đường lối, quan điểm chỉ đạo và chính sách đúng đắn nhằm chỉ đạo

và quy định việc đào tạo, giáo dục con người cũng như quy định về mọi mặtnhư quyền và nghĩa vụ của con người hay cở sở vật chất ở các cấp học, ngànhhọc

Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII (tháng 6/1996) đãnhấn mạnh: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn củacon người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công

Trang 11

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.[3] Có như vậy, mới góp phần đào tạo ra

lớp người lao động phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hộinhập quốc tế ở những năm đầu thế kỷ XXI Do đó, việc ban hành Luật giáodục ở tất cả các quốc gia nói chung và Việt Nam ta nói riêng là hết sức cầnthiết

2.2 Yêu cầu chủ quan

Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam bước vào thời kỳ phục hồi kinh tế

và xây dựng đất nước, đất nước ngày càng có những bước phát triển mới, điều

đó đòi hỏi cả xã hội phải quan tâm đến những vấn đề bức xúc và có tầm quantrọng chiến lược đối với sự phát triển của đất nước

Nhân ngày khai trường đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửihọc sinh, kêu gọi học sinh học tập: “sau 80 năm nô lệ làm cho nước nhà bịyếu hèn, ngày nay chúng ta phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại chochúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp được các nước khác trên toàn cầu…”.[237, 4] Hưởng ứng lời kêu gọi đó toàn ngành giáo dục đã chỉ đạo thực hiệncác biện pháp dạy, học, quản lý và những vấn đề có liên quan đến giáo dục đãtạo được những bước chuyển biến mới

Lịch sử phát triển giáo dục của đất nước tuy đã trải qua nhiều thời gianthử thách và cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể nhưng vẫn cần phải

có sự thống nhất về đường lối và quan điểm chỉ đạo để tạo cơ sở pháp lý chotất cả các cấp và ban ngành có liên quan thực hiện xây dựng và phát triển nềngiáo dục nước nhà trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Ta luôn biết rằng: một con thuyền bao giờ cũng phải có lái thì mới có thể

đi được đến đích mình muốn; nền giáo dục nước nhà cũng như vậy, muốnthực hiện tốt tất cả các mặt từ khâu dạy và học, quản lý đến giám sát đạt hiệuquả thì cần phải có sự chỉ đạo tập trung, điều đó cần phải được thể hiện bằngnhững văn bản pháp quy và có hiệu lực pháp lý Cũng vì nhận thức được quanđiểm con người chính là một nguồn lực vô tận nên vấn đề “phát triển giáo dục

là quốc sách hàng đầu” đã được đặt ra Trên cơ sở đó, Chính phủ nước Việt

Trang 12

Nam chính thức ra quyết định họp Quốc Hội và thông qua luật Giáo dục số11/1998/QH10 vào ngày 02/12/1998 quy định về hệ thống giáo dục quốc dân;nhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quanhành chính nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội, của lực lượng vũ trangnhân dân; tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục.[5].

3 Sự phát triển của Luật Giáo dục từ năm 1998-2005

3.1 Luật Giáo dục 1998

3.1.1 Bố cục

Như vậy, sau hơn 20 năm đất nước thống nhất, non sông quy về mộtmối, chúng ta đã có cơ hội quan tâm đến sự phát triển giáo dục của nước nhà.Một bộ luật về Giáo dục đầu tiên được ra đời, trên cơ sở thống nhất quanđiểm chỉ đạo về các cấp quản lí, lãnh đạo, các cấp học, ngành học Thông quaQuốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Giáo dục 1998 rađời với 9 chương và 110 điều:

Chương I: Những quy định chung (17 điều)

Quy định về: + Phạm vi điều chỉnh

+ Mục tiêu giáo dục

+ Tính chất, nguyên lý giáo dục

+ Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục

+ Ngôn ngữ dùng trong nhà trường

+ Hệ thống giáo dục quốc dân

+ Văn bằng,chứng chỉ

+ Phát triển giáo dục

+ Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân

+ Phổ cập giáo dục

+ Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục

+ Đầu tư cho giáo dục

+ Quản lý nhà nước về giáo dục

+ Vai trò của nhà giáo

Trang 13

+ Nghiên cứu khoa học

+ Không truyền bá tôn giáo trong các trường, cơ sở giáo dục khác + Cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục.

Chương II: Hệ thống Giáo dục quốc dân (5 mục,26 điều)

Quy định về: + Giáo dục mầm non

+ Giáo dục phổ thông

+ Giáo dục nghề nghiệp

+ Giáo dục đại học và sao đại học

+ Phương thức giáo dục không chính quy

Chương III: Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác (4 mục, 17 điều)

Quy định về: + Tổ chức, hoạt động của nhà trường

+ Nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường

+ Các loại trường chuyên biệt

+ Tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục

Chương IV: Nhà giáo (3 mục, 12 điều)

Quy định về: + Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà giáo

+ Đào tạo và bồi dưỡng nhà giáo

+ Chính sách đối với nhà giáo

Chương V: Người học (2 mục, 8 điều)

Quy định về: + Nhiệm vụ và quyền của người học

+ Chính sách đối với người học

Chương VI: Nhà trường, gia đình và xã hội (5 điều)

Quy định về: + Trách nhiệm của nhà trường

+ Trách nhiệm của gia đình

+ Quyền của cha mẹ hoặc người dám hộ của học sinh

+ Trách nhiệm của xã hội

+ Quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ giáo dục

Chương VII: Quản ký nhà nước về giáo dục (4 mục, 18 điều)

Quy định về: + Nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về

Trang 14

giáo dục.

+ Đầu tư cho giáo dục

+ Quan hệ quốc tế về giáo dục

+ Thanh tra giáo dục

Chương VIII: Khen thưởng và sử lý vi phạm (5 điều)

Quy định về: + Phong tặng danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú

+ Khen thưởng đối với tổ chức, cá nhân có thành tích về giáo dục + Khen thưởng đối với người học

+ Phong tặng danh hiệu tiến sĩ danh dự

+ Xử lí vi phạm

Chương IX: Điều khoản thi hành (2 điều)

Quy định về: + Hiệu lực thi hành

+ Hướng dẫn thi hành

3.1.2 Đối với bậc Giáo dục tiểu học

Luật Giáo dục quy định:

- Giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ sáu đếnmười bốn tuổi; được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm.Tuổi của học sinh vào lớp một là sáu tuổi

- Mục tiêu của Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những

cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thểchất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở

- Về nội dung và phương pháp, giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho họcsinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹnăng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thânthể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật.Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồidưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thựctiễn; tác động đến tình cảm, đem lai niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Trang 15

- Về sách giáo khoa, do Bộ Giáo dục và đào tạo tổ chức biên soạn vàduyệt trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa

để sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng dạy, học tập ở nhàtrường và các cơ sở giáo dục khác Nhà nước quản lý việc, in và phát hànhsách giáo khoa

- Về văn bằng, học sinh học hết chương trình tiểu học có đủ điều kiệntheo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi và nếu đạt yêu cầuthì được cấp bằng tốt nghiệp tiểu học Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạohuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp bằng tốt nghiệp tiểu học.[5]

3.2 Luật Giáo dục 2005

3.2.1 Sự cần thiết phải ban hành

Qua gần 7 năm thực hiện, Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày2/12/1998 đã tạo cơ sở pháp lý để sự nghiệp giáo dục tiếp tục phát triển, hệthống giáo dục quốc dân từng bước được kiện toàn, trình độ dân trí và chấtlượng nguồn nhân lực được nâng cao Tuy nhiên, trong quá trình phát triểngiáo dục, để giải quyết các vấn đề bức xúc do thực tiễn đặt ra, cần có thêmmột số qui định mới, đồng thời cần sửa đổi, bổ sung một số qui định đã cónhằm tăng cường cơ sở pháp lý, tạo điều kiện cho sự nghiệp giáo dục pháttriển mạnh mẽ hơn để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và phục vụ cóhiệu quả công cuộc đổi mới kinh tế xã hội của đất nước

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định những quan điểm vàphương hướng cơ bản về phát triển giáo dục, trong đó nổi bật là các yêu cầunâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy

và học, hoàn thiện hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; chuẩnhóa, hiện đại hóa, xã hội hóa giáo dục; thực hiện công bằng trong giáo dục vàxây dựng xã hội học tập Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ươngkhóa IX năm 2002 tiếp tục nhấn mạnh phương hướng, nhiệm vụ do Đại hội

IX vạch ra, đồng thời xác định vai trò nòng cốt để đội ngũ nhà giáo và cán bộquản lý giáo dục trong việc thực hiện các nhiệm vụ về giáo dục Các quan

Trang 16

điểm của Đảng trong các văn kiện nêu trên về phát triển sự nghiệp giáo dụctrong thời kỳ mới cần được thế chế hóa trong Luật Giáo dục.

Trong những năm qua, nhận thức quan điểm “phát triển giáo dục là quốcsách hàng đầu” mặc dù đã được nâng lên, song chưa thể hiện đầy đủ trongcông tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện ở nhiều cán bộ quản lý và cấp quản lý,nhất là khi phải xây dựng và lựa chọn các phương án đầu tư cho giáo dục, xâydựng cơ chế, chính sách cho các tổ chức và hoạt động giáo dục Trong quản

lý nhà nước về giáo dục, sự phối hợp giữa các ngành, các cấp còn có nhiềutrường hợp thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ, kém hiệu quả Sự phối hợp giữa nhàtrường, gia đình và xã hội chưa được triển khai thực hiện đúng mức Tìnhhình đó đòi hỏi cần sửa đổi Luật Giáo dục nhằm xác định rõ hơn hành langpháp lý để tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong công tácquản lý giáo dục, giữa các tổ chức các cá nhân tham gia hoạt động giáo dục Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khoa học -công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt, công cuộc cải cách giáo dụcđang diễn ra trên quy mô toàn cầu, việc sửa đổi Luật Giáo dục còn nhằm tạothêm điều kiện để giáo dục nước ta tiếp cận trình độ phát triển về giáo dục củacác nước tiên tiến, trên cơ sở đó, phục vụ tốt hơn sự nghiệp đổi mới kinh tế -

xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển ở đầu thế kỷ XXI.[6]

3.2.2 Kế thừa Luật Giáo dục 1998

Trên cơ sở kế thừa và phát triển những quy định của Luật Giáo dục

1998, Luật giáo dục 2005 được quốc hội khoá X, kì họp thứ 10 sửa đổi, bổsung theo nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 được xây dựng vớinhững nội dung mới bao gồm các quy định nhằm tập trung giải quyết nămnhóm vấn đề:

Một là, để hoàn thiện một bước về hệ thống giáo dục quốc dân, Luật

đã khẳng định vị trí giáo dục thường xuyên, phát triển giáo dục nghề nghiệptheo ba cấp đào tạo, tăng khả năng liên thông, phân luồng giữa các bộ phậncủa hệ thống

Trang 17

Hai là, Luật đã xác định rõ yêu cầu về chương trình giáo dục, về điều

kiện thành lập nhà trường, xác định những tiêu chí cơ bản để một trường đạihọc hoặc viện nghiên cứu được phép đào tạo trình độ tiến sỹ, định hướng vềcông tác kiểm định chất lượng giáo dục, tạo điều kiện chuyển đổi từ đào tạotheo năm học sang đào tạo theo tích lũy tín chỉ, tăng tính cạnh tranh giữa các

cơ sở giáo dục

Ba là, để nâng cao tính công bằng xã hội trong giáo dục, Luật đã có

những quy định mở rộng cơ hội học tập, xác định các chính sách hỗ trợ chocon em đồng bào dân tộc thiểu số, các đối tượng được hưởng chính sách xãhội, con em gia đình nghèo

Bốn là, để tăng cường quản lý nhà nước về giáo dục, Luật đã xác

định những quy phạm nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi tiêu cực, xácđịnh rõ trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nângcao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường, đặc biệt là các trường dạynghề, các trường trung cấp, cao đẳng và đại học

Năm là, để khuyến khích đầu tư mở trường ngoài công lập, Luật đã

có các quy định bảo đảm sự bình đẳng giữa các loại hình trường và quy địnhcác chính sách hỗ trợ trường dân lập, trường tư thục.[6]

3.2.3 Cơ sở ban hành Luật Giáo dục 2005

- Luật Giáo dục 2005 thể chế hoá đường lối, quan điểm giáo dục củaĐảng được chỉ ra trong các văn kiện của Đại hội IX, Hội nghị TW6 và Nghịquyết hội nghị TW9 khoá IX, nhằm tạo chuyển biến cơ bản về chất lượnggiáo dục và quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá,góp phần thực hiện công bằng xã hội, hội nhập quốc tế

- Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 và bổ sung năm 2001

là cơ sở pháp lý (Chương III về văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ) đểban hành Luật Giáo dục 2005

Trang 18

- Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi) được ban hành trên cơ sở những đòi hỏikhách quan của xã hội, quy định và giải quyết những vấn đề bức xúc, khókhăn và vướng mắc trong hoạt động giáo dục và quản lí giáo dục.[7].

3.2.4 Bố cục và nội dung cơ bản của Luật Giáo dục 2005

Luật giáo dục 2005 gồm 9 chương, 120 điều, bỏ bớt 3 điều, bổ sung 13

điều mới, sửa đổi 83 điều (trong đó có 68 điều được chỉnh lý về nội dung và

15 điều chỉnh lý về kỹ thuật)

Lý do bỏ 3 điều trong mục 4 chương VII là về thanh tra giáo dục là vì một

số nội dung quy định về thanh tra giáo dục đã được quy định tại Luật thanhtra và do Luật thanh tra điều chỉnh

Lý do thêm 13 điều mới là nhằm quy định các nội dung về chương trình,trách nhiệm của cán bộ quản lý, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục, cáchành vi bị cấm đối với nhà giáo và người học, chính sách đối với trẻ em tạicác cơ sở giáo dục mần non, chính sách đối với trường dân lập và các tổ chứccần có mà trong Luật giáo dục 1998 chưa quy định Các điều bổ sung mớigồm quy định về chương trình giáo dục (Điều 6), vai trò và trách nhiệm củacán bộ quản lý giáo dục (Điều 16), kiểm định chất lượng giáo dục (Điều 17),chương trình giáo dục mầm non (Điều 24), Hội đồng trường (Điều 53), mục 4chương III, chính sách đối với trường dân lập, tư thục gồm 4 điều : quy địnhnhiệm vụ, quyền hạn của trường dân lập, tư thục (Điều 65), chế độ tài chính(Điều 66), quyền sở hữu tài sản, rút vốn và chuyển nhượng vốn (Điều 67),chính sách ưu đãi (Điều 68), các hành vi nhà giáo không được làm (Điều 75),quyền và chính sách đối với trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non (Điều 84), cáchành vi bị cấm đối với người học (Điều 88), ban đại diện cha mẹ học sinh(Điều 96).[8] Trong đó:

Chương I: Những quy định chung: gồm 20 điều

Chương II: Hệ thống giáo dục quốc dân: gồm 27 điều

Chương III: Nhà trường và cơ sở giáo dục khác: gồm 22 điều

Chương IV: Nhà giáo: gồm 13 điều

Trang 19

Chương V: Người học: gồm 10 điều

Chương VI: Nhà trường, gia đình và xã hội: gồm

Chương VII: Quản lý nhà nước về giáo dục: gồm 15 điều

Chương VIII: Khen thưởng và xử lý vi phạm: gồm 5 điều

Chương IX: Điều khoản thi hành: gồm 2 điều

3.3 Lu ật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, năm 2009

3.3.1 Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục

Luật giáo dục được Quốc hội ban hành năm 2005 (thay thế Luật giáodục năm 1998) và có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 01 năm 2006 đã tạo cơ sởpháp lý để tiếp tục xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà trong thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Luật đã tạo được bước tiến quan trọng, tháo

gỡ được nhiều vướng mắc trong hoạt động giáo dục Qua 3 năm thực hiện,Luật đã góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục, nâng cao trình độ dân trí vàchất lượng nguồn nhân lực, góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước Tuynhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Luật đã nảy sinh một số điểm hạnchế, bất cập, một số quy định của Luật chưa đi vào cuộc sống Một số điểmchưa phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu nâng cao chất lượng giáodục, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục, phát huy tốt hơn hợp tácquốc tế về giáo dục cần được sửa đổi, bổ sung kịp thời Một số nội dung cầnsửa đổi, bổ sung cho rõ ràng hơn để dễ hướng dẫn, dễ thực hiện Những sửađổi, bổ sung Luật giáo dục nhằm tạo cơ sở cho việc nâng cao chất lượng giáodục toàn diện, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáodục, thực hiện chế độ chính sách đối với người học, tạo điều kiện cho sựnghiệp giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn

Trong những năm qua chủ trương đổi mới, phân cấp quản lý giáo dục đãtừng bước được thực hiện Một số quy định của Luật cần được sửa đổi phùhợp với chủ trương này như các quy định về thẩm quyền thành lập trường đạihọc, thẩm quyền giao nhiệm vụ đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ; quyền và tráchnhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong đó có việc kiểm tra việc chấp hành

Trang 20

pháp luật về giáo dục đối với tất cả cơ sở giáo dục trên địa bàn Việc sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật Giáo dục lần này nhằm tiếp tục thực hiện phâncấp mạnh mẽ hơn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnhvực giáo dục

Ngày 15 tháng 4 năm 2009, Bộ Chính trị có Thông báo số 242-TB/TWkết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoáVIII, phương hướng phát triển giáo dục đến năm 2020 Các quan điểm chỉđạo quan trọng này cần được thể chế thành các nội dung pháp luật Ngày 19tháng 6 năm 2009, Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ 5 thông qua Nghị quyết số35/2009/NQ-QH12 về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tàichính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-

2015, một số nội dung của Nghị quyết được thể chế trong Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật giáo dục nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệthống pháp luật

Trong bối cảnh Việt Nam tham gia hội nhập ngày càng sâu rộng vào cácquan hệ kinh tế thế giới, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục

để phù hợp với các cam kết quốc tế, các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kýkết hoặc là thành viên, quản lý tốt hơn hoạt động hợp tác, đầu tư nước ngoàitrong lĩnh vực giáo dục

Với những lý do nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáodục là cần thiết.[9].

3.3.2 Quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục

Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục được thực hiện theocác quan điểm chỉ đạo và nguyên tắc sau:

1 Đường lối, quan điểm của Đảng và các chủ trương, chính sách vềgiáo dục phải được quán triệt trong quá trình sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật Giáo dục Đặc biệt là các quan điểm về giáo dục đã được xác định trongNghị quyết Trung ương 2 khoá X, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X

Trang 21

và Thông báo số 242-TB/TW ngày 15 tháng 4 năm 2009 kết luận của Bộ Chínhtrị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, phương hướngphát triển giáo dục đến năm 2020.

2 Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục phải xuất phát

từ những đòi hỏi khách quan, lựa chọn những nội dung thực sự cần thiết, tạo

cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề thực sự bức xúc trong thực tiễn, gópphần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động giáodục và trong công tác quản lý giáo dục, góp phần đổi mới giáo dục và tiếp tụcthực hiện "phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu"

3 Các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáodục phải phù hợp, thống nhất, đồng bộ với quy định của Hiến pháp, các bộluật và luật hiện hành; phù hợp với các cam kết và Điều ước quốc tế mà Việt Nam

Điều 1: gồm 31 khoản quy định về các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật

giáo dục cụ thể như sau:

+ Sửa đổi Khoản 2 Điều 6 (về chương trình giáo dục) như sau:

“2 Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính hiện đại, tính ổn định,

tính thống nhất, tính thực tiễn, hợp lý và kế thừa giữa các cấp học và trình độ đào tạo; tạo điều kiện cho sự phân luồng, liên thông, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân; là cơ sở bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế”.

Sửa đổi, bổ sung này nhằm triển khai thực hiện quy định về chương trìnhgiáo dục với chất lượng cao hơn trong thực tế, bảo đảm chương trình giáo dục

Trang 22

phải hợp lý và phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, tạo cơ sởbảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện.

+ Sửa đổi Khoản 1 Điều 11 (về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em nămtuổi) như sau:

“1 Phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập

giáo dục trung học cơ sở Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước”.

Ngày 19 tháng 6 năm 2009, Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ 5 thông quaNghị quyết số 35/2009/NQ-QH12 về chủ trương, định hướng đổi mới một số

cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010 - 2011 đến nămhọc 2014 - 2015 trong đó xác định “phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi”

Để có cơ sở triển khai giải pháp tập trung cho trẻ 5 tuổi có điều kiện chuẩn

bị bước vào học lớp 1, Luật bổ sung quy định “phổ cập giáo dục mầm non 5tuổi” Đây là yêu cầu có tính pháp lý cao, cần có sự ổn định và thực hiện lâudài, huy động nguồn lực lớn các lực lượng xã hội tham gia Quy định phổ cậpgiáo dục mầm non 5 tuổi thể hiện tính ưu việt của chế độ ta và khẳng địnhthành tựu Quốc gia trong việc giáo dục và chăm sóc trẻ em Theo thống kê,hiện nay tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đi học bình quân cả nước là 90%, tuy nhiên, nhiềunơi mới đáp ứng được học một buổi một ngày và nhiều tỉnh có tỷ lệ thấp hơnđáng kể Việc sửa đổi Luật theo hướng trên tạo cơ sở pháp lý để Nhà nướctiếp tục tăng đầu tư có hiệu quả cho nâng cao chất lượng giáo dục mầm nonnói chung và trẻ em 5 tuổi nói riêng

+ Sửa đổi Điều 13 (Đầu tư cho giáo dục) như sau:

“Điều 13 Đầu tư cho giáo dục

Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư đặc thù thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện và được

ưu đãi đầu tư.

Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam

Trang 23

định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục

Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu

tư cho giáo dục”.

Giáo dục là loại hình dịch vụ đặc biệt, được quy định trong Luật Đầu tư

là lĩnh vực đầu tư có điều kiện và được ưu đãi đầu tư Việc sửa đổi, bổ sungnhư trên nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ giữa quy định của Luật Giáo dụcvới Luật Đầu tư, tạo cơ sở cho việc xây dựng các văn bản dưới Luật theohướng hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục thực hiện theo quy định của

hệ thống pháp luật chuyên ngành, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 5Luật Đầu tư: “Hoạt động đầu tư đặc thù được quy định trong luật khác thì ápdụng quy định của luật đó”

+ Sửa đổi Khoản 3 Điều 29 (về chương trình giáo dục phổ thông vàsách giáo khoa):

Bổ sung tiếp theo khoản 3 Điều 29 một đoạn như sau:

“ Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chuẩn sách giáo khoa, việc biên soạn sách giáo khoa; việc chọn sách để dạy thí điểm, tổ chức dạy thí điểm, lấy ý kiến đóng góp của nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, hội nghề nghiệp, học sinh; việc thẩm định, duyệt và quyết định chọn sách để sử dụng làm sách giáo khoa, bao gồm cả sách giáo khoa bằng chữ nổi, bằng tiếng dân tộc và sách giáo khoa cho học sinh trường chuyên biệt”.

Bổ sung quy định trên đây nhằm góp phần bảo đảm chất lượng của sáchgiáo khoa và quản lý tốt hơn việc biên soạn, ban hành sách giáo khoa Nhiệm

vụ của các trường chuyên biệt như trường năng khiếu, trường giáo dưỡng,trường dành cho người tàn tật, khuyết tật, trường dự bị đại học có điểm khác

so với cơ sở giáo dục phổ thông nói chung, do đó sách giáo khoa dùng đểgiảng dạy trong các trường chuyên biệt cần có quy định phù hợp với ngườihọc tại các cơ sở giáo dục này

+ Sửa đổi Khoản 2 Điều 35 (về giáo trình giáo dục nghề nghiệp và giáo trìnhgiáo dục đại học) như sau:

Trang 24

“2 Giáo trình giáo dục nghề nghiệp cụ thể hóa các yêu cầu về nội

dung kiến thức, kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục đối với mỗi môn học, ngành, nghề, trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục nghề nghiệp.

Giáo trình giáo dục nghề nghiệp do Hiệu trưởng nhà trường, Giám đốc trung tâm dạy nghề tổ chức biên soạn hoặc tổ chức lựa chọn; duyệt để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập chính thức trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo trình do Hiệu trưởng, Giám đốc trung tâm dạy nghề thành lập; bảo đảm có đủ giáo trình để giảng dạy, học tập.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề quy định việc biên soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt và sử dụng giáo trình; tổ chức biên soạn và duyệt giáo trình sử dụng chung cho cơ

sở giáo dục nghề nghiệp".

+ Sửa đổi Khoản 4 Điều 38 (về thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ) như sau:

“4 Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với

người có bằng tốt nghiệp đại học, trong ba năm học đối với người có bằng thạc sĩ Trong trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo dài hoặc rút ngắn, thời gian kéo dài không quá bốn năm, thời gian rút ngắn không quá sáu tháng Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định

cụ thể các trường hợp đặc biệt được kéo dài hoặc rút ngắn thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ.

Nghiên cứu sinh không có điều kiện theo học tập trung liên tục và được

cơ sở giáo dục cho phép vẫn phải có đủ lượng thời gian tập trung theo quy định tại Điều này để hoàn thành chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, trong

đó có ít nhất một năm tập trung liên tục.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định cụ thể việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người đã tốt nghiệp đại học với sự tham gia đào

Trang 25

tạo của cơ sở giáo dục đại học”.

Để bảo đảm chất lượng đào tạo trình độ tiến sĩ, Luật sửa đổi, bổ sung quyđịnh về thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ tại khoản 4 Điều 38 theo hướng: quyđịnh thời gian đào tạo tiến sĩ đối với người có bằng thạc sĩ được thực hiệntrong “ba năm học” thay vì “từ hai đến ba năm học” như quy định hiện hành;

bổ sung quy định cụ thể về thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được “kéodài không quá bốn năm”, “rút ngắn không quá sáu tháng” trong trường hợpđặc biệt và giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể cáctrường hợp được kéo dài hoặc rút ngắn thời gian đào tạo

Quy định này ràng buộc trách nhiệm không chỉ nghiên cứu sinh màgiảng viên hướng dẫn và cơ sở đào tạo phải đầu tư thích đáng về thời gian,công sức, trí tuệ cho việc học tập và nghiên cứu, tham gia các hoạt động khoahọc cần thiết trong và ngoài nước để đạt tới trình độ tiến sĩ

Khoản 4 Điều 38 Luật Giáo dục quy định về đào tạo trình độ tiến sĩtrong đó có quy định đào tạo trình độ tương đương với trình độ thạc sĩ, trình

độ tiến sĩ ở một số ngành chuyên môn đặc biệt; khoản 6 Điều 43 Luật Giáo dụcquy định về văn bằng giáo dục đại học trong đó có quy định văn bằng trình độtương đương với trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ ở một số ngành chuyên môn đặcbiệt Các nội dung này được giao cho Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể Tại phiên họp Chính phủ ngày 05 tháng 8 năm 2009, các thành viên Chínhphủ đã thảo luận về nội dung này và thống nhất cao không có văn bằng tươngđương với bằng thạc sĩ, tiến sĩ Với những lý do nêu trên, Chính phủ bãi bỏ quyđịnh về văn bằng tương đương tại khoản 6 Điều 43 Luật Giáo dục

Để đảm bảo quyền lợi của người học theo học các chương trình giáo dụcnghề nghiệp trình độ cao đặc thù, theo đề nghị của Bộ Y tế, ngày 01 tháng 7năm 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư liên tịch số30/2003/TTLT-BGD&ĐT-BYT hướng dẫn việc chuyển đổi giữa các vănbằng và trình độ đào tạo trong lĩnh vực y tế giữa bằng chuyên khoa cấp I, cấp

II với bằng thạc sĩ, tiến sĩ y học, dược học, vì thế vấn đề phát sinh trong việc

Trang 26

đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ y học, dược học, đào tạo bác sĩ nội trú, bác sĩ,dược sĩ chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II đã được Bộ Giáo dục và Đàotạo, Bộ Y tế thống nhất giải quyết theo quy định về liên thông.

Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu học tập nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ của người đã tốt nghiệp đại học làm việc ở một số ngành đòi hỏiphải đáp ứng các yêu cầu đặc thù đối với một số vị trí công việc nhất định,Chính phủ sửa đổi quy định “Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể việc đàotạo trình độ tương đương với trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ ở một số ngànhchuyên môn đặc biệt” tại khoản 4 Điều 38 thành “Bộ trưởng Bộ Giáo dục vàĐào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định cụ thểviệc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người đã tốt nghiệpđại học, với sự tham gia đào tạo của cơ sở giáo dục đại học”

+ Bổ sung khoản 5 Điều 38 (về việc đào tạo trình độ kỹ năng thựchành, ứng dụng chuyên sâu cho người đã tốt nghiệp đại học ở một số ngànhchuyên môn đặc biệt):

“5 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ

quan ngang bộ quy định cụ thể việc đào tạo trình độ kỹ năng thực hành, ứng dụng chuyên sâu cho người đã tốt nghiệp đại học ở một số ngành chuyên môn đặc biệt”.

+ Sửa đổi Khoản 2 Điều 41 (về giáo trình giáo dục đại học) như sau:

“2 Giáo trình giáo dục đại học cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức,

kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục đại học.

Giáo trình giáo dục đại học do hiệu trưởng trường cao đẳng, trường đại học tổ chức biên soạn hoặc tổ chức lựa chọn; duyệt để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập chính thức trong trường trên cơ sở thẩm định của hội đồng thẩm định giáo trình do hiệu trưởng thành lập; bảo đảm có đủ giáo trình để giảng dạy, học tập.

Trang 27

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc biên soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt và sử dụng giáo trình; tổ chức biên soạn và duyệt giáo trình

sử dụng chung cho các trường cao đẳng và các trường đại học".

Luật sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 41 Luật Giáodục theo hướng: bên cạnh việc tổ chức biên soạn giáo trình, Thủ trưởng cơ sởgiáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có quyền tổ chức lựa chọn giáotrình để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập chính thức; bổ sung tráchnhiệm phải “bảo đảm có đủ giáo trình để giảng dạy, học tập” của Thủ trưởng

cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bổ sung quy định về việc tổ chức biên soạn vàduyệt giáo trình sử dụng chung cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại khoản 2Điều 35 và khoản 2 Điều 41

Việc sửa đổi Luật theo hướng trên tạo cơ sở pháp lý để các cơ sở giáodục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể lựa chọn giáo trình của cơ sởgiáo dục khác để sử dụng tại cơ sở giáo dục mình; các cơ sở giáo dục cùngđào tạo một chuyên ngành với trình độ giống nhau có thể cùng phối hợp biênsoạn giáo trình, tránh lãng phí thời gian, tiền của; khắc phục tình trạng thiếugiáo trình trong giảng dạy, học tập

+ Sửa đổi Điểm b khoản 1 Điều 42 (Về cơ sở giáo dục đại học ) như sau:

“b) Trường đại học đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học; đào tạo

trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ khi được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép

Các loại trường đại học gồm đại học, trường đại học, học viện

Viện nghiên cứu khoa học đào tạo trình độ tiến sĩ, phối hợp với trường đại học đào tạo trình độ thạc sĩ khi được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép”.

Để thống nhất với nội dung sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 42 về thẩmquyền giao nhiệm vụ đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ; quy định tại điểm ckhoản 1 Điều 69 được sửa đổi thành “Viện nghiên cứu khoa học được phépđào tạo trình độ tiến sĩ, phối hợp với trường đại học đào tạo trình độ thạc sĩ”;

Trang 28

khoản 2 Điều 69 được sửa đổi thành "Viện nghiên cứu khoa học, khi được

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép phối hợp với trường đại học đàotạo trình độ thạc sĩ có trách nhiệm ký hợp đồng với trường đại học để tổ chứcđào tạo" Đồng thời để nhấn mạnh việc đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ của trườngđại học, viện nghiên cứu khoa học phải đáp ứng các điều kiện theo quy định, Luậtsửa đổi từ “giao” thành từ “cho phép” tại các quy định nêu trên

+ Sửa đổi Khoản 2 Điều 42 (về điều kiện đào tạo trình độ tiến sỹ) như sau:

“2 Điều kiện để trường đại học, viện nghiên cứu khoa học được phép đào

tạo trình độ tiến sĩ:

a) Có đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đủ số lượng, có khả năng xây dựng, thực hiện chương trình đào tạo và tổ chức hội đồng đánh giá luận án;

b) Có cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm đáp ứng yêu cầu đào tạo trình độ tiến sĩ;

c) Có kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học; đã thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu thuộc đề tài khoa học trong các chương trình khoa học cấp nhà nước hoặc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học có chất lượng cao được công bố trong nước và ngoài nước; có kinh nghiệm trong đào tạo, bồi dưỡng những người làm công tác nghiên cứu khoa học”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Luật Giáo dục hiện hành chỉ trườngđại học, viện nghiên cứu khoa học mới có thể được giao nhiệm vụ đào tạotrình độ thạc sĩ, tiến sĩ Do đó, tên khoản 2 Điều 42 Luật được sửa đổi thành:

"Điều kiện để trường đại học, viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạotrình độ tiến sĩ”

Trong thực tế, các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học không chỉthực hiện nhiệm vụ nghiên cứu thuộc đề tài khoa học trong các chương trìnhkhoa học cấp nhà nước mà còn thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa họcthuộc đề tài nghiên cứu khoa học khác, do đó Luật bổ sung quy định “thựchiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học có chất lượng cao được công bố trong

Trang 29

nước và ngoài nước” là một trong điều kiện để trường đại học, viện nghiêncứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ

+ Sửa đổi Khoản 6 Điều 43 (về văn bằng công nhận trình độ kỹ năngthực hành, ứng dụng cho những người được đào tạo chuyên sâu sau khi tốtnghiệp đại học ở một số ngành chuyên môn đặc biệt)

"6 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Thủ

trưởng cơ quan ngang bộ quy định văn bằng công nhận trình độ kỹ năng thực hành, ứng dụng cho những người được đào tạo chuyên sâu sau khi tốt nghiệp đại học ở một số ngành chuyên môn đặc biệt."

+ Bổ sung điểm c khoản 1 Điều 46 (về trung tâm ngoại ngữ, tin học:)

“c) Trung tâm ngoại ngữ, tin học do tổ chức, cá nhân thành lập.”

+ Sửa đổi Khoản 3 Điều 46 (về trung tâm ngoại ngữ, tin học) :

“3 Trung tâm giáo dục thường xuyên thực hiện các chương trình giáo dục

thường xuyên quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, không thực hiện chương trình giáo dục để cấp văn bằng giáo dục nghề nghiệp và văn bằng giáo dục đại học Trung tâm học tập cộng đồng thực hiện các chương trình giáo dục quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 45 của Luật này Trung tâm ngoại ngữ, tin học thực hiện các chương trình giáo dục quy định tại điểm

c khoản 1 Điều 45 của Luật này về ngoại ngữ, tin học.”

+ Sửa đổi Khoản 2 Điều 48 (về thành lập trường):

"2 Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình

đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển

sự nghiệp giáo dục Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân

Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động giáo dục sáp nhập, chia, tách, giải thể nhà trường được quy định tại các điều 50, 50a, 50b và Điều 51 của Luật này."

Trang 30

+ Sửa đổi Điều 49 (về các trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chínhtrị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân):

Bổ sung thêm một khoản vào Điều 49 như sau:

"Điều 49 Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân.

2 Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị

- xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân là cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân theo quy định tại Điều 25, 30, 36, 42 của Luật Giáo dục nếu đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Giáo dục và Điều lệ nhà trường ở mỗi cấp học và trình độ đào tạo, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục và thực hiện chương trình giáo dục để cấp văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân ".

Đồng thời chuyển khoản 2 Điều 49 thành khoản 3 Điều 49

Để phù hợp với yêu cầu của tình hình thực tế, Chính phủ sửa đổi, bổsung Điều 49 theo hướng các trường của cơ quan nhà nước, của tổ chức chínhtrị, tổ chức chính trị - xã hội, của lực lượng vũ trang nhân dân là cơ sở giáodục của hệ thống giáo dục quốc dân nếu đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế -

xã hội, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Giáo dục và Điều lệ nhàtrường ở mỗi cấp học và trình độ đào tạo, được cơ quan nhà nước có thẩmquyền cho phép hoạt động giáo dục và thực hiện chương trình giáo dục để cấpvăn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân

+ Sửa đổi Điều 50 (Điều kiện thành lập nhà trường và điều kiện đểđược cho phép hoạt động giáo dục) như sau:

“Điều 50 Điều kiện thành lập nhà trường và điều kiện để được cho phép hoạt động giáo dục

1 Điều kiện thành lập nhà trường:

Phù hợp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch mạng lưới

cơ sở giáo dục;

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nghi ̣ quyết Hội nghi ̣ lần thứ 2 BCH Trung ương Đảng khóa VIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi ̣ quyết Hội nghi ̣ lần thứ 2 BCH Trung ương Đảng khóa VIII
Nhà XB: Nhàxuất bản Chính trị Quốc gia
2. Đã phải lúc sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục 2005, Báo: tuanvietnam.net 3. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, Nhà xuất bảnChính trị Quốc gia, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đã phải lúc sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục 2005", Báo: tuanvietnam.net3. "Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII
Nhà XB: Nhà xuất bảnChính trị Quốc gia
4. PGS.TS Mạch Quang Thắng (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXBChính trị Quốc gia
5. Luật Giáo dục 1998, Lu ậ t của quốc hội Việt Nam số 11/1998/QH, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục 1998", Lu ậ t " của quốc hội Việt Nam số 11/"1998"/QH
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
6. Chuyên mục giới thiệu luật giáo dục 2005, www.dhdlvanlang.edu.vn 7. PGS.TS Phạm Minh Hùng, ThS Nguyễn Công Kình, ThS Hà VănSơn,ThS Nguyễn Xuân Bình, Quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Vinh, Vinh 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên mục giới thiệu luật giáo dục 2005", www.dhdlvanlang.edu.vn7. PGS.TS Phạm Minh Hùng, ThS Nguyễn Công Kình, ThS Hà VănSơn,ThS Nguyễn Xuân Bình, "Quản lý hành chính nhà nước và quản lýngành Giáo dục và Đào tạo
8. Luật gia Nguyễn Ngọc Dũng, Luật Giáo dục 2005, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục 2005
Nhà XB: Nhà xuất bản Chínhtrị Quốc gia
9. Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục
Nhà XB: Nhà xuất bảnChính trị Quốc Gia
10. Tờ trình của chính phủ Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, web: duthaoonline.quochoi.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình của chính phủ Về dự án "Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Luật Giáo dục
11. Thư viện tài nguyên giáo dục Bình Dương, www.binhduong.violet.vn 12. Trung Nguyên, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giaothông vận tải, Hà Nội 3/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB Giaothông vận tải
13. TS Mai Ngọc Luông, ThS Lý Minh Tiến, Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Dự án phát triển giáo viên tiểu học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứukhoa học giáo dục
1. Luật Giáo dục Việt Nam ra đời đầu tiên khi nào?a. Năm 1992 b. Năm 1995 c. Năm 1998 d. Năm 2005 Khác
2. Luật Giáo dục ra đời đầu tiên bao gồm mấy chương, mấy điều?a. 6 chương, 100 điều b. 8 chương, 110 điều c. 9 chương, 100 điều d. 9 chương, 110 điều Khác
3. Luật Giáo dục đã được sửa đổi, thay thế lần đầu tiên vào năm nào?a. Năm 2000 b. Năm 2005 c. Năm 2009 Khác
4. Đến nay, Luật Giáo dục Việt Nam đã tồn tại mấy văn bản Luật?a. 1 văn bản b. 2 văn bản c. 3 văn bản Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: (Chỳng tụi sử dụng cõu hỏi 1 của phiếu điều tra số 2)   Phương ỏn   Số lượng sv   Tổng số sv     Trả lời(%) - Thực trạng nhận thức của sinh viên ngành giáo dục tiểu học   trường đại học vinh về luật giáo dục
Bảng 1 (Chỳng tụi sử dụng cõu hỏi 1 của phiếu điều tra số 2) Phương ỏn Số lượng sv Tổng số sv Trả lời(%) (Trang 44)
Bảng 2: (Chỳng tụi sử dụng cõu hỏi 2 của phụ lục 2) - Thực trạng nhận thức của sinh viên ngành giáo dục tiểu học   trường đại học vinh về luật giáo dục
Bảng 2 (Chỳng tụi sử dụng cõu hỏi 2 của phụ lục 2) (Trang 45)
Bảng 3: (sử dụng cõu hỏi 3 của phần phụ lục 2) Phương ỏnKhụng cần - Thực trạng nhận thức của sinh viên ngành giáo dục tiểu học   trường đại học vinh về luật giáo dục
Bảng 3 (sử dụng cõu hỏi 3 của phần phụ lục 2) Phương ỏnKhụng cần (Trang 47)
Ta cú bảng số liệu 4 như sau: - Thực trạng nhận thức của sinh viên ngành giáo dục tiểu học   trường đại học vinh về luật giáo dục
a cú bảng số liệu 4 như sau: (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w