Đề tài có mục đích hệ thống hoá cơ sở lí luận về Địa lí dân cư, đặc biệt làtình trạng nghèo đói của dân cư, vận dụng các quan niệm và chỉ tiêu đánh giáđói nghèo trên thế giới, ở Việt Nam
Trang 1Lời cảm ơn
Lời đầu tiên tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo thạc sỹ Hồ Thị Thanh Vân – Giảng viên khoa địa lý - Trờng Đại Học Vinh đã tận tình giúp đỡ, hớng dẫn tôi trong suốt quá trình làm khoá luận tốt nghiệp.
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Địa lí trờng Đại học Vinh, đặc biệt
là các thầy cô giáo thuộc tổ Địa lí kinh tế - xã hội đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khoá luận.
Đồng thời tôi xin trân trọng cảm ơn.
- Ban giám hiệu trờng Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Địa lí.
- Th viện trờng Đại học Vinh.
- Sở Lao động Thơng binh và xã hội, Cục thống kê tỉnh Nghệ An.
- Các bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thành luận văn.
Vinh, tháng 5 năm 2007
SINH VIÊN THựC HIệN
Kim Ngọc Nguyên
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.3 Giới hạn nghiên cứu 2
3 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
3.1 Các quan điểm nghiên cứu 3
3.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ 3
3.1.2 Quan điểm hệ thống 3
3.1.3 Quan điểm xã hội học 3
3.1.4 Quan điểm lịch sử- viễn cảnh 3
3.2 Phương pháp nghiên cứu 3
3.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu và thực địa 3
3.2.2 Phương pháp thống kê toán học 4
3.2.3 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp 4
3.2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ 4
3.2.5 Một số phương pháp hiện đại 4
Phần 2 NỘI DUNG 5
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO ĐÓI 5
1 NHỮNG QUAN NIỆM VÀ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NGHÈO ĐÓI TRÊN THẾ GIỚI 5
1.1 Quan niệm chung về nghèo đói 5
1.2 Các chỉ tiêu về nghèo đói trên thế giới 8
2 NHỮNG QUAN NIỆM VÀ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NGHÈO ĐÓI Ở VIỆTNAM 14
2.1 Những quan niệm 14
Trang 32.2 Những chỉ tiêu: 15
Chương II THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI Ở NGHỆ AN………… ………20
1 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU .20
2 VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI NGHỆ AN TRONG VÙNG BẮC TRUNG BỘ VÀ CẢ NƯỚC 21
2.1 Thu nhập bình quân đầu người 21
2.2 Tỷ lệ nghèo đói 22
2.3 Y tế và giáo dục 23
2.4 Tình hình sử dụng điện, nước và nhà ở 26
2.5 Chỉ số HDI và chỉ số HPI 27
3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI Ở NGHỆ AN 30
3.1 Nghèo đói qua một số chỉ tiêu 30
3.2 Nghèo đói và bất bình đẳng 42
4 NGUYÊN NHÂN NGHÈO ĐÓI 49
4.1 Nguyên nhân chung của nghèo đói 49
4.2 Một số nguyên nhân chính của nghèo đói ở Nghệ An 51
Chương III VẤN ĐỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO……… 53
1 NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH VÀ THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC TRONG CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA TỈNH NGHỆ AN 53
1.1 Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo 53
1.2 Chương trình định canh, định cư, di dân, phát triển kinh tế mới 53
1.3 Chương trình hỗ trợ về văn hoá cho các xã đặc biệt khó khăn 54
1.4 Hướng dẫn người nghèo về khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư 54
1.5 Dự án hỗ trợ sản xuất, phát triển ngành nghề 54
1.6 Công tác tập huấn nâng cao năng lực cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo các cấp 55
1.7 Các chính sách về xoá đói giảm nghèo 55
2 NHỮNG MẶT TỒN TẠI 57
2.1 Tồn tại chung 57
2.2 Tồn tại trong việc thực hiện các dự án, chính sách 58
Trang 43 MỘT SỐ GIẢI PHÁP XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH NGHỆ AN 59
3.1 Mục tiêu và những quan điểm chung về xoá đói giảm nghèo 60
3.2 Một số giải pháp xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Nghệ An 63
3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xoá đói giảm nghèo 64
3.2.2 Hỗ trợ tạo việc làm ổn định 64
3.2.3 Nâng cao trình độ dân trí 65
3.2.4 Gắn xoá đói giảm nghèo với phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, kinh tế hộ gia đình, dịch vụ ngành nghề truyền thống 65
3.2.5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từng bước hình thành nền kinh tế sản xuất hàng hoá 66
3.2.6 Đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã nghèo, khuyến khích áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất 66
3.2.7 Tăng cường và đa dạng hoá các nguồn lực cho xoá đói giảm nghèo 67
3.2.8 Đảm bảo ổn định an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội 67
3.2.9 Tạo điều kiện thuận lợi để trợ giúp hộ nghèo 67
3.2.10 Xoá đói giảm nghèo với các chương trình xã hội khác 69
Phần 3 KẾT LUẬN……… ……… 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 5PHỤ LỤC
Bảng 1: Giới hạn nghèo đói của thế giới theo thời gian 10
Bảng 2: Chỉ số phát triển con người HDI của Việt Nam và một số quốc gia năm 2006 11
Bảng 3: Chuẩn mực và tỷ lệ nghèo đói năm 1993 16
Bảng 4: Tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam 1995 17
Bảng 5: Chuẩn mực nghèo đói năm 1996 17
Bảng 6: Chuẩn mực nghèo đói giai đoạn 2001- 2005 17
Bảng 7: Chuẩn mực nghèo đói giai đoạn 2006- 2010 18
Bảng 8: Một số chỉ số về tỉnh Nghệ An năm 2005 20
Bảng 9: GDP, GDP/người năm 2004 ở Việt Nam và Nghệ An 21
Bảng 10: Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam, Bắc Trung Bộ và Nghệ An thời kỳ 2000- 2004 22
Bảng 11: Một số chỉ tiêu về y tế/ vạn dân của Nghệ An so với khu vực Bắc Trung Bộ và toàn quốc năm 2002 24
Bảng 12: Một số chỉ tiêu về giáo dục của Nghệ An so với khu vực và cả nước năm 1999 25
Bảng 13: Tỷ lệ hộ có nhà ở chia theo loại ở Nghệ An so với Bắc Trung Bộ và cả nước năm 2002 26
Bảng 14: Một số chỉ số HDI của Việt Nam, Bắc Trung Bộ và Nghệ An năm 1999 28
Bảng 15: Một số chỉ số về HPI của Việt Nam, Bắc Trung Bộ và Nghệ An năm 1999 29
Bảng 16: Thu nhập bình quân đầu người của cả nước và Nghệ An thời kỳ 2001- 2005 31
Bảng 17: Thu nhập bình quân/ người/ tháng chia theo thành thị và nông thôn thời kỳ 2000- 2004 31 Bảng 18: GDP và GDP/ người của tỉnh Nghệ An phân theo khu vực và theo
Trang 6huyện năm 2005 32Bảng 19: Thu nhập bình quân/ người/ tháng của Nghệ An phân theo nhóm thu nhập năm 2002 34Bảng 20: Chi tiêu cho đời sống bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng chia theo 5
nhóm thu nhập của Nghệ An, Bắc Trung Bộ và cả nước năm 2002 36Bảng 21: Chi tiêu cho đời sống bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng chia theo tính chất chi của Nghệ An năm 2002 37Bảng 22: Tình hình đảm bảo sức khỏe, y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An thời kỳ 2001- 2005 38Bảng 23: Số cán bộ y tế và số giường bệnh/ vạn dân phân theo huyện năm 2003 38Bảng 24: Tổng số học sinh, giáo viên các cấp học năm học 2005- 2006 của Nghệ
An phân theo huyện thị 41Bảng 25: Tốc độ giảm nghèo phân theo huyện thị của Nghệ An 45Bảng 26: Tỷ lệ nghèo đói phân theo khu vực Đồng bằng và Trung du miền núi năm 2004 47Bảng 27: Chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư theo thành thị và nông thôn
ở Nghệ An 49Biểu đồ: Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam, Bắc Trung Bộ và Nghệ An thời kỳ 2000- 2004 23Biểu đồ: Cơ cấu thu nhập của hộ dân cư tỉnh Nghệ An năm 2002 35Biểu đồ: Chi tiêu cho đời sống bình quân một nhân khẩu 1 tháng chia theo 5nhóm
thu nhập của Nghệ An, Bắc Trung Bộ và cả nước năm 2002 36Biểu đồ: Mối quan hệ giữa GDP bình quân đầu người và tỷ lệ hộ nghèo (2001- 2005) 44
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
ESCAP : Uỷ ban kinh tế- xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình Dương.FAO : Tổ chức lương thực của Liên Hợp Quốc
GDP : Tổng thu nhập quốc nội
GNP : Tổng thu nhập quốc dân
HDI : Chỉ số phát triển con người
HPI : Chỉ số nghèo khổ tổng hợp
ILO : Tổ chức lao động quốc tế
LĐTBXH : Lao động thương binh xã hội
LTTP : Lương thực thực phẩm
N-L-N : Nông – lâm – ngư
ODC : Cơ quan hải ngoại
PPA : Điều tra đánh giá nghèo đói
PQLI : Chỉ tiêu chât lượng cuộc sống
PPP : Phương pháp sức mua tương đương
USD : Đô la mỹ
VAC : Vườn – ao – chuồng
VA.CR : Vườn – ao – chuông – rừng
WB : Ngân hàng thế giới
Trang 8Đất nước ta đã trải qua hơn 20 năm đổi mới, quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá đã mang lại những thành tựu to lớn cả về mặt kinh tế cũng như
xã hội Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, xã hội ổn định, đời sống nhândân ngày càng được nâng cao Bên cạnh những thành tựu to lớn đó vì những
lí do khách quan cũng như chủ quan thì tình trạng nghèo đói vẫn đang còn tồntại, chênh lệch giàu nghèo ngày càng sâu sắc
Nghệ An là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, có tốc độ phát triển kinh tếvào loại trung bình của cả nước Trong bối cảnh chung của công cuộc đổi mớicủa cả nước, Nghệ An cũng đã thu được những kết quả to lớn trong kinh tếcũng như xã hội, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao Nhưng bêncạnh đó, một bộ phận không nhỏ dân cư vẫn phải sống trong tình trạng nghèođói, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa
Hiện nay, nhờ sự quan tâm của các cấp chính quyền ở Trung ương cũngnhư ở địa phương, tỉ lệ nghèo đói đã giảm xuống rõ rệt, cuộc chiến chống đóinghèo tuy đã đạt được nhiều thành tích, song vấn đề xoá đói giảm nghèo vẫncòn là một thách thức, tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, khoảng cách giàu nghèo
Trang 9ngày càng rộng ra Nghiên cứu thực trạng nghèo đói ở Nghệ An, từ đó đi tìmnguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm từng bước xoá đói giảm nghèo,nâng cao mức sống của nhân dân là vấn đề thực tiễn đang đặt ra đối với chínhquyền các cấp, các đoàn thể xã hội, với toàn dân Và với bản thân tôi, mộtngười con của quê hương Nghệ An, một sinh viên khoa Địa lí trường Đại học
Vinh tôi quyết định chọn đề tài “Thực trạng nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Nghệ An” cho khoá luật tốt nghiệp với mong muốn tìm ra
những nguyên nhân cơ bản để từ đó có những biện pháp khắc phục hiệu quảcho việc xoá đói giảm nghèo ở tỉnh nhà
2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Mục đích nghiên cứu.
Đề tài có mục đích hệ thống hoá cơ sở lí luận về Địa lí dân cư, đặc biệt làtình trạng nghèo đói của dân cư, vận dụng các quan niệm và chỉ tiêu đánh giáđói nghèo trên thế giới, ở Việt Nam vào tỉnh Nghệ An Trên cơ sở đó đề tàitập trung nghiên cứu thực trạng đói nghèo ở Nghệ An, chỉ ra những nguyênnhân nghèo đói và từ đó đề xuất một số giải pháp về xoá đói giảm nghèotrong hoàn cảnh cụ thể của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tổng quan các quan niệm và chỉ tiêu đánh giá – phân tích nghèo đóicủa thế giới và Việt Nam
- Phân tích thức trạng và nguyên nhân nghèo đói ở tỉnh Nghệ An
- Một số kết quả đạt được,những tồn tại trong công tác xoá đói giảmnghèo ở Nghệ An trong thời gian qua và đề xuất một số giải pháp xoá đóigiảm nghèo ở Nghệ An trong thời gian tới
2.3 Giới hạn nghiên cứu.
Do thời gian nghiên cứu không nhiều, trong khi nội dung của vấn đề lạirất rộng nên đề tài chỉ tập trung phân tích về tình trạng nghèo đói của tỉnhNghệ An trong thời gian gần đây, đặc biệt là giai đoạn 2000- 2005
Trang 10Chỉ tiêu đánh giá nghèo đói rất đa dạng, song đề tài chỉ dựa trên chỉ tiêu
về thu nhập, chỉ tiêu và một số đặc điểm định tính có tính chất hỗ trợ nhưtrình độ dân trí, y tế và chăm sóc sức khoẻ, tình hình sử dụng điện và nước sạch
3 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
3.1 Các quan điểm nghiên cứu.
3.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ.
Vấn đề nghèo đói chịu sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, cả tựnhiên lẫn kinh tế - xã hội Vì vậy, cần phải nhìn nhận, phân tích vấn đề nghiêncứu trong mối quan hệ nhân quả, đồng thời đặt mối quan hệ này trong khônggian cụ thể của các tỉnh Bắc Trung Bộ và cả nước
3.1.2 Quan điểm hệ thống.
Nghèo đói của Nghệ An là một bộ phận của vấn đề nghèo đói ở BắcTrung Bộ và Việt Nam Đồng thời nó lại là một hệ thống nhỏ hơn là cáchuyện và thành phố trong tỉnh
3.1.3 Quan điểm xã hội học.
Phân tích và đánh giá vấn đề nghèo đói không chỉ thuần tuý về mặt kinh
tế mà còn phải đặt trong bối cảnh xã hội Bản thân nghèo đói vừa là một vấn
đề kinh tế vừa là một vấn đề xã hội Do đó cần phân tích đánh giá đời sống vànghèo đói của các tầng lớn dân cư khác nhau, tác động của các chính sách tớiviệc xoá đói giảm nghèo ở Nghệ An
3.1.4 Quan điểm lịch sử- viễn cảnh.
Quan điểm về chỉ tiêu đánh giá nghèo đói thay đổi theo từng thời kì, nênbức tranh nghèo đói cũng biến đổi theo từng giai đoạn lịch sử Vì vậy cầnphải đặt vấn đề nghèo đói trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của tỉnh Nghệ An vàtiến trình chung của cả nước để hiểu rõ bản chất của sự biến đổi
3.2 Phương pháp nghiên cứu.
3.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu và thực địa.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều cơquan ban ngành, nhiều nguồn khác nhau Tư viện trường Đại học Vinh, Cục
Trang 11thống kê Nghệ An, Sở lao động thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An Quathực địa một số huyện như: Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp…
3.2.2 Phương pháp thống kê toán học.
Trên cơ sở các số liệu thu thập được, tôi sử dụng phương pháp thống kêtoán học để tính các thông số cần thiết phục vụ nội dung nghiên cứu của đềtài
3.2.3 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp.
Dựa trên những số liệu, tài liệu thu thập được tôi tiến hành so sánh, phântích, tổng hợp theo yêu cầu của đề tài về không gian và thời gian để tìm ra sựkhác biệt giữa hiện tượng này và hiện tượng khác Từ đó đưa ra những nhậnđịnh, đánh giá có tính chất tổng hợp, khái quát về vấn đề nghiên cứu
3.2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ.
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình làm khoá luận trên cơ sở
từ biểu đồ, bản đồ để tìm ra các mối liên hệ, sự phân hoá và kết quả nghiêncứu cuối cùng được cụ thể hoá bằng việc xây dựng nên các bản đồ, biểu đồ
3.2.5 Một số phương pháp hiện đại.
Trong luận văn có sử dụng một số bản đồ, biểu đồ để minh hoạ cho nộidung nghiên cứu Do đó tôi đã sử dụng các phần mềm khác nhau để thành lậpbản đồ, biểu đổ như Mapinfo, Excel…
Trang 12Phần 2. NỘI DUNG
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO ĐÓI
1 NHỮNG QUAN NIỆM VÀ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NGHÈO ĐÓI TRÊN THẾ GIỚI.
Ngày nay, nghèo đói và tấn công nghèo đói là một vấn đề mang tính toàncầu Thực tế ở một số quốc gia cho thấy kinh tế càng phát triển nhanh, năngsuất lao động càng cao thì sự phân hoá giàu nghèo càng gay gắt, càng bứcxúc Nghèo đói ngày càng có sự tác động rõ rệt tới mọi vấn đề từ môi trườngsống, các vấn đề xã hội rồi lây lan sang các vấn đề chính trị, xung đột chínhtrị và cao hơn là xung đột giai cấp, xung đột sắc tộc Hậu quả là làm giảm đimọi sự nỗ lực của nhân loại trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.1 Quan niệm chung về nghèo đói.
- Trong đời sống thực tiễn hàng ngày cũng như trong khoa học, chúng tathường bắt gặp các khái niệm như: nghèo đói, phân hoá giàu nghèo, xoá đóigiảm nghèo, phân tầng xã hội… Hiện nay, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc cónhững quan niệm khác nhau về vấn đề đói nghèo:
- Trong “Báo cáo phát triển thế giới 1990”, Ngân hàng thế giới (WB) đãđưa ra định nghĩa “Nghèo khổ là khó có khả năng đạt được mức sống tối thiểu”.Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng nhu cầu cơ bảntối thiểu của cuộc sống như: ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế… Ngoài ra, những người có thunhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội thì coi là nghèo khổ
- Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tạiCopenhaghen- Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn vềnghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp dưới1USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sảnphẩm thiết yếu để tồn tại” Đó là tình trạng một bộ phận dân cư không đượchưởng nhu câu cơ bản tối thiểu của cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế,
Trang 13giáo dục… Ngoài ra những người có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xãhội thì coi là người nghèo khổ.
- Theo ông Abapia Sen- Chuyên gia hàng đầu của tổ chức lao động quốc
tế (ILO) người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1998 cho rằng “Nghèođói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”
- Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế - Xã hội khu vựcChâu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) vàotháng 9/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng:
“Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãnnhững nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu câu ấy phụ thuộc vàotrình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng vànhững phong tục ấy được xã hội thừa nhận”
- Định nghĩa này có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhậndiện nét chính yếu, phổ biến về nghèo đói Các chỉ tiêu và chuẩn mực đánhgiá còn để ngỏ về mặt định lượng, bởi nó chưa tính đến sự khác biệt và độchênh lệch giữa các vùng, các điều kiện lịch sử của mỗi nơi Quan niệm hạtnhân của định nghĩa này là “Nhu cầu cơ bản của con người” Đó chính lànhững nhu cầu thiết yếu tối thiểu của côn người để duy trì sự tồn tại như ăn,mặc, ở… Căn cứ xác định đói nghèo là ở chỗ con người không được hưởng
và thoả mãn những nhu cầu cơ bản ấy
- Báo cáo phát triển Việt Nam 2004 đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo đói làtình trạng kiệt quệ bao gồm nhiều khía cạnh từ thu nhập hạn chế đến tính dễ
bị tổn thương khi gặp phải những tai ương bất ngờ và ít có khả năng tham giavào quá trình quyết định chung”
- Bên cạnh những khái niệm chung nhất để đánh giá vấn đề nghèo đóimột cách cụ thể và toàn diện, nghèo đói còn được phân biệt theo hai kháiniệm: nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối:
+ Nghèo tương đối: Là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất
và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định sovới sự sung túc của xã hội đó
Trang 14+ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng không có khả năng thoả mãn nhu cầu tốithiểu nhằm duy trì sự sống của cơ thể con người.
- Khái niệm nghèo tuyệt đối ở đây có xu hướng đề cập đến những ngườiđang bị thiếu ăn theo nghĩa đen, còn khái niệm nghèo tương đối đề cập đếnviệc phân phối thu nhập trong dân cư ở một nước nào đó và thừa nhận có một
số nhu cầu ở nước này được xem là thiết yếu thì ở nước khác lại được coi là xa xỉ
- Để phù hợp với điều kiện thực tế từng quốc gia, từng khu vực về kháiniệm nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối thì mỗi quốc gia đều đưa ra kháiniệm “ngưỡng nghèo đói” (poverty line- PL) là một ranh giới nghèo đói cóliên quan đến nước đó Những cá nhân hay hộ gia đình có mức sống dướiđường ranh giới đó thì bị coi là nghèo đói
Nghèo đói là một khái niệm có tính động, biến đổi và di chuyển chứkhông ổn định Nó thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của xã hội vàphụ thuộc vào quan niệm truyền thống của mỗi dân tộc Những quan niệm vềngưỡng nghèo đói cũng rất khác nhau do đó khó có thể đưa ra một định nghĩachung về nghèo đói phù hợp với mọi dân tộc, mọi thời đại Những nhân tố tạonên đặc điểm này là do sự phát triển của sản xuất, mức tăng trưởng kinh tế,nhu cầu của con người ngày càng tăng (cả nhu cầu phát triển chất lượng xãhội của con người) và những thay đổi của xã hội xét trên bình diện quốc gia,dân tộc và quốc tế
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo đói, nhưng tựu chung lạicác quan niệm đó đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo, đó là:
- Không được hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư
- Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.Tóm lại, nghèo đói là một khái niệm động, biến đổi theo thời gian vàkhông gian Vì vậy, không có một khái niệm chung cho tất cả các quốc gia,lãnh thổ hoặc chung cho cả khu vực thành thị và nông thôn
Trang 151.2 Các chỉ tiêu về nghèo đói trên thế giới.
Hiện nay, toàn thế giới đã đi đến một cách tiếp cận tương đối thống nhất
về đánh giá mức độ nghèo đói, đó là định ra một tiêu chuẩn hay một điều kiệnchung nào đó Những ai có mức thu nhập hay chi tiêu nằm dưới chuẩn chung
ấy sẽ không có được một cuộc sống tối thiểu, hay đạt được những nhu cầu càn thiếttối thiểu cho sự tồn tại của cuộc sống, nghĩa là sống dưới mức nghèo khổ.Trên cơ sở mức chung đó mà xác định chuẩn nghèo đói và phân biệtngười nghèo hay không nghèo Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biếnđổi theo trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng vùng hay từng quốc gia
Về thời gian, chuẩn nghèo cũng có sự biến đổi theo trình độ phát triển kinh
tế-xã hội và nhu cầu của con người theo từng giai đoạn lịch sử Vì rằng khi kinh
tế - xã hội phát triển thì đời sống con người được cải thiện tốt hơn Tất nhiênkhông phải tất cả các nhóm dân cư đều có tốc độ tăng mức thu nhập, mứcsống cao hơn nhóm nghèo Tại một thời điểm, ở một vùng, một nước nào đóchỉ số đo được là nghèo hoặc giàu, nhưng sang một thời điểm khác thì chỉ số
đó có thể mất ý nghĩa Do đó mỗi nước dựa trên thực tế của nước mình đưa ranhững thước đo (chuẩn mực) đói nghèo riêng bằng việc vạch ra giới hạnnghèo đói dựa trên các chỉ tiêu khác nhau
Khi đánh giá nước giàu, nước nghèo thì chỉ tiêu chính là thu nhập bìnhquân đầu người
Khi đánh giá người giàu, người nghèo hay hộ giàu, hộ nghèo thì giới hạnnghèo đói là mức thu nhập bình quân đầu người hoặc nhu cầu chi tiêu để đảmbảo các nhu cầu cơ bản của con người Xác định người nghèo phải gắn chặtvới thu nhập bình quân hộ gia đình, nhưng tỉ lệ hộ nghèo đói không đồngnghĩa với tỉ lệ người nghèo đói Thông thường trong một quốc gia thì tỉ lệngười nghèo bao giờ cũng cao hơn tỉ lệ hộ nghèo do quy mô hộ nghèo thườnglớn hơn quy mô hộ không nghèo
Tỉ lệ nghèo đói của một vùng, một quốc gia được xác định bằng tỉ lệ số
hộ (hoặc số người) nghèo đói trên tổng số hộ dân cư (hoặc tổng số dân cư)của một vùng hay một quốc gia đó
Trang 161.2.1 Chỉ tiêu thu nhập.
Đây là chỉ tiêu có ý nghĩa rất quan trọng, được tính bằng bình quân tổngsản phẩm quốc nội trên đầu người (GDP/người) hay bình quân tổng sản phẩmquốc dân trên đầu người (GNP/ người) thường lấy đơn vị thời gian là mộtnăm Theo chỉ tiêu này có thể đánh giá được trình độ phát triển kinh tế, mứcsống lý thuyết của người dân trong nước
Hiện nay, WB đưa ra hai cách tính thu nhập bình quân đầu người, đó làphương pháp theo tỉ giá hối đoái (phương pháp Atlas) và phương pháp sức muatương đương (parachasinh Power Parity- PPP), đều tính bằng đô la Mỹ
a Theo phương pháp Atlas.
WB phân ra làm 6 loại nước (là mức thu nhập năm 1990):
- Nước cực giàu: trên 25.000USD/ năm
- Nước giàu: 20.000 – dưới 25.000 USD/ năm
- Nước khá giàu: 10.000 – dưới 20.000 USD/ năm
- Nước trung bình: 2500 – dưới 10.000 USD/ năm
- Nước nghèo: 500 – dưới 2500 USD/ năm
- Nước cực nghèo: dưới 500 USD/ năm
Theo phương pháp đánh giá này, Việt Nam có thu nhập GDP/ người(2004) là: 553USD, được đánh giá vào nhóm nước nghèo
Tuy nhiên theo phương pháp này việc chuyển đổi thường bị sai lệch,không phản ánh được tính ngang giá của sức mua Do đó, từ đầu thập niên 90của thế kỉ XX Liên Hiệp Quốc đã đề ra phương pháp tính bình quân thu nhậpmỗi nước theo sức mua tương đương PPP
b Theo phương pháp sức mua tương đương.
Là phương pháp đã và đang được áp dụng trong các chương trình so sánhquốc tế chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người, nhằm đưa ra chỉ tiêu địnhlượng so sánh giữa các nước bằng cách đưa đồng tiền của mỗi nước về mộtđơn vị đo lường thống nhất như đồng USD
Trên cơ sở đó WB đưa ra các nhóm nước như sau:
- Nhóm nước có thu nhập cao: là nước có GDP/ người trên 7.190 USD
Trang 17- Nhóm nước có thu nhập trung bình: là nước có GDP/ người từ 7190USD.
- Nhóm nước có thu nhập thấp: là nước có GDP/ người từ 635USD trở xuống.Kết quả của phương pháp này cho thấy GDP bình quân đầu người chỉ làmột trong những thước đo để có mức độ trình độ phát triển chung của mộtnước so với nước khác Nó có tính chất tương đối và cũng có những hạn chế
vì không phải cứ có thu nhập bình quân đầu người cao là hết nghèo đói Vấn
đề là ở chỗ mức độ hưởng thụ thực tế của người lao động và trình độ côngbằng xã hội mà nước đó đạt được
Như vậy, xét theo phương pháp sứ mua tương đương PPP, Việt Nam cóGDP/ người là 2490USD (2003) thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình
Sự nghèo đói của dân cư và hộ dân cư cũng dựa vào chỉ tiêu thu nhậpbình quân đầu người, đường giới hạn thu nhập có thể bằng tiền hoặc quy rahiện vật như gạo Giới hạn nghèo đói về thu nhập có giá trị khác nhau vềkhông gian cũng như thay đổi theo thời gian cùng với sự phát triển của xã hộiphụ thuộc đặc điểm kinh tế- xã hội lối sống khác giữa các nước
Bảng 1: Giới hạn nghèo đói của thế giới theo thời gian.
2000 1 – 2 USD/ người/ ngày
Theo cách tính này, quỹ phát triển nông nghiệp của Liên hiệp quốc(FAO) cho rằng hiện nay trên thế giới có khoảng 1,12 tỉ người sống trong tìnhtrạng nghèo khổ tuyệt đối, chủ yếu ở các vùng nông thôn: 0,5 tỉ người không
đủ ăn hàng ngày và mỗi năm có 15-20 triệu người chết đói, vì bệnh tật và suydinh dưỡng Số người nghèo đói chủ yếu tập trung ở Châu Á (633 triệu),Châu Phi (204 triệu), Mỹ La Tinh (75 triệu) Riêng Châu Á trong thời kì1970- 1996 tỉ lệ người nghèo có xu hướng giảm tương đối nhanh
Trang 18Gần đây, cơ quan hải quan (ODC) đã đưa ra chỉ tiêu (chỉ số) chất lượngvật chất cuộc sống – PQLI, đề cập đến 3 yếu tố chính: tuổi thọ, tỉ lệ tử vongtrẻ em (dưới 1 tuổi) và tỉ lệ xoá mù chữ.
Liên hiệp quốc cũng đưa ra chỉ tiêu đánh giá mức sống của con người(chỉ số phát triển con người- HDI) bao gồm 3 thành phần cơ bản: tuổi thọ,trình độ dân trí và thu nhập bình quân đầu người Giá trị lớn nhất của HDI là1,000 và nhỏ nhất là 0,000 Theo chỉ tiêu này nhiều nước giàu nhất khôngphải luôn luôn có chất lượng cuộc sống tốt nhất
Bảng 2: Chỉ số phát triển con người- HDI của Việt Nam và một số quốc gia năm 2006.
Giá trị HDI Tuổi thọ trung bình (năm)
Tỉ lệ người biết chữ
ở người lớn (%
trong độ tuổi từ 15 trở lên)
GDP/ người (PPP- USD)
1 Nauy
(0,955)
1 Nhật Bản (82,2)
1 Georgia
(100)
1 Lucxemburg69.961
107 Siria
(0,716)
81 Para guay (71,2)
54 SrilanKa
(90,7)
116 Honduras (2.876)
108 Inđonêxia
(0,711)
82 Elsalvado (71,1)
55 Inđonêxia
(90,4)
117 Georgita (2.844)
109 Việt Nam
(0,709)
83 Việt Nam (70,8)
56 Việt Nam
(90,3)
118 Việt Nam (2.745)
110 Kyzgyztan
(0,705)
84 Brazil (70,8)
57 Jordan
(89,9)
119 Bôlôvia (2.720)
111 Ai Cập
(0,702)
85 Iran (70,7)
58 Myanma
(89,9)
120 Lêsôthô (2.619)
177 Nigier
(0,311)
177 Satiland (31,3)
128 Mali
(19,0)
172 Sêralêôn
561
Nguồn: Báo cáo phát triển thế giới 2006 của Ngân hàng thế giới
Về mặt không gian, WB đưa ra thang đo nghèo đói như sau:
- Nước nghèo: Dưới 0,5 USD/ người/ ngày
- Nước đang phát triển: Dưới 1 USD/ người/ ngày
- Các nước Mỹ la tinh và Caribê: Dưới 2 USD/ người/ ngày
Trang 19- Các nước công nghiệp phát triển: Dưới 14,4 USD/ người/ ngày
Tuy nhiên dựa vào thực tế của nước mình mà mỗi nước lại đưa ra chuẩnnghèo riêng, thông thường thấp hơn thang nghèo đói mà WB đưa ra
1.2.2 Chỉ tiêu dinh dưỡng.
Số Ca lo tiêu dùng hàng ngày cho một người được coi là chỉ số tốt nhất
để đánh giá về mức độ dinh dưỡng của con người Số Calo bình quân đầungười là số calo tiêu dùng hàng ngày của một người để duy trì sự sống và làmviệc một cách bình thường
FAO (1967) đã đưa ra mức Calo tối thiểu cho một người trong một ngày
là 2.200 Kcal Trong khi đó Tổ chức Y tế thế giới lại đưa ra con số 2.100 Kcallàm ranh giới nghèo đói
Nhu cầu năng lượng cung cấp cho cơ thể hàng ngày và khả năng đáp ứngthực tế giữa các nước, các vùng rất khác nhau Nó phụ thuộc vào trình độ sảnxuất vật chất của xã hội, vào sức lực và năng suất lao động của mỗi người,phụ thuộc vào lối sống, quy mô gia đình, cũng như nhu cầu đáp ứng về mặtsinh học cho cơ thể
Từ cách đây hơn 3 thập kỉ người ta đã đưa ra nhu cầu năng lượng (calo/người/ ngày) cho các vùng thuộc các khối nước khác nhau
Các nước công nghiệp:
- Châu Âu: 2.570 Kcalo
- Bắc Mỹ: 2.640 Kcalo
- Châu Đại Dương: 2.660 Kcalo
Các nước đang phát triển:
- Cận Đông: 2.400 Kcalo
- Châu Phi: 2.340 Kcalo
Những yếu tố cơ bản tạo nên dinh dưỡng góp phần nâng cao dần mứcbình quân đầu người là: lương thực thực phẩm cùng với chế độ ăn uống, cơcấu bữa ăn và khẩu phần ăn Khẩu phần ăn bao gồm chất đạm, chất bột, chấtbéo, các Vitamin và muối khoáng, trong đó quan trọng nhất là chấtđạm.Lượng đạm trong khẩu phần ăn hàng ngày là một chỉ tiêu quan trọng nói
Trang 20lên mức sống của một gia đình, một cộng đồng hay một quốc gia Nếu thiếuđạm con người sẽ bị thiếu dinh dưỡng, chóng mệt mỏi, không đủ năng lượng
để hoạt động có hiệu quả
Theo chỉ tiêu này, mức sống của nhân dân các khu vực trên thế giới có
sự khác biệt nhau rất lớn Đối với các nước phát triển lượng Calo cung cấpluôn thừa nhu cầu cơ thể Còn đối với các nước kém phát triển lượng Calocung cấp luôn thừa nhu cầu cơ thể Còn đối với các nước kém phát triểnlượng Calo luôn thiếu hụt so với nhu cầu cơ thể Phương pháp chung nhất màcác quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế xác định nghèo đói là dựa vào nhucầu chi tiêu để đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người Trên cơ sở đó WBđưa ra hai ngưỡng nghèo là:
- Ngưỡng nghèo lương thực- thực phẩm: Là số tiền cần thiết để mua một
số lương thực, phẩm Thông thường người ta tính số hàng hoá khoảng 40 mặthàng sao cho cung cấp đủ 2100 Kcal trong một ngày Cũng có nơi thấp hơntuỳ theo đánh giá của từng tổ chức từng quốc gia
- Ngưỡng nghèo chung: Là tổng chi tiêu cho lương thực- thực phẩm vàphi lương thực, thực phẩm
Thông thường chi cho lương thực- thực phẩm chiếm 60-65% tổng chitiêu Còn phi lương thực – thực phẩm chiếm khoảng 35-40% tổng chi tiêu.Tuy nhiên kinh tế ngày càng phát triển thì tỉ trọng chi cho nhu cầu cho cholương thực thực phẩm ngày một giảm, chi cho nhu cầu phi lương thực- thựcphẩm ngày một tăng
Tóm lại, những quan niệm và chỉ tiêu chung về nghèo đói do các cáchtiếp cận khác nhau nên có những ý kiến khác nhau Điều quan trọng là phảiđịnh ra được giới hạn của nghèo đói, từ đó lượng hoá bằng các chỉ số có giátrị xác định (tại một thời điểm nhất định) Các chỉ số đó cũng lại phản ánh sựnghèo khổ không phải cứng nhắc, bất biến mà biến đổi một cách tương ứngtheo độ chênh lệch, khác biệt giữa các vùng
Ngưỡng nghèo chung = Ngưỡng nghèo LTTP + Ngưỡng nghèo phi LTTP
Trang 212 NHỮNG QUAN NIỆM VÀ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NGHÈO ĐÓI Ở VIỆT NAM.
2.1 Những quan niệm.
Từ khi đất nước tiến hành đổi mới cho đến nay có nhiều cơ quan và cácnhà khoa học đã nghiên cứu về tình trạng nghèo đói Qua đó đã cung cấpnhững thông tin quý giá về thực trạng đời sống của nhân dân
Các nhà khoa học dựa trên những khái niệm do các tổ chức quốc tế đưa
ra, căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế phổ biến của dân cư hiện nay, đưa
ra những khái niệm chi tiêu chuẩn mực để đánh giá nghèo đói ở nước ta.Những khái niệm và phương pháp đo lường hiện được áp dụng phổ biến ở các địaphương trong khuôn khổ thực hiện chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo.Theo PGS TS Lê Trọng: Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cưkhông được hưởng hoặc được hưởng rất ít ỏi và nghèo là tình trạng một bộphận dân cư không được thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đãđược xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tụctập quán của các dân tộc ở địa phương
Theo Bộ lao động Thương bình và xã hội nghèo đói được hiểu như sau:
- Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãnmột phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống (nghèo tuyệt đối) và cómức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng trên một phương diện nào
đó (nghèo tương đối)
- Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo ở mức độ tối thiểu những nhu cầuthiết yếu về ăn, mặc, ở và nhu cầu về sinh hoạt hàng ngày gồm văn hóa, y tế,giáo dục, đi lại, giao tiếp
- Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tốithiểu và thu nhập không đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống
Đó là những bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1- 2 tháng, thườngvay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả
Trang 22Tuỳ thuộc vào khả năng đảm bảo nhu cầu lương thực- thực phẩm để duytrì cuộc sống trong 1 năm mà người ta còn phân chia hộ đói ra thành hộ đóigay gắt và hộ thiếu đói để có các biện pháp tập trung hỗ trợ.
- Thiếu đói gay gắt là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tốithiểu, chịu đói ăn, đứt bữa từ 3 tháng trở lên (hoặc số Calo bình quân đầungười dưới 1.500 Kcalo/ ngày)
- Vùng nghèo là một miền liên tục có nhiều làng xã hoặc nhiều huyện tại
đó chứa đựng nhiều yếu tố khó khăn, bất lợi cho sự phát triển của cộng đồng:đất khô cằn, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, trình độ dân tríthấp, sản xuất tự cung tự cấp và mức sống của dân cư trong vùng này rất thấp
so với mức sống chung của cả nước xét trong cùng thời điểm
- Xã nghèo là xã có từ 40% hộ nghèo trở lên
2.2 Những chỉ tiêu:
Căn cứ vào chỉ tiêu quốc tế, mỗi quốc gia lại tuỳ thuộc vào tình hình thức
tế của nước mình Và ngay ở nước ta chuẩn nghèo đói cũng được phân chiatuỳ theo từng khu vực Đó là các khu vực nông thôn miền núi, hải đảo, nôngthôn đồng bằng va vùng đô thị Để đánh giá nghèo đói thường dựa vào nhữngchỉ tiêu định tính và định lượng Các chỉ tiêu định tính rất dễ thống nhất songchỉ tiêu định lượng lại được thể hiện bằng nhiều cách và khi chỉ tiêu địnhlượng khác nhau thì dẫn đến các kết quả khác nhau về tỷ lệ nghèo đói
Có nhiều cơ quan, tổ chức nghiên cứu về vấn đề nghèo đói như Bộ laođộng – thương binh và xã hội, Tổng cục thống kê Nhưng họ đều thống nhấttheo chỉ tiêu chính là thu nhập và các chỉ tiêu phụ là dinh dưỡng bữa ăn, nhà
ở, mặc và các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại
Như vậy chỉ tiêu thu nhập luôn là chỉ tiêu hàng đầu đồng thời cũng là chỉtiêu hiện nay được sử dụng trong việc hoạch định chính sách xoá đói giảmnghèo của chính phủ Chỉ tiêu này thuận lợi trong việc điều tra, đánh giá và sosánh bởi vì nó có đơn vị đo lường thống nhất là tiền hoặc vật quy đổi (ví dụ ragạo) Khái niệm thu nhập ở đây được hiểu là thu nhập thuần tuý Đối với hộ
Trang 23dân cư ở nông thông, thu nhập được xác định bằng hệ số giữa tổng thu từ mọihoạt động với chi phí sản xuất, không kể chi phí lao động.
Đối với công nhân viên chức ở các cơ quan và doanh nghiệp là nguồnthu từ lương thực và các nguồn thu ngoài lương (hoạt động khác, kinh tế giađình, làm thêm ngoài giờ…)
Ở nước ta sử dụng phổ biến hình thực hiện vật quy ra gạo, hình thức này
có tác dụng là loại bỏ được ảnh hưởng của các yếu tố giá cả, trong đó có thể
so sánh mức thu nhập của người dân nghèo nói riêng, chỉ tiêu lượng gạo bìnhquân đầu người trong một tháng rất có ý nghĩa và thực tế bởi nhu cầu thiếtyếu đầu tiên của người nghèo là đảm bảo đủ gạo ăn Họ không có điều kiện hưởngthụ các nhu cầu văn hoá, y tế, giáo dục và đời sống tinh thần nói chung
Các chỉ tiêu khác cũng được hầu hết các nhà nghiên cứu đưa ra để đánhgiá tình trạng nghèo như: nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, ăn, mặc, chi tiêu họchành, đi lại… Nhưng đó là những chỉ tiêu có tính chất hỗ trợ làm rõ thêm chochỉ tiêu thu nhập
Căn cứ vào mức sống thực tế của các địa phương, trình độ phát triển kinhtế- xã hội, Bộ lao động- Thương binh và Xã hội đã nhiều lần công bố tiêuchuẩn cụ thể cho hộ nghèo, hộ đói
Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đã 3 lần công bố chuẩn nghèo tínhtheo thu nhập bình quân đầu người, chuẩn này ngày càng được nâng lên phùhợp với các gia đình cụ thể khác nhau 1993- 1995, 1996- 2000 và 2001- 2005.Giai đoạn 1993- 1995: Lấy mức thu nhập bình quân đầu người 1 thángquy ra gạo làm chuẩn mực
Bảng 3: Chuẩn mực và tỉ lệ nghèo đói năm 1993.
Mức nghèo đói (Kg gạo/ người/ tháng) Chuẩn mực Nông thôn (%) Thành thị (%)
Nghèo tương đối Dưới mức của địa phương 57 – 56 42,87
Theo chuẩn mực trên tỉ lệ nghèo cuối năm 1995 ở nước ta như sau:
Trang 24Bảng 4: Tỉ lệ nghèo đói ở Việt Nam 1995.
Số người (người) Số hộ (hộ) Tỉ lệ hộ (%)
Hộ nghèo đói 14.788.347 2.945.897 20,3
Giai đoạn 1996- 2000: Chuẩn mực nghèo đói được nâng lên cao hơn
Bảng 5: Chuẩn mực nghèo đói năm 1996 Loại hộ Địa bàn Kg gạo/ người/ thángThu nhập bình quân đầu ngườiĐồng/ người
bằng, trung du < 20 < 700.000
Và đến năm 1997 cả nước còn 2,65 triệu hộ nghèo với tỉ lệ nghèo đóichiếm 17,7% trong đó khoảng 30.000 hộ thường xuyên đói
Giai đoạn 2001- 2005: Quyết định 1143/ LĐTBXH ngày 01/11/2000 của
Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo mới cao hơn sovới chuẩn cũ để áp dụng cho giai đoạn 2001 – 2005 Quyết định này được ápdụng từ 1/1/2001 trên phạm vi cả nước Theo chuẩn này thì hộ nghèo là hộ cóthu nhập bình quân đầu người như sau:
Bảng 6: Chuẩn mực nghèo đói giai đoạn 2001 – 2005
Địa bàn Thu nhập (đồng/ người/ tháng)
Hộ nghèo
Vùng nông thôn miền núiVùng nông thôn đồng bằngVùng đô thị
< 80.000
< 100.000
< 150.000
So với chuẩn nghèo giai đoạn 1996- 2000, chuẩn nghèo giai đoạn
2001-2005 tăng khoảng 1,5 lần Sở dĩ như vậy là do trong 5 năm từ 1006- 2000,mức sống của dân cư tăng lên khoảng 1,47 lần và GDP bình quân đầu ngườigiai đoạn 1991- 2000 tăng lên 1,91 lần
Trang 25Theo chuẩn nghèo mới đầu năm 2001 Việt Nam có khoảng 2,8 hộ nghèochiếm tỉ lệ 17,81% và đến 2003 tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 9,51%.
Tuy nhiên, các tỉnh và thành phố có thể nâng chuẩn hộ nghèo cao hơn sovới quy định trên đây với 3 điều kiện sau:
- Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh thành phố cao hơn bình quânđầu người cả nước
- Tỉ lệ hộ nghèo của các tỉnh thành phố thấp hơn cả nước
- Tự cân đối được nguồn hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo
Tại phiên họp thường kì diễn ra trong 2 ngày 27 và 28/4/2005 của Bộ laođộng Thương binh và Xã hội, Chính phủ đã nhất trí thông qua chuẩn nghèomới giai đoạn 2006- 2010 như sau:
Bảng 7: Chuẩn mực nghèo đói giai đoạn 2006- 2010.
Địa bàn Thu nhập đ/người/ tháng
Hiện nay, ở nước ta còn khoảng 900 xã thuộc diện nghèo Còn ở Nghệ
An theo Sở Lao động Thương binh và Xã hội thì tính đến tháng 12/2005 toàntỉnh có 214 xã thuộc diện nghèo Trong đó có 84 xã nghèo thuộc chương trình135/CP, 130 xã ngoài chương trình 135 có tỉ lệ nghèo trên 25% trong đó có 9
xã còn tỉ lệ nghèo từ 45% đến 64,4%
Với cách xác định hộ nghèo, hộ đói, cần phải dựa vào cả 2 chỉ tiêu địnhtính và định lượng để vừa có thể phản ánh được tính đa dạng của nghèo đói.Các khía cạnh về quyền sở hữu tài sản đất đai, tư liệu, công cụ sản xuất, tìnhtạng giáo dục, môi trường sống của người nghèo… lại vừa có thể xác địnhđánh giá được tình trạng nghèo đói để việc so sánh được đồng nhất, tư liệuthu thập được có độ tin cậy cao
Ngoài tiêu chí về nghèo đói do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, thì
ở Việt Nam còn có nhiều tiêu chí do các tổ chức khác đưa ra Tuy nhiên, hiệnnay tiêu chí của Bộ Lao động thương binh và Xã hội là tiêu chí được sử dụng
Trang 26phổ biến trên toàn quốc Và trong đề tài này bản thân tôi cũng dựa vào nhữngtiêu chí của Bộ lao động Thương binh và Xã hội được xác định hộ nghèo.
Trang 27Chương II THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI Ở NGHỆ AN.
1 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Nghệ An là tỉnh lớn thuộc vùng Bắc Trung Bộ, trải dài theo hướng TâyBắc- Đông Nam Lãnh thổ của Nghệ An nằm trong toạ độ từ 18o35’ đến
20o00’10” vĩ độ Bắc và từ 103o50’25” đến 105o45’30” kinh độ Đông Về phíaBắc, Nghệ An giáp tỉnh Thanh Hoá; phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Tâychung biên giới với CHDCND Lào thuộc phạm vi 3 tỉnh Xiêng Khoảng,Bôlikhămxay và Hủa Phăn; phía Đông trông ra biển Đông với chiều dàiđường bờ biển khoảng 82km
Nghệ An hiện nay gồm 17 huyện, thị trấn, 1 thành phố, 1 thị xã Toàntỉnh có diện tích tự nhiên là 16.487,29km2 chiếm khoảng 5% diện tích cảnước và với số dân là 3.030.946 người (2005), chiếm khoảng 3,6% dân sốViệt Nam
Bảng 8: Một số chỉ số về tỉnh Nghệ An năm 2005.
Diện tích (km 2 )
Dân số (người)
Mật độ dân số (người/ km 2 )
Tổng số xã, phường, thị trấn
Trang 28Tương Dương 2.806,36 75.761 27 21
Nguồn: Niên giám thống kê Nghệ An năm 2005
2 VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI NGHỆ AN TRONG VÙNG BẮC TRUNG BỘ
VÀ CẢ NƯỚC.
2.1 Thu nhập bình quân đầu người.
Thu nhập là tiền đề hết sức quan trọng cho việc đảm bảo các nhu cầu củacon người Từ đó nâng cao mức sống giảm tình trạng nghèo Bởi thôngthường những hộ có thu nhập cao sẽ có mức sống cao, còn những hộ có thunhập thấp lại chính là những hộ nghèo Trong những năm qua cùng với sựphát triển của nền kinh tế thì thu nhập của người dân Nghệ An đã được cảithiện đáng kể Tuy nhiên so với cả nước thì mức thu nhập của Nghệ An vẫncòn thấp
Bảng 9: GDP, GDP/người năm 2004 ở Việt Nam và Nghệ An.
GDP (triệu đồng)
GDP/ người (nghìn đồng/ người)
Cả nướcNghệ An
713.071.00014.583.855
8.6944.856
Ta thấy năm 2004 GDP của Nghệ An chỉ chiếm khoảng 2% GDP cảnước Thu nhập bình quân trên người của Nghệ An năm 2004 là 4.856 nghìnđồng/ người/ năm, chỉ bằng ½ GDP/ người/ năm của cả nước
Thu nhập bình quân đầu người là một tiêu chuẩn quan trọng để xác định
tỉ lệ nghèo đói Mức thu nhập bình quân đầu người ở Nghệ An vẫn còn thấp
so với cả nước, chứng tỏ rằng nền kinh tế của Nghệ An vẫn còn kém pháttriển, chưa đảm bảo được cuộc sống của nhân dân Số người nghèo trong dân
cư còn chiếm tỉ lệ cao Điều đó đòi hỏi chính quyền các cấp phải có những kếhoạch phát triển kinh tế phù hợp nhằm nâng cao hơn nữa cuộc sống của ngườidân
Trang 29Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng hàng đầu khi nghiên cứunghèo đói Hiện nay, đánh giá nghèo đói ở Việt Nam nói chung và Nghệ Annói riêng thường dựa vào thu nhập là chủ yếu.
Nghệ An cũng như vùng Bắc Trung Bộ là một trong những tỉnh nghèocủa cả nước, mặc dù trong những năm qua đã có nhiều chương trình củaTrung ương cũng như của Tỉnh nhằm xoá đói giảm nghèo Nhưng kết quả đạtđược chưa thật cao Tỷ lệ nghèo ở Nghệ An vẫn còn cao so với cả nước cũngnhư so với các tỉnh khác
Bảng 10: Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam, Bắc Trung Bộ
Trang 30Biểu đồ: Tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam, Bắc Trung Bộ và Nghệ An
Ta thấy tỷ lệ hộ nghèo của Nghệ An giảm qua các năm, tuy nhiên tốc độgiảm nghèo còn chậm và tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao so với mức bình quâncủa cả nước Năm 2001 tỷ lệ hộ nghèo của cả nước là 15,8%, Bắc Trung Bộ
là 24,2% và của Nghệ An là 17,64%, đến năm 2003 các con cố tương ứng là:9,51%; 14,2% và 12,15% Điều này chứng tỏ rằng các chương trình, dự ánxoá đói giảm nghèo vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, tỷ lệ hộnghèo vẫn còn cao Trong thời gian tới Tỉnh cần phải đẩy mạnh hơn nữa cácchương trình mục tiêu, các dự án xoá đói giảm nghèo nhằm hạ thấp tỷ lệ hộnghèo xoá đói giảm nghèo một cách bền vững
2.3 Y tế và giáo dục.
2.3.1 Y tế.
Y tế cũng là một trong những chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá nghèođói của dân cư mỗi khu vực, mỗi quốc gia Bởi vì khi cuộc sống con ngườiđược nâng cao tức là thoát khỏi tình trạng nghèo đói, thì mức chi tiêu cho y tếcũng tăng lên Hay nói cách khác công tác chăm sóc sức khoẻ cũng được chútrọng Ngược lại những hộ có thu nhập thấp hoặc rơi vào tình trạng nghèo đóithì mức chi tiêu cho y tế cũng sẽ rất hạn chế
Trang 31Ở Nghệ An trong những năm qua với sự nỗ lực của chính quyền và nhândân trong toàn tỉnh, tình hình y tế và chăm sóc sức khoẻ cho người dân, đặcbiệt là người nghèo đã được cải thiện đáng kể Mặc dù vậy vẫn còn ở mức độkhiêm tốn so với cả nước.
Bảng 11: Một số chỉ tiêu về y tế/ vạn dân của Nghệ An
so với khu vực Bắc Trung Bộ và toàn quốc năm 2002
Cán bộ y tế/ vạn dân Số giường bệnh/ vạn dân
Nguồn: Niên giám thống kê 2005
Qua bảng số liệu ta thấy vào năm 2002 các chỉ số về cán bộ y tế/ vạn dân
và giường bệnh/ vạn dân của Nghệ An cao hơn so mức bình quân của khu vựcBắc Trung Bộ và gần bằng mức bình quân chung của cả nước Năm 2002 cảnước có 18 cán bộ y tế/ vạn dân và 24 giường bệnh/ vạn dân, 19 giường bệnh/vạn dân, còn những chỉ số này ở Nghệ An là 17 cán bộ y tế/ vạn dân và 20,3giường bệnh/ vạn dân Hiện nay, trên toàn tỉnh Nghệ An có khoảng 538 cơ sở
y tế, 6.200 giường bệnh và khoảng 5714 cán bộ y tế, trong đó có 4895 cán bộngành y tế và 819 cán bộ ngành Dược, 100% số xã, phường trong toàn tỉnh cótrạm y tế Như vậy có thể nói mặc dù nền kinh tế của tỉnh còn gặp nhiều khókhăn, nhưng công tác chăm sóc sức khoẻ cho người dân đã được quan tâmđúng mức, làm cho sức khoẻ người dân ngày càng được nâng cao, các loạidịch bệnh được hạn chế đáng kể
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được vẫn còn nhiều vấn đềđáng quan tâm, đặc biệt là việc đảm bảo cho người dân nghèo cũng được tiếpcận với các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ Do vậy, trong thời gian tớingành Y tế của tỉnh nói riêng, cũng như các cấp các ngành của tỉnh nói chungcần quan tâm hơn nữa tới vấn đề này Đảm bảo chăm sóc sức khoẻ cho ngườidân tốt hơn, đặc biệt là những người nghèo
2.3.2 Giáo dục.
Trang 32Trình độ học vấn của một nước phản ánh mức độ phát triển của xã hội,cũng như trình độ văn minh của một quốc gia Trình độ học vấn cao là điềukiện rất quan trọng trong công nghệ sản xuất cũng như yêu cầu của xã hội,trong điều kiện khoa học- kỹ thuật hiện nay, từ đó có thể nâng cao năng suấtlao động, mức thu nhập, tiến tới xoá nghèo đói một cách bền vững.
Theo đánh giá của Liên hợp quốc, trình độ học vấn là một trong ba thành
tố cơ bản có liên quan đến sự phát triển con người gồm: tỷ lệ người biết chữ,
số năm đến trường
Ngoài ra, sự phát triển giáo dục ở mỗi quốc gia còn thể hiện ở tình hình
cơ sở vật chất: số trường lớp, số học sinh, số sinh viên…
Nghệ An là một vùng đất hiếu học nổi tiếng cả nước từ xưa đến nay.Mặc dù là một tỉnh nghèo của cả nước nhưng tỉnh rất quan tâm đến vấn đềgiáo dục- đào tạo, nâng cao trình độ dân trí cho người dân Số lượng trườnglớp, số lượng và chất lượng của giáo viên và học sinh ngày càng tăng lên
Bảng 12: Một số chỉ tiêu về giáo dục của Nghệ An so với
khu vực và cả nước năm 1999.
Tỉ lệ nhập học của các cấp giáo dục (%)
Tỉ lệ biết chữ của người lớn (%)
Trang 33trung học cơ sở Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, các loại hìnhgiáo dục ngày càng phong phú, đảm bảo được nhu cầu ngày càng cao củangười dân về giáo dục và đào tạo.
2.4 Tình hình sử dụng điện, nước và nhà ở.
Nhà ở, điện, nước sinh hoạt là những nhu cầu không thể thiếu trong cuộcsống hàng ngày của mỗi con người Nó phản ánh trình độ phát triển kinh tế,
xã hội, tức là phản ánh mức độ giàu nghèo của mỗi quốc gia
Nhà ở là một vấn đề bức xúc hiện nay đối với nhiều quốc gia trên thếgiới Đối với những nước phát triển thì đó là vấn đề chất lượng nhà ở, còn vớinhững nước đang phát triển thì đó là vấn đề không gian nhà ở Sự gia tăngnhanh dân số, cùng với quá trình đô thị hoá đặc biệt là ở những nước đangphát triển làm cho nhu cầu nhà ở tăng lên Chất lượng nhà ở được đánh giáthông qua mức độ bền vững theo thời gian và phân loại thành nhà kiên cố,nhà bán kiên cố và nhà tạm bợ
Bảng 13: Tỉ lệ hộ có nhà ở chia theo loại ở Nghệ An
so với Bắc Trung Bộ và cả nước năm 2002.
Đơn vị tính: %
Chung
Loại nhà
Nhàbiệt thự
Nhà kiên
cố khépkín
Nhà kiên
cố khôngkhép kín
Nhà bánkiên cố
Nhà đơn
sơ và nhàkhác
Nguồn: Điều tra mức sống hộ gia đình toàn quốc năm 2002
Có thể thấy rằng, cũng như cả nước và khu vực Bắc Trung Bộ ở Nghệ
An chủ yếu nhà ở vẫn là nhà bán kiên cố Năm 2002 nhà bán kiên cố ở Nghệ
An chiếm 79,83% tổng số hộ có nhà ở Còn tỉ lệ hộ có nhà biệt thự ở Nghệ
An chỉ là 0,19% trong khi đó của khu vực Bắc Trung Bộ là 3,60% Cả nước là
Trang 346,10% Đặc biệt hiện nay ở Nghệ An vẫn còn tới 8,96% số hộ phải ở trongnhững ngôi nhà đơn sơ và các loại nhà khác Điều này chứng tỏ rằng chấtlượng nhà ở của Nghệ An vẫn còn thấp Với điều kiện khí hậu khắc nghiệtcủa khu vực Bắc Trung Bộ thì chất lượng nhà ở như trên là chưa đảm bảochất lượng cuộc sống dân cư.
Bên cạnh vấn đề nhà ở thì các nhu cầu về điện, nước sinh hoạt cũng đangtrở thành một trong những nhu cầu lớn của người dân Nước ta hiện nay có60,2% số xã có điện và 50,7% số hộ nông thôn có điện Dân cư sử dụngnguồn nước sinh hoạt từ nước giếng là chính (57,2%), nước máy chỉ chiếmmột tỉ lệ nhỏ (10,7%), đặc biệt vẫn còn nhiều hộ sử dụng nguồn nước sôngsuối, ao, hồ, đầm… làm nước sinh hoạt
Nghệ An hiện nay có 91,1% số xã có điện, tỉ lệ dân cư được sử dụngnước sạch là 71,3% Như vậy có thẻ thấy những chỉ số này ở Nghệ An đềucao hơn mức bình quân chung cả nước
2.5 Chỉ số HDI và chỉ số HPI.
2.5.1 Chỉ số HDI (Human Deverlopment Index).
Chỉ tiêu phát triển con người (HDI) là một thước đo tổng hợp về sự pháttriển của con người Nó đo thành tựu trung bình của một quốc gia trên 3phương diện của sự phát triển của con người
- Một cuộc sống lâu dài và khoẻ mạnh được đo bằng tuổi thọ trung bình
từ lúc sinh
- Kiến thức được đo bằng tỉ lệ người lớn biết chữ, tỉ lệ nhập học các cấpgiáo dục tiểu học, trung học và đại học
- Mức sống tử tế được đo bằng GDP thực tế đầu người
HDI của các nước được tính thống nhất theo ba chỉ tiêu trên và theo cùngmột cách tính, HDI là trung bình cộng của 3 chỉ tiêu trên
Giá trị của HDI sẽ từ 0,000 đến 1 Nước nào có HDI lớn hơn, chứng tỏ
sự phát triển con người của Liên Hợp Quốc quy định khi tính HDI năm 1992cho tất cả các nước như sau:
Tối đa Tối thiểu
Trang 35Tuổi thọ bình quân (năm) 85,0 25,0
Bắc Trung
Giá trịchỉ số
Giá trị chỉsố
Giá trịchỉ số
Xếphạng
Tỉ lệ nhập học của các cấp giáo dục (%)
Tuổi thọ (năm)
Tỉ lệ biết chữ của người lớn (%)
GDP/ người (triệu đồng/ người/ năm)
75,270,291,326539390,860,750,370,662
76,670,692,829399400,870,760,370,669
10/6131/6119/6140/6142/6117/6130/6140/6125/61
Nguồn: Báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2001
2.5.2 Chỉ số HPI (Human poor Index) chỉ số nghèo khổ tổng hợp.
HDI là chỉ số đo sự thiếu thốn, bần hàn hay không có khả năng đảm bảođược ba khía cạnh cơ bản của sự phát triển con người như đã nêu ở chỉ sốHDI Các thước đo cơ bản này được thể hiện ở các chỉ số sau:
- Một cuộc sống lâu dài và khoẻ mạnh- được thay bằng tính dễ bị tổnthương dẫn đến cái chết ở độ tuổi tương đối trẻ được đo bằng xác suất khôngthọ quá 40 tuổi
- Kiến thức được thay bằng sự bị loại trừ ra khỏi thế giới của nhữngngười biết chữ và có khả năng giao tiếp được đo bằng tỉ lệ người lớn mù chữ
Trang 36- Mức sống khá, được thay bằng sự thiếu khả năng tiếp cận với nhữngthành tựu kinh tế chung được đo bằng tỉ lệ người dân không được sử dụng cácnguồn nước sạch và tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thiếu cân.
Các chỉ tiêu được dùng để đo sự thiếu thốn, bần hàn được chuẩn hoá giữa
Thu nhập bình quân năm của
nhóm 20% cao nhất (PPP USD) 3070 2244 2419 29/61Khoảng cách 20% giàu nhất đến
Tỉ lệ dân sống dưới ngưỡng
Nguồn: Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001
3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI Ở NGHỆ AN.
3.1 Nghèo đói qua một số chỉ tiêu.
Trang 37Thu nhập là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kỹ
thuật-xã hội cũng như xác định và đánh giá mức sống dân cư vì nó là tiền đề choviệc bảo đảm các nhu cầu của con người, từ đó nâng cao mức sống, giảm tìnhtrạng nghèo đói Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nềnkinh tế cả nước, kinh tế của Nghệ An cũng đã có sự phát triển không ngừng.Làm cho thu nhập của người dân được cải thiện đáng kể Tuy vậy, so với cảnước thì thu nhập của Nghệ An vẫn còn thấp và phân phối không đều trongcác nhóm dân cư, các khu vực khác nhau của tỉnh
Thông qua các cuộc điều tra, khảo sát về mức sống dân của tỉnh thì thunhập bình quân một nhân khẩu trong một tháng tăng dần qua các năm ở tất cảcác vùng, các nhóm dân cư trong tỉnh Năm 2001 thu nhập bình quân đầungười của Nghệ An đạt 3,01 triệu đồng/ người/ năm Đến năm 2005 tăng lên5,58 triệu đồng/ người/ năm, gấp hơn gần 2 lần bình quân thu nhập của Nghệ An
Trang 38Bảng 16: Thu nhập bình quân đầu người của cả nước
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Cục thống kê Nghệ An
Thu nhập ngày càng tăng, cuộc sống của người dân ngày càng được cảithiện Nhưng so với cả nước thì mức thu nhập này còn thấp Năm 2005 thunhập bình quân đầu người của Nghệ An là 5,58 triêu đồng/ người/ năm trongkhi của cả nước là 10,08 triệu đồng/ người/ năm (tức là gấp gần 2 lần)
Như vậy, có thể thấy tốc độ tăng thu nhập của cả nước cao hơn so với Nghệ
An Chứng tỏ tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nghệ An chậm so với cả nước
Thu nhập bình quân đầu người toàn tỉnh tăng dần qua các năm nhưng lại không đồng đều ở các khu vực khác nhau và tốc độ tăng thu nhập cũng có sự khác nhau giữa các vùng
Bảng 17: Thu nhập bình quân/ người/ tháng chia theo
thành thị và nông thôn thời kì 2000 – 2004.
Nguồn: Cục thống kê Nghệ An
Thu nhập bình quân đầu người của khu vực thành thị luôn cao hơn nhiều
so với khu vực nông thôn và so với toàn tỉnh
Năm 2004 thu nhập bình quân của khu vực nông thôn là 275,22 nghìnđồng/ người/ tháng, của toàn tỉnh là 323,79 nghìn đồng/ người/ tháng, trongkhi đó khu vực thành thị lên tới 702,74 nghìn đồng/ người/ tháng (gấp 2,55
Trang 39lần khu vực nông thôn và 2,17 lần toàn tỉnh Rõ ràng sự phân phối thu nhậpnông thôn có sự chênh lệch rất lớn giữa thành thị và nông thôn Điều đó đượcgiải thích ở nông thôn hầu hết người dân sống bằng nghề nông, nên thu nhậprất thấp, đặc biệt ở các huyện miền núi, nơi có nhiều dân tộc ít người cư trú
họ chủ yếu canh tác theo lối cổ truyền (phát rừng làm nương rẫy), phụ thuộcrất nhiều vào tự nhiên nên mức độ rủi ro rất cao
Nếu như xét theo phân phối trong thu nhập thì khu vực thành thị luôn cómức thu nhập cao hơn so với khu vực nông thôn và cao hơn mức trung bìnhchung của cả tỉnh, và theo xu hướng chung thì tốc độ tăng thu nhập của khuvực thành thị càng cao hơn Tuy nhiên, với Nghệ An thì ngược lại, khu vựcnông thôn có tốc độ tăng thu nhập nhanh hơn so với khu vực thành thị Nếunhư trong 2 năm từ 2002 – 2004 thu nhập bình quân của khu vực thành thị chỉtăng có 46,25% thì khu vực nông thôn tăng tới 64,70% Như vậy, ta có thểthấy sự chênh lệch khá rõ rệt, điều này chứng tỏ cuộc sống của người dânnông thôn đang ngày càng được nâng cao, các chương trình Xoá đói giảmnghèo ở nông thôn đang đem lại những kết quả khả quan
Bảng 18: GDP và GDP/ người của tỉnh Nghệ An phân theo
khu vực và theo huyện năm 2005.
Khu vực GDP (triệu đồng) GDP/ người (nghìn đồng)