1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng lao động nông thôn di cư tự do theo mùa vụ tại thị trấn tân kỳ huyện tân kỳ tỉnh nghệ an

69 986 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Lao Động Nông Thôn Di Cư Tự Do Theo Mùa Vụ Tại Thị Trấn Tân Kỳ-Huyện Tân Kỳ-Tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thị Sen
Người hướng dẫn Th.s Trần Hậu Thìn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khuyến Nông Và Phát Triển Nông Thôn
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 621,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, những người lao động này chỉ làm nông nghiệp thôi thìkhông đủ do đó họ còn phải làm những công việc khác để nuôi sống bản thân vàgia đình chính vì thế mà họ phải di cư đến c

Trang 1

KHOA NÔNG LÂM NGƯ

- -NGUYỄN THỊ SEN

THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NÔNG THÔN DI CƯ TỰ

DO THEO MÙA VỤ TẠI THỊ TRẤN TÂN KỲ-HUYỆN

TÂN KỲ-TỈNH NGHỆ AN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGÀNH: KN & PTNT

Trang 2

Vinh, tháng 5 năm 2010

Trang 3

- -THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NÔNG THÔN DI CƯ TỰ

DO THEO MÙA VỤ TẠI THỊ TRẤN TÂN

KỲ-HUYỆN TÂN KỲ-TỈNH NGHỆ AN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người thực hiện: Nguyễn Thị Sen Lớp: 47K3 - KN & PTNT

Người hướng dẫn: Th.s Trần Hậu Thìn

Vinh, 5/2010

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở Việt Nam, dân cư tập trung ở vùng nông thôn chiếm 73% dân số cả nước

và tập trung phần lớn là người nghèo Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ởnăm 2009 thì tính đến ngày 1/4/2009, dân số cả nước là 85.789.573 triệu người,tăng 9,47 triệu người so với 10 năm trước đây Cả nước có 43,8 triệu người trong

độ tuổi lao động đang làm việc, chiếm 51,1% dân số (thành thị có 11,9 triệungười, nông thôn có 31,9 triệu người), lao động nữ chiếm 46,6 tổng lực lượng laođộng [16] Với sự biến động hối hả của nền kinh tế cộng với những tiêu cực củavấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra và theo đánh giá của ADB thì cứ nhiệt độtăng 1ºC thì năng suất lúa giảm 10% vậy thì người dân mà đặc biệt là những ngườinông dân - những người lao động nông nghiệp sẽ và phải làm gì để có thu nhậpnuôi sống bản thân và những người ăn theo? Lao động nông nghiệp mang tínhthời vụ, do đó tìm kiếm việc làm trong thời gian nông nhàn đang là bài toán củalao động nông thôn nói riêng và các nhà làm phát triển nói chung

Bên cạnh đó, những người lao động này chỉ làm nông nghiệp thôi thìkhông đủ do đó họ còn phải làm những công việc khác để nuôi sống bản thân vàgia đình chính vì thế mà họ phải di cư đến các thị trấn, thành phố để thích ứng vớicuộc sống thực tại

Tân Kỳ là huyện miền núi có đời sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, hầunhư không có làng nghề (cả huyện chỉ có 2 làng TTCN là làm ngói ở Nghĩa Hoàn

và mây tre đan ở Kỳ Tân) do đó vào lúc nông nhàn lao động nông thôn thường đổ

xô vào khu vực thị trấn để tìm việc làm thêm

Cùng với quá trình CNH-HĐH của đất nước, thị trấn Tân Kỳ đã có nhữngbước chuyển mình khá mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực KT - XH, ngày càng trở thànhđịa điểm hấp dẫn, thu hút hàng ngàn lao động từ các vùng lân cận đến, tham giavào quá trình lao động và sản xuất

Hiện nay, số lượng lao động di cư theo mùa vụ đang sinh sống và làm việctại thị trấn rất nhiều, theo thống kê của thị trấn tính đến năm 2009 là 1.218 ngườichiếm 17,6% so với dân số của thị trấn Đa số họ đều trong độ tuổi lao động,

Trang 5

muốn tìm kiếm cho mình một công việc với mức thu nhập tương đối để cải thiệncuộc sống.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là những người lao động di cư đến thị trấn Tân Kỳ

sẽ làm những nghề gì? Họ có những thuận lợi và khó khăn gì trong quá trình laođộng kiếm sống? Việc làm và mức thu nhập có đáp ứng được nhu cầu sinh hoạtkhông? Việc họ đến thị trấn làm thêm có hậu quả gì không?

Để giải đáp những thắc mắc đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực

trạng lao động nông thôn di cư tự do theo mùa vụ tại thị trấn Tân Kỳ, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ an”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Tìm hiểu thực trạng lao động nông thôn tìm việc làm theo mùa vụ tại thịtrấn Tân Kỳ, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ an để thấy được nguyên nhân, những khókhăn, thuận lợi cũng như những ảnh hưởng của việc di cư theo mùa vụ đến đờisống người lao động Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phầngiảm bớt khó khăn và nâng cao thu nhập cho người lao động di cư

Trang 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm lao động

Lao động là hoạt động có chủ đích, có ý thức của con người nhằm thay đổinhững những vật thể tự nhiên phù hợp với lợi ích của mình Lao động còn là sựvận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải, vật chất và tinh thần, làquá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất [2]

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vậtchất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệuquả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước

1.1.1.2 Khái niệm di cư

Di cư là một trong hai bộ phận chủ yếu của biến động dân số: Biến động tựnhiên và biến động cơ học Trong đó di cư là biến động cơ học

Theo nghĩa rộng: Di cư là sự chuyển dịch bất kì của con người trong mộtkhông gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hoặcvĩnh viễn [9] Với khái niệm này di cư đồng nhất với sự di động dân cư

Theo nghĩa hẹp: Di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ nàyđến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảngthời gian nhất định [9] Khái niệm này khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyểnvới việc thiết lập nơi cư trú mới

Theo Ủy ban kế hoạch Nhà nước [12] đã định nghĩa: Di cư là sự di chuyểndân cư trong nước (từ nông thôn ra thành thị hoặc ngược lại từ vùng này sangvùng khác) và từ nước này sang nước khác Di cư là biểu hiện rõ nét của sự pháttriển không đồng đều giữa các vùng, miền, lãnh thổ Như vậy di cư cũng phản ánh

sự phát triển chậm chạp hơn hoặc sự lạc hậu về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội củavùng này so với vùng khác, miền này so với miền khác Đây là một xu hướng ítnhiều có tính phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác trongkhu vực và trên thế giới

Trang 7

Di cư gồm hai quá trình trái ngược nhau nhưng lại diễn ra song song: Quátrình xuất cư và quá trình nhập cư Nếu xuất cư là quá trình rời khỏi nơi cá nhânđang sinh sống, làm ăn thì nhập cư là sự di chuyển từ một nơi ở bên ngoài vùnglãnh thổ vào lãnh thổ đó, làm thay đổi về mặt xã hội, gắn với không gian và thờigian

Theo PGS.TS Trần Thị Minh Đức [3] ở Việt Nam, hiện tượng di cư laođộng từ nông thôn vào thành phố thường theo mùa vụ, gọi là “Di cư theo mùa vụ”.Phần lớn những người nông thôn ra thành phố lao động họ không có ý định sốnglâu dài ở thành phố (sống vài tuần cho đến vài tháng) Thời gian nông nhàn ở đâynghĩa là khoảng thời gian của người nông dân sau khi làm xong các công việc củanhà nông như : Sau khi cấy, gặt lúa vv Sau mùa vụ, khoảng thời gian nông nhànnày nếu người nông dân không có nghề phụ tại địa phương thì họ sẽ di chuyển đếnvùng khác tìm việc Đồng tiền kiếm được ở thành phố chỉ có giá trị khi được tiêuxài ở quê, đó là một trong những nguyên nhân người nông dân thường chọn hìnhthức di cư theo mùa vụ Có nhiều định nghĩa về di cư được đưa ra, song mỗi địnhnghĩa đều xuất phát từ những phương diện khác nhau, do đó khó có thể lựa chọnđược định nghĩa thống nhất, bao quát cho mọi tình huống bởi tính đa dạng, phứctạp của hiện tượng di cư nói chung và di cư theo mùa vụ nói riêng

1.1.2 Phân loại di cư

* Theo khoảng cách:

Đây là hình thức phân loại di cư quan trọng nhất Người ta phân biệt di cư

xa hay gần giữa nơi đi và nơi đến Di cư giữa các nước gọi là di cư quốc tế, giữacác vùng, các đơn vị hành chính trong một nước gọi là di cư nội địa

* Theo địa bàn nơi đến:

- Di cư giữa các nước được gọi là di cư quốc tế Gồm có di cư hợp pháp, di

cư bất hợp pháp, chảy máu chất xám, cư trú tị nạn, buôn bán người qua biên giới

- Di cư giữa các vùng miền, các đơn vị hành chính trong một nước gọi là di

cư nội địa Loại hình di cư này bao gồm di cư nông thôn - thành thị, di cư nôngthôn - nông thôn, di cư đô thị - đô thị, di cư đô thị - nông thôn

Trang 8

* Theo đặc trưng di cư:

- Di cư có tổ chức (hay di cư có kế hoạch) do Nhà nước tổ chức, đầu tưtheo kế hoạch, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nên có nhiều thuậnlợi với sự hỗ trợ của hệ thống quản lý và ngân sách Nhà nước Người di cư và giađình họ có thể nhận được sự giúp đỡ cần thiết để có thể tổ chức cuộc sống, giảmbớt hoặc không phải trải qua những thử thách nặng nề tại nơi cư trú mới

- Di cư tự do là di cư ngoài kế hoạch, sự di chuyển đến nơi cư trú mới hoàntoàn do người dân tự quyết định bao gồm cả việc chọn địa bàn đến, tổ chức dichuyển, trang trải mọi chi phí và tự tạo việc làm tại nơi cư trú mới trên cơ sở thựchiện một số thủ tục tối thiểu với chính quyền địa phương Hình thức di cư tự dokhông có sự giúp đỡ của Nhà nước, đang là vấn đề nhạy cảm được xã hội hiện nayrất quan tâm vì hình thái di cư này đang đặt ra những đòi hỏi mới về phát triển vàchính sách quản lý

* Theo độ dài thời gian cư trú:

- Di cư lâu dài: Bao gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường xuyên vànơi làm việc đến nơi mới với mục đích sinh sống lâu dài, trong đó phần lớn nhữngngười di cư là do chuyển công tác đến nơi xa nơi ở cũ, thanh niên tìm việc làmmới và tách gia đình…

- Di cư tạm thời là sự di chuyển vì các mục đích khác nhau trong khoảngthời gian xác định và người di cư không có ý định cư trú lâu dài ở nơi chuyển đến,

họ thường là những người làm việc theo mùa vụ

- Di cư chuyển tiếp: Là kiểu di cư mà không thay đổi nơi làm việc

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc người lao động di cư

- Yếu tố đẩy: Thu nhập ở quê thấp, cơ hội việc làm thấp, khả năng tiếp cậncác dịch vụ y tế xã hội thấp, …

- Yếu tố kéo: Khả năng kiếm được thu nhập cao ở nơi nhập cư, cơ hội tìmkiếm việc làm dễ dàng hơn, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế xã hội tốt hơn, …

1.1.4 Ảnh hưởng của di cư đến các vấn đề kinh tế - xã hội

Di cư có ảnh hưởng không nhỏ trong việc phân bố lại lực lượng sản xuất,nguồn lao động theo lãnh thổ và khu vực kinh tế Bên cạnh đó, mỗi người dân hay

Trang 9

một nhóm cư dân, một cộng đồng đều có phong cách sống chứa đựng những yếu

tố văn hóa tinh thần, tôn giáo, dân tộc mà khi di chuyển họ sẽ mang theo Sự thíchứng và hòa nhập cần phải có thời gian, nhanh hay chậm tùy thuộc vào sự khác biệt

về văn hóa, kinh tế, xã hội giữa nơi đi và nơi đến Song về lâu dài các mối quan hệ

xã hội sẽ dần dần tạo nên các giá trị mới [10]

Thái độ, hành vi, phong tục tập quán, thói quen của con người không thểthay đổi ngay mà được bảo lưu, mang theo đến nơi cư trú mới, phát huy tác dụngtrong một thời gian dài Ngay cả khi số lượng thuần túy (số đi trừ số đến) có thểkhông lớn, sự hiện diện của những người mới đến sinh sống với nền văn hóa vàđặc điểm sắc tộc khác nhau có thể gây nên sự xung đột, phân biệt đối xử trongcộng đồng nơi đến

* Các ảnh hưởng tích cực:

- Đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, phát triển sản xuất

- Góp phần vào sự phát triển đồng đều ra các vùng của một quốc gia

- Tập trung nguồn lực phát triển tại một số vùng nhất định

- Góp phần tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống, xóa đói giảm nghèo

1.1.5 Bản chất kinh tế xã hội của di cư

Bản chất kinh tế - xã hội của di chuyển lao động được thể hiện thông quacác khía cạnh sau:

Trang 10

- Là phương thức thực hiện phân công lao động xã hội theo lãnh thổ nhằmhợp lý hóa phân bố nguồn lao động, tăng năng suất lao động xã hội và hiệu quảcủa nền sản xuất xã hội.

- Là công cụ điều tiết cung cầu nguồn lao động trong nền kinh tế thị trườngnhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lao động ở các vùng

- Là phương thức thực hiện những mục tiêu kinh tế của người lao độngnông thôn xuất phát từ động lực kinh tế Người lao động bao giờ cũng di chuyển từnơi có thu nhập thấp đến nơi có thu nhập cao hơn Tuy nhiên, trong trường hợp cunglớn hơn cầu về lao động thì nhu cầu việc làm là nhu cầu số một của người lao động

Do đó, trong hoàn cảnh nhất định người dân có thể chấp nhận di chuyển đến cácvùng đất lúc đầu có thể khó khăn, song tương lai có thể phát triển hơn nơi đi

- Là biện pháp thực hiện hợp lý hóa phân bố lực lượng sản xuất theo lãnhthổ thông qua việc giảm thiểu dư thừa lao động còn chưa được sử dụng ở nhữnglãnh thổ đông dân và có nhiều lao động thiếu việc làm

- Là quá trình chuyển giao công nghệ và trao đổi kinh nghiệm sản xuất giữacác vùng lãnh thổ

- Làm thay đổi vị thế xã hội của người lao động, làm thay đổi thành phần,

cơ cấu xã hội, cơ cấu dân tộc của cộng đồng dân cư các vùng xuất và nhập cư.Trao đổi, hội nhập và hòa nhập những phong tục, tập quán, lối sống giữa các tầnglớp dân cư qua đó tạo thêm một nền văn hóa phong phú và đa dạng, góp phần hìnhthành một cộng đồng dân tộc thống nhất [10]

1.1.6 Một số lý thuyết phân tích về vấn đề di cư

1.1.6.1 Lý thuyết trao đổi

Lý thuyết trao đổi do nhà xã hội học người Đức G.Homans [1] đề xướng.Theo quan điểm của lý thuyết này, các cá nhân hành động tuân theo nguyên tắctrao đổi các giá trị vật chất và tinh thần như sự ủng hộ, tán thưởng hay danh dự…Trong quá trình hành động cá nhân phải bỏ ra những chi phí nào đó và đổi lại anh

ta sẽ nhận được một phần thưởng tương ứng với chi phí mà anh ta đã bỏ ra Đó là

xu hướng cân bằng của cá nhân trong quá trình thực hiện hành động, nói theothuật ngữ của Homans là cân bằng chi phí và phần thưởng Xu hướng cân bằng

Trang 11

này thể hiện ở chỗ các cá nhân mong muốn đạt được những phần thưởng lớn nhất

so với chi phí đã bỏ ra Lý thuyết trao đổi của Homans một mặt được xây dựngtrên tương tác xã hội giữa các cá nhân phụ thuộc vào quy tắc hành vi của cá nhân,một mặt môi trường xã hội cũng có tác động đến hành vi cá nhân Homans đã đưa

ra 4 định đề của lý thuyết trao đổi Một trong 4 định đề đó là định đề về giá trị:Kết quả của một hành động càng có giá trị thì con người càng có xu hướng lặp lạihành động đó Phần thưởng càng nhiều càng kích thích hành vi mong đợi của chủthể Nhưng bên cạnh phần thưởng là sự trừng phạt Con người có thể hành động vì

sợ bị trừng phạt Sự trừng phạt mang theo giá trị tiêu cực đối với chủ thể hànhđộng Tuy nhiên, trừng phạt là phương thức mang lại ít hiệu quả hơn, làm cho conngười thay đổi hành vi của họ vì con người có thể phản ứng lại hành vi trừng phạtbằng những con đường mà chúng ta không mong đợi

Định đề về giá trị được vận dụng trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi đểgiải thích lý do tại sao người lao động di cư không nề hà những khó khăn mà họgặp phải trong quá trình di cư lao động

1.1.6.2 Lý thuyết hút - đẩy

Lý thuyết lực hút và lực đẩy ra đời vào khoảng cuối thế kỷ IX do nhà xãhội học người Anh Ravenstain đề xuất, sau này được nhiều người nghiên cứu vàđưa ra những phân tích chính xác hơn

Mitchell [8] nhấn mạnh sự cần thiết phải nhận thức được tầm quan trọngcủa cơ chế di dân và điều này rất hữu ích cho việc lý giải nguyên nhân tại sao một

số người ra đi và những người khác vẫn ở lại, dù đó là mỗi cá nhân, cộng đồngnhỏ hay lớn Người ta không di chuyển trong chân không mà di chuyển trong môitrường nhất định gồm:

- Các yếu tố tự nhiên như khí hậu thời tiết hay độ màu mỡ của đất đai

- Các yếu tố kinh tế như sự giàu có (hay sự nghèo khổ) tương đối hay các

cơ hội về việc làm

- Các yếu tố xã hội chẳng hạn những yếu tố ngăn cản họ rời bỏ quê hươnghoặc ngược lại đẩy họ ra đi

Trang 12

Các yếu tố chính trị như vấn đề luật pháp khuyến khích họ thậm chí buộc

họ phải di chuyển đến một vùng nhất định hay bất cứ nơi đâu

Theo lý thuyết này quá trình di cư xảy ra khi có sự khác biệt nhất định giữahai vùng đi và vùng đến về một số yếu tố đặc trưng: Kinh tế, việc làm, thu nhập,tài nguyên thiên nhiên và môi trường, yếu tố dân cư và xã hội, sự thay đổi về tiến

bộ kỹ thuật và công nghệ Ngoài yếu tố lực hút và lực đẩy còn bao gồm những yếu

tố cá nhân như: Tình trạng hôn nhân và gia đình, thay đổi nghề nghiệp, việc làm ;các yếu tố xã hội khác như: Thiết chế xã hội

Lý thuyết đã làm rõ quy luật chung của di cư là: Người dân di chuyển từnơi có đời sống thấp đến nơi có đời sống cao hơn, từ vùng có điều kiện tự nhiênkém thuận lợi đến vùng có điều kiện thuận lợi hơn Quy luật biến động của dân cưcũng chỉ rõ ý nghĩa của lý thuyết trên là dòng di cư ngày càng mạnh theo sự tiến

bộ ngày càng cao của xã hội Chính sự thay đổi về tiến bộ Khoa học kỹ thuật dẫnđến sự hình thành các vùng trung tâm phát triển như Khu công nghiệp, hiện đạihóa sản xuất Nông nghiệp sẽ thu hút các dòng di cư cũng như trong từng điềukiện cụ thể sẽ giải phóng một lực lượng lao động

Lý thuyết này chưa giải thích được tại sao trong cùng một hoàn cảnh màmột số người di chuyển, một số khác lại không Đại diện cho lý thuyết trên có thể

kể đến Todaro Ông đã phân tích vai trò của các nhân tố kinh tế trong di cư nôngthôn đến thành thị, phân tích học thuyết về vai trò tác động của sự khác biệt vềtiền lương giữa thành thị và nông thôn, và xem đó là yếu tố điều chỉnh quá trình di

cư từ nông thôn đến thành thị

Rothenberg [8] đã xác định rõ 4 nhân tố về mức độ giá cả và lợi tức cũngnhư hoàn trả trong quá trình di chuyển của dân cư:

- Giá cả có liên quan chặt chẽ với mỗi cuộc chuyển cư

- Đặc điểm và sự phát triển của các nguồn thông tin về giá cả và lợi tứcmặc dù nguồn thông tin về những vấn đề này chưa được giả định hoàn chỉnh

- Ý nghĩa thực tế của mỗi thành phần lợi tức và giá cả

- Quyết định di chuyển của người dân

Trang 13

Di cư là một hành vi có tính toán lý trí thể hiện sự mong muốn nâng caochất lượng cuộc sống của người di cư hoặc của gia đình họ tại nơi định cư mới.Phần lớn những người di cư đều cố gắng giảm đến mức tối thiểu những rủi ro, chiphí do di chuyển đến nơi ở mới Nơi nào rủi ro, chi phí càng thấp và tiềm năng bùđắp chi phí càng cao thì sức thu hút di chuyển đến vùng đó càng cao và ngược lại.

1.1.6.3 Lý thuyết cấu trúc của Everetts Lee

Có thể nói rằng đây là lý thuyết về quy mô, dòng di dân và những đặc tínhcủa người di cư Tác giả đã nêu các yếu tố liên quan đến quyết định di chuyển vàquá trình di cư:

- Các yếu tố liên quan đến vùng đi

- Các yếu tố liên quan đến vùng đến

- Các yếu tố cản trở

- Các yếu tố cá nhân

Các yếu tố có liên quan đến vùng đi và vùng đến có sự khác nhau và có ýnghĩa quan trọng đối với quyết định di chuyển Quá trình di cư xảy ra khi có sựlựa chọn, cân nhắc đến những yếu tố này Các khó khăn ngăn cản đến sự dichuyển là khoảng cách, phương tiện giao thông và chi phí đi lại Tuy nhiên yếu tốnày là kém ý nghĩa trong kỷ nguyên hiện đại Các yếu tố cá nhân (gia đình, cộngđồng, sức khỏe, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, số con ) giữ vai trò quyết địnhtrong di chuyển Mỗi cá nhân và gia đình của họ đều có điều kiện và hoàn cảnhkhác nhau, nhận thức khác nhau nên việc dự đoán, quyết định di cư rất phức tạp.Quyết định di chuyển của mỗi cá nhân chẳng bao giờ là hợp lý và do vậy sẽ không

có lý thuyết tổng quát về di dân Trong lý thuyết cấu trúc, E.Lee [8] đã luận giải

về 4 vấn đề cơ bản có liên quan đến quyết định di chuyển:

- Số lượng di chuyển: Là khác nhau dựa vào các vùng - các nhóm cộngđồng, thay đổi theo sự biến động của nền kinh tế và có xu hướng tăng theo thờigian về mặt tỷ lệ

- Dòng di cư: Di cư xảy ra theo cả hai chiều thuận, nghịch Dòng di dânngược sẽ lớn nếu vùng đi và vùng đến đều có những đặc điểm giống nhau và sẽgiảm đi khi các yếu tố ngăn cản là lớn

Trang 14

- Đặc trưng của người di chuyển hoặc tính chọn lọc của di cư: di cư diễn ratheo từng giai đoạn của cuộc sống và đặc trưng của dòng di cư mang tính trunggian của cả hai vùng đi và đến.

Di cư là một quá trình chọn lọc của các cá thể có những đặc trưng nhấtđịnh Sự lựa chọn về lứa tuổi và giới tính là một trong những tác động về nhânkhẩu của di cư Sự lựa chọn về lứa tuổi của di cư đã được xem như là một yếu tốquan trọng trong cuộc Cách mạng Công nghiệp

1.1.6.4 Mô hình Kinh tế của di cư

Nguyên nhân chủ yếu (song không phải là duy nhất) của hiện tượng di cư

là nguyên nhân kinh tế

Mọi người di chuyển chỗ ở khi độ thỏa dụng mong đợi của việc chuyển đicao hơn so với độ thỏa dụng mong đợi của việc ở lại sau khi đã trừ đi chi phí củaviệc di chuyển

Trong một môi trường kinh tế đơn giản, người ta chỉ chuyển đi khi giá trịhiện tại PV (lợi ích của việc chuyển đi) > PV (chi phí của việc chuyển đi), trong

đó chi phí bao gồm tiền công bị mất tại nơi rời đi, chi phí thực tế của việc di dời,chi phí thỏa dụng của việc di dời (đôi khi vẫn thường gọi là chi phí tâm lý) [4]

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng lao động di cư trên thế giới

Ở các nước phát triển nói riêng và thế giới nói chung, việc thiếu quan tâmđến các vùng nông thôn và tình trạng nghèo đói ở đó đã khiến cho tốc độ di cư từnông thôn ra thành thị gia tăng Thêm vào đó là tốc độ sinh đẻ cao hơn của các giađình nông thôn nghèo nhất Phần lớn những người di cư này đều hy vọng rằngviệc rời ra thành phố sẽ là lối thoát cho họ, giúp họ có công ăn việc làm, nhà ở,học hành, … điều này làm cho dân số ở khu vực thành thị tăng đột biến Theo ướctính của Liên Hợp Quốc, năm 1999 có 47% dân số sống ở khu vực thành thị, vàđến năm 2030 con số này sẽ lên đến 60%, trong đó 95% dân số thành thị sẽ là ởcác nước đang phát triển Các khu đô thị của các nước đang phát triển sẽ được mởrộng một cách nhanh chóng Hơn 60% dân số tăng lên ở các thành phố của thếgiới tập trung ở các nước Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan,

Trang 15

Bankladet, Philippines và Việt Nam Nguyên nhân chủ yếu của việc tăng dân sốthành thị là di cư và sự mở rộng các khu công nghiệp, rất nhiều thành phố ở Châu

Á sẽ trở thành những thành phố khổng lồ Năm 2005, 16 trong tổng số 24 thànhphố khổng lồ của thế giới là ở Châu Á do việc di cư tự do từ nông thôn ra thànhthị và các khu công nghiệp[17]

Ở Philippines, di cư là một chiến lược quan trọng để nâng cao thu nhập.Trong năm 1991, có 2,6% hộ gia đình ở đô thị và 13% hộ gia đình ở nông thôn đãnhận được tiền gửi của người di cư Mặc dù di cư quốc tế đã được nghiên cứunhiều nhưng di cư trong nước và di cư nông thôn, thành thị cũng có một ý nghĩaquan trọng ở Philippines, luồng di cư chủ yếu là ở các tỉnh và đặc biệt là luồng di

cư về Manila và các khu vực lân cận [16]

Di cư nông thôn - thành thị cũng đóng góp những vai trò quan trọng trongviệc mở rộng các thành phố nhỏ và các thị trấn Di cư giữa các khu vực trongnông thôn, di cư giữa các vùng làm tăng cơ hội việc làm và đa dạng hóa thu nhập.Tuy nhiên, nó cũng tạo nên những sức ép lớn ở các thành phố lớn đặc biệt làManila, đó là sự gia tăng dân số cơ học đột biến, tình trạng quá tải về nhà ở, điệnnước, an ninh xã hội,…

Ở Trung Quốc làn sóng di cư nông thôn - thành thị đang diễn ra hết sứcmạnh mẽ Trung Quốc đã từng bước nới lỏng những hạn chế đối với làn sóng di

cư bằng cách tăng phúc lợi cho các nông dân ra thành thị tìm việc Các quan chứcchính quyền trung ương Trung Quốc đang thúc đẩy kế hoạch bất chấp sự phản đốicủa lực lượng an ninh và các quan chức địa phương, những người sợ rằng sự dịchchuyển dân cư mạnh mẽ sẽ gây ra sự bất ổn và gánh nặng dịch vụ xã hội [17]

Để cho lao động tự dịch chuyển trên khắp đất nước, Trung Quốc đã tạo ramột thị trường lao động năng động, linh hoạt Sự dịch chuyển lao động đang đượcđánh giá là một nhân tố quan trọng trong việc đánh giá sức mạnh của nền kinh tếgiống như năng suất và nguồn vốn Một chuyên gia của Trung Quốc đã nhận xét:

“không thể ước tính được giá trị của việc dịch chuyển lao động ở Trung Quốc.Những ngôi nhà chọc trời và nền kinh tế hướng đến xuất khẩu của Trung Quốcđược tạo nên bằng mồ hôi của lao động địa phương” Trong những năm qua,

Trang 16

Trung Quốc đã khuyến khích những nỗ lực của các công ty giới thiệu việc làm tưnhân và chính quyền các thành phố tạo điều kiện cho người lao động tìm kiếmviệc làm Tỉnh Tứ Xuyên thậm chí còn có các đại diện đứng ra làm môi giới chonhững người thất nghiệp đang đi tìm việc ở các tỉnh khác, sắp xếp việc đi lại, giúphòa giải các vụ tranh chấp lao động [17].

Ở một số nước khác như Brunei, Singapore, Malaysia, Hồng Kông, ĐàiLoan, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc,… làn sóng di cư tự do nông thôn-thành thịcũng diễn ra mạnh mẽ Lực lượng lao động di cư đã đóng góp đáng kể cho sự tăngtrưởng của quốc gia

1.2.2 Thực trạng lao động di cư tại Việt Nam

Di cư lao động tự phát từ nông thôn vào các đô thị lớn là hiện tượng hết sứcmới mẻ ở Việt nam, xuất hiện từ sau những năm đổi mới: Đó là từ cuối 1986,chính sách đổi mới của Nhà nước Việt Nam đã làm thay đổi mạnh mẽ tiến trìnhphát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước từ một nền kinh tế mang tính chất tự cung,

tự cấp; tập trung bao cấp sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vớinhiều hình thức sở hữu, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước [15]

Năm 2004 tổng cục thống kê đã tiến hành điều tra “dân di cư” tại các đô thị

lớn, các khu công nghiệp và khu vực Tây Nguyên Theo ông Hoàng Xuyên - Phó

Vụ trưởng Thống kê dân số và lao động [12], báo cáo trước quốc hội về kết quảđiều tra cho biết: Thực hiện 10.000 cuộc phỏng vấn cho thấy, hơn 50% dân di cưphải di chuyển là do không có việc làm ở nơi ở cũ; 47% trả lời “di chuyển để cảithiện điều kiện sống”

Hơn 47% số dân di cư nam và 44% dân di cư nữ gặp nhiều khó khăn trongnơi ở hiện tại Hơn 81% dân di cư đến Tây Nguyên gặp khó khăn thực sự Nhìnchung, dân di cư gặp khó khăn chủ yếu về nhà ở, tìm việc làm

Dù biết trước là sẽ gặp khó khăn, song hầu hết dân di cư đều quyết tâm tìmcuộc sống mới ở nơi di chuyển đến Ngay như ở Hà Nội, chỉ có 25% số người di

cư gặp khó khăn, nhưng những khó khăn mà họ phải đối mặt là rất phức tạp, như:Không hộ khẩu, nhà ở…

Trang 17

Những rào cản này đã kéo theo thực trạng là họ không được vay vốn, gầnnhư nằm ngoài dịch vụ ưu đãi về y tế, giáo dục, đăng ký xe máy, tìm việc, cấp đất,thuê nhà…; 10 người di cư đến các thành phố (trong đó có Hà Nội) thì chỉ có 1được chính quyền sở tại giúp đỡ…

Điều kiện ăn ở, cư trú rất khó khăn đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượngcuộc sống, quyền lợi, con cái người di cư Theo ông Xuyên, đây là những thôngtin rất quan trọng cần được công bố rộng rãi để những người có ý định di cư cânnhắc

Đề cập đến hậu quả các luồng dân di cư ngày càng gia tăng tại Hà Nội, khukinh tế Đông Bắc, Tây Nguyên, TP HCM và khu công nghiệp Đông Nam Bộ,TCTK khẳng định: Di cư tự do tích cực là: Gần 90% dân di cư tìm được việc, thunhập được cải thiện (hơn 50% dân di cư tự do gửi được tiền về giúp đỡ người thânphục vụ nhu cầu chi tiêu thiết yếu hằng ngày); gần 60% dân di cư gửi tiền về đãgửi 1- 6 triệu đồng/tháng [12]

Theo PGS.TS Phạm Bá Nhất, Vụ trưởng Vụ Dân số - Kế hoạch hóa giađình, người nhập cư vào các thành phố lớn phần đông là nhóm KT3 (tạm trú dàihạn) và KT4 (tạm trú ngắn hạn) để tìm cơ hội việc làm, có thu nhập cao hơn mộtcách lâu dài hoặc theo mùa vụ Họ chủ yếu là người lao động từ nông thôn, cáctỉnh lẻ tập trung ra thành phố, có thu nhập và trình độ học vấn thấp, là nhóm dân

số rất dễ bị tổn thương bởi các tác động từ cuộc sống thành thị [17]

Đáng lưu ý, 52% người di cư nằm trong độ tuổi dưới 25 [12], đây là nhómđối tượng trẻ tuổi, trong hoàn cảnh thất nghiệp họ thường bị kích động, lôi kéo và

có những hành động gây hậu quả xấu cho xã hội, nhất là các tệ nạn như tiêm chích

ma tuý, mại dâm, cờ bạc và các hành vi côn đồ khác Đó là chưa tính đến các vấn

đề về sức khoẻ sinh sản, các bệnh lây qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS cũng

sẽ được lây truyền rất nhanh bởi nhóm đối tượng di cư, di biến động Trong khi

đó, những giải pháp về công ăn việc làm, nhà chung cư, mở rộng đô thị, cung cấpthông tin, dịch vụ hiện nay vẫn chỉ mang tính chất tình thế

Di chuyển lao động tự do tới các khu công nghiệp là một sắc thái riêng của

di cư nông thôn - thành thị trong quá trình phát triển của đất nước Hiện nay ở

Trang 18

nước ta đã hình thành một mạng lưới các khu công nghiệp và khu chế xuất Cáckhu công nghiệp tập trung ở hai tam giác phát triển là Hà Nội -Hải Phòng - QuảngNinh và Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bình Dương - Bà Rịa Vũng Tàu và

ở mức độ thấp hơn là dọc khu vực miền Trung Với sự phân bố các khu côngnghiệp nói trên thì di dân và lao động có hướng di chuyển tập trung vào các khuvực phía Bắc, phía Nam và duyên hải miền Trung

Phát triển khu công nghiệp tạo ra một kênh thu hút lao động rất có tiềmnăng và hiệu quả, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ(kể cả số lao động của những hộ gia đình bị thu hồi đất) và lao động nhập cư.Những năm gần đây, lực lượng lao động trong khu công nghiệp gia tăng mạnh mẽgắn liền với sự gia tăng của các khu công nghiệp thành lập mới và mở rộng, các

dự án hoạt động trong khu công nghiệp Chỉ tính riêng trong thời kỳ 2001 - 2005,các khu công nghiệp đã thu hút thêm 65,6 vạn lao động trực tiếp, tăng gấp 4 lần sovới thời kỳ trước (1991 - 2000) [17]

Tính đến tháng 7-2006, cả nước có 135 khu công nghiệp và khu chế xuấtđược thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thu hút trên 865,64nghìn lao động trực tiếp Số lao động trực tiếp này chủ yếu tập trung tại một sốtỉnh, thành phố phía Nam như thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 14,3 vạn, tỉnhBình Dương có hơn 13 vạn, tỉnh Đồng Nai có trên 18,8 vạn Ngoài ra, nếu tính cả

số lao động gián tiếp thì tổng số việc làm được tạo ra từ chương trình phát triểnkhu công nghiệp khoảng trên 1,2 triệu người Tỷ trọng lao động nhập cư trongtổng số lao động làm việc trong các khu công nghiệp của cả nước chiếm bình quânkhoảng 37% Tuy nhiên, ở các tỉnh, thành phố như: Thành phố Hồ Chí Minh,Đồng Nai, Bình Dương tỷ lệ này chiếm trên 50% [16]

Lao động di cư tới các khu công nghiệp đã đóng một vai trò không nhỏtrong việc cung ứng nguồn lao động và bù đắp sự thiếu hụt lực lượng lao động,đặc biệt là nguồn lao động giản đơn và không có chuyên môn kỹ thuật, góp phầnquan trọng vào sự phát triển sản xuất, kinh doanh và thành công của các doanhnghiệp trong khu công nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thuộc cácngành gia công xuất khẩu và sử dụng nhiều lao động Sự gia tăng nhanh về số

Trang 19

lượng của các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài thực hiện tại các khu côngnghiệp trong các ngành sử dụng nhiều lao động đã tạo ra lực hút mạnh đối với laođộng nhập cư đến làm việc tại các khu công nghiệp [17].

Hiện tại, các khu công nghiệp trên cả nước thu hút được hơn 86 vạn laođộng trực tiếp, trong đó có gần 30 vạn lao động nhập cư Ở hầu hết các khu côngnghiệp cả nước, số người lao động nhập cư có điều kiện sống rất khó khăn Do laođộng nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp tăng mạnh về số lượng, dẫn tớinhu cầu nhà ở tăng cao, trong khi hầu hết chính quyền địa phương và các chủ đầu

tư hạ tầng khu công nghiệp và các doanh nghiệp đều chưa chú trọng tới việc xâydựng nhà ở cho công nhân thuê với giá thấp Điều này chủ yếu do việc xây dựngnhà ở đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm, hiệu quả đầu tư không cao, nên rất

ít doanh nghiệp tham gia xây dựng nhà ở cho công nhân thuê Các địa phươngphát triển nhanh về khu công nghiệp cũng chưa có những quyết sách căn cơ đểgiải quyết được vấn đề nhà ở cho công nhân nhập cư

Cụ thể, Bình Dương mới chỉ đảm bảo nhà cho 15% số lao động, Đồng Nai:6,5%, Thành phố Hồ Chí Minh: 4% Hiện nay, nhiều địa phương mới chỉ có dựkiến quy hoạch phát triển nhà ở cho người lao động trong các khu công nghiệp,nhưng chưa có định hướng rõ và có chính sách ưu đãi đầu tư xây dựng nhà ở chongười lao động [16]

Theo Báo cáo kết quả nghiên cứu, đánh giá chính sách di dân tới đô thịnăm 2005 của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội khoá XI, tại Đồng Nai, đa

số công nhân ngoại tỉnh vẫn phải thuê nhà với mức tối thiểu 50.000đồng/người/tháng, với diện tích bình quân 4,4 m2/người Mỗi phòng không dưới4-5 người Chất lượng nhà cho thuê, điều kiện vệ sinh, nước, điện chưa đảm bảoyêu cầu Đời sống văn hóa tinh thần còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhânkhác nhau, trong đó thiếu nhất là các cơ sở sinh hoạt văn hóa thể dục thể thao, giảitrí… [12]

Số lao động nhập cư thường phải thuê nhà trọ ở khu vực xung quanh khucông nghiệp để cư trú với chất lượng thấp, không đảm bảo điều kiện vệ sinh vàđiều kiện sống tối thiểu Điều này đang ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người lao

Trang 20

động nhập cư và vấn đề vệ sinh môi trường sống của những khu vực xung quanhkhu công nghiệp Với mức thu nhập thấp và điều kiện nhà ở khó khăn hiện nay,người lao động rất thiếu điều kiện để thoả mãn nhu cầu vui chơi, giải trí, thể thao,nghỉ ngơi, học tập, giao lưu tình cảm Đặc biệt, trong các khu công nghiệp có sốlao động nữ nhiều, vấn đề hôn nhân và gia đình trở nên bức xúc nhưng chưa được

các doanh nghiệp, cơ quan, đoàn thể quan tâm thỏa đáng Tình trạng hàng trăm

nghìn công nhân nhập cư làm việc trong các khu công nghiệp chưa có nhà ở trởthành phổ biến đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp khôngnhững cho bản thân người công nhân nhập cư, mà cả các địa phương nơi có khucông nghiệp, nhất là các địa phương có nhiều khu công nghiệp tập trung tại cáctỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh…[17]

Tại một số địa phương như: Đồng Nai, Long An, Bình Dương, Hải Dương,Bắc Ninh, v.v… đã bước đầu triển khai giải quyết vấn đề nhà ở cho phù hợp vớithu nhập của công nhân Song song với các đề án phát triển khu công nghiệp làcác dự án phát triển nhà nhằm tạo tiện ích công cộng cho công nhân yên tâm và cóđiều kiện làm việc Đây là vấn đề khá bức bách đặt ra đối với các địa phương khitiến hành phát triển các khu công nghiệp Tuy nhiên, đó cũng chỉ mới là bước đầu.Hiện tại, Thủ tướng Chính phủ đang giao cho Bộ Xây dựng nghiên cứu đề án này

để sớm đưa ra chính sách giải quyết

1.2.3 Các nghiên cứu có liên quan

Hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây về di cư đều tập trung vào loạihình di cư có tổ chức với mục tiêu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảcủa loại hình di cư này Chỉ từ những năm 90 trở lại đây mới có một số dự ánnghiên cứu do các tổ chức quốc tế tài trợ, như dự án VIE/89/P03 1992,VIE/88/P02 1994, VIE/93/P02 1996, dự án “tăng cường chính sách di dân nội địa

ở Việt Nam” VIE/95/004 được thực hiện từ tháng 2/1996 đến tháng 11/1998.Ngoài ra còn có khá nhiều báo cáo, tham luận được trình bày tại nhiều hội nghị,hội thảo khoa học về lao động di cư tự do

Đặc biệt, gần đây có một công trình nghiên cứu về “Lao động nữ di cư tự

do nông thôn ra thành thị” của Tiến sĩ Hà Thị Phương Tiến và Tiến sĩ Hà Quang

Trang 21

Ngọc, Nhà xuất bản Phụ nữ, xuất bản năm 2000 Trong cuốn sách này các tác giả

đã cung cấp cho người đọc một bức tranh khá toàn diện về cuộc sống của lao động

nữ di cư tự do từ nông thôn ra thành phố, tác động của việc làm tới sức khỏengười phụ nữ, các áp lực xã hội, những vấn đề nảy sinh từ việc lao động di cư tự

do Các tác giả cũng đã đề cập đến những thông tin cơ bản về bản thân và gia đìnhliên quan đến lịch sử của sự di chuyển, thông tin về việc làm của người di cư,những tâm tư nguyện vọng và những kiến nghị của người lao động

Năm 2004, Tổng cục Thống kê cũng xuất bản cuốn “Điều tra di cư của ViệtNam năm 2004: Những kết quả chủ yếu” Đây là một cuộc điều tra mẫu về tìnhhình di dân trong nước đến một số khu vực trọng điểm, tiêu biểu cho ba luồng di cưchính đến các thành phố lớn, khu công nghiệp và khu vực nông thôn Mục đích củacuộc điều tra là góp phần cải thiện sự hiểu biết về quá trình di cư, bao gồm quyếtđịnh di cư, các bước di chuyển và hòa nhập nơi đến; các yếu tố kinh tế - xã hội,nhân khẩu học và các yếu tố thuận lợi với di cư; kết quả di chuyển đối với người di

cư và gia đình, gồm thu nhập và việc làm, điều kiện sống và nhà ở, tiếp cận các dịch

vụ y tế xã hội… Nghiên cứu chỉ ra rằng kinh tế là động lực thúc đẩy di cư

Những nghiên cứu trên chủ yếu về các vấn đề của người lao động nôngthôn di cư tự do đến thành phố và khu công nghiệp Nghiên cứu những vấn đề họgặp phải khi thay đổi chỗ ở và đi sâu nghiên cứu thực trạng đời sống người laođộng tai nơi cư trú mới, so sánh giữa đời sống, thu nhập và việc làm của lao động

di cư với lao động tại địa bàn họ đến Các nghiên cứu chưa tìm hiểu về một thựctrạng không nhỏ lao động nông thôn làm việc theo mùa vụ ở các thị trấn, thị tứ.Liệu các lao động nhập cư vào đây có gặp khó khăn như các đối tượng nghiên cứu

ở trên không? Hiệu quả kinh tế mang lại so với trước lúc ra đi như thế nào? Giảiquyết vấn đề là ủng hộ họ ra đi hay giữ chân họ lại quê hương? Đó là những trăntrở khi tôi tiến hành làm đề tài nghiên cứu này Đây cũng là một vấn đề hay cholớp sinh viên ngành khuyến nông và phát triển nông thôn có những ý tưởng hay đểmang sức trẻ xây dựng nông thôn mới

Trang 22

1.2.4 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta về vấn đề di cư lao động

Hiện nay, di dân và di chuyển lao động tự do tới các đô thị và khu côngnghiệp đang là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan chức năng,của nhiều địa phương và các nhà hoạch định chính sách

Hầu hết các luật, pháp lệnh quy định vấn đề liên quan đến di cư đều chỉmới dừng lại ở các quy định có tính nguyên tắc chung, áp dụng cho tất cả tổ chức,

cá nhân có liên quan trong phạm vi cả nước (kể cả tổ chức, cá nhân trong nước vànước ngoài hoạt động tại Việt Nam) Vì vậy, nội dung các quy định chủ yếu mangtính khái quát mà không đề cập đến các nhóm đối tượng áp dụng đặc thù như laođộng di cư tự do theo mùa vụ đến làm việc tại khu vực thành thị Mặc dù nội dungcủa Hiến pháp, Luật pháp và Pháp lệnh đều không có những quy định thể hiện sựphân biệt đối xử với lao động nhập cư đến làm việc tại khu vực thành thị, nhưngcác văn bản hướng dẫn thi hành Luật, Pháp lệnh của Chính phủ, bộ, ngành liênquan tới một số vấn đề cụ thể như hộ khẩu, hộ tịch, đăng ký phương tiện giaothông cơ giới đường bộ, chăm sóc sức khoẻ và khám chữa bệnh, giáo dục (nhậphọc và tuyển sinh vào các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học chuyênnghiệp, cao đẳng, đại học), vay vốn tạo việc làm và sản xuất kinh doanh của hộgia đình, mua và trao đổi nhà ở thành phố, mắc điện, mắc nước… đã đưa ra một

số điều kiện và thủ tục ràng buộc quá chặt chẽ (đặc biệt là yêu cầu phải có hộ khẩuthường trú hoặc có đăng ký tạm trú dài hạn), vì vậy, người dân, mà chủ yếu làngười lao động nhập cư khó có thể thụ hưởng một cách toàn vẹn các quyền cơ bảncủa họ

Đối với người lao động nhập cư, vấn đề quan trọng là việc đăng ký hộ khẩuthường trú tại thành phố, nhưng việc này rất khó khăn, nên đã ảnh hưởng trực tiếpđến cuộc sống của người lao động nhập cư, gây trở ngại đối với họ trong việchưởng các quyền cơ bản (quyền tự do đi lại; quyền được chăm sóc y tế và bảo vệsức khoẻ; quyền được học tập và phát triển trí tuệ; quyền có việc làm của ngườilao động; quyền có chỗ ở và sở hữu tài sản hợp pháp, của cải để dành; quyền thụhưởng các dịch vụ kinh tế - xã hội), hiến định của công dân, trong đó có quyền lợi

về nhà ở [8]

Trang 23

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là các lao động di cư theo mùa vụ, họ đang sinhsống và làm việc tại thị trấn Tân Kỳ, trong đó có lao động nông thôn họ vẫn sống

ở quê nhưng di cư vào thị trấn Tân Kỳ làm việc lúc nông nhàn Phần di dân theochính sách phát triển vùng của Chính phủ không thuộc đối tượng nghiên cứu của

đề tài này Vì đề tài có đưa ra những so sánh giữa lao động nam và nữ nên sốlượng phiếu điều tra phát ra được chia đều cho cả hai giới, việc phỏng vấn đượctiến hành song song

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn thị trấn Tân

Kỳ, huyện Tân Kỳ Việc lựa chọn địa bàn điều tra được căn cứ vào tiêu thức: Cóđông lao động di cư sinh sống và làm việc

- Phạm vi thời gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ ngày 5/2/2010 đến17/5/2010 Các số liệu thừa kế từ năm 2007-2009 để làm cơ sở thực tiễn

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu thực trạng của lao động nông thôn di cư theo mùa vụ tại thị

trấn Tân Kỳ trong 3 năm 2007 - 2009

- Nguyên nhân của hiện tượng lao động nông thôn di cư theo mùa vụ tại thịtrấn Tân Kỳ

- Ảnh hưởng của di cư theo mùa vụ đến đời sống kinh tế - xã hội ở thị trấnTân Kỳ

- Một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn của người di cư và hạnchế những ảnh hưởng tiêu cực của việc di cư theo mùa vụ đến đời sống xã hội

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Trang 24

Tiến hành thu thập các số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Số liệuthống kê về lao động, việc làm, điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên, cácnghiên cứu liên quan, các tài liệu có liên quan…Các số liệu được kế thừa mộtcách có chọn lọc và đảm bảo độ tin cậy trong nghiên cứu khoa học Thu thập ở cácphòng như: Phòng LĐ-TBXH huyện, phòng tài chính - kế hoạch huyện, phòngniên giám thống kê huyện, văn phòng UBND thị trấn.

2.3.1.2 Phương pháp phỏng vấn điều tra

2.3.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Phương pháp phân tổ Thống kê

- Dùng phần mềm EXCEL để xử lý số liệu

- Phương pháp so sánh: Đề tài có sự so sánh giữa lao động nam và lao động

nữ So sánh về các chỉ tiêu như: Loại công việc, mức độ nặng nhọc, thời gian làmviệc, thu nhập, khó khăn, điều kiện sống, các ảnh hưởng … để thấy được thựctrạng cũng như những vấn đề của 2 giới khi di cư đến thị trấn, trên cơ sở đó đềxuất giải pháp phù hợp góp phần giảm bớt sự khó khăn của mỗi giới

Trang 25

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Thị trấn Tân Kỳ Huyện Tân Kỳ thuộc tỉnh nghệ An, cách thành phố Vinh

85 km về phía tây bắc

Phía Bắc giáp khu dân cư xã Kỳ Sơn

Phía Tây giáp đường đi nhà máy đường Sông Con

Phía Đông giáp đường quốc lộ 15B

Phía Nam giáp đường HCM

Thị trấn Tân Kỳ có 6 km quốc lộ 15, có 5,5 km đường tỉnh lộ, 1,5 kmđường huyện chạy qua Ngoài ra hệ thống đường liên thôn liên xã được xây dựngkhá hoàn chỉnh Với vị trí như vậy, trung tâm trị trấn Tân Kỳ dễ dàng giao lưu,nắm bắt thông tin về văn hóa, kinh tế - xã hội, tiêu thụ sản phẩm…Với các xãtrong huyện, trong tỉnh và cả nước

3.1.2 Đặc điểm khí khậu thủy văn

Theo trạm khí hậu thủy văn huyện, thị trấn Tân Kỳ mang hoàn toàn đặctính khí hậu vùng nhiệt đới, gió lào:

- Nhiệt độ trung bình năm là 23,8 0C

- Mùa Hè nhiệt độ tối cao lên đến 40,5 0C

- Mùa Đông nhiệt độ thấp nhất là 5 0C

Khí hậu 2 mùa rõ rệt:

- Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11(âm lịch) đến đầu tháng 3 năm sau

- Mùa nóng thường bắt đầu từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 10

Lượng mưa trung bình năm là 1.648 mm Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đếntháng 9, chiếm 87,3% lượng mưa của cả năm

Độ ẩm quanh năm cao, trung bình là 80%, tuy nhiên mùa Đông thườnghanh khô, thiếu nước, mùa mưa thường có lốc, bão và ngập úng

Tân Kỳ có sông Con chảy qua Đây không chỉ là mạch giao thông đường thủyquan trọng mà còn cung cấp nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân

Trang 26

3.1.3 Địa hình, đất đai

Thị trấn Tân Kỳ có địa hình tương đối bằng phẳng Căn cứ vào tài liệu thổnhưỡng tỉnh Nghệ an cho thấy: Trong tổng số 731,20 ha diện tích đất tự nhiên cócác loại đất chính như sau:

- Đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan: 391,44 ha, chiếm 56,18%

- Đất feralit phát triển trên sa phiến thạch:181,43 ha, chiếm 23,4%

- Đất feralit phát triển trên đất phù sa cổ: 112,43 ha, chiếm 14,50%

- Đất feralit biến đổi do trồng lúa: 2,64 ha, chiếm 0,34%

- Đất phù sa ven sông suối: 43,50 ha, chiếm 5,61%

Trong 5 loại đất chủ yếu, có 3 loại đất nêu trước diện tích lớn phù hợp với trồngcây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, cây ăn quả

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai

Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thiếu được đối với quá trình sản xuất,đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp Việc phân bố và sử dụng đất đai như thếnào có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế

Trang 27

B ng 3.1: Tình hình s d ng ảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn ử dụng đất đai của thị trấn ụng đất đai của thị trấn đất đai của thị trấn đ t ai c a th tr n ủa thị trấn ị trấn ất đai của thị trấn

Loại đất

Đơn vị

2007 2008 2009

SL

CC (%) SL

CC (%)

(Nguồn: Ban Địa chính thị trấn)

Qua bảng 3.1 ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của thị trấn là 731,20 ha,trong đó năm 2009, đất nông nghiệp chiếm 64,91%, đất ở chiếm 7,54%, đấtchuyên dùng chiếm 21,03%, đất chưa sử dụng chiếm 4,99% Cơ cấu các loại đất

có sự thay đổi qua các năm theo sự biến động và phát triển kinh tế xã hội của thịtrấn

Diện tích đất nông nghiệp trong 3 năm có giảm nhưng không đáng kể, bìnhquân mỗi năm giảm 2,8% Sự biến động giảm của đất nông nghiệp làm cho diệntích đất trồng cây hàng năm (đất canh tác) cũng giảm, bình quân mỗi năm giảm2,67% Đất lâm nghiệp cũng có sự tăng nhẹ vào năm 2008 nhưng không thay đổitrong năm 2009 Nguyên nhân của sự tăng giảm cơ cấu đất nông nghiệp là do giáđầu vào sản xuất nông nghiệp tăng, đất đai ngày càng hoang mạc hóa, khô hạn

Trang 28

triền miên nên họ không mặn mà với việc trồng cây hàng năm nữa mà chuyểnsang chăn nuôi gia súc gia cầm và trồng rừng Một điều đáng quan tâm là diện tíchđất chưa sử dụng của thị trấn đang còn khá lớn, đến năm 2009 thì toàn thị trấn có36,55ha diện tích đất chưa sử dụng Đây cũng là một trong những tiềm năng cần

được khai thác của thị trấn

3.2.2 Tình hình dân số và lao động

Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động thị trấn Chỉ tiêu Đơn vị 2007 2008 2009

I Tổng số nhân khẩu Khẩu 6.741 6.812 6.917

(Nguồn: Ban thống kê dân số thị trấn)

Năm 2007, toàn thị trấn có 1.663 hộ, năm 2009 là 1.718 hộ, tăng 55 hộ,bình quân mỗi năm tăng 3,2% Tổng lao động toàn thị trấn hàng năm tăng, mứctăng trung bình mỗi năm là 2,24% Trong cơ cấu lao động thì lao động trong cácngành nông lâm ngư nghiệp có xu hướng giảm dần về tương đối qua các năm,bình quân giảm 1,57%, lao động trong các ngành công nghiệp-xây dựng, thươngmại-dịch vụ có xu hướng tăng lên, lần lượt tương ứng là 1,45% và 2,31% Bêncạnh đó, mỗi năm thị trấn thu hút gần 1.500 lao động từ khắp nơi đổ về làm đủ cácloại ngành nghề mà chủ yếu là trong lĩnh vực TM-DV (chiếm 68%) Điều này làhoàn toàn phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thị trấn nói riêng

và của cả nước nói chung, và xu hướng này sẽ còn tiếp tục tăng nhiều trong nhữngnăm tới vì thị trấn vẫn đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Trang 29

Trong 3 năm qua, thực hiện chủ trương phát triển kinh tế -CNH, HĐH đấtnước, thi trấn đã tổ chức tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nhân dânđược 9 lớp với tổng số người tham gia là 450 người Tạo việc làm ổn định, pháttriển đa dạng các ngành nghề để thu hút lao động, có cơ chế chính sách tạo điềukiện cho con em trên địa bàn đi xuất khẩu lao động Tạo việc làm mới cho 250người mỗi năm

Như vậy, từ tình hình dân số và lao động trong 3 năm của thị trấn Tân Kỳcho thấy tình trạng di cư dân số đến thị trấn ngày càng tăng và diễn biến phức tạp.Cho nên, nghiên cứu lao động di cư tại thị trấn là vấn đề cần được các cấp, cácngành và giới khoa học quan tâm để có chính sách sát thực và kịp thời Bên cạnh

đó thị trấn cần quan tâm hơn nữa trong công tác chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, cần phải có giải pháp thúc đẩy ngành côngnghiệp xây dựng và thương mại dịch vụ phát triển hơn nữa để thu hút lao động từnông nghiệp qua

3.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng

Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của cơ sở vật chất kỹ thuật, UBNDthị trấn Tân Kỳ luôn quan tâm đến công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ đờisống và sản xuất Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, giai đoạn

2007 - 2009 chính quyền thị trấn đã đầu tư 15,5 tỷ đồng để xây dựng và nâng cấpcác công trình công cộng: Xây dựng trường tiểu học 2 tầng với 18 phòng học;truờng THPT 3 tầng với 24 phòng, nâng cấp, cải tạo và kiên cố hóa 8 phòng họccủa trường mầm non thị trấn; đầu tư xây dựng trạm y tế kiên cố với 8 phòng khámchữa bệnh và trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế,xây dựng 70 kiốt tại chợ thị trấn Tân Kỳ

Trang 30

Bảng 3.3: Tình hình cơ sở hạ tầng của thị trấn năm 2009

Chỉ tiêu ĐVT Số lượng

(Nguồn: Văn phòng UBND thị trấn)

Năm 2009, thị trấn lại tiếp tục đầu tư để trải nhựa, làm bê tông và xi măngláng cát 5,6km đường liên thôn, tu sửa và nâng cấp 5 trạm biến áp, đường dâyđiện cao thế, tu sửa trường trung học cơ sở và xây mới thêm 6 phòng học Kếtthúc năm 2009, thị trấn Tân Kỳ về cơ bản đã hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch xâydựng hạ tầng cơ sở, có hệ thống “điện-đường-trường-trạm-nước” khá hoàn chỉnh

3.2.4 Một số kết quả kinh tế-xã hội

Trong những năm qua, tình hình kinh tế - xã hội của thị trấn đã có nhữngbước phát triển ổn định về giá trị Cơ cấu kinh tế giữa NN-CN- TMDV đã có sựchuyển dịch, trong đó kinh tế NN chiếm tỷ trọng ngày càng giảm, CN-XD vàTMDV ngày càng tăng

Trang 31

Bảng 3.4: Kết quả sản xuất kinh doanh của thị trấn

CC (%) SL

CC (%)

và chăn nuôi, kết hợp với kinh tế công nghiệp và thương mại dịch vụ

+ Nông-Lâm-Ngư nghiệp: Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm là7,32% Tổng GTSX của ngành năm 2009 đạt 6,78 tỷ đồng Trong đó:

Trồng trọt: Tổng GTSX năm 2009 đạt 1,56 tỷ đồng, chủ yếu phát triểntrồng rau cung cấp thị trường nội thị Bên cạnh đó có một số loại cây ăn quả có giátrị hàng hóa cao cũng được tập trung phát triển như tiêu, vải, cam…

Chăn nuôi: Tổng GTSX năm 2009 là 3,05 tỷ đồng Với tổng đàn bò là 342con, tổng đàn lợn là 1.570 con, gia cầm là 9.600 con Nhân dân đang mở rộng quy

mô chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa Sản phẩm chăn nuôi đáp ứng nhucầu thực phẩm của nhân dân trên địa bàn thị trấn

Lâm nghiệp: Thị trấn đã tổ chức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtlâm nghiệp cho 85 hộ theo nghị định 163 và hướng dẫn nhân dân trồng rừng theonghị định 147 của chính phủ về rừng sản xuất Tổng diện tích rừng thị trấn năm

Trang 32

2009 là 339,20 ha, trong đó rừng trồng 256 ha còn 83,2 ha là rừng tự nhiên TổngGTSX lâm nghiệp năm 2009 là 2,12 tỷ đồng.

Thủy sản: Trong thời gian qua diện tích thủy sản trên địa bàn thị trấn là 10

ha, sản lượng cá đạt 5,7 tấn/năm với tổng giá trị là 443 triệu đồng Hiện nay, nhândân thị trấn đang mở rộng diện tích nuôi thủy sản với các loại đặc sản như baba,

cá quả, lươn, ếch…tạo việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân thị trấn và thu hút laođộng làm việc theo thời vụ từ các khu vực khác vào thị trấn

+ Công nghiệp-xây dựng cơ bản:

Công nghiệp trên địa bàn thị trấn chủ yếu phát triển các ngành nghề như:Mộc, cơ khí-rèn, đóng mới dày dép da, sản xuất lắp ráp khung cửa sắt, nhôm kính,

xe thô sơ, sản xuất đá granit, gạch lát glốc, may mặc Số hộ sản xuất ngày càngtăng, hàng hóa đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng Tổng GTSX năm 2009 đạt 2,10

tỷ đồng

Xây dựng của thị trấn trong thời qua có nhiều thành tựu đáng kể, GTSXbình quân hàng năm tăng 18,6% Năm 2009 có tổng GTSX là 41,63 tỷ đồng.Trong đó các công trình có giá trị xây dựng lớn như: Trường THPT, THCS,trường mầm non, trụ sở UBND, nhà văn hóa các khối Bên cạnh đó các công trìnhxây dựng của nhân dân cũng phát triển mạnh Các thành tựu về xây dựng gópphần phát triển kinh tế- xã hội và làm đẹp cảch quan chung cho thị trấn

+ Thương mại dịch vụ:

Tổng GTSX của ngành năm 2007 là 30,88 tỷ đồng, tổng GTSX năm 2009đạt 40,84 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân năm: 17,24% Số lượng các hộgia đình tham gia vào hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn ngày càng tăng,hiện tại có 968 hộ/1.718 hộ Các loại hình kinh doanh dịch vụ như: Đại lý xe máy,vàng bạc, vật liệu xay dựng, nhà hàng, khách sạn, điện dân dụng, điện thoại động,hàng tạp hóa…Góp phần tăng trưởng theo hướng bền vững đáp ứng nhu cầu thiếtyếu và cơ bản trong sản xuất, sinh hoạt của nhân dân

Nhìn chung tình hình kinh tế của thị trấn Tân Kỳ trong ba năm qua đã cónhững bước chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, đờisống của nhân dân ngày càng được nâng cao Tạo thêm nhiều việc làm mới chongười lao động, nhất là lao động từ các khu vực lân cận thị trấn

Trang 33

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thực trạng lao động nông thôn di cư theo mùa vụ tại thị trấn Tân Kỳ

4.1.1 Nơi xuất cư

Theo kết quả phỏng vấn, 75% lao động đến từ khu vực nông thôn thuộc các

xã lân cận thị trấn như Kỳ Tân, Nghĩa Hành, Kỳ Sơn và các xã khác trong huyện.Còn 25% lao động đến từ các huyện Đô Lương, Diễn Châu, các tỉnh Ninh Bình,Thanh Hóa … Qua đó cho thấy di cư lao động cự ly gần đang là dòng nhập cư chủyếu tại thị trấn Tân Kỳ

4.1.2 Cơ cấu tuổi của người lao động di cư

Theo số liệu điều tra lao động nông thôn tìm đến thị trấn Tân Kỳ cho thấy

có sự chọn lọc về độ tuổi Đa số lao động đều là những người khá trẻ tuổi

Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ nhóm tuổi chia theo giới tính của lao động điều tra

Dựa vào biểu đồ 4.1 cho thấy tuổi của những lao động này khá trẻ, tậptrung từ 21 đến 40 tuổi Tỷ lệ nhóm lao động dưới tuổi 30 là 41,66%, trong đó tuổicủa phụ nữ di cư trẻ hơn tuổi của nam giới Đối với nhóm tuổi 21-25, phụ nữchiếm (16,66%) lớn hơn nam giới (6,66%); ở nhóm tuổi 26 - 30, phụ nữ chiếm(36,66%) lớn hơn nam giới (23,33%); ở nhóm tuổi 31 - 35, phụ nữ chiếm(40,02%) nhỏ hơn nam giới (43,33%); ở nhóm tuổi 35 - 40, phụ nữ chiếm (6,66%)nhỏ hơn nam giới (26,66%) Tỷ lệ lao động di cư tập trung nhiều ở nhóm tuổi 31 -

Trang 34

35 (41,66%) và có xu hướng giảm dần ở nhóm tuổi từ 35 – 40 (16,66%) Điều nàyđược giải thích rằng nam giới lúc còn trẻ họ đi làm ở TP lớn, các khu công nghiệpnhưng khi lập gia đình họ quay về quê sinh sống và làm việc gần nhà hơn Mặtkhác sức khỏe của lao động nam cùng tuổi cao hơn lao động nữ đã cho phép họlàm việc lâu dài hơn, số phụ nữ khi đã có tuổi họ thường ở nhà tăng gia sản xuất

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)

Trình độ học vấn phổ thông giữa lao động nam giới và lao động nữ giới có

sự khác biệt rõ rệt Lao động nữ có trình độ trung học cơ sở là 28,33%, con số này

ở lao động nam là 8,33% tổng số lao động điều tra Do ở nông thôn vẫn còn quanniệm “trọng nam khinh nữ” nên tỷ lệ nam giới có trình độ trung học phổ thông caohơn hẳn so với nữ ( 41,67% nam và 21,67% nữ) Đây cũng là một phần khó khăncho chị em khi hạch toán kinh doanh trong quá trình tham gia lao động sản xuất,buôn bán tại thị trấn Tất cả những lao động được hỏi không có ai mù chữ

H p 4.1: Có h c m i mong thoát kh ộp 4.1: Có học mới mong thoát khổ ọc mới mong thoát khổ ới mong thoát khổ ổ

Nhà chị có 4 chị em, toàn là con gái, đứa nào cũng chỉ được bố mẹ cho học đến hết cấp 2 rồi bắt ở nhà làm ruộng Xin đi học thì các cụ mắng cho, bảo con gái học nhiều làm gì cho khổ, học thế thôi còn có người rước Nghe bố mẹ nói thế cũng chẳng muốn phấn đấu nữa, bây giờ mới thấy không được học hành đến nơi đến chốn khổ thế nào Rút kinh nghiệm từ mình, sau này con cái dù không có cũng phải

cố cho chúng nó học lấy cái bằng đại học thì mới mong thoát khổ được.

Chị Trần Thị Huệ, thợ bánh mì, quê ở huyện Yên Khánh, Ninh Bình

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bài giảng Dân số học, (2006), trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh Khác
[2]. Bộ luật lao động, (2004), Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Khác
[3]. Trần Thị Minh Đức, Nguyễn Thúy Lành, Phác thảo một vài đặc điểm tâm lý xã hội của người phụ nữ ngoại tỉnh bán hàng rong trên đường phố Hà Nội, Tạp chí tâm lý học, số 6/2002 Khác
[4]. Giáo trình dân số và phát triển, (2006), trường Đại học Y tế cộng đồng, NXB Y học, Hà Nội Khác
[5]. PTS Đỗ Văn Hòa, (1999), Nghiên cứu di dân ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
[6]. Lịch sử Đảng bộ nhân dân thị trấn Tân Kỳ, (2005), NXB Nghệ an, nghệ an Khác
[7]. Lịch nông vụ lưu hành nội bộ (2010), phòng nông nghiệp huyện Tân Kỳ Khác
[8]. PGS-TS Trịnh Khắc Thẩm, Th.S Trần Phương, Đỗ Thị Tươi, (2007), Giáo trình dân số và môi trường, trường Đại học Lao động – xã hội, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Khác
[9]. Hà Phương Tiến-Hà Quang Ngọc, (2000), Di cư lao động nữ tự do nông thôn thành thị, NXB Phụ nữ, Hà Nội Khác
[10]. Phân tích thực trạng di dân tự do đến Đăk Lăk và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội, 2002 Khác
[11]. Quy hoạch chi tiết trung tâm thị trấn Tân Kỳ-huyện Tân Kỳ-Nghệ An, 2002, công ty tư vấn quy hoạch-thiết kế xây dựng Nghệ an Khác
[12]. Tổng cục Thống Kê, (2005), Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Những kết quả chủ yếu, NXB Thống Kê, Hà Nội Khác
[13]. Tổng cục Thống Kê, (1/4/2009), tổng điều tra dân số, NXB thống kê, Hà Nội [14]. UBND thị trấn Tân Kỳ (1/2010), kế hoạch phát triển thị trấn giai đọan 2015- 2010 Khác
[15]. Văn kiện đại hội đảng khóa IX, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn - Thực trạng lao động nông thôn di cư tự do theo mùa vụ tại thị trấn tân kỳ   huyện tân kỳ   tỉnh nghệ an
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn (Trang 28)
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động thị trấn - Thực trạng lao động nông thôn di cư tự do theo mùa vụ tại thị trấn tân kỳ   huyện tân kỳ   tỉnh nghệ an
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động thị trấn (Trang 29)
Bảng 3.3: Tình hình cơ sở hạ tầng của thị trấn năm 2009 - Thực trạng lao động nông thôn di cư tự do theo mùa vụ tại thị trấn tân kỳ   huyện tân kỳ   tỉnh nghệ an
Bảng 3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của thị trấn năm 2009 (Trang 31)
Bảng 3.4: Kết quả sản xuất kinh doanh của thị trấn Chỉ tiêu Đơn - Thực trạng lao động nông thôn di cư tự do theo mùa vụ tại thị trấn tân kỳ   huyện tân kỳ   tỉnh nghệ an
Bảng 3.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của thị trấn Chỉ tiêu Đơn (Trang 32)
Bảng 4.1: Trình độ học vấn của người lao động - Thực trạng lao động nông thôn di cư tự do theo mùa vụ tại thị trấn tân kỳ   huyện tân kỳ   tỉnh nghệ an
Bảng 4.1 Trình độ học vấn của người lao động (Trang 35)
Bảng 4.3: Tình trạng đăng kí hộ khẩu của lao động di cư - Thực trạng lao động nông thôn di cư tự do theo mùa vụ tại thị trấn tân kỳ   huyện tân kỳ   tỉnh nghệ an
Bảng 4.3 Tình trạng đăng kí hộ khẩu của lao động di cư (Trang 37)
Bảng 4.5: Điều kiện nơi ở trọ của lao động di cư - Thực trạng lao động nông thôn di cư tự do theo mùa vụ tại thị trấn tân kỳ   huyện tân kỳ   tỉnh nghệ an
Bảng 4.5 Điều kiện nơi ở trọ của lao động di cư (Trang 40)
Bảng 4.7: Người quyết định di chuyển - Thực trạng lao động nông thôn di cư tự do theo mùa vụ tại thị trấn tân kỳ   huyện tân kỳ   tỉnh nghệ an
Bảng 4.7 Người quyết định di chuyển (Trang 47)
Bảng 4.8: Các khó khăn của lao động di cư tại thị trấn Tân Kỳ - Thực trạng lao động nông thôn di cư tự do theo mùa vụ tại thị trấn tân kỳ   huyện tân kỳ   tỉnh nghệ an
Bảng 4.8 Các khó khăn của lao động di cư tại thị trấn Tân Kỳ (Trang 50)
Bảng 4.10: Mức tiền gửi về nhà trong một năm của người lao động - Thực trạng lao động nông thôn di cư tự do theo mùa vụ tại thị trấn tân kỳ   huyện tân kỳ   tỉnh nghệ an
Bảng 4.10 Mức tiền gửi về nhà trong một năm của người lao động (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w