1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non trên địa bàn thành phố vinh

78 14K 42
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non trên địa bàn thành phố Vinh
Tác giả Phan Thị Cẩm Giang
Người hướng dẫn ThS. Hồ Thị Hạnh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục Mầm Non
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 615,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo viên mầm non lànhững người đặt nền móng cho sự hình thành, phát triển nhân cách cho trẻ thìkỹ năng giao tiếp sư phạm là một kỹ năng quan trọng và không thể thiếu..

Trang 1

Tr ường Đại học Vinh ng Đ i h c Vinh ại học Vinh ọc Vinh

Khoa Giỏo d c ti u h c ục tiểu học ểu học ọc

-*** -Phan thị cẩm giang

Thực trạng kỹ năng giao tiếp s phạm

của giáo viên mầm non trên địa bàn thành phố vinh

Khoỏ luận tốt nghiệp Đại học

ngành giáo dục mầm non

Vinh – 2010

Khoa Giỏo d c Ti u h c ục tiểu học ểu học ọc

Trang 2

-*** -Thực trạng kỹ năng giao tiếp s phạm

của giáo viên mầm non trên địa bàn thành phố vinh

Khoỏ luận tốt nghiệp Đại học

ngành giáo dục mầm non

Giỏo viờn hướng dẫn: ThS Hồ thị hạnh Sinh viờn thực hiện: phan thị cẩm giang Sinh viờn lớp: 47A2 – Mầm non

Vinh – 2010

LỜI CẢM ƠN

Đờ̉ hoàn thành đờ̀ tài này chúng tụi đã nghiờn cứu, chuõ̉n bị, thu thọ̃p và chọn lọc những tài liợ̀u, thực hiợ̀n các nhiợ̀m vụ đã đặt ra Ngoài sự cụ́ gắng nụ̃ lực của bản thõn, tụi đã nhọ̃n được sự giúp đỡ nhiờ́t tình của các thõ̀y cụ giáo trong khoa Giáo dục Tiờ̉u học và sự góp ý chõn thành của bạn bè.

Trang 3

Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Hồ Thị

Hạnh người đã tận tình trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề

tài Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa GDTH – Trường Đại Học Vinh, Tập thể trường mầm non Quang Trung 1, Trường Mần non Sao Mai, Trường mần non Đông Vĩnh, Trường mầm non Hoa Hồng, Trường mầm non Việt Lào đã cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu.

Do thời gian nghiên cứu cũng không nhiều và đây cũng là công trình nghiên cứu đầu tiên của tôi, là bước tập dượt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học của tôi Mặc dù đã rất cố gắng song chắc chắn không thể tránh khỏi những sai sót trong quá trình tiến hành nghiên cứu Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng các bạn giáo viên mầm non.

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5 năm 2010

Giáo viên mầm non Phan Thị Cẩm Giang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Giả thuyết khoa học 2

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận .3

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn .3

7.3 Phương pháp thống kê toán học 3

8 Đóng góp mới của đề tài 3

Chương 1 Cơ sở lý luận về giao tiếp sư phạm và kỹ năng giao tiếp sư phạm 5

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu 4

1.1.1.Ở nước ngoài 4

1.1.2 Ở trong nước 6

1.2 Các khái niệm cơ bản 7

1.2.1 Khái niệm giao tiếp 7

1.2.2 Khái niệm giao tiếp sư phạm 8

1.2.3 Khái niệm kỹ năng giao tiếp sư phạm 9

1.2.3.1 Khái niệm kỹ năng 9

1.2.3.2 Khái niệm kỹ năng giao tiếp sư phạm 10

1.3 Kỹ năng giao tiếp sư phạm của người giáo viên mầm non 11

1.3.1 Các nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non 11

1.3.2 Mức độ phát triển các kỹ năng giao tiếp sư phạm của người giáo viên mầm non 15

Trang 5

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả rèn luyện kỹ năng giao sư phạm

tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non sư phạm 17

1.4 Vai trò của việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm của người giáo viên mầm non 19

Kết luận chương 1 21

Chương 2 Thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non 23

2.1 Cách thức nghiên cứu 22

2.1.1 Mục đích nghiên cứu 22

2.1.2 Đối tượng khảo sát 22

2.1.3 Cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu thực tiễn 23

2.2 Phân tích kết quả nghiên cứu 23

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về kỹ năng giao tiếp sư phạm 23

2.2.2 Mức độ phát triển kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non 29

2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên 42

2.2.4 Nguyên nhân của những hạn chế về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non trên địa bàn thành phố Vinh 46

Kết luận chương 2 50

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 51

1 Kết luận 51

2 Đề xuất 52 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

Bảng 1: Thực trạng nhận thức mức độ quan trọng của KNGTSP đối với giáoviên mầm non 25Bảng 2: Mức độ hình thành các KNGTSP của bản thân các giáo viên tự đánhgiá 29Bảng 3: Mức độ hình thành các KNGTSP của các đồng nghiệp 31Bảng 4 : Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quan đếnKNGTSP của giáo viên mầm non 44

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

“ Giao tiếp với mọi người là một nghệ thuật mà không phải ai cũng

nắm bắt được Bất kỳ ai cũng phải học điều đó”

Cvapilic

Giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày,nhờ có giao tiếp mà tâm lý người được hình thành và phát triển Đặc biệt, kỹnăng giao tiếp được coi là chìa khóa mở cánh cửa thành công cho mỗi conngười Để đem lại sự thành công lớn cho cuộc sống và hoạt động nghề nghiệp,mỗi người phải tự tìm hiểu, học hỏi và rèn luyện để hình thành kỹ năng giaotiếp

Giao tiếp sư phạm là một yếu tố có vai trò rất quan trọng đối với ngườigiáo viên nói chung và giáo viên mầm non nói riêng Giáo viên mầm non lànhững người đặt nền móng cho sự hình thành, phát triển nhân cách cho trẻ thìkỹ năng giao tiếp sư phạm là một kỹ năng quan trọng và không thể thiếu Đấycũng là một công cụ đặc trưng của người giáo viên Các nhà khoa học tâm lýđã chứng minh rằng:

“ Để quá trình giáo dục đạt hiệu quả, người giáo viên phải biết tổ chức

đúng đắn quá trình giao tiếp với trẻ, với phụ huynh của trẻ, với các đồng nghiệp ”

Như chúng ta biết rằng, bậc học mầm non chính là nền tảng của hệthống giáo dục quốc dân, đòi hỏi kỹ năng giao tiếp sư phạm của người giáoviên cao hơn các bậc học khác Vì thế mà giáo viên mầm non cần được trau

dồi kỹ năng giao tiếp sư phạm Thực tế hiện nay cho thấy kỹ năng giao tiếp

của giáo viên mầm non còn gặp nhiều khó khăn như lúng túng trong giao tiếpvới phụ huynh, cách ứng xử với trẻ ở một bộ phận giáo viên còn thiếu vănhóa, kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp còn kém v.v…

Để nâng cao năng lực sư phạm của giáo viên, việc đi sâu vào tìm hiểunhững tri thức sư phạm là rất cần thiết, đặc biệt là những hệ thống, những tri

Trang 9

thức và kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động thường nhật của ngườigiáo viên Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia tâm lí, giáo dục đã đưa

ra hệ thống tri thức về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non Tuynhiên, do tính chất đặc biệt đa dạng và tế nhị trong hoạt động giao tiếp nên cáccông trình nghiên cứu chưa đưa ra được biện pháp hay quy trình rèn luyệnnhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “ Thực trạng kỹ năng giao

tiếp sư phạm của giáo viên mầm non trên địa bàn thành phố Vinh.” trên cơ

sở để tìm hiểu những hạn chế cụ thể cũng như nguyên nhân của thực trạng từ

đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng kỹ năng giao tiếp sưphạm cho giáo viên mầm non

2 Mục đích nghiên cứu.

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về kỹ năng giao tiếp sư phạm củagiáo viên mầm non hiện nay ở một số trường mầm non trên địa bàn Thànhphố Vinh, tìm ra hạn chế, nguyên nhân của hạn chế của các kỹ năng giao tiếp

sư phạm, từ đó đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp sưphạm cho giáo viên mầm non

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.

- Khách thể nghiên cứu.

Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non

- Đối tượng nghiên cứu.

Thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non

4 Phạm vi nghiên cứu.

Thực trạng kỹ năng giao tiếp của giáo viên mầm non ở một số trườngmầm non trên địa bàn thành phố Vinh

5 Giả thuyết khoa học.

Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non hiện nay còn nhiềuhạn chế mà nguyên nhân chủ yếu là do giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về

Trang 10

kỹ năng giao tiếp sư phạm cũng như chưa có ý thức và cách thức rèn luyệnrèn luyện

6 Nhiệm vụ nghiên cứu.

- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu thực trạng về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viênmầm non trên địa bàn Thành phố Vinh và tìm hiểu nguyên nhân của thựctrạng

- Đề xuất ý kiến nhằm nâng cao nhận thức về kỹ năng giao tiếp, rènluyện kỹ năng giao tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non

7 Phương pháp nghiên cứu.

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận.

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa lý luận

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

- Điều tra: Xây dựng hệ thống Ankets mở và Ankets đóng nhằm tìmhiểu về thực trạng về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non vàcủa giáo viên mầm non ĐH Vinh qua các đợt thực tập

- Quan sát kỹ năng giao tiếp của giáo viên mầm non thông qua các hoạtđộng nghề nghiệp khác nhau của GVMN

- Đàm thoại, trò chuyện với các giáo viên mầm non nhằm bổ sung

thông tin cho đề tài

7.3 Phương pháp thống kê toán học.

8 Đóng góp mới của đề tài.

- Góp phần làm sáng tỏ lý luận về kỹ năng giao tiếp sư phạm

- Làm rõ thực trạng và nguyên nhân kỹ năng giao tiếp sư phạm của GVMN

- Đề xuất các ý kiến rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm cho GVMN

Trang 11

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO TIẾP SƯ PHẠM VÀ KỸ NĂNG

GIAO TIẾP SƯ PHẠM 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu.

Từ trước đến nay đề tài về giao tiếp luôn là đề tài hấp dẫn lôi cuốnnhiều nhà nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước thuộc các lĩnhvực khác nhau như: tâm lí học, giáo dục học, xã hội học, triết học.v.v…

1.1.1 Ở nước ngoài.

Từ thời cổ Hy Lạp, vấn đề giao tiếp được con người chú ý nghiên cứunhư Xôcrat (470- 399 TCN) và Platon (428-347 TCN) đã nói: “Đối thoại nhưlà sự giao tiếp trí tuệ phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người”

Tuy nhiên, trước thế kỷ XIX giao tiếp chưa được nghiên cứu như mộtmôn chuyên ngành tâm lý học

Từ thế kỷ XIX, giao tiếp đã được đánh giá có tầm quan trọng đặc biệttrong sự hình thành và phát triển bản chất xã hội con người Với các côngtrình:

“Vấn đề giao tiếp, những đặc trưng của nó trong công việc của conngười” của A.A.Bodalivo (1972)

“Tâm lí học giao tiếp” của A.A.Lêonchiep (1974)

“Giao tiếp là vấn đề của tâm lí học đại cương” (1978) của A.Ph.Lomov, Ở giai đoạn này, vấn đề giao tiếp được nghiên cứu và phân tích khá chitiết dưới góc độ tâm lí học đại cương của A.Ph.Lomov trong chuyên thảo

“Vấn đề giao tiếp trong tâm lí học” (1981) Và tiếp sau đó có hàng loạt những

công trình nghiên cứu khác về giao tiếp

Và các công trình nghiên cứu đó chủ yếu đi theo hai hướng chủ đạo sau:

+ Hướng thứ nhất: Nhấn mạnh các khía cạnh thông tin trong giao tiếp:

Đại diện cho các hướng này là các nhà khoa học, các nhà tâm lí:M.A.Acgain, K.K.Platonov,

Trang 12

Chẳng hạn như: K.K.Platonov và G.G.Golubev đã liệt giao tiếp vào một

trong những “loại hình hoạt động” cho rằng: “Giao tiếp là sự trao đổi thông

tin giữa con người với nhau” và “giao tiếp là sự tác động lẫn nhau trên cơ sở phản ánh tâm lí lẫn nhau”

M.A.Acgain cho rằng: “giao tiếp là sự tác động, sự truyền, và tiếp

nhận thông báo, sự trao đổi thông tin của con người.”

Vào năm 1972 nhà xuất bản tài liệu chính trị có sản xuất một cuốn sách

mà trong đó tác giả viết: “Giao tiếp đó là một quá trình trao đổi những suy

nghĩ, tình cảm, kích thích, ý chí, mục đích người này điều khiển người kia”

I.A.L.Kolominxki lại mô tả: “Giao tiếp là sự tác động qua lại có đối

tượng và thông tin giữa con người với con người trong đó những quan hệ liên quan đến nhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành”

Còn nhà nguyên cứu L.P.Bueva lại cho rằng: “Giao tiếp không chỉ là

một quá trình tinh thần mà còn là quá trình vật chất, quá trình xã hội, trong đó diễn ra sự trao đổi các hoạt động, kinh nghiệm, sản phẩm của hoạt động”

B.D Pasughin: “giao tiếp là quá trình tác dụng lẫn nhau, trao đổi

thông tin, ảnh hưởng lẫn nhau, hiểu biết và nhận thức lẫn nhau”

Gần đây, G.M.Andreva trong cuốn “Tâm lí học xã hội” đã cho rằnggiao tiếp có ba mặt quan hệ hữu cơ với nhau: mặt thông tin, mặt tri giác củacon người với nhau, mặt tác động qua lại của con người với nhau

Tuy nhiên các nhà nghiên cứu theo hướng này chưa chỉ ra đặc điểm củađối tượng giao tiếp của con người được biểu hiện trong truyền thông, làm chotruyền thông trở nên tích cực hơn, và trở thành nội dung cơ bản của giao tiếp

+ Hướng thứ 2: Hướng này các nhà nghiên cứu lại nhìn nhận bản

chất giao tiếp trong hệ thống các khái niệm, phạm trù tâm lí học.

Đại diện cho hướng này là các nhà tâm lí, giáo dục họcA.A.Lêonchiep và a.Ph.Lomov Hai nhà tâm lí học này đưa giao tiếp songsong với hoạt động

“Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ đảm bảo sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể,

Trang 13

thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng các phương tiện đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ.”

1.1.2 Ở trong nước.

Cũng bắt đầu từ những năm 70, vấn đề giao tiếp được tập trung nghiêncứu và cũng thu hút rất nhiều tác giả quan tâm

Năm 1960 tác giả Nguyễn Thanh Bình đã viết “ Một số trở ngại trong

tâm lí giao tiếp của giáo viên mầm non với học sinh khi thực tập tốt nghiệp”

Năm 1980 trong “C.Mac và phạm trù giao tiếp” của tác giả Đỗ Long Năm 1981 trong “Giao tiếp, tâm lí và nhân cách” của Trần Trọng Thủy “ Bàn về phạm trù giao tiếp” của tác giả Bùi văn Huệ.

Năm 1985 Trần Thanh Thủy với cuốn “Đặc điểm giao tiếp của giáo

viên mầm non sư phạm”

Năm 1988 có tác giả Phạm Minh Hạc với cuốn sách: “Giao tiếp là điều

kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển tâm lí”

Năm 1991 có công trình nghiên cứu của hai nhà tâm lí Hoàng Anh và

Nguyễn Thạc với tên gọi “Luyện giao tiếp sư phạm”

Riêng tác giả Hoàng Anh đã cho ra đời “Khái niệm giao tiếp sư phạm

của giáo viên mầm non”

Năm 1995 “Nghệ thuật giao tiếp” của Chu Sĩ Diên.

Năm 1996 hai tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Sinh Huy đã cho ra

đời cuốn “Nhập môn khoa học giao tiếp”.

Năm 1997 “Giao tiếp và ứng xử sư phạm” Ngô Công Hoàn

Năm 1998 Nguyễn Quang Uẩn với “Giao tiếp và tâm lí” ; Lê Thị Bừng

với: “Tâm lí học ứng xử”; “Giao tiếp sư phạm” của Ngô Công Hoàn

Năm 2001 Trịnh Trúc Lâm và Nguyễn Văn Hộ với: “Ứng xử sư

phạm”

Năm 2005 Tiến Sỹ Nguyễn Bá Minh cũng cho ra đời hai tác phẩm

“Tâm lí học lứa tuổi và giao tiếp sư phạm” và cuốn “Nhập môn khoa học giao tiếp”

Trang 14

Các tác giả đều đã khẳng định được bản chất tâm lí của giao tiếp, chỉ rađược nội dung, đặc điểm, hiệu quả, phương tiện của giao tiếp.

Hơn nữa, trong những năm gần đây giáo dục sư phạm được đặt lênhàng đầu thì phạm trù kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm cũngđược nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến như Nguyễn Văn Lê, Ngô Công Hoàn,Trịnh Trúc Lâm, Nguyễn Văn Hộ, Hoàng Anh

Các tác giả đề cập đến những cơ sở khoa học của giao tiếp, giao tiếp sưphạm (về khái niệm, những chỉ dẫn về giao tiếp sư phạm, bài luận về nghiêncứu sư phạm và giao tiếp sư phạm trong quản lí trường mầm non.)

Đặc biệt trong ngành giáo dục mầm non, là ngành giáo dục tạo nền tảngban đầu cho con người cũng có nhiều tác giả chuyên sâu nghiên cứu với nhiều

công trình như: “Một số vấn đề giao tiếp và giao tiếp sư phạm trong hoạt

động của giáo viên mầm non” của TS Lê Xuân Hồng “Giao tiếp và ứng xử

sư phạm dành cho giáo viên mầm non” của Ngô Công Hoàn- ĐH sư phạm và

ĐH Quốc Gia Hà Nội

Nhìn chung, vấn đề giao tiếp, kỹ năng giao tiếp sư phạm được sự quantâm của rất nhiều nhà tâm lí học, giáo dục học dày công nghiên cứu Nhữngcông trình nghiên cứu đó của các tác giả đã góp phần phát triển khoa học giáodục Việt Nam, nâng cao hiệu quả giáo dục

1.2 Các khái niệm cơ bản.

1.2.1 Khái niệm giao tiếp.

- Dưới góc độ thông tin học, có tác giả cho rằng:

Giao tiếp là một quá trình trao đổi và truyền đạt thông tin

Người đầu tiên đề cập đến vấn đề này là Weiner- nhà tâm lý học người Anh(1947), tiếp theo là nhà Xã hội học người Mỹ Laswell (1948), Georgen Thinesvà các cộng sự (1975)

- Các nhà tâm lí học cấu trúc coi: “Giao tiếp là những thông điệp về

nhận thức, tình cảm thuộc về ý thức hay vô thức, nhờ một mạng lưới truyền thông tin giữa những người cần đối thoại”.

Trang 15

- Các nhà tâm lí học nhân cách quan niệm: “Giao tiếp là quá trình tác

động qua lại giữa con người với con người, qua đó tiếp xúc tâm lí được thực hiện và các quan hệ liên nhân cách được cụ thể hóa”.

- A.N Lêonchiep- nhà tâm lí học Liên Xô cũ cho rằng: “Giao tiếp là

một dạng đặc biệt của hoạt động nó có đầy đủ các đặc điểm cơ bản của hoạt động như tính mục đích, vận hành theo nguyên tắc gián tiếp”.

Theo từ điển Tiếng Việt (năm 1988) định nghĩa: “Giao tiếp là sự tiếp

xúc trao đổi với nhau giữa con người với con người bằng ngôn ngữ.”

Từ điển tâm lý, trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em do bác sỹ Nguyễn

Khắc Viện chủ biên, Hà Nội – 1991: “Giao tiếp là sự trao đổi giữa người với

người thông qua ngôn ngữ nói, viết, cử chỉ Ngày nay từ này hàm ngụ sự trao đổi thông qua một bộ mã (code) Người phát tin mã hóa một số tín hiệu, người nhận tin giải mã, một bên truyền một ý nghĩa nhất định để bên kia hiểu được.”

* Khái niệm chung về giao tiếp.

Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người trong xã hội, nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết, vốn sống Tạo nên những ảnh hưởng, những tác động qua lại để con người đánh giá, điều chỉnh và phối hợp với nhau trong công việc”.

1.2.2 Khái niệm giao tiếp sư phạm.

Có rất nhiều cách hiểu và cách định nghĩa khác nhau về phạm trù giaotiếp sư phạm Đó là giao tiếp giữa con người và con người trong hoạt động sưphạm Như vậy, quá trình hoạt động sư phạm cần được xem xét hoạt động sưphạm đó bao gồm những đối tượng nào tham gia? Gồm những thành phần gì?Giới hạn thời gian trong bao lâu? Không gian ở đâu? Khoanh được vùng củahoạt động sư phạm thì những ai nằm trong đó được gọi là những đối tượngcủa hoạt động sự phạm Qua không gian và thời gian ta cũng nhận được đốitượng, nội dung mục đích của hoạt động sư phạm

Trang 16

Trước đây người ta quan niệm hoạt động sư phạm chỉ từ một phía đólà từ giáo viên bao gồm quá trình chuẩn bị sắp xếp tài liệu giảng dạy, các hànhđộng tổ chức và cách tiến hành giảng dạy Cách điều khiển trẻ và hoạt độngthông tin, thông báo, giảng dạy, thuyết phục Song qua quá trình hoạt độngthực tiễn và qua quá trình nghiên cứu cho thấy rằng hoạt động dạy không thểtách rời hoạt động học mà chúng còn liên kết chặt chẽ và có ảnh hưởng lẫnnhau Tạo thành hoạt động dạy và học, đây chính là hoạt động sư phạm.

Vậy, hoạt động sư phạm chính là quá trình dạy và học mà trong đóbao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Thầy là chủ thể củahoạt động dạy, trò là chủ thể của hoạt động học

Từ cách hiểu trên chúng ta có thể định nghĩa giao tiếp sư phạm nhưsau:

Giao tiếp sư phạm là giao tiếp có tính nghề nghiệp giữa giáo viên và trẻ trong quá trình giảng dạy (giáo dưỡng) và giáo dục có chức năng sư phạm nhất định, tạo ra những tiếp xúc tâm lý, xây dựng không khí thuận lợi, cùng các quá trình tâm lý khác (chú ý, tư duy ) có thể tạo ra kết quả tôi ưu của quan hệ thầy trò, nội bộ tập thể học sinh và trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học.

1.2.3 Khái niệm kỹ năng giao tiếp sư phạm.

1.2.3.1 Khái niệm kỹ năng.

Theo từ điển Việt Nam định nghĩa: “ Kỹ năng là khả năng vận dụng

những kiến thức thu nhận được vào thực tế”

Như vậy trong đề tài này chúng tôi định nghĩa kỹ năng như sau:

“Kỹ năng là khả năng thực hiện thành thạo có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm và cách thức đúng đắn vào hoạt động thực tiễn”

Trang 17

1.2.3.2 Khái niệm kỹ năng giao tiếp sư phạm.

Có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm Kỹ nănggiao tiếp sư phạm

Theo T.S Lê Xuân Hồng (Trong “Một số vấn đề về giao tiếp và giao

tiếp sư phạm của giáo viên mầm non” - Nhà xuất bản Giáo Dục): “Kỹ năng giao tiếp sư phạm là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và diễn biến tâm lí bên trong của trẻ và của bản thân Đồng thời biết sử dụng hợp lí các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để tổ chức, điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích giáo dục”.

Như vậy:

Kỹ năng giao tiếp sư phạm là toàn bộ hệ thống những thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi (kể cả hành vi phi ngôn ngữ) phối hợp hài hòa hợp lí của giáo viên, nhằm đảm bảo cho sự tiếp xúc với trẻ đạt kết quả cao trong hoạt động dạy học và giáo dục, với sự tiêu hao năng lượng tinh thần và cơ bắp ít nhất trong điều kiện thay đổi

Kỹ năng giao tiếp sư phạm thực chất là sự phối hợp phức tạp giữanhững chuẩn mực hành vi xã hội (con người, nghề nghiệp) nhưng lại mangtính rất cá nhân qua cách thể hiện những cử động, vận động của cơ mặt, ánhmắt nụ cười (đây là vận động môi, miệng), tư thế đầu, cổ, vai, chân vànhững cử động của ngón tay, cổ tay, bàn tay đồng thời với ngôn ngữ nói,viết của giáo viên Sự phối hợp hài hòa giữa các cử động đều mang một néttâm lý riêng nhất định phù hợp với mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, ngôn ngữcủa chủ thể giao tiếp

Kỹ năng giao tiếp sư phạm được hình thành qua các con đường:

- Những thói quen ứng xử được hình thành từ gia đình, từ các mối quanhệ xã hội

- Do vốn kinh nghiệm sống của cá nhân, do tiếp xúc với mọi người

- Qua quá trình được rèn luyện trong môi trường sư phạm, qua các lầnthực hành, kiến tập, thực tập giảng dạy, làm công tác chủ nhiệm tiếp xúc với

Trang 18

trẻ Và một điều cho thấy rằng thâm niên hoạt động trong nghề cao thì kỹnăng giao tiếp sư phạm càng cao.

1.3 Kỹ năng giao tiếp sư phạm của người giáo viên mầm non.

1.3.1 Các nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non.

Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp:

Nhóm kỹ năng này được biểu hiện ở khả năng dựa vào các sắc thái biểulộ bên ngoài của đối tượng giao tiếp như: sắc thái, giọng nói, ánh mắt, cử chỉ,nét mặt điệu bộ mà đưa ra những phán đoán về nhân cách ẩn chứa bêntrong của đối tượng giao tiếp, về mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng giaotiếp cụ thể là giữa trẻ và giáo viên

Nhóm kỹ năng định hướng có ý nghĩa rất lớn cho quá trình giao tiếp sưphạm Nhờ có tri giác tinh tế, nhạy bén các trạng thái tâm lí thông qua biểuhiện bên ngoài như: nét mặt, điệu bộ, hành vi, ngữ điệu của lời nói mà ngườigiáo viên nhận biết gần như chính xác và đầy đủ trạng thái tâm lí bên trongcủa trẻ Thường các biểu hiện bên ngoài hay cử chỉ đều mang một thông điệpriêng Nó thể hiện tính cách, tình cảm, trí tuệ riêng của từng cá nhân Tự tinhay thiếu tự tin, hoài nghi hay tin tưởng, chân thành hay giả dối, vui vẻ haybuồn bực, thoải mái hay gò ép đều thể hiện qua giọng nói và cử chỉ, sắc tháiđiệu bộ bên ngoài của đối tượng

Đối với kỹ năng này, chủ thể phải luôn cảm nhận được sự tinh tế đôilúc là phức tạp của trạng thái tâm lý con người và cách thể hiện nó Đôi khicùng một cảm xúc nhưng lại được thể hiện với nhiều cách khác nhau Vàngược lại cũng một cách thể hiện các biểu hiện nhưng thể hiện các trạng tháicảm xúc khác nhau

Kỹ năng định đướng giao tiếp được chia thành những nhóm nhỏ sau:

+ Kỹ năng định hướng trước khi tiếp xúc với đối tượng.

Trang 19

Đây được xem như là một thói quen bất kỳ khi tiếp xúc một đối tượngnào, nhằm mục đích xác định thông tin về đối tượng đó trước khi bước vàocuộc giao tiếp

Cổ nhân thường nói: “Biết người biết mình trăm trận trăm thắng”.

Nhà giáo dục Nga K.Đ.Usinxki cũng từng nói: “Muốn giáo dục con

người đầy đủ phải hiểu rõ đầy đủ về con người”

Ví dụ: Trước khi tiếp xúc với một trẻ, người giáo viên cần phải có

những thông tin cơ bản về trẻ đó như: họ tên, trẻ lớp nào, những nét đặc trưngvề phương diện tính cách, học tập, hiện trẻ có “ nhu cầu” hay vấn đề gì? Giađình trẻ như thế nào, hoàn cảnh của trẻ ra sao?

Đây có thể coi như là một bước phác họa chân dung tâm lí về đốitượng giao tiếp, trên cơ sở đó người giáo viên đưa ra những cách thức,phương án ứng xử phù hợp với đối tượng giao tiếp đó Từ đó chủ thể giao tiếpvà đối tượng giao tiếp tự tin thoải mái bước vào cuộc giao tiếp một cách hiệuquả

Muốn thực hiện được điều đó thì người giáo viên cần tạo cho trẻ mộttâm lí thoải mái, tin tưởng để trẻ có thể bộc lộ một cách chính xác về nhâncách, tâm lí của mình

+ Định hướng trong quá trình giao tiếp sư phạm:

Thực chất đây là kỹ năng thành lập các thao tác trí tuệ, tư duy liêntưởng vốn sống kinh nghiệm một cách linh hoạt, mềm dẻo của chủ thể giaotiếp Từ đó thể hiện các cử chỉ điệu bộ lời nói hành vi phù hợp sự thay đổitrạng thái tâm lí và hành vi bên ngoài của đối tượng giao tiếp

Như vậy: Kỹ năng định hướng giao tiếp có ý nghĩa rất quan trọng trong

quá trình giao tiếp sư phạm Nó quyết định thái độ hành vi của giáo viên tiếp xúc

với trẻ “Một mô hình về nhân cách trẻ” là kết quả của kỹ năng định hướng.

Nhóm kỹ năng định vị:

Kỹ năng định vị là kỹ năng xác định vị trí trong giao tiếp, biết đặt vị trímình vào vị trí của người cùng giao tiếp để có thể đồng cảm với họ và tạođiều kiện để họ chủ động giao tiếp với mình

Trang 20

Kỹ năng giao tiếp này còn được thể hiện ở chỗ biết xác định được cảkhông gian và thời gian giao tiếp Khoảng cách giao tiếp giữa các đối tượng,biết chọn lựa thời điểm mở đầu, thời điểm kết thúc

Kỹ năng định vị thực chất cũng là một kỹ năng xây dựng “ phác thảo

chân dung tâm lí” về đối tượng giao tiếp nhưng ở giai đoạn đúng, chính xác

tương đối ổn định trong nhóm dấu hiệu nhân cách, vị trí của trẻ trong xã hội

Ở kỹ năng này cần lưu ý đến tính khái quát là tính cá biệt trong quátrình phác thảo chân dung

Vai trò của nhóm kỹ năng này là tạo ra sự đồng cảm và hiểu biết lẫnnhau giữa chủ thể giao tiếp để có hướng giao tiếp tốt và phù hợp giúp cho quátrình giao tiếp đạt hiệu quả cao

Kỹ năng điều khiển điều chỉnh trong quá trình giao tiếp.

Nhóm kỹ năng này được thể hiện ở chỗ biết thu hút sự quan tâm của đốitượng giao tiếp với cuộc giao tiếp, biết tìm đề tài giao tiếp, biết cách duy trì đềtài đó và khai thác được đối tượng và hướng đối tượng và bản thân mình theomục đích và yêu cầu đã đề ra của cuộc giao tiếp Quá trình điều khiển điềuchỉnh diễn ra rất phức tạp và sinh động trong quá trình giao tiếp Bởi lẽ, có rấtnhiều thành phần tâm lí tham gia quá trình điều chỉnh điều khiển trước hết làhoạt động nhận thức tiếp theo là thái độ và còn cả hành vi ứng xử Ba hoạtđộng này phải phối hợp nhịp nhàng và hợp lí phụ thuộc vào hoàn cảnh, mụcđích yêu cầu đã đề ra để tạo nên hiệu quả cho cuộc giao tiếp

Nhóm kỹ năng này bao gồm những kỹ năng sau:

+ Kỹ năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản thân:

Đối tượng điều khiển điều chỉnh ở đây là bản thân chủ thể giao tiếphoặc là đối tượng giao tiếp Muốn làm được điều đó thì trước hết cần có khảnăng làm chủ cảm xúc, thái độ, hành vi, nhận thức của bản thân Đó là một

trong những yếu tố quyết định thành công của cuộc giao tiếp “Hãy tự biết

mình” Socrat nhà triết học cổ điển Hy lạp đã từng khuyên con người như vậy.

Biết kiềm chế hành vi và cảm xúc của mình trước bất cứ yếu tố ảnh hưởngkhách quan nào sẽ giúp cho chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp đưa ra

Trang 21

những ứng xử phù hợp và hiệu quả Không làm mất lòng nhau và tạo niềm tin,

sự thoải mái trong giao tiếp Sự nóng giận hay vội vàng trong giao tiếp sẽ làđiều không hay đối với bất cứ một ai, bất cứ một việc gì vì vậy kỹ năng làmchủ trạng thái cảm xúc của bản thân là vô cùng quan trọng

+ Kỹ năng mở đầu sự giao tiếp:

Đây là sự khởi đầu của một cuộc giao tiếp Cha ông ta thường nói “

Vạn sự khởi đầu nan” tất cả mọi việc bắt đầu đều khó khăn nhưng cái cốt lõi

là mình biết khắc phục cái khó khăn ấy như thế nào Mình phải nói những gì?Làm gì để tạo nên được sự thu hút đối với đối tượng giao tiếp với mình để tạonên một cuộc tiếp xúc ban đầu thoải mái là rất khó Vì vậy, chủ thể cần phảihiểu rõ tâm trạng của mình, của người giao tiếp với mình, tìm hiểu nhu cầunguyện vọng của họ mong muốn gì? Nhu cầu của họ ra sao để có sự hài hòatrong giao tiếp Cần phải biết thể hiện sự quan tâm, tình cảm của mình và sựtôn trọng đối với đối tượng giao tiếp

+ Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp.

Phương tiện giao tiếp ở đây chính là phương tiện ngôn ngữ và phi ngônngữ Trong quá trình giao tiếp sư phạm chúng ta cần sử dụng một cách nghệthuật và khoa học hai loại phương tiện này Các loại phương tiện này mangbản chất xã hội, cá nhân mỗi người Trong quá trình dạy học và giáo dụckhông bao giờ thiếu vắng các phương tiện này, nếu như nội dung của lời nóitác động vào ý thức thì ngữ điệu của nó tác động mạnh mẽ đến tình cảm củacon người

Xukhomlinxki- nhà sư phạm Nga viết: “Từ là sự tác động mạnh mẽ

nhất đến trái tim, nó có thể trở nên mềm mại như hoa nở hay như nước thần Nó có thể chuyển tải niềm tin và sự đôn hậu Một từ thông minh và hiền hòa tạo ra niềm vui, một từ ngu xuẩn hay tàn ác, thiếu suy nghĩ và không lịch sự đem lại tai họa, gieo sự thiếu tin tưởng làm giảm sút sức mạnh của tâm hồn Vì vậy việc lựa chọn các từ ngữ có văn hóa, có giáo dục quan trọng biết chừng nào trong giao tiếp Mặt khác, ngữ điệu phát ra từ các từ đó cũng không kém ý nghĩa, nó làm tăng hay giảm tính sâu sắc của từ” Do đó trong

Trang 22

quá trình giao tiếp chúng ta cần phải biết lựa chọn từ ngữ, biết biểu hiện ngữđiệu, giọng nói dịu dàng, nghiêm túc mệnh lệnh hay sự phẫn nộ một cách phùhợp với những tình huống, hoàn cảnh nhất định.

Như vậy, “biết mình biết ta” là chìa khóa thành công trong sự giao

Theo các nhà nghiên cứu thì mức độ hiểu biết của mỗi giáo viên mầmnon về trẻ là khác nhau nhưng họ đã chia thành ba mức độ sau:

+ Mức độ hiểu biết về trẻ thấp:

Ở mức độ này giáo viên chỉ nhận biết được các đặc điểm riêng lẻ vàhành vi bên ngoài của trẻ mà chưa có thể tìm hiểu động cơ bên trong một cáchsâu sắc Nghĩa là giáo viên chỉ mới dựa vào hành vi của trẻ trong hoạt độnghàng ngày để đánh giá Sự hiểu biết ở mức độ này thường làm cho giáo viênmắc phải những sai lầm cơ bản trong sự đánh giá thành tích của trẻ trong cáchoạt động như: Hoạt động vui chơi, hoạt động học và trong việc xác địnhbầu không khí xúc cảm của trẻ trong nhóm bạn chơi cùng tuổi, cũng như tronggia đình của trẻ Sự đánh giá thấp trẻ của người giáo viên mầm non thể hiện

sự chủ quan trong việc đánh giá Những giáo viên này thường có những biểuhiện thái độ và hành vi tiêu cực đối với trẻ Kỹ năng hướng dẫn và giảng dạytrẻ thấp

+ Mức độ hiểu biết trẻ ở mức độ trung bình.

Ở mức này giáo viên có vốn hiểu biết về trẻ sâu sắc hơn và đầy đủhơn Họ biết đánh giá sự phát triển ở trẻ, vị trí của trẻ trong mối quan hệ xãhội Họ đã hiểu được động cơ bên trong của trẻ Nhưng họ chưa hiểu một cách

Trang 23

đầy đủ ảnh hưởng của môi trường, đặc biệt là môi trường gia đình ảnh hưởngrất lớn đến việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ

+ Mức độ hiểu biết về trẻ cao:

Những giáo viên có những đánh giá một cách đầy đủ và chính xácmức độ phát triển của trẻ theo tham số của bản chất Họ có khả năng nhìn thấynhững đột biến, những thay đổi trong sự phát triển, khả năng dự đoán cácbước phát triển tiếp theo trong sự hình thành nhân cách trẻ, những thành tíchcủa nó trong các dạng hoạt động có ý nghĩa Họ có khả năng xâm nhập mộtcách sâu sắc vào lĩnh vực nhận thức, ý nghĩ, động cơ của trẻ và hiểu rõ bảnchất, và xu hướng phát triển nhân cách, sự xuất hiện hứng thú và sáng tạotrong nhận thức của trẻ

Như vậy: Mức độ hiểu biết trẻ cơ bản là tương ứng với mức độ lành

nghề của giáo viên mầm non Sự hiểu biết của giáo viên mầm non phần lớnthể hiện ở cách thức tổ chức tiết học gây được hứng thú ở trẻ, khả năng lôicuốn trẻ thiếu tự tin vào vai chơi, biết đặt những câu hỏi mức độ khó khác

nhau gần với “vùng phát triển gần nhất” của từng trẻ, biết trả lời câu hỏi của

trẻ bằng lời, cử chỉ với những cách khác nhau tùy thuộc vào mức độ nhậnthức của trẻ, động cơ và nội dung câu hỏi của trẻ đưa ra

Hành vi của người giáo viên trong quá trình tổ chức các dạng hoạtđộng khác nhau của trẻ, đặc tính của sự tác động qua lại với trẻ là những chỉsố quan trọng biểu hiện mức độ hiểu biết về trẻ của giáo viên Một khi có sựhiểu biết của trẻ cao thì người giáo viên có thể nêu được nhiều phẩm chất rõràng và sâu sắc hơn người giáo viên có mức độ hiểu biết trẻ thấp và trungbình Ở mức độ cao người giáo viên còn có thể hiểu được những mức pháttriển tâm lý phức tạp và quá trình biến đổi tâm lý và cả những nét chưa đượchình thành, nguyên nhân, những điều kiện của những biểu hiện sai lệch tronghành vi của trẻ làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách trẻ Nhữngviệc làm này giáo viên có mức độ hiểu biết trẻ trung bình và mức độ thấpkhông thể làm được điều đó

Trang 24

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả rèn luyện kỹ năng giao sư phạm tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non sư phạm

a Vốn sống, vốn kinh nghiệm của bản thân: là những kiến thức có

trong bản thân của mỗi cá nhân, được tích luỹ trong suốt quá trình sinh sống,công tác thông qua việc tự trau dồi kiến thức của bản thân cũng như công tác

từ những người xung quanh

Ở đây, chúng tôi đề cập đến vốn sống, vốn kinh nghiệm của giáo viênvề các mặt: kiến thức, kỹ năng giao tiếp, khả năng hiểu biết về cách giải quyếtcác tình huống giao tiếp…

Những kinh nghiệm này được giáo viên mầm non tích luỹ trong suốtquá trình sống trong xã hội và công tác tại trường mầm non học hỏi từ cấptrên, bạn bè đồng nghiệp… Vì vậy, vốn sống, vốn kinh nghiệm của mỗi cánhân không giống nhau

Vốn sống, vốn kinh nghiệm của bản thân có vai trò rất cần thiết đốivới việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm ở giáo viên mầm non Bởi vì, đểtiến hành một cuộc giao tiếp có hiệu quả, giáo viên mầm non phải là chủ thểhoạt động Nếu vốn sống, vốn kinh nghiệm tốt thì giáo viên mầm non sẽ giảiquyết các tình huống nhanh hơn, đúng hơn, khoa học hơn

b Nhận thức của giáo viên mầm non: là những hiểu biết về giao tiếp sư

phạm, về kỹ năng giao tiếp sư phạm

Nhận thức đó được cung cấp trong quá trình đào tạo ở nhà trường,được tích luỹ từ quá trình rèn luyện nghiệp vụ tại các trường mầm non, và mộtphần được tích luỹ trong cuộc sống hàng ngày với cộng đồng trong quá trìnhcông tác

Nếu giáo viên mầm non có nhận thức đúng đắn về kỹ năng giao tiếp

sư phạm thì đứng trước bất kỳ một tình huống sư phạm nào cũng giải quyếtđược một cách đúng đắn Nếu nhận thức của giáo viên mầm non, sai lệch thìcách giải quyết sẽ không hiệu quả

c Chương trình rèn luyện – quy trình rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm với những nội dung cụ thể trong chương trình đào tạo: chương trình rèn

Trang 25

luyện – quy trình rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm được các nhà giáo dụcxây dựng nên nhằm hình thành, rèn luyện cho giáo viên mầm non những kỹnăng giao tiếp sư phạm đầy đủ, đúng đắn.

Nếu như chương trình rèn luyện – quy trình rèn luyện được xây dựngđúng đắn, mang tính hệ thống, khoa học thì giáo viên mầm non sẽ có kỹ nănggiao tiếp sư phạm rất tốt, hợp lý Ngược lại, nếu chương trình rèn luyện – quytrình rèn luyện xây dựng bất hợp lý, không khoa học… thì sẽ tạo ra cho giáoviên mầm non những kỹ năng sai lệch hoặc không thể hình thành được kỹnăng giao tiếp sư phạm cần thiết của người giáo viên mầm non

d Môi trường giao tiếp, môi trường rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm: Môi trường là nơi diễn ra quá trình giao tiếp sư phạm Đó là ở trường

đại học – nơi giáo viên mầm non được cung cấp những kỹ năng đầu tiên củagiao tiếp sư phạm Đó là trường mầm non – nơi giáo viên mầm non được trảinghiệm, áp dụng những kỹ năng giao tiếp đó vào thực tiễn

Môi trường giao tiếp có ảnh hưởng gián tiếp đến kỹ năng giao tiếp sưphạm của giáo viên mầm non Nếu giáo viên mầm non được tổ chức rèn luyệnkỹ năng giao tiếp sư phạm trong một môi trường giàu tình huống giao tiếp sưphạm… thì kỹ năng giao tiếp sư phạm sẽ hình thành hiệu quả hơn Ngược lại,môi trường giao tiếp nghèo tình huống sư phạm thì giáo viên mầm non sẽ khóhình thành kỹ năng giao tiếp sư phạm cần thiết

đ Tính tích cực giao tiếp của giáo viên mầm non: Tính tích cực giao

tiếp được thể hiện ở tần suất giao tiếp và sự hứng thú tham gia giao tiếp củagiáo viên mầm non Trong giao tiếp, có giáo viên mầm non tham gia hoạtđộng nhiều, có giáo viên mầm non tham gia hoạt động ít – nó ảnh hưởng đếncác kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non Chính tính tích cựcgiao tiếp là điều kiện, là phương thức để nảy sinh giao tiếp sư phạm và cũng lànơi giao tiếp sư phạm vận hành

Nếu giáo viên mầm non có tính tích cực sẽ có nhiều kinh nghiệm, kiếnthức, kỹ năng về giao tiếp sư phạm thì sẽ tiến hành giao tiếp được tốt Ngược

Trang 26

lại, giáo viên mầm non không có tính tích cực thì sẽ khó có kỹ năng giao tiếp

sư phạm tốt và thành thạo

Như vậy để hình thành một cách hiệu quả kỹ năng giao tiếp sư phạmcho giáo viên mầm non ngành giáo dục mầm non, các trường đào tạo cần phảitính đến và đảm bảo các yếu tố nói trên, đặc biệt là phải xây dựng được mộtquy trình rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm có tính khoa học, hợp lý

1.4 Vai trò của việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm của người giáo viên mầm non.

Nói đến vai trò của kỹ năng giao tiếp sư phạm trước hết là phải nói đếnvai trò của giao tiếp sư phạm trong hoạt động giao tiếp sư phạm của giáo viênmầm non

Trong giao tiếp sư phạm mà nét riêng của nó chính là sự khéo léo, cácgiáo viên có mối quan hệ với hoạt động, những con người mà nhân cách đanghình thành và những cơ sở đầu tiên của hành vi của con người trong xã hội,thái độ với lao động, với những người xung quanh được hình thành dưới ảnhhưởng của người giáo viên

Giao tiếp sư phạm sẽ tạo điều kiện thuận lợi, là điều kiện tất yếu đểhình thành và phát triển nhân cách của trẻ Và muốn làm được điều đó giáoviên luôn phải trau dồi kỹ năng giao tiếp sư phạm của mình và nhận rõ vai tròcủa kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động nghề nghiệp giáo dục mầmnon

Nói đến vai trò của việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm là nóiđến vị trí của nó trong hoạt động sư phạm của người giáo viên Rèn luyện kỹnăng giao tiếp sư phạm mầm non giúp cho người giáo viên có thể đi sâu vàothế giới tâm hồn trẻ, biết được những gì trẻ thích, hứng thú, cái gì đem lại cảmxúc cho các cháu Từ đó người giáo viên có thể lựa chọn những nội dungphù hợp, những phương pháp phương tiện nhằm đem lại hiệu quả cao tronggiáo dục

Trang 27

Rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp cho người giáo viên mầmnon cóp thể vận dụng một cách chính xác, linh hoạt, đúng mục đích, phù hợpvới đối tượng, hoàn cảnh nhằm đạt hiệu quả cao trong cuộc giao tiếp sư phạm.

Rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp cho người giáo viên biếtcách thiết lập mối quan hệ với trẻ gạt bỏ đi hàng rào tâm lí sẽ giúp cho giáoviên tránh được chủ nghĩa hình thức trong các cuộc giao tiếp sư phạm, biết tổchức đúng đắn một cuộc giao tiếp sư phạm từ đó kích thích được trí sáng tạo,quá trình nhận thức và truyền đạt kiến thức dễ dàng đến trẻ

Daliubop nói: “Tâm hồn trẻ em rất phức tạp và rất mảnh dẻ Đối xử

phải luôn thận trọng và khéo léo đừng làm hư hỏng hay gãy nát nó”.

Muốn làm được điều đó các giáo viên cần thường xuyên trau dồi kỹnăng giao tiếp sư phạm của mình Rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm có vaitrò rất quan trọng đối với hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non

Trang 28

Kết luận chương 1

Trong chương này, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề về lý luận về giaotiếp sư phạm, về kỹ năng giao tiếp sư phạm, vai trò của việc rèn luyện kỹnăng giao tiếp sư phạm trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm nonchúng tôi rút ra kết luận như sau:

- Giao tiếp sư phạm có vai trò đặc biệt hết sức quan trọng đối với hoạtđộng nghề nghiệp của giáo viên mầm non Không có giao tiếp sư phạm thì sẽkhông có sự tiếp xúc giữa giáo viên và trẻ, sẽ không có sự đồng cảm hiểunhau giữa giáo viên và trẻ Từ đó sẽ không tạo ra chất lượng giáo dục

- Người giáo viên mầm non cần có các kỹ năng giao tiếp sư phạm Đóchính là các phương tiện giúp cho giáo viên tạo ra được hiệu quả trong giaotiếp sư phạm Vì vậy các giáo viên mầm non cần được trang bị kiến thức vềkỹ năng giao tiếp sư phạm cần thiết và hình thành được năm kỹ năng giao

tiếp sư phạm cơ bản: Kỹ năng định hướng, kỹ năng nhận biết bề ngoài của

trẻ, kỹ năng định vị, kỹ năng điều chỉnh điều khiển quá trình giao tiếp, kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp.

- Các giáo viên phải có hiểu biết đặc điểm tâm sinh lí trẻ em để từ đógiáo viên có thể đi sâu vào tâm lí của trẻ, hiểu và đồng cảm với trẻ

- Từ những nghiên cứu lý luận trên chúng tôi nhận thấy rằng kỹ nănggiao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non cần hình thành qua các bước: từtrang bị kiến thức lý thuyết đến luyện tập theo mẫu để hình thành kỹ năng banđầu và cuối cùng là củng cố kỹ năng

Trang 29

Chương 2:

THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM

CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON 2.1 Cách thức nghiên cứu

2.1.1 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầmnon ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tìm hiểu nhữnghạn chế và nguyên nhân của nó

- Trên cơ sở đó đề xuất ý kiến nâng cao ý thức và rèn luyện kỹ nănggiao tiếp sư phạm cho Giáo viên mầm non

2.1.2 Đối tượng khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 62 giáo viên mầm non trên địa bàn

thành phố Vinh trong đó:

- 15 giáo viên trường Mầm non bán công Quang Trung I

- 15 giáo viên trường Mầm non Sao Mai đóng trên địa bàn Hà Huy Tập

- 10 giáo viên trường Mầm non Hoa Hồng

- 10 giáo viên trường Mầm non Việt Lào

- 12 giáo viên trường Mầm non Đông Vĩnh

* Trình độ giáo viên mầm non

- Giáo viên trình độ Đại học: 37 Giáo viên (chiếm 59,7%)

- Giáo viên trình độ Cao đẳng: 15 Giáo viên (chiếm 24,2 %)

- Giáo viên trình độ Trung cấp: 10 Giáo viên (chiếm 16,1%)

* Thâm niên công tác

- 2 giáo viên thâm niên dưới 5 năm

- 18 giáo viên thâm niên từ 5-10 năm

- 24 giáo viên thâm niên từ 10- 20 năm

- 17 giáo viên thâm niên từ 20-30 năm

- 1 giáo viên 30 năm

Trang 30

Như vậy, trong số 62 giáo viên mầm non được tiến hành khảo sát thì có

83,9% giáo viên có trình độ đạt trên chuẩn 96,8% giáo viên có thâm niêncông tác trên 5 năm

Đây là điều kiện thuận lợi cho việc điều tra Giáo viên mầm non cótrình độ trên chuẩn với nhiều năm kinh nghiệm công tác

2.1.3 Cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thành hai đợt

Đợt 1: Sử dụng phiếu điều tra lần 1 nhằm tìm hiểu mặt nhận thức của GVMN Đợt 2: Trên cơ sở kết quả của điều tra lần 1 chúng tôi tiến hành xây dựng

phiếu điều tra lần 2 với mục đích tìm hiểu thực trạng vấn đề nghiên cứu

- Tiến hành dự giờ một số hoạt động chính trong ngày và tiết dạy (tiếtdạy thông thường và tiết dạy có ban giám hiệu dự giờ) của một số giáo viên

- Thực hiện một số buổi phỏng vấn nhằm bổ sung cho các vấn đề cầnnghiên cứu

- Điều tra cách ứng xử các tình huống sư phạm thông qua hệ thống cáctình huống sư phạm nhằm đánh giá mức độ xử lí tình huống sư phạm của cácgiáo viên mầm non

2.2 Phân tích kết quả nghiên cứu

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về kỹ năng giao tiếp sư phạm.

a) Nhận thức của giáo viên về vai trò của kĩ năng giao tiếp sư phạm đối với hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non.

Để làm rõ thực trạng nhận thức về vai trò của kĩ năng giao tiếp sư phạmđối với giáo viên mầm non chúng tôi đã sử dụng câu hỏi mở:

“ Kĩ năng giao tiếp sư phạm có ý nghĩa như thế nào đối với giáo viên mầm non?”

Trang 31

Có rất nhiều ý kiến khác nhau của giáo viên về vai trò của kĩ năng giaotiếp sư phạm đối với hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non Chúngtôi đã tổng hợp thành các ý nghĩa chung sau:

- Có ý nghĩa điều chỉnh hành vi của mình một cách đúng đắn và tạođược sự tin tưởng đối với đồng nghiệp, trẻ, và phụ huynh

- Giúp giáo viên tự tin hơn trong giao tiếp và tạo điều kiện thuận lợi chogiáo viên hoàn thành tốt chuyên môn của mình

- Giúp cho giáo viên có thể nhận biết, đoán bắt được diễn biến tâm lýbên trong của đối tượng giao tiếp để từ đó có những hành vi, cách ứng xử, lờinói phù hợp hơn với nhu cầu nguyện vọng, mục đích của đối tượng, hoàncảnh giao tiếp

- Giúp giáo viên điều chỉnh nhân cách của mình, và biết cách truyền đạttri thức đến trẻ một cách có hiệu quả đồng thời giúp cho giáo viên tự tin, biếtcách thuyết phục người nghe tạo ấn tượng tốt, được sự tin yêu của đồngnghiệp, trẻ và phụ huynh

Bên cạnh những ý kiến chung nhất mà chúng tôi liệt kê ra còn có một

số ý kiến khác như sau: Có giáo viên cho rằng: “ Là giáo viên mầm non kĩ

năng giao tiếp sư phạm rất quan trọng đối với các cháu, với cô giáo và phụ huynh của trẻ Cách nói năng, đi đứng hay hành vi đạo đức chính là nét đẹp

sư phạm của các giáo viên mầm non chuẩn mực Làm cho giáo viên mầm non trở thành tấm gương sáng cho trẻ noi theo về đức- trí- thẩm- mĩ” hay có cô

giáo lại có kiến rằng: “Kĩ năng giao tiếp sư phạm có vai trò rất quan trọng

đối với giáo viên mầm non Nó giúp giáo viên định vị được chân dung tâm lí đối tượng thông qua kĩ năng giao tiếp sư phạm từ đó giáo viên có hành vi ứng xử phù hợp” Có giáo viên khẳng định rất ngắn gọn về vai trò của kĩ năng

giao tiếp sư phạm đó là :

“Kĩ năng giao tiếp sư phạm giúp cho người giáo viên mầm non nắm chắc

chuyên môn của mình, đem lại hiệu quả cao trong hoạt động giao tiếp”

Trang 32

Như vậy các ý kiến trả lời trên đã nêu được vai trò của kỹ năng giaotiếp sư phạm đối với hoạt động nghề nghiệp của người giáo viên, song chưađủ và đúng.

Để bổ sung cho kết quả nghiên cứu này chúng tôi cũng đã tiến hànhkhảo sát bằng câu hỏi ở đợt 2 để tìm hiểu thêm về nhận thức của giáo viênmầm non về tầm quan trọng của kĩ năng giao tiếp sư phạm đối với hoạt độngnghề nghiệp Và kết quả thu được như sau:

Bảng 1: Thực trạng nhận thức mức độ quan trọng của kĩ năng giao tiếp sư phạm đối với giáo viên mầm non.

Như vậy: Nhìn chung, qua các ý kiến trả lời chúng tôi thấy rằng hầu

hết các giáo viên đã nhận thấy vai trò quan trọng của kĩ năng giao tiếp sưphạm đối với hoạt động nghề nghiệp của mình Nhưng họ không hiểu được kĩnăng quan trọng như thế nào do vậy trong các hoạt động khác, trong các tiếtdạy học ít khi chú ý đến kĩ năng của mình

Trang 33

b) Nhận thức của giáo viên mầm non về khái niệm kỹ năng giao tiếp

sư phạm

Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về khái niệm

kỹ năng giao tiếp sư phạm? Chúng tôi đã đưa ra câu hỏi mở: “Cô hiểu kỹ

năng giao tiếp sư phạm là như thế nào?”.

Đã có rất nhiều ý kiến khác nhau theo cách suy nghĩ và hiểu của từng cánhân giáo viên Nhưng xét về bản chất của các câu trả lời thì các giáo viên cócách hiểu tương tự nhau Qua kết quả điều tra chúng tôi tập trung được một sốý kiến tiêu biểu sau:

- Kỹ năng giao tiếp sư phạm là cách ứng xử với người khác có văn hóa,một cách có tính chất sư phạm tùy thuộc vào từng độ tuổi hay từng lĩnh vựcmà mình ứng xử thật tế nhị làm cho người nghe thấy thoải mái và tin tưởng,

có ấn tượng về mình

- Kỹ năng giao tiếp sư phạm là khả năng cô sử dụng những hiểu biếtcủa mình về đối tượng giao tiếp để có những hướng hành vi, cử chỉ, lời nói,

cư xử phù hợp với tâm tư nguyện vọng, hoàn cảnh của đối tượng giao tiếp vớimình

- Là kỹ năng thiết lập mối quan hệ giao tiếp và sử dụng linh hoạt nhữngphương tiện giao tiếp, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giao tiếp đạt hiệuquả cao

Đây là ba ý kiến trả lời về nhận thức “Kỹ năng giao tiếp sư phạm làgì?” có số lượng giáo viên trả lời tương tự nhiều nhất Ngoài ra có các ý kiếnkhác về cách hiểu kỹ năng giao tiếp sư phạm là gì? Chúng tôi xin trích dẫn

một số cách hiểu sau: “Kỹ năng giao tiếp sư phạm là kỹ năng vận dụng lời nói

hành vi, cử chỉ, điệu bộ phối hợp nhịp nhàng, phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao trong giao tiếp sư phạm” hay có giáo viên lại cho rằng: “Kỹ năng giao tiếp sư phạm là khả năng giáo viên biết nhìn nhận được biểu hiện bên ngoài và diễn biến tâm lí bên trong của đối tượng giao tiếp với mình để có những hành vi, lời nói cử chỉ phù hợp nhằm tạo hiệu quả của giáo dục” Còn có ý

Trang 34

kiến khác cho rằng: “Kỹ năng giao tiếp sư phạm là khả năng diễn đạt dễ hiểu,

ngắn gọn, mạch lạc thuyết phục trong giao tiếp với trẻ”.

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về cách hiểu kỹ năng giao tiếp sư phạmlà gì? Tuy nhiên chưa có ý kiến nào có một cách nhìn đầy đủ và trọn vẹn vềkỹ năng giao tiếp sư phạm Mỗi ý kiến mới thể hiện một khía cạnh, một phầntrong bản chất của kỹ năng giao tiếp sư phạm như là cách ứng xử của các giáoviên, hay khả năng diễn đạt lời nói rõ ràng mạch lạc, hay là khả năng nhìnnhận bề ngoài của đối tượng giao tiếp để thấy được diễn biến tâm lí bên trongvà có hành vi ứng xử phù hợp đây cũng là một phần trong kỹ năng giao tiếp

sư phạm Đa số các giáo viên đều nhận thức rằng đó là khả năng của chínhbản thân mỗi cá nhân giáo viên và nhận thức được có kỹ năng giao tiếp nhằmđạt hiệu quả giáo dục cao hơn

Như vậy, trong việc nhận thức về khái niệm kỹ năng giao tiếp sư

phạm các giáo viên chưa nhận thức được một cách đầy đủ và sâu sắc về bảnchất hay có thể nói nhận thức chưa hoàn toàn đúng về kỹ năng giao tiếp sưphạm

c) Nhận thức của giáo viên mầm non về những nhóm kỹ năng cần có trong quá trình giao tiếp sư phạm.

Để tìm hiểu thực trạng vấn đề trên chúng tôi đưa ra câu hỏi:

“Theo cô, người giáo viên mầm non cần có những kỹ năng giao tiếp

sư phạm nào?”.

Ở câu hỏi này có giáo viên trả lời: “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của

người giáo viên mầm non chính là kỹ năng điều chỉnh hành vi của mình một cách đúng đắn”.

Có cô giáo cho rằng: “Các kỹ năng giao tiếp sư phạm cần có của

người giáo viên mầm non là kỹ năng khéo léo, nhẹ nhàng, có tính sư phạm ”

Lại có ý kiến khác như: Kỹ năng giao tiếp sư phạm là bao gồm nói

năng, cư xử, ăn mặc gọn gàng sạch đẹp”.

Trang 35

Tuy nhiên, đại đa số các giáo viên khác lại có ý kiến khác so với cácgiáo viên trên Và các ý kiến này có nội dung tương tự nhau từ đó chúng tôiliệt kê ra những kỹ năng mà các giáo viên đã nêu trong ý kiến của giáo viên:

- Kỹ năng mở đầu giao tiếp

- Kỹ năng điều khiển điều chỉnh quá trình giao tiếp sư phạm

- Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp

Để làm rõ thêm về ý kiến trả lời trên, qua các tiết dự giờ tất cả các hoạtđộng khác nhau diễn ra trong ngày của giáo viên, đặc biệt là qua dự giờ cáctiết dạy chúng tôi thấy các giáo viên rất trau chuốt phần mở đầu mà không biếtcách duy trì tiết dạy Điều đó thể hiện ở cách mở đầu một tiết dạy của các giáoviên thường rất hay, hấp dẫn, nhưng trong suốt quá trình tiến hành tiết dạy thì

sự hấp dẫn mất dần đi, rời rạc có khi là trở thành tẻ nhạt Các giáo viên khôngthể hiện được năng lực của mình

Từ các ý kiến trả lời trên của giáo viên cho thấy rằng các giáo viênmầm non chưa thể liệt kê một cách chính xác được các kỹ năng giao tiếp sưphạm cần có trong quá trình giao tiếp sư phạm Mà chỉ liệt kê được những kỹnăng sau:

- Kỹ năng mở đầu giao tiếp

- Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp sư phạm

- Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp

- Kỹ năng kết thúc

Trên thực tế về việc sử dụng các kỹ năng như các giáo viên đưa ra hầu hếtcác giáo viên chưa thể thực hiện được một số kỹ năng một cách hoàn chỉnh

Ví dụ: Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp: trong quá trình dạy học,

với những trẻ không chú ý vào cô, lơ đãng và hay làm việc riêng cô chỉ mờinhắc nhở trẻ bằng cách gọi tên, nạt nộ trẻ chứ chưa thực sự biết lôi cuốn trẻvào bài học Hay kỹ năng kết thúc: Các giáo viên chỉ mới biết kết thúc quátrình giao tiếp ở những thời điểm thích hợp chứ chưa biết cách kết thúc nhưthế nào cho hợp lí hấp dẫn và ấn tượng Thường không sử dụng các tín hiệukết thúc tạo tâm thế cho trẻ, không dặn dò trẻ trước khi kết thúc

Trang 36

Như vậy, từ những phân tích trên cho thấy rằng sự nhận thức cơ bản về

kỹ năng giao tiếp sư phạm của các giáo viên còn rất kém Các giáo viên chưanêu được những kỹ năng giao tiếp sư phạm cần có cho quá trình giao tiếp sưphạm của giáo viên mầm non

2.2.2 Mức độ phát triển kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non.

Để tìm hiểu về mức độ hình thành các kỹ năng giao tiếp sư phạm củagiáo viên mầm non chúng tôi tiến hành lấy ý kiến đánh giá của giáo viên về 5kỹ năng Ở các mức độ: Tốt- khá- trung bình- yếu

a) Mức độ đánh giá các kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non về bản thân

Sự đánh giá mức độ hình thành các kỹ năng giao tiếp sư phạm của bảnthân giáo viên thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2: Mức độ hình thành các kỹ năng giao tiếp sư phạm của bản thân các giáo viên tự đánh giá.

Các kỹ năng

TỐT(SL,%)

KHÁ

(SL,%)

TB(SL,%)

YẾU(SL,%)

1

Kỹ năng định hướng giao tiếp

(phác họa chân dung tâm lý đối

tượng giao tiếp, hình dung trước

quá trình giao tiếp)

30 GV47,39%

32 GV51,61%

0 GV0%

0 GV0%

2

Kỹ năng nhận biết dấu hiệu bên

ngoài của trẻ (nhận thức bề

ngoài và nhân cách)

7 GV12,29%

20 GV

56,45%

0 GV0%

3

Kỹ năng điều khiển điều chỉnh

quá trình giao tiếp (kỹ năng

quan sát, lắng nghe, xử lí thông

tin, điều khiển điều chỉnh quá

trình giao tiếp)

12 GV19,35%

21 GV33,87%

23 GV37,1%

6 GV9,68%

Trang 37

Kỹ năng định vị (khả năng xây

dựng chân dung tâm lý đối

tượng ở mức độ chính xác từ đó

giáo viên có hành vi ứng xử phù

hợp với nhu cầu, nguyện vọng,

đặc điểm tâm lí hoàn cảnh riêng

của đối tượng)

1 GV3,23%

15 GV24,19%

43 GV69,35%

2 GV3,23%

Dựa vào bảng trên chúng ta nhận thấy rằng:

- Kỹ năng định hướng giao tiếp là kỹ năng đã được hình thành ở 100%giáo viên trong đó có 47,29% giáo viên sử dụng kỹ năng này tốt, và có51,69% giáo viên thực hiện ở mức độ khá

- Kỹ năng nhận biết dấu hiệu bên ngoài của trẻ thì có 12,29% giáo viêncho rằng bản thân mình đã vận dụng được kỹ năng nhận biết bề ngoài của trẻmột các chính xác và hiệu quả (Phần lớn các giáo viên này có thâm niên côngtác trên 20 năm) Có 35,26% tổng số giáo viên hình thành và vận dụng kỹnăng này ở mức độ khá Còn lại 56,45% giáo viên đánh giá bản thân thực hiênkỹ năng này mở mức độ bình thường

- Kỹ năng định vị: Đối với kỹ năng này chỉ có 3,23% giáo viên có khảnăng vận dụng kỹ năng này ở mức độ tốt (Xây dựng được chân dung tâm lícủa đối tượng trẻ một cách chính xác nhất chính là 2 giáo viên một cô có thâmniên làm việc 26 năm và một cô có thâm niên là 30 năm công tác) Số giáoviên thực hiện ở mức độ khá chiếm 23,19% tổng số giáo viên Và 69,35%Giáo viên chỉ thực hiện ở mức độ trung bình ít sử dụng kỹ năng này Và đặcbiệt có 3,23% giáo viên nhận thấy mình không thể hình thành được kỹ năngđịnh vị trong quá giao tiếp sư phạm

Trang 38

- Kỹ năng điều chỉnh điều khiển quá trình giao tiếp: Số giáo viên đạtmức tốt chiếm 19.35% 33,87% Giáo viên ở mức khá, có 37,1% giáo viên ởmức trung bình, còn lại 9,68% giáo viên ở mức yếu.

- Kỹ năng sử dụng phương tiện: có 12,29% giáo viên đạt mức tốt,37,1% giáo viên ở mức độ khá, 40,32% giáo viên ở mức độ trung bình và có12,29% giáo viên ở mức yếu

b) Mức độ đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của các giáo viên mầm non về đồng nghiệp.

Chúng tôi tiến hành tìm hiểu sự đánh giá của các giáo viên về mức độhình thành các kỹ năng giao tiếp sư phạm của đồng nghiệp Nhằm xem xétmức độ đánh giá khách quan giữa sự đánh giá bản thân và đánh giá về đồngnghiệp Sự đánh giá đó thể hiện ở bảng sau:

Bảng 3: Mức độ đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm về các đồng nghiệp.

TT

Mức độ

Các kỹ năng

TỐT(SL,%)

KHÁ

(SL,%)

TB(SL,%)

YẾU(SL,%)

1

Kỹ năng định hướng giao tiếp

(phác họa chân dung tâm lý đối

tượng giao tiếp, hình dung trước

quá trình giao tiếp)

18 GV29,03%

27 GV43,55%

17 GV27,42%

0 GV0%

2

Kỹ năng nhận biết dấu hiệu bên

ngoài của trẻ (nhận thức bề ngoài

và nhân cách)

5 GV8,06 %

17 GV27,42%

32 GV51,62%

8 GV12,9%

3

Kỹ năng sử dụng phương tiện giao

tiếp (phương tiện ngôn ngữ và phi

ngôn ngữ)

0 GV0%

22 GV35,48%

28 GV45,16%

12 GV19,36%

4

Kỹ năng điều khiển điều chỉnh quá

trình giao tiếp (kỹ năng quan sát, lắng

nghe, xử lí thông tin, điều khiển điều

chỉnh quá trình giao tiếp)

2 GV3,22%

25 GV40,32%

28 GV45,16%

7 GV11,29%

Trang 39

Kỹ năng định vị (khả năng xây dựng

chân dung tâm lý đối tượng ở mức

độ chính xác từ đó giáo viên có hành

vi ứng xử phù hợp với nhu cầu,

nguyện vọng, đặc điểm tâm lí hoàn

cảnh riêng của đối tượng)

3GV4,84%

15 GV24,2%

33 GV53,22%

11 GV17,74%

Như vậy: Nhìn vào bảng 2 và bảng 3 chúng ta thấy rằng mức độ đánh

giá của giáo viên tự đánh giá và sự đánh giá về đồng nghiệp có sự chênh lệch

rõ rệt Thể hiện các giáo viên đánh giá các đồng nghiệp của mình về mức độhình thành các kỹ năng giao tiếp sư phạm nhìn chung thấp hơn sự đánh giábản thân

Ví dụ: Ở kỹ năng định hướng giao tiếp có 48,39% tổng giáo viên tựđánh giá mình thực hiện tốt kỹ năng định hướng và 51,61% giáo viên đánh giámình thực hiện ở mức độ khá, không có mức độ trung bình và mức độ yếu.Còn khi đánh giá về đồng nghiệp thì mức độ tốt chỉ có 29,03%, mức độ kháchỉ có 43,15 % và mức độ trung bình có 27,42% tổng số 62 giáo viên khảosát

Hay ở kỹ năng nhận biết dấu hiệu bên ngoài của trẻ, các giáo viên tựđánh giá thì đánh giá mình ở mức độ tốt có 12,29% tổng số giáo viên, và ởmức độ khá chiếm 35,26% giáo viên, và mức độ trung bình có 56,45% Mứcđộ giáo viên tự đánh giá chênh lệch rất nhiều so với các đồng nghiệp đánh giánhau thể hiện đồng nghiệp đánh giá mức độ tốt chỉ có 8,06% tổng số 62 giáoviên Mức độ khá có 40,32% và mức độ trung bình là 51,62%

Như vậy, các giáo viên đánh giá bản thân mình về mức độ hình thành

các kỹ năng giao tiếp sư phạm cao nhưng khi đánh giá mức độ hình thành cáckỹ năng này ở đồng nghiệp thì đánh giá rất thấp Và cũng thông qua đó chúng

ta cũng thấy rằng nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp là nhóm kỹ năng dễdàng hình thành nhất và được sử dụng một cách có hiệu quả nhất, hình thành

ở mức độ khá và tốt cao nhất không có mức độ yếu Ngược lại theo các ý kiến

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Lê Xuân Hồng: “Một số vấn đề vầ giao tiếp và giao tiếp sư phạm trong hoạt độngcủa giáo viên mầm non.” . NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề vầ giao tiếp và giao tiếp sư phạm trong hoạt độngcủa giáo viên mầm non
Nhà XB: NXB Giáo Dục
2. GS.TS Bùi văn Huệ, TS Nguyễn Trí, TS Nguyễn Trọng Hoàn, ThS Hoàng Thị Xuân Hoa: “Nghệ thuật ứng xử sư phạm” NXB ĐH Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghệ thuật ứng xử sư phạm”
Nhà XB: NXB ĐH Sư Phạm
3. TS Nguyễn Bá Minh: “Giáo trình nhập môn khoa học giao tiếp”. NXB ĐH Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình nhập môn khoa học giao tiếp”
Nhà XB: NXB ĐH Sư phạm
4. PGS.PTS Ngô Công Hoàn, PGS.PTS Hoàng Anh. (1999) “Giao tiếp sư phạm” NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giao tiếp sư phạm”
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Ngô Công Hoàn (1997) “Giao tiếp và ứng xử sư phạm” (dành cho giáo viên mầm non) . NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giao tiếp và ứng xử sư phạm” (dành cho giáo viên mầm non)
Nhà XB: NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội
6. TS Phạm Mai Chi, TS Lê Ánh Tuyết, TS Lê Thu Phương: “Hướng dẫn thực hiện đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giao dục mầm non.” NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn thực hiện đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giao dục mầm non.”
Nhà XB: NXB Giáo Dục
7. Chu Sĩ Diên: “Nghệ thuật Giao tiếp” - NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghệ thuật Giao tiếp”
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Phạm Minh Hạc chủ biên (1988): “Tâm lí học” tập 1,2– NXB Giáo Dục 9. Ngô Công Hoàn (1993) “Tâm lí học trẻ em” – NXB Đào tạo bồi dưỡng giáoviên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tâm lí học” tập 1,2"– NXB Giáo Dục 9. Ngô Công Hoàn (1993) "“Tâm lí học trẻ em”
Tác giả: Phạm Minh Hạc chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo Dục 9. Ngô Công Hoàn (1993) "“Tâm lí học trẻ em” " – NXB Đào tạo bồi dưỡng giáo viên
Năm: 1988
10. Nguyễn Thạc, Hoàng Anh “Luyện giao tiếp sư phạm” NXB ĐH Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luyện giao tiếp sư phạm”
Nhà XB: NXB ĐH Sư phạm Hà Nội
11. “Nghệ thuật xử lí tình huống sư phạm” NXB Lao Động – Xã Hội- Công ty văn hóa Bảo Thắng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghệ thuật xử lí tình huống sư phạm”
Nhà XB: NXB Lao Động – Xã Hội- Công ty văn hóa Bảo Thắng
12. “Từ điển Tiếng Việt” Viện ngôn ngữ – NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ điển Tiếng Việt”
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
13. Đặng Phương Kiệt, Nguyễn Khắc Viện (1994)“Tâm lí học và đời sống” – NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tâm lí học và đời sống”
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
14. Trần Thị Trọng (1993) “Những vấn đề lí luận và thực tiễn trong dạy học mầm non” – NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những vấn đề lí luận và thực tiễn trong dạy học mầm non”
Nhà XB: NXB Giáo dục
15. Lê Thị Bừng “Tâm lí học ứng xử” - NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tâm lí học ứng xử”
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w