Tiếp đến là Nghị định 56CP/2005/NĐCP của Thủ tướng chính phủ cùng với các chính sách kích cầu của nông nghiệp thông qua các chương trình dự án đã tạo điều kiện cho khuyến nông ngày càng
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một học vị nào khác
Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Sinh viên
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 2Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đên ThS Nguyễn Thị Thuý Vinh
đã định hướng và trực tiếp hưỡng dẫn tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Trong thời gian tôi thực tập tôi vô cung cảm ơn Phòng nông nghiệp, Trạm khuyến nông huyện Nam Đàn, UBND xã Nam Giang, câu lạc bộ khuyến nông xã Nam Giang, UBND xã Nam Lộc, câu lạc bộ khuyến nông xã Nam Lộc cùng các hội viên của 2 CLB đã tạo điều kiện cho tôi thu thập một số thông tin thứ cấp và
sơ cấp phục vụ cho khoá luận tốt nghiệp.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như nghiên cứu đề tài tôt nghiệp.
Do điều kiện về thời gian và trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế nên đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cũng như các anh, các chị để khoá luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 20 tháng 04 năm 2009
Sinh viên Nguyễn Thị Ngọc
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Khuyến nông 4
1.1.1.1 Các khái niệm về khuyến nông 4
1.1.1.2 Vai trò của khuyến nông 6
1.1.1.3 Nguyên tắc hoạt động của khuyến nông 6
1.1.2 Câu lạc bộ khuyến nông 9
1.1.2.1 Khái niệm về câu lạc bộ khuyến nông 9
1.1.2.2 Vai trò của câu lạc bộ khuyến nông 10
1.1.2.3 Hình thức tổ chức, nội dung hoạt động câu lạc bộ khuyến nông 11
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 14
1.2.1 Hoạt động Khuyến nông và câu lạc bố khuyến nông 14
1.2.1.1 Hoạt động Khuyến nông 14
1.1.2.2 Hoạt động câu lạc bộ khuyến nông ở Việt Nam 18
1.2.2 Hoạt động câu lạc bộ khuyến nông tại Nghệ An 20
1.2.3 Những tồn tại và bài học kinh nghiệm trong hoạt động câu lạc bộ khuyến nông ở Nghệ An 22
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu 24
2.2 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 24
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu 24
Trang 42.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 24
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 25
2.3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 25
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu .25
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu hiệu quả kinh tế 25
2.5 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
2.5.1 Điều kiện về tự nhiên 26
2.5.1.1 Vị trí địa lý 26
2.5.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng 27
2.4.1.3 Chế độ khí hậu 28
2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 29
2.4.2.1 Tình hình đất đai và sử dụng đất của huyện qua 2 năm 2007 - 2008 29
2.4.2.2 Tình hình dân số và lao động của huyện qua 3 năm (2006 - 2008) 30
2.4.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội trên địa bàn huyện 31
2.4.2.4 Kết quả phát triển kinh tế của huyện qua 3 năm (2006 - 2008) 34
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thực trạng hoạt động câu lạc bộ khuyến nông trên điạ bàn huyện Nam Đàn .38 3.1.1.Sự hình thành và phát triển câu lạc bộ khuyến nông trên địa bàn huyện nam đàn 38
3.1.2 Hình thức chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến người nông dân 39
3.1.3 Thực trạng về công tác tổ chức hoạt động câu lạc bộ khuyến nông huyện Nam Đàn 40
3.2 Thực trạng hoạt động câu lạc bộ khuyến nông 2 xã Nam Lộc và Nam Giang 42
3.2.1 Kết quả đạt được của câu lạc bộ khuyến nông 2 xã Nam Lộc và Nam Giang 43
Trang 53.2.1.1 Kết quả về tập huấn kỹ thuật 43
3.2.1.2 Kết quả tham quan hội thảo đầu bờ 46
3.2.1.3 Kết quả mô hình trình diễn 47
3.2 Tác động của câu lạc bộ khuyến nông đến hộ sản xuất điều tra 58
3.3 Một số nhận xét đánh giá về thực trạng hoạt động câu lạc bộ khuyến nông .60
3.3.1 Những kết quả đạt được 60
3.3.1.1 Kết quả đạt được trong quá trình hoạt động của câu lạc bộ khuyến nông xã Nam Giang 60
3.3.1.2 Kết quả đạt được trong quá trình hoạt động của câu lạc bộ khuyến nông xã Nam Lộc 60
3.3.2 Những tồn tại và hạn chế 62
3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động câu lạc bộ khuyến nông tại Nam Đàn 65
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1 Kết luận 67
2 Khuyến nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Trang 6STT Chữ viết tắt Nội dung
4 CNH HĐH Công nghiệp hoá hiện đại hoá
5 CLB KN Câu lạc bộ khuyến nông
6 CLB KL Câu lạc bộ khuyến lâm
12 KN &PTNT Khuyến nông và phát triển nông thôn
14 KN &PTNT Khuyến nông và phát triển nông thôn
20 UBMTTQ Uỷ ban mặt trận tổ quốc
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang 7STT Nội dung Trang
1 Bảng 2.1: Bảng dự kiến số phiếu điều tra và con số thực 25
2 Bảng 2.2: Số liệu khí tượng và khí hậu huyện Nam Đàn bình
3 Bảng 2.3: Thực trạng sử dụng tài nguyên đất của huyện Nam Đàn
7 Bảng 2.7: Diện tích, năng suất, sản lượng 1 số cây trồng chính
8 Bảng 3.1: Số lượng CLB KN trên địa bàn huyện Nam Đàn 38
9 Bảng 3.2: Thực trạng hoạt động CLB KN năm 2008 42
10 Bảng 3.3:Kết quả tập huấn và hội thảo đầu bờ qua 3 năm (2006 –
11 Bảng 3.4:Kết quả tập huấn và hội thảo đầu bờ qua 3 năm (2006 –
12 Bảng 3.5: Hoạt động mô hình trình diễn của CLB KN xã Nam
Lộc và CLB KN xã Nam Giang trong 3 năm (2006 -2008) 48
13 Bảng 3.6: Một số chỉ tiêu sinh trưởng và yếu tố cấu thành năng suất 50
14 Bảng 3.7: Đánh giá khả năng chống chịu của các giống 51
16 Bảng 3.9: Một số chỉ tiêu sinh trưởng và yếu tố cấu thành năng suất 54
17 Bảng 3.10: Hiệu quả kinh tế của giống lạc Sán dầu 30 với L14
Trang 818 Bảng 3.11: So sánh nguần thức ăn giữa yêu cầu kỹ thuật và thực
tế nông hộ cho ăn cùng với kết quả đạt được 57
19 Bảng 3.12: So sánh kết quả sản xuất một số cây trồng giữa 3
21 Sơ đồ 1: Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam 15
22 Sơ đồ 2: Hình thức chuyển giao TBKT của câu lạc bộ khuyến
23 Sơ đồ 3: Tổ chức câu lạc bộ khuyến nông trên địa bàn huyện
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trang 9Việt Nam với gần 70% dân số sống và làm việc ở nông thôn, nông dân là chủ thể và là bộ phận cốt lõi trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn Việc phát triển nông nghiệp luôn chiếm vị trí quan trọng trong đường lối lãnh đạo của đảng và nhà nước.
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế thị trường và hội nhập WTO, nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn Đã nhiều năm nay, nông nghệp được coi là mặt trận hàng đầu trong công cuộc đổi mới và phát triển của đất nước Đảng và nhà nước ta đã rất coi trọng việc nâng cao thu nhập của người dân, đã có nhiều chính sách vĩ mô về nông nghiệp và phát triển nông thôn do nhà nước ban hành đang tạo điều kiện thuận lợi như: "Nghị quyết 10 của
Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương khoá VI (1988) về Đổi mới quản lý kinh
tế trong nông nghiệp"
Bên cạnh đó việc đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp áp dụng KHKT vào sản xuất là rất cần thiết, nhưng để áp dụng KHKT vào sản xuất thì người nông dân cần đến sự quan tâm, giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức, nhà nước, để họ có thể giải quyết được các vấn đề của mình Để làm được như vậy rất cần các hoạt động thúc đẩy, một trong những hoạt động có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ trong lĩnh vực nông nghiệp là hoạt động khuyến nông Ở nước ta, nội dung khuyến nông đã được
đề cập đến ngay từ thuở có nhà nước phong kiến nhưng còn mờ nhạt [12], ngày nay KHKT trên thế giới đã phát triển mạnh và mối quan hệ chặt chẽ giữa các quốc gia đã được thiết lập việc truyền bá, phổ biến cho người dân những tri thức kĩ thuật mới là nhu cầu tất yếu Công tác khuyến nông đã được Đảng và Nhà nước quan tâm thể hiện qua: Nghị định 13CP do Chính phủ ban hành ngày 2/3/1993 về Khuyến nông Tiếp đến là Nghị định 56CP/2005/NĐCP của Thủ tướng chính phủ cùng với các chính sách kích cầu của nông nghiệp thông qua các chương trình dự
án đã tạo điều kiện cho khuyến nông ngày càng phát triển về mặt tổ chức lẫn nội dung hoạt động
Khuyến nông là nhịp cầu giúp người nông dân chuyến giao thông tin, kiến thức, tạo cơ hội cho nông dân chia sẻ học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để phát triển sản xuất Đã góp phần không nhỏ nâng cao trình độ thâm canh cho nông dân, tăng năng suất và chất lượng, sản lượng nông sản hàng hoá, với hành triệu mô hình
Trang 10trình diễn, lớp tập huấn cho nông dân, áp dụng trên khắp các tỉnh, thành phố Một hình thức sáng tạo của nông dân là nâng cao hoạt động cộng đồng là thành lập CLB KN, nhóm sở thích, nhóm giúp nhau làm kinh tế, xây dựng "vườn tình thương","ao tình nghĩa"… được thực hiện ở các địa phương với sự chung sức của các khuyến nông viên
Từ đó CLB KN được hình thành, CLB KN đầu tiên được thành lập ở xã Vân Nội - huyện Đông Anh - Hà Nội từ năm 1991 và phong trào CLB KN phát triển mạnh từ sau khi thành lập tổ chức khuyến nông 31/3/1993 Do lợi ích nhiều mặt từ hoạt động của CLB KN đem lại nên trong chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày 14/9/2001 đã đề ra chủ trương "Tổ chức các CLB KL, KN"
Tại Nghệ An theo số liệu thống kê từ năm 1998 - 2008 trên toàn tỉnh đã xây dựng được 5195 CLB bao gồm khoảng 85 loại hình chủ yếu là các CLB thuộc lĩnh vực văn hoá xã hội như CLB tín dụng tiết kiệm 595, CLB lồng ghép 357, CLB văn hoá văn nghệ 583… CLB mang màu sắc kinh tế thì khiêm tốn chỉ có 56 CLB KN,
32 CLB lồng ghép, 21 CLB chăn nuôi Huyện Nam Đàn trong thời gian qua cũng
đã có nhiều loại hình CLB được thành lập, trong đó có 19 CLB KN được thành lập điển hình nhất là CLB tại xã Nam Lộc có tới 300 thành viên, CLB ở xã Nam Giang có 96 thành viên… Trong thời gian thành lập đến nay các CLB KN đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận
CLB KN được ví như "trường học thường xuyên" của nông dân, cầu nối giữa các nhà khoa học, các nhà quản lý và người dân Nhưng cho đến nay, các CLB được thành lập và hoạt động là do nông dân tự nguyện đóng góp, nên gặp rất nhiều khó khăn, đã có không ít CLB thành lập nhưng phải giải thể hoặc còn tên nhưng không còn hoạt động Từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: "Thực trạng hoạt động câu lạc bộ khuyến nông trên địa bàn huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An".
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trang 11Đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng hoạt động, những kết quả đạt được
và những khó khăn trong hoạt động CLB KN, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động CLB KN trong thời gian tới trên địa bàn nghiên cứu
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Khuyến nông
1.1.1.1 Các khái niệm về khuyến nông [2] [3] [17]
Khuyến nông đã có từ rất lâu nhưng mãi tới thế kỉ XIX mới được khái quát thành khái niệm
Theo nghĩa Hán Việt khuyến nông có nghĩa là người ta nên gắng sức Khuyến nông là mở mang nghề làm nông
Thuật ngữ "Extention" lần đầu tiên được sử dụng ở Anh vào những năm
1840, nhưng còn bước thực hành đầu tiên vào những năm 1867 - 1878 khi Jame Stuart là giảng viên của trường Trinity -ĐH Cambiridge giảng bài cho Hội liên hiệp phụ nữ và CLB những người làm việc ở miền Bắc nước Anh Đây cũng là hình thức dạy học bên ngoài trường đại học đầu tiên trên thế giới và do vậy Stuart được coi là chúa đẻ của phổ cập đại học và từ đó nghĩa đầu tiên của (Agricultural extention) là khuyến nông có nghĩa là khuyến người ta mở mang nghề nông
Ý nghĩa chung của thuật ngữ extention là khuyến nông bao gồm việc sử dụng có suy nghĩ các thông tin
Theo Thomas G.Flores (1983): Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất
cả các công việc có liên quan đến sự phát triển nông thôn, đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà trường trong đó người nông dân học bằng cách thực hành
Theo D.Sim và H.A.Hilmi (1987): Khuyến nông là một tiến trình của công việc hoà nhập các kiến thức bản địa và các kiến thức KHKT, các quan điểm, các kĩ năng quyết định điều đó có thể làm được như thế nào, sự hợp tác địa phương với các nguồn tài nguyên nào có thể huy động và sự trợ giúp từ bên ngoài là có thể và
có khả năng vượt qua các trở ngại đặc biệt
Theo Gronow (1987) đưa ra định nghĩa: Khuyến nông được sử dụng như một khái niệm chung cho các hoạt động liên quan đến sự trợ giúp, việc trao đổi
Trang 13thuyết phục hoặc giáo dục con người Nó được sử dụng để phân biệt từ loại hoạt động này đến hoạt động khác.
Theo J.Falconer (1987): Khuyến nông là một tiến trình giáo dục Các hệ thống khuyến nông thông báo, thuyết phục và kết nối con người, họ thúc đẩy các dòng thông tin giữa nông dân và các đối tượng sử dụng tài nguyên khác, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các nhà lãnh đạo
Theo A.W.Van den Ban và H.S.Hawkins (1988): Khuyến nông là việc sử dụng có suy nghĩ các thông tin để giúp cho người nông dân hình thành các ý kiến hợp lý và đưa ra các quyết định đúng đắn
Theo Adems: Khuyến nông là cách tư vấn cho nông dân, giúp họ tìm ra vướng mắc và trở ngại trong cuộc sống và trong sản xuất, đồng thời đề ra những giải pháp khắc phục, ngoài ra khuyến nông còn giúp nông dân nhận được những
cơ hội phát trển
Theo tổ chức lương thực và Nông nghiệp của liên hợp quốc (FAO): Khuyến nông là quá trình dịch vụ thông tin truyền bá kiến thức và đào tạo tay nghề cho nông dân, làm cho họ có đủ khả năng giải quyết các vấn đề của hộ gia đình và làng xã của họ
Theo TTKN Việt Nam: Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân đồng thời giúp họ hiểu được chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, kiến thức về kĩ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin về thị trường để họ có khả năng tự giải quyết các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm thúc đẩy sản xuất và cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn
Qua đó ta thấy đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về khuyến nông, cho đến nay định nghĩa về khuyến nông được sử dụng rộng rãi nhất là: Khuyến nông là một tiến trình hệ thống của việc trao đổi các ý tưởng kiến thức và các kĩ thuật dẫn đến sự trao đổi cùng nhau các quan điểm, chính sách, kiến thức, giá trị và thái độ nhằm vào việc sử dụng hợp lý các tài nguyên để nâng cao mức sống cho người dân và phát triển nông thôn theo hướng bền vững về sinh kế và môi trường
Trang 141.1.1.2 Vai trò của khuyến nông
Chúng ta thấy rất rõ rằng khuyến nông không thể giải quyết tất cả các vấn
đề của nông dân Kiến thức và sự hiểu biết của người làm khuyến nông chỉ có thể góp phần giải quyết một số vấn đề nào đó mà người nông dân gặp phải
Người làm khuyến nông phải phân tích những tình huống hiện tại, vì thế họ
sẽ đứng ở vị trí tốt nhất để thông báo cho người nông dân kịp thời biết những biến
cố thuận lợi hay những điều kiện thay đổi Họ cũng có thể làm thay đổi những cảm nghĩ mơ hồ của nông dân về những vấn đề cụ thể nào đó sẽ được giải quyết Vai trò của khuyến nông thể hiện:
Trong phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là quá trình tác động của nhiều hoạt động khác nhau trong
đó khuyến nông là một yếu tố, một bộ phận hợp thành Khuyến nông là một tác nhân rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nông nghiệp[5]
Trong quá trình từ nghiên cứu đến thực tiễn
Các tiến bộ kỹ thuật mới từ các nhà khoa học phải được sử dụng trong thực tiễn sản xuất của người nông dân Những nông dân không thể áp dụng thành công một kỹ thật nếu không có sự hiểu biết về kỹ thuật đó Và khuyến nông có vai trò
trung gian lưu thông kiến thức từ nghiên cứu đến thực tiễn sản xuất [5]
1.1.1.3 Nguyên tắc hoạt động của khuyến nông
- Không áp đặt mệnh lệnh
Người làm công tác khuyến nông không áp đặt mệnh lệnh cho người nông dân như họ phải làm cái gì và làm như thế nào mà họ chỉ làm nhiệm vụ cung cấp thông tin và đề xuất một số giải pháp cho người dân lựa chọn Quyết định cuối cùng là thuộc về người dân
Hiện nay, tại Việt Nam có nhiều hoạt động khuyến nông đã được lên kế hoạch từ trước, qua các cấp các ngành rồi mới triển khai tại địa phương theo kiểu
áp đặt từ trên xuống nên đã không mang lại hiệu quả
Cần xem rằng mỗi hộ nông dân là một đơn vị kinh tế độc lập đời sống của
họ do họ quyết định Vì nhiệm vụ của khuyến nông là tìm hiểu những nhu cầu,
Trang 15nguyện vọng của nông dân trong sản xuất, cung cấp thông tin và đưa ra lời khuyên, truyền đạt kiến thức về tiến bộ KHKT mới phù hợp để nông dân lựa chọn
và quyết định [2]
- Tinh thần trách nhiệm cao
Khuyến nông chịu trách nhiệm trước nhà nước, với cơ quan về hoạt động của mình vì khuyến nông góp phần quan trọng quyết định đến sự phát triển nông nghiệp nông thôn
Khuyến nông có trách nhiệm đáp ứng những nhu cầu của người dân trong vùng Điều này có nghĩa là nông dân có quyền đánh giá hoạt động của khuyến nông Tính hiệu quả của hoạt động khuyến nông trước hết được đánh giá trên cơ
sở các chủ trương của Nhà nước có được thực hiện tốt hay không Ngoài ra nó còn được đánh giá trên cơ sở thu nhập và cuộc sống của người dân có phải do khuyến nông mà cải thiện được hay không? Các chương trình khuyến nông có xuất phát từ nhu cầu thực tế nông dân nói riêng và nhu cầu phát triển nông thôn nói chung hay không?[2]
Cán bộ khuyến nông yêu cầu phải đi lại thường xuyên đặc biệt là vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số giao thông đi lại khó khăn Để hoàn thành tốt nhiệm vụ và có sự gần gũi cần thiết với người dân thì khuyến nông viên phải là một người có trách nhiệm cao
- Làm cùng với dân, không làm thay cho dân
Cán bộ khuyến nông chỉ cung cấp thông tin và khuyến khích người dân tự đưa ra quyết định Khi tự mình đưa ra quyết định người nông dân sẽ tự tin vào bản thân mình hơn so với bị áp đặt
Khuyến nông viên không thể quyết định và làm thay người dân, nếu như cán bộ làm thay, quyết định thay sẽ gây ra hiện tượng người dân ỷ lại vào sự giúp
đỡ của cán bộ khuyến nông [2]
- Không cho không
Trang 16Ở các nước châu Mỹ Latinh và châu Phi vào những năm 1970 đã cho thấy rằng một khi người dân đã đóng góp công sức vào hoạt động khuyến nông và phát triển nông thôn thì hiệu quả tăng lên rất nhiều
Khuyến nông chỉ hỗ trợ phần nào trong những khâu khó khăn ban đầu (Kĩ thuật, giống, phân bón,…) mà hộ nông dân không thể tự đầu tư khi áp dụng KHKT mới vào sản xuất mà thôi
- Khuyến nông vừa là nhịp cầu thông tin 2 chiều, vừa là cơ quan nghiên cứu phát triển
+ Khuyến nông là nhịp cầu thông tin 2 chiều
Khuyến nông là nhịp cầu vừa chuyển giao kiến thức KHKT của cơ quan nghiên cứu triển khai thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước, thông tin thị trường, vật tư… đến từng hộ nông dân, vừa tiếp nhận thông tin của người dân chuyển đến các cơ quan nghiên cứu các nhà quản lý và các tổ chức liên quan [3]
Khuyến nông không chỉ trao đổi mà còn phải sẵn sàng tiếp nhận những sáng kiến, những đề xuất hay những vấn đề của nông dân
+ Khuyến nông là cơ quan nghiên cứu
Hầu hết các hoạt động khuyến nông và phát triển nông thôn được thực hiện
từ bước nghiên cứu đến bước đề xuất giải pháp thực hiện nên cán bộ khuyến nông đảm nhiệm từ bước nghiên cứu đến bước triển khai thực địa[6]
- Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức nông thôn khác
Khuyến nông phải phối hợp chặt chẽ với những cơ quan doanh nghiệp địa phương, các tổ chức cung cấp dịch vụ cơ bản khác cho người nông dân Vì khuyến nông chỉ là một trong nhiều hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị của sự nghiệp phát triển nông thôn
Những tổ chức mà khuyến nông cần phối hợp là: Chính quyền địa phương, các tổ chức dịch vụ, cơ quan y tế, các tổ chức các cấp…[2]
- Làm việc với nhiều nhóm đối tượng khác nhau
Trang 17Trong xã hội thì sẽ có các nhóm đối tượng khác nhau, vì vậy người làm công tác khuyến nông phải tìm hiểu rõ nhu cầu của từng đối tượng để thực hiện các chương trình khuyến nông phù hợp
Khi làm việc với các đối tượng khác nhau khuyến nông viên cần chú ý đến việc xây dựng năng lực quản lý và điều hành nhóm [2]
- Luôn thích ứng, không cứng nhắc
Môi trường hoạt động của khuyến nông luôn biến đổi nên cần có tính thích ứng cao Để nguyên tắc này được thực hiện tốt các cán bộ khuyến nông trước hết phải biết lắng nghe từ người dân và để phát hiện ra những yếu tố cần đổi mới Đặc
biệt là với những chương trình dự án có thời gian dài
1.1.2 Câu lạc bộ khuyến nông
1.1.2.1 Khái niệm về câu lạc bộ khuyến nông
Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt, Câu lạc bộ là nơi những người có cùng sở thích đến vui chơi, giải trí như Câu lạc bộ bóng đá, CLB chèo, CLB gia đình trẻ
Câu lạc bộ khuyến nông là một tổ chức quần chúng tự nguyện của nông dân tập hợp lại để trao đổi, chia sẽ những kinh nghiệm nhằm giúp nhau nâng cao hiểu biết về sản xuất nông nghiệp CLB KN là cầu nối chuyển giao khoa học kỹ thuật đến tận người nông dân để áp dụng vào thực tiễn sản xuất CLB KN là nơi tập hợp và phát huy vai trò của nông dân trong cộng đồng, hướng cho nông dân cách làm
ăn tập thể cùng nhau giải quyết các vấn đề khó khăn tồn tại trong sản xuất từng bước nâng cao đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo [17]
CLB là cầu nối giữa hệ thống khuyến nông với bà con nông dân trong việc phổ biến, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ mới vào sản xuất đến từng hộ nông dân, là nơi sinh hoạt, giao lưu trao đổi kinh nghiệm sản xuất giữa bà con nông dân với cán bộ khuyến nông, CLB KN còn là nơi giao lưu, chia sẻ khó khăn trong cuộc sống, giúp nhau về mặt vật chất tinh thần, qua đó gắn bó tình làng nghĩa xóm trong hội viên và trong cộng đồng dân cư CLB KN là cầu nối 2 chiều về mọi mặt cho bà con nông dân [17]
Trang 181.1.2.2 Vai trò của câu lạc bộ khuyến nông
Vấn đề cốt lõi ở đây là làm thế nào để nông dân có điều kiện được thường xuyên học tập những tiến bộ kĩ thuật mới, nội dung học tập xuất phát từ đâu? Ai chịu trách nhiệm giúp đỡ họ? Họ học ở đâu? Hàng loạt câu hỏi được đặt ra
Để giải đáp được các câu hỏi này, thời gian qua nhiều nơi đã lập ra các tổ chức khuyến nông cơ sở như nhóm sở thích, làng khuyến nông tự quản, chi hội khuyến nông, CLB nông dân và CLB KN… Từ đó CLB KN được lập ra nhằm giải quyết những câu hỏi trên của người nông dân [15]
"CLB KN trường học của nông dân" [16].
CLB KN có thể coi là trường học, người nông dân được học tập tiếp xúc, nắm bắt và áp dụng tiến bộ KHKT mới phù hợp với điều kịên sinh thái, trình độ, tập quán, phong tục của địa phương mình qua đó nâng cao được năng suất, sản lượng và chất lượng cây trồng, vật nuôi đáp ứng yêu cầu của thị trường, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi để công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
CLB KN là nơi trao đổi học hỏi kinh nghiệm làm ăn tổ chức đời sống Và đây cũng chính là thước đo tay nghề kết quả cụ thể của mỗi cán bộ khuyến nông CLB là cầu nối giữa hệ thống khuyến nông với bà con nông dân trong việc phổ biến, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ mới vào sản xuất đến từng hộ nông dân, là nơi sinh hoạt, giao lưu trao đổi kinh nghiệm sản xuất giữa bà con nông dân với cán bộ khuyến nông
Mặt khác, còn cho thấy vai trò của CLB hỗ trợ khoa học kỹ thuật thông qua việc tổ chức những sân chơi, qua đó đã trang bị cho nông dân những kiến thức mới, cơ bản là hành trang làm giàu
Đẩy mạnh hoạt động CLB KN cơ sở trực tiếp giúp cho nông dân vươn lên làm giàu và xoá đói giảm nghèo, góp phần tích cực cho công cuộc đổi mới của Đảng và đưa nông nghịêp nông thôn tiến dần lên CNH và hiện đại hoá
Trang 191.1.2.3 Hình thức tổ chức, nội dung hoạt động câu lạc bộ khuyến nông [12], [15], [13] + Hình thức tổ chức CLB: Là một tổ chức hoàn toàn tự nguyện của nông dân
tham gia sinh hoạt để thường xuyên học tập KHKT, trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất và đời sống xã hội cộng đồng CLB cần đơn giản, gọn nhẹ, thiết thực
- Địa điểm: CLB cần có một địa điểm tiện đi lại của các hội viên, đủ ánh sáng,
chỗ ngồi thoải mái, có chỗ bày một số mẫu vật, tủ sách, báo (nếu là thư viện cần
có 1-2 gian riêng)
Địa điểm có thể do UBND xã, HTX tạo điều kiện giúp đỡ, hoặc tìm chọn một nhà của một trong những hội viên rộng rãi, sáng sủa và gia đình nhiệt tình, tự nguyện để CLB sử dụng
- Biển tên: Mỗi CLB Khuyến nông cần có một biểu tên để không những chỉ
gây sự chú ý của các hội viên mà còn làm cho các nông dân khác chưa tham gia có thể đến tìm hiểu, dự thính bên ngoài các buổi sinh hoạt của CLB
- Trang trí và thiết bị của CLB: Bên ngoài cửa chính ra vào có một bảng gỗ
hay làm bảng ngay trên mặt tường để thông báo ngày giờ sinh hoạt hay dán những thông báo, bản tin cho hội viên có nhu cầu đọc thêm, tham khảo
Bên trong phòng phải có trang thiết bị đầy đủ như: bàn, ghế, tủ cất giữ tài liệu… Các CLB phải bằng mọi cách xây dựng cho được tủ sách thật phong phú và
có thể lập thư viện
+ Tổ chức CLB KN
- Quy mô CLB: Nên tổ chức CLB theo quy mô thôn, bản nhất là ở các tỉnh miền núi để tiện cho việc đi lại, quan hệ làng xóm và nhất là đỡ sai khác về điều kiện sản xuất, canh tác, phong tuc tập quán
Tuy vây, ở những vùng dân cư tập trung, tiện đường giao thông đi lại có thể xây dựng CLB theo quy mô xã
- Ban chủ nhiệm CLB: Để tạo điều kiện thuận lợi cho CLB trong sinh hoạt, chủ nhiệm CLB phải là những người có nhiệt tình, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, nhanh nhạy với cái mới
Trang 20Các phó chủ nhiệm: (từ 1-3 người) có thể là đại diện của các đoàn thể, Hội trong thôn xã Ngoài ra cần kế toán, thủ quỹ theo dõi thu chi của CLB
Trợ lý CLB: Các Trạm khuyến nông đều phải phân công cụ thể cán bộ khuyến nông cơ sở trực tiếp chịu trách nhiệm Những nơi chưa có hệ thống cán bộ Khuyến nông cơ sở, thì trạm khuyến nông hoặc trung tâm khuyến nông có trách nhiệm giúp đỡ, hướng dẫn xây dựng nội dung sinh hoạt và các hoạt động khác của CLB Thường xuyên chỉ đạo hoặc mời một số các bộ khoa học của các Viện, trường chuyên sâu về những vấn đề ở địa phương đến trực tiếp hướng dẫn
- Thành lập nhóm sở thích: Những CLB Khuyến nông có quy mô từ 30 hội viên trở lên, nên hưỡng dẫn thành lập các nhóm sở thích theo chuyên đề cây, con, ngành nghề,… Mỗi nhóm có một nhóm trưởng do các nhóm viên bầu ra Các nhóm này phải đảm bảo thường kỳ của CLB, có thể chọn ra một nhà nào đó trong nhóm để làm nơi sinh hoạt
+ Nội dung sinh hoạt của CLB KN:
- Học tập các TBKT mới: Về cây, con, quy trình công nghệ bảo quản, chế biến, về bảo vệ cây trồng, vật nuôi, về máy móc, thiết bị công cụ cải tiến… Tuy vậy cần chọn lọc những TBKT phù hợp, sát với yêu cầu hiện tại của đa số hội viên
- Tổ chức trình diễn phương pháp Đây là phương pháp đạt hiệu quả khá cao
và còn được gọi là phương pháp tập huấn Phương pháp này nhằm chuyển giao cái mới đến cho người nông dân, giúp họ hiểu thêm về cái mới Phương pháp này chỉ
giúp cho người dân tiếp xúc với cái mới trên lý thuyết
- Tổ chức tham quan: Đây là một trong những phương pháp khuyến nông rất phổ biến ở nhiều nước Vì nó có sức thuyết phục cao đối với người xem qua kết quả thực tiễn (mắt thấy, tai nghe, tay làm,…)
Để tổ chức các buổi tham quan có hiệu quả thiết thực, yêu cầu cán bộ Khuyến nông cần lưu ý các việc sau:
_ Thường xuyên theo dõi tình hình sản xuất các mặt trong thôn, xã, chú trọng trao đổi với người sản xuất giỏi ở các lĩnh vực… Đồng thời lắng nghe, tìm tòi để
Trang 21nắm thông tin những nơi có điển hình mới, đến tận nơi tìm hiểu kỹ càng Thấy có lợi thì định ngày giờ tiến hành tổ chức cho CLB đến tham quan để về áp dụng _ Trong khi tham quan, cần yêu cầu người làm mô hình hướng dẫn, trình bày quá trình làm ngay tại ruộng, vườn, ao, chuồng,… các hội viên CLB có thắc mắc, cần trao đổi, hỏi trực tiếp tại chỗ
_ Chú trọng mô hình có kết quả tại chỗ để tổ chức tham quan sẽ đỡ tốn kém đi lại và dễ học tập hơn vì điều kiện sinh thái, phong tục tập quán giống nhau… Ngoài ra tổ chức tham quan, có những mô hình cần phải thực hành, tránh tham quan đơn thuần "cưỡi ngựa xem hoa"
Hiện nay, có một số cán bộ quản lý, chỉ đạo có tư tưởng "bụi chùa nhà không thiêng" quan niệm cứ đi tham quan là phải đi xa chỗ này, chỗ kia mà ít chú ý đến những điển hình ngay trong địa phương mình, cho nên dẫn đến tốn kém, hiệu quả thấp
- Tổ chức làm thực nghiệm: Nhũng tiến bộ kỹ thuật mới của khuyến nông
đang khuyến cáo, song ở địa phương của CLB lại chưa làm nhiều người còn do
dự
Ban chủ nhiệm CLB cần phối hợp với Khuyến nông bàn bạc cụ thể các bước tiến hành: định ngày, giờ phổ biến kỹ thuật, dụng cụ, vật tư và chọn hội viên tích cực và dám nghĩ dám làm thực hiện, bảo đảm thắng lợi cao
- Báo cáo chuyên đề: Trong năm, tuỳ theo yêu cầu của sản xuất và các hội viên
mà dự định số buổi báo cáo chuyên đề về cây trồng, vật nuôi, bảo quản, chế biến, phòng chống dịch bệnh, dân số kế hoạch hoá gia đình…
- Tổ chức đọc sách báo: Trong mỗi buổi sinh hoạt CLB, có thể dành một số
thời gian đầu từ 20'-30' để đọc những bài báo phổ biến những kinh nghiệm hay cho những người đến sớm, đến đúng giờ,…
- Tổ chức xem Video.
- Tập luyện, biểu diễn văn nghệ, thể dục thể thao
Ngoài sinh hoạt học thuật chuyên môn, CLB nên tổ chức các buổi giao lưu văn
nghệ, thể thao…
Trang 22CLB có thể biến những ngày họp thường lệ trở thành buổi hướng dẫn, hội thảo có sự tham gia của cán bộ khuyến nông huyện Chính những việc làm này sẽ tạo được niềm tin cho hội viên và nông dân trong các địa phương.
+ Kinh phí của CLB
Để tạo điều kiện cho ban chủ nhiệm CLB điều hành hoạt động của CLB được thuận lợi và cơ sở vật chất (sách, báo, thiết bị,…) ngày một được nâng cao làm cho hoạt động của CLB ngày càng phong phú hấp dẫn, cần tạo nguồn kinh phí cho CLB bằng các nguồn:
Trích một tỷ lệ nhất định từ quỹ sản xuất của HTX, của UBND xã hỗ trợ Một
số địa phương thông qua quỹ đất giao cho CLB để đấu thầu gây quỹ [13]
Trích phần trăm từ kinh phí của chương trình khuyến nông tỉnh, huyện giao cho CLB đứng ra nhận làm thực nghiệm, làm mô hình trình diễn
Hội phí do các hội viên của CLB đóng góp hành tháng; tuỳ theo từng nơi, từng địa phương để định mức thu hội phí của các hội viên CLB Vấn đề cơ bản là phải được các hội viên thảo luận và đi đến biểu quyết và ghi vào quy chế của CLB Mức hội phí này có thể thay đổi tuỳ theo hoàn cảnh và tình hình sản xuất, đời sống của các hội viên ở từng địa phương
Đóng góp tự nguyện của các cá nhân, đơn vị trong và ngoài nước cho quỹ của CLB
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Hoạt động Khuyến nông và câu lạc bố khuyến nông
1.2.1.1 Hoạt động Khuyến nông
a) Vài nét về tổ chức khuyến nông của các nước trong khu vực và trên thế giới.
Khuyến nông Ấn Độ: Được hình thành từ năm 1960 và tổ chức theo 5 cấp Nhờ có công tác khuyến nông tốt nên Ấn Độ có một nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ Mở đầu là cuộc “Cách mạng xanh” giải quyết được vấn đề lương thực Sau dó là cuộc “Cách mạng trắng” đó chính là sản xuất sữa chuyển sang chăn nuôi bằng cuộc “ Cách mạng nâu” chủ yếu là chăn nuôi bò, trâu (thịt có màu nâu)
Trang 23Khuyến nông Trung Quốc: Năm 1933 ở trường đại học Kim Lăng đã lập ra phân khoa Khuyến nông Nhưng mãi đến năm 1970 Trung Quốc mới có tổ chức khuyến nông Trong kế hoạch 5 năm lần thứ VII về phát triển nông nghiệp, Trung Quốc đã tập huấn cho 1,2 triệu người về công tác khuyến nông và bồi dưỡng cho
150 triệu dân về kiến thức khuyến nông và tiến bộ kỹ thuật mới Đến năm 1997, Trung Quốc đã có hơn 48.500 tổ chức khuyến nông với 31700 KNV, 400.000 tổ chức nông dân với 6,6 triệu mô hình trình diễn của nông dân, hơn 1 triệu nông dân làm kỹ thuật viên Hiện nay Trung Quốc là nước có hệ thống khuyến nông hoàn thiện trên quy mô cả nước [17]
Khuyến nông Thái Lan: Tổ chức khuyến nông được hình thành từ cuối năm
1967 và cho đến năm 1980 Thái Lan đã có mạng lưới khuyến nông quốc gia rộng khắp tỉnh và gắn liền với chương trình sản xuất lương thực xuất khẩu Thái Lan đã
có chính sách đầu tư đúng đắn trong việc đào tạo, cụ thể là hằng năm chính phủ chi ra 130 triệu USD đến 150 triệu USD cho hoạt động khuyến nông Và đến năm
1992 thì Thái Lan có khoảng 16000 cán bộ khuyến nông …
Hiện nay có 200 quốc gia chính thức có tổ chức khuyến nông từ trung ương đến cơ sở Với trình độ cán bộ khuyến nông trên thế giới là: Trên đại học 5%, Đại học 22,9%, Trung cấp 33,3%, Sơ cấp 33,8%.[17]
Nhìn chung thông qua tìm hiểu công tác tổ chức hoạt động khuyến nông của một số quốc gia trên thế giới cho thấy: Khuyến nông đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Nó thúc đẩy cho nông nghiệp ngày càng phát triển bền vững Đặc biệt Việt Nam là một nước đang trong thời kỳ bước vào nền kinh tế thị trường cớ sự định hướng của xã hội chủ nghĩa với gần 70% dân số sinh sống ở nông thôn và là lao động nông nghiệp thuần nông
b) Hoạt động khuyến nông tại Việt Nam
- Từng bước hình thành và tổ chức Khuyến nông
Ngay từ khi Nghị định số 13/CP của Chính phủ ra đời, được sự hướng dẫn của các Bộ, Ngành liên quan, ở các địa phương (tỉnh, huyện, xã) đã thành lập các cơ quan, các đơn vị làm công tác khuyến nông dần dần hình thành hệ thống khuyến nông từ trung ương đến cơ sở và trên phạm vi toàn quốc Ngày 02 tháng 3 năm
1993, Chính phủ ban hành Nghị định 13/NĐ-CP về công tác khuyến nông, hệ
Trang 24thống khuyến nông Việt Nam chính thức hình thành Ở Bộ Nông nghiệp & PTNT, Cục Khuyến nông-Khuyến lâm vừa làm nhiệm vụ quản lý nhà nước vừa làm nhiệm vụ khuyến nông về lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi Việc một đơn vị đồng thời làm nhiệm vụ quản lý nhà nước và dịch vụ công tỏ ra nhiều bất cập, cả hai nhiệm vụ đều không đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi ngày càng cao, phức tạp của tình hình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Chính vì vậy, ngày 18 tháng 7 năm 2003 Chính phủ ban hành Nghị định 86/NĐ-CP, cho phép tách Cục Khuyến nông-Khuyến lâm thành hai đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiêp & PTNT là Cục Nông nghiệp và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Trung tâm Khuyến nông là đơn vị sự nghiệp, có các nhiệm vụ chủ yếu là tham gia đề xuất và ban hành các chính sách,
cơ chế về Khuyến nông; các định mức kinh tế-kỹ thuật; chỉ đạo, tổ chức và hướng dẫn thực hiện công tác chuyển giao TBKT thông qua xây dựng mô hình trình diễn, thông tin tuyên truyền, huấn luyện đào tạo, công tác dịch vụ và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khuyến nông
- Đội ngũ cán bộ
Theo số liệu thống kê đến 31 tháng 12 năm 2007, tổng số cán bộ khuyến nông cấp tỉnh là 1.628 người (bình quân mỗi trung tâm khuyến nông tỉnh có 25,4 người) và cán bộ khuyến ngư là 1.123 người (bình quân 22,4 người/trung tâm) Số cán bộ khuyến nông, khuyến ngư cấp tỉnh có trình độ đại học và cao đẳng chiếm 69,5% Tổ chức ở cấp tỉnh thường gồm ba phòng: Phòng Hành chính Tổng hợp, Phòng Chuyển giao TBKT và Phòng Thông tin - Huấn luyện
Cấp huyện, 585 trong tổng số 648 huyện đã có trạm khuyến nông, với 4.600 cán bộ, nhân viên khuyến nông, khuyến ngư (trong đó số người có trình độ đại học, cao đẳng chiếm khoảng 65%) (bình quân gần 8 người/trạm)
Ở cấp cơ sở, có 10.543 khuyến nông viên, khuyến ngư viên làm việc tại 10.306
xã sản xuất nông nghiệp và 15.749 cộng tác viên khuyến nông, khuyến ngư làm việc theo hình thức tự nguyện tại các thôn, bản [17]
- Hệ tống tổ chức khuyến nông Việt Nam:
Hệ thống khuyến nông nhà nước được chia thành 4 cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã
Trang 25Sơ đồ 1.1 Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam
Chú thích: : Chỉ mối quan hệ phối hợp
Cục khuyến nông và khuyến lâm
Hộ nông dân
Trang 261.1.2.2 Hoạt động câu lạc bộ khuyến nông ở Việt Nam
Từ trước khi tổ chức Khuyến nông nhà nước chính thức ra đời, một số địa phương đã thành lập CLB KN như: Các CLB nông dân giỏi ở các huyện như huyện Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, Tiền Giang, CLB khuyến nông Vân Nội( Đông Anh -
Hà Nội thành lập từ năm 1991 do Trung tâm thông tin và hợp tác quốc tế của Bộ Nông nghiệp chỉ đạo, CLB khuyến nông Cát Quế (Hoài Đức - Hà Tây)
Đến nay, cả nước có hơn 4.000 CLB KN và CLB lồng ghép các loại, trong đó các tỉnh tổ chức được nhiều CLB KN như: Cần Thơ 209 CLB, Tiền Giang 143 CLB, Lào Cai có 138 CLB, Sơn La có 208 CLB, Yên Bái có 32 CLB, Đắc Lắc có
92 CLB Qua hoạt động các loại hình khuyến nông này đã chuyển giao các tiến
bộ khoa học - kỹ thuật, nâng cao kiến thức và phổ biến những kinh nghiệm hay
trong sản xuất, kinh doanh giữa những người nông dân với nhau [17]
Một số nơi có CLB KN điển hình như:
CLB KN ở Cà Mau: Từ năm 1999 đến nay các địa phương trong tỉnh đã phối
hợp với Trung tâm Khuyến nông Cà Mau tổ chức thành lập được 50 CLBKN có trên 1.500 hội viên tham gia Trong đó thành phố Cà Mau: 8 CLB, huyện Thới Bình: 8 CLB, huyện U Minh 13 CLB, huyện Trần Văn Thời 18 CLB, huyện Cái Nước 3 CLB… Thông qua sinh hoạt CLB các hội viên tham gia đã có sự thay đổi
về nhận thức, trình độ kỹ năng sản xuất được nâng lên, tập quán canh tác từng bước được cải thiện, bên cạnh đó CLBKN còn là nơi giao lưu, chia sẻ khó khăn trong cuộc sống, giúp nhau về mặt vật chất tinh thần, qua đó gắn bó tình làng nghĩa xóm trong hội viên và trong cộng đồng dân cư Vì vậy trong những năm qua nhiều CLBKN đã có hội viên vươn lên thoát nghèo, một số vươn lên làm giàu, nhiều mô hình khuyến nông có hiệu quả cho thu nhập từ 50 triệu đồng/ha/năm được hình thành như: Mô hình lúa - cá đồng (CLBKN tập đoàn 10 xã Nguyễn Phích U Minh), mô hình lúa - màu (CLBKN Cơi Năm B xã Khánh Bình Tây Trần Văn Thời), mô hình lúa - tôm (CLBKN ấp 4 xã Trí Phải Thới Bình); mô hình VAC (CLBKN 12 A xã Khánh Bình Trần Văn Thời, CLBKN ấp 3 xã Khánh lâm U Minh); mô hình nuôi cá thâm canh cá rô đồng, cá bổi, cá chình, cá bống tượng
Trang 27(CLBKN khóm 2 thị trấn Trần Văn Thời, CLBKN Kinh Đứng xã Khánh Hưng Trần Văn Thời, mô hình nuôi baba (CLBKN 12 A xã Khánh Bình, CLBKN Kinh chùa xã Trần Hợi Trần Văn Thời) Ngoài ra một số CLBKN còn vận động hội viên góp vốn gây quỹ, tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể địa phương đã xây dựng được quỹ hỗ trợ sản xuất lên đến vài chục triệu đồng như: CLBKN ấp 5 xã Khánh Bình Đông (vốn 50 triệu), CLBKN ấp 10A xã Khánh Bình Đông (vốn 30 triệu), CLBKN Kinh chùa xã Trần Hợi (vốn 10 triệu), CLBKN ấp Kinh Đứng xã Khánh Hưng (vốn 10 triệu) nhờ có nguồn vốn này mà các hội viên có điều kiện thực hiện mô hình sản xuất nhằm tăng thêm thu nhập, tháo gỡ được những khó khăn nhất là khi sản xuất gặp rủi ro thiên tai [17]
CLB KN tại Bắc Giang: Huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang có 26 CLB khuyến
nông cơ sở, tập trung chủ yếu ở các xã: Dương Đức, Tiên Lục và Tân Thanh Bà
Hà Ngọc Hoa, Trưởng Trạm Khuyến nông huyện đánh giá: CLB khuyến nông cơ
sở không chỉ là "Trường học của nông dân mà còn là cầu nối hiệu quả để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật" Tất cả các mô hình thực hiện qua CLB khuyến nông đều
thành công và nhân rộng, vì tập hợp được nhiều người có cùng khả năng tham gia Những năm qua, nhờ các CLB khuyến nông, nhiều loại cây, con giống mới như: Lúa thuần ĐB5, ĐB6, lúa lai Nhị ưu 838, bí xanh, dưa chuột bao tử, ngô ngọt, lợn siêu nạc, cá Diêu hồng, rô phi đơn tính được đưa vào sản xuất Hiện nay, 100% diện tích lúa, lạc trên địa bàn huyện được gieo trồng bằng các giống mới có năng suất, chất lượng cao Nhiều công thức luân canh mới cho thu nhập từ 50-120 triệu đồng/ha/năm như: Dưa chuột bao tử - Lúa mùa – Cà chu bi; Lúa xuân - Cải dưa – rau vụ đông – Kim tiền thảo; Lúa xuân - Đậu tương hè – Cây sinh địa; Lúa xuân – Lúa mùa - Lạc thu đông Hiện nay, trên địa bàn huyện Lạng Giang, mỗi CLB khuyến nông đều có một tủ sách kỹ thuật Nông – Lâm – Ngư nghiệp giúp bà con tìm hiểu học tập Nhiều địa phương còn trích ngân sách hỗ trợ kinh phí hoạt động cho CLB khuyến nông.[17]
Và rất nhiều CLB KN khác hoạt động đem lại hiệu quả rất cao
1.2.2 Hoạt động câu lạc bộ khuyến nông tại Nghệ An
Trang 28Thực hiện Nghị quyêt 8 của Trung ương về công nghiêp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Để tạo đà cho công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, trước mắt cần xây dựng một mạng lưới khuyến nông cơ sở Trong mạng lưới khuyến nông cơ sở thì có CLB KN là một tổ chức khuyến nông vững mạnh sẽ đủ sức chuyến giao cho nông dân TBKT mới vào sản xuất nông nghiệp CLB KN sẽ tuyên truyền tới hộ nông dân những thôn tin mới để bà con tự
áp dụng vào sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao kể cả thông tin về kinh tế và thị trường
Việc chuyển tải thông tin cho nông dân được thực hiện từ trung ương đến địa phương xuống cơ sở qua mạng lưới khuyến nông bằng nhiều kênh thông tin khác nhau Nhưng trong thực tế số hộ tham gia sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Nghệ An chiếm tới gần 90% Vì vậy việc tổ chức các lớp tập huấn, tham quan của Trạm khuyến nông đến từng hộ nông dân là hết sức khó khăn và hạn chế Các CLB KN
cơ sở sẽ là những đơn vị trực tiếp hướng dẫn kỹ thụât cho nông dân với quy mô gia đình qua các mô hình trình diễn, nông dân được tận mắt nhìn thấy cho nên dễ tiếp thu và làm theo
Thực tế ở tỉnh Nghệ An những xã nào có CLB KB hoạt động mạnh thì ở đó việc chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới dễ dàng và đem lại hiệu quả kinh tế cao
Ví dụ như ở xã Thọ Thành huyện Yên Thành CLB KN đóng vai trò chủ lực trong việc chuyển giao TBKT cho nông dân
Trung tâm khuyến nông tỉnh, huyện cùng bà con nông dân các CLB KN xây dựng mô hình trình diễn, thông qua mô hình đưa TBKT mới vào sản xuất nông nghiệp Các CLB KN cơ sở vừa là hệ thống phối hợp, vừa là người trực tiếp tác chiến, xây dựng mô hình
Theo tìm hiểu Chị Phạm Thị Hà An phó Ban tuyên giáo Hội Liên hiệp Phụ nữ Nghệ An cho biết Tổng kết 10 năm xây dựng CLB từ 1998-2007, trong toàn tỉnh
đã xây dựng 5195 CLB, bao gồm khoảng 85 loại hình Trong đó CLB Không sinh con thứ 3 có 1044; Bà nội bà ngoại 600; Tín dụng tiết kiệm 595; Văn hóa văn nghệ 583; Lồng ghép 357; Mẹ chồng nàng dâu 319; Gia đình hạnh phúc 107… Nhìn
Trang 29chung thuộc lĩnh vực văn hóa xã hội còn CLB mang màu sắc kinh tế rất khiêm tốn chỉ có 56 CLB KN, 32 CLB kinh tế lồng ghép với các tổ chức khác, 21 CLB chăn nuôi.[17]
Kết quả sản xuất nông nghiệp Nghệ An!
Sản lượng lương thực đạt 1.143.852 tấn năm 2006/832.399 tấn năm 2000, tăng 137,42% Trong đó: Sản lượng lúa đạt 911.267 tấn năm 2006/753.643 tấn năm
2000, tăng 120,92% trong điều kiện diện tích lúa giảm từ 186.838ha năm 2000 xuống còn 182.135ha năm 2006 chuyển diện tích này sang cây trồng khác phù hợp
và có hiệu quả kinh tế cao hơn Sản lượng ngô đạt 232.544 tấn năm 2006/ 78.672 tấn năm 2000, tăng 295,59% [17]
Hình thành các vùng nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu như: Diện tích chè tăng từ 3.728ha năm 2000 lên 5.479ha năm 2006 (tăng 146,97%), Sản lượng chè tăng từ 11.984tấn năm 2000 lên 32.098tấn năm 2006 (tăng 267,84%) Diện tích cà phê giảm từ 2.988ha năm 2000 xuống còn 1.853ha năm 2006 (giảm 37,99%), Sản lượng càphê tăng từ 400tấn năm 2000 lên 1.630tấn năm 2006 (tăng 340%); Diện tích cao su tăng từ 3.564ha năm 2000 lên 3.937ha năm 2006 (tăng 110,47%), Sản lượng cao su tăng từ 497tấn năm 2000 lên 1.630tấn năm 2006 (tăng 327,97%) Diện tích dứa tăng từ 1.250ha năm 2003 lên 1.752ha năm 2006 (tăng 140,16%), Sản lượng dứa tăng từ 22.545tấn năm 2003 lên 32.504tấn năm 2006 (tăng 144,17%); Diện tích sắn tăng từ 11.284ha năm 2003 lên 15.233ha năm 2006 (tăng 135%), Sản lượng sắn tăng từ 149.925tấn năm 2003 lên 313.380tấn năm
2006 (tăng 209,03%) Diện tích cam tăng từ 2.150ha năm 2003 lên 3.005ha năm
2006 (tăng 139,77%), Sản lượng cam tăng từ 13.904tấn năm 2003 lên 25.005tấn năm 2006 (tăng 179,84%) [17]
Qua những kết quả cơ bản sản xuất nông nghiệp của ngành trồng trọt giai đoạn 2000-2006 Nhìn chung sản xuất nông nghiệp phát triển đi lên, tuy nhiên có một thực
tế đáng buồn là đời sống của nông dân không những không tăng mà thậm chí còn giảm? Người dân phải sống chật vật với nông nghiệp, một thực tế đã xuất hiện và không ngừng phát triển là một số khá đông nông dân ít mặn mà với sản xuất nông
Trang 30nghiệp Họ bỏ ruộng ra thành phố để làm thuê Xu thế này không chỉ diễn ra ở các huyện lân cận thành phố Vinh như: Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc mà còn phổ biến ở nhiều huyện khác trong tỉnh Khó khăn của người nông dân hiện rất nhiều, khái quát qua một số khó khăn cơ bản sau có thể thấy rõ điều đó
Nông nghiệp Nghệ An cần lấy mục tiêu là xác định xây dựng nền sản xuất hàng hoá có năng suất, chất lượng và có sức cạnh tranh cao, phát triển bền vững trên cơ sở các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến Nước ta đã là thành viên chính thức của tổ chức WTO, vì lẽ đó chúng ta đang có nhiều cơ hội nhưng cũng không ít những khó khăn thách thức Trên cơ sở định hướng đó, UBND các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở cần tăng cường công tác quy hoạch, chỉ đạo sản xuất vận động nhân chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ hợp lý
1.2.3 Những tồn tại và bài học kinh nghiệm trong hoạt động câu lạc bộ khuyến nông ở Nghệ An
+ Những tồn tại trong việc tổ chức thành lập CLB:
- Một số CLB khuyến nông các buổi sinh hoạt diễn ra một cách hình thức, kém hiệu quả, hội viên tham gia không đầy đủ, nội dung sinh hoạt chưa lôi cuốn hấp dẫn hội viên, chưa giúp được nhiều cho việc giải quyết những khó khăn, chưa đáp ứng đầy đủ quyền lợi của người nông dân
- Người nông dân ở vài nơi còn hạn chế về trình độ, khả năng nhận thức không giống nhau, còn mang tính bảo thủ, cục bộ
- Việc xây dựng kế hoạch hoạt động cho CLB chưa được cụ thể, rõ ràng
- Phần nhiều chưa giải quyết được bài toán đầu ra của sản phẩm
- Vấn đề tài chính và quản lý tài chính trong CLB gặp nhiều hạn chế, nhất là trong việc huy động vốn, gây quỹ trong CLB
- Các tiến bộ kỹ thuật ứng dụng trong sản xuất nhiều khi không mang lại hiệu quả đã ảnh hưởng đến các hoạt động khác
- Ban quản lý các CLB có vai trò đặc biệt cho sự tồn tại phát triển của CLB, những hiện nay đa số chưa được đào tạo có bài bản về các kỹ năng, những kiến thức để điều hành quản lý lãnh đạo CLB
Trang 31- Việc thành lập CLB dựa trên cơ sở tự nguyện nên người lãnh đạo CLB hoạt động không có lương mà chỉ hưởng lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ kinh doanh
và một số quyền lợi khác, cho nên ở những CLB hoạt động kém hiệu quả không khuyến khích được ban quản lý tận tâm nhiệt tình lo nghĩ cho CLB
Nguyên nhân một số CLB khuyến nông đã thành lập nhưng hoạt động kém hiệu quả hoặc bị tan rã.
- CLB thành lập tự phát, theo phong trào, không có quy chế tổ chức chặt chẽ
- Không có nội dung hoạt động cụ thể thường xuyên và thiết thực
- Không đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của đại đa số các hộ nông dân
- Thành lập cho có hình thức, mỗi năm sinh hoạt 1 - 2 lần
- Trình độ cán bộ Khuyến nông trợ giúp và ban chủ nhiệm CLB yếu cả về tổ chức và trình độ chuyên môn
+ Kinh nghiệm bước đầu thu được từ CLB KN hoạt động tốt trong thời gian qua.
- CLB phải có ban chủ nhiệm nhiệt tình với công việc, nắm vững được các nguyên tắc yêu cầu và các bước trong quá trình thành lập CLB
- CLB có quy chế rõ ràng, được các hội thảo viên thảo luận thông suốt và tự giác chấp hành
- Có tổ chức chặt chẽ, được các cấp uỷ Đảng và Chính quyền ủng hộ và tham gia hoạt động CLB
- Có nội dung sinh hoạt thiết thực đáp ứng được yêu cầu của đa số các hộ nông dân theo thời vụ trong năm, đem lại năng suất, chất lượng cao (cây trồng, vật nuôi)
và góp phần tăng thu nhập của các hội viên CLB
- Các cán bộ khuyến nông cơ sở nắm vững chuyên môn và nghiệp vụ khuyến nông hỗ trợ đắc lực cho ban chủ nhiệm CLB
- Ban chủ nhiệm nhiệt tình, có tinh thầm trách nhiệm và thường xuyên có mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức hội, đoàn thể địa phương và khuyến nông Nhà nước, với các Viện, trường, các trung tâm nghiên cứu, đào tạo về khoa học kỹ thuật nông, lâm nghiệp hoặc với các cán bộ khoa học nông lâm nghiệp đã về hưu sống ở địa phương
Trang 32Chương 2 NỘI DUNG ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động (cơ sở hạ tầng, công tác tổ chức, kết quả đạt được) CLB KN trên địa bàn nghiên cứu
- Tác động của CLB KN đến sản xuất nông nghiệp của hộ điều tra
2.2 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cán bộ khuyến nông huyện, cán bộ CLB KN trên địa bàn 2 xã Nam Lộc
và Nam Giang
- Hội viên CLB KN xã Nam lộc và xã Nam Giang
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài thực hiện từ ngày 16/02/2009 đến ngày 20/04/2009
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn 2 xã thuộc huyện Nam Đàn là xã Nam Lộc và xã Nam Giang
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Trong nghiên cứu chúng tôi lựa chọn 2 xã Nam Lộc và xã Nam Giang làm điểm nghiên cứu CLB KN xã Nam Lộc được thành lập sớm nhất và có nhiều đóng góp cho sự phát triển nông nghiệp của xã CLB KN xã Nam Giang là một trong những CLB hoạt động kém hiệu quả
- Chúng tôi chọn mẫu nghiêm cứu ngẫu nhiên
+ Đối với cán bộ chúng tôi tiến hành phỏng vấn: Cán bộ Trạm khuyến nông, ban chủ nhiệm CLB KN, cán bộ 2 xã
+ Đối với hội viên CLB: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn 30 hội viên của CLB KN xã Nam Lộc và 20 hội viên CLB KN xã Nam Giang
Trang 33Bảng 2.1 Bảng dự kiến số phiếu điều tra và con số thực
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu thứ cấp tại huyện thông qua các báo cáo tổng kết năm 2007,
2008, các số liệu thống kê lưu trữ về đất đai, dân số, cơ sở hạ tầng của huyện - Các tài liệu liên quan đến CLB KN
- Các báo cáo về hoạt động sản xuất nông nghiệp huyện, xã Nam Lộc và xã Nam Giang
2.3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập bẳng phỏng vấn trực tiếp các cán bộ và hội viên
CLB
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel.
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu hiệu quả kinh tế
- Giá trị sản xuất (GO)
GO = ∑ Qi.Pi Trong đó: - Qi : là sản lượng cây trồng vật nuôi thứ i
- Pi : Là giá sản phẩm thứ i GO: Tổng giá trị sản xuất nông nhiệp trong năm
Giá trị gia tăng (VA): Là phần chênh lệch giữa giá trị sản xuất (GO) và chi phí trung gian (IC) ngành nông nghiệp
IC: Là toàn bộ chi phí vật chất dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất nông nghịêp Nó không tính đến chi phí lao động gia đình
Thu nhập hỗn hợp (MI): MI = VA – (Chi phí dịch vụ, lao động thuê ngoài)
Chỉ tiêu hiệu quả
Trang 34Để phản ánh hiệu quả của hoạt động CLB KN trong quá trình tìm hiểu, đánh giá, so sánh, nghiên cứu tôi sử dụng một số chỉ tiêu hiệu quả:
GO/IC: Giá trị sản xuất tăng thêm khi tăng thêm một đồng chi phí trung gian VA/IC: Giá trị tăng thêm khi sử dụng thêm một đồng chi phí trung gian
MI/IC: Phần thu nhập hỗn hợp thu thêm khi tăng thêm một đồng chi phí trung gian
2.5 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.5.1 Điều kiện về tự nhiên
2.5.1.1 Vị trí địa lý
Nam Đàn là huyện nửa đồng bằng, nửa đồi núi Diện tích tự nhiên là 29382,02
ha, rộng 10 km từ Tây sang Đông, dài 30 km từ Bắc xuống Nam Trung tâm huyện cách thành phố Vinh 20 km, cách thủ đô Hà Nội 300 km Đi qua huyện có 2 trục giao thông lớn là quốc lộ 46 và 15A Cả huyện có 23 xã và 1 thị trấn và có 158.182 người dân sinh sống Huyện nằm ở hạ lưu, tả ngạn sông Lam
Toạ độ địa lý:
Từ 180 30’ đến 180 47’ vĩ độ Bắc, từ 105025’ đến 105031’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc và huyện Đô Lương
Phía Nam giáp huyện Hương Sơn và huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh
Phía Tây giáp huyện Thanh Chương
Phía Đông giáp huyện Hưng Nguyên
Với vị trí huyện Nam Đàn thuận tiện trong giao lưu với các đơn vị trong và ngoài tỉnh thông qua hệ thống đường bộ và đường thuỷ Nằm trên trục đường quóc
lộ 46, quốc lộ 15A, mạng lưới giao thông phát triển Đây là điều kiện thuận lợi cho huyện phát triển về mọi mặt
2.5.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng
- Địa hình
Nằm hẹp giữa 2 dãy núi Đại Huệ ở phía Bắc và dãy Thiên nhẫn ở phía Tây tạo
ra thung lũng, đồng bằng hình tam giác, có sông Lam chảy dọc theo hướng bắc nam, chia huyện thành 2 vùng, tả ngạn và hữu ngạn sông Lam:
Trang 35- Địa hình đồng bằng: Bị chia cắt bởi sông Lam và sông Đào và có những quả đồi thấp độc lập tạo nên những dòng chảy cục bộ nhỏ hẹp Mặt đất cao thấp không đều gây khó khăn cho việc xây dựng các công trình thủy nông nội đồng.
- Địa hình đồi núi: Gồm khu vực sườn nam dãy núi Đại Huệ và khu vực sườn phía đông bắc dãy núi Thiên Nhẫn, địa hình bị chia cắt mạnh
- Thổ nhưỡng
Nam Đàn có 13 loại đất được tổng hợp thành 5 nhóm:
+ Nhóm đất ven sông (Cb) diện tích 384ha chiếm 1,3% diện tích toàn huyện phân
bố rải rác ở các xã ven sông Bãi cát thô chỉ làm vật liệu xây dựng, còn bãi cát mịn
có thể trồng bầu bí, dưa đỏ trong mùa khô
+ Nhóm đất phù sa (P) diện tích 10282ha, chiếm 34,84% diện tích toàn huyện Nhóm này có 5 loại đất chính là đất phù sa được bồi hàng năm (1795ha), đất phù
sa không được bồi (1562ha), đất phù sa glây (5241ha), đất phù sa có tầng loang lổ
đỏ vàng (1647ha), đất phù sa úng nước (37ha)
+ Nhóm đất xám bạc màu: Diện tích 2485ha, chiếm 8,41% diện tích toàn huyện.+ Nhóm đất đỏ vàng: Diện tích 11302ha chiếm 38,28% diện tích toàn huyện Nhóm đất này có 3 loại chính là đất đỏ vàng trên đất sét (7101ha), đất đỏ vàng trên
đá macma axit (3596ha), đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (605ha)
+ Nhóm đất thung lững do sản phẩm dốc tụ, diện tích 112ha, chiếm 0,38% diện tích đất tự nhiên
2.4.1.3 Chế độ khí hậu
Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn tương đối khắc nghiệt Hàng năm mùa hanh khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 Bão lụt thường xảy ra vào tháng 9 và tháng 10 dương lịch, gây úng lụt trên diện tích rộng, có lúc kéo dài trong một thời gian dài
Nam Đàn nằm trong khí hậu chuyển tiếp, vừa mang đặc tính mùa đông lạnh của khí hậu miền Bắc, vừa mạng đặc tính nắng nóng của miền Nam, chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ cao tuyệt đối là 400C, mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ bình quân là 19,90C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 6,20C Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 1637 giờ
Trang 36Bảng 2.2 Số liệu khí tượng và khí hậu huyện Nam Đàn bình quân trong 4
42,532,33135,769,3126,9192203442437,595,478,2
85,087,589,590,087,083,585,289,485,881,783,582,3
Nguồn: Cục khí tượng thuỷ văn tỉnh Nghệ An
Lượng mưa trung bình năm là 1900 mm, năm mưa lớn nhất là 2600 mm, năm mưa nhỏ nhất là 1100 mm Lượng mưa phân bố không đều, mưa nhiều từ trung tuần tháng 9 đến đầu tháng 10 gây úng ngập cục bộ ở các vùng thấp Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 4, lượng mưa ít chỉ chiếm 10 % lượng mưa cả năm, gây nên khô hạn nghiêm trọng
Có 2 hướng gió chính là gió mùa Đông Nam (tháng 4 - tháng 10) và gió mùa Đông Bắc (tháng 11 - tháng 4 năm sau) Trong các tháng 5, 6, 7 thường có gió Tây Nam khô nóng, gây ảnh hưởng xấu cho cây trồng
Độ ẩm không khí: Bình quân 86 %, lượng bốc hơi bình quân 943 mm/năm
2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.4.2.1 Tình hình đất đai và sử dụng đất của huyện qua 2 năm 2007 - 2008
Tài nguyên đất của huyện và thực trạng sử dụng trong năm 2007 - 2008 được trình bày trong bảng 2.3
Trang 37Bảng 2.3 Thực trạng sử dụng tài nguyên đất của huyện Nam Đàn năm
2007-2008
Loại đất DT 2007 (ha) DT tăng (ha)
DT giảm (ha)
DT 2008 (ha)
8,0012,00-
-53,8852,381,50,400,90-
11941,9010030,431911,477543,98523,0930,04
13,4713,250,2240,21
1,951,600,355,302,00-
782,78760,5822,203246,941599,26341,06
-0,408,85-
577,832390,75404,04
Nguồn: Phòng thống kê huyện Nam Đàn
Bảng 2.3 cho ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 29382,03 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp của huyện là 20074,55 ha năm 2007 đến năm
2008 là 20039,37 ha giảm 53,88 ha Diện tích này được sử dụng vào việc xây dựng các trụ sở cơ quan, được làm nhà ở tại nông thôn và thị trấn, xây dựng các khu công nghiệp, làm đường giao thông Tuy nhiên bù lại do chuyển được một
Trang 38phần diện tích đất đồi núi chưa sử dụng sang trồng rừng sản xuất nên diện tích đất nông nghiệp tăng lên 7,6 ha, và chuyển một phần diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang đào ao NTTS nên diện tích NTTS tăng 11,1 ha
Trong vòng một năm (2007 - 2008) diện tích đất phi nông nghiệp tăng đáng kể: 44,43 ha, đất chuyên dùng tăng 34,91ha do địa phương đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, công nghiệp như tuyến đường du lịch ven sông Lam, khu công nghiệp Nam Giang diện tích đất ở tăng so với 2006 là 11,52 ha Trong đó đất ở nông thôn tăng 10,02 ha đất ở thị trấn tăng 1,5 ha Diện tích tăng được lấy từ đất trồng lúa, đất màu, đất ao, đất cây lâu năm, đất rừng sản xuất Mặt khác diện tích đất ở cũng giảm 1,95 ha do chuyển sang đất công nghiệp, đất giao thông và di tích thắng cảnh
Diện tích đất chưa sử dụng có giảm được 9,25 ha so với năm 2007 nhưng vẫn đang còn lớn: 337,26 ha (2007) Trong đó đất đồng bằng là 577,83 ha, đất đồi núi
là 23890,75 ha, núi đá không có rừng cây là 404,04 ha Đây là phần diện tích đất đai mà trong thời gian tới UBND các cấp phải có chính sách khuyến khích để người dân mạnh dạn đầu tư vào phát triển kinh tế trang trại Đưa kinh tế trang trại của huyện phát triển mạnh và bền vững, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân
2.4.2.2 Tình hình dân số và lao động của huyện qua 3 năm (2006 - 2008)
Dân số
Nam Đàn là một trong những huyện nằm ở vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Nghệ An, có 23 xã và một thị trấn, trong đó có 19 xã được xếp vào diện nghèo của huyện Theo số liệu thống kê năm 2008 tổng số dân trong toàn huyện là 158.237 người, trong đó 81.407 nữ và 76.830 nam Trong đó số hộ nông nghiệp là 65.189 (bảng 2.4)
Tỉ lệ dân số tự nhiên là 1,02% Mật độ dân số trung bình là 49 người/km2 Dân cư phân bố không đều ở khu vực thị trấn mật độ lên tới 800 người/km2 trong khi ở các xã mật độ khoảng 30 - 68 người/km2
Lao động
Trang 39Lao động trong độ tuổi năm 2008 là 81.434 người chiếm 51,64 % dân số của huyện, trong đó lao động nữ là 41.481 người, 71,9% tổng số dân có thu nhập chính
từ sản xuất nông nghiệp Hiện nay số lao động chưa có việc làm khoảng 4000 người Hàng năm có khoảng 2000 người bước vào tuổi lao động có nhu cầu tìm kiếm việc làm
Trình độ lao động
Số người trong độ tuổi lao động có trình độ cấp III chiếm 10%, cấp II chiếm 64,1%, cấp I chiếm 16,4% số người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ chỉ chiếm 4,2% so với số lao động trong độ tuổi Trong đó có bằng cao đẳng hoặc đại học chiếm 0,25%, trung học chuyên nghiệp 3,1%, công nhân kỷ thuật có bằng 0,8%, không bằng 0,6%
2.4.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội trên địa bàn huyện
+ Công trình thuỷ lợi
Đến nay toàn huyện đã xây dựng được 65 trạm bơm tưới kể cả trạm bơm chuyền và hơn 40 hồ đập lớn nhỏ với tổng diện tích theo thiết kế trên 9643ha Nguồn nước chính cung cấp cho các trạm bơm nội đồng của huyện là sông Lam, sông Đào
Hệ thống thuỷ lợi Nam Đàn đã được đầu tư khá lớn góp phần quan trọng vào chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tham canh, tăng vụ mở rộng diện tích canh tác và phòng chống lũ lụt
+ Đường giao thông
Hệ thống giao thông phân bố rải đều khắp lãnh thổ huyện (đường bộ và đường thuỷ)
Đường bộ: Tổng chiều dài các tuyến đường ôtô trên huyện là 301,4km trong đó:
- Quốc lộ 46 từ Vinh qua huyện dài 20km
- Quốc lộ 15A từ phía nam (xã Nam Kim) lên phía tây bắc huyện (xã Nam Hưng) qua 7 xã hữu ngạn sông Lam, thị trấn và 4 xã vùng Tây Bắc dài 36,6km
- Các tuyến đường huyện tổng chiều dài 123km, đường xã, liên xã và xóm 1107 km