Cũng như pháp luật phá sản của các nước trên thế giới, luật phá sản củaViệt Nam quan tâm trước hết đến quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủtục phá sản của các chủ nợ, của người lao đ
Trang 1Trờng đại học vinh
Khoa luật -
Bùi Tùng Lâm
Thực trạng giải quyết phá sản ở công ty TNHH đèn hình orion - Hanel và một số giải pháp hoàn thiện luật phá sản năm 2004
Khoá luận tốt nghiệp đại học Chuyên ngành: cử nhân luật
Vinh - 2011
Trang 2Trờng đại học vinh
Khoa luật -
Thực trạng giải quyết phá sản ở công ty TNHH đèn hình orion - Hanel và một số giải pháp hoàn thiện luật phá sản năm 2004
Chuyên ngành: cử nhân luật
Giảng viên hớng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Tuyết Sinh viên thực hiện: Bùi Tùng Lâm
Lớp: 48B1 - Luật
MSSV: 0755038083
Vinh - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp đại học này, ngoài sự nỗ lựccủa bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tìnhcủa quý thầy cô trong Khoa luật - Trường Đại Học Vinh và đặc biệt là côgiáo, Thạc sĩ - Nguyễn Thị Tuyết
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Luật Trường Đại Học Vinh đã tận tình dạy bảo tôi trong suốt thời gian học tập tạitrường
-Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các anh chị và bạn bè đã ủng hộ, giúp
đỡ, động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cô giáo, Thạc sĩ - NguyễnThị Tuyết người đã giành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn và giúptôi hoàn thành khoá luận
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện khoá luận bằng tất cả sựnhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những saixót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Vinh, tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Bùi Tùng Lâm
Trang 4MỤC LỤC
Trang QUY ĐỊNH CHỮ VIẾT TẮT A MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài 2
4 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 3
5 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa của đề tài 3
7 Kết cấu của đề tài 4
B NỘI DUNG 5
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phá sản và thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 5
1.1 Khái quát về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường 5
1.2 Thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 11
Chương 2: Thực trạng giải quyết phá sản công ty TNHH Đèn hình ORION -HANEL, và một số giải pháp hoàn thiện luật phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 2004 39
2.1 Tình hình phá sản doanh nghiệp từ năm 2004 đến nay 39
2.2 Thực trạng giải quyết phá sản ở công ty TNHH đèn hình Orion - Hanel 44
2.3 Một số giải pháp góp phần hoàn thiện Luật phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã năm 2004 52
C KẾT LUẬN 69
Trang 5QUY ĐỊNH CHỮ VIẾT TẮT
DN, HTX : Doanh nghiệp, hợp tác xãTNHH : Trách nhiệm hữu hạn BLDS : Bộ luật dân sự
LPS : Luật phá sản
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hòa chung với không khí sôi nổi của toàn cầu, đất nước chúng ta đangtrong thời kỳ phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa Như chúng ta đã biết
từ năm 1986 nhà nước đã có chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường.Trong thời gian qua đã thấy được những thành tựu đạt được rất to lớn từ nềnkinh tế thị trường mang lại, điều này chứng tỏ đường lối mà Đảng và Nhànước ta vạch ra và đang đi là rất đúng đắn Những kết quả này chính là dấuhiệu và nó thể hiện đúng sức mạnh của nền kinh tế thị trường mang tiềm năng
và hiệu quả đồng thời ta có thể thực hiện công cuộc dân giàu, nước mạnh xãhội công bằng văn minh Trong nền kinh tế thị trường, do sự tác động của quyluật kinh tế trong đó có quy luật cạnh tranh nên đã làm nảy sinh các mối quan
hệ mới mà bản thân kinh tế kế hoạch hoá không hàm chứa được Có nhữngdoanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả nhưng cũng có những doanh nghiệpkinh doanh thua lỗ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán nợ Khi mộtdoanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản đã làm nảy sinh nhiều mối quan
hệ phức tạp cần được giải quyết Chẳng những quan hệ nợ nần giữa các chủ
nợ với doanh nghiệp mắc nợ, quan hệ giữa doanh nghiệp mắc nợ với ngườilao động do tình trạng mất khả năng thanh toán nợ gây ra Đây chính là mốihiểm họa đối với sự phát triển của đất nước
Với tình hình nêu trên thì có lẽ tình trạng phá sản được xuất phát từ rấtnhiều nguyên nhân nhưng quan trọng nhất ta cần phải nhắc đến đó chính làluật phá sản doanh nghiệp Thực tế cho thấy luật phá sản và những văn bảnhướng dẫn thi hành còn chưa đủ, chưa phù hợp, với thực tiễn áp dụng vàchính những hạn chế này gây ra những khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền
Trang 7mạnh dạn chọn đề tài “Thực trạng giải quyết phá sản ở công ty TNHH đèn
hình Orion - Hanel và một số giải pháp hoàn thiện Luật phá sản năm 2004” làm khoá luận tốt nghiệp cho mình.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Có thể nói hiện nay vấn đề “phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã” đang
là một vấn đề nóng hổi được dư luận hết sức quan tâm, đặc biệt là đối với cácdoanh nghiệp Ở nước ta các doanh nghiệp mới thành lập thì thật sự còn lúngtúng rất nhiều trong việc hoạt động kinh doanh và làm như nào để hoạt độngkinh doanh có thể đem lại hiệu quả tốt nhất thì còn vướng rất nhiều khó khăn
Từ trước đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này dưới nhữnggóc độ khác nhau, chẳng hạn như:
- PGS.TS Đặng Văn Thanh với đề tài “Dấu hiệu xác định doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản” Tạp chí nghiên cứu Lập Pháp - số 7/2004
- Phạm Xuân Lê với đề tài: “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật phá sản các chủ thể” đăng trên số 23/2005 Báo tuổi trẻ.
- Nguyễn Thanh Yên với bài viết: “Tình trạng doanh nghiệp chết mà
không được chôn” đăng trên tạp chí pháp luật số 3/2005.
- Lê Đăng Doanh với bài viết: “Cạnh tranh là sáng tạo, phá sản là
sáng tạo” đăng trên số 13/2005 Báo tuổi trẻ.
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu là Luật phá sản doanh nghiệp, hợptác xã năm 2004 cho đến nay và thực trạng yêu cầu phá sản ở công ty TNHHđèn hình ORION - HANEL Bên cạnh đó có thể khảo sát thêm những vấn đềliên quan đến pháp luật phá sản của một số nước trên thế giới
Trang 8Đối tượng nghiên cứu:
Chính là những thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã điểnhình là công ty TNHH đèn hình ORION - HANEL
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích, đánh giá, những thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp theo pháp luật hiện nay Từ đó đề xuất những giảipháp, nâng cao hơn nữa chất lượng của hoạt động giải quyết yêu cầu phá sảndoanh nghiệp
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
- Nêu lên vai trò của Luật phá sản trong nền kinh tế
- Thực trạng phá sản ở công ty TNHH đèn hình Orion - Hanel
Để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện Luật phá sản doanhnghiệp, hợp tác xã 2004
5 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu của đề tài là chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về pháp luật
-Trong bài viết của mình tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiêncứu như: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phươngpháp so sánh, phương pháp khái quát, phương pháp duy vật biện chứng,phương pháp logic, phương pháp điều tra, khảo sát,… trong đó phương phápphân tích, hệ thống là phương pháp chủ đạo
6 Ý nghĩa của đề tài
- Về lý luận, những kiến nghị của đề tài sẽ góp phần vào việc nâng cao
chất lượng của pháp luật phá sản doanh nghiệp hợp tác xã hiện nay
Trang 9- Về thực tiễn, đề tài đã đưa ra những giải pháp cụ thể để hoàn thiện
pháp luật phá sản và giúp cho những người có thẩm quyền áp dụng luật đểgiải quyết thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản một cách thỏa đáng, hợp với lòngdân và có được độ tin cậy cao nhất ở nhân dân
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nộidung chính của đề tài bao gồm 2 chưong:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phá sản và thủ tục giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng giải quyết phá sản công ty TNHH đèn hình
Orion- Hanel và một số giải pháp hoàn thiện luật phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 2004.
Trang 10B NỘI DUNGCHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁ SẢN
VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ
PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Khái quát về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Phá sản doanh nghiệp là hiện tượng một doanh nghiệp trong hoạt độngkinh doanh thương mại, nhưng vì một lý do nào đó (quản lý kém, bị thiên tai,hỏa hoạn ) nên không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn.Nguồn gốc của thuật ngữ phá sản được giải thích theo nhiều quan niệm khácnhau Ở các nước châu Âu, khi nói đến phá sản người ta thường dùng thuậtngữ“Bankruptcy” hoặc “Banqueroute” Từ này bắt nguồn từ chữ Banca Rottatrong tiếng La Mã cổ có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy” Thời đó, các thương giacủa thành phố thường tập trung lại thành “hội nghị các thương gia”, thươnggia nào mất khả năng thanh toán nợ cũng đồng thời mất luôn quyền tham giahội nghị, do đó ghế của thương gia này bị đem ra khỏi hội trường [2;1]
Tiếng La - tinh phá sản được hiểu là chữ “ruin”, có nghĩa là “sự khánhtận” Khái niệm này dùng để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi củamột doanh nghiệp Biểu hiện trực tiếp của sự mất cân đối ấy là tình trạng mấtkhả năng thanh toán nợ đến hạn Đứng dưới khía cạnh kinh tế thì phá sản xảy
ra khi tổng số nợ lớn hơn tổng số sản có Tuy nhiên, về mặt pháp lý, mộtdoanh nghiệp chỉ coi là phá sản khi có quyết định của toà án về việc tuyên bố
Trang 11nghiệp mới thực sự chấm dứt hoạt động Chính vì thế, việc thương nhân(pháp nhân, thể nhân) lâm vào tình trạng phá sản là căn cứ để Tòa án ra quyếtđịnh mở thủ tục phá sản Quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Tòa
án gây hậu quả xấu về nhiều mặt cho nhiều đối tượng, nhất là cho con nợ Vídụ: quyết định mở thủ tục phá sản có thể ảnh hưởng xấu đế danh dự, uy tíncủa nhà kinh doanh trên thương trường, đồng thời hạn chế quyền quản lý tàisản và quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ Chính vìvậy, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và doanh nghiệp bị phá sản cónhiều điểm khác nhau, cụ thể là:
- Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp đang rơi vàotình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và có thể bị Toà án tuyên bố phásản, tuy nhiên nó cũng có cơ hội được phục hồi; trong khi đó doanh nghiệp bịphá sản là doanh nghiệp đã bị Toà án ra quyết định tuyên bố phá sản (phù hợpvới các quyđịnh của pháp luật), nó sẽ không còn cơ hội được phục hồi và phảixoá đăng ký kinh doanh sau khi đã hoàn tất thủ tục thanh toán
- Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ mới bị hạn chế một sốquyền nhất định đối với tài sản và một số quyền lợi ích khác (ví dụ: quyềnđịnh đoạt tài sản, quyền ký kết các hợp đồng ); còn doanh nghiệp bị phá sản
là doanh nghiệp đã bị tước bỏ toàn bộ quyền hành trên các lĩnh vực hoạt động
và tài sản bị thanh toán bắt buộc cho các chủ nợ theo pháp luật
Về mặt pháp lý, việc xác định thời điểm doanh nghiệp bị coi là lâm vàotình trạng phá sản là rất quan trọng đối với cả chủ nợ lẫn bản thân doanhnghiệp mắc nợ Nếu việc xác định thời điểm coi là doanh nghiệp lâm vào tìnhtrạng phá sản quá trễ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của cácchủ nợ trong cơ hội đòi nợ Chính vì thế, việc xác định tiêu chí nào để xácđịnh doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và có thể bị khởi đơn ra tòa đểtiến hành xử lý theo thủ tục phá sản có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với một
Trang 12văn bản luật phá sản Phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của pháp LuậtPhá sản các nước, Luật Phá sản Việt Nam đã đưa ra tiêu chí xác định doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản tại Điều 3 như sau: “Doanh nghiệp, hợp
tác xã không có khả năng thanh toán được các các khoản nợ đến hạn khi chủ
nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản’’
Như vậy, căn cứ để xác định doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phásản theo pháp luật Việt Nam hiện hành là phải thỏa mãn cả hai điều kiện:
- Doanh nghiệp, hợp tác xã có các khoản nợ đến hạn
- Chủ nợ đã có yêu cầu đòi nợ (ví dụ có giấy đòi nợ ) nhưng khôngđược thanh toán
Tóm lại, bản chất của “tình trạng phá sản” là việc con nợ không có khảnăng thanh toán các món nợ đến hạn của mình Vì vậy, về cơ bản, khi con nợngừng trả nợ thì coi như là đã lâm vào tình trạng phá sản và lúc đó, các chủ
nợ đã có cơ sở pháp lý để làm đơn yêu cầu tòa án thụ lý và giải quyết vụ việcphá sản mà họ là nguyên đơn
1.1.2.Vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường
Pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ
Trong kinh doanh, việc nợ nần lẫn nhau là hiện tượng bình thường, ítdoanh nghiệp nào có thể tránh khỏi Khi có nợ thì chủ nợ đương nhiên cóquyền đòi nợ thông qua nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, trong đó có biệnpháp khởi kiện ra Toà án Tuy nhiên, việc đòi nợ bằng con đường kiện tụng raToà dân sự, Toà kinh tế nhiều khi không thể giải quyết được một cách thoảđáng quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà kinh doanh Vì vậy, bên cạnh tốtụng dân sự và tố tụng kinh tế với tư cách là các thủ tục đòi nợ thông thường,Nhà nước phải thiết kế thêm một cơ chế đòi nợ đặc biệt nữa để các chủ nợ, khi
Trang 13đòi nợ thông qua thủ tục phá sản là ở chỗ, việc đòi nợ được bảo đảm bằng việcToà án có thể tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của con nợ và thông qua đó mà bántoàn bộ tài sản của nó để trả cho các chủ nợ Mặc dù ngày nay, tố tụng phá sảncòn phải thực hiện thêm một số mục tiêu nữa, trong đó có mục tiêu giúp doanhnghiệp mắc nợ phục hồi (tức là bảo vệ cả lợi ích của con nợ) nhưng về cơ bản,
tố tụng phá sản từ khi ra đời đến nay vẫn là loại tố tụng tư pháp được đặt ranhằm trước hết và chủ yếu là để bảo vệ lợi ích của các chủ nợ Việc ưu tiên bảo
vệ quyền và lợi ích của các chủ nợ đã làm cho thủ tục phá sản trở thành mộtcông cụ pháp lý có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy hoạt động đầu tư của cácnhà kinh doanh Từ khi có Luật phá sản, các nhà kinh doanh sẽ yên tâm hơn vìcác món nợ của họ đã có một cơ chế tốt hơn để được bảo vệ Pháp luật phá sảnViệt Nam đã thể hiện rất rõ sự quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ Điều này được thể hiện qua hàngloạt các quy định pháp luật liên quan đến quyền năng của chủ nợ như: quyềnnộp đơn yêu cầu mở thủ tục giải quyết phá sản, quyền khiếu nại danh sách chủ
nợ, quyền có đại diện trong thiết chế quản lý tài sản và thanh toán tài sản,quyền đề xuất phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của con nợ, quyềnđược khiếu nại quyết định tuyên bố phá sản
Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích của con nợ, tạo cơ hội để con nợ rút khỏi thương trường một cách trật tự.
Khi mới xuất hiện, pháp luật phá sản không đặt ra vấn đề bảo vệ con
nợ Lúc đó, người ta cho rằng, phá sản là một tội phạm và người gây ra sự phásản là một phạm nhân, do đó, họ không những không được bảo vệ mà còn bịtrừng phạt bằng nhiều hình thức, kể cả việc tử hình Ngày nay, quan niệm vềviệc kinh doanh đã được thay đổi, do đó, cách ứng xử của Nhà nước và phápluật đối với con nợ lâm vào tình trạng phá sản cũng đã được thiết kế theohướng tích cực, có lợi cho con nợ Hoạt động kinh doanh là một hoạt động
Trang 14chứa đựng nhiều rủi ro Do sự biến động khó lường của thị trường và các yếu
tố khách quan khác nên tình trạng kinh doanh thua lỗ, không trả được nợ đếnhạn đều có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với bất kỳ nhà kinh doanh nào Mặtkhác, một doanh nghiệp bị phá sản thì có thể kéo theo nhiều hậu quả xấu đốivới xã hội, mà trước hết là đối với người lao động và các chủ nợ Chính vìvậy mà ngày nay, khi các doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản thì vấn
đề đầu tiên mà Nhà nước quan tâm giải quyết không phải là việc tuyên bốdoanh nghiệp phá sản ngay và phân chia tài sản của nó cho các chủ nợ mà làviệc phải tìm mọi cách để giúp đỡ doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khókhăn này Điều đó giải thích tại sao, pháp luật của đa số các nước đều quyđịnh nhiều hình thức phục hồi khác nhau để doanh nghiệp lâm vào tình trạngphá sản lựa chọn, áp dụng
Pháp luật phá sản Việt Nam cũng đã được xây dựng theo khuynhhướng này Luật Phá sản 2004 đã không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa các chủ nợ mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cả doanh nghiệpmắc nợ và đặc biệt là đã không coi phá sản là một tội phạm như quan niệmcủa một số nước trên thế giới Điều này có thể thấy qua việc pháp luật quyđịnh hàng loạt những quyền cho doanh nghiệp mắc nợ trong quá trình giảiquyết phá sản Chẳng hạn, kể từ thời điểm Toà án ra quyết định mở thủ tụcphá sản doanh nghiệp, tất cả quyền đòi nợ đều được đình chỉ và giải quyếttheo một thủ tục chung duy nhất do Toà án tiến hành, đồng thời nghiêm cấmviệc đòi nợ một cách riêng lẻ Pháp luật phá sản của nhiều nước đã tạo điềukiện tối đa cho doanh nghiệp mắc nợ khắc phục khó khăn về tài chính, thoátkhỏi tình trạng phá sản để trở lại hoạt động bình thường mà không quy địnhbắt buộc Toà án phải tuyên bố phá sản ngay khi có đơn yêu cầu
Pháp luật phá sản góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của người lao động.
Trang 15Phá sản không chỉ gây ra hậu quả xấu cho các chủ nợ, con nợ mà còncho cả người lao động Điều này trước hết thể hiện ở chỗ, chính vì có phá sản
mà người lao động phải mất việc làm, lâm vào tình cảnh thất nghiệp Do vậy,muốn bảo vệ người lao động, trước hết là phải làm sao để doanh nghiệpkhông bị phá sản Cơ chế phục hồi doanh nghiệp được pháp luật đề ra chính
là để thực hiện chủ trương này vì trên thực tế, cứu được doanh nghiệp thoátkhỏi tình trạng phá sản cũng chính là cứu được người lao động thoát khỏi tìnhtrạng thất nghiệp Nhưng mặt khác, khi người lao động làm việc mà khôngđược trả đủ lương trong một thời gian dài thì Nhà nước cũng cần phải tạo ramột phương thức nào đó để họ có thể đòi được số tiền lương mà doanh nghiệp
nợ Để thực hiện được mục tiêu này, pháp luật phá sản phải quy định cho họmột số quyền như quyền được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, quyềnđược tham gia quá trình giải quyết vụ việc phá sản, quyền được ưu tiên thanhtoán nợ lương và các khoản tiền hợp pháp khác mà họ được hưởng trước cáckhoản nợ thông thường của doanh nghiệp
Pháp luật phá sản góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Theo lẽ thường, khi mà con nợ có quá nhiều chủ nợ nhưng lại có quá íttài sản để thanh toán nợ thì việc các chủ nợ tranh giành nhau tài sản của con
nợ là điều rất có thể xảy ra Nếu cứ để các chủ nợ “mạnh ai nấy làm”, tuỳnghi “xiết nợ”, tự do tước đoạt tài sản của con nợ một cách vô tổ chức, khôngcông bằng thì trật tự, an toàn xã hội sẽ không được bảo đảm Vì vậy, Nhànước nào cũng cần phải có biện pháp để can thiệp vào việc đòi nợ này nhằmtránh được các hệ quả tiêu cực như vừa nêu trên Thủ tục phá sản chính là mộtcông cụ pháp lý có khả năng giúp Nhà nước đưa ra được nhiều cơ chế để thựchiện được việc thanh toán nợ một cách công bằng giữa các chủ nợ Căn cứvào pháp luật phá sản, Toà án sẽ thay mặt Nhà nước đứng ra giải quyết một
Trang 16cách công bằng, khách quan mối xung đột về lợi ích giữa các chủ nợ và con
nợ và điều đó sẽ góp phần đảm bảo trật tự, an toàn trong xã hội
Pháp luật phá sản góp phần làm lành mạnh hoá nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn.
Phá sản không phải là hiện tượng hoàn toàn có ý nghĩa tiêu cực Xéttrên phạm vi toàn cục của nền kinh tế thì việc phá sản và giải quyết phá sản là
có ý nghĩa tích cực Điều này được thể hiện ở những điểm như sau:
Thứ nhất, phá sản và pháp luật phá sản là công cụ răn đe các nhà kinh
doanh, buộc họ phải năng động, sáng tạo nhưng cũng phải thận trọng trong khihành nghề Một thái độ hành nghề, trong đó có sự kết hợp giữa tính năng động,sáng tạo và tính cẩn trọng là hết sức cần thiết vì nó giúp các nhà kinh doanhđưa ra được những quyết định hợp lý - tiền đề cho sự làm ăn có hiệu quả củatừng doanh nghiệp Sự làm ăn có hiệu quả của các doanh nghiệp riêng lẻ đươngnhiên sẽ kéo theo sự làm ăn có hiệu quả của cả nền kinh tế nói chung
Thứ hai, pháp luật phá sản không chỉ là công cụ răng đe, buộc các
doanh nghiệp phải luôn tự hoàn thiện mình để tồn tại và phát triển mà còn là
cơ sở pháp lý để xoá bỏ các doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, tạo ramôi trường kinh doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư Thông qua thủ tục phásản, những doanh nghiệp thua lỗ triền miên, nợ nần chồng chất như những
“con bệnh” trong nền kinh tế đều phải được xử lý, đưa ra khỏi thương trường.Như vậy, thủ tục phá sản đã góp phần tạo ra môi trường pháp lý an toàn, lànhmạnh - một yếu tố không thể thiếu được cho sự phát triển bền vững của nềnkinh tế
1.2 Thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
1.2.1 Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
1.2.1.1 Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Trang 17Cũng như pháp luật phá sản của các nước trên thế giới, luật phá sản củaViệt Nam quan tâm trước hết đến quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủtục phá sản của các chủ nợ, của người lao động và doanh nghiệp hợp tác xãlâm vào tình trạng phá sản.
Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các chủ nợ
Pháp luật phá sản của Việt Nam trước đây cũng như hiện tại chỉ dànhquyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho các chủ nợ không có đảm bảo
và chủ nợ có đảm bảo một phần mà không cho phép chủ nợ có đảm bảo nộpđơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Quy định này xuất phát từ luật điểm cho rằngquyền đòi nợ của các chủ nợ có đảm bảo luôn được ưu tiên thanh toán bằngtài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba Vì vậyquy định của các chủ nợ có bảo đảm có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản là không cần thiết, quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chỉ cầnđặt ra cho các chủ nợ không có đảm bảo và chủ nợ có bảo đảm một phần đểgiúp họ có cơ hội lựa chọn một thủ tục thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mình khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phásản Cách tiếp cận này của Luật phá sản Việt Nam phù hợp với xu hướngchung của pháp luật phá sản của đa số các nước trên thế giới (Nhật Bản,Trung Quốc, Hung ga ri…) Để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ nợ thựchiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Luật phá sản đã loại bỏ quyđịnh về nghĩa vụ của các chủ nợ khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phảicung cấp các giấy tờ, tài liệu chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanhtoán nợ đến hạn Thực tiễn sau nhiều năm thi hành Luật phá sản doanh nghiệp
đã cho thấy chủ nợ chỉ biết rằng họ đã gửi giấy đòi nợ đến hạn nhưng khôngđược doanh nghiệp mắc nợ thanh toán mà khó có thể cung cấp các giấy tờ, tàiliệu chững minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
Trang 18Theo Luật phá sản, các chủ nợ không có bảo đảm hoặc có đảm bảo mộtphần khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản đều
có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác
xã đó và khi nộp đơn không phải cung cấp các giấy tờ, tài liệu chứng minhdoanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
- Ngày, tháng, năm làm đơn;
- Tên, địa chỉ của người làm đơn;
- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;
- Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đến hạn
mà không được doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán;
- Quá trình đòi nợ;
- Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản
Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động.
Luật phá sản có sự tiến bộ khi cho phép người lao động được quyềnnộp đơn yêu câu tuyên bố phá sản trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xãkhông trả lương, các khoản nợ khác cho người lao động và nhận thấy doanhnghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản mà không cần điều kiện “khôngtrả lương cho người lao động trong 3 tháng liên tiếp” như quy định của luậtphá sản doanh nghiệp Tuy nhiên, để tránh sự tùy tiện trong việc nộp đơn yêucầu mở thủ tục phá sản, người lao động phải cử người đại diện hoặc thôngqua đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanhnghiệp, hợp tác xã đó Việc cử đại diện cho người lao động phải được quá nửa
số người lao động trong doanh nghiệp hợp tác xã tán thành bằng bỏ phiếu kínhoặc lấy chữ ký; trường hợp DN, HTX có quy mô lớn, có nhiều đơn vị trựcthuộc thì đại diện cho người lao động được cử hợp pháp phải được quá nửa số
Trang 19Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
- Ngày, tháng, năm làm đơn;
- Tên, địa chỉ của người làm đơn;
- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;
- Số tháng nợ tiền lương, tổng số tiền lương và các khoản nợ khác màdoanh nghiệp, hợp tác xã không trả được cho người lao động;
- Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải được gửi cho Toà án có thẩmquyền quy định tại Điều 7 của Luật này
Sau khi nộp đơn, đại diện cho người lao động hoặc đại diện công đoànđược coi là chủ nợ
Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản.
Theo Luật phá sản, khi nhận thấy DN, HTX lâm vào tình trạng phá sảnthì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, HTX cónghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN, HTX đó
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
- Ngày, tháng, năm làm đơn;
- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải được gửi cho Toà án có thẩmquyền quy định tại Điều 7 của Luật này
Phải nộp kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản các giấy tờ, tài liệusau đây:
- Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã,trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khảnăng thanh toán; nếu doanh nghiệp là công ty cổ phần mà pháp luật yêu cầu
Trang 20phải được kiểm toán thì báo cáo tài chính phải được tổ chức kiểm toán độclập xác nhận;
- Báo cáo về các biện pháp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện,nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán cáckhoản nợ đến hạn;
- Bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa điểm nơi
có tài sản nhìn thấy được;
- Danh sách các chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõtên, địa chỉ của các chủ nợ; ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản; các khoản nợđến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảođảm và không có bảo đảm;
- Danh sách những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong
đó ghi rõ tên, địa chỉ của họ; ngân hàng mà họ có tài khoản; các khoản nợ đếnhạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm
và không có bảo đảm;
- Danh sách ghi rõ tên, địa chỉ của các thành viên, nếu doanh nghiệpmắc nợ là một công ty có các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về nhữngkhoản nợ của doanh nghiệp;
- Những tài liệu khác mà Toà án yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phảicung cấp theo quy định của pháp luật
Trong thời hạn ba tháng, kể từ khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xãlâm vào tình trạng phá sản, nếu chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp củadoanh nghiệp, hợp tác xã không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì phảichịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
Quyền nộp đơn yêu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, các cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh.
Trang 21+ Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu doanhnghiệp nhà nước:
Khi nhận thấy doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng phá sản màdoanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sảnthì đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủtục phá sản đối với doanh nghiệp đó
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơnyêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này
+ Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các cổ đông công ty
cổ phần:
Khi nhận thấy công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản thì cổ đônghoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quyđịnh của điều lệ công ty; nếu điều lệ công ty không quy định thì việc nộp đơnđược thực hiện theo nghị quyết của đại hội cổ đông Trường hợp điều lệ công
ty không quy định mà không tiến hành được đại hội cổ đông thì cổ đông hoặcnhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục
ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty
cổ phần đó
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơnyêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này, trừ các giấy
tờ, tài liệu quy định tại các điểm d, đ và e khoản 4 Điều 15 của Luật này
+ Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của thành viên hợp danhKhi nhận thấy công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản thì thànhviên hợp danh có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công tyhợp danh đó
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơnyêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này
Trang 221.2.1.2 Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu thấy cần sửađổi đơn, bổ sung tài liệu thì tòa án yêu cầu người nộp đơn thực hiện việc sửađổi, bổ sung trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu củaTòa án Toà án thụ lý đơn; thông báo cho doanh nghiệp mắc nợ biết và yêucầu doanh nghiệp báo cáo về khả năng thanh toán nợ Nếu xét thấy đủ căn cứchứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, Chánh toàToà kinh tế cấp tỉnh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phásản doanh nghiệp Quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sảnphải nêu rõ lý do mở thủ tục tuyên bố phá sản, ấn định thời điểm ngừng thanhtoán nợ của doanh nghiệp, họ tên của Thẩm phán phụ trách vụ việc và cácnhân viên Tổ quản lý tài sản (Điều 25 Luật Phá sản)
mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ chức có liên quan để xem xét, kiểm tra cáccăn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Quyết định mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
- Ngày, tháng, năm ra quyết định;
- Tên của Toà án; họ và tên Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tụcphá sản;
Trang 23- Ngày và số thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; tên, địa chỉ củangười làm đơn yêu cầu;
- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;
- Thời gian, địa điểm khai báo của các chủ nợ và hậu quả pháp lý củaviệc không khai báo
Toà án ra quyết định không mở thủ tục phá sản nếu xét thấy doanhnghiệp, hợp tác xã chưa lâm vào tình trạng phá sản
Quyết định mở thủ tục phá sản đã đặt ra một thủ tục tư pháp đặc biệt vàkéo theo những hệ quả pháp lý nhất định, trong đó cần lưu ý một số vấn đềpháp lý sau đây:
Thứ nhất, đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, thẩm
phán ra quyết định thành lập tổ quản lí, thanh lí tài sản để làm nhiệm vụ quản
lí, thanh lí tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.Việc quản lí thanh lí tài sản của doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản theo Luậtphá sản doanh nghiệp được thực hiện bởi hai tổ thành lập ở hai giai đoạn khácnhau, đó là tổ quản lí tài sản và tổ thanh toán tài sản với nhiều đại diện thamgia nhưng thực tiễn hoạt động mang tính gượng ép, kém hiệu quả Pháp luậtcủa đa số các nước như Pháp, Đức, Úc, Nhật bản…Trao thẩm quyền này chomột nhân viên do tòa án bổ nhiệm mà hoạt động vẫn đem lại hiệu quả Nhânviên quản lí tài sản này gọi quản tài viên hay quản trị viên là những ngườihành nghề chuyên nghiệp thường từ đội ngũ luật sư, kiểm toán viên, hay cácnhà kinh tế… Từ những kết quả bất cập của Luật phá sản doanh nghiệp, trên
cơ sở tiếp thu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các nước trên thế giớitrong điều kiện hiện tại của Việt Nam, Luật phá sản đã quy định thành lậpmột tổ duy nhất là tổ quản lí, thanh lí tài sản với thành phần tham gia đượcgiảm bớt, bao gồm: một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm
tổ trưởng; một cán bộ tòa án; một đại diện chủ nợ; đại diện hợp pháp của
Trang 24doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản Ngoài ra trường hợp cần thiết
có đại diện công đoàn, người lao động, đại diện các cơ quan chuyên môntham gia tổ quản lí, thanh lí tài sản thì thẩm phán xem xét quyết định Tổ quản
lí, thanh lí tài sản thực thi các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 10 Luậtphá sản Đối với tổ trưởng tổ quản lí, thanh lí tài sản phải thực thi quyền hạn,nhiệm vụ quy định tại Điều 11 Luật phá sản Ngoài ra, Luật phá sản còn bổsung quy định về trách nhiệm của tổ trưởng tổ quản lí, thanh lí tài sản phảithực hiện ngay việc đăng kí giao dịch bảo đảm nếu doanh nghiệp, hợp tác xãlâm vào tình trạng phá sản cho người khác vay tài sản có bảo đảm phải đăng
kí theo quy định của pháp luật nhưng chưa đăng kí (Điều 54 Luật phá sản)
Mục đích thực hiện việc đăng kí giao dịch bảo đảm nhằm công khaihóa các dịch vụ giao dịch bảo đảm để mọi tổ chức cá nhân có nhu cầu quantâm có thể nắm bắt được những thông tin chính xác, tin cậy trước khi xác lậpcác giao dịch dân sự, thương mại, qua đó cảnh báo cho các chủ nợ trongtương lai về những rủi ro mà họ sẽ gặp phải nếu tiếp tục nhận bảo đảm bằngtài sản đó Ngoài ra, đăng kí giao dịch bảo đảm còn nhằm thiết lập quyềnđược ưu tiên thanh toán đối với tài sản bảo đảm từ thời điểm đăng kí giaodịch bảo đảm Mọi quyền lợi của cá nhân, tổ chức trong một giao dịch bảođảm nếu chưa đăng kí hoặc đăng kí sau giao dịch bảo đảm khác thì quyền ưutiên thanh toán vẫn thấp hơn cho dù giao dịch đó có được xác lập trước vềthời gian theo cách thức hợp pháp Do đó việc đăng kí giao dịch bảo đảm củadoanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản càng sớm bao nhiêu càngbảo vệ được tối đa quyền, lợi ích của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tìnhtrạng phá sản, cũng tức là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ nợ vàngười có liên quan
Thứ hai, quyền đòi nợ và nghĩa vụ gửi giấy tờ đòi nợ của các chủ nợ.
Trang 25Về nguyên tắc, mọi chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tụcphá sản đều có quyền gửi giấy nợ đến tòa án có thẩm quyền Khi thực hiệnquyền đòi nợ cần lưu ý quyền đòi nợ của chủ nợ trong trường hợp có nghĩa vụliên đới hoặc bảo lãnh.
Trường hợp nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ liên đới về nộtkhoản nợ mà một hoặc tất cả các doanh nghiệp, hợp tác xã đó lâm vào tìnhtrạng phá sản thì chủ nợ có quyền đòi bất cứ doanh nghiệp, hợp tác xã nàotrong số các doanh nghiệp, hợp tác xã đó thực hiện việc trả nợ cho mình theoquy định của pháp luật
Trường hợp người bảo lãnh lâm vào tình trạng phá sản thì người đượcbảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh
Trường hợp người được bảo lãnh hoặc cả người bảo lãnh và ngườiđược bảo lãnh đều lâm vào tình trạng phá sản thì người bảo lãnh phải thựchiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh (Điều 39 Luật phá sản)
Thứ ba, Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi có
quyết định mở thủ tục phá sản, trách nhiệm kiểm kê tài sản
Mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi cóquyết định mở thủ tục phá sản vẫn được tiến hành bình thường nhưng phảichịu sự giám sát, kiểm tra của thẩm phán và tổ quản lí, thanh lí tài sản Việctiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, hợp tác
xã nhằm mục đích tạo cơ hội tái tổ chức hoạt động kinh doanh để cứu vớtdoanh nghiệp, hợp tác xã vượt qua khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán nợđến hạn Mục tiêu hàng đầu của pháp luật phá sản hiện nay của các nước cũngnhư của Việt Nam đều hướng đến giải pháp phục hồi hoạt động kinh doanhnhằm cứu vớt doanh nghiệp, hợp tác xã trước nguy cơ bị phá sản Bởi vậytiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, hợp tác
xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản là điều cần thiết
Trang 26Thứ tư, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo toàn
tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
- Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của tổ quan lí, thanh lí, thẩmphán phụ trách thủ tục phá sản có quyền áp dụng một hoặc một số biện phápkhẩn cấp tạm thời bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tìnhtrạng phá sản Tuy nhiên theo quy định của Luật phá sản thì quyền ra quyếtđịnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của thẩm phán cũng chỉ được thựchiện sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản
Các biện pháp khẩn cấp thạm thời mà thẩm phán có thể quyết định ápdụng bao gồm:
+ Cho bán những hàng hóa dễ bị hư hỏng, hàng hóa sắp hết hạn sửdụng, hàng hóa không bán đúng thời điểm sẽ khó có khả năng tiêu thụ;
+ Kê biên, niêm phong tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
+ Phong tỏa tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã tại ngân hàng;
+ Niêm phong kho, quỹ, thu giữ và quản lý sổ kế toán, tài liệu liên quancủa doanh nghiệp, hợp tác xã;
+ Cấm hoặc buộc doanh nghiệp, hợp tác xã, cá nhân, tổ chức khác cóliên quan thực hiện một số hành vi nhất định (Điều 55 Luật phá sản);
Khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tùy tính chất của vụ việc vàyêu cầu của việc áp dụng mà thẩm phán xem xét, đánh giá một cách thậntrọng để quyết định áp dụng một hay một số biện pháp khẩn cấp tạm thời.Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nhằm mục đích bảo toàn tàisản cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản nhưng khôngđược làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,hợp tác xã Tuy nhiên các biện pháp khẩn cấp như: kê biên, niêm phong tàisản, niêm phong kho quỹ, thu giữ và quản lí sổ kế toán, tài liệu liên quan cũng
Trang 27nhân, tổ chức có liên quan Người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cóquyền khiếu nại với chánh án tòa án trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhậnđược quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án.
Thứ năm, đình chỉ thi hành án dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án bị đình
chỉ trong thủ tục phá sản, việc thi hành án dân sự về tài sản mà doanh nghiệp,hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là người phải thi hành cũng như việcgiải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác
xã là một bên đương sự trong vụ án được đình chỉ
Trong trường hợp này việc thi hành án dân sự về tài sản mà doanhnghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là người thi hành án bị đình chỉthì người được thi hành án có quyền nộp đơn cho tòa án yêu cầu được thanhtoán trong khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã như một chủ nợ không
có bảo đảm hoặc như một chủ nợ có bảo đảm, nếu có bản án, quyết định củaTòa án đã có hiệu lực pháp luật kê biên tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
để bảo đảm thi hành án
1.2.1.4 Hội nghị chủ nợ
* Thành phần tham gia hội nghị chủ nợ
Theo luật phá sản, quyền tham gia hội nghị chủ nợ thuộc về các chủ thểsau đây:
- Các chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ Chủ nợ có thể uỷ quyềnbằng văn bản cho người khác tham gia Hội nghị chủ nợ và người được uỷ quyền
có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ;
- Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động
uỷ quyền Trong trường hợp này đại diện cho người lao động, đại diện côngđoàn có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ;
Trang 28- Người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp, hợp tác xãlâm vào tình trạng phá sản Trong trường hợp này họ trở thành chủ nợ không
có bảo đảm
* Thủ tục triệu tập hội nghị chủ nợ
Theo luật pháp luật phá sản quy định như sau:
- Trường hợp việc kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vàotình trạng phá sản kết thúc trước ngày lập xong danh sách chủ nợ thì trongthời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày lập xong danh sách chủ nợ, Thẩm phánphải triệu tập Hội nghị chủ nợ; nếu việc kiểm kê tài sản của doanh nghiệp,hợp tác xã kết thúc sau ngày lập xong danh sách chủ nợ thì thời hạn này tính
từ ngày kiểm kê xong tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
- Các Hội nghị chủ nợ tiếp theo có thể được Thẩm phán triệu tập vàobất kỳ ngày làm việc nào trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản theo đề nghịcủa Tổ quản lý, thanh lý tài sản hoặc của các chủ nợ đại diện cho ít nhấtmột phần ba tổng số nợ không có bảo đảm
- Giấy triệu tập Hội nghị chủ nợ phải được gửi cho người có quyềntham gia Hội nghị chủ nợ và người có nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợquy định tại Điều 62 và Điều 63 của Luật này, chậm nhất là mười lăm ngàytrước ngày khai mạc Hội nghị Kèm theo giấy triệu tập Hội nghị phải cóchương trình, nội dung của Hội nghị và các tài liệu khác, nếu có
- Hội nghị chủ nợ do Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sảnchủ trì
* Điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ
Hội nghị chủ nợ chỉ hợp lệ khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần batổng số nợ không có bảo đảm trở lên tham gia;
Trang 29- Có sự tham gia của người có nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ quyđịnh tại Điều 63 của Luật này.
Theo như Điều 66 Luật phá sản, hội nghị chủ nợ được hoãn một lầntrong các trường hợp sau đây:
- Không đủ quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện ít nhất cho2/3 tổng số nợ không có bảo đảm tham dự;
- Quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt tại hội nghị chủ nợ biểuquyết hoãn hội nghị chủ nợ;
- Người có nghĩa vụ tham gia hội nghị chủ nợ vắng mặt có lí dochính đáng
Trường hợp thẩm phán ra quyết định hoãn hội nghị chủ nợ thì trongthời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn hội nghị chủ nợ, thẩm phánphải triệu tập lại hội nghị chủ nợ
Trong những trường hợp sau đây thẩm phán ra quyết định đình chỉ tiếnhành thủ tục phá sản;
- Khi hội nghị chủ nợ đã được hoãn lại một lần nếu người nộp đơn yêucầu mở thủ tục phá sản quy định tại Điều 13 và Điều 14 của Luật phá sảnkhông tham gia hội nghị chủ nợ được triệu tập lại;
- Trường hợp chỉ có người quy định tại các Điều 15, 16, 17, và 18 củaLuật phá sản nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà người có nghĩa vụ thamgia hội nghị chủ nợ được triệu tập lại;
- Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút lại đơn yêu cầu; nếunhững người quy định tại các Điều 13, 14, 15, 16, 17 và 18 của Luật phá sảnnộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà chỉ có một hoặc một số người rút lạiđơn yêu cầu thì Tòa án vẫn tiến hành thủ tục phá sản (Điều 67 Luật phá sản)
Như vậy trong trường hợp nhất định, sự tham gia của một số chủ thể tạihội nghị chủ nợ vẫn là điều kiện bắt buộc tiến hành thủ tục phá sản Trong
Trang 30những trường hợp này, sự vắng mặt của họ tại hội nghị chủ nợ là căn cứ đểTòa án ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản Song quy định tạikhoản 2 Điều 67 Luật phá sản có vấn đề cần bàn định Theo khoản 2 Điều 67Luật phá sản, trường hợp đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã cónghĩa vụ tham gia hội nghị nghị chủ nợ theo quy định tại điều 63 Luật phá sảnnhưng không đến tham gia hội nghị chủ nợ mà không có lý do chính đáng thìTòa án ra quyết định đình chỉ thủ tục phá sản Mặt khác quy định này khôngnhất quán với Điều 15 Luật phá sản, bởi lẽ sau khi thực hiện nghĩa vụ nộpđơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợptác xã không đến tham dự hội nghị chủ nợ thì Tòa án vẫn phải đình chỉ thủ tụcphá sản.
Nhằm đảm bảo nguyên tắc tôn trọng sự định đoạt của đương sự, Luậtphá sản bổ sung căn cứ để Tòa án ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phásản khi người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút đơn yêu cầu Tuynhiên, trường hợp chỉ có một hoặc một số người trong số những người nộpđơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút đơn yêu cầu thì Tòa án vẫn tiến hành mởthủ tục phá sản
1.2.2 Phục hồi hoạt động kinh doanh
Phục hồi hoạt động kinh doanh là một nội dung quan trọng trong thủtục phá sản Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh đem lại cho DN, HTXlâm vào tình trạng phá sản những cơ hội và điều kiện để tái tổ chức lại hoạtđộng kinh doanh, giúp DN, HTX vượt ra khỏi nguy cơ bị phá sản Trong điềukiện ngày nay, pháp luật phá sản của các nước luôn đề cao và quan tâm thíchđáng đến thủ tục phục hồi kinh doanh Luật phá sản cũng không nằm ngoài xuhướng này
Theo quy định của Luật phá sản, phục hồi hoạt động kinh doanh là một
Trang 31định áp dụng hay không áp dụng sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản tùythuộc điều kiện của từng vụ việc cụ thể khi giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản.
1.2.2.1 Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh
Thẩm phán ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinhdoanh sau khi Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị quyết đồng ývới các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợcho các chủ nợ và yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải xây dựng phương ánphục hồi hoạt động kinh doanh
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày Hội nghị chủ nợ lần thứ nhấtthông qua Nghị quyết, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sảnphải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của mình và nộpcho Toà án; nếu thấy cần phải có thời gian dài hơn thì phải có văn bản đề nghịThẩm phán gia hạn Thời hạn gia hạn không quá ba mươi ngày
Trong thời hạn nói trên, bất kỳ chủ nợ hoặc người nào nhận nghĩa vụphục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã đều có quyềnxây dựng dự thảo phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp,hợp tác xã và nộp cho Toà án
1.2.2.2 Xem xét, thông qua phương án phục hồi
Thứ nhất, xem xét phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trước khi
đưa ra Hội nghị chủ nợ Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đượcphương án phục hồi hoạt động kinh doanh, Thẩm phán phải xem xét phương ánphục hồi hoạt động kinh doanh để ra một trong các quyết định: Đưa phương
án ra Hội nghị chủ nợ xem xét, quyết định; Đề nghị sửa đổi, bổ sung phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh nếu thấy phương án đó chưa bảo đảm cácnội dung quy định tại Điều 69 của Luật này
Trang 32Thứ hai, xem xét, thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày quyết định đưa phương án phục hồi hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản ra Hộinghị chủ nợ, Thẩm phán phải triệu tập Hội nghị chủ nợ để xem xét, thông quaphương án phục hồi Hội nghị chủ nợ xem xét, thảo luận phương án phục hồihoạt động kinh doanh Nghị quyết về phương án phục hồi hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, hợp tác xã được thông qua khi có quá nửa số chủ
nợ không có bảo đảm có mặt đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không
có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành
Quy định này loại trừ vai trò, thẩm quyền của chủ nợ có bảo đảm vàchủ nợ có đảm bảo một phần trong việc, xem xét, thông qua phương án phụchồi kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã Việc thông qua hay khôngthông qua phương án phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâmvào tình trạng phá sản, xét cho cùng chủ yếu có ý nghĩa sống còn đối vớidoanh nghiệp, hợp tác xã cũng như các chủ nợ không có đảm bảo Nếuphương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã cótính khả thi mà hội nghị chủ nợ vẫn không thông qua thì cơ hội cứu vớtdoanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng pha sản không còn và các chủ
nợ không có đảm bảo khó có khả năng thu hồi khoản nợ của mình Ngượclại, nếu khả năng cứu vớt doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phásản không cao mà hội nghị chủ nợ vẫn thông qua phương án phục hồi hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã thì khả năng thu hồi nợ củacác chủ nợ không có bảo đảm càng thấp Vì vậy việc thông qua hay khôngthông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợptác xã lâm vào tình trạng phá sản cần phải được các chủ nợ không có bảođảm xem xét, quyết định và đánh giá một cách cẩn trọng Trong khi đó dù áp
Trang 33nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì quyền đòi nợ của các chủ
nợ có bảo đảm vẫn luôn được bảo đảm Tuy nhiên nếu áp dụng thủ tục thanh
lí tài sản, các khoản nợ thì ưu thế sẽ thuộc về các chủ nợ có bảo đảm, bởiquyền đòi nợ đối với các khoản nợ của họ luôn được ưu tiên thanh toán từtài sản bảo đảm Nếu cho các chủ nợ có bảo đảm được quyền biểu quyết tạihội nghị chủ nợ thì họ dễ có xu hướng không thông qua phương án phục hồihoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phásản vì muốn sớm được ưu tiên thanh toán nợ từ tài sản bảo đảm Mục tiêucủa Luật phá sản hiện đại ngày nay luôn có xu hướng ưu tiên trước hết chothủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh nhằm cứu vớt doanh nghiệp, hợp tác
xã theo phương châm chữa bệnh cho người có bệnh “còn nước còn tát” Vìvậy Luật phá sản không dành quyền biểu quyết cho các chủ nợ có bảo đảm
là điều cần thiết song việc không dành quyền biểu quyết cho các chủ nợ cóbảo đảm một phần lại là vấn đề cần được bàn định
1.2.2.3 Công nhận nghị quyết về phương án phục hồi và giám sát thực hiện phương án phục hồi
Thẩm phán ra quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ vềphương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâmvào tình trạng phá sản Nghị quyết này có hiệu lực đối với tất cả các bên cóliên quan Toà án phải gửi quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ
nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản và các chủ nợ trong thời hạn bảy ngày, kể từngày ra quyết định
Sau khi thẩm phán ra quyết định công nhận nghị quyết của hội nghị chủ
nợ về phương án phục hồi, tổ quản lí, thanh lí tài sản giải thể (khoản 1 Điều
73 Luật phá sản) Ở giai đoạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, sự tồn tại của
Trang 34tổ quản lý, thanh lý tài sản là không cần thiết Phương án phục hồi hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạn phá sản sẽ dodoanh nghiệp, hợp tác xã tự tiến hành với cơ chế giám sát thích hợp Luật phásản quy định 6 tháng một lần, doanh nghiệp, hợp tác xã phải gửi cho tòa ánbáo cáo về tình hình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh ởdoanh nghiệp, hợp tác xã Chủ nợ có nghĩa vụ giám sát việc thực hiện phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã
Tuy nhiên, quyết định công nhận nghị quyết của hội nghị chủ nợ vềphương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã chưaphải đã kết thúc việc giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Quyết địnhnày mới cho phép doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản đượcthực thi phương án phục hồi hoạt động kinh doanh Kết thúc giai đoạn phụchồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạngphá sản, Tòa án phải ra một trong hai quyết định, hoặc đình chỉ thủ tục phụchồi hoạt động kinh doanh hoặc mở thủ tục thanh lí tài sản của doanh nghiệp,hợp tác xã Trường hợp có quyết định mở thủ tục thanh lí tài sản, Tòa án cầnphải thành lập lại tổ quản lí, thanh lí tài sản để trợ giúp cho thẩm phán trongviệc thực hiện thủ tục thanh lí Song vấn đề này lại không được quy địnhtrong bất cứ điều khoản nào của Luật phá sản
1.2.2.4 Thời hạn thực hiện phương án phục hồi
Thời hạn tối đa để thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là ba năm, kể từ ngàycuối cùng đăng báo về quyết định của Tòa án công nhận nghị quyết của hộinghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,hợp tác xã Ngày cuối cùng đăng báo về quyết định của tòa án công nhận nghịquyết của hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của
Trang 35Luật phá sản) Song thủ tục đăng báo về quyết định này lại không được quyđịnh trong Luật phá sản mà chỉ có quy định về việc gửi quyết định công nhậnnghị quyết của hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (khoản 2 Điều 72Luật phá sản) Điều này sẽ là một trở ngại trong quá trình thực thi pháp luật.
Ngoài việc mở rộng thời hạn tối đa để thực hiện phương án phục hồi,Luật phá sản còn cho phép quá trình thực hiện phương án phục hồi hoạt độngkinh doanh, các chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã có quyền thỏa thuận vềviệc sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh Thỏa thuận
về việc sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, hợp tác xã được chấp nhận khi có quá nửa số chủ nợ không có bảođảm dại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên đồng ý
Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên và gửiquyết định đó cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và cácchủ nợ trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày ra quyết định
1.2.2.5 Đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và hậu quả pháp lý
Điều 76 Luật phá sản quy định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt độngkinh doanh
Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản nếu có mộttrong các trường hợp sau đây:
- Doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện xong phương án phục hồi hoạtđộng kinh doanh;
- Được quá nửa số phiếu của các chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho
từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên chưa thanh toán đồng ýđình chỉ;
Trang 36Toà án phải gửi và thông báo công khai quyết định đình chỉ thủ tụcphục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tạiĐiều 29 của Luật này.
Khi doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện xong phương án phục hồihoạt động kinh doanh tức là đã thực hiện thành công thủ tục phục hồi hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.Trong trường hợp này, sự công nhận của Tòa án bằng quyết định đình chỉ thủtục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tìnhtrạng phá sản là điều cần thiết Ngoài ra, tòa án cũng phải ra quyết định đìnhchỉ thủ tục phục hồi khi có quá nửa số phiếu của các chủ nợ không có bảođảm đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên chưathanh toán đồng ý đình chỉ Trong trường hợp này, mặc dù phương án phụchồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạngphá sản chưa được thực hiện xong nhưng với sự hiện diện của quá nửa sốphiếu của các chủ nợ không có bảo đảm trở lên chưa thanh toán đồng ý đìnhchỉ thì Tòa án phải tôn trọng ý chí định đoạt này của các chủ nợ Trong chừngmực nhất định, ý chí định đoạt này cũng phần nào thể hiện độ tin cậy về khảnăng thanh toán của doanh nghiệp, hợp tác xã mà các chủ nợ không có bảođảm đã dành cho họ khi đồng ý đình chỉ thủ tục phá sản Tòa án phải gửi vàthông báo công khai quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì doanhnghiệp, hợp tác xã đó được coi không còn lâm vào tình trạng phá sản Trongtrường hợp này, việc thi hành án dân sự chưa được thi hành hoặc việc giảiquyết vụ án bị đình chỉ chưa được giải quyết thì ngay sau khi ra quyết địnhđình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xãlâm vào tình trạng phá sản, việc thi hành án dân sự hoặc việc giải quyết vụ án
Trang 37hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền để giải quyết vụ án theo quy định củapháp luật (Điều 77 Luật phá sản).
1.2.3 Thanh lí tài sản, các khoản nợ
Theo Luật phá sản doanh nghiệp 1993, chỉ sau khi quyết định tuyên bốphá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 2004 có hiệu lực pháp luật mới tiến hànhthủ tục thanh lí tài sản, thanh toán nợ Không tiếp cận theo hướng đó, Luậtphá sản 2004 coi thanh lí tài sản, các khoản nợ là một thủ tục đặc biệt đượcthực hiện trước việc tuyên bố DN, HTX phá sản
1.2.3.1 Các trường hợp tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lí tài sản
Điều 79 Luật phá sản quy định quyết định mở thủ tục thanh lý tài sảnkhi Hội nghị chủ nợ không thành:
Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản khi Hội nghị chủ
nợ không thành trong những trường hợp sau đây:
Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác
xã không tham gia Hội nghị chủ nợ mà không có lý do chính đáng hoặc sau khiHội nghị chủ nợ đã được hoãn một lần nếu người nộp đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản thuộc trường hợp quy định tại Điều 13 và Điều 14 của Luật này;
Không đủ số chủ nợ quy định tại khoản 1 Điều 65 của Luật này thamgia Hội nghị chủ nợ sau khi Hội nghị chủ nợ đã được hoãn một lần nếu ngườinộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc trường hợp quy định tại các Điều
15, 16, 17 và 18 của Luật này
1.2.3.2 Khiếu nại, kháng nghị và giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định
mở thủ tục thanh lí tài sản
Điều 83 Luật phá sản quy định khiếu nại, kháng nghị quyết định mởthủ tục thanh lý tài sản:
Trang 38Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, các chủ nợ cóquyền khiếu nại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyếtđịnh mở thủ tục thanh lý tài sản.
Những người mắc nợ doanh nghiệp, hợp tác xã có quyền khiếu nạiphần quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xãliên quan đến nghĩa vụ trả nợ của mình
Thời hạn khiếu nại, kháng nghị là hai mươi ngày, kể từ ngày cuối cùngđăng báo về quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản
Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, khángnghị, Toà án đã ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp,hợp tác xã phải gửi hồ sơ về phá sản kèm theo đơn khiếu nại, quyết địnhkháng nghị cho Toà án cấp trên trực tiếp để xem xét, giải quyết khiếu nại,kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản
1.2.3.3 Tài sản phá sản và thứ tự phân chia tài sản
Tài sản phá là tài sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản đượcxác định từ thời điểm tòa án thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Tuy nhiên,
để bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ trước những hành vi bất hợp pháp màdoanh nghiệp, HTX đã thực hiện, thời điểm xác định tài sản của DN, HTXlâm vào tình trạng phá sản có thể được lấy lên ở thời điểm 3 tháng trước ngàytòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản