Trong những địaphơng đó, chúng tôi xin đợc tìm hiểu sâu hơn thực trạng nghèo đói, sự phânhoá giàu nghèo và nếu có thể đề xuất những ý tởng rất mang tính gợi mở về cácgiải pháp giúp địa p
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Vinh
Khoa GDCT - -
luận văn tốt nghiệp
thực trạng đói nghèo và các giải pháp xoá đói giảm nghèo của xã miền núi vùng cao sơn kim
(hơng sơn - hà tĩnh)
Giáo viên hớng dẫn: GVC.TS Đoàn Minh Duệ
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thế Hoàn
Lớp: 40 A - GDCT
vinh 5- 2003
********
Trang 2Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành tựu nổi bật nhất của gần 20 năm đổi mới, dới sự lãnh đạo của
Đảng, mức sống của tuyệt đại đa số nhân dân đợc nâng lên một cách rõ rệt, thunhập bình quân đầu ngời tăng tơng đối nhanh, một bộ phận dân c kể cả thànhthị và nông thôn trở nên khá giả, một bộ phận không nhỏ trở nên giàu có Tuynhiên, bên cạnh đó, do nhiều nguyên nhân, kể cả nguyên nhân khách quan vànguyên nhân chủ quan, thực trạng nghèo đói ở nớc ta vẫn là một điều nhứcnhối, ở tỉnh nào, địa phơng nào cũng có Đặc biệt là các xã thuộc vùng sâu,vùng xa, vùng dân tộc ít ngời, vùng căn cứ địa cách mạng cũ Trong những địaphơng đó, chúng tôi xin đợc tìm hiểu sâu hơn thực trạng nghèo đói, sự phânhoá giàu nghèo và nếu có thể đề xuất những ý tởng rất mang tính gợi mở về cácgiải pháp giúp địa phơng xã Sơn Kim (Hơng Sơn, Hà Tĩnh), một xã miền núi,vùng cao từng bớc xoá đói, giảm nghèo
Nghèo đói đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều là lực cản của sự
phát triển Xoá đói, giảm nghèo, tiến tới "Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh" là mục tiêu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc do Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) đề ra Vì vậy, để chống lại đóinghèo, trớc hết cần phải có những giải pháp đồng bộ về kinh tế - xã hội, chuyểndịch cơ cấu kinh tế, giải phóng sức sản xuất, thu hút mọi nguồn vốn đầu t, phấn
đấu tăng tổng sản lợng, đảm bảo mức sống bình thờng cho mọi ngời dân
Chủ trơng xoá đói, giảm nghèo lần đầu tiên đợc đề cập trong Nghị quyết
Đại hội VII của Đảng là: "Cùng với quá trình đổi mới, tăng trởng kinh tế phải
tiến hành công tác xoá đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, tránh sự phân hoá giàu nghèo quá giới hạn cho phép" Nghị quyết Hội nghị BCHTW
lần thứ 5 (khoá VII) tiếp tục cụ thể hoá chủ trơng này: " Phải trợ giúp ngời
nghèo bằng cách cho vay vốn, hớng dẫn cách làm ăn, hình thành quỹ xoá đói giảm nghèo" Tại Đại hội VIII của Đảng (1986), vấn đề xoá đói, giảm nghèo
chính thức đợc xác định là một trong những chơng trình trọng điểm quốc gia:
"Thực hiện việc lồng ghép Chơng trình xoá đói, giảm nghèo với các chơng
trình khác, trong đó lấy Chơng trình quốc gia về giải quyết việc làm và về phủ xanh đất trống, đồi trọc làm nòng cốt Bổ sung chính sách giúp cho ngời nghèo, hộ nghèo, xã nghèo tổ chức sản xuất, bảo đảm cuộc sống đợc cải thiện, trớc mắt thực hiện các giải pháp: giao đất cho các hộ nông dân nghèo cha đợc giao đất hoặc cha đủ mức; vận động và giúp đỡ hộ nông dân nghèo đến lập nghiệp ở vùng kinh tế mới; mở rộng các quỹ tín dụng cho các hộ nghèo vay vốn sản xuất với lãi suất u đãi; đào tạo nghề miễn phí cho ngời nghèo; xây dựng đội ngũ những ngời tình nguyện đến với ngời nghèo, hớng dẫn họ cách
Trang 3làm ăn và phổ biến các biện pháp kỹ thuật, giúp đỡ ngời nghèo sản xuất kinh doanh "1
Đến đại hội IX (2001), Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định: "Thực hiện
ch-ơng trình xoá đói, giảm nghèo thông qua những biện pháp cụ thể, sát với tình hình từng địa phơng, xoá nhanh các hộ đói, giảm mạnh các hộ nghèo" 2
Nh vậy, chơng trình xoá đói, giảm nghèo đã và đang trở thành vấn đềmang tầm chiến lợc trong công cuộc xây dựng đất nớc Tuy nhiên, để chuyểnthành các biện pháp có tính khả thi cao, để có thể vận dụng cho từng vùng,từng địa phơng thì vẫn còn rất khó khăn, đòi hỏi quá trình nghiên cứu, khảo sátcông phu của nhiều cấp, nhiều ngành, của cả Trung ơng và địa phơng
Sơn Kim là một xã miền núi, vùng cao thuộc huyện Hơng Sơn, tỉnh HàTĩnh, lại là xã giáp với biên giới Việt- Lào, có địa bàn khá rộng, đồi núi hiểmtrở, dân c trong vùng sinh sống không tập trung, nhiều vùng gần nh biệt lậpnh: Hạ Vàng, Vùng Tròn, Làng Chè, Khe Trù, Kim An, Đàm Môồng nênviệc đề ra các giải pháp nhằm xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích nhân dânlàm giàu chính đáng là nhiệm vụ cơ bản của các cấp chính quyền xã, huyệntrong giai đoạn hiện nay Để góp phần giúp xã nhà thoát cảnh đói nghèo, tôi
mạnh dạn chọn đề tài: Thực trạng đói nghèo và các giải pháp xoá đói, giảm
nghèo của xã miền núi vùng cao Sơn Kim (Hơng Sơn, Hà Tĩnh)
2 Lợc khảo lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Đói nghèo, nguyên nhân, hậu quả và các giải pháp khắc phục đã nhiềunăm nay, nhất là từ 1997 đến nay đã đợc nhiều nhà khoa học và chính trị quantâm nghiên cứu Nhiều tác giả đã viết sách, báo về vấn đề này Đã có nhiều bàinghiên cứu đăng tải trên các tạp chí của Trung ơng và địa phơng, đề cập nhiềuvấn đề trọng tâm xung quanh xoá đói, giảm nghèo Với khuôn khổ có hạn,chúng tôi xin phép nêu một số bài viết và công trình tiêu biểu, mang tính định
hớng sau đây: “Bí quyết trở thành ông chủ”, bài viết đăng trên Tạp chí thống kê tháng 10/1999 “Cơ sở hạ tầng Việt Nam 10 năm đổi mới” NXB Thống kê 1986; “Mặt trái của cơ chế thị trờng” của tác giả Phạm Viết Đào, NXB Văn hoá, Thông tin,1986; “Tiến trình đổi mới kinh tế quốc dân của Việt Nam” của Thế Đạt, NXB Hà Nội 1987, “Phân hoá giàu nghèo và các tiêu chuẩn về đói
nghèo ở Việt Nam” của bà Nguyễn Thị Hằng, Bộ trởng Bộ Lao động, Thơng
binh và Xã hội, NXB LĐ 1997, “Chơng trình cấp Nhà nớc về phân tầng xã
hội” do GS Đỗ Nguyên Phơng làm chủ nhiệm, trong đó có một đề tài tập trung
nghiên cứu về thực trạng đói nghèo và các giải pháp nhằm xoá đói giảm nghèo
ở 2 vùng trọng điểm là đồng bằng Bắc bộ và đồng bằng Nam bộ Ngoài ra,trong những năm qua một số sinh viên khoa GDCT khi lựa chọn đề tài luận văn
Trang 4tốt nghiệp cũng đã chọn mảng phân hoá đói nghèo và đã bớc đầu đề xuất cácgiải pháp xoá đói, giảm nghèo.
Đặc biệt, Nghệ An là một trong những tỉnh có tỷ lệ hộ đói và hộ nghèorất cao Vì vậy, trong những năm qua, đợc sự chỉ đạo của Thờng trực tỉnh uỷ và
Uỷ ban nhân dân tỉnh, nhiều cuộc hội thảo và nhiều tác giả đã tập trung viếtsách, viết các bài nghiên cứu, đặc biệt là các năm 1998, 1999, 2000, 2001,
2002, ở tỉnh Nghệ An đều tổ chức Hội thảo về phát triển kinh tế trang trại, nuôitôm xuất khâu, trồng cây sở, trồng cây lạc theo giống mới có ủ ni lon, pháttriển kinh tế hộ gia đình, các chính sách xoá đói, giảm nghèo để tăng năngsuất lao động, huy động nội lực trong dân, nhằm từng bớc giảm đói nghèo
Nghệ An cũng đã xuất bản các tập sách nh: “Hội thảo Kinh tế trang trại và xoá
đói, giảm nghèo” do Hội nông dân Nghệ An xuất bản 2001; Cùng“ nông dân
bàn cách làm giàu , ” Hội nông dân Nghệ An 2001; “Giai cấp nông dân Nghệ
An trớc yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH” do TS Đoàn Minh Duệ và TS.
Đinh Thế Định đồng chủ biên, NXB Nghệ An 6/2001 Các tập sách trên đãphần nào đề cập trên các góc độ khác nhau về đói nghèo và bớc đầu đa ra cácgiải pháp xoá đói, giảm nghèo
Nhìn chung, đã có không ít bài viết về lĩnh vực này, đó là điều kiện rấtthuận lợi giúp chúng tôi mạnh dạn nhận đề tài nghiên cứu khi làm luận văn tốtnghiệp đại học Tuy nhiên, khi nghiên cứu ở một địa phơng cụ thể nh xã SơnKim, thì các bài viết nh đã liệt kê ở trên chỉ mang ý nghĩa tham khảo Sơn Kimvới những đặc thù của một xã vùng cao biên giới, lại là địa phơng đang có sựphân hoá sâu sắc về sự giàu nghèo, chúng tôi gặp không ít khó khăn Vì vậy,lúc nghiên cứu trên địa bàn một xã cụ thể nh Sơn Kim, để hiểu về thực trạng
đói nghèo và đề ra các giải pháp để giúp địa phơng xoá đói, giảm nghèo là mộtvấn đề rất khó, nhng nếu làm đợc thì đó chính là cái mới, đánh dấu sự cố gắngcủa ngờì làm luận văn và phải chăng đó cũng là điều mong muốn của chúngtôi
3 Mục đích, nhiêm vụ của đề tài:
- Điều tra, khảo sát thực trạng đói, nghèo của xã Sơn Kim
- Phân tích nguyên nhân khách quan, chủ quan của sự đói, nghèo ở xãSơn Kim
- Đề xuất các giải pháp nhằm xoá đói, giảm nghèo, giúp địa phơng từngbớc vợt khó, vơn lên làm giàu
4 Phạm vi, phơng pháp nghiên cứu:
4.1 Phạm vi:
Thực trạng đói nghèo đang diễn ra hầu hết ở các xã, huyện của tỉnh HàTĩnh, nhng đề tài này chỉ đề cập đến thực trạng đói nghèo, cũng nh tìm ranguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến sự đói nghèo ở xã Sơn Kim, vì
Trang 5đây là một xã miền núi, vùng cao, giáp biên giới và nhất là gần đây đã bị cơn lũlịch sử vào tháng 9/2002 tàn phá rất nặng nề, nhng đã cố gắng vơn lên và có sựthay đổi khá nhanh chóng Cho nên, đề tài tập trung khảo sát, điều tra, nghiêncứu những con số, sự kiện biểu hiện trên tất cả các mặt của thực trạng đóinghèo và bớc đầu đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm giúp địa phơng xoá
đói, giảm nghèo
4.2 Phơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi kết hợp nhiều phơng pháp,trong đó, các phơng pháp chủ đạo là:
- Phân tích, tổng hợp, so sánh;
- Phơng pháp điều tra, khảo sát;
- Phơng pháp phỏng vấn, xác minh, lấy số liệu
- Khái quát hoá
Bằng các phơng pháp này, đã sẽ giúp chúng tôi nhìn nhận, đánh giá vấn đềmột cách biện chứng và trình bày đề tài một cách lôgic, khoa học
5 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn còn bao gồm 2 chơng:
Chơng 1: Đói nghèo ở Sơn Kim, thực trạng và nguyên nhân
Chơng 2: Phơng hớng và những giải pháp nhằm xoá đói, giảm nghèo ởSơn Kim
Trang 6Phần nội dung
Chơng I.
Đói nghèo ở Sơn Kim, Thực trạng và nguyên nhân
I Những quan niệm chung về đói nghèo.
1.1 Đói nghèo:
Đói nghèo là một hiện tợng kinh tế- xã hội mang tính toàn cầu Nó cómặt ở mọi nơi, mọi thời đại trong suốt quá trình phát triển lâu dài của lịch sử xãhội loài ngời Hiện nay, ngay cả những nớc giàu có, nền kinh tế rất phát triển,thu nhập bình quân đầu ngời rất cao, nhng cũng không tránh khỏi một bộ phândân c rơi vào tình trạng nghèo đói Chính vì vậy, từ nhiều năm nay, vấn đề đóinghèo và xoá đói, giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ cấp bách, mộtthách thức lớn không dễ vợt qua, mà nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tếquan tâm giải quyết
Ngay từ khi xã hội có sự phân chia giai cấp thì những ngời bị áp bức, bóclột luôn phải chịu cuộc sống khổ cực Bên cạnh sự bóc lộc của giai cấp thốngtrị là những cuộc chiến tranh kéo dài, sự khắc nghiệt của thiên tai gây nên baocảnh lầm than, tang tóc Từ khi xã hội loài ngời ra đời cho đến nay, đói nghèokhông chỉ xuất hiện trong chế độ công sản nguyên thuỷ, chế độ chiến hữu nô
lệ, chế độ phong kiến mà ngay trong thời đại ngày nay, khi mà trình độ khoahọc kỹ thuật và công nghệ phát triển nh vũ bão, cùng với sự phát triển của lực l-ợng sản xuất ở một trình độ cao cha từng thấy, năng suất lao động đợc nâng lênrất cao, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, nhng trong nhiều quốc gia, nhiềukhu vực, kể cả những nớc có nền kinh tế phát triển nhất, đói nghèo vẫn đangtồn tại
Việt Nam là một nớc đợc thế giới liệt vào 40 nớc nghèo nhất thế giới lạiliên tiếp bị chiến tranh tàn phá, do vậy bình quân thu nhập đầu ngời rất thấp(năm 1999 là 280USD/ngời, năm 2001 là 387USD/ngời), cho nên hiện tợng
đói, nghèo đang là thử thách gay gắt
Ngay từ những ngày đầu khi đất nớc mới dành đợc chính quyền, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến vấn đề đói nghèo Ngời coi đói nghèo nhmột thứ "giặc" phải diệt, phải chống để sớm mang lại cơm ăn, áo mặc cho nhân
dân Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo (từ 1986) cũng
không có mục đích nào khác là nhanh chóng đạt đợc những điều mong ớc giản
dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà Nghị quyết Đại hội VII của Đảng ta đã khái
quát thành mục tiêu: "Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng và văn minh".
Tuy nhiên, Cách mạng tháng Tám thành công đã gần 60 năm và cũng đãgần 30 năm nớc ta hoàn toàn thống nhất, độc lập, tự do, song một bộ phận đồngbào vẫn đang lâm vào tình trạng đói nghèo Đây thực sự là một vấn đề nhứcnhối đối với toàn Đảng, toàn dân ta Chính vì vậy, mà trong nhiều năm qua,
Trang 7Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra nhiều chính sách về công tác xoá đói, giảm nghèo.Tại Đại hội lần thứ VIII (1996) của Đảng đã xác định: 14 chơng trình quốc gia
và dự án có nội dung gắn với xoá đói, giảm nghèo
Hiện nay, khi nhân loại đang bớc vào thế kỷ XXI với những triển vọngrất to lớn, đồng thời với một loạt các thách thức đòi hỏi phải giải quyết nh: Sựkhủng hoảng kinh tế, vấn đề đói nghèo và suy thoái môi trờng; vấn đề bùng nổdân số và các đại dịch hoành hành trên khắp các châu lục Thực tế đã cho thấy
ở các nớc có nền kinh tế- xã hội chậm phát triển, thì tỷ lệ ngời nghèo càng cao,mức độ đói nghèo trở thành gánh nặng và là lực cản đối với sự phát triển của xãhội Không có một quốc gia nào có thể tự giải quyết vấn đề đói nghèo một cáchtriệt để và nhanh chóng
Đói nghèo là một hiện tợng xã hội có tính lịch sử Nó phổ biến ở mọiquốc gia, dân tộc, là vấn đề nóng bỏng và rất nhức nhối, mang tính toàn cầu
Đói nghèo và xoá đói, giảm nghèo đã trở thành mối quan tâm của cả cộng đồngquốc tế và mỗi quốc gia, dân tộc
Từ ngày 15 đến ngày 17/9/1993, tại Băng Cốc (Thái Lan) đã diễn ra Hộinghị về giảm nghèo đói trong khu vực Châu á- Thái Bình Dơng, do ESCAP tổchức Hội nghị đã xác định đợc những chuẩn mực có tính định tính về đóinghèo và bớc đầu đã đề ra những giải pháp cơ bản để xoá đói, giảm nghèo ởkhu vực
Tiếp đó, từ ngày 20 đến ngày 24/9/1993, đã diễn ra Hội nghị lấn thứ nhấtcủa “Uỷ ban giảm đói nghèo, tăng trởng kinh tế và phát triển xã hội” với đạibiểu của 25 nớc và 30 tổ chức quốc tế tham dự đã bàn về vấn đề giảm nghèocho các nớc và đã khẳng định: Tăng trởng kinh tế và phát triển xã hội là con đ-ờng cơ bản để giảm nghèo đói
1.2 Phân hoá giàu nghèo là một xu hớng tất yếu của xã hội Việt Nam hiện nay.
ở nớc ta hiện nay, phân hoá giàu- nghèo là một vấn đề đang nổi lênmang tính thời sự cấp bách và đợc xem là tiêu điểm của sự phân tầng xã hội
Theo chuẩn mực đói nghèo năm 1996 của Bộ Lao động, Thơng binh vàXã hội thì đến năm 1999, số hộ đói nghèo ở nớc ta chiếm trên 17%, có khoảng12,5 triệu ngời thuộc diện đói nghèo, 90% ngời nghèo sống ở nông thôn, chủyếu tập trung ở một số vùng nh: Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung, TâyNguyên và vùng núi phía Bắc
Sự phân hoá giàu- nghèo đợc xem là một xu hớng tất yếu của xã hội ViệtNam, đặc biệt là kể từ khi đất nớc chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trờngthì sự phân hoá giàu- nghèo diễn ra ngày càng rõ rệt và dễ nhận thấy ở nhữngnơi kinh tế thị trờng phát triển mạnh Thực tế phát triển của đất nớc từ thập kỷ
60 của thế kỷ XX trở lại nay cho thấy, khoảng cách giữa hộ giàu và hộ nghèo
Trang 8ngày càng cách xa nhau: Vào những năm 1960- 1970, khoảng cách nghèo là 3- 4 lần; từ 1980- 1990 khoảng cách đó là 6- 8 lần; nhng đến nay,khoảng cách đó là 40- 100 lần Sự cách xa này diễn ra theo xu hớng thu nhậpcủa hộ giàu tăng lên, thu nhập của hộ nghèo cầm chừng và có nơi giảm xuống.Thu nhập của hộ giàu ngày càng tăng nhanh là vì họ làm ăn giỏi, sớm thíchnghi với cơ chế thị trờng hoặc do có địa vị thuận lợi trong xã hội Chính thunhập không tơng xứng giữa ngời giàu và ngời nghèo dẫn đến khoảng cách giữagiàu nghèo ngày càng doãng ra
giàu-Trong xu hớng biến động của cơ cấu xã hội ở nớc ta hiện nay, cùng vớicông cuộc đổi mới, việc chuyển đổi từ một nền kinh tế dựa trên cơ chế kếhoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theocơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc thì sự phân hoá giàu, nghèo diễn rangày càng rõ nét và trở thành vấn đề bức xúc
Sở dĩ nói sự phát triển kinh tế thị trờng ở nớc ta dẫn đến sự phân hoágiàu, nghèo ngày càng sâu sắc là vì, một điều dễ nhận thấy rằng, khi chúng tachuyển sang nền kinh tế thị trờng thì những ngời nắm bắt đợc thực tế, có tínhnăng động, những ngời có địa vị, có trí tuệ, có thu nhập cao hơn so với nhữngngời không có lợi thế đó Mặt khác, kinh tế thị trờng phát triển, nhng khôngphải phát triển một cách đồng đều giữa các vùng, mà chỉ có những nơi nào có
điều kiện thuận lợi, những trung tâm kinh tế có đầy đủ các yếu tố để cho nềnkinh tế thị trờng phát triển, do đó, dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa cácvùng, giữa nông thôn và thành thị, những nơi có các điều kiện kinh tế, xã hộihoàn toàn không thuận lợi nh nhau Đây chính là một trong những mặt tiêu cực,hạn chế của kinh tế thị trờng Một vấn đề nổi bật ở nớc ta hiện nay, đó là việcgiải quyết mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội Công bằngxã hội không thể chấp nhận đợc tình trạng thu nhập quá chênh lệch giữa nhữngngời lao động chân chính, ngời có nhiều công lao trong sự nghiệp xây dựng đấtnớc với những kẻ làm giàu bất hợp pháp nh: tham nhũng, buôn lậu, làm ăn phipháp Công bằng xã hội cũng đòi hỏi Nhà nớc phải có chính sách đúng đắn,kịp thời nhằm tạo điều kiện cần thiết để giảm sự chênh lệch giữa thành thị vànông thôn, giữa đồng bằng và miền núi Chính việc thực hiện sự công bằng xãhội sẽ làm cho nền kinh tế phát triển ổn định và giảm bớt đợc khoảng cách giữa
hộ giàu và hộ nghèo
Từ thực tiễn đất nớc sau gần 20 năm đổi mới, số hộ giàu ở nớc ta đã tănglên một cách nhanh chóng Sự tăng lên đó là hiện tợng tích cực, phù hợp vớiquy luật phát triển kinh tế của xã hội Hộ giàu ở nớc ta đa số làm giàu bằngchính sức lao động và trí tuệ của mình ở những vùng nông thôn, hộ giàu cókhông phải do chiếm đoạt ruộng đất, bóc lột địa tô, mặc dù họ vẫn thuê mớnlao động, nhng quan hệ giữa họ là quan hệ sòng phẳng, hợp tác, bình đẳng Còn
Trang 9ở thành phố, những hộ giàu và cách làm giàu có sự khác hơn, ít nhiều có ảnh ởng đến vẫn đề bóc lột sức lao động, nhng chủ yếu vẫn là tạo việc làm, tăngnhanh sức lao động sản xuất, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế, xãhội.
h-Phân hoá giàu nghèo là một hiện tợng có tính hai mặt: tích cực và tiêucực, trong đó mặt tích cực vẫn là chủ yếu, vì xét một cách toàn diện, cơ bản nógắn với sự phân phối theo lao động, ngời lao động có kinh nghiệm, có hiệu quảhơn tất nhiên thu nhập sẽ cao hơn Trong tính hai mặt của sự phân hoá giàunghèo, chúng ta phải có cách nhìn biện chứng để phát huy mặt tích cực của nóvới tính cách là định hớng sự phát triển kinh tế- xã hội và sự phân phối theo kếtquả lao động, nhng đồng thời cũng cần phê phấn sự lạc hậu, trì trệ thậm chí phipháp trong làm ăn để giáo dục, thúc đẩy mọi ngời cùng vơn lên Do vậy, cầnkhuyến khích làm giàu chính đáng, nhng mặt khác phải hạn chế mặt tiêu cựccủa sự phân hoá giàu nghèo nh là: Sự bất bình đẳng trong xã hội; những thủ
đoạn làm giàu bất hợp pháp, bất chính nh: tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế hạn chế những tệ nạn xã hội Để hạn chế mặt tiêu cực này, không nhữngkhuyến khích mọi ngời làm giàu chính đáng mà còn phải mở rộng và đẩy mạnhcuộc vận động xoá đói, giảm nghèo
Sự phân hoá giàu nghèo về kinh tế ở nớc ta kéo theo sự "phân hoá" vềgiáo dục, y tế, văn hoá Hậu quả phổ biến ở khắp mọi nơi là những ngời giàu đ-
ợc hởng những thành quả của giáo dục, văn hoá, y tế của xã hội nhiều hơn ngờinghèo Điều này thể hiện rất rõ ở vùng nông thôn và miền núi nơi có tỷ lệ đóinghèo chiếm 30% do vậy học sinh bỏ học rất nhiều, vì không có tiền đóng gópcác khoản nh: học phí, xây dựng nhà trờng, mua sách vở do nhà trờng quy
định; có những ngời ốm đau thì không có tiền mua thuốc hoặc không có đủ khảnăng điều trị tại bệnh viện
Nh vậy, sự phân hoá giàu nghèo là một vấn đề đáng lo ngại cần phải cóbiện pháp để hạn chế khoảng cách giữa giàu, nghèo và những mặt tiêu cựctrong sự phân hoá giàu, nghèo tránh xu hớng tạo ra bất đình đẳng trong xã hội
Do vậy, chúng ta phải khuyến khích các hộ làm giàu và phơng thức làm giàuchính đáng bằng sức lao động, tri thức khoa học kỹ thuật và năng lực quản lý,
điều hành của chính bản thân mình Hạn chế tối đa những mặt tiêu cực, đồngthời phải có chính sách phát triển đồng bộ tạo điều kiện cho mọi ngời làm giàuvơn lên giàu hơn, phải có sự điều tiết thu nhập, nhằm từng bớc giải quyết sựchênh lệch giữa ngời giàu và ngời nghèo, giữa miền xuôi và miền ngợc, giữanông thôn và thành thị Có nh vậy mới có thể đa nền kinh tế- xã hội của đất nớcphát triển một cách ổn định và bền vững
Trang 10
1.3 Những quan niệm về nghèo đói.
Đói nghèo không phải là một hiện tợng bất biến, một vấn đề mang tính
định mệnh, đó là hiện tợng xã hội mang tính động, biến đổi, tồn tại trong nhiềuthế hệ, nhiều xã hội và ở mỗi thời đại khác nhau, tiêu chí để đánh giá vấn đề
đói nghèo cũng không giống nhau
1.3.1 Quan niệm chung.
Trong đời sống thực tiễn cũng nh trong các bài nghiên cứu khoa học vềcác vấn đề kinh tế- xã hội, chúng ta thờng thấy các khái niệm đói- no, giàu-nghèo và sự phân hoá giàu nghèo luôn luôn đi cùng với nhau, đem so sánh đểlàm nổi bật cho nhau, làm thớc đo để xác địch mức độ và cấp độ của bản thân
nó theo các tiêu chí khác nhau Đói nghèo không chỉ đơn thuần là thuộc phạmtrù kinh tế, không chỉ thuần tuý là mang tính vật chất, mà còn mang tính xã hộinhân văn, mặc dù sự đói nghèo trớc hết mang tính vật chất Nh vậy, đói nghèokhông chỉ đơn thuần là thiếu thốn về vật chất, mà còn cả dân trí nghèo, nghèovì thiếu thốn về tinh thần, văn hoá, sức khoẻ, suy thoái môi trờng bản thânhiện tợng đói nghèo chỉ mang tính tơng đối Thực tế cho thấy, các chỉ số xác
định đói nghèo và ranh giới phân biệt giữa giàu và nghèo luôn luôn thay đổi ởtừng thời điểm, trong từng vùng, từng nớc khác nhau, từng cộng đồng dân ckhác nhau Do đó, không thể lấy chỉ số xác định đói nghèo ở thời điểm này
để làm tiêu chí cho một thời điểm khác, bởi các chỉ số xác định đói nghèo luônluôn biến đổi
Tại Hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực châu á- Thái Bình
D-ơng do ESCAP tổ chức ở Băng Cốc (Thái Lan) vào tháng 9/1993, các nhànghiên cứu và các chuyên gia hoạch định chính sách đã đa ra khái niệm, định
nghĩa đói nghèo nh sau: "Nghèo đói là một bộ phận tình trạng dân c không đợc
hởng và thoả mãn những yêu cầu cơ bản của con ngời đã đợc xã hội-thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của địa ph-
ơng"
Có thể xem đây là một định nghĩa chung nhất về đói nghèo, một địnhnghĩa tuy không định lợng một cách chính xác mức độ đói nghèo, nhng nó đãchỉ ra đợc tính phổ biến nhất của sự đói nghèo Theo định nghĩa này, thì xã hộiloài ngời nói chung, cộng đồng dân c của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa ph-
ơng nói riêng đợc phân chia thành hai nhóm: Nhóm ngời nghèo và nhóm ngờicòn lại Định nghĩa này đã nhấn mạnh đến nhu cầu cơ bản nhất, thiết yếu nhất,tối thiếu nhất để duy trì sự tồn tại của con ngời nh: ăn, mặc, ở, đi lại
Trang 11Ngân hàng thế giới (WB) đã đa ra các chỉ tiêu để đánh giá mức độ giàu,nghèo của các quốc gia bằng cách so sánh mức thu nhập quốc dân bình quântrên đầu ngời trong một năm.
Theo cách tính của WB, ngời ta chia làm 6 loại về sự giàu nghèo của tấtcả các nớc trên thế giới nh sau:
Loại 1: có thu nhập trên 25.000 USD /năm/ ngời là nớc cực giàu
Loại 2: có thu nhập từ 20.000 USD/năm/ngời đến dới 25.000
Loại 6: có thu nhập từ dới 500 USD/năm/ngời là nớc cực nghèo.
Nh vậy, theo chỉ tiêu này thì nớc ta thuộc loại nớc cực nghèo.
Theo cách đánh giá của UNDP, nếu chỉ xét về mặt kinh tế thì trên thếgiới, nếu thu nhập bình quân mỗi ngời 1 USD/1 ngày thì thuộc diện đói nghèo.Còn ở một số nớc lại căn cứ vào lợng calo tối thiểu cung cấp cho cơ thể đủsống để tồn tại mà xác định giới hạn của sự nghèo khổ
Ví dụ ở một số nớc có chỉ số xác định về lợng tiêu thụ calo nh:
- ấn Độ, Pakistan và Bănglađét là 2.100 calo/ngời/ngày
- ở các nớc thuộc Đông Nam á: là 2.300 calo/ngời/ngày
- ở Việt Nam 1.800 calo/ngời/ngày
Tóm lại, những quan niệm về đói nghèo do cách tiếp cận khác nhau nên
có những cách lý giải khác nhau Sự nghèo khổ là một khái niệm tơng đối và cótính biến đổi theo thời gian Do vậy, về mặt nhận thức khoa học, khái niệmnghèo đói mang tính định tính, phản ánh giới hạn của sự nghèo đói, từ đó lợnghoá bằng các chỉ số có giá trị xác định và chỉ số này cũng không phản ánh mộtcách cứng nhắc mà có sự biến đổi tơng ứng theo độ chênh lệch giữa các vùng,các nớc và các khu vực khác nhau trong những khoảng thời gian nhất định
1.3.2 Quan niệm đói nghèo ở Việt Nam.
Hiện nay, ở nớc ta để đánh giá về sự đói nghèo thờng dự vào các tiêu chí:thu nhập, nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt, t liệu sản xuất, vốn liếng tích luỹ Dựavào các yếu tố đó, ở Việt Nam có ba cách tiếp cận về đói nghèo
Bộ Lao động, Thơng binh và Xã hội lấy tiêu chí của sự nghèo đói là thunhập bình quân đầu ngời quy ra gạo đủ bảo đảm cho nhu cầu tối thiểu hàng
ngày Trong đó, đói đợc định nghĩa: là tình trạng một bộ phận dân c nghèo có
mức sống dới mức tối thiểu, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thu nhập
Trang 12không bảo đảm duy trì cuộc sống Trong hộ đói còn phân thành đói gay gắt và
- Văn hoá + giáo dục + y tế + đi lại: 1kg gạo/ ngời/tháng.
Nh vậy, theo cơ cấu này thì nghèo tuyệt đối là tình trạng dân c chỉ có thunhập đảm bảo mức sống tối thiểu dới 15 kg gạo Ngời nghèo tuyệt đối và hộnghèo tuyệt đối đơng nhiên là không có điều kiện để thực hiện các nhu cầu vềvăn hoá, y tế, giáo dục và đời sống tinh thần nói chung
Do đói nghèo có tính động, biến đổi và có sự khác nhau giữa các vùngnên bộ Lao động, Thơng binh và Xã hội đã đa ra tiêu chí về đói nghèo giữa cácvùng có sự khác nhau là:
- Hộ đói ở nông thôn: Chỉ có thể mua đợc 8kg gạo/ngời/tháng
- Hộ nghèo ở nông thôn: Chỉ có thể mua đợc 15kg gạo/ngời/tháng
- Hộ nghèo ở đô thị: Chỉ có thể mua đợc 20 kg gạo/ngời/tháng
- Hộ đói ở đô thị: Chỉ có thể mua đợc 15 gạo/ngời/tháng
Theo Tổng cục Thống kê nếu lấy tiêu chí đảm bảo mức tiêu dùng nhiệt ợng, một hộ đợc xem là nghèo nếu không đủ thu nhập để mua gạo bảo đảm có
ăn)
Theo tiêu chí này, ngời nghèo ở Việt Nam đợc xác định nh sau:
- ở thành thị thu nhập bình quân: 1.293.000đ/ngời/năm
- ở nông thôn thu nhập bình quân: 1.040.000đ/ngời/năm
Nh vậy, trên đây là tiêu chí dùng để đánh giá mức độ đói nghèo ở ViệtNam Hiện nay, chúng ta đang sử dụng tiêu chí của Bộ Lao động, Thơng binh
và Xã hội đa ra từ năm 1996 để phân loại hộ đói, hộ nghèo, ngoài ra cha có hệtiêu chí nào khác
Từ những tiêu chí nêu trên, chúng ta càng thấy rõ đặc trng kinh tế- xãhội của hiện tợng đói nghèo nổi bật nhất là về mặt kinh tế Do đó, xoá đói,
Trang 13giảm nghèo trớc hết và căn bản phải từ kinh tế và bằng các biện pháp kinh tế,
đồng thời không xem nhẹ lĩnh vực xã hội và các chính sách xã hội
II Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của
xã Sơn Kim (Huyện Hơng Sơn , Tỉnh Hà Tĩnh ).
1 Tổng quan về điều kiện kinh tế, xã hội:
1.1 Điều kiện tự nhiên.
Sơn Kim là một xã miền núi vùng cao, biên giới giáp Lào của huyện
H-ơng Sơn, tỉnh Hà Tĩnh Có khí hậu nhiệt đới gió mùa, bốn mùa tách biệt Mùa
ma thờng gây lũ lụt do lợng ma khá lớn, về mùa hè thờng có gió Lào thổi rấtmạnh và nắng nóng khắc nghiệt Đây là xã có diện tích tự nhiên lớn nhất trong
32 xã của huyện Hơng Sơn Theo con số thống kê vào cuối năm 2002, thì SơnKim có diệt tích tự nhiên là 37.700 héc ta, trong đó phần lớn là đất đồi, gò đồi
và rừng núi Mặc dù, là một xã có diện tích tự nhiên tơng đối lớn, nhng diệntích đất canh tác chỉ có khoảng 680 héc ta Đặc biệt là Sơn Kim là xã biên giới,
có gần 20km đờng biên tự nhiên với tỉnh Bôlykhămxay của nớc bạn Lào, xãcũng làg nơi có cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo, vùng buôn bán tự do giữa ViệtNam , Lào và Thái Lan Có thể nói, chính vị trí Địa- kinh tế và Địa- chính trịnày đã tạo cho xã Sơn Kim nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế, nhng cũngchính những điều kiện đó đã làm cho sự phân hoá giàu nghèo của xã càng gaygắt hơn bao giờ hết
1.2 Điều kiện dân c:
Đây là một xã có số nhân khẩu khá cao so với toàn huyện Tổng dân sốtrên địa bàn sau đợt điều tra dân số ngày 1/4/2000 có 1.432 hộ với 8023 nhânkhẩu Tính cả số hộ và số nhân khẩu của xí nghiệp chè Tây Sơn đợc chuyểngiao theo Nghị định 51/CP thì dân số của xã có hơn 1.700 hộ và gần 10.000nhân khẩu
Nhìn chung, mặc dầu là xã miền núi vùng cao, nhng dân c của xã khá
đông, mức độ tự nhiên tăng khá cao nhng trong những năm gần đây đã dần ổn
định đạt mức tăng tự nhiên trung bình 1,53% /năm
1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội:
Là một xã khá đặc biệt, trong số gần một vạn nhân khẩu thì có 61 hộ
đồng bào dân tộc thiểu số với gần 360 nhân khẩu, chủ yếu là 3 dân tộc: ngờiMán Thanh gần 100; ngời Lào gần 100, còn lại là thuộc dân tộc Kim Lăng.Toàn xã có một nhà thờ Thiên chúa giáo, một nhà Nguyện, một đền Kim Cơng
Do có địa bàn rộng, lại nhiều đồi, gò đồi và rừng cho nên dân c của xãphân bố không đồng đều và không tập trung Toàn xã đợc chia thành 27 xóm,trong đó có 6 xóm của xí nghiệp chè Tây Sơn Khoảng cách giữa các xóm th-
Trang 14ờng cách xa nhau, nhiều xóm cách xa trung tâm xã trên 10km Mạng lới giaothông đi lại vì vậy gặp nhiều khó khăn, nhất là vào mùa ma.
Đời sống nhân dân ở đây còn rất nghèo do phần lớn nhân dân thuần nôngnghiệp, ngoài ra một bộ phận gắn bó lâu đời với rừng, sống dựa vào rừng Sảnxuất từ trớc tới nay chủ yếu là tự cung, tự cấp Trình độ dân trí còn rất thấp vàkhông đồng đều, ít am hiểu về pháp luật, về văn hoá xã hội
Thế mạnh kinh tế của vùng chủ yếu là nông nghiệp và lâm nghiệp Trongnông nghiệp chủ yếu là sản xuất lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, lạc và có cây kinh
tế hàng hoá lâu năm là: cây chè, cây cam, cây chanh Trong lâm nghiệp chủyếu là khai thác lâm sản, khoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng Trong những nămgần đây, dới tác động của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa,ngành dịch vụ hàng hoá hình thành và phát triển nên đời sống nhân dân đỡ khókhăn hơn Đặc biệt, với chính sách mở cửa giao lu kinh tế hàng hoá của Đảng
và Nhà nớc ta thì cửa khẩu Cầu Treo có vai trò hết sức quan trọng trong quátrình đổi mới nếp nghĩ, nếp làm của ngời nông dân Và trên thực tế một bộphận nông dân đã tự vơn lên làm giàu chính đáng bằng con đờng dịch vụ nhdịch vụ vận tải, dịch vụ hàng hoá, ngành nghề, trang trại v.v nhng cũng chínhquá trình đó làm dẫn đến tình trạng một bộ phận dân c thì giàu lên và một bộphận thì nghèo đói kéo dài do thiếu vốn làm ăn, thiếu kinh nghiệm sản xuấtkinh doanh, đông con, thiếu sức lao động, ốm đau, bệnh tật rủi ro tạo nên sựphân cực trong xã hội Sơn Kim
2 Thực trạng sự nghèo đói ở Sơn Kim.
Đói nghèo là một hiện tợng kinh tế- xã hội đã tồn tại từ rất lâu đời củangời dân Sơn Kim Và trong những năm qua với việc chuyển đổi nên kinh tếtheo hớng "Kinh tế thị trờng định hớng định hớng xã hội chủ nghĩa",thì ngoàinhững u thế về phát triển kinh tế hàng hoá, dịch vụ, xoá bỏ tự cung cấp, nângcao đời sống kinh tế của ngời dân thì đồng thời, sự phân tầng trong xã hội cũngdiễn ra nhanh chóng, khoảng cách giàu nghèo lại càng rõ nét Bộ phận nghèo
đói tập trung phần lớn vào những hộ thuần nông, dựa vào rừng là chính; có nềnkinh tế tích luỹ kém và thiếu ổn định Do có tâm lý sống dựa vào rừng nên một
bộ phận dân c có t tởng sống tạm thời lúc làm đợc thì tiêu, không làm đợc thìthiếu đói kéo dài Chính vì thế, tỷ lệ đói nghèo ở xã tơng đối lớn Hiện nay,theo con số thống kê năm 2001, số hộ giàu ở Sơn Kim chiếm 5%, số hộ khá25%, 70% còn lại là hộ trung bình và hộ nghèo đói Trong 70% đó thì nghèo
đói chiếm 23% Mặc dù, khoảng cách giàu nghèo ở đây cha phải là quá lớn,nhng với tâm lý sống dựa vào rừng nh một bộ phân dân c nêu trên thì khoảngcách đó có xu hớng ngày càng xa
Phân tích thực trạng đói nghèo ở Sơn Kim ta có các thống kê sau đây:
Trang 15Bảng 1: Tổng số hộ giàu, hộ nghèo của xã
- Hàng năm hộ giàu của xã tăng lên khá nhanh;
- Số hộ đói nghèo năm sau ít hơn năm trớc;
- Mặc dầu năm 2002, Sơn Kim bị lũ lụt tàn phá rất nặng nề nhng do sự hỗtrợ của Trung ơng và các tỉnh bạn cũng nh sự phát huy nôị lực của địa ph-
ơng nên xã đã có nhiều chính sách kinh tế xã hội nhằm giúp hộ đói nghèo,
và vì vậy cho đến tháng 4/2003 gần nh ở xã mọi sự tàn phá của cơn lũ lịch
1999 374 156 chiếm 41,7% 27 chiếm 7,2% 191 chiếm 51,06%
2000 287 123 chiếm 42,85% 21 chiếm 7,31% 143 chiếm 49,82%
2001 271 98 chiếm 36,16% 20 chiếm 7,38% 153 chiếm 56,45%
2002 287 116 chiếm 40,41% 18 chiếm 6,27% 153 chiếm 53,31%
Nguồn: trích báo cáo Hội nghị HĐND xã Sơn Kim tháng 12/2002
Từ bảng 2 ta có các nhận xét sau:
- Nguyên nhân chính của hộ đói nghèo là do không có kinh nghiệm sản xuất
Điều này hoàn toàn phù hợp với đánh giá của Hội thảo của Tỉnh Nghệ An
vào tháng 8/2001 khi đánh giá về nguyên nhân chính của đói nghèo, nhiều
đại biểu khẳng định rằng, chủ yếu là thiếu kinh ghiệm sản xuất
- Thiếu vốn cũng là nguyên nhân căn bản dẫn tới đói nghèo ậ xã Sơn Kimthiếu vốn chiếm tỷ lệ khá lớn trong số hộ đói nghèo
Bảng 3: số nhân khẩu trong các hộ đói nghèo của xã
Năm/hộ đói Hộ đói nghèo Có 4 nhân khẩu Có 5 nhân khẩu Có 6 nhân khẩu