Do đó, để đảm bảo cho người con có thể được hưởng đầy đủ các nhu cầuthiết yếu để tồn tại và phát triển, pháp luật đã quy định về vấn đề cấp dưỡng chocon khi cha mẹ ly hôn.. Trong đó phải
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHKHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=== ===
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CẤP DƯỠNG CHO CON KHI CHA MẸ LY HÔN TẠI TAND TP VINH GIAI ĐOẠN
2006 – 2010 VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giáo viên hướng dẫn: ThS Phạm Thị Thúy Liễu
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thùy Dung
VINH - 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận với đề tài "Thực tiễn giải quyết vấn đề cấp
dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn tại TAND TP.Vinh giai đoạn 2006 - 2010 và một số giải pháp", ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ tận tình và chu đáo của các Thầy cô giáo khoa Giáo dục chính trị và cácThầy cô giáo khoa Luật trường Đại học Vinh Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm
ơn Cô giáo - Thạc sĩ Phạm Thị Thúy Liễu, người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉbảo tôi trong suốt quá trình hoàn thiện khóa luận
Tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè tôi - những ngườiluôn động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô, chú là cán bộ của ngành Tòa ánnhân dân thành phố Vinh đã cung cấp những tài liệu quý báu để giúp tôi hoànthành tốt khóa luận
Trong thời gian ngắn, do trình độ bản thân có hạn nên khóa luận khôngtránh khỏi những thiếu sót, mong nhận được sự góp ý chân thành của Thầy côgiáo và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Thùy Dung
Trang 3HN - GĐ Hôn nhân và gia đình
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 8
3 Mục tiêu và nhiệm vụ khoa học 10
3.1 Mục tiêu 10
3.2 Nhiệm vụ 11
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 Bố cục của đề tài 11
6 Ý nghĩa của đề tài 12
6.1.Ý nghĩa lý luận 12
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 12
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẤP DƯỠNG 1.1 Gia đình và vai trò của gia đình 13
1.1.1 Quan niệm về gia đình 13
1.1.2 Vai trò của gia đình 15
1.2 Khái niệm hôn nhân và ly hôn 17
1.2.1 Khái niệm hôn nhân 17
1.2.2 Khái niệm ly hôn 18
1.3 Một số vấn đề lí luận chung về cấp dưỡng 19
1.3.1.Khái niệm cấp dưỡng 19
1.3.2 Các trường hợp phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng 24
1.3.3 Phân biệt nuôi dưỡng và cấp dưỡng 29
1.4 Quá trình hình thành và hoàn thiện của chế định cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám (năm1945) đến nay 31
1.4.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1959 31
Trang 51.4.2 Giai đoạn từ 1960 đến 1986 33
1.4.3 Giai đoạn từ 1986 đến nay 34
Tiểu kết chương I 36
CHƯƠNG II THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CẤP DƯỠNG CHO CON KHI CHA MẸ LY HÔN TẠI TAND TP.VINH GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP. 2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về cấp dưỡng theo quy định của Luật HN - GĐ 2000 ở nước ta hiện nay 37
2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Vinh 39
2.2.1 Điều kiện tự nhiên 39
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40
2.3 Thực tiễn giải quyết vấn đề cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn tại TAND TP.Vinh trong giai đoạn 2006 - 2010 43
2.3.1 Nhận xét chung 43
2.3.2 Thời điểm cấp dưỡng - mức cấp dưỡng - phương thức cấp dưỡng 46
2.3.3 Tạm ngừng cấp dưỡng - kết thúc cấp dưỡng 54
2.3.4 Một số trường hợp đặc biệt phát sinh quan hệ cấp dưỡng 56
2.4 Những hạn chế, nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn 57
2.4.1 Những hạn chế 57
2.4.2 Những nguyên nhân 57
2.5 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn 61
2.5.1 Một số giải pháp chung 61
Trang 62.5.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn tại TAND TP.Vinh 63
Tiểu kết chương II 66 KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trang 7Gia đình là tế bào của xã hội mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi íchcủa cá nhân, Nhà nước và xã hội Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhautính chất và kết cấu của gia đình cũng khác nhau Trong tác phẩm “Nguồn gốccủa gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” (1884), Ph.Ăngghen đã chứngminh rằng: Gia đình có mối liên hệ mật thiết trực tiếp và chặt chẽ với chế độkinh tế - xã hội Khi cơ cấu và tính chất gia đình thay đổi nó sẽ kéo theo sự biếnđổi trong cơ cấu kinh tế - xã hội Nói cách khác, sự phát triển và tiến bộ của mỗihình thái hôn nhân và gia đình là biểu hiện rõ nhất sự phát triển của xã hội loàingười, là thước đo để đánh giá sự tiến bộ của hình thái kinh tế - xã hội này sovới hình thái kinh tế - xã hội khác Vì vậy, xây dựng gia đình bền vững, ấm no,hạnh phúc là vấn đề được các quốc gia hết sức quan tâm.
Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, Đảng và Nhà nước CHXHCNViệt Nam luôn quan tâm và đề cao vấn đề xây dựng và phát triển gia đình Trong
"Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội", Đảng
ta đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng
cả đời người, là môi trường giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Các chính sách của nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ, nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người”.
Điều 64 Hiến pháp 1992 nước CHXHCN Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm2001) cũng ghi nhận :
“Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt Con cháu
có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, bố mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con”.
Gia đình đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.Muốn có một xã hội tốt thì phải có những gia đình hạnh phúc và bền vững Mà
Trang 8trước hết là hôn nhân phải được thiết lập dựa trên quan hệ vợ chồng hạnh phúc.
Như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và
nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý đến hạt nhân cho tốt”.
Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay các trường hợp ly hôn xảy ra ngày càng phổbiến Nguyên nhân của tình trạng ly hôn gia tăng là do quan niệm sai lầm về hônnhân và tình yêu nên dễ dãi ly hôn, chủ nghĩa thực dụng và vật chất trong tìnhyêu, sự nóng vội đi đến hôn nhân (tập trung chủ yếu ở những cặp vợ chồng trẻ);các cặp vợ chồng khó có con đầu lòng (tập trung vào nhóm công chức và nhómbuôn bán)
Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân Nếu kết hôn là hiện tượng bìnhthường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, thì ly hôn là mặt trái của hôn nhân, làhiện tượng bất bình thường nhưng là mặt không thể thiếu khi hôn nhân thực sựtan vỡ
Một trong những vấn đề quan trọng nhất cần được giải quyết khi vợ chồng
ly hôn là vấn đề cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn Đây là một chế định pháp
lý quan trọng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình Bởi lẽ, người con là người
bị ảnh hưởng trực tiếp Vì cha mẹ không còn cùng chung sống nên người conkhông còn được nhận sự gần gũi, quan tâm, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ.Hơn nữa, quá trình phát triển nhân cách của người con sau này cũng sẽ bị ảnhhưởng nếu bị cha mẹ bỏ rơi, không quan tâm, nhất là trong hoàn cảnh lối sốngcủa con người bị tác động trực tiếp bởi nền kinh tế thị trường Trên thực tế, cónhiều trường hợp sau khi ly hôn cha mẹ không làm tròn nghĩa vụ cấp dưỡng đốivới con, thậm chí là trốn tránh trách nhiệm cấp dưỡng cho con Điều đó đã ảnhhưởng đến cuộc sống của người con sau này
Trang 9Do đó, để đảm bảo cho người con có thể được hưởng đầy đủ các nhu cầuthiết yếu để tồn tại và phát triển, pháp luật đã quy định về vấn đề cấp dưỡng chocon khi cha mẹ ly hôn Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề liên quan đến việc cấpdưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn chưa được quy định hoặc quy định chưa đầy
đủ
Vì vậy, để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề cấp
dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Thực tiễn
giải quyết vấn đề cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn tại TAND TP.Vinh giai đoạn 2006 - 2010 và một số giải pháp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta thời kì phong kiến, quan hệ cấp dưỡng đã được các triều đại
phong kiến chú trọng Điều đó thể hiện trong pháp luật nhà Lê qua Bộ luật Hồng
Đức và Hồng Đức Thiện Chính Thư, trong pháp luật nhà Nguyễn qua Bộ luật Gia Long.
Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, các vấn đề liên quan đếnquan hệ hôn nhân và gia đình cũng được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Điều đó
thể hiện qua các bản Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa như Hiến
pháp 1945, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 Đặc biệt là Hiến pháp 1992 của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trở thành cơ sở pháp lí quan trọngcho việc xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam trong thời kì cả nướcquá độ lên Chủ nghĩa xã hội
Các vấn đề về cấp dưỡng nói chung và vấn đề cấp dưỡng cho con khi cha
mẹ ly hôn nói riêng cũng đã được các nhà lập pháp quan tâm nghiên cứu Trong
số các loại văn bản này, phải kể đến: Sắc lệnh số 159 - SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn; Dự luật hôn nhân và gia đình 1959 được Quốc hội khóa I,
kì họp thứ 11 thông qua ngày 29/12/1959 và được Chủ tịch nước kí lệnh công bố
ngày 13/01/1960 theo Sắc lệnh số 02 - SL; Dự luật hôn nhân và gia đình
Trang 101986 đã được Quốc hội khóa VII kì họp thứ 12 thông qua ngày 29/12/1986 và
được Hội đồng nhà nước công bố ngày 03/01/1987
Tuy nhiên, các quy định về cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn trongcác văn bản trên còn mang tính khái quát, chưa cụ thể, việc áp dụng luật giảiquyết các tranh chấp về cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn còn gặp nhiềuvướng mắc
Nhằm hoàn thiện hệ thống các quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân và
gia đình, Nhà nước ta đã ban hành Luật hôn nhân và gia đình 2000, được Quốc
hội khóa X, kì họp thứ 7 thông qua ngày 09/06/2000 và được Chủ tịch nước kílệnh công bố ngày 22/06/2000 theo Lệnh số 08L/CTN Luật hôn nhân và giađình 2000 đã tiếp tục kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật hôn nhân và giađình Việt Nam Luật HN - GĐ 2000 cũng đã dành riêng một chương để quy định
về vấn đề cấp dưỡng Trong đó chế định cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn
đã được quy định chi tiết, đầy đủ hơn
Ngoài ra, các vấn đề liên quan đến cấp dưỡng nói chung và cấp dưỡng
cho con khi cha mẹ ly hôn nói riêng còn được quy định trong: Nghị quyết số
02/2000/NĐ - HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng thẩm phán toà án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000; Nghị định số 70/2001/NĐ - CP của Chính phủ ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình; Nghị định số 87/2001/NĐ -
CP của Chính phủ ngày 21/11/2001 quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình…
Để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước, Nhà nước ta đã kịp thờisửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thêm hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình ViệtNam
Tính đến thời điểm hiện nay cũng đã có nhiều bài viết cũng như các côngtrình nghiên cứu về chế định cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn theo quy định
Trang 11của Luật hôn nhân và gia đình 2000 Trong đó phải kể đến: Bài viết “Một số suy
nghĩ về thi hành án cấp dưỡng nuôi con” của tác giả Vũ Thanh đăng trên Tạp chí
Dân chủ và pháp luật số 2/2001; Đề tài “Chế định ly hôn theo quy định của pháp
luật Việt Nam”- Luận văn tiến sĩ luật học của Vũ Thị Hằng, Trường đại học Luật
Hà Nội, năm 1997; Đề tài “ Hậu quả pháp lý của ly hôn” - khóa luận tốt nghiệp đại học, Trương Anh Nam, Trường đại học Luật Hà Nội, năm 1997, Đề tài “Giải
quyết trường hợp cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn” - khóa luận tốt nghiệp,
Nguyễn Thúy Anh, Trường đại học Luật Hà Nội, năm 2010
Các bài viết và công trình nghiên cứu trên đây đã nêu ra được những bấtcập cả trong lý luận và thực tiễn về vấn đề cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn,
và từ đó đã nêu ra các kiến nghị, giải pháp Tuy nhiên, các bài viết và công trìnhnghiên cứu nói trên chỉ mới dừng lại ở tầm khái quát chung mà chưa đi sâu vàothực tiễn cụ thể của một huyện, thành phố, tỉnh
Trong khuôn khổ khoá luận với khả năng còn hạn chế, tôi không đề cậpmột cách cụ thể tất cả vấn đề liên quan đến cấp dưỡng mà chỉ trình bày một sốvấn đề liên quan đến việc cấp dưỡng cho con trong trường hợp cha mẹ ly hôn.Đồng thời, chỉ ra thực trạng giải quyết vấn đề cấp dưỡng cho con khi cha mẹ lyhôn tại TAND TP.Vinh Qua đó phân tích, đánh giá, đưa ra các giải pháp nhằmgóp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về cấp dưỡng cũng như nâng caochất lượng giải quyết các trường hợp cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn tạiTAND TP.Vinh
3 Mục tiêu và nhiệm vụ khoa học
Trang 12- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về cấp
dưỡng và nâng cao chất lượng giải quyết các trường hợp cấp dưỡng cho con khicha mẹ ly hôn tại TAND TP.Vinh
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, cá nhân tôi đã sử dụng các phươngpháp nghiên cứu như:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin
- Phương pháp khái quát, tổng hợp
Chương I: Một số vấn đề lí luận chung về vấn đề cấp dưỡng
Chương II: Thực tiễn giải quyết vấn đề cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn tại TAND TP.Vinh giai đoạn 2006 - 2010 và một số giải pháp.
6 Ý nghĩa của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Trang 13Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận trongkhoa học pháp lý về các khái niệm: cấp dưỡng, cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly
hôn, điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện việc giải quyết cácvướng mắc liên quan đến cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn, phục vụ cho cơquan TAND TP.Vinh nói riêng cũng như các TAND các cấp và cá nhân có thẩmquyền nâng cao trình độ lý luận
Các giải pháp có tác dụng giải quyết các vướng mắc liên quan đến cấpdưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn phát sinh trong thực tế đời sống xã hội và nângcao năng lực của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình giải quyết cácvướng mắc liên quan đến cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn
Những luận cứ khoa học và thực tiễn được trình bày có thể được sử dụnglàm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu của các sinh viên các khóa học sau nàycũng như những người quan tâm
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I
Trang 14MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẤP DƯỠNG 1.1 Gia đình và vai trò của gia đình
1.1.1 Quan niệm về gia đình
Hiện nay có rất nhiều tài liệu nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa khácnhau về gia đình Tùy theo từng lĩnh vực nghiên cứu mà khái niệm gia đình được
đề cập đến ở những góc độ khác nhau
Dưới góc độ xã hội học, gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một
nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người
Theo định nghĩa trên, gia đình được xem như một nhóm xã hội nhỏ vớicác thành viên gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệcon nuôi Đồng thời, gia đình giống như một thiết chế xã hội mà vai trò của nóđặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người
Xét dưới góc độ tâm lý học, gia đình là một nhóm xã hội có quan hệ gắn
bó về hôn nhân và huyết thống, tâm lý học, có chung các giá trị vật chất, tinh thần ổn định trong các thời điểm lịch sử.
Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và cuả Nhà
nước" của Ph Ăngghen đã viết: “Quan hệ thứ ba ngay từ đầu tham dự vào quá
trình phát triển lịch sử và hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người đã tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở, đó là quan hệ giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”.
Ph.Ăngghen đưa ra định nghĩa về gia đình dựa trên vai trò của gia đìnhtrong lịch sử phát triển của xã hội loài người Trong gia đình, hai quan hệ giữ vaitrò nền tảng là "quan hệ giữa vợ và chồng" và "quan hệ giữa cha mẹ và con cái"
Trang 15Ph.Ăngghen cũng đề cập đến chức năng quan trọng của gia đình là tái sản xuất racon người (chức năng sinh sản) Đó chính là cơ sở để xã hội tồn tại và phát triển.
Tổ chức UNESCO của Liên Hợp Quốc cũng đã đưa ra định nghĩa: “Gia
đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng chung sống và có ngân sách chung Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi về mọi mặt được pháp luật chấp thuận”.
Theo định nghĩa của tổ chức UNESCO, gia đình được xây dựng cơ sở cácthành viên gắn bó với nhau tên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thốnghoặc quan hệ nuôi dưỡng Các thành viên có các quyền và nghĩa vụ đối với nhaunhưng các quan hệ đó phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Pháp luật quyđịnh các quyền và nghĩa vụ cho từng thành viên nhằm đảm bảo cho mỗi ngườiđược hưởng những điều kiện tốt nhất để tồn tại và phát triển
Theo Từ điển Tiếng Việt: "Gia đình là tập hợp những người cùng sống
chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái"
Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
2004 định nghĩa: “Gia đình là hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt được hình
thành, duy trì và củng cố chủ yếu trên cơ sở hôn nhân, huyết thống”
Theo định nghĩa trên, quan hệ hôn nhân và huyết thống là những nét bảnchất nhất của gia đình (không đề cập đến quan hệ nuôi dưỡng) Gia đình khôngchỉ là một đơn vị tình cảm - tâm lý, mà còn là một tổ chức kinh tế - tiêu dùng (sởhữu, sản xuất, thu nhập và chi tiêu ), một môi trường giáo dục - văn hóa (vănhóa gia đình và cộng đồng), một cơ cấu - thiết chế xã hội (có cơ chế và cách thứcvận động riêng)
Theo Khoản 10 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000:
Trang 16“Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ
huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau”.
Gia đình theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là sự liên kết của nhiềungười dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụtương ứng với nhau, cùng quan tâm, giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, xâydựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội
1.1.2 Vai trò của gia đình
Gia đình có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Trong bất
cứ hoàn cảch lịch sử nào, gia đình cũng giữ những vai trò cơ bản sau:
- Gia đình là "tế bào" của xã hội Do đó, gia đình và xã hội có quan hệ mậtthiết với nhau Xã hội phát triển lành mạnh tạo điều kiện cho các gia đình đượctiến bộ, hạnh phúc, góp phần cho sự phát triển hài hòa của xã hội Gia đình với
tư cách "tế bào" của xã hội đã tác động tích cực đến tiến trình phát triển của xã
hội Ph.Ăngghen đã đưa ra nhận định: " Những trật tự xã hội, trong đó những
con người của của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình" Với tư cách là tế
bào của xã hội, gia đình là tổ chức cơ sở, là cơ chế thiết chế xã hội nhỏ nhất Cơchế thiết chế nhỏ nhất này rất đa dạng và phong phú; trong quá trình vận động,vừa tuân thủ những quy luật và cơ chế chung của xã hội, vừa theo những quyđịnh và tổ chức riêng của mình
- Gia đình giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách conngười Gia đình là môi trường đầu tiên mà con người được tiếp xúc Trong quátrình tồn tại và phát triển của mình con người dần học hỏi được các kiến thứcmới Quá trình đó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường, giađình - xã hội Gia đình đã trở thành cầu nối quan trọng giữa các thành viên với
Trang 17xã hội, là yếu tố có tác động trực tiếp tới việc hình thành, phát triển nhân cách.Gia đình cũng là nơi lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc như hệthống giá trị đạo đức, môi trường tâm lý tình cảm, nếp sống, tín ngưỡng tôn giáo,những kiến thức, kinh nghiệm sản xuất…Việc giáo dục nhân cách con người tùythuộc vào truyền thống của từng gia đình, vào hoàn cảnh kinh tế gia đình, trình
độ học vấn của cha mẹ, địa bàn cư trú của gia đình, sự định hướng giá trị nghềnghiệp của gia đình
- Gia đình với vai trò tái sản xuất ra con người và tổ chức đời sống xã hội.Quá trình hình thành và phát triển của xã hội gắn liền với các hình thái hôn nhân
và gia đình khác nhau: Gia đình huyết tộc, gia đình Pu - na - lu - na, hôn nhân(gia đình) đối ngẫu, hôn nhân (gia đình) một vợ một chồng và các biến thể của
nó Tuy nhiên, trong bất cứ thời kì lịch sử nào gia đình cũng luôn thực hiện chứcnăng quan trọng là tái sản xuất ra con người, tái sản xuất sức lao động cho xãhội, bổ sung thêm lượng lao động cần thiết để phục vụ cho sự phát triển và tiến
bộ của xã hội
Bên cạnh đó, gia đình cũng phải tiến hành các hoạt động lao động sản xuấtnhằm thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của các thành viên giađình, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển ổn định của gia đình qua từng thời kì.Trong quá trình đó con người đã sáng tạo ra các giá trị mới, thúc đẩy xã hội pháttriển Gia đình đã đóng góp vào việc tái sản xuất ra của cải tinh thần và vật chấtcho xã hội Gia đình trở thành một đơn vị tiêu dùng quan trọng thúc đẩy sự triểncủa sản xuất và phân phối, giao lưu hàng hóa cho xã hội Bởi vì, trong thỏa mãncác nhu cầu của mình con người cần phải giao lưu, trao đổi với nhau Điều đóhình thành nên các giá trị văn hóa riêng, đặc sắc của từng dân tộc trên thế giới
1.2 Khái niệm hôn nhân và ly hôn
Trang 181.2.1 Khái niệm hôn nhân
Hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình và gia đình là tế bào của xã hội.Việc đưa ra khái niệm đầy đủ về hôn nhân phản ánh quan điểm của một Nhànước về hôn nhân, xác định bản chất pháp lý của hôn nhân, xác định nội dung,phạm vi điều chỉnh của các qui phạm pháp luật hôn nhân và gia đình
Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, các nhà làm luật đưa ra
quan niệm rằng: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một
người nữ với tư cách là vợ chồng”, hoặc “Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”.
Hai quan niệm trên đã thể hiện bản chất pháp lý của hôn nhân Đó là sựgắn kết giữa một người nam và một người nữ trên cơ sở được pháp luật thừanhận Sau khi kết hôn, họ sẽ mang những vai trò mới trong xã hội, vai trò củangười chồng và vai trò của người vợ Giữa hai người sẽ hình thành nên nhữngmối ràng buộc mới về quyền và nghĩa vụ Quan hệ hôn nhân này dựa trên cơ sởchung sống lâu dài, cùng xây dựng gia đình, chăm sóc và giáo dục con cái
Quan điểm của các nhà luật học Việt Nam : “Hôn nhân là quan hệ giữa
vợ và chồng sau khi đã kết hôn”.(Điểm 6 Điều 8 Luật HN - GĐ 2000)
Theo quan điểm của các nhà luật học Việt Nam, hôn nhân là sự liên kết
đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, sự liên kết đó phải được Nhànước thừa nhận bằng sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý - đó là đăng ký kếthôn Sự liên kết này không phụ thuộc vào tính toán vật chất, mà được dựa trên
cơ sở tình yêu thương, qúy trọng, bình đẳng và tự nguyện giữa vợ và chồng
Còn theo "Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học" của trường Đại học Luật
Hà Nội, hôn nhân được hiểu là: “Sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa
trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận”
Mục đích của hôn nhân là xây dựng mối quan hệ bền vững giữa vợ và
Trang 19chồng, đảm bảo thoả mãn nhu cầu tinh thần và vật chất của đôi bên, sinh đẻ vàgiáo dục con cái Sự bền vững của hôn nhân là sự bền vững của từng gia đình và
là cơ sở của một xã hội tốt đẹp Trong một gia đình đầm ấm, hạnh phúc thì cácthành viên của gia đình phấn khởi trong lao động, sản xuất, tạo ra nhiều của cảicho xã hội Con cái được chăm sóc, giáo dục trở thành những công dân tốt cho
xã hội
Như vậy, hôn nhân là sự liên kết giữa nam và nữ được xã hội thừa nhậndưới nhiều hình thức như sự phê chuẩn của chính quyền về mặt pháp lý; sự chấpnhận của gia đình, họ hàng, bạn bè dưới các nghi lễ theo hình thức các phong tụctập quán, tôn giáo của địa phương
1.2.2 Khái niệm ly hôn
Theo Khoản 8, Điều 8 Luật HN - GĐ 2000:
“Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết
định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng”.
Ly hôn là hiện tượng làm chấm dứt quan hệ tài sản gắn với quan hệ nhânthân giữa vợ và chồng Ly hôn là một tất yếu khi quan hệ hôn nhân thực sự tan
vỡ Ly hôn tạo điều kiện cho vợ và chồng thoát khỏi những ràng buộc với nhau
về mặt pháp lý và bắt đầu cuộc sống mới Điều đó hoàn toàn có lợi cho vợ,
chồng, con cái và các thành viên khác trong gia đình Theo Lênin: “Thực ra tự
do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh”.
Sau khi ly hôn, pháp luật cũng quy định về vấn đề cấp dưỡng giữa vợ vàchồng Khi một trong hai người gặp khó khăn, túng quẫn thì người kia có tráchnhiệm cấp dưỡng với điều kiện sự khó khăn đó là có căn cứ và người đó có tàisản Bên cạnh đó, pháp luật cũng quan tâm đến vấn đề bảo đảm các quyền củacon cái khi cha mẹ ly hôn Cha mẹ khi không chung sống cùng con cái thì có
Trang 20trách nhiệm cấp dưỡng cho con cho đến khi con trưởng thành và có khả năng laođộng, tạo ra thu nhập để nuôi sống mình.
Hiện nay, ở Việt Nam ly hôn đang trở thành một hiện tượng phổ biến Nó
là một trong những nguyên nhân quan trọng làm thay đổi cơ cấu gia đình Lyhôn không chỉ là hiện tượng liên quan đến cá nhân mà còn là biểu hiện bất bìnhthường của xã hội khi tỷ lệ ly hôn quá cao Nó chứng tỏ sự suy thoái đạo đức xãhội và để lại di chứng xã hội, đặc biệt là trong vấn đề nuôi dạy con cái và tái hôn
1.3 Một số vấn đề lí luận chung về cấp dưỡng
1.3.1 Khái niệm cấp dưỡng
Cấp dưỡng trong luật HN - GĐ được hiểu là quan hệ pháp lụât, theo đóngười có nghĩa vụ cấp dưỡng phải đảm bảo cho người có quan hệ hôn nhân,huyết thống hoặc nuôi dưỡng với mình có được sự chu cấp mang yếu tố tài sảntheo những điều kiện được quy định trong luật HN - GĐ
Theo quy định tại khoản 11 Điều 8 Luật HN - GĐ năm 2000: "Cấp dưỡng
là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp đó là người chưa thành niên, là người thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình, là người gặp khó khăn túng thiếu theo quy định của luật này".
* Bản chất của nghĩa vụ cấp dưỡng
- Nghĩa vụ cấp dưỡng là quan hệ mang tính tài sản
- Quan hệ mang tính tài sản này không mang tính đền bù và ngang giá
- Nghĩa vụ cấp dưỡng mang tính cụ thể và riêng biệt, nghĩa vụ cấp dưỡngđược thực hiện giữa những chủ thể có tư cách chủ thể đặc biệt Tư cách chủ thểcủa họ được hình thành từ những mối quan hệ cụ thể như quan hệ cha mẹ con,quan hệ anh chị em, quan hệ ông bà cháu Nghiã vụ cấp dưỡng thuộc về những
Trang 21cá nhân riêng biệt vì vậy không thể chuyển giao cho người khác và không thểthay thế bằng nghĩa vụ dân sự khác.
* Yếu tố cấu thành quan hệ pháp lụât cấp dưỡng
- Chủ thể của quan hệ cấp dưỡng là người cấp dưỡng và người được cấpdưỡng Quan hệ này chỉ hình thành giữa những người theo quy định của luật HN
- GĐ và họ có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng nhau Vì lý do nào đó mà người nuôidưỡng và người được nuôi dưỡng không chung sống với nhau thì thay vì thựchiện nghĩa vụ nuôi dưỡng họ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
Người có nghĩa vụ cấp dưỡng là người có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấpdưỡng
Người được cấp dưỡng là người chưa thành niên, hoặc đã thành niênnhưng mất năng lực hành vi dân sự, bị tàn tật không có khả năng lao động,không có tài sản để tự nuôi sống mình, là người gặp khó khăn túng thiếu
Nghĩa vụ cấp dưỡng là loại quan hệ có điều kiện, nó chỉ phát sinh khi hội
đủ những điều kiện được pháp luật quy định
- Khách thể của nghĩa vụ cấp dưỡng là hành vi đóng góp tiền hoặc tài sảnkhác của người cấp dưỡng cho người được cấp dưỡng thực hiện trên sự thoảthuận cấp dưỡng hoặc theo quyết định có hiệu lực của toà án
- Nội dung của nghĩa vụ cấp dưỡng là quyền của người được cấp dưỡngyêu cầu người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện
* Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình có thể chia thành ba hàng cấp dưỡng
- Hàng thứ nhất: Bao gồm nghĩa vụ cấp dưỡng giữa những người có quan
hệ gần gũi thân thiết nhất trong gia đình Đó là cha, mẹ, con, vợ chồng
- Hàng thứ hai: Bao gồm nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh chị em Ở hàng thứhai mức độ thân thiết giữa các chủ thể xa hơn hàng thứ nhất, nó chỉ phát sinh nếu
Trang 22những người có nghĩa vụ cấp dưỡng ở hàng thứ nhất đã chết hoặc còn sống màkhông có khả năng thực hiện được nghĩa vụ này.
- Hàng thứ ba là nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà và cháu Nghĩa vụ nàychỉ phát sinh khi những người ở hàng thứ nhất và hàng thứ hai không còn hoặc
có mà không thực hiện được nghĩa vụ cấp dưỡng
* Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện thông qua mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
- Mức cấp dưỡng là một khoản tiền, lương thực hoặc tài sản khác mà bên
có nghĩa vụ cấp dưỡng cấp cho bên được cấp dưỡng để đảm bảo nhu cầu thiếtyếu của bên được cấp dưỡng
Pháp luật không quy định cụ thể mức cấp dưỡng cho các trường hợp cấpdưỡng mà trong các trường hợp riêng biệt, tuỳ vào điều kiện hoàn cảnh củangười cấp dưỡng và người được cấp dưỡng mà các bên thoả thuận một mức cấpdưỡng cụ thể hoặc do Toà án quyết định để có thể đảm bảo quyền và lợi ích hợppháp cho người được cấp dưỡng cũng như đảm bảo cho người có nghĩa vụ cấpdưỡng có thể thực hiện được nghĩa vụ của mình
Theo quy định tại Điều 53 Luật HN - GĐ năm 2000: "Mức cấp dưỡng do
người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thoả thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa
vụ cấp dưỡng; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết".
Như vậy, mức cấp dưỡng được xây dựng trên tiêu chí sau:
- Khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng
- Nhu cầu thực tế của người được cấp dưỡng
Theo hướng dẫn của Nghị định số 70/2001/NĐ - CP hướng dẫn thi hànhluật HN - GĐ 2000 quy định:
- Khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là người có nghĩa vụcấp dưỡng có thu nhập thường xuyên hoặc tuy không có thu nhập thường xuyên
Trang 23nhưng còn tài sản sau khi trừ đi chi phí thông thường cần thiết cho cuộc sống củangười đó.
- Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng được xác định căn cứ vàomức sinh hoạt trung bình tại địa phương nơi người đó cư trú bao gồm: các chiphí thông thường cần thiết về ăn, ở mặc, học hành, khám chữa bệnh và các chiphí thông thường cần thiết khác để đảm bảo cuộc sống của người được cấpdưỡng
Một khi mức cấp dưỡng được xác định một cách thận trọng và chính xácdựa trên các tiêu chí như trên thì nghĩa vụ cấp dưỡng mới có thể được thực thitrên thực tế
Mức cấp dưỡng có thể được các bên thoả thuận hoặc do Toà án quyết địnhnhưng nó không phải tồn tại một cách cố định mà luôn có sự thay đổi Vì khi có
lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi, tăng lên hoặc giảm xuống dựavào hoàn cảnh gia đình, tình trạng tài sản của các bên hoặc một số tình trạng đặcbiệt
Ví dụ: Mức cấp dưỡng có thể giảm khi người có nghĩa vụ cấp dưỡng sau
khi ly hôn đã kết hôn với người khác, họ có con và cụôc sống của họ khó khăntúng thiếu hơn so với người được cấp dưỡng
Mức cấp dưỡng tăng khi người phải cấp dưỡng có khả năng tăng thu nhập
từ nhiều nguồn khác nhau hoặc người được cấp dưỡng rơi vào hoàn cảnh khókhăn hơn so với lúc quyết định mức cấp dưỡng
Phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có thể bằng tiền hoặc tài sản.Việc lựa chọn phương thức nào do ngừơi cấp dưỡng và người được cấp dưỡngthoả thuận với nhau
Về mặt thời gian: "Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng
tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần".
Trang 24Các bên chủ thể của nghĩa vụ cấp dưỡng: Người có nghĩa vụ cấp dưỡng,người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người được cấp dưỡng thoảthuận về phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Thông thường trên thực tế, nếu bên phải cấp dưỡng là cán bộ, công nhânviên chức, những người hưởng lương hoặc được trả công lao động hàng tháng thìviệc cấp dưỡng được tiến hành theo phương thức hàng tháng cho họ thuận lợitrong việc chi trả cấp dưỡng Nếu bên cấp dưỡng làm nông nghiệp, thu hoạchtheo thời vụ thì việc cấp dưỡng được tiến hành theo thời vụ
Mức cấp dưỡng một lần là trường hợp đặc biệt, vì vậy nên pháp luật quyđịnh rõ tại Điều 18 Nghị định số 70/2001/NĐ - CP việc cấp dưỡng một lần chỉđược thực hiện trong các trường hợp sau:
- Do người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thoả thuậnvới người có nghĩa vụ cấp dưỡng
- Theo yêu cầu của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và được Toà án chấpnhận
- Theo yêu cầu của người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của họ vàđược Toà án chấp nhận trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng thườngxuyên có hành vi phát tán tài sản hoặc có tình trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụcấp dưỡng mà hiện có tài sản để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng một lần
- Theo yêu cầu của người trực tiếp nuôi con khi vợ chồng ly hôn mà có thểtrích từ phần tài sản được chia của bên có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
Người được giao quản lý khoản cấp dưỡng một lần có trách nhiệm bảoquản tài sản đó như đối với tài sản của mình và chỉ được trích ra để đảm bảo cácnhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng
Trang 251.3.2 Các trường hợp phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng
* Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con
Theo Điều 56 Luật HN - GĐ 2000: “Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực
tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con” thì có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận với nhau về người trực tiếp nuôi con, nếukhông thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôicăn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con Cùng với việc giao con cho ai nuôidưỡng, Tòa án đồng thời giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con Người khôngtrực tiếp nuôi con phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con Các con được cha mẹ
cấp dưỡng bao gồm "con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất
năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình"
Con được cấp dưỡng không phân biệt là con chung hay con nuôi của vợchồng Đây là nghĩa vụ của cha mẹ nên không phân biệt người trực tiếp nuôi con
có khả năng kinh tế hay không Người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụcấp dưỡng Khi người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người có nghĩa vụ cấpdưỡng và xét thấy họ có đủ khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng con thì Tòa ánkhông buộc bên kia phải cấp dưỡng
Như vậy theo quy định trên, cha mẹ chỉ buộc phải cấp dưỡng nuôi con khicon chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Trong trườnghợp con đã thành niên, là người bình thường, dù không có nghề nghiệp, không
có tài sản gì , thì về mặt pháp lý cha mẹ không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng
Tuy nhiên, trên thực tế, trong trường hợp người con đang đi học, gặp khókhăn về kinh tế thì vẫn có thể thỏa thuận với cha hoặc mẹ (người có nghĩa vụ cấp
Trang 26dưỡng) để yêu cầu họ gửi tiền cấp dưỡng cho đến khi mình có thể tìm được việclàm, có thu nhập Việc này là do thỏa thuận của hai bên, mang tính tự nguyệnchứ không bắt buộc
* Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ
Theo Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình 2000: “Con đã thành niên không
sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.
Theo Điều 14 Nghị định số 70/2001/NĐ - CP: "Trong trường hợp gia đình
có nhiều con, thì các con thoả thuận về người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ và thoả thuận đó phải được sự đồng ý của cha mẹ; các con không trực tiếp nuôi dưỡng cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc, cấp dưỡng cho cha mẹ theo quy định của pháp luật".
Khi cha mẹ không có khả năng lao động (do già yếu, ốm đau, tàn tật…) vàcũng không có tài sản để nuôi mình mà con không sống chung với cha mẹ do đókhông trực tiếp nuôi cha mẹ thì có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ, đảm bảocuộc sống cho cha mẹ Như vậy, nghĩa vụ này chỉ đặt ra khi con có khả năngkinh tế, có thu nhập đủ đảm bảo được cuộc sống của chính mình Về nguyên tắcnghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ chỉ đặt ra đối với con đã thành niên có khả nănglao động và có tài sản
Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định cụ thể về các trường hợp như: Trongtrường hợp cha mẹ còn khỏe mạnh, có thu nhập nhưng mức thu nhập hiện giờkhông đủ cho mức sống tối thiểu tại địa phương thì người con có buộc phải cấp
dưỡng cho cha mẹ hay không? Trong trường hợp gia đình có nhiều con, các con
không trực tiếp nuôi dưỡng cha mẹ thì mức cấp dưỡng của mỗi người con sẽđược Tòa án phân chia như thế nào khi các con không thể tự thỏa thuận? Trongtrường hợp cha mẹ bị bệnh nặng, thường xuyên ở tại bệnh viện, gia đình cónhiều con nhưng chỉ có một người con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ
Trang 27nhưng người con đó hiện không cùng chung sống với cha mẹ thì người con đó cócần phải cấp dưỡng cho cha mẹ hay không?
* Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các anh,chị, em
Theo Điều 58 Luật HN - GĐ 2000:
“1 Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không
có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động
và không có tài sản để tự nuôi mình
2 Em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em với nhau là nghĩa vụ bổ sung, nóchỉ phát sinh khi nghĩa vụ chính giữa cha mẹ và con không được thực hiện.Nghĩa vụ này chỉ đặt ra đối với người cấp dưỡng là anh, chị, em đã thành niên,
có khả năng kinh tế và có tài sản
Pháp luật không phân biệt trong quan hệ cấp dưỡng giữa anh chị em là anhchị em ruột trong một gia đình hay anh chị em cùng cha khác mẹ (tức là dựa trênquan hệ huyết thống) Trên thực tế có nhiều trường hợp anh chị em cùng chakhác mẹ không chung sống cùng nhau, cha mẹ đều đã chết, có khả năng kinh tế
và có tài sản nhưng các bên vẫn không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau
Vì quan hệ giữa hai gia đình luôn có những bất đồng nên rất khó khăn trong việcbuộc một bên cấp dưỡng cho bên kia
* Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu
Theo khoản 1, Điều 59 Luật HN - GĐ 2000: “Ông bà nội, ông bà ngoại
không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động,
Trang 28không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại Điều 58 của Luật này”
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà và cháu chỉ phát sinh trong những điềukiện nhất định Cháu chỉ được ông bà cấp dưỡng trong trường hợp cháu chưathành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tàisản để tự nuôi mình và không có anh, chị, em nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng vàkhông sống chung với ông bà Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà và cháuchỉ phát sinh sau khi nghĩa vụ của cha mẹ, anh, chị em không thực hiện được
Quy định này giúp cho người cháu có thể có đủ những điều kiện cần thiết
để sinh tồn và phát triển Việc cấp dưỡng giữa ông bà và cháu thể hiện tráchnhiệm của ông bà đối với cháu của mình khi cháu không còn cha mẹ và không
có anh chị em nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng Đồng thời nó cũng thể hiện tình cảmgắn bó giữa những người thân trong gia đình
* Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cháu và ông bà nội, ông bà ngoại
Theo khoản 2, Điều 59 Luật HN - GĐ 2000: “Cháu đã thành niên không
sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này”.
Ông bà được cháu cấp dưỡng khi ông bà không có khả năng lao động,không có tài sản để tự nuôi sống chính mình và không có người khác cấp dưỡng
mà cháu không sống chung với ông bà Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cháu và ông bànội, ông bà ngoại chỉ đặt ra khi cháu đã thành niên, có khả năng lao động, có tàisản và ông bà nội, ông bà ngoại không còn con cái, anh, chị, em nuôi dưỡnghoặc cấp dưỡng
Trong trường hợp này pháp luật không có sự phân biệt người cháu cónghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà là cháu ruột hay cháu nuôi Dù là cháu ruột hay
Trang 29châu nuôi thì đều có nghĩa vụ thay cha mẹ chăm sóc, phụng dưỡng ông bă Điều
đó thể hiện tình thương yíu, tinh thần tôn sư trọng đạo của dđn tộc ta
Trín thực tế, để giải quyết câc trường hợp phât sinh liín quan đến vấn đềnăy phâp luật vẫn chưa có những quy định cụ thể Ví dụ như: Trong trường hợpchâu được cha mẹ nhận nuôi nhưng ông bă nội ngoại không công nhận đó lăngười châu của mình thì theo quy định của phâp luật người châu đó có phải thựchiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bă hay không? Vì quan hệ cấp dưỡng châu vẵng bă nội, ông bă ngoại chỉ có thể phât sinh trín cơ sở quan hệ huyết thốnghoặc quan hệ nuôi dưỡng, nín nếu ông bă không công nhận người châu đó cóquan hệ với mình thì rất khó để có thể gắn trâch nhiệm cấp dưỡng cho ngườichâu
* Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ vă chồng
Theo Điều 60 Luật HN - GĐ 2000: “Khi ly hôn, nếu bín khó khăn, túng
thiếu có yíu cầu cấp dưỡng mă có lý do chính đâng thì bín kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình”.
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ vă chồng có thể phât sinh khi hôn nhđn đangtồn tại hoặc khi đê ly hôn Trong những điều kiện nhất định như khi một bín vợhoặc chồng lđm văo tình trạng túng thiếu, khó khăn do bị tai nạn, mất năng lựchănh vi dđn sự, mất sức lao động, ốm đau, bệnh tật… Sự túng thiếu đó phải có lý
do chính đâng để buộc người kia phải cấp dưỡng Vă bín kia có khả năng cấp
dưỡng Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ vă chồng được thực hiện tùy theo khả năng
của mỗi bín Vợ chồng đê có thời gian chung sống lđu dăi dưới một mâi nhă, đêtừng có mối quan hệ tốt đẹp, cùng nhau vượt qua nhiều khó khăn của cuộc sống
Vì vậy, dù đang chung sống hay đê ly hôn, vợ chồng cũng cần thể hiện sự quantđm chăm sóc đối với nhau khi một bín gặp khó khăn, túng thiếu
Tuy nhiín, phâp luật không quy định cụ thể mức cấp dưỡng lă bao nhiíu?Trong trường hợp vợ hoặc chồng gặp khó khăn, túng thiếu mă không có khả
Trang 30năng khắc phục được thì liệu bên kia có phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cấpdưỡng lâu dài không? Vì nếu cứ tiếp tục cấp dưỡng mà không biết đến lúc nàongười kia khắc phục được khó khăn thì sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi củangười có nghĩa vụ cấp dưỡng Hơn nữa, pháp luật cũng chỉ quy định sự túngthiếu, khó khăn đó phải "có lý do chính đáng", mà việc xác định yếu tố này lạichỉ dựa vào những thông tin do người được cấp dưỡng cung cấp nên liệu có đápứng được tính minh bạch của thông tin hay không?
1.3.3 Phân biệt nuôi dưỡng và cấp dưỡng
Quan hệ nuôi dưỡng là loại quan hệ nhân thân gắn liền với tài sản giữa cácthành viên trong gia đình trên cơ sở quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng; khi
họ sống chung với nhau ở cùng một nơi, trực tiếp chăm sóc về các mặt vật chất
và tinh thần cho nhau Tức là quan hệ nuôi dưỡng được thực hiện giữa cha mẹ vàcon cái, giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em trong nhà Việc nuôi dưỡng baohàm không chỉ chi phí tiền bạc, tài sản mà còn chứa đựng hành vi chăm sóc, nuôinấng trực tiếp Nuôi dưỡng là cơ sở của việc cấp dưỡng Nuôi dưỡng có thể thựchiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua việc cấp dưỡng Nuôi dưỡng là tráchnhiệm, là nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ nuôi dưỡng phải thực hiện
Quan hệ cấp dưỡng là loại quan hệ nhân thân gắn liền với tài sản giữa cácthành viên trong gia đình trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôidưỡng Quan hệ cấp dưỡng chỉ phát sinh khi người có nghĩa vụ nuôi dưỡng vìnhững hoàn cảnh nhất định không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người kiahoặc "không sống chung" với nhau nữa Ví dụ như: sau khi ly hôn, cha mẹ cónghĩa vụ cấp dưỡng cho con nếu không trực tiếp nuôi con; khi vợ chồng sống xanhau nếu một người gặp khó khăn thì người kia có nghĩa vụ cấp dưỡng Do đóngười có nghĩa vụ nuôi dưỡng phải chu cấp một số tiền hoặc tài sản nhất định đểđáp ứng những nhu cầu thiết yếu của người cần được cấp dưỡng Trong quan hệcấp dưỡng, cần xác định rõ thế nào là "không sống chung" Khái niệm "không
Trang 31sống chung" có thể hiểu là không có điều kiện trực tiếp chăm lo, giúp đỡ lẫnnhau, không có đời sống chung giữa các thành viên trong gia đình do phải sống
xa nhau vì lí do chính đáng nào đó Hơn nữa, không phải trường hợp nào nghĩa
vụ cấp dưỡng cũng được đặt ra, chỉ trong những trường hợp nhất định với nhữngđiều kiện nhất định, nghĩa vụ cấp dưỡng mới phát sinh
Như vậy, giữa nuôi dưỡng và cấp dưỡng có những điểm khác biệt cơ bảnsau:
- Quan hệ nuôi dưỡng chỉ được thực hiện giữa những người có quan hệhuyết thống và quan hệ nuôi dưỡng Trong khi đó, quan hệ cấp dưỡng còn đượcthực hiện giữa những người có quan hệ hôn nhân (VD: Cấp dưỡng giữa vợ vàchồng khi người kia lâm vào hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu )
- Việc nuôi dưỡng không chỉ bao hàm việc chu cấp về chi phí tiền bạc màbao gồm cả hành vi nuôi nấng, chăm sóc trực tiếp Còn việc cấp dưỡng chỉ đượcthực hiện khi người có nghĩa vụ nuôi dưỡng vì những hoàn cảnh nhất định khôngthể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người kia hoặc họ "không sống chung" vớinhau nữa Việc xác định vấn đề " không sống chung" giữa người có nghĩa vụ cấpdưỡng và người được cấp dưỡng là điều kiện quan trọng làm phát sinh quan hệcấp dưỡng
- Việc nuôi dưỡng là nghĩa vụ, là trách nhiệm mà người nuôi dưỡng luônluôn phải thực hiện Còn việc cấp dưỡng chỉ phát sinh trong những trường hợp
và điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật Đối với trường hợp, người đượccấp dưỡng (hoặc người giám hộ của họ) không yêu cầu người có nghĩa vụ cấpdưỡng thực hiện việc cấp dưỡng và yêu cầu đó được Tòa án chấp nhận thì người
đó không phải thực hiện việc cấp dưỡng
Trang 321.4 Quá trình hình thành và hoàn thiện của chế định cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám (năm 1945) đến nay.
142, Điều 143, Điều 192 Dân luật Trung Kỳ…
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra đời (2/9/1945), Nhà nước ta đã quan tâm và chú trọng đến việc xây dựng vàcủng cố hệ thống pháp luật nhăm ổn định trật tự xã hội, bảo vệ chế độ Nhà nướcmới Hiến pháp 1946 - Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam DCCH đãđáp ứng được yêu cầu bức thiết đó Đồng thời Hiến pháp 1946 là cơ sở cho việcxây dựng chế độ hôn nhân và gia đình dân chủ và tiến bộ
Năm 1950, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh 159/ SL ngày 17/11/1950quy định về chế độ ly hôn Sắc lệnh 159 gồm 9 điều chia thành 3 mục: Duyên cớ
ly hôn, thủ tục ly hôn và hiệu lực của việc ly hôn Trong đó chế định cấp dưỡngcho con khi cha mẹ ly hôn được quy định tại Điều 6
Tuy Sắc lệnh 159 chỉ mới đưa ra các quy định chung, chưa có các quy
định cụ thể về chế định cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn như mức cấpdưỡng, phương thức cấp dưỡng, thời điểm chấm dứt cấp dưỡng…nhưng nó đã
Trang 33góp phần vào việc bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn,xóa bỏ các hủ tục của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến.
Năm 1959, Bản Hiến pháp thứ hai (Hiến pháp 1959) của nước Việt NamDCCH đã được Quốc hội khóa I, kì họp thứ 11 thông qua ngày 31/12/1959 vàđược Chủ tịch nước kí lệnh công bố ngày 1/1/1960 Hiến pháp 1959 là cơ sởpháp lý quan trọng cho việc xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới Xã hộichủ nghĩa ở nước ta Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của đời sống xã hội, Dự luậthôn nhân và gia đình 1959 được Quốc hội khóa I, kì họp thứ 11 thông qua ngày29/12/1959 và được Chủ tịch nước kí lệnh công bố ngày 13/01/1960 theo Sắclệnh số 02 - SL
Luật gồm 6 chương, 35 điều; quy định về những vấn đề về nguyên tắcchung ; kết hôn; nghĩa vụ và quyền lợi của vợ và chồng; quan hệ giữa cha mẹ vàcon; ly hôn Trong đó, vấn đề cấp dưỡng đã được quy định đầy đủ và cụ thể hơn
Ví dụ như: Quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con được quy định tại Điều 19,
20, 21 và 26 của Luật này; quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn tạiĐiều 43…Đặc biệt là chế định cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn được quyđịnh cụ thể tại Điều 32 và Điều 33 của Luật này
Theo Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959:
“Khi ly hôn, việc giao cho ai trông nom, nuôi nấng và giáo dục con cái chưa thành niên, phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con cái Về nguyên tắc, con còn bú phải do mẹ phụ trách Người không giữ con vẫn có quyền thăm nom, săn sóc con.
Vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi nấng và giáo dục con, mỗi người tuỳ theo khả năng của mình.
Vì lợi ích của con cái, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ hoặc việc góp phần vào phí tổn nuôi nấng, giáo dục con cái”
Theo Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959:
Trang 34“Việc trông nom, nuôi nấng và giáo dục con cái, việc góp phần vào phí tổn nuôi nấng và giáo dục con cái sẽ do hai bên thoả thuận giải quyết.
Trường hợp hai bên không thoả thuận với nhau được hoặc trong sự thoả thuận xét thấy có chỗ không hợp lý, thì Toà án nhân dân sẽ quyết định”.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đã chú trọng đến vấn đề thỏa thuậngiữa vợ và chồng trong vấn đề cấp dưỡng cho con Việc quy định về thỏa thuậntrong cấp dưỡng là một quy định mới, cho phép các bên có thể trao đổi, thảo luận
và thống nhất ý kiến với nhau các vấn đề về cấp dưỡng cho con, việc đóng góptùy theo khả năng của mỗi người Tòa án chỉ tham gia giải quyết tranh chấp vềcấp dưỡng khi hai bên không thỏa thuận được với nhau hoặc khi xét thấy sự thỏathuận giữa hai bên có chỗ không hợp lý
1.4.2 Giai đoạn từ 1960 đến 1986
Nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi của tình hình kinh tế - xã hội trong thời
kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Dự luật hôn nhân và gia đình 1986
đã được Quốc hội khóa VII kì họp thứ 12 thông qua ngày 29/12/ 1986 và đượcHội đồng nhà nước công bố ngày 03/01/1987
Luật hôn nhân và gia đình 1986 gồm 10 chương, 57 điều trên cơ sởnguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và hôn nhân nhân một vợ một chồng.Luật HN - GĐ 1986 đã có những quy định tương tự về cấp dưỡng tại các Điều
19, 20, 21 và 26 về quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con; Điều 27 về quan hệgiữa ông bà và cháu, giữa anh, chị, em ruột thịt; Điều 43 quy định cấp dưỡnggiữa vợ và chồng khi ly hôn; Điều 45 quy định về đóng góp phí tổn nuôi dưỡng
con khi cha mẹ ly hôn
Theo Điều 45 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986:
“Khi ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trông nom, nuôi
dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con Về nguyên tắc, con còn bú được giao cho người mẹ nuôi giữ.
Trang 35Người không nuôi giữ con có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con
và phải đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con Nếu trì hoãn hoặc lẩn tránh việc đóng góp, thì Toà án nhân dân quyết định khấu trừ vào thu nhập hoặc buộc phải nộp những khoản phí tổn đó.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ con hoặc mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con”.
Nếu trong Luật HN - GĐ 1959 quy định cả vợ và chồng đều có nghĩa vụ
cấp dưỡng cho con khi ly hôn thì Luật HN - GĐ 1986 đã quy định rõ : "Người
không nuôi giữ con có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con và phải đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con" Như vậy, theo quy định này chỉ những
người không trực tiếp nuôi con mới có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con Mộtđiểm mới nữa trong Luật HN - GĐ 1986 so Luật HN - GĐ 1959 là việc quy định
về vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn
Trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng “trì hoãn hoặc lẩn tránh việc
đóng góp, thì Toà án nhân dân quyết định khấu trừ vào thu nhập hoặc buộc phải nộp những khoản phí tổn đó” Việc quy định đó đã góp phần bảo đảm cho quan
hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc
1.4.3 Giai đoạn từ 1986 đến nay
Tại phiên họp ngày 15/4/1992 của Quốc hội khóa VIII, kì họp thứ 11 đãchính thức thông qua Hiến pháp thứ tư (Hiến pháp 1992) của nước CHXHCNViệt Nam Hiến pháp 1992 là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc soạn thảo và banhành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Luật hôn nhân và gia đình 2000, được Quốc hội khóa X, kì họp thứ 7
thông qua ngày 09/06/2000 và được Chủ tịch nước kí lệnh công bố ngày22/06/2000 theo Lệnh số 08L/CTN Luật gồm 13 chương và 110 điều quy định
cụ thể về chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà nước và
xã hội trong việc xây dựng và củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam