1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn công tác bảo hộ lao động tại một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nghệ an luận văn tốt nghiệp đại học

74 879 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực tiễn công tác bảo hộ lao động tại một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Tác giả Hồ Mỹ Anh
Người hướng dẫn Lê Văn Đức
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế – Quốc Tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 473 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy mà vấn đề nghiên cứu về công tác bảo hộlao động rất được quan tâm, trở thành đề tài của nhiều công trình nghiên cứukhoa học như: “Thực trạng công tác bảo hộ lao động tại công ty t

Trang 1

Trờng đại học vinh

Khoa luật

Thực tiễn công tác bảo hộ lao động

tại một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An

khóa luận tốt nghiệp đại học

chuyên ngành: LUậT KINH Tế – QuốC Tế

Giáo viên hớng dẫn: Lê Văn Đức Sinh viên thực hiện : Hồ Mỹ Anh Lớp : 48B2 – Luật

Vinh - 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 5

6 Bố cục đề tài 5

B PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG 6

1.1 Một số vấn đề chung về bảo hộ lao động 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.1.1 Bảo hộ lao động 6

1.1.1.2 An toàn lao động 7

1.1.1.3 Vệ sinh lao động 8

1.1.1.4 Bệnh nghề nghiệp 8

1.1.1.5 Điều kiện lao động 8

1.1.1.6 Tai nạn lao động 9

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của bảo hộ lao động 9

1.1.2.1 Mục đích của bảo hộ lao động 9

1.1.2.2 Ý nghĩa của bảo hộ lao động 10

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về bảo hộ lao động 12

1.1.3.1 Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lí hoạt động an toàn lao động 12

1.1.3.2 Nguyên tắc thực hiện bảo hộ lao độnglà nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong quan hệ lao động 13

1.1.3.3 Nguyên tắc thực hiện bảo hộ lao động toàn diện và đồng bộ 14

1.2 Hệ thống pháp luật và các quy định về bảo hộ lao động 14

1.2.1 Hệ thống pháp luật về bảo hộ lao động 14

Trang 3

1.2.2 Những quy định của pháp luật về công tác bảo hộ lao động 16

1.2.2.1 Quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động 16

1.2.2.2 Trang bị phương tiện bảo hộ lao động 19

1.2.2.3 Các biện pháp bảo vệ sức khỏe người lao động 20

1.2.2.4 Các quy định về khắc phục hậu quả tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 23

1.2.2.5 Chế độ bảo hộ lao động đối với một số loại lao động đặc thù 24

1.3 Công tác bảo hộ lao động tại các nước ASEAN 27

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG TẠI MỘT SỐ DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 31

2.1 Khái quát chung 31

2.1.1 Tình hình tai nạn lao động ở các địa phương 2010 31

2.1.2 Thực trạng về công tác bảo hộ lao động tại Nghệ An 33

2.1.3 Nguyên nhân xảy ra các vụ tai nạn lao động 34

2.2 Thực tiễn công tác bảo hộ lao động tại một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh 37

2.2.1 Tại công ty cổ phần xây dựng dầu khí Nghệ An 37

2.2.1.1 Giới thiệu tổng quan về công ty 37

2.2.1.2 Tình hình tai nạn lao động tại công ty thời gian gần đây 39

2.2.1.3 Công tác bảo hộ lao động tại công ty 40

2.2.2 Tại công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai 49

2.2.2.1 Giới thiệu tổng quan về công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai 49

2.2.2.2 Công tác bảo hộ lao động tại công ty 51

2.3 Những tồn tại và giải pháp cho công tác an toàn lao động 55

2.3.1 Những tồn tại 55

2.3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả an toàn lao động 60

C PHẦN KẾT LUẬN 68

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có xuhướng gia tăng Theo số liệu của Bộ Lao động - thương binh và xã hội nếunăm 2000 có 3.405 vụ tai nạn lao động được báo cáo làm 3.530 người bị tainạn, trong đó 371 vụ tai nạn lao động chết người làm chết 406 người; thì đếnnăm 2008 đã xảy ra 5836 vụ tai nạn lao động làm 6.047 người bị nạn, có 508

vụ tai nạn lao động chết người làm 573 người chết, 1.262 người bị thươngnặng Trong 6 tháng đầu năm 2009 đã xảy ra 1.958 vụ tai nạn lao động làm

1998 người bị nạn, có 231 vụ tai nạn lao động chết người làm 239 ngườichết, 418 người bị thương nặng Số liệu trong thực tế về tai nạn lao động còn

có thể cao gấp nhiều lần Còn theo thống kê của Bộ y tế, tính đến hết năm

2008, cả nước có 26.000 người mắc bệnh nghề nghiệp, trong đó có 75%trường hợp mắc bệnh bụi phổi silic, 15% mắc bệnh điếc nghề nghiệp Đángchú ý là chỉ có khoảng 10% số cơ sở sản xuất có nguy cơ gây bệnh nghềnghiệp tổ chức khám sức khỏe cho người lao động

Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp gây ra tổn thất lớn cho người bịtai nạn, gia đình và toàn xã hội Luật pháp đã có nhiều quy định về các chế

độ hỗ trợ đối với người lao động bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.Tuy nhiên, việc cải thiện điều kiện lao động, thực hiện các chế độ và bảohiểm cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cũng như cácdịch vụ hỗ trợ các đối tượng này chưa bắt kịp yêu cầu của thực tiễn, cơ chếkhuyến khích và phát triển các dịch vụ hỗ trợ chưa rõ ràng, khiến các đốitượng này gặp nhiều khó khăn

Từ đó, vấn đề bảo hộ lao động được đặt ra và trở thành mối quan tâmhàng đầu của tất cả các cấp, các ngành, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội Nó gắn liền với hoạt động lao động sản xuất hàng ngày của con

người, việc bảo đảm vệ sinh, an toàn tính mạng người lao động, trực tiếp góp

Trang 5

phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động Vớithực tế của công tác bảo hộ lao động và nhận thức được tầm quan trọng củacông tác bảo hộ lao động người viết đã chọn đề tài “Thực tiễn công tác bảo

hộ lao động tại một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An” làm đề tàinghiên cứu khoa học của mình Để thể hiện mối quan tâm của mình về vấn

đề này cùng với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn công tác bảo hộ laođộng vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu vấn đề bảo hộ lao động là một vấn đề có tính cấp thiết cả về

lý luận cũng như thực tiễn Vấn đề này không chỉ được cơ quan nhà nướcquan tâm ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh, mà nó được sự quantâm trực tiếp của các chủ thể trong quan hệ lao động đó là người lao động vàngười sử dụng lao động Vì vậy mà vấn đề nghiên cứu về công tác bảo hộlao động rất được quan tâm, trở thành đề tài của nhiều công trình nghiên cứukhoa học như: “Thực trạng công tác bảo hộ lao động tại công ty tu tạo vàphát triển nhà” (trieufile.com); “Công tác bảo hộ lao động và giải pháp cảithiện điều kiện lao động tại công ty in Công Đoàn” (kilobook.com.vn);

“Quản lý an toàn lao động tại Tổng công ty xây dựng Thăng Long” (TrầnHữu Hùng, Đại học luật Hà Nội); “Bảo hộ lao động trong lĩnh vực xâydựng” (Vương Văn Nam, Cao đẳng xây dựng TP Hồ Chí Minh); “Thực trạng

sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân trong các cơ sở sản xuất kinh doanh Đềxuất giải pháp giảm thiểu tai nạn lao động cho người thợ lao động” (QuýCường, Đại học Tôn Đức Thắng), “An toàn vệ sinh xây dựng trong thi côngxây dựng” (Cục an toàn lao động); “Tai nạn trong ngành xây dựng”(baomoi.com); “Báo động về tình hình an toàn lao động, vệ sinh lao động”(Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)… Những công trình nghiên cứu trên

có ý nghĩa đặc biệt vì nó cung cấp cho tác giả những kiến thức lý luận về bảo

hộ lao động cũng như một số vấn đề thực tiễn về công tác bảo hộ lao động từnhiều góc độ khác nhau Trên cơ sở kế thừa kết quả, thành tựu mà các tác giả

Trang 6

đã công bố cùng với sự nỗ lực của bản thân người viết đã hoàn thành đề tàinghiên cứu khoa học của mình.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài chủ yếu tập trung làm rõ những nội dung sau: Một số vấn đề chung

về bảo hộ lao động, quy định của pháp luật về bảo hộ lao động; công tác bảo hộlao động tại các nước ASEAN và thực tiễn bảo hộ lao động tại một số công tytrên địa bàn tỉnh Nghệ An, đồng thời chỉ ra một số tồn tại và đưa ra các giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ lao động

3.1 Phạm vi nghiên cứu

Bảo hộ lao động là một vấn đề nóng bỏng, được nhắc đến thường xuyêntrên các phương tiện thông tin đại chúng và thu hút sự quan tâm của mọingười Đặc biệt trong thời gian gần đây khi mà tình hình tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp xảy ra ngày càng nhiều với mức độ nghiêm trọng hơn thìvấn đề này được tất cả các cấp, các ngành cũng như toàn xã hội quan tâm ởnhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên với mục đích nghiên cứu như trên vàtrong khuôn khổ một tiểu luận, đề tài nghiên cứu về tình hình công tác bảo

hộ lao động, thực tiễn thực hiện bảo hộ lao động tại trong phạm vi công ty,trong đó chủ yếu đề cập đến công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

4.1 Mục đích

Căn cứ vào hệ thống pháp luật quy định về bảo hộ lao động, mục đíchnghiên cứu của đề tài là làm rõ nội dung lý luận về bảo hộ lao động, từ đóđưa ra thực tiễn thực hiện bảo hộ lao động tại một số công ty nhằm thể hiệnmối quan tâm của tác giả về vấn đề quan trọng này Đồng thời đưa ra nguyênnhân, giải pháp khắc phục tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệptrong thời gian gần đây cùng với mong muốn góp một phần công sức củamình vào quá trình hoàn thiện công tác bảo hộ lao động tại công ty nói riêngcũng như công tác bảo hộ lao động trong các doanh nghiệp nói chung

Trang 7

Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triểnmạnh, kéo theo nhu cầu về xây dựng tăng nhanh Hệ thống giao thông, chợ,siêu thị, các khu chung cư, nhà dân sinh… được xây dựng, nâng cấp, sửachữa khắp nơi Để đáp ứng việc xây dựng các công trình đó, đòi hỏi tay nghề

và trình độ của đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật và công nhân ngành xây dựngngày càng phải nâng cao Nhiều công trình cầu, đường có yêu cầu kỹ thuậtphức tạp đã được đội ngũ kỹ sư và công nhân lành nghề trong nước thựchiện với chất lượng khá Đòi hỏi công tác đảm bảo an toàn lao động, vệ sinhlao động trên các công trường xây dựng phải được quan tâm sát sao hơn.Thực hiện đúng theo khẩu hiệu “An toàn để lao động, lao động phải antoàn”, “Không an toàn không sản xuất”…

Việc thực hiện tốt công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động có ýnghĩa to lớn không chỉ đối với các chủ thể của quan hệ lao động nhữngngười liên quan trực tiếp mà nó có ý nghĩa đối với toàn xã hội Theo thống

kê của Bộ Lao động - thương binh và xã hội mỗi năm Việt Nam phải chi trảgần 40 tỉ đồng cho tai nạn lao động Có thể thấy đây là một khoản tiền khôngquá lớn nhưng nó sẽ có ý nghĩa hơn nhiều khi được đầu tư vào các công trìnhphúc lợi xã hội

4.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài tập trung giải quyết cácnhiệm vụ cụ thể :

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về bảo hộ lao động;

- Nghiên cứu tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong nhữngnăm gần đây;

- Nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

- Thực tiễn công tác bảo hộ lao động tại một số doanh nghiệp;

- Từ đó đưa ra các giải pháp

Trang 8

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp chung là phương phápduy vật biện chứng của chủ nghĩa Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũngnhư những quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta vềngười lao động và quan hệ lao động trong cơ chế kinh tế thị trường và một sốvấn đề kinh tế - xã hội có liên quan làm cơ sở phương pháp luận cho việcnghiên cứu Đồng thời sử dụng một số phương pháp như phương pháp thống

kê, so sánh, phân tích tổng hợp, lịch sử, logic, kết hợp phương pháp phỏngvấn, hồi cứu tài liệu… Việc sử dụng các phương pháp này đã giúp tác giảxem xét vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, trên cơ sở đó có cách nhìn nhậnvấn đề một cách toàn diện và sâu sắc

6 Bố cục đề tài

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, thì phầnnội dung của đề tài gồm các phần sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề bảo hộ lao động

Chương 2: Thực tiễn công tác bảo hộ lao động tại một số công ty trênđịa bàn tỉnh Nghệ An

Trang 9

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG

1.1 Một số vấn đề chung về bảo hộ lao động

1.1.1 Khái niệm

1.1.1 Bảo hộ lao động

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó tạo ra của cảivật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chấtlượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, xãhội, gia đình và bản thân mỗi người lao động Bất cứ một chế độ xã hội nào,lao động của con người cũng là một trong những yếu tố quyết định nhất,năng động nhất trong sản xuất, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Xã hội có cơm

ăn, áo mặc, nhà ở là nhờ người lao động Xây dựng giàu có, tự do dân chủcũng là nhờ người lao động Tri thức mở mang cũng nhờ lao động Vì vậylao động là sức chính của sự tiến bộ xã hội loài người” Tuy nhiên, trong quátrình lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội, con người luôn phải tiếp xúcvới máy móc, trang thiết bị, công cụ và môi trường… Đây là một quá trìnhhoạt động phong phú, đa dạng và rất phức tạp, vì vậy luôn phát sinh nhữngmối nguy hiểm và rủi ro làm cho người lao động có thể bị tai nạn hoặc mắcbệnh nghề nghiệp, vì vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế tai nạn đếnmức thấp nhất Một trong những biện pháp tích cực nhất đó là giáo dục ýthức bảo hộ lao động cho mọi người và làm cho mọi người hiểu được tầmquan trọng của công tác bảo hộ lao động

Bảo hộ lao động là môn khoa học nghiên cứu các vấn đề hệ thống cácvăn bản pháp luật, các biện pháp về tổ chức kinh tế - xã hội và khoa họccông nghệ để cải tiến điều kiện lao động nhằm: Bảo vệ sức khỏe, tính mạngcon người trong lao động, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, bảo vệ

Trang 10

môi trường lao động nói riêng và môi trường sinh thái nói chung góp phầncải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động

Bảo hộ lao động dưới góc độ pháp lý được hiểu là chế định bao gồmtổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành xác định các điềukiện lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động có tính chất bắt buộc, cácbiện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hay khắc phục những yếu tố nguy hiểm,độc hại trong môi trường lao động nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe và nhâncách cho người lao động

Theo nghĩa rộng, bảo hộ lao động được hiểu là tổng hợp các quy định

về việc bảo vệ lao động khi tham gia quá trình lao động nhằm đảm bảo tốtnhất quyền, lợi ích cho người lao động; đồng thời thông qua quy định về antoàn lao động, vệ sinh lao động để bảo vệ tính mạng, sức khỏe cho người laođộng

Theo nghĩa hẹp, bảo hộ lao động được hiểu là những quy định của Nhànước liên quan đến việc bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và cácchế độ khác nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe và trong một số trường hợpnhằm bảo vệ nhân cách cho người lao động

1.1.2 An toàn lao động

Định nghĩa về an toàn lao động được nhiều tổ chức, các nhà nghiên cứuđưa ra dưới nhiều góc độ khác nhau, chúng ta có thể đề cập đến một số địnhnghĩa như:

An toàn lao động là việc ngăn ngừa sự cố tai nạn xảy ra trong quá trìnhlao động, gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tử vong cho người laođộng (Nghị định 06/CP ngày 20/1/1995 của Chính phủ quy định chi tiết một

số Điều của Bộ luật Lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động)

An toàn lao động là việc đảm bảo điều kiện lao động không gây nguyhại đến sức khỏe, tính mạng người lao động (Giáo trình an toàn lao động,Trường Cao đẳng xây dựng)

Trang 11

An toàn lao động là tình trạng điều kiện lao động không gây nguy hiểmtrong sản xuất (Theo từ điển bách khoa toàn thư).

1.1.3 Vệ sinh lao động

Vệ sinh lao động là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức

và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trong sảnxuất đối với người lao động Để ngăn ngừa sự tác động của các yếu tố có hại,trước hết phải nghiên cứu sự phát sinh và tác động của các yếu tố có hại đốivới cơ thể con người, trên cơ sở đó xác định tiêu chuẩn giới hạn cho phépcủa các yếu tố trong môi trường lao động, xây dựng các biện pháp vệ sinhlao động (Tài liệu về công tác bảo hộ lao động của Bộ lao động - thươngbinh và xã hội)

1.1.1.4 Bệnh nghề nghiệp

Là bệnh phát sinh do ảnh hưởng và tác động thường xuyên, kéo dài củacác yếu tố có hại phát sinh trong sản xuất lên cơ thể người lao động Đây làhiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đếnnghề nghiệp

Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại củanghề nghiệp, tác động tới người lao động Bệnh xảy ra từ từ hoặc cấp tính.Một số bệnh nghề nghiệp không chữa khỏi để lại di chứng Bệnh nghềnghiệp có thể phòng tránh được Bệnh nghề nghiệp thường diễn biến âmthầm trong các giai đoạn đầu của bệnh và chỉ thể hiện các triệu chứng bệnh

rõ sau khi đã phát triển qua một thời gian dài, nếu không phát hiện sớm, cách

ly và điều trị kịp thời, bệnh sẽ nặng dần và gây tàn phế cho người bệnh

1.1.5 Điều kiện lao động

Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kinh tế, xã hội, tổ chức, kỹthuật, tự nhiên thể hiện qua quy trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượnglao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lạigiữa chúng, tạo điều kiện hoạt động của con người trong quá trình sản xuất

Trang 12

1.1.6 Tai nạn lao động

Tai nạn lao động là tai nạn xẩy ra trong quá trình lao động, do kết quảcủa sự tác động đột ngột làm chết người hoặc làm tổn thương hoặc phá huỷchức năng hoạt động bình thường của cả một bộ phận nào đó trong cơ thể.Khi người lao động bị nhiễm độc đột ngột với sự xâm nhập vào cơ thể mộtlượng lớn các chất độc, có thể gây chết người ngay lập tức hoặc phá huỷchức năng nào đó của cơ thể thì gọi là nhiễm độc cấp tính và cũng được coi

là tai nạn lao động (Kiến thức về an toàn - vệ sinh lao động)

Hay tai nạn lao động là tai nạn xảy ra do tác động bởi các yếu tố nguyhiểm, độc hại trong lao động gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năngnào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong trong quá trình lao động gắnliền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động kể cả trong thời giankhác theo quy định của Bộ luật Lao động như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ănbồi dưỡng hiện vật, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị, kếtthúc công việc tại nơi làm việc Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra gây tác hạiđến cơ thể người lao động do tác động của các yếu tố nguy hiểm và có hạitrong sản xuất (Những thuật ngữ và định nghĩa cơ bản trong lĩnh vực bảo hộlao động.)

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của bảo hộ lao động

1.1.2.1 Mục đích của bảo hộ lao động

Mục tiêu của công tác bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp vềkhoa học kỹ thuật, pháp luật, tổ chức, hành chính, kinh tế - xã hội để loại trừcác yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên một điềukiện lao động tiện nghi, thuận lợi và môi trường lao động ngày càng được cảithiện tốt hơn

Một quá trình lao động có thể tồn tại một hoặc nhiều yếu tố nguy hiểm,

có hại Nếu không được phòng ngừa, ngăn chặn, cũng có thể tác động vàocon người gây chấn thương, gây bệnh nghề nghiệp, làm giảm sút, làm mấtkhả năng lao động hoặc gây tử vong Cho nên việc chăm lo cải thiện điều

Trang 13

kiện lao động, đảm bảo nơi làm việc an toàn, vệ sinh là một trong nhữngnhiệm vụ trọng yếu để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động Đảng vàNhà nước ta luôn quan tâm đến công tác bảo hộ lao động, coi đây là mộtnhiệm vụ quan trọng trong quá trình lao động, nhằm mục đích: Đảm bảo antoàn thân thể người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất, hoặc không để xảy

ra tai nạn trong lao động; đảm bảo cho người lao động mạnh khỏe, không bịmắc bệnh nghề nghiệp hoặc các bệnh tật khác do điều kiện lao động khôngtốt gây nên; bồi dưỡng phục hồi kịp thời và duy trì sức khỏe, khả năng laođộng cho người lao động

1.1.2.2 Ý nghĩa của bảo hộ lao động

- Ý nghĩa chính trị

Bảo hộ lao động thể hiện quan điểm coi con người vừa là động lực, vừa

là mục tiêu của sự phát triển Một đất nước có tỷ lệ tai nạn lao động thấp,người lao động khỏe mạnh không mắc bệnh nghề nghiệp là một xã hội luônluôn coi con người là vốn quý nhất, sức lao động, lực lượng lao động luônluôn được bảo vệ và phát triển Thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động làgóp phần tích cực chăm lo bảo vệ sức khỏe tính mạng và đời sống người laođộng, biểu hiện quan điểm quần chúng, quan điểm quý trọng con người củaĐảng và Nhà nước, vai trò của con người trong xã hội được tôn trọng.Ngược lại, nếu công tác bảo hộ lao động không được thực hiện tốt, điều kiệnlao động của người lao động còn quá nặng nhọc, nguy hiểm để xảy ra nhiềutai nạn lao động nghiêm trọng thì uy tín của chế độ, uy tín của doanh nghiệp

sẽ bị giảm sút

- Ý nghĩa xã hội

Bảo hộ lao động là chăm lo đến đời sống, đến hạnh phúc của người laođộng Bảo hộ lao động vừa là yêu cầu thiết thực của hoạt động sản xuất kinhdoanh, đồng thời là yêu cầu, là nguyện vọng chính đáng của người lao động.Các thành viên trong mỗi gia đình ai cũng muốn được khỏe mạnh, lành lặn,trình độ văn hóa, nghề nghiệp được nâng cao để cùng chăm lo hạnh phúc gia

Trang 14

đình và góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội Bảo hộ lao động đảm bảocho xã hội trong sáng, lành mạnh, mọi người lao động được sống khỏemạnh, làm việc có hiệu quả cao và có vị trí xứng đáng trong xã hội, làm chủ

xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ khoa học, kỹ thuật Tai nạn lao độngkhông xảy ra, sức khỏe của người lao động được đảm bảo thì Nhà nước và

xã hội sẽ giảm bớt được những tổn thất trong việc khắc phục hậu quả và tậptrung đầu tư cho các công trình phúc lợi xã hội

- Lợi ích về kinh tế

Việc thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõrệt Trong sản xuất nếu người lao động được bảo vệ tốt, khỏe mạnh, điềukiện làm việc thoải mái, không nơm nớp lo sợ bị tai nạn lao động thì sẽ antâm, phấn khởi sản xuất, sẽ có ngày công cao, giờ công cao, năng suất laođộng cao, chất lượng sản phẩm tốt, luôn luôn hoàn thành kế hoạch sản xuất

và công tác Do vậy phúc lợi tập thể được tăng lên, có thêm những điều kiện

để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân người lao động và tậpthể lao động Nó có tác dụng tích cực đảm bảo đoàn kết nội bộ để đẩy mạnhsản xuất Ngược lại, nếu môi trường làm việc xấu, bệnh nghề nghiệp tăng, tainạn lao động xảy ra thường xuyên sẽ gây rất nhiều khó khăn cho sản xuất.Người bị tai nạn lao động phải nghỉ việc để chữa trị, ngày công lao động sẽgiảm Nếu nhiều người lao động bị tàn phế, mất sức lao động thì ngoài việckhả năng lao động của họ sẽ giảm và sức lao động của xã hội vì thế cũnggiảm sút, xã hội còn phải lo việc chăm sóc, chữa trị và các chính sách xã hộikhác liên quan Chi phí bồi thường tai nạn lao động, ốm đau, điều trị, machay… là rất lớn, đồng thời kéo theo những chi phí lớn do máy móc, nhàxưởng, nguyên vật liệu bị hư hỏng

Nói chung tai nạn lao động xảy ra dù nhiều hay ít đều dẫn tới sự thiệthại về người và tài sản, gây trở ngại cho sản xuất, kinh doanh Cho nên quantâm thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động là thể hiện quan điểm đầy đủ về

Trang 15

sản xuất, là điều kiện đảm bảo cho sản xuất phát triển và đem lại hiệu quảkinh tế cao.

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về bảo hộ lao động

1.1.3.1 Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lí hoạt động an toàn lao động

Xuất phát từ tầm quan trọng của bảo hộ lao động, Nhà nước xác địnhviệc thống nhất quản lí các hoạt động bảo hộ lao động là nhiệm vụ chủ yếucủa công tác quản lí nhà nước trong lĩnh vực lao động Sự tham gia quản líthống nhất của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong việc thực hiệnbảo hộ lao động góp phần đảm bảo khả năng thực thi của pháp luật và bảo vệsức khỏe người lao động

Vai trò của Nhà nước trong việc thống nhất quản lí hoạt động bảo hộ laođộng thể hiện ở việc Nhà nước lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động,ban hành các văn bản pháp luật, đầu tư nghiên cứu khoa học về bảo hộ laođộng, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất, trang thiết bị an toàn, vệ sinh laođộng Đặc biệt, vai trò quản lí của Nhà nước thể hiện rõ trong việc ban hànhcác văn bản pháp luật về bảo hộ lao động, hướng dẫn thực hiện, thanh tra và

xử lí vi phạm pháp luật Phần lớn các quy định về an toàn, vệ sinh lao động

và việc đảm bảo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động doNhà nước ban hành đều là các quy định cần được thực hiện nghiêm chỉnh tạicác doanh nghiệp Nhà nước cũng có kế hoạch hỗ trợ các doanh nghiệp khithực hiện các biện pháp bảo hộ lao động nhằm giảm bớt chi phí tài chính chodoanh nghiệp và tăng tính chuyên nghiệp của các hoạt động an toàn laođộng Sự hỗ trợ của Nhà nước chủ yếu là tổ chức nghiên cứu, ứng dụng kĩthuật bảo hộ lao động, sản xuất các trang thiết bị an toàn, vệ sinh lao động.Trách nhiệm của các đơn vị là đầu tư kinh phí cho công tác bảo đảm an toànlao động và thực hiện đúng các quy định pháp luật về bảo hộ lao động

Trang 16

1.1.3.2 Nguyên tắc thực hiện bảo hộ lao độnglà nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong quan hệ lao động

Bảo hộ lao động là hoạt động mang tính xã hội Thiếu sự tham gia củacác cá nhân, đơn vị và tổ chức, công tác bảo hộ lao động không thể triển khaitrong thực tế Đặc biệt, sự tham gia của các bên trong quan hệ lao động làđiều kiện tiên quyết đảm bảo hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo hộ lao động

Vì vậy, nguyên tắc đảm bảo nghĩa vụ bắt buộc của các bên trong việc thựchiện bảo hộ lao động là điều kiện quan trọng để nâng cao tính khả thi củapháp luật

Người sử dụng lao động là người đầu tư kinh phí và tổ chức các hoạtđộng bảo hộ lao động tại cơ sở Xét về lợi ích trước mắt, hoạt động này ảnhhưởng tới lợi nhuận Nhưng xét về lâu dài, bảo hộ lao động mang đến nhữnglợi ích quan trọng như ổn định sản xuất, tăng năng suất lao động, công nhânyên tâm làm việc, giảm chi phí khắc phục tai nạn lao động Không phải mọichủ sử dụng lao động đều ý thức được vấn đề này Do đó, Nhà nước nhấnmạnh tính chất bắt buộc trong việc thực hiện các quy định về bảo hộ laođộng, coi đây là nghĩa vụ của người sử dụng lao động và là một trong cácđiều kiện để họ được phép sử dụng lao động

Người lao động là một bên trong quan hệ lao động, là người hưởng lợitrực tiếp từ việc thực hiện bảo hộ lao động Nhưng do chưa nhận thức vấn đềnày một cách nghiêm túc, đôi khi người lao động không tự giác tuân thủ cácquy trình an toàn, vệ sinh lao động, hoặc vì những lợi ích trước mắt (nhưlương cao, chế độ phụ cấp kèm theo lương) mà bỏ qua việc thỏa thuận “điềukiện lao động” khi kí kết hợp đồng lao động Vì vậy, các quy định về bảo hộlao động cũng đề cập trách nhiệm của người lao động trong việc thực hiệncác quy trình an toàn, vệ sinh lao động, coi đây là nghĩa vụ bắt buộc đối vớimọi người lao động khi tham gia quá trình sản xuất

Trang 17

1.1.3.3 Nguyên tắc thực hiện bảo hộ lao động toàn diện và đồng bộ

Trong quá trình lao động thường tiềm ẩn các yếu tố nguy hiểm, nặngnhọc Nếu không thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, tai nạn lao động cóthể xảy ra bất kì lúc nào, tại bất cứ giai đoạn nào của quá trình lao động Vìthế, cần đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động từ khi thiết kế, lắp đặt, vận hành,bảo quản, cho đến khi thanh lí các trang thiết bị, máy móc, dây chuyền phục

vụ sản xuất Các biện pháp đảm bảo an toàn, bảo vệ tính mạng sức khỏe vànhân cách của con người cần thực hiện ở mọi nơi diễn ra hoạt động lao động.Thực hiện bảo hộ lao động một cách đồng bộ và toàn diện vì thế được coi lànguyên tắc cơ bản của pháp luật

Nguyên tắc này đòi hỏi bảo hộ lao động phải được thực hiện đầy đủtuân thủ đúng các tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động do Nhà nướcquy định Chỉ cần thiếu đi một vài phương tiện đảm bảo an toàn, vệ sinh, hay

bỏ qua một số thao tác đơn giản, những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra

Vì vậy, nguyên tắc thực hiện an toàn lao động toàn diện và đồng bộ là vấn đềcần được đảm bảo trong suốt quá trình lao động

1.2 Hệ thống pháp luật và các quy định về bảo hộ lao động

1.2.1 Hệ thống pháp luật về bảo hộ lao động

Trong những năm qua, để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và sựnghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, công tác xây dựng pháp luậtnói chung và pháp luật về bảo hộ lao động nói riêng đã được các cấp cácngành hết sức quan tâm Vì vậy đến nay Nhà nước ta đã có một hệ thống vănbản pháp luật, chế độ chính sách về bảo hộ lao động tương đối đầy đủ

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm

1992 (đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số: 51/2001/QH10 ngày 25tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10) Trong đó Điều 56của hiến pháp quy định: Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ laođộng Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người

Trang 18

làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hộikhác đối với người lao động Các điều 39, 61, 63 quy định các nội dungkhác về bảo hộ lao động.

Bộ Luật lao động của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đãđược Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1995quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động,các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, gópphần thúc đẩy sản xuất Ngoài chương IX về “an toàn lao động, vệ sinh laođộng” còn một số điều liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động với nội dung

cơ bản sau: Điều 29, chương IV qui định hợp đồng lao động ngoài nội dungkhác phải có nội dung điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động Điều

23, chương IV qui định một trong nhiều trường hợp về chấp dứt hợp đồng là:người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng laođộng khi người lao động bị ốm đau hay bị tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của thầy thuốc Điều 46,chương V qui định một trong những nội dung chủ yếu của Thoả ước tập thể

là an toàn lao động, vệ sinh lao động Điều 68, chương IV qui định việc rútngắn thời gian làm việc đối với những người làm công việc đặc biệt nặngnhọc, độc hại, nguy hiểm Điều 69 quy định số giờ làm thêm không đượcvượt quá trong một ngày, một năm

Một số luật, có liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động: Luật bảo vệ sứckhỏe nhân dân (1989) Trong đó quy định trách nhiệm của người sử dụng laođộng phải chăm lo, bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho người lao động Phảitạo điều kiện cho người lao động được điều dưỡng, nghỉ ngơi, phục hồi chứcnăng lao động Phải thực hiện đúng các tiêu chuẩn vệ sinh lao động, phải tổchức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động Nghiêm cấm việc làm ônhiễm các nguồn nước sinh hoạt, tránh làm ô nhiễm đất, nước và không khí;Luật bảo vệ môi trường (2005), quy định về hoạt động bảo vệ môi trường;chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường, quyền và nghĩa vụ

Trang 19

của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường; Luật công đoàn(1990), quy định trách nhiệm và quyền hạn của công đoàn trong công tác bảo

hộ lao động, từ việc phối hợp nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật bảo hộlao động, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy phạm an toàn lao động, vệsinh lao động đến trách nhiệm tuyên truyền giáo dục công tác bảo hộ laođộng cho người lao động; kiểm tra việc chấp hành luật pháp bảo hộ laođộng

Hệ thống các văn bản quy định của Chính phủ, của các Bộ, ngành chứcnăng và hệ thống các tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh laođộng, hệ thống các quy định an toàn lao động theo nghề và công tác cùng vớicác Nghị định của Chính phủ, các Thông tư, Quyết định của các Bộ, ngànhchức năng, hệ thống các tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinhlao động, các quy trình về an toàn bao gồm: Tiêu chuẩn, quy phạm cấp Nhànước; tiêu chẩn, quy phạm cấp ngành; nội quy, quy định của đơn vị sản xuấtban hành nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động

1.2.2 Những quy định của pháp luật về công tác bảo hộ lao động

1.2.2.1 Quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động

Đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động là yêu cầu quan trọng nhấtcủa công tác bảo hộ lao động Nếu không thiết lập được môi trường lao độngthuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất sự tồn tại của các yếu tố nguy hiểm,nặng nhọc, độc hại trong quá trình sản xuất, nguy cơ tai nạn lao động hoặcbệnh nghề nghiệp sẽ luôn đe dọa tính mạng, sức khỏe người lao động Đểlàm tốt công tác này, trách nhiệm trước hết thuộc về các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền trong việc nghiên cứu các tiêu chuẩn an toàn lao động, vệsinh lao động Trên cơ sở đó Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật cótính chất bắt buộc nhằm đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động tại cácđơn vị sử dụng lao động

Tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động là quy định có tính chất nghiêmngặt về an toàn hay vệ sinh lao động bắt buộc áp dụng đối với các đơn vị sử

Trang 20

dụng lao động Có hai loại tiêu chuẩn là tiêu chuẩn cấp Nhà nước (áp dụngcho mọi đơn vị sử dụng lao động) và tiêu chuẩn cấp ngành (áp dụng trongphạm vi mỗi ngành kinh tế kỹ thuật do đặc thù riêng của ngành đó chi phối).Tiêu chuẩn cấp Nhà nước do Bộ khoa học và công nghệ nghiên cứu, xâydựng và ban hành (có sự phối hợp tham gia của các cơ quan chức năng như

Bộ lao động - thương binh và xã hội, Bộ y tế, Tổng liên đoàn lao động ViệtNam) Tính đến thời điểm hiện nay, Nhà nước đã thông qua và ban hành hệthống tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động với trên 150 loại, được áp dụngtrong nhiều ngành kinh tế - kỹ thuật khác nhau Trước đây, các tiêu chuẩnnày được gọi chung là các “quy phạm nhà nước” như: quy phạm nhà nước

về thiết bị áp lực, quy phạm nhà nước về thiết bị nâng… Hiện nay, các quyphạm này được gọi chung là “tiêu chuẩn Việt Nam” (ví dụ tiêu chuẩn ViệtNam về Hệ thống lạnh, tiêu chuẩn Việt Nam về các thiết bị chịu áp lực).Tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động cấp ngành do các Bộ, cơ quanngang Bộ có trách nhiệm xây dựng, ban hành, hướng dẫn áp dụng tại cácđơn vị sử dụng lao động trong phạm vi ngành đó Thông thường, các tiêuchuẩn an toàn lao động do các bộ chuyên ngành ban hành tùy thuộc vào đặcthù nghề nghiệp và điều kiện lao động của ngành đó Mục đích của việc ápdụng các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động là hạn chế khả năng phát sinhtai nạn lao động Việc ban hành tiêu chuẩn an toàn lao động phải có sự thamgia của Bộ lao động - Thương binh và Xã hội Mục đích của việc áp dụngcác tiêu chuẩn vệ sinh lao động là hạn chế tỉ lệ người lao động mắc bệnhnghề nghiệp Việc ban hành các tiêu chuẩn vệ sinh lao động phải có sự thamgia của Bộ y tế

Tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động là loại quy phạm pháp luật laođộng đặc biệt Về hình thức, nó cũng có đầy đủ các bộ phận cấu thành nhưquy phạm pháp luật thông thường Nhưng xét thấy về nội dung, nó chứađựng những yêu cầu kĩ thuật hay y tế nghiêm ngặt, là kết quả của nhữngnghiên cứu khoa học về an toàn lao động được pháp điển hóa thành các quy

Trang 21

phạm pháp luật Việc thực hiện các quy định này trong quá trình lao độngđòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt, không thể thỏa thuận hay thay đổi Đây là

loại quy phạm vừa mang tính pháp lí, vừa mang tính khoa học - kỹ thuật đặc

thù chỉ có trong pháp luật về bảo hộ lao động

Việc thực hiện các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động được quy địnhnhư sau: “Tiêu chuẩn, quy phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động là tiêuchuẩn, quy phạm bắt buộc thực hiện Căn cứ tiêu chuẩn, quy phạm an toànlao động, vệ sinh lao động của Nhà nước, của ngành ban hành, người sửdụng lao động phải xây dựng quy trình bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh laođộng cho từng loại máy, thiết bị, vật tư và nội quy an toàn, vệ sinh nơi làmviệc” Tính chất bắt buộc thực hiện của loại quy phạm về an toàn, vệ sinh laođộng đã thể hiện tầm quan trọng đặc biệt của nó trong việc bảo vệ sức khỏe,tính mạng người lao động

Bên cạnh việc tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động có tínhchất bắt buộc nêu trên, để đảm bảo thiết lập môi trường lao động thuận lợi,các đơn vị sử dụng lao động phải thực hiện thêm những yêu cầu cụ thể sauđây:

Người sử dụng lao động phải đảm bảo nơi làm việc đạt tiêu chuẩn vềkhông gian, độ thoáng, độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi, hơi,khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố có hạikhác Mục đích của quy định này nhằm thiết lập nơi làm việc hợp lí, máymóc, thiết bị được bố trí khoa học, phù hợp với trình tự gia công, vận chuyển

và đi lại trong quá trình sản xuất Bên cạnh việc tuân thủ các tiêu chuẩn quyphạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động chủ sử dụng lao động còn phảixây dựng quy chế về bảo hộ lao động, hướng dẫn áp dụng và thống nhất quychế này trong toàn đơn vị Đây được coi là những nghĩa vụ quan trọng nhấtcủa người sử dụng lao động trong lĩnh vực bảo hộ lao động, là biện pháp chủđộng phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp bảo vệ sức khỏengười lao động và an toàn tài sản của chính người sử dụng lao động

Trang 22

Khi xây mới, mở rộng hoặc cải tạo các công trình, cơ sở để sản xuất, sửdụng, bảo quản, lưu giữ các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầunghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động chủ đầu tư hoặc người sửdụng lao động phải lập báo cáo khả thi về các biện pháp đảm bảo an toàn laođộng Trong báo cáo khả thi phải có những nội dung như: địa điểm, quy môcông trình, những yếu tố nguy hiểm, có hại, sự cố có thể phát sinh trong quátrình hoạt động, các giải pháp phòng ngừa, xử lí Báo cáo phải được cơ quannhà nước có thẩm quyền phê duyệt, được theo dõi và giám sát chặt chẽ trongquá trình thực hiện.

1.2.2.2 Trang bị phương tiện bảo hộ lao động

Thực hiện tốt các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại cơ

sở sản xuất luôn là vấn đề được Nhà nước quan tâm Trong điều kiện trangthiết bị còn lạc hậu phổ biến hiện nay ở Việt Nam, công tác đảm bảo an toànlao động, vệ sinh lao động thường gặp nhiều khó khăn Do đó, các doanhnghiệp phải chấp nhận sự tồn tại của các yếu tố nguy hiểm, độc hại ở mức độnhất định và hạn chế ảnh hưởng của nó bằng một số biện pháp khác, trong

đó có việc trang bị phương tiện bảo hộ lao động Hiện nay, quy định về việctrang bị phương tiện an toàn lao động, vệ sinh lao động (gọi chung là phươngtiện bảo hộ lao động) được quy định rải rác ở một số văn bản Theo pháp luậthiện hành, có thể chia phương tiện bảo hộ lao động thành hai loại:

1) Các phương tiện kĩ thuật an toàn lao động, vệ sinh lao động chung:thường được lắp đặt tại nơi sản xuất, có tác dụng hạn chế các yếu tố nguyhiểm, độc hại trong môi trường lao động, bảo vệ sức khỏe chung của mọingười lao động tại nơi sản xuất Ví dụ như: phanh hãm, máy hút bụi, quạtthông gió, thiết bị cứu hỏa… Nhìn chung, các thiết bị này được các đơn vị sửdụng lao động lắp đặt khá đầy đủ tại nơi làm việc nhằm đáp ứng yêu cầu củasản xuất nhưng pháp luật lao động lại chưa quy định chi tiết và cụ thể vấn đềnày trong các văn bản pháp luật về bảo hộ lao động

Trang 23

2) Các phương tiện bảo hộ lao động cá nhân: được trang bị cho từngngười lao động, bao gồm nhiều loại, tùy thuộc vào mục đích bảo vệ như kínhmắt, mũ bảo hiểm, găng tay, quần áo bảo hộ, ủng… Người sử dụng lao độngphải thực hiện đầy đủ các quy định về trang thiết bị bảo vệ cá nhân khikhông thể hạn chế hết các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường laođộng Nhà nước quy định khá cụ thể về danh mục trang bị phương tiện bảo

vệ cá nhân tương ứng với những điều kiện lao động cụ thể Các trang thiết bịbảo vệ lao động cá nhân phải được cấp phát đầy đủ, theo đúng định kì chongười lao động Nghiêm cấm người sử dụng lao động cấp phát tiền thay choviệc cấp phát phương tiện hay trả tiền để người lao động tự mua

1.2.2.3 Các biện pháp bảo vệ sức khỏe người lao động

- Chế độ khám sức khỏe

Theo quy định của pháp luật, khi tuyển dụng lao động, người sử dụnglao động căn cứ vào tiêu chuẩn sức khỏe quy định cho từng loại công việc để

tổ chức khám sức khỏe cho người lao động và bố trí công việc hợp lí Ngoài

ra, trong quá trình lao động, người lao động còn được khám sức khỏe định kìtheo chế độ quy định Công tác khám sức khỏe không chỉ nhằm bảo vệ sứckhỏe người lao động, kịp thời phát hiện và xử lí các trường hợp mắc bệnhnghề nghiệp mà còn giúp người sử dụng lao động sắp xếp lao động phù hợp,phát huy khả năng làm việc của người lao động, tăng hiệu quả sử dụng sứclao động Về vấn đề này, sự hợp tác của các y, bác sĩ rất cần thiết bởi họ lànhững người có chuyên môn, có khả năng khám, phát hiện và điều trị kịpthời các trường hợp người lao động không đảm bảo sức khỏe trong quá trìnhlàm việc, hoặc đang mắc các bệnh nghề nghiệp Xuất phát từ tầm quan trọngcủa việc khám sức khỏe cho người lao động, các văn bản pháp luật về bảo hộlao động đã quy định cụ thể trách nhiệm của người sử dụng lao động về vấn

đề này như sau:

1) Người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe người lao độngkhi tuyển dụng lao động hoặc phải yêu cầu người lao động nộp giấy chứng

Trang 24

nhận sức khỏe của cơ sở y tế Nhà nước khi làm thủ tục tuyển dụng Căn cứvào kết quả khám sức khỏe, người sử dụng lao động bố trí, sắp xếp công việcphù hợp với chuyên môn và sức khỏe người lao động Đặc biệt, đối vớinhững nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, việc khám sức khỏe

sẽ góp phần hạn chế tình trạng người lao động không đủ sức khỏe làm việchoặc mắc một số bệnh không thể làm việc trong điều kiện lao động đó

2) Khám sức khỏe định kì cho người lao động (kể cả người học nghề,tập nghề) ít nhất 1 lần/năm, đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại

ít nhất 6 tháng 01 lần Các cơ sở sản xuất phải có hồ sơ quản lí sức khỏe cánhân và hồ sơ theo dõi tổng hợp về sức khỏe người lao động Những ngườimắc các bệnh mãn tính phải được theo dõi, điều trị, điều dưỡng, phục hồichức năng và sắp xếp công việc phù hợp Những người có nguy cơ mắc bệnhnghề nghiệp hoặc mới chớm mắc bệnh nghề nghiệp phải được kịp thời pháthiện và có hướng điều trị phù hợp

- Chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật

Mục đích của việc bồi dưỡng bằng hiện vật là thông qua việc sử dụngmột số hiện vật có giá trị dinh dưỡng cao, có tác dụng giảm bớt hậu quả củacác yếu tố độc hại (như đường, sữa, trứng, hoa quả…) để bồi dưỡng sứckhỏe cho người lao động, tăng sức đề kháng của cơ thể người lao động,phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp Việc bồi dưỡng bằng hiện vậtphải đảm bảo các yêu cầu sau:

1) Người lao động làm các công việc độc hại, nguy hiểm không đạt tiêuchuẩn vệ sinh cho phép, hoặc phải tiếp xúc với các nguồn lây nhiễm có khảnăng gây bệnh nghề nghiệp được bồi dưỡng bằng hiện vật

2) Người sử dụng lao động nếu chưa khắc phục được hết các yếu tốnguy hiểm, độc hại trong môi trường làm việc, có nghĩa vụ phải thực hiệnbồi dưỡng bằng hiện vật cho người lao động

3) Việc bồi dưỡng bằng hiện vật phải đúng số lượng theo quy định củapháp luật Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động bồi dưỡng cho

Trang 25

người lao động ở mức cao hơn, không cho phép bồi dưỡng ở mức thấp hơn.Đây là quy định tương đối mềm dẻo, linh hoạt so với các quy định kháctrong chế độ bảo hộ lao động.

4) Việc bổi dưỡng bằng hiện vật phải được thực hiện tại chỗ, theo calàm việc Mục đích của quy định này là buộc người lao động phải sử dụngngay hiện vật bồi dưỡng giải bớt độc tố ngấm vào cơ thể trong quá trình làmviệc, nâng cao sức khỏe cho chính họ để tái sản xuất sức lao động tốt hơn,tránh việc sử dụng các hiện vật này vào những mục đích khác (như bán,cho)

5) Cấm trả tiền thay cho việc bồi dưỡng bằng hiện vật Quy định nàynhằm tránh tình trạng người lao động dùng tiền vào mục đích khác, khôngmua thực phẩm bồi dưỡng sức khỏe Thông thường hiện vật dùng để bồidưỡng sẽ do doanh nghiệp quy định như đường, sữa, trứng, hoa quả… Căn

cứ vào mức bồi dưỡng do Nhà nước quy định thống nhất trong các văn bảnpháp luật, các bên có thể thỏa thuận mức bồi dưỡng bằng với quy định củanhà nước hoặc cao hơn để bảo đảm quyền lợi cho người lao động

- Các quy định về thời giờ làm việc

Dưới góc độ bảo vệ sức khỏe người lao động, các quy định về thời giờlàm việc thuộc phạm trù bảo hộ lao động bởi thời giờ làm việc có ảnh hưởngquan trọng đến việc bảo vệ sức khỏe người lao động Được làm việc trongkhoảng thời gian hợp lí, đảm bảo thời giờ nghỉ ngơi là một trong các yếu tốgóp phần bảo đảm sức khỏe người lao động Kéo dài thời giờ làm việc có thểđem lại lợi nhuận cao cho người sử dụng lao động nhưng ảnh hưởng đến khảnăng lao động và tái sản xuất sức lao động của công nhân Xu hướng chungcủa các nước là giảm dần mức tiêu chuẩn hóa thời gian làm việc tối đa từ48h/tuần xuống 40h hoặc 35h/tuần, cho phép các bên thỏa thuận mức thờigian làm thêm nhưng không vượt quá giới hạn tối đa và phải đảm bảo đầy đủchế độ cho người lao động trong thời gian làm thêm

Trang 26

1.2.2.4 Các quy định về khắc phục hậu quả tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp là những sự cố nghiêm trọng xảy

ra trong quá trình lao động, là hậu quả tất yếu của việc không đảm bảo antoàn, vệ sinh lao động Do đó, các quy phạm pháp luật về bảo hộ lao độngquy định khá cụ thể về việc khắc phục hậu quả của tai nạn lao động và bệnhnghề nghiệp Đây là những biện pháp được áp dụng khi các giải pháp về antoàn lao động, vệ sinh lao động không thể hạn chế được các thiệt hại về tínhmạng, sức khỏe xảy ra đối với người lao động trong quá trình sản xuất

Tai nạn lao động là những sự cố bất ngờ xảy ra trong lao động, gây tổnthương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể con người Nguyênnhân chủ yếu dẫn đến tai nạn lao động là việc không đảm bảo an toàn laođộng Tính chất bất ngờ của tai nạn lao động làm cho việc phòng ngừa vàkhắc phục hậu quả của tai nạn lao động gặp nhiều khó khăn Để phân biệt tainạn lao động với tai nạn thông thường có thể dựa vào các yếu tố sau: tai nạnxảy ra có gắn với việc thực hiện công việc của người lao động không? Địađiểm xảy ra tai nạn lao động có phải là địa điểm thực hiện nghĩa vụ laođộng? Thời gian xảy ra tai nạn lao động có liên quan đến quá trình lao độngkhông?

Bệnh nghề nghiệp là những bệnh mà người lao động mắc phải trong quátrình lao động, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người lao động.Nguyên nhân của bệnh nghề nghiệp là do điều kiện lao động nặng nhọc, độchại, tác động lên cơ thể người lao động sau thời gian nhất định Bệnh nghềnghiệp có thể phát sinh trong hoặc sau quá trình lao động Căn cứ vào kếtquả nghiên cứu những môi trường lao động cụ thể và những bệnh nghềnghiệp có thể phát sinh khi người lao động làm việc lâu dài trong môi trường

đó, cơ quan có thẩm quyền quy định danh mục bệnh nghề nghiệp Khi ngườilao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, có thể được hưởng cácquyền lợi như sau:

Trang 27

Được người sử dụng lao động trả các khoản chi phí sơ cứu, cấp cứu chođến khi điều trị ổn định.

Được nhận đủ lương trong thời gian nghỉ điều trị tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp

Được hưởng chế độ bồi thường hoặc chế độ trợ cấp tai nạn, bệnh nghềnghiệp khi suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên Theo quy định hiệnhành: Người lao động bị tai nạn lao động do lỗi của người sử dụng lao độnghoặc bị mắc các bệnh nghề nghiệp được người sử dụng bồi thường theonhững mức cụ thể, căn cứ vào tỉ lệ % suy giảm khả năng lao động; người laođộng bị tai nạn lao động do lỗi của chính người lao động đó hoặc do nhữngnguyên nhân khách quan được người sử dụng lao động trợ cấp tai nạn laođộng ở mức thấp hơn so với mức bồi thường tai nạn lao động

Được hưởng chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quyđịnh của Luật bảo hiểm xã hội

1.2.2.5 Chế độ bảo hộ lao động đối với một số loại lao động đặc thù

Trong số các quy phạm pháp luật áp dụng đối với những loại lao độngđặc thù, quy định về việc thực hiện bảo hộ lao động chiếm số lượng khá lớn.Những quy định này được xây dựng căn cứ vào các đặc điểm về tâm sinh lí,sức khỏe và khả năng làm việc của các loại lao động đặc thù

- Chế độ bảo hộ lao động đối với lao động nữ

Xuất phát từ kết quả nghiên cứu về sức khỏe và khả năng chịu đựng củalao động nữ có nhiều điểm hạn chế hơn so với lao động nam, hơn nữa họ cònphải đảm nhiệm thiên chức cao cả là sinh nở và làm mẹ nên việc sử dụng laođộng nữ có nhiều điểm đặc thù hơn so với lao động nam Người sử dụng laođộng nữ phải tuân thủ thêm một số quy định, trong đó có các quy định vềviệc đảm bảo chế độ bảo hộ lao động đối với lao động nữ Để giúp các doanhnghiệp sử dụng nhiều lao động nữ giải quyết những khó khăn về tài chính,Nhà nước quy định một số chính sách ưu đãi như: cho vay vốn với lãi suấtthấp, hỗ trợ một lần, ưu tiên sử dụng một phần trong tổng số vốn đầu tư hàng

Trang 28

năm của doanh nghiệp để chi cho việc cải thiện điều kiện làm việc cho laođộng nữ, xét giảm thuế… Những quy định này cho thấy chủ trương của Nhànước là chủ động giúp đỡ các doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện các doanhnghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về bảo hộ lao động đối với lao độngnữ.

Trong việc thiết lập điều kiện lao động (bao gồm cả việc xác định thờigiờ làm việc hợp lí, bố trí địa điểm làm việc, xây dựng nhà trẻ…) Người sửdụng lao động ở những doanh nghiệp có sử dụng lao động nữ hoặc sử dụngnhiều lao động nữ phải tuân thủ một số quy định để đảm bảo sức khỏe, tínhmạng phù hợp với sức chịu đựng và đặc thù sinh lí riêng của lao động nữ.Cùng với việc quy định nghĩa vụ của các doanh nghiệp trong việc thựchiện chế độ bảo hộ lao động đối với lao động nữ, Nhà nước còn đẩy mạnhviệc nghiên cứu những điều kiện lao động có hại và các công việc khôngđược sử dụng lao động nữ Kết quả của quá trình nghiên cứu này là việc banhành Danh mục các điều kiện lao động có hại không được sử dụng lao động

nữ và Danh mục công việc không được sử dụng lao động nữ Những quyđịnh có tính chất bắt buộc này không phải là hạn chế cơ hội làm việc của laođộng nữ hay phân biệt đối xử về việc làm mà mục đích của nó là nhằm bảo

vệ sức khỏe, tính mạng của lao động nữ do đặc điểm tâm sinh lí đặc biệt củaloại lao động này

Bên cạnh đó, để bảo vệ nhân cách của lao động nữ trong quá trình làmviệc (do họ thường phải đối mặt với các nguy cơ bị lạm dụng về danh dự vànhân phẩm từ phía người sử dụng lao động hoặc các lao động nam giới trongcùng môi trường làm việc), pháp luật lao động cũng nhấn mạnh việc cấmmạt sát, đánh đập, xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của người lao động

nữ khi làm việc Xét ở góc độ nhất định, quy định này có thể đã vượt rangoài khuôn khổ của chế độ bảo hộ lao động nhưng nếu hiểu theo nghĩa làbảo vệ sự phát triển toàn diện về sức khỏe và nhân cách của lao động nữ

Trang 29

trong quan hệ lao động, quy định này cũng có thể được coi là vấn đề củapháp luật về bảo hộ lao động.

- Chế độ bảo hộ lao động đối với lao động chưa thành niên

Lao động chưa thành niên là những lao động dưới 18 tuổi, bao gồm hailoại lao động là lao động dưới 15 tuổi và lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18tuổi Việc sử dụng lao động chưa thành niên cũng phải tuân theo các quyđịnh về bảo hộ lao động nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện của người laođộng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và nhân cách của người lao động Bêncạnh các quy định chung, người sử dụng lao động khi sử dụng lao động vịthành niên còn phải chú ý một số vấn đề sau đây:

Cấm sử dụng lao động vị thành niên làm những công việc nặng nhọc,nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại Để áp dụng thống nhất trongphạm vi toàn quốc, Bộ lao động - thương binh và xã hội, Bộ y tế đã ban hànhDanh mục công việc cấm sử dụng lao động vị thành niên Thời giờ làm việcđược rút ngắn đối với các lao động vị thành niên (giảm từ 1-2h/ngày), nhằmtăng thời gian để họ học tập, nghỉ ngơi, tạo sự phát triển bình thường về thểlực và trí lực Không được sử dụng lao động vị thành niên làm đêm hoặc làmthêm

Đặc biệt yếu tố thần kinh, tâm lí của người chưa thành niên và sự hìnhthành nhân cách của họ cần được người sử dụng lao động lưu tâm sao choquá trình lao động không gây ta sự phát triển lệch lạc về trí tuệ và nhân cách

Cụ thể là khi liệt kê các điều kiện lao động có hại cấm sử dụng lao độngchưa thành niên, những nơi làm việc không phù hợp với thần kinh, tâm língười chưa thành niên và những nơi gây ảnh hưởng xấu tới việc hình thànhnhân cách người chưa thành niên cũng bị cấm sử dụng lao động chưa thànhniên Quy định này vừa là sự minh chứng cho mục đích của chế độ bảo hộlao động là bảo vệ sức khỏe, tính mạng và nhân cách của người lao động nóichung, lao động chưa thành niên nói riêng; vừa thể hiện tính chất xã hội củacác quy phạm pháp luật lao động Điều đó góp phần thể chế hóa nguyên tắc

Trang 30

cơ bản của luật lao động là kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chínhsách xã hội, bảo vệ toàn diện đối với người lao động.

Các quy định có liên quan đến lao động đặc thù trong lĩnh vực bảo hộlao động đã chứng minh mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật về bảo hộ laođộng với các chế định khác của luật lao động, thể hiện tính ưu việt của phápluật về bảo hộ lao động trong việc bảo vệ sức khỏe toàn diện đối với ngườilao động thuộc mọi đối tượng nhưng vẫn ưu tiên những trường hợp đặc biệt.Những quy định này không phải là đặc quyền, đặc lợi xuất phát từ nhữngyêu cầu của thực tiễn khách quan, nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động mộtcách toàn diện và hiệu quả

Ngoài ra, các văn bản pháp luật hiện hành cũng quy định các quyền vànghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực bảo hộ lao động Cụ thể là quy địnhquyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động, các cơ quannhà nước và tổ chức công đoàn trong việc thực hiện an toàn, vệ sinh laođộng Những vấn đề này được quy định khá cụ thể trong các văn bản phápluật và là căn cứ pháp lí để xác định trách nhiệm của các chủ thể trong việcbảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động khi tham gia quá trình làmviệc

1.3 Công tác bảo hộ lao động tại các nước ASEAN

An toàn vệ sinh đóng vai trò chính trong việc phát triển lực lượng laođộng có chất lượng và có tính cạnh tranh, nhất là đối với các nước ASEAN.Mặc dù vấn đề đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động có những tiến triển trongcác ngành của khu vực kinh tế hiện đại, song cần khắc phục những tồn tạitrong khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong sự lớnmạnh của các ngành công nghiệp các nước ASEAN

Đại diện các nước ASEAN đã tham dự hội thảo "An toàn, vệ sinh laođộng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ" Đây là hoạt động nằm trongchương trình hợp tác đa phương giữa Nhật Bản và Tổ chức Lao động Quốc

tế (ILO) cùng Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Tại hội thảo, các đại biểu nghe

Trang 31

giới thiệu những nội dung cũng như kết quả đạt được và những thách thức về

an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam;chiến lược toàn cầu của WTO về chăm sóc sức khoẻ cho người lao động2008-2017; chương trình và các văn kiện của ILO nhằm hỗ trợ các doanhnghiệp vừa và nhỏ ở Châu Á An toàn, vệ sinh lao động trong kế hoạch củacộng đồng văn hoá xã hội các nước ASEAN; an toàn, vệ sinh lao động trongcác doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Nhật Bản; mở rộng huấn luyện an toàn, vệsinh lao động cho người lao động trong khu vực kinh tế phi kết cấu ởCampuchia; chương trình tư vấn ở Philippines, cũng được giới thiệu tại hộithảo này

Nhiều chủ đề như tình hình an toàn, vệ sinh lao động trong các doanhnghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam và Châu Á; thực hiện an toàn, vệ sinh laođộng để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ASEAN; dự án đẩy mạnh côngtác an toàn, vệ sinh lao động ở Việt Nam và ASEAN đã được các đại biểuthảo luận sôi nổi Các đại biểu dự hội thảo đã nhất trí đưa ra 12 khuyến nghịnhằm thúc đẩy dịch vụ an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp trong ASEAN giaiđoạn 2010-2015, trong đó chú trọng đến các vấn đề như tăng cường hợp tácchặt chẽ giữa các nước AESAN, các đơn vị, cơ sở, cơ quan xây dựng chínhsách và cung cấp các dịch vụ an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp đối với ngườilao động; thúc đẩy, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và bài học trong việc thựchiện chính sách, thực hiện các chương trình thúc đẩy dịch vụ an toàn và sứckhoẻ nghề nghiệp trong khu vực ASEAN thông qua các hội thảo quốc gia,hội thảo khu vực Khuyến khích sự tham gia phối hợp của các cơ sở cungcấp dịch vụ an toàn sức khoẻ nghề nghiệp, nhất là huấn luyện về an toàn sứckhoẻ nghề nghiệp trong các chương trình chung; đưa các khuyến nghị củaHội nghị vào kế hoạch của mạng an toàn, vệ sinh lao động "ASEAN-OSH-NET"; ghi nhận những mô hình cung cấp dịch vụ an toàn sức khoẻ nghềnghiệp tại một số nước như Singapore, Thái Lan và thúc đẩy hoạt động, nhânrộng mô hình trong cộng đồng, cũng được nhiều đại biểu quan tâm

Trang 32

Tại Việt Nam, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp diễn biến phức tạp.Năm 2009, cả nước có khoảng 6.000 vụ tai nạn lao động, làm chết 550 người

và trên 1.200 người bị thương, nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng laođộng và người lao động vi phạm về an toàn vệ sinh lao động Tình trạng này

sẽ ngày càng phức tạp trong những năm tiếp theo nếu như không có biệnpháp khắc phục kịp thời Hội thảo được tổ chức là một hoạt động thiết thựchưởng ứng Tuần lễ Quốc gia An toàn vệ sinh lao động và Phòng chống cháy

nổ lần thứ 12 nhằm trao đổi thông tin, kinh nghiệm giữa các nước ASEAN,

từ đó tìm ra giải pháp phòng ngừa, hạn chế thấp nhất những thiệt hại do tainạn lao động gây ra

Công tác huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động là vấn đề nhận được sựquan tâm và đầu tư hàng đầu của các nước trong khu vực với nhiều sáng kiếnnhằm xây dựng những chương trình, phương thức huấn luyện hiệu quả BộNguồn nhân lực Singapore đề nghị được khảo sát các trung tâm huấn luyện

để cung cấp các khóa huấn luyện cho các nước ASEAN theo hướng chia sẻchi phí Hiện Singapore cũng đang nghiên cứu phương án cử giáo viên đếncác trung tâm huấn luyện của nước này được thành lập tại các nước Cam puchia, Lào, Myanma, Việt Nam theo sáng kiến hợp nhất ASEAN Tuy nhiên,

để bảo đảm tính bền vững trong các hoạt động huấn luyện, các nước thànhviên cần phải dựa vào tự lực của mình Trong lĩnh vực nghiên cứu, đoàn đạibiểu Inđônêxia - nước điều phối các hoạt động trong lĩnh vực này đã trìnhbày tóm tắt báo cáo khảo sát về thái độ ứng xử của người lao động theo giới.Với báo cáo sơ bộ kết quả điều tra doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2005, đoànđại biểu Việt Nam đã cung cấp những số liệu phản ánh thực tế triển khaicông tác an toàn, vệ sinh lao động ở những doanh nghiệp này cũng như chia

sẻ với hội nghị phương pháp điều tra, nghiên cứu Thúc đẩy công tác nghiêncứu và hưởng ứng các hoạt động nghiên cứu về an toàn, vệ sinh lao động.Tiếp theo, các nước thông báo về việc triển khai xây dựng các tiêu chuẩn vàvăn bản hướng dẫn về an toàn, vệ sinh lao động Ngoài ra, Hội nghị còn

Trang 33

dành thời gian thảo luận về mạng thông tin điện tử an toàn, vệ sinh lao độngASEAN, kinh nghiệm thanh tra an toàn vệ sinh lao động, kiểm soát và phòngngừa bệnh nghề nghiệp tại nơi làm việc Đặc biệt, các nước cùng nghiêncứu quyết định liên quan và đưa ra tiếng nói chung nhấn mạnh tầm quantrọng của công tác an toàn, vệ sinh lao động trong Hội nghị quan chức caocấp ngành Lao động.

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG TẠI MỘT SỐ

DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

2.1 Khái quát chung

2.1.1 Tình hình tai nạn lao động ở các địa phương 2010

Theo báo cáo của 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trongnăm 2010 trên toàn quốc đã xảy ra 5.125 vụ tai nạn lao động làm 5.307người bị nạn, trong đó: Số vụ tai nạn lao động chết người: 554 vụ; Số ngườichết: 601 người; Số vụ TNLĐ có hai người bị nạn trở lên: 105 vụ; Số người

bị thương nặng: 1.260 người; nạn nhân là lao động nữ: 944 người

Một số vụ tai nạn lao động nghiêm trọng trong năm 2010: Khoảng 9h

ngày 13/4/2010, tại mỏ đá thuộc HTX Minh Tâm, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh HàTĩnh đã xảy ra một vụ tai nạn lao động do nổ mìn khiến 2 người chết, 3người bị thương 8h30 phút ngày 9/5/2010, xảy ra vụ tai nạn lao động do nổnồi hơi tại Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Vĩnh Kiên đóng tại ấp AnKhương, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang làm 3 ngườichết và 15 người bị thương nặng 21h25 phút ngày 14/5/2010 tại Công tyTNHH sản xuất vật liệu xây dựng Thành Công, huyện Kinh Thành, tỉnh HảiDương, xảy ra tai nạn lao động các tảng liệu trong buồng đốt bị sập xuốnglàm 2 người chết và 3 người bị thương 19h10 phút ngày 13/8/2010 tại lòPhỗng thông gió số 3 vỉa G9 Vũ Môn thuộc công trường khai thác 2, công ty

Cổ phần than Mông Dương, xảy ra tai nạn lao động do sạt lở, sập vùi thanlàm 03 người chết và 01 người bị thương 3h50 phút ngày 12/11/2010 tại lòthượng số 2 vỉa 11 khu Nam, phân xưởng đào lò 2, công ty TNHH MTVthan Dương Huy - Vinacomin xảy ra tai nạn lao động do sạt lở, sập vùi thanlàm 03 người chết và 01 người bị thương Đặc biệt, đã có 3 trường hợpngười sử dụng lao động bị đề nghị truy tố, do vi phạm nghiêm trọng quy

Trang 35

định về an toàn lao động để xảy ra tai nạn lao động Đó là vụ tai nạn laođộng do nổ mìn tại HTX Minh Tâm, thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh; vụ tai nạnlao động do nổ nồi hơi xảy ra tại Công ty cổ phần chế biến thực phẩm VĩnhKiên đóng tại ấp An Khương, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, Kiên Giang;

vụ tai nạn xảy ra tại Công ty TNHH xây dựng - Thương mại - Dịch vụ - Vậntải Đại Việt tại TP Hồ Chí Minh làm 1 người chết, nạn nhân là lao động chưađến tuổi thành niênhưng Trong 4 tháng đầu năm 2011 trên địa bàn cả nướccũng đã xảy ra khá nhiều vụ tai nạn lao động nghiêm trọng, như ngay trênđịa bàn tỉnh Nghệ An vào khoảng 7h30 phút ngày 1/4/2011, tại xóm HợpThành, xã Nam Thành, huyện Yên Thành đã xảy ra một vụ tai nạn thảmkhốc, sập mỏ đó Lèn Cờ làm 19 người chết và 5 người bị thương

Những địa phương xảy ra nhiều vụ TNLĐ chết người trong năm 2010

Theo số liệu báo cáo, trong năm 2010, 10 địa phương để xảy ra nhiều vụ tai nạn chết người nhất là TP Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hà Nội, Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu, Long An, Hải Dương và Quảng Bình.

TT Địa phương Số vụ

Số vụ chết người

Số người

bị nạn

Số người chết

Số người

bị thương nặng

10 Địa phương xảy ra nhiều TNLĐ chết người nhất

2.1.2 Thực trạng về công tác bảo hộ lao động tại Nghệ An

Trang 36

Đến tháng 10/2009, Nghệ An có 6.733 doanh nghiệp, trong đó: Doanhnghiệp Nhà nước: 62, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 24, Doanhnghiệp ngoài quốc doanh: 6.647 Sở Lao động - t²²hương binh và xã hội cóchức năng tham mưu về công tác bảo hộ lao động cho UBND tỉnh, thời gianqua đã có nhiều cố gắng tập trung cho công tác tuyên truyền, phổ biến, huấnluyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động tổ chức thanh, kiểm tra việc thựchiện Bộ luật lao động, phối hợp với các cấp các ngành tổ chức thanh, kiểmtra về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp, chú trọngkiểm tra các doanh nghiệp và cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản và xâydựng cơ bản Chính vì vậy mà năm 2009 số vụ tai nạn lao động trên địa bàntỉnh giảm đáng kể so với năm 2008, không để xẩy ra các vụ tai nạn lao độngđặc biệt nghiêm trọng Tuy nhiên, qua thanh tra, khảo sát cho thấy tổ chức

bộ máy làm công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các doanhnghiệp có thể tạm phân làm 02 loại như sau:

Đối với các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp nhà nướcchuyển sang công ty cổ phần: ở các doanh nghiệp này đều có bộ máy làmcông tác bảo hộ lao động theo thông tư 14/1998/LB và duy trì và thực hiệnkhá tốt công tác an toàn, vệ sinh lao động, có lập kế hoạch bảo hộ lao độnghàng năm Tuy nhiên, một số doanh nghiệp vẫn chưa lập đủ 05 nội dung theoquy định mà mới chỉ lập được một nội dung là trang cấp phương tiện bảo vệ

cá nhân Công tác kiểm tra được các doanh nghiệp duy trì thường xuyên,khắc phục được các nguy cơ về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Việcthực hiện đóng bảo hiểm xã hội và thực hiện các chế độ cho người lao động

ở các doanh nghiệp này khá tốt Công tác khai báo, điều tra và giải quyết chế

độ tai nạn lao động khá nghiêm túc Các doanh nghiệp đều cố gắng đầu tưtrang thiết bị nhằm giảm nhẹ sức lao động và cải thiện điều kiện làm việc.Với các doanh nghiệp vừa và nhỏ: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nghệ

An chiếm hơn 95%, đa phần các doanh nghiệp này mới thành lập nên cácdoanh nghiệp chủ yếu đang tập trung vào việc sản xuất, công tác an toàn, vệ

Trang 37

sinh lao động chưa được quan tâm đầu tư đúng mức Tổ chức bộ máy làmcông tác bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động chưa đượcthành lập theo quy định, cán bộ làm công tác bảo hộ lao động chưa được tổchức tập huấn cơ bản, thậm chí có doanh nghiệp không bố trí cán bộ làmcông tác bảo hộ lao động Lãnh đạo hoặc chủ doanh nghiệp chưa được tậphuấn về công tác an toàn, vệ sinh lao động Một số các doanh nghiệp khaithác, chế biến khoáng sản thì Giám đốc không có chuyên môn về lĩnh vựcsản xuất, Giám đốc điều hành năng lực, trình độ không đảm bảo tiêu chuẩntheo quy định, số lao động được huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao độngchưa đáp ứng yêu cầu, phần lớn người lao động làm việc tại các doanhnghiệp này đều là lao động nông nhàn, thời vụ không được trang bị kiến thức

cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động vì thế thời gian qua đã để xẩy ra nhiều tainạn lao động trong sản xuất, nhưng không khai báo và thực hiện chế độ chongười lao động theo quy định của Nhà nước, mà chỉ thực hiện đền bù theothoả thuận Nhà xưởng sản xuất không đảm bảo các tiêu chuẩn về ánh sáng,thông gió, không gian chật hẹp, trang thiết bị phục vụ cho sản xuất cònnghèo nàn lạc hậu Nguyên nhân của những tồn tại trên là do thay đổi môhình quản lý doanh nghiệp nên hầu hết các ngành, các cấp không có bộ máyquản lý công tác bảo hộ lao động, nhiệm vụ này ở các cấp, các ngành chưađược chú trọng đúng mức Một số Doanh nghiệp Nhà nước do Trung ương

và địa phương quản lý đã quan tâm thành lập bộ máy, nhưng số lượng khôngđáp ứng với nhiệm vụ được giao

2.1.3 Nguyên nhân xảy ra các vụ tai nạn lao động

- Về phía người sử dụng lao động: Nguyên nhân quan trọng dẫn đến tainạn lao động là nhận thức của người sử dụng lao động về vai trò của côngtác bảo hộ lao động, an toàn lao động còn yếu kém Không chấp hành đầy đủcác quy định pháp luật về an toàn lao động, không quan tâm tới việc cảithiện điều kiện lao động, đảm bảo môi trường làm việc an toàn cho người laođộng; không có bộ máy giám sát người lao động tuân thủ các quy định về an

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Văn Học, “An toàn và bảo hộ lao động”, Trường Cao đẳng xây dựng số 3, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn và bảo hộ lao động
Nhà XB: NXB Hà Nội
2. PGS.TS Trần Trọng Thủy, “Tâm lý học lao động”, Viện Khoa học giáo dục, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lao động
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. ThS Hoàng Trí, “Giáo trình an toàn và môi trường công nghiệp”, Đại học Sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ chí minh, NXB TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình an toàn và môi trường công nghiệp
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
4. Nguyễn Văn Trọng, “An toàn lao động trong thi công xây dựng”, NXB thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn lao động trong thi công xây dựng
Nhà XB: NXBthông tin và truyền thông
5. Giáo trình luật lao động, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2009 Khác
6. Giáo trình an toàn lao động, Đại học Xây dựng Hà Nội, NXB Lao động, Hà Nội, 2007 Khác
7. Giáo trình luật lao động cơ bản, Đại học Cần Thơ, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2009 Khác
8. An toàn, vệ sinh và chăm sóc sức khỏe trên công trường xây dựng, NXB Lao động, 2007 Khác
9. An toàn vệ sinh xây dựng trong thi công xây dựng, Cục an toàn lao động, NXB Đà Nẵng Khác
10. Tài liệu huấn luyện an toàn lao động – vệ sinh lao động cho người sử dụng lao động, Cục an toàn lao động Khác
11. Bộ luật lao động năm 1994, (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007) Khác
15. Chỉ thị về việc tăng cường thực hiện công tác bảo hộ lao động, an toàn lao động Khác
17. Thông tư hướng dẫn thủ tục đăng kí và kiểm định các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động Khác
18. Thông tư số 37/BLĐTB-XH hướng dẫn công tác huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động Khác
20. Nội quy lao động Công ty cổ phần xây dựng dầu khí Nghệ An Khác
21. Nội quy lao động Công ty xi măng Hoàng Mai Khác
22. Thỏa ước lao động tập thể Công ty cổ phần xây dựng dầu khí Nghệ An Khác
23. Thỏa ước lao động tập thể Công ty xi măng Hoàng Mai Khác
24. Báo cáo tổng kết Hội nghị công nhân viên chức lao động năm 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w