1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực người việt nam đi lao động ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh hà tĩnh

61 382 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả Trần Thị Bích Nga
Người hướng dẫn Th.S. Đinh Ngọc Thắng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Luật và Quản lý Lao động
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 297 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lao động được tuyển đi làm việc ở ngoài có việc làm và thu nhập ổn định thìvẫn còn một bộ phận người lao động bị các tổ chức cá nhân lợi dụng xuấtkhẩu lao động để lừa gạt dưới nhiều hình

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa giáo dục chính trị

Trang 2

đang tạo ra nguồn thu lớn về ngoại tệ bằng thu nhập trong thời gian làm việc

ở nước ngoài của người lao động Mặt khác xuất khẩu lao động còn giúp chongười lao động rèn luyện kỹ năng nghề, tác phong làm việc với tính kỷ luật và

ý thức trách nhiệm cao hơn từ môi trường làm việc của các nước nhập khẩulao động Đặc biệt là đối với những địa phương mà nền sản xuất trên địa bàn,nhất là khu vực sản xuất công nghiệp - dịch vụ chưa có sự phát triển nhanh,cân đối với quy mô nguồn lao động được bổ sung hàng năm thì xuất khẩu laođộng còn đóng vai trò quan trọng hơn cho những mục tiêu trên Xuất phát từtình hình kinh tế - xã hội của tỉnh và yêu cầu của việc phân công lao động, HàTĩnh được xem là đơn vị dẫn đầu trong công tác xuất khẩu lao động trongnhững năm qua Trong những năm gần đây công tác xuất khẩu lao động ở HàTĩnh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, thị trường được mở rộng, hìnhthức đa dạng, số lượng lao động đưa đi ngày càng tăng năm sau cao hơn nămtrước, hằng năm người lao động gửi về nguồn ngoại tệ: 45 - 50 triệu USD,góp phần vào đầu tư phát triển kinh tế xã hội, từng bước thực hiện xóa đóigiảm nghèo, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động qua từng năm, đảmbảo, giữ vững an ninh quốc phòng Các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể

xã hội đã coi công tác xuất khẩu lao động là một nhiệm vụ trọng tâm củamình, công tác quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động ngày càng được tăngcường

Có thể nói, lợi ích về xuất khẩu lao động đã được khẳng định khá rõbằng kết quả thực tế mà hoạt động này mang lại

Tuy nhiên, việc quản lý và duy trì thực hiện đúng luật, công tác tổ chức,thực hiện và tham gia xuất khẩu lao động cũng đang đặt ra những yêu cầu đòihỏi phải chặt chẽ hơn Bởi đây là một hoạt động mang tính chất kinh doanhđặc thù, tổ chức hoạt động đơn giản nên việc lợi dụng ra ngoài khuôn khổ chophép cũng dễ xẩy ra gây thất thiệt nhiều mặt cho người lao động và khó khăncho lĩnh vực quản lý lao động xã hội nói chung Hàng năm, bên cạnh nhiều

Trang 3

lao động được tuyển đi làm việc ở ngoài có việc làm và thu nhập ổn định thìvẫn còn một bộ phận người lao động bị các tổ chức cá nhân lợi dụng xuấtkhẩu lao động để lừa gạt dưới nhiều hình thức.

Trước tình hình đó, một trách nhiệm lớn của chính quyền các cấp và trựctiếp là cơ quan lao động các cấp địa phương cần có cơ chế quản lý thích hợpđối với đối tượng tuyển dụng lao động đi làm việc ở nước ngoài mặt khác bảnthân người lao động cần phải có nhận thức đầy đủ về việc thực hiện luật xuấtkhẩu lao động

Với ý nghĩa đó, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật

trong lĩnh vực người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh

Hà Tĩnh” từ đó nhằm khái quát lại những kết quả cũng như hạn chế trong

việc thực hiện pháp luật xuất khẩu lao động qua đó đề tài cũng mạnh dạn đềxuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong lĩnhvực người việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong tình hình hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xung quanh vấn đề này đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu vềlĩnh vực xuất khẩu lao động như:

- Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đưa người Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài hiện nay, của T.S Phạm Văn Lợi – Viện trưởng viện khoa học môitrường;

- Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của lao động Việt Nam trên thịtrường xuất khẩu lao động trong hội nhập kinh tế quốc tế, của PGS.TSKHLương Đình Hải, Viện triết, Viện khoa học xã hội nhân văn

Hầu hết các đề tài, bài viết đều ở dưới dạng khái quát tổng quan bứctranh xuất khẩu lao động nói chung, các dự báo về tình hình xuất khẩu laođộng, thực trạng xuất khẩu lao động… mà gần như chưa có đề tài, bài viếtnào đi sâu cụ thể viết vầ vấn đề Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này

Trang 4

Vì vậy, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài này với mong muốn sẽ mang lạimột cái nhìn mới về hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàn Hà Tĩnh nóiriêng và cả nước nói chung trong thời gian tới.

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích: Trên cơ sơ tìm hiểu cơ sở lí luận về thực hiện pháp luật vàthực trạng việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực người Việt Nam đi lao động

ở nước ngoài trên điạ bàn tỉnh Hà Tĩnh, từ đó rút ra những hạn chế, tồn tại vàmột số kiến nghị đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật xuấtkhẩu lao động ở Hà Tĩnh

Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, đề tài phải thực những nhiệm vụsau:

- Tìm hiểu về cơ sở lí luận của thực hiện pháp luật và thực hiện phápluật trong lĩnh vực xuất khẩu khẩu lao động

- Chỉ ra được thực trạng về việc thực hiện pháp luật trên địa bàn Hà Tĩnhtrong thời gian qua (kể từ ngày ban hành Luật người lao động Việt Nam đilàm việc ở nước ngoài theo hợp đồng)

- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật xuất khẩu lao độngtrong thời gian tới

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:

* Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vậtlịch sử; các quan điểm của Đảng, đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng

và Nhà nước về Xuất khẩu lao động

* Phương pháp cụ thể: Phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp tổnghợp và so sánh

* Ngoài ra đề tài sử dụng phương pháp thống kê, kết hợp giữa lý luận vàthực tiễn, phương pháp điều tra xã hội học

Trang 5

5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu đề tài

- Vấn đề nghiên cứu: Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực người lao độngViệt Nam đi làm việc ở nước ngoài (theo tinh thần Luật người lao động ViệtNam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006)

- Đối tượng khảo sát: Tình hình thực hiện pháp luật xuất khẩu lao độngtrên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

- Thời gian: Từ năm 2006 đến nay

6 Đóng góp của đề tài

- Đề tài có thể làm tư liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước

về lĩnh vực xuất khẩu lao động

- Làm tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên chuyên ngành khi nghiêncứu về vấn đề này

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có 2chương với 4 tiết

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC

Trang 6

NGƯỜI VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

1.1 Thực hiện pháp luật và các hình thức thực hiện pháp luật

1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật

Pháp luật là một công cụ quản lý xã hội sắc bén, song pháp luật chỉ cóthể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì trật tự

và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện trongcuộc sống Vì vậy, thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu kể từ khipháp luật xuất hiện

Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa cácquy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành nhữnghành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật [5, 468]

Như vậy, thực hiện pháp luật trước hết là một trong những hình thức đểthực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Tất cả các nhà nước để cóthể tổ chức, quản lý được xã hội đều bắt buộc phải tiến hành xây dựng (banhành) pháp luật Ban hành quy phạm pháp luật nhà nước mong muốn sử dụngchúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụ lợi ích và mục đích của nhànước và xã hội Điều đó chỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật donhà nước ban hành được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện mộtcách chính xác, đầy đủ Do vậy, đối với các nhà nước vấn đề quan trọngkhông chỉ là ban hành thật nhiều các quy phạm pháp luật mà còn phải tổ chứcthật tốt để chúng được thực hiện trong thực tế, làm cho những yêu cầu, quyđịnh của pháp luật trở thành hiện thực

Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật Phápluật được đặt ra là để điều chỉnh hành vi của con người, nên việc thực hiệnpháp luật phải thể hiện ở hành vi pháp luật của con người Hành vi đó có thể

là hành động hoặc không hành động phù hợp với những quy định của phápluật Nói khác đi, tất cả những hoạt động nào của các cá nhân, các tổ chức mà

Trang 7

được thực hiện phù hợp với các quy định của pháp luật thì đều được coi làbiểu hiện của việc thực hiện các quy phạm pháp luật.

Thực hiện pháp luật là giai đoạn không thể thiếu và vô cùng quan trọngcủa cơ chế điều chỉnh pháp luật Thực hiện pháp luật, một mặt, nhằm đạtđược những mục đích xã hội mà vì chúng nhà nước đã phải ban hành phápluật, mặt khác còn cho phép làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống phápluật thực định để từ đó có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc sửađổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và cơ chế đưa pháp luậtvào cuộc sống Thực hiện pháp luật nghiêm minh sẽ tạo ra trật tự cần thiết đểcác quan hệ xã hội tồn tại và phát triển theo những định hướng mong muốn cólợi cho xã hội, cho nhà nước cũng như cho mọi cá nhân

Thực hiện pháp luật do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành với nhiều cáchthức khác nhau Pháp luật mang tính bắt buộc chung đòi hỏi mọi tổ chức cánhân trong xã hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện.Vì vậy, thực hiện phápluật có thể là hành vi của mỗi cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của các

cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội…

1.1.2 Các hình thức thực hiện pháp luật

Các quy phạm pháp luật rất phong phú cho nên cách thức thực hiệnchúng cũng rất phong phú và khác nhau, cách thức thực hiện pháp luật củamỗi chủ thể pháp luật khác nhau thì khác nhau Căn cứ vào tính chất hoạtđộng thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý xác định những hình thức thựchiện pháp luật sau:

1.1.2.1 Tuân thủ pháp luật (tuân theo pháp luật)

Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể thực hiện phápluật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm Nhữngquy phạm pháp luật cấm đoán đoán được thực hiện ở hình thức này

1.1.2.2 Thi hành pháp luật (chấp hành pháp luật)

Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thựchiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Những quy phạm

Trang 8

pháp luật bắt buộc (những quy phạm quy định nghĩa vụ phải thực hiện nhữnghành vi tích cực nhất định) được thực hiện ở hình thức này.

1.1.2.3 Sử dụng pháp luật

Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thựchiện quyền, tự do pháp lý của mình (những hành vi mà pháp luật cho phépchủ thể thực hiện) Những quy phạm pháp luật quy định về các quyền tự dopháp lý của các tổ chức, cá nhân được thực hiện ở hình thức này Đươngnhiên, vì quyền tự do pháp lý là những hành vi mà pháp luật cho phép chủ thểthực hiện nên chủ thể pháp luật có thể thực hiện các quyền, tự do đó tùy theo

ý chí của mình, chứ không bắt buộc phải thực hiện

1.1.2.4 Áp dụng pháp luật

Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơquan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thểpháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vàocác quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi,đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Ở hình thức này cácchủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật luôn có sự can thiệpcủa cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền Trong một sốtrường hợp đặc biệt, theo quy định của pháp luật, một số tổ chức xã hội cũng

có thể được thực hiện hoạt động này

Áp dụng pháp luật là một hoạt động có tổ chức mang tính quyền lực nhànước của các cơ quan, người có thẩm quyền, nhằm thực hiện trong thực tế cácquy phạm pháp luật trong mọi tình huống cụ thể của cuộc sống

* Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau:

Khi những quan hệ pháp luật với những quyền và nghĩa vụ cụ thể khôngmặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước

Trang 9

Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bêntham gia vào quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được.Khi cần áp dụng các biện pháp chế tài được nhà nước quy định trong cácquy phạm pháp luật nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêmminh.

Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phải thamgia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó, hoặcnhà nước xác nhận tồn tại hay không tồn tại một số vụ việc, sự kiện thực tế

Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhànước Nó vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là cách thức nhà nước

tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật

* Áp dụng pháp luật có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, áp dụng pháp luật mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước, cụ

thể, hoạt động này chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người cóthẩm quyền tiến hành Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếutheo ý chí đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không bị phụthuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng pháp luật Văn bản áp dụng pháp luậtmang tính bắt buộc phải thực hiện đối với những cá nhân, tổ chức có liênquan

Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động được thực hiện theo thủ tục do

pháp luật quy định chặt chẽ Trong quá trình áp dụng pháp luật các cơ quannhà nước có thẩm quyền và các bên có liên quan phải tuân thủ nghiêm ngặtcác quy định có tính thủ tục

Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với

các quan hệ xã hội Đối tượng của áp dụng pháp luật là những quan hệ xã hộicần đến sự điều chỉnh cá biệt, bổ sung trên những mệnh lệnh chung trong quyphạm pháp luật Bằng hoạt động áp dụng pháp luật, những quy phạm phápluật nhất định được cá biệt hoá, cụ thể hoá đối với những trường hợp cụ thể

Trang 10

Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo Khi áp dụng

pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách phải nghiêncứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọnquy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành

Từ sự phân tích trên cho thấy, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính

tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông quan những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách, hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.

Hình thức thể hiện chính thức của hoạt động áp dụng pháp luật là vănbản áp dụng pháp luật

Văn bản áp dụng pháp luật có một số đặc điểm sau:

Văn bản áp dụng pháp luật do những cơ quan (nhà chức trách, tổ chức)

có thẩm quyền ban hành và được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhànước

Văn bản áp dụng pháp luật có tính chất cá biệt, chỉ áp dụng một lần đốivới các cá nhân, tổ chức cụ thể trong những trường hợp xác định

Văn bản áp dụng pháp luật phải hợp pháp và phù hợp với thực tế Nóphải phù hợp với luật và dựa trên những quy phạm pháp luật cụ thể Nếukhông phù hợp với các căn cứ pháp lý được quy định trong các văn bản quyphạm pháp luật thì văn bản áp dụng pháp luật sẽ bị đình chỉ hoặc huỷ bỏ.Văn bản áp dụng pháp luật được thể hiện trong những hình thức pháp lýxác định như: bản án, quyết định, lệnh

Văn bản áp dụng pháp luật là một yếu tố của sự kiện pháp lý phức tạp,thiếu nó, nhiều quy phạm pháp luật không thể thực hiện được

Như vậy, văn bản áp dụng pháp luật là văn bản pháp lý cá biệt, mang

tính quyền lực do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc

Trang 11

các tổ chức xã hội được trao quyền ban hành trên cơ sở những quy phạm pháp luật, nhằm xác định những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp chế tài đối với chủ thể tham gia quan hệ pháp luật.

* Các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật.

Để áp dụng pháp luật chính xác, đạt hiệu quả cao cần phải tiến hànhnhững bước sau:

Phân tích, đánh giá đúng, chính xác những tình tiết, hoàn cảnh, điều kiện của vụ việc thực tế đã xảy ra.

Để giải quyết đúng đắn sự việc cụ thể có tính chất pháp lý, nhất thiếtphải hiểu đúng bản chất của sự việc và cần tìm hiểu tất cả các tình huống,chứng cứ của sự việc đúng như thực tế của nó

Khi cần điều tra xem xét cần bảo đảm tính khách quan, công bằng đốivới các tổ chức và cá nhân liên quan đến vụ việc

Việc xem xét các tình tiết thực tế của vụ việc cũng đòi hỏi phải nghiêncứu xác định vụ việc đó thực sự có ý nghĩa pháp lý hay không? Không thể ápdụng pháp luật đối với những vụ việc không có đặc trưng pháp lý Do đó, giaiđoạn này yêu cầu:

- Nghiên cứu khách quan, toàn diện và đầy đủ những tình tiết của vụviệc

- Xác đinh đặc trưng pháp lý của vụ việc

- Tuân thủ tất cả các quy định mang tính thủ tục gắn với mỗi loại vụ việc.Sau khi xem xét tất cả những tình tiết của vụ việc, nếu xác định vụ việc

có đặc trưng pháp lý cần áp dụng pháp luật thì chuyển sang giai đoạn thứ hai

Lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp và phân tích làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng.

Trước tiên, phải xác định ngành luật nào điều chỉnh vụ việc này, sau đếnlựa chọn quy phạm pháp luật cụ thể thích ứng với vụ việc Tiếp theo, phải làm

Trang 12

sáng tỏ nội dung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật được lựa chọn Điều này

có mục đích bảo đảm áp dụng đúng đắn pháp luật

Tóm lại, giai đoạn thứ hai của quá trình áp dụng pháp luật yêu cầu: a, lựachon đúng quy phạm pháp luật được trù tính cho trường hợp đó; b, xác địnhquy phạm pháp luật đang có hiệu lực và không mâu thuẫn với các văn bảnquy phạm pháp luật khác; c, nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của quyphạm pháp luật

Ra văn bản áp dụng pháp luật

Đây là giai đoạn quan trọng của quá trình áp dụng pháp luật Ở giai đoạnnày, những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể pháp luật hoặcnhững biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm được ấn định.Khi ra văn bản áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền,người có thẩm quyền không thể xuất phát từ động cơ cá nhân hoặc quan hệriêng tư Văn bản áp dụng pháp luật phù hợp với lợi ích của nhà nước, tập thể,

cá nhân được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, têngọi, có cơ sở thực tế và cơ sở pháp lý, theo đúng mẫu đã quy định Nội dungcủa văn bản phải rõ ràng, chính xác, nêu rõ trường hợp cụ thể, chủ thể cụ thể

và chỉ được thực hiện một lần

Tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật

Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật Giai đoạnnày gồm những hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo về mặt vật chất, kỹ thuậtcho việc thực hiện đúng văn bản áp dụng pháp luật hiện hành Ví dụ: Tổ chứcthi hành bản án đã tuyên, dẫn người bị kết án tới trại cải tạo Đồng thời cũngcần tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thi hành quyết định ápdụng pháp luật Đó là một trong những bảo đảm quan trọng để quyết định đóđược thực hiện nghiêm chỉnh trong đời sống

Trang 13

Như vậy, tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật hay ápdụng pháp luật đều là các hình thức thực hiện pháp luật Nếu như tuân thủpháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọichủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức thựchiện pháp luật chỉ dành cho các cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩmquyền Áp dụng pháp luật được xem là hoạt động thực hiện pháp luật của cơquan nhà nước, nó vừa là một hình thức thực hiện pháp luật vừa là một giaiđoạn mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tổ chức cho các chủthể pháp luật khác thực hiện các quy định pháp luật.

1.2 Pháp luật trong lĩnh vực người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

1.2.1.1 Khái niệm Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Theo Khoản 1 (Điều 3), Luật Người lao động ở Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài theo hợp đồng của Quốc hội thứ XI, kỳ họp thứ X số 72/2006/QHXI/ ngày 29 tháng 12 năm 2006, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2007 thì:

“Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi là

người lao động đi làm việc ở nước ngoài) là công dân việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật việc Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này” [14, 8].

Như vậy, có thể nói khái niệm người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoàichính thức được đưa vào văn bản pháp lí kể từ ngày Luật Người lao động ViệtNam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được Quốc hội khóa XI, kỳ họpthứ X thông qua Trước đây, người ta thường đồng nhất hai khái niệm là

“Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài” với “ Xuất khẩu lao động” làmột, bởi thực chất đây đều là hoạt động xuất khẩu lao động hay nói cách khác

Trang 14

là việc Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các hình thức khácnhau.

Tuy nhiên, tôi cho rằng khái niệm “ Người Việt Nam đi làm việc ở nướcngoài” theo Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2006 là cơ

sở lí luận để thực hiện đề tài này

1.2.1.2 Đặc điểm Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

- Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một hoạt động kinh tế đối ngoại đặc thù.

Tính đặc thù của hoạt động kinh tế đối ngoại trong việc Người Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài ở chỗ, nó là một hoạt động xuất khẩu lao động vừa

là một hoạt động mang tính kinh tế đồng thời vừa là một hoạt động mang tính

xã hội sâu sắc

Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một hoạt động kinh tế: Ởnhiều nước trên thế giới hoạt động này đã trở thành một trong những giảipháp quan trọng để thu hút lực lượng lao động đang ngày càng tăng lên ởnước họ và thu ngoại tệ bằng hình thức chuyển tiền về nước của người laođộng Những lợi ích này buộc các nước xuất khẩu lao động nỗ lực để có thểchiếm thị phần cao nhất trên thị trường lao động nước ngoài Để thực hiệnđược điều này phải phụ thuộc vào quan hệ cung cầu lao động, và chịu sự điềutiết, sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường Bên cạnh phải tính toánmọi hoạt động của mình sao để bù đắp được chi phí và có lãi, vì vậy, phải có

cơ chế thích hợp để tăng khả năng tối đa về cung lao động Bên cầu cũng phảitính toán kỹ lưỡng hiệu quả của việc nhập khẩu lao động

Do vậy, việc quản lý nhà nước, sự điều chỉnh pháp luật luôn luôn bámsát đặc điểm này của hoạt động người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài,làm sao để mục tiêu kinh tế luôn là mục tiêu số một của mọi chính sách vàquy định pháp luật về xuất khẩu lao động

Trang 15

Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài không chỉ đơn thuần là mộthoạt động kinh tế, mà nó còn là một hoạt động thể hiện rõ tính xã hội Tính xãhội này bắt nguồn từ tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động.

Sức lao động là hàng hoá đặc biệt vì nó không thể tách rời khỏi chủ thể

là người lao động Vì thế, mà từ tầm vĩ mô, mọi chính sách pháp luật tronglĩnh vực xuất khẩu lao động phải kết hợp với chính sách xã hội, phải đảm bảolàm sao để người đi lao động nước ngoài được lao động như trong hợp đồnglao động, cũng như bảo đảm quyền lợi của họ như bảo hiểm xã hội, khámchữa bệnh, trợ cấp nghề nghiệp, cùng tham gia hoạt động công đoàn, nghỉphép, nghỉ các ngày lễ tết… Bên cạnh đó, chủ thể lao động có khả năng pháttriển và có khả năng tự làm chủ bản thân Do đó, ở tầm vĩ mô, trong các hiệpđịnh và hợp đồng kí kết bên cạnh những điều khoản, điều mục qui định nhưđối với hàng hoá bình thường, còn phải có những điều khoản đề cập đời sốngchính trị, tinh thần, văn hoá, sinh hoạt của người lao động như vấn đề thămviếng của nhân thân, vấn đề đào tạo để nâng cao tay nghề, các hoạt động vănhoá, tinh thần tập thể, các ngày lễ hội…

- Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một hoạt động xuất khẩu dịch vụ.

Chính vì tính chất không tách rời của chủ thể lao động nói trên, NgườiViệt đi làm việc ở nước ngoài là một hoạt động xuất khẩu dịch vụ rất đặc thù,khác hẳn với xuất khẩu hàng hoá thông thường

Tính chất vô hình không thể chia cắt, hoạt động dịch vụ thông thường cóđặc điểm không hiện hữu, nó không tồn tại dưới dạng vật thể, không thể sờ

mó, tiếp xúc hay nhìn thấy được khi ra quyết định sử dụng Đối với lĩnh vựcnày, yếu tố không hiện hữu thể hiện ở chỗ hoạt động xuất khẩu lao độngkhông chấm dứt khi hoàn thành xong thủ tục đưa người lao động đi làm việc

ở nước ngoài mà nó còn kéo dài từ khi đưa người lao động đi, giúp người laođộng hoà nhập với chủ sử dụng lao động hay các hoạt động đào tạo về nghề

Trang 16

nghiệp, phong tục tập quán, lối sống, pháp luật, và cả bảo hiểm xã hội… chođến khi về nước Các bên có liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động, cóquyền lợi và nghĩa vụ trong suốt thời hạn của hợp đồng, thậm chí đối vớidoanh nghiệp thời hạn thực hiện nghĩa vụ còn dài hơn cả thời hạn có hiệu lựccủa hợp đồng Vì họ phải thực hiện những công việc chuẩn bị trước khi đưangười lao động ra nước ngoài làm việc và giải quyết những công việc sau khingười lao động kết thúc thời hạn hợp đồng làm việc ở nước ngoài Như vậy,khác với hoạt động mua bán hàng hoá thông thường, người mua và người bántham gia hoạt động xuất khẩu lao động thường xuyên có những hành động đểthực hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng hoặc trong cả trường hợp khôngquy định trong hợp đồng nhưng có liên quan đến quyền lợi của người laođộng, cũng như quyền lợi của người cung ứng và sử dụng lao động.

Là một hoạt động mang tính dịch vụ nên nó cũng mang tính chất khôngxác định, chất lượng của hàng hoá sức lao động được phản ánh và phụ thuộcvào khả năng dẻo dai, bền bỉ trong lao động của người lao động, khả năngthành thạo và sáng tạo của người lao động, cũng như điều kiện việc làm, sinhhoạt nghỉ ngơi, các hoạt động văn hoá… cho người lao động

Giá cả của xuất khẩu lao động: Điểm khác biệt giữa việc xuất khẩu hànghoá sức lao động với các hàng hoá thông thường được thể hiện ở việc tính giá

cả của hàng hoá sức lao động Giá cả của xuất khẩu sức lao động cũng là biểuhiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động Giá trị hàng hoá sức laođộng gồm 3 bộ phận:

Thứ nhất, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức laođộng của bản thân người lao động

Thứ hai, những giá trị của tư liệu sinh hoạt cần thiết để người lao động

có thể nuôi sống gia đình họ

Thứ ba, chi phí đào tạo nghề nghiệp, chi phí để thoả mãn các nhu cầuvăn hoá tinh thần của người lao động

Trang 17

Như vậy, khi tính giá xuất khẩu sức lao động phải tính đúng và tính đủcác yếu tố hình thành giá trị hàng hoá sức lao động, cũng như phải tính trongđiều kiện từng thị trường cụ thể, nơi diễn ra việc trao đổi sức lao động, bởi lẽmỗi thị trường có chi phí và điều kiện sinh hoạt khác nhau Việc xác định giáđồng thời lại phải đảm bảo sức cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay.

- Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một hoạt động có thời hạn, diễn ra trong môi trường cạnh tranh gay gắt

Việc người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là sự di chuyển quốc tế

về lao động có kế hoạch và có thời hạn Do vậy, cần phải có những chế độtiếp nhận và sử dụng người lao động sau khi họ hoàn thành hợp đồng laođộng ở nước ngoài và trở về nước, giúp đỡ họ hoà nhập với cuộc sống trongnước Chính sách đối với người lao động sau khi về nước như đảm bảo việclàm cho người lao động, khuyến khích bằng những ưu đãi để họ bỏ vốn đầu

tư, phát triển sản xuất Mặt khác, cũng có thể đẩy mạnh hoạt động tái xuấtkhẩu lao động, tức là xuất khẩu những lao động đã qua đào tạo và làm việc ởnước ngoài Tuy nhiên, để thực hiện tái sản xuất xuất khẩu lao động khôngchỉ phải tính đến hiệu quả kinh tế như đáp ứng được đa dạng của thị trườngnhập khẩu lao động với mức lương cao Nhà nước không mất thời gian và chiphí đào tạo mà cần phải tính đến hiệu quả xã hội trong việc tạo việc làm vàphân phối thu nhập

Ngoài ra, hoạt động này đang diễn ra trong môi trường cạnh tranh ngàycàng gay gắt Thị trường lao động quốc tế hiện nay vừa là thị trường tự docạnh tranh, vừa là thị trường bị cát cứ do biên giới giữa các quốc gia Đó làmột thị trường mà sự hợp tác giữa các nước là một đòi hỏi bắt buộc, đồng thờicạnh tranh lại là một nhân tố sống còn Vì vậy, sự cạnh tranh trong thị trườnglao động thế giới hiện nay vừa là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, các tổchức kinh tế trong một quốc gia, vừa là sự cạnh tranh giữa các quốc gia với tưcách là một tập đoàn kinh tế của đất nước mình Cuộc cạnh tranh này thể hiện

Trang 18

qua số lượng hợp đồng lao động, xuất khẩu chất lượng lao động, cơ chế quản

lý lao động ở nước ngoài, các mức lương, sự đa dạng về ngành nghề và trìnhđộ… Chiến lược xuất khẩu lao động đúng đắn của một quốc gia là tiền đềquan trọng để vươn ra cạnh trạnh với các quốc gia khác, ngược lại sẽ kìm hãm

sự phát triển kinh tế, làm giảm sự cạnh tranh

1.2.1.3 Các hình thức đi làm việc ở nước ngoài

Theo điều 6 – Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoàinăm 2006, quy định Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theomột trong các hình thức sau:

- Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanhngiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổchức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nướcngoài

- Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanhnghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài cóđưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

- Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thứcthực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việcdưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề

Trang 19

Điều này có nghĩa là, doanh nghiệp thực hiện hoạt động dịch vụ đưangười lao động đi làm việc ở nước ngoài phải bảo đảm tính pháp lí hay nóicách khác là các doanh nghiệp này phải đảm bảo các điều kiện theo quy địnhcủa pháp luật, cụ thể là Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm2006

(Điều 8 đến Điều 27) quy định về điều kiện, trách nhiệm, quyền hạn đốidoanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

- Đối với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Theo quy định tại Điều 28, Luật người Việt Nam đi làm việc ở nướcngoài năm 2006 Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu đưa người lao động đilàm việc ở nước ngoài phải có đủ các điều kiện sau:

Được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho phép

Người lao động được doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài phải cóHợp đồng lao động với doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về lao

Bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người lao động làm việc ở nước ngoàicho doanh nghiệp phù hợp với pháp luật Việt Nam và pháp luật mà người laođộng đến làm việc

Ngoài ra, pháp luật còn quy định về trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụđối với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu đưa người lao động đi làm việc ởnước ngoài tại các Điều 29 và 30 của Luật này

Trang 20

- Đối với tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Theo quy định tại Điều 31, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài năm 2006, thì điều kiện Đối với tổ chức, cá nhân đầu tư ra nướcngoài đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm:

Được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho phép

Chỉ được đưa người lao động đi làm việc tại các cơ sở sản xuất, kinhdoanh do các tổ chức, cá nhân đầu tư thành lập ở nước ngoài

Có phương án sử dụng và quản lí người lao động ở nước ngoài, cóphương án tài chính đưa người lao động về nước trong trường hợp bất khảkháng

Bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người lao động làm việc tại các cơ sởsản xuất, kinh doanh do tổ chức, cá nhân đầu tư thành lập ở nước ngoài phùhợp với pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật ViệtNam

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định về vấn đề trách nhiệm, quyền hạn vànghĩa vụ đối với tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động đilàm việc ở nước ngoài tại các Điều 32 và Điều 33 của Luật này

- Đối với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề.

Doanh nghiệp được đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theohình thức thực tập nâng cao tay nghề khi có đủ các điều kiện sau:

Có hợp đồng với cơ sở thực tập ở nước ngoài để đưa người lao động đilàm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề (sau đây gọi

là Hợp đồng nhận lao động thực tập) quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 35của Luật này và đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Trang 21

Có Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hìnhthức thực tập nâng cao tay nghề (sau đây gọi là Hợp đồng đưa người lao động

đi thực tập) quy định tại khoản 3 Điều 35 của Luật này; người lao động đượcdoanh nghiệp đưa đi thực tập nâng cao tay nghề phải có Hợp đồng lao độngvới doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động;

Ngành, nghề người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thứcthực tập nâng cao tay nghề phải phù hợp với lĩnh vực sản xuất, kinh doanhcủa doanh nghiệp;

Có tiền ký quỹ thực hiện Hợp đồng nhận lao động thực tập theo quy địnhcủa Chính phủ

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định về tách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụđối với Doanh nghiệp được đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theohình thức thực tập nâng cao tay nghề tại các Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều

38 của Luật này

- Đối với Tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm

việc ở nước ngoài.

Điều kiện để tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nướcngoài

Tổ chức sự nghiệp được đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoàikhi có đủ các bao gồm:

Là tổ chức sự nghiệp thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chínhphủ;

Được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quanthuộc Chính phủ giao nhiệm vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;Người lãnh đạo điều hành tổ chức sự nghiệp phải có trình độ từ đại họctrở lên, có ít nhất ba năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa người lao động đilàm việc ở nước ngoài hoặc hoạt động trong lĩnh vực hợp tác và quan hệ quốctế;

Trang 22

Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của tổ chức sựnghiệp là hoạt động phi lợi nhuận.

- Đối với người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Ngoài các quy định cụ thể mà Luật người Việt Nam đi làm việc ở nướcngoài năm 2006 quy định từ Điều 42 đến Điều 59 thì, Người Việt Nam đi làmviệc ở nước ngoài phải bảo đảm các điều kiện cơ bản sau:

Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

Tự nguyện đi làm việc ở nước ngoài;

Có ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo đức tốt;

Đủ sức khoẻ theo quy định của pháp luật Việt Nam và yêu cầu của nướctiếp nhận người lao động;

Đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề

và các điều kiện khác theo yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động;

Được cấp chứng chỉ về bồi dưỡng kiến thức cần thiết;

Không thuộc trường hợp cấm xuất cảnh theo quy định của pháp luật ViệtNam

1.2.3 Lịch sử phát triển của pháp luật trong lĩnh vực người Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài

1.2.3.1 Các giai đoạn chính

Ở nước ta, vấn đề người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đãtrở thành một hoạt động kinh tế - xã hội trong nhiều năm qua, nhất là nhữngnăm 1980 của thế kỷ 20 Trong giai đoạn này, người lao động Việt Nam đượcNhà nước gửi đi lao động chính thức theo các hiệp định song phương với cácnước nhận là các nước thuộc Liên Xô cũ, một số nước xã hội chủ nghĩa ởĐông Âu trước đây và một số nước ở châu Phi và Trung Đông Sau đó, do sựtan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, những người laođộng Việt Nam đã trở về nước và để giải quyết vấn đề đưa người lao động đi

Trang 23

làm việc ở nước ngoài, Nhà nước ta đã có những điều chỉnh về chính sáchxuất khẩu, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài tại một số thị trườnglao động mới.

Trong những năm đầu của thập kỷ 70 và nhất là sau khi đất nước thốngnhất, nhiều nước đã đặt vấn đề hợp tác sử dụng lao động với nước ta Đảng vàNhà nước đã có những chủ trương, chính sách rất rõ ràng về vấn đề này:

- Năm 1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thường vụ Hội đồngChính phủ chính thức giao cho Bộ Lao động và Uỷ ban kế hoạch Nhà nước,nghiên cứu tiến hành đàm phán với một số quốc gia XHCN về trao đổi, hợptác lao động

- Ngày 11/02/1980 hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 46/CP về việcđưa cán bộ, công nhân đi bồi dưỡng, nâng cao trình độ và làm việc có thờihạn ở các nước Xã hội Chủ nghĩa

- Ngày 29/11/1980 hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 362/CP về việchợp tác sử dụng lao động với các nước XHCN, đáp ứng một phần yêu cầu laođộng của các nước anh em, giải quyết việc làm cho một bộ phần thanh niênchưa có việc làm

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, trong báo cáo của Ban Chấphành Trung ương Đảng về phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế

- xã hội trong 5 năm 1986 - 1990, hợp tác lao động đã được xác định là mộttrong 3 chương trình kinh tế lớn; mở rộng việc đưa lao động ra nước ngoàibằng nhiều hình thức thích hợp

Từ 1980 - 1990, Việt Nam đã đưa đi được 265.501 lao động Trong tổng

số 265.501 lao động đã đưa đi, phần lớn lao động của ta chủ yếu được đưasang 4 nước XHCN (Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc và Bungari) với tổng

số lao động là: 240.301 người, trong đó có 91.955 lao động nữ, chiếm 38,26%

và trong tổng số 240.301 lao động đã gửi đi chỉ có 101.084 người đã có nghềchiếm 42,06% Số lao động còn lại trước khi đi, phần lớn là không nghề bằng

Trang 24

5, 94% tổng số lao động đưa sang 4 nước này Ngoài số lao động gửi sang cácnước XHCN, Nhà nước ta còn gửi 25.200 lao động sang làm việc ở các nướckhác thuộc khu vực vùng Vịnh và Châu Phi.

Ngoài các nước XHCN nhà nước ta còn đưa 25.200 lao động sang cả cácnước khác Nhưng chủ yếu là tập trung ở các nước vùng Vịnh và các nướcthuộc Châu Phi Lao động đưa sang các nước vùng Vịnh là 18.000 người vàChâu Phi (Libya, Angieria, Angola, Mozambiq, Congo, Madagasca) là 7.200người

Như vậy, trong thời kỳ này thị trường xuất khẩu lao động của chúng tatập trung chủ yếu vào thị trường các nước XHCN đã chỉ rõ Phần lớn lao độngcủa ta đưa sang 4 quốc gia, chủ yếu tập trung ở Liên Xô và CHDC Đức Haiquốc gia còn lại về số lượng lao động đến làm việc không lớn bằng Liên Xô

và CHDC Đức, nhưng cũng cho thấy đây là hai thị trường cũng không kémphần qua trọng trong hệ thống các nước mà lao động Việt Nam được đưa đếnlao động

Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, các nước XHCN ở Đông

Âu tiếp nhận lao động của ta đều xảy ra những biến động lớn về chính trị,kinh tế xã hội Nhiều nước ở Châu Phi có lao động Việt Nam làm việc cũnggặp khủng hoảng kinh tế xã hội và chính trị, còn ở Trung Đông lại phải đốiđầu với cuộc chiến tranh Iraq Vì vậy mà hầu hết các nước này không còn nhucầu tiếp nhận lao động Việt Nam, thậm chí có tiếp nhận nhưng đứt quãng và

số lượng cũng không đáng kể Trước những biến động bất ổn đó, để có thểtiếp tục duy trì và phát triển xuất khẩu lao động, Chính phủ đã khẳng định:phải tiếp tục mở rộng hợp tác quan hệ quốc tế, trong đó hợp tác về xuất khẩulao động vẫn được coi như là một ngành kinh tế mang lại nhiều lợi ích choquốc gia

- Ngày 30/6/1988 Hội đồng Bộ trưởng đã ra Chỉ thị số 108/CT - HĐBT

về việc mở rộng hợp tác lao động, là một nhiệm vụ kinh tế quan trọng, có ý

Trang 25

nghĩa chiến lược lâu dài.

- Ngày 20/01/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 07/NĐ - CP đãkhẳng định: Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nướcngoài là một hướng giải quyết đúng đắn…

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nhấn mạnh chủ trương đẩymạnh xuất khẩu lao động Nghị quyết TW 4 khoá VIII cũng chỉ rõ; mở rộngxuất khẩu lao động trên thị trường đã có và trên thị trường mới Cho phép cácthành phần kinh tế trong nước tham gia xuất khẩu và làm dịch vụ xuất khẩu laođộng trong khuôn khổ pháp luật, dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, đồngthời kiên quyết chấn chỉnh những hoạt động dịch vụ xuất khẩu lao động trái vớinhững quy định của Nhà nước

- Ngày 20/9/1999 Chính phủ ra Nghị định số 152/NĐ - CP về việc khuyếnkhích các cơ quan, doanh nghiệp, các tổ chức Việt Nam trong nước và ngoàinước thông qua các hoạt động của mình, tham gia tìm kiếm, khai thác việc làm

ở ngoài nước để mở rộng xuất khẩu lao động

- Ngày 22/9/1998 Bộ Chính trị cũng đã ban hành chỉ thị số 41/CT - TW vềxuất khẩu lao động Chỉ thị đã khẳng định: xuất khẩu lao động là một hoạtđộng kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm,tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thungoại tệ cho đất nước… cùng với các giải pháp giải quyết việc làm trong nước

là chủ yếu thì xuất khẩu lao động là một chiến lược quan trọng lâu dài, gópphần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời

kỳ Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước

- Tại hội nghị về xuất khẩu lao động tháng 6/2000 được tổ chức tại HàNội, do Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải chủ trì, một lần nữa quan điểmcủa Đảng và Nhà nước lại tiếp tục được khẳng định và nhấn mạnh: xuất khẩulao động đối với chúng ta là một vấn đề quan trọng, có ý nghĩa chiến lược Do

đó, phải coi xuất khẩu lao động là một vấn đề quan trọng lâu dài của đất nước

Trang 26

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động đưa người lao động đi làmviệc ở nước ngoài, Nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện các thể chế liênquan đến hoạt động này Từ năm 1996 đến nay, Chính phủ đã lần lượt banhành 4 Nghị định, đặc biệt năm 2006, Quốc hội đã ban hành Luật Người laođộng Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và đã có hiệu lực từngày 1/7/2007 Với luật này, hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc tạinước ngoài có một khung pháp lý vững chắc và đầy đủ để phát triển trongthời gian tới.

Ngày 11/11/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 141/2005/NĐ

-CP về quản lý lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài Nghị định gồm 6chương, 34 điều quy định trách nhiệm của doanh nghiệp đưa lao động ViệtNam đi làm việc ở nước ngoài, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nướcngoài, người bảo lãnh cho người lao động và của các cơ quan, tổ chức trongviệc quản lý người lao động; xử lý các hành vi vi phạm về quản lý nhà nướctrong lĩnh vực xuất khẩu lao động

Nghị định số 126/2007/NĐ - CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người lao động Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Từ 1/7, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theohợp đồng đã có hiệu lực

1.2.3.2 Một số văn bản pháp luật hiện hành

Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng(có hiệu lực tư 1/7/2007) và hàng loạt các văn bản được ban hành để đáp ứngvới quy định của Luật và tình hình mới:

Nghị định số 126/2007/NĐ - CP ngày 01/8/2007 quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làmviệc ở nước ngoài theo hợp đồng

Trang 27

Nghị định số 144/2007/NĐ - CP ngày 10/9/2007 quy định xử phạt viphạm hành chính trong hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoàiQuyết định số 144/2007/QĐ - TTg ngày 31/8/2007, về việc thành lập,quản lý và sử dụng Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước.

Thông tư liên tịch số 08/TTLT - BLĐTBXH - BTP ngày 11/7/2007,hướng dẫn nội dung hợp đồng bảo lãnh và thanh lý hợp đồng bảo lãnh vàthanh lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nướcngoài theo hợp đồng

Thông tư liên tịch số 16/2007/TTLT - BLĐTBXH - BTC ngày 4/9/2007của Bộ LĐTBXH - BTC, Quy định cụ thể về tiền môi giới và dịch vụ tronghoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Quyết định số 19/2007/QĐ - LĐTBXH ngày 18/7/2007, Ban hành “Quyđịnh về tổ chức bộ máy hoạt động đưa đưa người lao động Việt Nam đi làmviệc ở nước ngoài và bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiếtcho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài”

Quyết định số 18/2007/QĐ - LĐTBXH ngày 18/7/2007 của Bộ trưởng

Bộ LĐTBXH, Ban hành chương trình bồi dưỡng kiến thức cần thiết chongười lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài

Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT - BLĐTBXH - NHNNVN ngày4/9/2007, Quy định việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp vàtiền ký quỹ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Quyết định số 18/2007/QĐ - LĐTBXH ngày 18/7/2007 của Bộ trưởng

Bộ LĐTBXH, Ban hành chương trình bồi dưỡng kiến thức cần thiết chongười lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài

Quyết định số 19/2007/QĐ - LĐTBXH ngày 18/7/2007, Ban hành “Quyđịnh về tổ chức bộ máy hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước

Trang 28

ngoài và bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người laođộng trước khi đi làm việc ở nước ngoài”.

Quyết định số 20/2007/QĐ - LĐTBXH ngày 2/8/2007 của Bộ trưởng BộLĐTBXH, Ban hành chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho ngườilaođộng trước khi đi làm việc ở nước ngoài

Và một số văn bản khác hướng dẫn về việc khám sức khỏe, chứng nhậnsức khỏe cho người lao động, hướng dẫn phòng ngừa, chống các hành vi viphạm pháp luật, xử lý hình sự… đối với vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đưangười lao động đi làm việc ở nước ngoài

Tiểu kết chương 1

Thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật trong lĩnh vựcngười lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là những hình thức thựchiện pháp luật mà theo đó các chủ thể khi tiến hành những hoạt động củamình đều nhằm hướng tới những mục tiêu đó là đảm bảo thực hiện đúngquyền và nghĩa vụ pháp lí của mình khi tham gia vào các quan hệ xã hội,trong đó có quan hệ pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nướcngoài

Như vậy, kể từ khi áp dụng Luật người Việt Nam đi làm việc ở nướcngoài năm 2006 thì những quy định cơ bản về Pháp luật người Việt Nam đilàm việc ở nước ngoài được cụ thể hóa một cách chặt chẽ hơn, nó bảo vệđược quyền lợi của người lao động, các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện xuấtkhẩu lao động Điều này đã ngăn chặn và hạn chế được tình trạng lợi dụng kẽ

hở của pháp luật để thực hiện hành vi trái pháp luật làm ảnh hưởng đến kếtquả xuất khẩu lao động nói chung và trật tự an toàn xã hội, làm giảm lòng tincủa dân chúng đối với chính sách xuất khẩu lao động của nhà nước

Trang 29

Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG

LĨNH VỰC NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC

Ở NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH

2.1 Khái quát về điều kiện KT - XH tỉnh Hà Tĩnh ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

2.1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội

* Điều kiện tự nhiên

Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc trung bộ, có tọa độ địa lí từ

17035’50’’ đến 18045’40’’ vĩ độ Bắc và 105005’50’’ đến 106030’20’’ Bắc kinh độđông

Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Đônggiáp Biển đông, phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.Diệntích đất tự nhiên 6.019km2 có 127km đường quốc lộ 1A, 87km đường mòn HồChí Minh, 70km đường sắt Bắc – Nam chạy dọc theo hướng Bác - Nam, cóđường quốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu Quốc tế cầu Treo với chiềudài 85km, quốc lộ 12 dài 55km đi từ Vũng Áng qua cửa Quảng Bình đến củakhẩu Cha Lo sang Lào và Đông Bắc Thái Lan

Ngoài ra, Hà Tĩnh còn có 137km đường bờ biển có nhiều cảng và củasông lớn cùng với hệ thống đường giao thông khá tốt rất thuận lợi cho giaolưu văn hóa phát triển kinh tế xã hội

* Tình hình xã hội

Trang 30

- Dân số: Tỉnh Hà Tĩnh có khoảng 1.3 triệu người, xấp xỉ 1.7% dân sốcủa cả nước.

- Dân tộc, tôn giáo: Hà Tĩnh là tỉnh có ít đồng bào dân tọc thiểu số, hiệnnay toàn tỉnh có 4 thành phần dân tộc thiểu số chính gồm 296 hộ với 1.508nhân khẩu cư trú tập trung, xen ghép tại 8 thôn bản thuộc 7 xã cảu 3 huyệnmiền núi: Hương Khê, Hương Sơn và Vũ Quang Trong đó có tộc người MãLiềng thuộc nhóm dân tộc Chứt gồm 30 hộ, 127 nhân khẩu cư trú tập trung tại

2 bản: Bản Rào Tre xã Hương Liên và bản Giàng II xã Hương Vĩnh, huyệnHương Khê là một trong những tộc người lạc hậu nhất cần được bảo tồn vàphát triển

Hà Tĩnh có 13 vạn tín đồ theo các tôn giáo, chiếm 10,4% dân số toàntỉnh Trong dó: Công giáo có 132.132 tín đồ, phật giáo có 1.635 phật tử Toàntỉnh có: 272 cơ sở thờ tự gồm: Nhà thờ, nhà chùa, nhà nguyện, tu viện.131/260 xã, phường, thị trấn ở 11/11 huyện, thị có đồng bào giáo dân, có 461khu dân cư vùng giáo trong đó có 114 xóm giáo toàn tòng

Phật giáo: Trước đây Hà Tĩnh có nhiều chùa, có sư trụ trì nhưng do chiếntranh tàn phá và nhận thức chưa đày đủ về quyền “ tự do tín ngưỡng” nên dầndần bị lãng quên, tín đồ, phật tử còn ít Từ năm 1990 lại nay, phật giáo từngbước được phục hồi hoạt động đan xen với tín ngưỡng dân gian Đến nay toàntỉnh có, 59 chùa, trong đó có 11 chùa tổ chức hành lễ thường xuyên, có 3 nhà

sư trong đó có 1 vị kiêm trụ trì chính, có 11 ban hộ tự hoặc ban nghi lễ, 90người trong ban quản lí di tích

Công giáo: Đạo công giáo ở Hà Tĩnh thuộc giáo phận Vinh đến tháng3/2002 số tổ chức giáo hội, công giáo đang hoạt động : Có 6 hạt đạo, xứ đạo,

207 họ đạo và 17 họ đạo nhưng chưa được chính quyền địa phương côngnhận Toàn tỉnh có 2 cơ sở dòng tu, 1 tu hội trái phép, 40 linh mục, 27 nữ tu

và 10 người thuộc tu hội trái phép, 16 chúng sinh đại chúng viện Vinh Thanh, 224 Ban hành giáo xứ họ, 17 Ban hành giáo xứ họ chưa được chínhquyền địa phương công nhận, 1.551 người hoạt động trong ban hành giáo xứ

-họ, 1.500 người hoạt động phật giáo lý viên xứ họ

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, Nghị Quyết số: 02 NQ/TU ngày 22/06/2001 “Về tiếp tục lãnh đạo thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo giải quyết việc làm và xây dựng nông thôn mới…” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tiếp tục lãnh đạo thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo giải quyết việc làm và xây dựng nông thôn mới…
9. TS. Đinh Thế Định, Giải quyết việc làm cho người lao động ở Hà Tĩnh hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 7/2007, tr.48 - 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm cho người lao động ở Hà Tĩnh hiện nay
10. PGS - TS Đoàn Minh Duệ, “Xuất khẩu lao động ở Hà Tĩnh - Thực trạng và giải pháp đến năm 2020”, NXB Nghệ An, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu lao động ở Hà Tĩnh - Thực trạng và giải pháp đến năm 2020
Nhà XB: NXB Nghệ An
11. PGS - TS Đoàn Minh Duệ, Xuất khẩu lao động ở Hà Tĩnh - Thực trạng và giải pháp đến năm 2020, NXB Nghệ An, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu lao động ở Hà Tĩnh - Thực trạng và giải pháp đến năm 2020
Nhà XB: NXB Nghệ An
12. Lịch sử địa phương Hà Tĩnh, NXB thống kê Hà Tĩnh năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử địa phương Hà Tĩnh
Nhà XB: NXB thống kê Hà Tĩnh năm 2005
16. Quyết định số:1690/QĐ/UB - TM ngày 22/6/2004 về vấn đề hỗ trợ vốn cho người xuất khẩu lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: về vấn đề hỗ trợ
17. TS. Nguyễn Thái Sơn, “Một số vấn đề quản lí Nhà nước trong xuất khẩu lao động hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quản lí Nhà nước trong xuất khẩu lao động hiện nay
18. Th.s. Đinh Ngọc Thắng, “Cơ chế giám sát đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”. Kỷ yếu hội thảo của đề tài Người lao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế giám sát đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
2. Báo cáo của UBND tỉnh Hà Tĩnh năm 2008 về công tác xuất khẩu lao động Khác
3. Báo cáo của Sở lao động TB - XH tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2003 - 2008 về công tác xuất khẩu lao động Khác
4. Bộ chính trị Chỉ thị số 41/CT ngày 22/9/1999 về thực hiện công tác xuất khẩu lao động Khác
5. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật (2005), NXB chính trị quốc gia Hà Nội Khác
6. Chỉ thị số 18CT/UB - VX ngày 29 /11/2002 về tăng cường quản lý và tổ chức công tác xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh làm cơ sở để triển khai xuống các huyện, thị xã Khác
7. Chỉ thị số 44/CT - TU ngày 03/12/2003 của Ban thường vụ tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác xuất khẩu lao động ra nước ngoài Khác
8. Đề án xuất khẩu lao động của Sở lao động TB - XH tỉnh Hà Tĩnh năm 2008 Khác
14. Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 Khác
15. Nghị định số 126/2007/NĐ - CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w