1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thanh hoá trong hai lần chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc mỹ (1964 1973)

106 1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thanh Hoá Trong Hai Lần Chống Chiến Tranh Phá Hoại Của Đế Quốc Mỹ (1964-1973)
Người hướng dẫn PGS - TS. Nguyễn Trọng Văn
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 268 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, trong hai lần chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, quândân Thanh Hoá đã phải đối mặt với những trận đánh phá quyết liệt có tính chấthuỷ diệt vào các trọng điểm giao thông, n

Trang 1

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới PGS - TS Nguyễn Trọng Văn, đã tận tình hớng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn.

Tôi chân thành cảm ơn tới các cô, chú hiện đang công tác tại: Trung tâm lu trữ Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Lu trữ Văn phòng Tỉnh uỷ, Bộ chỉ huy quân sự Tỉnh, Th viện Khoa học tổng hợp Tỉnh, Bảo tàng tổng hợp Tỉnh, Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử tỉnh Thanh Hoá và các Trung tâm Th viện Quốc gia, Th viện trờng Đại học Quốc gia, Trờng Đại học S phạm I.v.v đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi su tầm nguồn t liệu để hoàn thành luận văn Đồng thời, tôi cũng xin đợc gửi lời cảm ơn của mình tới các thầy cô trong tổ bộ môn Lịch sử Việt Nam - Khoa Lịch sử, Khoa Sau Đại học - Tr- ờng Đại học Vinh.

Nhân dịp này cho phép con bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Bố Mẹ, những ngời thân, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng, song do thời gian và năng lực có hạn nên luận văn khó tránh khỏi những sai sót Tác giả rất mong đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn.

Vinh, tháng 12 năm 2004.

Tác giả

Trang 2

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài.

Thanh Hoá có vị thế chiến lợc trọng yếu trong lịch sử đấu tranh dựng nớc

và giữ nớc của dân tộc ta Vị thế đó đợc tạo nên bởi yếu tố địa hình đa dạng, đủcả ba vùng: miền núi, trung du và đồng bằng Núi rừng hiểm yếu bao bọc lấy

đồng bằng, tạo thành thế “tay ngai” hớng ra Biển Đông Vùng biển Thanh Hoá

có nhiều điểm xung yếu về quốc phòng nh: đảo Mê, hòn Nẹ, Nghi Sơn, SầmSơn, rừng Thông, Sao Vàng.v.v…

Thanh Hoá có mạng lới giao thông phát triển khá hoàn chỉnh, nối liềnmạch máu giao thông Bắc Nam nh: quốc lộ 1A, đờng 15, đờng sắt, sông Lèn,sông Mã, cầu Hàm Rồng, bến Phà Ghép, v.v … Ngoài ra, đờng 217 cũng quantrọng nối với tỉnh Hủa Phăn (CHDCND Lào) Mạng lới giao thông rộng lớnkhông những phục vụ tích cực trong phát triển kinh tế của tỉnh mà còn đóng vaitrò rất quan trọng trong việc vận chuyển, phục vụ chiến đấu tới các chiến trờng

A, B, C Do đó, trong hai lần chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, quândân Thanh Hoá đã phải đối mặt với những trận đánh phá quyết liệt có tính chấthuỷ diệt vào các trọng điểm giao thông, nhằm ngăn chặn tuyến đờng chi việncủa hậu phơng Thanh Hoá tới tiền tuyến miền Nam và cách mạng Lào

Năm 1930, Đảng bộ Thanh Hoá đợc thành lập đã sớm dẫn dắt nhân dântrong tỉnh góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của cả dân tộc trong cáchmạng DTDCND, cũng nh trong cách mạng XHCN

Trong khói lửa của chiến tranh phá hoại do Mỹ gây ra, quân dân ThanhHoá bất chấp bom đạn ác liệt của địch cùng với nhân dân cả nớc chiến đấuquyết liệt, giành thắng lợi lớn ngay từ những trận chiến đầu tiên: Ngày 5/8/1964

ở Lạch Trờng ta đã bắn rơi 3 máy bay Mỹ; ngày 3 – 4/ 4/ 1965 ta bắn rơi 47máy bay Mỹ bảo vệ vững chắc cầu Hàm Rồng, Đò Lèn Những chiến thắng bớc

Trang 3

đầu đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh chống Mỹ, bảo vệ tổ quốc của nhân dântỉnh Thanh.

Trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sai, quân dântỉnh Thanh đã kiên cờng đấu tranh giữ vững các vùng trọng điểm, đẩy mạnh sảnxuất, làm tròn nghĩa vụ hậu phơng với tiền tuyến và tích cực bảo vệ công cuộcxây dựng CNXH ở miền Bắc Ngoài ra, Thanh Hoá còn tích cực làm tròn nghĩa

vụ quốc tế, giúp đỡ cách mạng Lào

Ôn lại một thời kỳ lịch sử hào hùng của quê hơng, giúp thế hệ hôm nay

và mai sau hiểu về cha ông mình trên quê hơng Thanh Hoá là điều tôi mong

muốn Chính điều đó đã khiến tôi chọn: “Thanh Hoá trong hai lần chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1964-1973)“ làm đề tài luận văn tốt

nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Cho đến nay, xét trên phạm vi toàn quốc đề tài viết về cuộc kháng chiếnchống Mỹ của dân tộc ta đã đợc khá nhiều nhà sử học nghiên cứu với nhiềucông trình khoa học đã đợc công bố nh: Cuốn “Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc vĩ đại ” 5 tập của NXB Sự thật, 1974-1978; “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc: Thắng lợi và bài học” của BCĐTKCT - Trực

thuộc Bộ chính trị, NXB CTQG, 1995 … đã tái hiện lại một cách khái quát, hệthống về các sự kiện trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nớc của dântộc, trong đó có đề cập tới thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của miền BắcXHCN

Ngoài ra, còn có các cuốn nh: “Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ” 2 tập, NXB QĐND -1968, cuốn “Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ” 2 tập của

NXB QĐND, 1982.v.v đã trình bày một cách khái quát cuộc chiến tranh phá hoại

do Mỹ gây ra đối với miền Bắc từ nguyên nhân, diễn biến đến kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm.

Trang 4

Tính đến nay cũng đã có một số công trình khoa học viết riêng về lịch sửThanh Hoá trong thời kỳ chống Mỹ: “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá” doTỉnh uỷ Thanh Hoá và BNCLS biên soạn, trong tập hai (1954-1975) có kháiquát một số mặt hoạt động của quân dân Thanh Hoá trong thời kỳ chống chiếntranh phá hoại của đế quốc Mỹ

Kỷ niệm ngày thành lập LLVT Thanh Hoá BCHQS tỉnh đã xuất bản cuốn

55 năm LLVT Thanh Hoá,1947-2001” ấn hành 2002, trong đó có ghi lại

những chiến công của các đơn vị vũ trang Thanh Hoá trong thời kỳ Mỹ leothang bắn phá miền Bắc

Cuốn “Thanh Hoá - lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu n ớc từ 1954-1975”

do BCHQS Thanh Hoá ấn hành 1994 đã hệ thống khái quát những hoạt động chủyếu của quân và dân Thanh Hoá chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, côngtrình không đi sâu nghiên cứu vào từng vấn đề cụ thể

Cho đến hiện nay có thể nói cha có công trình nào nghiên cứu cụ thể vềThanh Hoá trong hai lần chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1964 -

1968 và 1972 - 1973) Cha có tác phẩm nào đi sâu vào từng vấn đề cụ thể nh:Tại sao Thanh Hoá trở thành trọng điểm đánh phá của Mỹ, vị trí chiến lợc và

đóng góp to lớn về ngời và của của quân dân Thanh Hoá trong cuộc chiến tranhnhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ.v.v…

Trong quá trình nghiên cứu làm luận văn, những công trình công bố trênchính là nguồn t liệu phong phú giúp chúng tôi có cơ sở kiến thức chung đểxem xét, nghiên cứu và chắt lọc hoàn thành đề tài của mình

3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.

3 1 Đối tợng.

Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là quân và dân Thanh Hoá vừa chiến

đấu, sản xuất, vừa thực hiện nghĩa vụ hậu phơng trong hai lần chống chiến tranhphá hoại do Mỹ gây ra từ 1964 đến 1973

Trang 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài đợc xác định về mặt thời gian qua hai lầnchống chiến tranh phá hoại do Mỹ gây ra: lần 1 từ 5/ 8/ 1964 đến 1/ 11/ 1968;lần 2 từ 13/ 4/ 1972 đến 15/ 1/ 1973

Xét về mặt không gian đề tài này đợc giới hạn ở tỉnh Thanh Hoá

Trọng tâm nghiên cứu của luận văn này là làm sáng rõ quá trình quân vàdân Thanh Hoá chiến đấu xây dựng quê hơng, thực hiện nghĩa vụ chi viện chotiền tuyến và giúp đỡ cách mạng Lào trong thời kỳ chiến tranh phá hoại do Mỹgây ra Để làm sáng rõ nội dung trên, luận văn còn đề cập phần nào tới thời kỳThanh Hoá tăng cờng phòng thủ quê hơng 1954 – 1964 và khắc phục hậu quảgiữa hai lần chiến tranh phá hoại của Mỹ 1969 – 1971

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.

4.1 Nguồn t liệu.

Trong quá trình làm luận văn chúng tôi đã sử dụng các nguồn t liệu sau: Các tác phẩm kinh điển của Mác – Lênin, các tác phẩm của Hồ ChíMinh, của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nớc ta nh Võ Nguyên Giáp, PhạmVăn Đồng, Trờng Chinh,… bàn về chiến tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng,vấn đề hậu phơng với tiền tuyến, vấn đề quân sự trong cách mạng Việt Nam.Các văn kiện Đảng của Đảng cộng sản Việt Nam bàn về đờng lối đấu tranhchống Mỹ cứu nớc của cách mạng Việt Nam nói chung, Thanh Hoá nói riêngtrong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại 1964 – 1973

Các tài liệu lu trữ ở Trung tâm lu trữ UBND Tỉnh, Lu trữ văn phòng Tỉnh uỷ,BCHQS Tỉnh, Th viện KHTH Thanh Hoá, Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sửThanh Hoá, Bảo tàng tổng hợp Thanh Hoá v.v Đây là nguồn t liệu gốc có giá trịtrong nghiên cứu khoa học, bao gồm các báo cáo, chỉ thị, thông báo, nghị quyết vềtình hình chiến đấu và sản xuất của nhân dân Thanh Hoá trong thời kỳ chống chiếntranh phá hoại của đế quốc Mỹ Ngoài ra, còn tham khảo nhiều tác phẩm sách, báonghiên cứu viết về lịch sử địa phơng ở giai đoạn này

Trang 6

Trong quá trình làm luận văn chúng tôi còn thực hiện các cuộc gặp gỡnhân chứng lịch sử, để trao đổi tham khảo ý kiến Bên cạnh đó, chúng tôi còntiến hành khảo sát thực địa, đến những nơi đã xảy ra những trận chiến đấu ácliệt nh Hàm Rồng, Nam Ngạn, Đò Lèn, Ghép …

4.2 Phơng pháp nghiên cứu.

Thực hiện đề tài này, phơng pháp đợc chúng tôi sử dụng chủ yếu là

ph-ơng pháp lịch sử và phph-ơng pháp logic Bên cạnh đó, còn sử dụng kết hợp vớimột số phơng pháp khác nh: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu…nhằm đảm bảo tính khoa học, để đánh giá chính xác và đầy đủ những vấn đềcần làm sáng tỏ

5 Đóng góp của luận văn.

Luận văn tái hiện lại một cách khách quan thời kỳ lịch sử hào hùng củanhân dân Thanh Hoá, thống kê số liệu cụ thể, những đóng góp to lớn của toàn dânThanh Hoá trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ1964-1973

Luận văn còn góp phần làm phong phú thêm về lịch sử địa phơng ThanhHoá, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay

6 Cấu trúc của luận văn.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dungchính của luận văn đợc trình bày trong 3 chơng:

Chơng 1: Thanh Hoá - Vị trí chiến lợc và truyền thống cách mạng.

Chơng 2: Thanh Hoá trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ

(5/ 8/1964 – 1/ 11/ 1968)

Chơng 3: Thanh Hoá trong chiến tranh phá hoại lần hai của đế quốc Mỹ

(13/ 4/ 1972 – 15/ 1/1973)

Trang 7

Trần: đời Trần Thái Tông, niên hiệu Thiên ứng chính bình thứ 11 (1243) đổithành bộ Thanh Hoá Đến năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông

đổi thành trấn Thanh Đô Dới triều đại nhà Hồ, năm 1403 Hồ Hán Thơng, đổi làphủ Thiên Xơng Đời Lê, năm Thuận Thiên thứ 1 (1428) cả nớc chia thành 5

đạo, Thanh Hoá thuộc đạo Hải Tây, năm Quang Thuận thứ 7 (1466) đặt là Thừatuyên Thanh Hoa (có 6 phủ, 22 huyện, 4 châu ), năm Hồng Đức thứ 21 (1490)

đổi thành Thanh Hoa xứ (gồm 4 phủ, 16 huyện, 4 châu) [36, tr.13] ThờiNguyễn: đời Gia Long thứ 1 (1802) gọi là trấn Thanh Hoa, năm Minh Mạng thứ

12 (1831) đợc đặt là tỉnh Thanh Hoá Đến năm 1843, Thiệu Trị thứ 3 lại đổithành tỉnh Thanh Hóa Tên gọi tỉnh Thanh Hoá bắt đầu có từ đây Trong suốthàng ngàn năm lịch sử, trải qua nhiều triều đại với nhiều tên gọi khác nhau nh-

ng Thanh Hoá không hề thay đổi cơng vực và lãnh địa, mà luôn là một đơn vị

Trang 8

hành chính hoàn chỉnh, đợc cố định ngay từ thời kỳ mới hình thành xã hội ViệtNam.

Thanh Hoá là tỉnh lớn, mang tính chất trung gian nối đồng bằng Bắc Bộrộng lớn với dải đất miền Trung dài và hẹp Vị trí của Thanh Hoá đợc xác địnhtrên địa cầu nằm ở toạ độ 19023’ đến 20030’ vĩ độ Bắc, 104023’ đến 106030’kinh độ Đông Phía Bắc: Thanh Hoá giáp với ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình và NinhBình (đờng ranh giới dài 175km); phía Nam và phía Tây nằm liền kề Nghệ An(đờng ranh giới dài hơn 160km); phía Tây nối liền sông núi với tỉnh Hủa Phăncủa nớc CHDCND Lào (đờng biên giới dài tới 192 km); phía Đông mở ra phầngiữa của Vịnh Bắc bộ thuộc Biển Đông

Thanh Hoá có dạng hình tứ giác nh một “ô ngăn kéo” mở ra biển Đôngvới các dãy núi đá vôi Hoà Bình - Tam Điệp ở phía Bắc, đầu Bắc dãy Trờng Sơn

ở phía Tây và vùng núi đồi Quỳ Hợp - Hoàng Mai ở phía Nam, tạo nên thếmạnh về chính trị - kinh tế và quốc phòng Thanh Hoá có đờng biên giới dàitiếp giáp với nhiều tỉnh trong nớc ngoài nớc và có nhiều tuyến đờng giao thôngquan trọng chạy qua nên có điều kiện mở rộng quan hệ giao lu với các tỉnhtrong nớc và quốc tế Nằm án ngữ ở vị trí thuận lợi tạo cho Thanh Hoá có một vịthế chiến lợc quan trọng, góp phần xứng đáng vào truyền thống lịch sử đấutranh giải phóng dân tộc Việt Nam

Phan Huy Chú đã từng nhận xét “ Thanh Hoá mạch núi cao vót, sông lớn lợn quanh, biển ở phía Đông Núi sông rất đẹp, là một chỗ đất có cảnh

đẹp ở nơi xung yếu Các triều đại trớc vẫn gọi là trấn quan trọng” [55, tr.42].

Thanh Hoá có tổng diện tích vùng đất nổi rộng 11.168km2 và một thềmlục địa rộng 18.000km2 Riêng về phần đất nổi, Thanh Hoá là tỉnh rộng thứ 8trong cả nớc (đứng sau các tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Nghệ An, Quảng Nam, KonTum, Gia Lai, Đắc Lắc) Hiện nay, tổ chức hành chính của tỉnh bao gồm 27huyện thị, thành phố, trong đó có Thành phố Thanh Hoá và 2 thị xã: Sầm Sơn và

Trang 9

Bỉm Sơn Thành phố Thanh Hoá là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của cảtỉnh.

Địa hình Thanh Hoá khá hoàn chỉnh, có đủ các vùng trung du, miền núi,

đồng bằng, ven biển và thềm lục địa “Đồng bằng tỉnh Thanh rộng 2.900 km 2 là

đồng bằng rộng nhất của các tỉnh miền Trung” [97, tr 29] Trung du và miền núi

chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh, có nhiều lâm sản, khoáng sản và chim thú quý hiếm

Ba mặt Bắc - Tây - Nam là núi rừng trùng điệp hiểm yếu tạo thành thế “tay ngai”

89 chi nhánh sông suối khác có chiều dài hơn 10 km Trong đó sông Chu lànhánh sông lớn nhất trong hệ thống sông Mã, dài 145 km từ Sầm Na nhập vàosông Mã ở ngã ba Giàng (có nhánh chính là sông Khao, sông Đằng và sông

Âm)

Hệ thống sông ngòi của tỉnh Thanh không những liên tục đợc phù sa bồi

đắp tạo thành vùng châu thổ rộng lớn mà còn là nguồn nớc quý cung cấp chocây trồng, phục vụ sản xuất công - nông nghiệp và đời sống nhân dân Do đặcdiểm địa hình nhiều đồi núi, lắm thác ghềnh, lòng sông có nhiều vách đá dựng

đứng nên có nhiều tiềm năng thuỷ điện lớn, nhỏ

Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ dân tộc, sông ngòi có vai trò rất quantrọng trong việc vận chuyển lơng thực, vũ khí, thuốc men và chở ngời tham gia

Trang 10

chiến đấu tới các chién trờng trong nớc và các chiến trờng trên bán đảo ĐôngDơng.

Mạng lới giao thông trong tỉnh phát triển khá hoàn chỉnh Thanh Hoánằm án ngữ trên nhiều tuyến đờng giao thông quan trọng nối liền mạch máugiao thông Bắc - Nam Bên cạnh đó, còn có cả đờng hàng không, đờng thủyphát triển nên dễ dàng lu thông với các nớc khác Đờng bờ biển dài 102 km vàmột vùng thềm lục địa rộng lớn đợc đánh giá là một kho tài nguyên vô giá vềkhoáng sản và hải sản Ngoài tiềm năng về kinh tế, vùng biển và thềm lục địacòn đợc đánh giá là có vị trí chiến lợc, có nhiều điểm xung yếu về quốc phòng,tạo thành nhiều mục tiêu quân sự và các điểm cao quan trọng Nhất là các khuvực cửa lạch dọc bờ biển tạo thành thế án ngữ che chắn vững chắc cho đồngbằng nh: Lạch Sung (Nga Sơn - Hậu Lộc), Lạch Trờng (Hậu Lộc - Hoằng Hoá),Lạch Trào (Cửa Hới - Sầm Sơn), Lạch Ghép, Lạch Bạng (Tĩnh Gia) và vùngbiển Sầm Sơn, Nghi Sơn, phía ngoài biển có Hòn Nẹ, đảo Mê Trong nội địa córừng Thông, Sao Vàng, núi Na…rất thuận lợi cho quan sát và đánh địch từ xa

Đúng nh các nhà quân sự nhận định về vị thế địa hình Thanh Hoá “tiến có thế

đánh, lùi có thế giữ ” [36, tr.17].

Tỉnh Thanh Hoá từ rất sớm đã đợc xem là nơi tập trung các đầu mối giaothông thuỷ bộ quan trọng của cả nớc, nên việc đi lại và phát triển kinh tế củanhân dân rất thuận lợi Dọc suốt chiều dài toàn tỉnh là Quốc lộ 1A và đờng sắtBắc - Nam chạy qua, trong đó có các điểm mút giao thông quan trọng nh: CầuLèn, cầu Hàm Rồng, bến phà Ghép, đờng 15A từ phía Tây, Tây Bắc - Bắc Bộxuyên qua vùng trung du và miền núi phía Bắc Thanh Hoá kéo dài về phía Namsang đất Nam Đàn (Nghệ An) Đờng 217 là trục đờng quan trọng từ Thanh Hoá

đi Na Mèo đến tỉnh Hủa Phăn (CHDCND Lào) Ngoài ra còn có nhiều hệ thống

đờng nhánh toả đi khắp tỉnh nối liền với các tỉnh khác trong và ngoài nớc.v.v

Do đó, trong các cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc, Thanh Hoá luôn là mục tiêu

bị đánh phá ác liệt

Trang 11

Nằm ở vĩ tuyến 200Bắc, Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới giómùa điển hình của khu vực Đông Nam á Do nằm ở vị trí nh vậy, khí hậuThanh Hóa vừa có nét đặc thù riêng vừa có nét đặc trng của hai vùng khí hậu:miền Bắc và miền Trung Mùa đông lạnh, ít ma, có sơng giá, sơng muối; mùa

hè nắng lắm ma nhiều có gió Tây khô nóng với hai mùa gió thịnh hành là gióBắc và gió Đông Bắc vào mùa đông: gió Tây và Tây Nam vào mùa hè Nh vậy,khí hậu Thanh hoá có tính chất trung gian chuyển tiếp của khí hậu Bắc Bộ vàTrung bộ

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhận xét về Thanh Hoá “tỉnh ta là một tỉnh lớn nhất miền Bắc, đất rộng, ngời đông, nhân dân có truyền thống anh dũng đấu tranh và cần cù lao động Thanh Hóa có miền núi, trung du, đồng bằng và miền biển Nh vậy, các vùng có điều kiện giúp đỡ lẫn nhau phát triển kinh tế về mọi mặt làm cho tỉnh ta thêm giàu, đời sống nhân dân mau đợc cải thiện” [2, tr.60].

Đợc thiên nhiên u đãi Thanh Hoá xứng đáng là miền đất “biển bạc rừng vàng”, các vùng trong tỉnh đều có thế mạnh riêng, có điều kiện giúp đỡ lẫn

nhau phát triển nền kinh tế toàn diện Hơn nữa, đây từng là vùng đất “phên dậu”bảo vệ đất nớc, có nhiều điểm xung yếu về quốc phòng an ninh nên trong cáccuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Thanh Hoá luôn đợc đánh giá là địa bàn có vịthế chiến lợc quan trọng

1.1.2 C dân - văn hoá.

1.1.2.1 C dân.

Thanh Hoá đợc xem là một trong những chiếc nôi hình thành dân tộcViệt Nam, có truyền thống phát triển lâu dài và liên tục theo tiến trình phát triểncủa lịch sử dân tộc Ngời tiền sử đã có mặt trên mảnh đất xứ Thanh từ rất sớm

Đó là nền văn hoá Núi Đọ (Sơ kỳ thời đại đá cũ) thuộc địa phận hai xã ThiệuTân và Thiệu Khánh (huyện Thiệu Hoá ngày nay), đợc xác định là dấu vết xanhất của ngời nguyên thủy trên đất nớc Việt Nam Văn hoá Sơn Vi (Hậu kỳ thời

đại đá cũ) đợc tìm thấy ở Cẩm Thuỷ, Bá Thớc.v.v Văn hoá Hòa Bình (Thời đại

Trang 12

đá mới) cách ngày nay hơn 11.000 năm Ngoài ra còn tìm thấy nhiều dấu vếtcủa nền văn hoá Bắc Sơn (Cẩm Thuỷ, Bá Thớc), văn hoá Đa Bút (Vĩnh Lộc).

Văn hoá Hoa Lộc là dấu tích của nền văn hoá từ đá chuyển sang đồng

đ-ợc tìm thấy ở Hậu Lộc Đỉnh cao là văn hoá Đông Sơn phát triển rực rỡ ở thời

đại đồng thau Lần đầu tiên ở Việt Nam, có một nền văn hoá bao trùm một địabàn cỡ quốc gia từ Hoàng Liên Sơn đến miền Nam Việt Nam Những di chỉ

Đông Sơn đợc đánh giá là quan trọng nhất trong khảo cổ học Việt Nam, nổitiếng trên thế giới và đợc đặt tên cho là văn hoá Đông Sơn - Thời kỳ đồng thau

Đồng nghĩa với văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hóa là nói tới quá trình hình thành

và phát triển của bộ Cửu Chân trong nớc Văn Lang - thời các Vua Hùng Cho

đến 7/ 1986, Thanh Hoá đã phát hiện đợc 85 di tích đồ đồng Đông Sơn

Nh vậy, tính liên tục trong quá trình c trú và khai thác lãnh thổ của nhữngngời thiên c, nhập c hoà cùng ngời dân bản địa đã tạo nên sự đa sắc tộc củavùng đất xứ Thanh với nhiều nền văn hoá đa dạng

Theo số liệu thống kê vào thời điểm 1/ 4/ 1989 số dân của Thanh Hoá

là 2.991.317 ngời (không kể số dân của các ngành đang điều tra) tính đến 1/4/1999 số dân tăng lên là 3.467.609 ngời” [97, tr.479] Thanh Hoá là tỉnh có

số dân đông thứ hai trong cả nớc (sau số dân của Thành phố Hồ Chí Minh).Năm 1994 mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 303 ngời/km2 Đến năm 1999bình quân khoảng 310 ngời/km2, năm 2000 tăng lên 320 ngời /km2 “Huyện có

số dân lớn nhất là Quảng Xơng 264.889 ngời, Mờng Lát có số dân ít nhất là 28.242 ngời” [97, tr.479].

Thanh Hoá là tỉnh đông dân nhng sự phân bố dân c giữa các vùng không

đồng đều Tính riêng đồng bằng ven biển chiếm 1/ 4 diện tích tự nhiên nhng có tới76,69% dân số toàn tỉnh, trung bình là 870 ngời/km2 Không kể các đô thị thìhuyện có mật độ dân số cao nhất là Hậu Lộc 1.205 ngời/km2 và thấp nhất là huyệnTĩnh Gia 517 ngời/km2, chênh lệch 2,33 lần Trong số 11 huyện miền núi thì

Trang 13

Thạch Thành có mật độ dân số cao nhất: 238 ngời/km2 Thấp nhất là huyện ờng Lát 33 ngời/ km2, chênh lệch ≈7,3 lần (1999) [97, tr.493].

M-Theo số liệu thống kê 1994 Thành phố Thanh Hoá có mật độ dân số caonhất 3.936.3 ngời/km2, đạt mức cao nhất là 467%, năm 1974 Tỷ trọng ngời giàtrong tỉnh luôn chiếm tỷ lệ thấp Nh vậy, dân số Thanh Hoá thuộc loại trẻ, điềunày cho thấy trớc năm 1975 tỷ lệ tăng dân số ở Thanh Hóa khá nhanh

Năm 1954 1.412.000 ngời Năm 1975 2.205.955 ngờiNăm 1960 1.592.000 ngời Năm 1985 2.723.048 ngờiNăm 1965 1.845.500 ngời Năm 1995 3.336.510 ngờiNăm 1970 1.987.652 ngời Năm1999 3.519.841 ngời [97, tr.478]

Trải qua quá trình phát triển của lịch sử với nhiều biến cố của thiên nhiên

- xã hội, tỉnh Thanh Hoá vẫn luôn là một đơn vị hành chính ổn định Truyềnthống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống trong sản xuất đã gắn bó keosơn đồng bào các dân tộc cùng chung sống trên vùng đất này Truyền thống đógóp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh bảo vệ quê hơng, Tổ quốc ThanhHoá là tỉnh đa sắc tộc nhng ngời Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất toàn tỉnh 85% dân

số Trong các dân tộc thiểu số thì ngời Mờng là dân số đông nhất, năm 1999 có322.879 ngời sống tập trung ở Ngọc Lặc, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Bá Thớc

Đông thứ hai là ngời Thái có 209.806 ngời (1/ 4/ 1999) bao gồm cả ngời “Thái Trắng và Thái Đen” sống chủ yếu sống tập trung ở Thờng Xuân, Quan Hoá, Bá

Thớc, Lang Chánh Ngời H’ Mông năm 1999 có 13.863 ngời, địa bàn c trú của

họ tập trung ở vùng cao, rừng nguyên sinh, đầu nguồn sông nớc

Bên cạnh đó còn có các dân tộc Dao, Khơ Mú, dân tộc Tày (Thổ) đangsống du canh du c trên địa bàn miền núi Thanh Hoá Mỗi dân tộc sinh sống trênmảnh đất Thanh Hoá đều mang một sắc thái riêng tạo nên sự phong phú đadạng của tỉnh

Đặc biệt, cùng với quá trình cộng c giữa ngời bản địa với ngời thiên c đãtạo nên một tinh thần, một sức mạnh chung lng đấu cật xây dựng Thanh Hoá

Trang 14

trở thành một tỉnh có vị thế chiến lợc trọng yếu trong sự nghiệp đấu tranh dựngnớc và giữ nớc của dân tộc Việt Nam.

1.1.2.2 Văn hoá.

Thanh Hoá nằm giữa miền Trung và miền Bắc, có đủ ba vùng tự nhiên,

có lịch sử phát triển lâu dài và liên tục lại có nhiều đồng bào các dân tộc cùngchung sống Con ngời xứ Thanh sớm đã tạo dựng nên một nền văn hoá cótruyền thống lâu đời, vừa phong phú đa dạng giàu tính chất dân tộc vừa có nét

độc đáo riêng

Trong quá trình đấu tranh bảo vệ, xây dựng quê hơng đất nớc nhân dân

xứ Thanh đã sáng tạo đợc một kho tàng văn học nghệ thuật dân gian khá phongphú về thể loại Đặc sắc và đáng chú ý là những huyền thoại, truyền thuyết về:

Mai An Tiêm và sự tích quả da hấu”, “Từ Thức gặp tiên” (Nga Sơn); cổ tích

Vọng Phu” ở An Thạch Sơn (Đông Sơn); truyền thuyết Thần Độc Cớc” (Sầm

Sơn) Dân tộc Mờng chính là quê hơng của bộ sử thi “Đẻ đất, đẻ n ớc”.v.v

Di sản văn hoá, văn minh đặc sắc nhất của Thanh Hoá là sự phát triểnrực rỡ của nền văn minh đồng thau Đông Sơn Sản phẩm đồng thau Đông Sơn

có mặt ở mọi miền đất nớc và khu vực Đông Nam á Trống đồng Đông Sơn đợcxem là biểu tợng cho nền văn hoá Đông Sơn, đồng thời là đại diện cho nền vănminh số một của dân tộc Việt Nam

Xứ Thanh còn là vùng dân ca, ca nhạc cổ truyền nổi tiếng trong nớc nh:Tuồng Phú Khê, Chèo Ma ở các huyện miền núi: Ngọc Lặc, Lang Chánh, CẩmThuỷ; chèo Chải của miền xuôi ở Thọ Xuân, Thiệu Yên và Đông Sơn; dân ca

Đông Anh, các thể loại ca dao, hò, vè.v.v cũng khá phát triển

Từ lâu đời, Thanh Hoá đã là vùng đất văn vật “địa linh” nổi tiếng vớinhững câu ca: “ Thí Hoằng Hoá khoá Đông Sơn” và Cơm Nông Cống, cá

Quảng Xơng, văn chơng Hoằng Hoá ” Ngay từ đầu của kỷ nguyên độc lập

d-ới các triều Lý, Trần, Hồ, Lê, Thanh Hoá đã sản sinh ra nhiều “nhân kiệt” cho

đất nớc, làm rạng rỡ quê hơng Trải qua 188 kỳ thi đại khoa (1009 - 1919),

Trang 15

Thanh Hoá có 6 trạng nguyên, 6 thám hoa, 204 tiến sĩ và hàng ngàn tú tài Đếnnay, tên tuổi của các bậc trí thức danh sĩ Nho học vẫn còn tồn tại cùng vớinhững tác phẩm có giá trị lịch sử và văn hoá Mở đầu lịch sử văn học Việt làKhơng Công Phụ (Yên Định) với bài phú “Bạch vân chiếu xuân hải”, Lê Văn

Hu nhà sử học đầu tiên của Việt Nam viết bộ quốc sử “ Đại Việt sử ký”, Lê Lợi

vị lãnh tụ của khởi nghĩa Lam Sơn để lại tác phẩm “Lam Sơn thực lục”, Đào

Duy Từ có bộ “Hổ trớng khu cơ” (lý luận quân sự) Cho đến nay, Thanh Hoá

vẫn nổi tiếng trong cả nớc là “vùng đất học”.

Thanh Hoá nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh nh: Biển Sầm Sơn,

động Hồ Công, động Bách Đào, hang Từ Thức, động Kim Sơn, núi Ngọc HàmRồng, rừng Bến En Bên cạnh đó, tỉnh Thanh còn nổi tiếng với nhiều công trìnhkiến trúc lịch sử có giá trị nh: Đền Bà Triệu, thành đá Tây đô (hay còn gọiThành nhà Hồ ở Vĩnh Lộc), cụm di tích lịch sử Lam Kinh (Thọ Xuân) và nhiềucông trình kiến trúc đền chùa độc đáo

Trong sinh hoạt văn hoá tinh thần: hầu hết các dân tộc trong tỉnh đều theotín ngỡng cổ truyền thờ cúng tổ tiên và tín ngỡng thờ thành hoàng làng Ngoài

đạo Phật, đạo Nho, đạo Lão đợc du nhập từ rất sớm, đến thế kỷ XVII đạo Thiênchúa đợc truyền bá vào Thanh Hoá tạo nên sự đa dạng về loại hình tín ngỡng

Đặc biệt là đã tạo dựng một quần thể kiến trúc với nhiều loại hình kiến trúckhác nhau vừa mang đậm nét á Đông với các đền chùa, tợng phật, vừa phổ biếnkiểu kiến trúc phơng Tây với các nhà thờ Tất cả góp phần tạo nên những bônghoa đẹp trong vờn hoa nghệ thuật kiến trúc của Thanh Hoá nói riêng và cả nớcnói chung

Nhận xét về Thanh Hoá, Phan Huy Chú đã viết: “Thanh Hoá mạch núi cao vót, sông lớn lợn quanh Biển ở phía Đông, ai lao sát phía Tây, Bắc giáp trấn Sơn Nam, Nam giáp đạo Nghệ An Núi sông rất đẹp là một chỗ đất có cảnh đẹp ở nơi xung yếu Các triều trớc vẫn gọi là một trấn rất quan trọng

Trang 16

Vẻ non sông tốt tơi chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vơng tớng, khí tinh hoa tụ họp lại nảy ra nhiều văn nho Bởi vì đất thiêng thì ngời giỏi nên nảy ra những bậc phi thờng, vợng khí chung đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nớc”

[55, tr.42]

1.2 Truyền thống yêu nớc và cách mạng.

Trong hành trình dựng nớc và giữ nớc, lich sử dân tộc đã ghi nhận sự

đóng góp to lớn của xứ Thanh vừa là hậu cứ vừa là thế dựa vững chắc của đất

n-ớc Xứ Thanh đã từng gánh biết bao trọng trách nặng nề qua mỗi cơn thử tháchgian lao của lịch sử Chính vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam một học giảngời Pháp là LeBreton nhận xét về Thanh Hoá: Đây chính là sân khấu củanhững bản anh hùng ca vĩ đại của nớc Việt Nam

Trải qua hàng ngàn năm chống chọi với thiên nhiên với áp bức của bọn ờng quyền trong nớc và đấu tranh chống ngoại xâm đã rèn luyện ngời dânThanh Hoá ý chí gan góc, tinh thần bền bỉ, chí khí kiên cờng quyết tâm bảo vệ

c-Tổ quốc

Trong suốt thời kỳ chống Bắc thuộc nhân dân Cửu Chân (tên gọi đầu tiêncủa Thanh Hoá thời Âu Lạc) đã tỏ rõ vai trò và vị trí quan trọng của mình trongcuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Hán

Năm 40 – 41, có cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trng, tham gia nghĩa quân

có Hải Diệu, Đào Kỳ, Chu Bá và nữ tớng Lê Thị Hoa đã lập nhiều chiến côngtrên quê hơng Thanh Hoá Tại núi Trịnh (Thiệu Hoá) đã diễn ra trận huyết chiếngiữa nghĩa quân Hai Bà với quân Mã Viện

Năm 156, Chu Đạt ngời huyện C Phong (Thọ Phú - Triệu Sơn) đã chiêu mộ

5000 nghĩa quân đánh chiếm huyện sở C Phong (nay thuộc Nông Cống, Tĩnh Gia,Quảng Xơng, Nh Xuân, Nh Thanh), tấn công T Phố giết chết thái thú Nghê Thức(Đông Hán) rồi cai quản Cửu Chân trong 4 năm (156 - 160)

Năm 248, Triệu Trinh Nơng ngời con gái vùng núi Quan Yên (Yên Định)

đã dựng cờ triệu tập nghĩa binh, đến núi Ngàn Na lập căn cứ lãnh đạo nhân dân

Trang 17

chống lại nhà Đông Ngô làm “toàn Châu Giao náo động” [35, tr.13] Chí khícủa ngời con gái họ Triệu: “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ

đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn” [36, tr.18], đã thể hiện rõ quyết tâmgiành độc lập dân tộc, sống mãi với non sông Việt Nam Cho đến nay, dáng vẻlẫm liệt của “Bà chúa thợng ngàn” đã đi vào tâm thức của mỗi ngời dân xứThanh:

Thiệu thợng tinh anh, vạn nhẫn thanh sơn hiển thánh Nữ trung hào kiệt thiên thu bạch tợng truyền thần”

Dịch nghĩa: Tinh anh ở trên đời, vạn bậc non cao hiển thánh Hào kiệt trong nữ giới, nghìn thu voi trắng truyền thần [77, tr 185]

Mùa xuân 542 nổ ra cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo, thành ThăngLong thủ phủ của quân xâm lợc nhanh chóng bị nghĩa quân chiếm giữ Nhà nớcVạn Xuân ra đời (542 - 602), ái Châu - Thanh Hoá lúc bấy giờ, đợc giải phóng.Góp phần vào thắng lợi chung đó của dân tộc, nhiều chiến binh xứ Thanh đã cómặt trong hàng ngũ nghĩa quân Theo “Thần tích làng phù Lu thợng (ứng Hoà

- Hà Tây) cho biết: 3 vị thần đợc thờ trong đình làng có một ngời tên là Điền Ngọc Lộ (ngời Châu Lam Sơn - ái Châu) đã tham gia khởi nghĩa Lý Bí từ buổi đầu ông đã có công giết chết 2 viên tớng nhà Lơng ” [97, tr.579].

Trong cuộc khởi nghĩa chống quân Nam Hán (930 - 931), tớng quân

D-ơng Đình Nghệ (Thiệu Hoá), đã chiêu mộ hơn 3.000 nghĩa sĩ luyện tập võ nghệtiêu diệt quân xâm lợc Nam Hán Tên tuổi Dơng Đình Nghệ - ngời con u tú của

xứ Thanh đã gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc Năm 938, dới sự thốnglĩnh của Ngô Quyền, nhân dân ta đã cản phá đợc quân Nam Hán trên sông Bạch

Đằng giành chiến thắng vang dội, chấm dứt hơn một ngàn năm đô hộ của bọnphong kiến phơng Bắc, giành độc lập hoàn toàn cho dân tộc

Cuối thế kỷ X, Lê Hoàn (Xuân Lập - Thọ Xuân) cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹploạn 12 sứ quân Năm 981, thập đạo tớng quân Lê Hoàn chỉ huy quân đội cùng

Trang 18

nhân dân đập tan quân xâm lợc Tống và quân Chiêm Thành Năm 982 cuộckháng chiến chống quân xâm lợc thắng lợi, nền độc lập dân tộc đợc giữ vững,

Ông đợc nhân dân suy tôn lên làm Vua, từ đây lập nên triều Tiền Lê (981-1009), lấy tên nớc là Đại Cồ Việt

Ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên (1258 - 1285 - 1288) với hàokhí Đông A vang dội, nhân dân Thanh Hoá cùng với quân đội nhà Trần chặn

đánh quân Toa Đô từ phía Nam tiến lên Với vị thế hiểm yếu, các vua nhà Trần

đã chọn xứ Thanh làm căn cứ, hậu phơng trực tiếp trong cuộc kháng chiến Điều

đó đợc vua Trần Nhân Tông gửi gắm qua câu:

“Cối kê cựu sự quân tu ký Hoan ái do tồn thập vạn binh”

Dịch nghĩa: Chuyện cũ cối kê ngời hãy nhớ

Hoan ái nay còn mời vạn quân [35, tr.23].

Đầu thế kỷ XV lấy cớ “diệt Hồ, phù Trần” quân Minh kéo sang xâm lợc

nớc ta Từ rừng núi Lam Sơn (Thọ Xuân) anh hùng dân tộc Lê Lợi đã phất cờkhởi nghĩa, tập trung hào kiệt bốn phơng, để rồi sau 10 năm “nằm gai nếm mật” đã quét sạch quân Minh ra khởi bờ cõi “mở nền thái bình muôn thuở” cho

dân tộc Anh hùng dân tộc Lê Lợi, Nguyễn Trãi cùng nhiều tớng lĩnh của nghĩaquân Lam Sơn luôn sống mãi trong lịch sử Việt Nam

Vào thế kỷ XVII XVIII đất nớc rơi vào cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn chia cắt lãnh thổ thành hai miền Lấy cớ là “phù Lê” quân Thanh kéovào nớc ta Sau nhiều lần tiến quân ra Bắc (1786; 1788) đến lần thứ 3 (1789)Nguyễn Huệ đã chọn địa bàn Thanh Hoá triển khai lực lợng, thần tốc tiến công

-ra Bắc quét sạch 29 vạn quân Thanh -ra khỏi Thăng Long, bảo vệ lãnh thổ khôiphục nền độc lập dân tộc

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lợc nớc ta Trong ngọn cờ Cần Vơngchống Pháp, những con cháu của Bà Triệu, của anh hùng dân tộc Lê Lợi v.v lại đợc phất lên mạnh mẽ rộng khắp, đồng bào các dân tộc trong tỉnh hăng hái

Trang 19

tham gia khởi nghĩa Điển hình hơn cả là cuộc khởi nghĩa Ba Đình (1886 1887) do Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Đinh Công Tráng lãnh đạo Sau đó làkhởi nghĩa Mã Cao (Yên Định), khởi nghĩa Hùng Lĩnh v.v gắn liền với cáccuộc khởi nghĩa là tên tuổi của Tống Duy Tân, Cầm Bá Thớc, Hà Văn Mao.Với chiến công Ba Đình lịch sử, xứ Thanh đã trở thành bất tử, trong lòng nhândân cả nớc.

-Bớc sang đầu thế kỷ XX, các trào lu t tởng dân chủ t sản trên thế giới đã

có nhiều ảnh hởng to lớn vào Việt Nam Ngay buổi đầu thế kỷ trong nớc bắt

đầu xuất hiện các phong trào yêu nớc cách mạng, mang màu sắc mới nh cácphong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân v.v Tại Thanh Hoá cáctầng lớp sĩ phu ngay từ đầu đã nhiệt tình tham gia hởng ứng các phong trào,tiêu biểu là Lê Khiết, Nguyễn Xứng, Nguyễn Soạn, Nguyễn Lợi Thiệp, CửuXứng.v.v Các trào lu yêu nớc thời kỳ này đều đợc các nhân sĩ tiến bộ đứng ra

tổ chức nhiều hoạt động lôi cuốn đợc nhiều ngời tham gia Nhng tất cả cácphong trào cách mạng đều lần lợt bị thực dân Pháp và bọn tay sai dìm trongbiển máu và thất bại vì thiếu đờng lối lãnh đạo đúng đắn và giai cấp cách mạng

Thắng lợi của cách mạng tháng Mời Nga 1917 thành công nh một luồnggió mạnh thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng mới vào Việt Nam - cách mạng vôsản Nhiều thanh niên yêu nớc của đất Thanh đã sớm giác ngộ chủ nghĩa Mác -Lênin và đi theo con đờng cách mạng vô sản của ngời cộng sản Nguyễn áiQuốc lựa chọn Trong đó, Lê Hữu Lập đã trở thành ngời cộng sản đầu tiên củaThanh Hoá Phát huy truyền thống yêu nớc của vùng đất anh hùng, những “hạt giống đỏ” đầu tiên lần lợt đợc Lê Hữu Lập chọn lọc tổ chức đa sang dự lớp huấn

luyện cách mạng tại Quảng Châu (Trung Quốc) Những đốm lửa cách mạng đầutiên vừa đợc nhen nhóm thì việc thành lập “Hội Việt Nam cách mạng Thanhniên tỉnh Thanh Hoá” (4/ 1928) do đồng chí Lê Hữu Lập làm Bí th, chính lànhững tiền đề cơ bản cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong toàn tỉnh

Trang 20

và kêu gọi sự đồng lòng chung sức của nhân dân đứng lên đấu tranh vì sựnghiệp giải phóng dân tộc.

Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời dới sự lãnh đạocủa lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã đánh dấu bớc ngoặt vô cùng quan trọng tronglịch sử cách mạng Việt Nam, đa nớc ta bớc sang giai đoạn cách mạng mới -Cách mạng DTCND

Sau một thời gian chuẩn bị t tởng và tổ chức, ngày 29/ 7/ 1930 Đảng bộ

Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hoá đợc thành lập Từ khi Đảng bộ ThanhHoá ra đời đã từng bớc lãnh đạo nhân dân vợt qua mọi thách thức Nhân dânThanh Hoá đã kiên cờng tham gia các phong trào cách mạng, đó là: tích cựcủng hộ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931) công nhân nhà máy diêmHàm Rồng đã tổ chức rải truyền đơn và cờ đỏ búa liềm tung bay trên nóc nhà

ga Thanh Hoá Tiếp đó là cao trào đấu tranh vì dân sinh dân chủ (1936 - 1939);cuối năm 1943 đầu năm 1944 phong trào đấu tranh của công nhân, nông dânchống bắt phu, cớp đất, chống đánh đập đã diễn ra mạnh mẽ Đến lúc này

“phong trào đấu tranh đã có tính cách toàn dân vũ trang nghĩa là có tính cáchkhởi nghĩa” [11, tr.56] Đêm ngày 18 rạng ngày 19/8/1945, Uỷ ban khởi nghĩatỉnh ra quyết định phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền Nhân dân và tự

vệ trong toàn tỉnh vùng lên nh vũ bão Ngày 20/ 8 khởi nghĩa giành chính quyền

ở Thanh Hoá thắng lợi Ngày 23/8/1945, UBND cách mạng lâm thời tỉnh ThanhHoá đã ra mắt đồng bào, kết thúc buổi mít tinh quần chúng nhân dân hô vangkhẩu hiệu:

Trang 21

Quyết chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng Quyết chiến đấu bảo vệ nớc Việt Nam độc lập ” [5, tr.171].

Cách mạng tháng Tám thành công là kết quả tất yếu của cả một thời kỳdài đấu tranh bền bỉ, kiên cờng của nhân dân Thanh Hoá do Đảng bộ tổ chứclãnh đạo Đặc biệt là đã kế thừa và phát huy đợc truyền thống chống ngoại xâmcủa vùng đất anh hùng

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) dới sự lãnh

đạo của Đảng, Thanh - Nghệ - Tĩnh trở thành một địa bàn cách mạng kiên cờng.Trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Thanh Hoá luôn là hậu ph-

ơng chiến lợc của chiến trờng Bắc Bộ và chiến trờng “Bình - Trị - Thiên khói lửa” Trong cuộc kháng chiến trờng kỳ này xứ Thanh là một pháo đài bất khả

xâm phạm, một hậu phơng to lớn, góp phần quan trọng cho chiến thắng ĐiệnBiên Phủ chấn động địa cầu Thật xứng đáng với lời khen của Bác Hồ: “Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu tiếng Điện Biên Phủ đến đó Tiếng Điện Biên Phủ

đến đâu, đồng bào Thanh Hoá cũng có một phần vinh dự đến đó” [82, tr.162].

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc đợc hoàn toàngiải phóng Mỹ đã nhanh chóng thay chân Pháp xâm chiếm miền Nam, hòng biếnmiền Nam thành căn cứ quân sự và thành thuộc địa kiểu mới

Đáp ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoákhẩn trơng chuyển từ thời bình sang thời chiến, nêu cao quyết tâm chiến đấuchống Mỹ, cứu nớc Tỉnh Thanh tiếp tục đứng trớc, nhiệm vụ mới là: sản xuất,xây dựng và chiến đấu bảo vệ quê hơng, bảo vệ miền Bắc xây dựng CHXH

Đồng thời ra sức chi viện sức ngời sức của cho cách mạng miền Nam, làm trònnghĩa vụ quốc tế với cách mạng Lào, cách mạng CămPuChia: “Lúc này chống

Mỹ, cứu nớc là nhiệm vụ thiêng liêng của ngời Việt Nam yêu nớc Tất cả chúng ta hãy đoàn kết nhất trí triệu ngời nh một quyết tâm đánh thắng giặc

Mỹ xâm lợc” [82, tr.165].

Trang 22

Nằm ở vị trí chiến lợc trọng yếu nên trong suốt kháng chiến chống đế quốc

Mỹ (1954 - 1975), Thanh Hoá luôn là mục tiêu bị địch phá ác liệt và tàn bạo nhấtcủa Mỹ Dù bị đánh phá ác liệt nhng quân và dân tỉnh Thanh vẫn quyết tâm chiến

đấu bảo vệ sản xuất, đảm bảo giao thông thông suốt và huy động đến mức tối đanhân lực và vật lực để chi viện cho tiền tuyến

Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ bằng khôngquân và hải quân, quân dân Thanh Hoá đã trải qua 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1 (1964 - 1968): Huy động lực lợng cùng với nhân dân cả nớcchống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, vừa tíchcực sản xuất xây dựng quê hơng vừa làm tròn nghĩa vụ hậu phơng và quyết tâm

đánh thắng “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam

Giai đoạn 2 (1972 - 1973): Quân và dân Thanh Hoá tích cực tăng cờngtiềm lực đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ hai, động viên nỗ lực cao nhấtcùng cả nớc kiên quyết đánh thắng “Việt Nam hoá chiến tranh” ở miền Namcủa đế quốc Mỹ và làm tròn nghĩa vụ quốc tế với Lào, Cămpuchia

Với những nỗ lực phi thờng, những hy sinh lớn lao, nhân dân Thanh Hoáxứng đáng với vị trí hậu phơng lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc.Cho đến nay, Hàm Rồng - chiếc cầu sắt vắt qua sông Mã đã trở thành một thầntợng anh hùng “tợng trng cho tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam” Sáng

mãi cùng lịch sử Thanh Hoá anh hùng là Nam Ngạn, bến Ghép, đảo Mê, dânquân Hoằng Trờng Qua bao thời đại và trên mọi miền quê của Tổ quốc con ng-

ời xứ Thanh đều có mặt, góp phần xứng đáng vào trang sử vẻ vang của dân tộc

Trang 23

Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc của nhân dân ta với

đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ (7/ 1954) đã giành đợc thắng lợi vẻ vang,buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (20/ 7/ 1954) rút quân khỏi Việt Nam.Song nhiệm vụ giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam cha hoàn thànhtròn vẹn, đất nớc ta tạm thời chia cắt làm hai miền Nam - Bắc, lấy vĩ tuyến 17làm ranh giới quân sự

Cũng từ đây, cách mạng Việt Nam cùng lúc phải tiến hành hai nhiệm vụchiến lợc: miền Bắc chuyển sang thời kỳ cách mạng XHCN, miền Nam tiếp tụccuộc cách mạng DTDCND nhằm đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè

lũ tay sai, tiến lên thống nhất đất nớc

Tháng 9/1954, Hội nghị BCHTW Đảng khoá II quyết định nhiệm vụ là:

Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến

để củng cố hoà bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cờng xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, nhằm củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc” [7, tr.76].

Cùng với miền Bắc, nhiệm vụ đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân ThanhHoá trong thời kỳ mới, là nhanh chóng hoàn thành công cuộc cách mạngDTDCND, khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, xâydựng lại quê hơng và xây dựng nền quốc phòng an ninh trong giai đoạn mới

Trang 24

Tháng 7/ 1954 Thanh Hoá bị hạn hán kéo dài suốt vụ cày cấy, tiếp đómột đoạn đê sông Chu bị vỡ gây ra trận lụt lớn vào tháng 10 làm thiệt hại nặng

nề Nạn đói càng thêm nghiêm trọng, đến cuối năm 1955 cả tỉnh có tới 20 vạnngời đói và 3000 ngời chết [13] Với tinh thần phấn đấu cao độ của nhân dân vàphát huy truyền thống tự lực tự cờng, Đảng bộ Thanh Hoá nhanh chóng phát

động phòng trào sản xuất tự cứu đói “Chỉ trong một tháng (5/ 1955) phát động tơng trợ cứu đói, toàn tỉnh đã thu đợc 10.223 kg gạo, 114.568 kg thóc, 5.646

kg ngô, 22.299 kg khoai, 14.522.020 đồng tiền ngân hàng ” [12] Cộng với

5.000 tấn gạo của Nhà nớc trợ giúp, nạn đói nhanh chóng bị đẩy lùi, đời sốngcủa quần chúng nhân dân dần dần đợc ổn định

Hoà bình vừa lập lại, Đảng bộ đã sớm có những chủ trơng, biện pháp đúng

đắn, kịp thời hạn chế đợc những khó khăn trớc mắt, từng bớc khôi phục phát triểnkinh tế - văn hoá - y tế - xã hội Đảng và chính phủ xác định nhiệm vụ trọng tâmtrong khôi phục kinh tế là phát triển nông nghiệp Với tinh thần khẩn trơng, ngày01/ 9/ 1954 Thanh Hóa chính thức khởi công sửa chữa đập Bái Thợng bị hỏngtrong chiến tranh Sau gần 3 tháng lao động miệt mài quên mình của cán bộ, côngnhân và dân công, ngày 19/ 12/ 1954 đập Bái Thợng và hệ thống nông giang sôngChu cơ bản đợc phục hồi đa nớc về đồng ruộng Ngày 17/ 3/ 1955, hoàn thànhcông việc nâng cấp thuỷ lợi, 5000 ha ruộng đất của các huyện Thọ Xuân, ThiệuHoá, Đông Sơn, Nông Cống, Quảng Xơng có nớc cày cấy 2 vụ, tạo điều kiện chonông dân sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, Tỉnh uỷ còn phát động khai hoang phụchoá trên toàn tỉnh Sau 3 năm ta đã phục hồi đợc hơn 10.000 ha hoang hoá, mởrộng diện tích cho nông dân trồng cây lơng thực và rau màu Nhờ đó, đến cuốinăm 1957 tổng sản lợng lơng thực Thanh Hoá đạt 477.305 tấn [37, tr.18], vợt năm

có sản lợng cao nhất trớc đây (1939: 31.430 tấn) Về chăn nuôi so với năm 1956 sốlợng gia súc có tăng và phát triển, tổng số trâu bò có 266.232 con, lợn có 270.953con Đóng thêm 47 thuyền, 198 bè ra khơi [14, tr 4-5]

Trang 25

Các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp đợc phục hồi và phát triển nh:Nhà máy nớc Thị xã Thanh Hoá, nhà máy điện Hàm Rồng, giấy Lam Sơn, đàiphát thanh, sản xuất đồ gỗ.v.v Qua 3 năm, các ngành công nghiệp và thủ côngnghiệp đều tăng năm 1957 đạt 43.896 triệu tăng hơn năm 1955 là 42,5%(30.780 triệu)

Mạng lới thơng nghiệp quốc doanh và HTX mua bán bớc đầu đợc chútrọng phát triển Đến cuối năm 1957 đã tu sửa và nâng cấp đợc nhiều tuyến đ-ờng trong tỉnh nh: đoạn quốc lộ 1A dài 95 km, đờng 15A, làm mới đờng 217dài hơn 91 km, nối liền hai tỉnh Hủa Phăn - Thanh Hoá, đặc biệt là đã nối liềncách mạng hai nớc Việt - Lào Nhiều cầu phà nh Đò Lèn, Hàm Rồng, Ghép

đã đợc khôi phục và dễ dàng giao lu giữa các vùng trong tỉnh, trong nớc

Công tác giáo dục - văn hoá - y tế có nhiều cố gắng lớn Thực hiện phòngtrào “Bình dân học vụ” đến cuối năm 1957 có 194.242 ngời xoá nạn mù chữ.Xã Vĩnh Khang (Vĩnh Lộc) trở thành lá cờ đầu trong phòng trào xoá nạn mùchữ của miền Bắc, đợc chính phủ khen ngợi Năm 1957 số học sinh từ cấp I trởlên có 94.357 em đạt 97% kế hoạch, so với năm 1956 tăng 10.869 học sinh [14,tr.15] Phòng trào văn hoá - văn nghệ quần chúng phát triển rộng khắp tạo nênkhí thế thi đua sản xuất, xây dựng nếp sống mới trong nhân dân Các trạm y tế

địa phơng cũng đợc nâng cấp trang thiết bị, thuốc men, các đội y tế lu độngxuống tận địa phơng khám chữa bệnh cho nhân dân

Sau 3 năm phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội đã nâng cao đợc đời sốngvật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo tiền đề để tổ chức LLVT nhằm xây dựngnền quốc phòng toàn dân trên địa bàn toàn tỉnh Thanh Hoá

Trớc những thành tích bớc đầu của nhân dân Thanh Hoá qua 3 năm khôiphục kinh tế, hàn gắn vết thơng chiến tranh, ngày 13/ 6/ 1957 Chủ tịch Hồ ChíMinh về thăm Thanh Hoá lần thứ hai Ngời đã khen ngợi những thành tíchThanh Hoá đạt đợc trong kháng chiến chống Pháp và trong 3 năm khôi phụckinh tế cần cố gắng phát triển Ngời đã nêu ra nhiệm vụ cho đồng bào tỉnh

Trang 26

Thanh lúc này là: “Đoàn kết, phải đoàn kết lơng giáo, đoàn kết dân tộc Kinh

và thiểu số, đoàn kết Nam-Bắc, đoàn kết quân dân, đoàn kết Việt-Hoa và tăng gia sản xuất để dần dần đi đến mọi ngời dân đợc cải thiện sinh hoạt, ăn no, mặc ấm ” [2, tr.42- 45].

Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ XIV (11/ 1958) xác định trọng tâm kếhoạch 3 năm (1958 - 1960) là đẩy mạnh công cuộc cải tạo XHCN với kinh tế cáthể của nông dân, thợ thủ công và kinh tế t bản t doanh So với trớc đây, năm

1958 đạt giá trị tổng sản lợng nông nghiệp cao nhất là 336.695 đồng Trong đótrồng trọt có 206.622 đồng, chăn nuôi có 99.569 đồng [44, tr.52]

Về chăn nuôi năm 1960: cả tỉnh có 106.865 con trâu đạt 110,5% (so vớinăm 1955), tổng số bò có: 173.145 con đạt 120,8% [44, tr.129,131] Trongthời gian này công cuộc cải tạo công thơng nghiệp t bản t doanh, tiểu thủ côngnghiệp có nhiều tiến bộ, thu hút đợc 97,4% hộ thủ công vào HTX tiểu thủ côngnghiệp và 68% buôn bán nhỏ vào HTX tiểu thơng [37, tr.32] Công tác vận

động quần chúng nhân dân vào làm ăn tập thể ngày càng phát triển, mở rộnghơn trớc Đến hết năm 1960 toàn tỉnh có 313 HTX thủ công nghiệp, với 13.985xã viên trên tổng số 17.605 lao động thủ công Theo tinh thần Đại hội Đảng bộlần thứ IV (4/ 1959) trong quá trình xây dựng và xác lập quan hệ sản xuất mới,Tỉnh uỷ chủ trơng đầu t xây dựng thêm cơ sở kinh tế-xã hội cải tạo XHCN nh:Nhà máy điện Lô cô Hàm Rồng( 18/1/1958, công suất 200 kw), Nhà máy thuỷ

điện Bàn Thạch, trạm bơm Nam sông Mã, hai cơ sở xay xát công nghiệp HàmRồng và Yên Thái, Lò cao Hàm Rồng v.v Các cơ sở này đều đợc hoạt động vớicông suất lớn [6, tr.60 - 62], nhằm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, côngnghiệp Nhờ đó tổng sản lợng công nông nghiệp hàng năm tăng 7,5%, năm

1960 tăng so với năm 1957 tăng 18,1% [37, tr.32]

Trên các lĩnh vực giáo dục, văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, y tế đềuphát triển mạnh mẽ Tổng số ngời đi học của năm 1959-1960 là 327.401 ngời.Riêng khối phổ thông có 156.938 học sinh với 1.655 giáo viên và 53 trờng phổ

Trang 27

thông [44, tr.201-203] Tỷ lệ học sinh các trờng cấp I, cấp II đều tăng hơn sovới các năm trớc Công tác xoá nạn mù chữ đang đợc đẩy mạnh, ở miền xuôi có95,3%, miền núi có 74% ngời đợc thoát nạn mù chữ [37, tr.32].

Ngoài ra, Đảng bộ còn tích cực xây dựng lực lợng quân sự, phát triển lựclợng quốc phòng Ngày 2/ 2/ 1959 Tỉnh uỷ quyết định thành lập Hội đồng nghĩa

vụ quân sự tỉnh phụ trách công tác tuyển quân Hởng ứng phòng trào, hàng ngànthanh niên trong tỉnh phấn khởi thực hiện luật nghĩa vụ quân sự Trong đó có99,7% đoàn viên thanh niên xã Hoằng Đại (Hoằng Hoá), 100% đoàn viên thanhniên xã Đông Anh (Đông Sơn) tham gia khám tuyển Ngày 2/ 10/ 1960 Tỉnh uỷ

ra nghị quyết về tăng cờng lực lợng, củng cố quốc phòng Bộ đội biên phòng kếthợp chặt chẽ với dân quân tự vệ Lang Chánh, Quan Hoá bảo vệ vững chắc vùngbiên giới

Ngày 12/ 3/ 1960, 2 tỉnh Thanh Hoá - Quảng Nam kết nghĩa quyết tâm xâydựng, bảo vệ CNXH ở miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nớc

Cũng trong thời gian này, đế quốc Mỹ đã tấn công vào cơ sở cách mạngLào Trớc tình hình đó, Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoá đã tạo điều kiện, giúp

đỡ các đồng chí lãnh đạo của TW Đảng cách mạng Lào nơi sinh hoạt, làm việc:giao nông trờng Lam Sơn làm trụ sở, xây dựng nhà ở và nơi đào tạo cán bộ tạiMục Sơn (Thọ Xuân)

Những thắng lợi của 3 năm cải tạo XHCN (1958 - 1960) là nền tảng vữngchắc cho Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoá tin tởng bớc vào giai đoạn mới: xâydựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân địa phơng,

đồng thời thực hiện kế hoạch Nhà nớc 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965)

Tháng 9/ 1960 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III định ra nhiệm vụ củacách mạng Việt Nam là: “Đ a miền Bắc tiến lên CNXH và đấu tranh hoà bình thống nhất nớc nhà” [7, tr.5] Thực hiện đờng lối của Đảng tại Đại hội Đảng bộ

Thanh Hóa lần thứ 5 (25/ 2 - 5/ 3/ 1960) đã đề ra nhiệm vụ cụ thể: “tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải tạo XHCN lấy sản xuất nông nghiệp làm trọng tâm, đẩy

Trang 28

mạnh sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật đầu tiên cho kế hoạch 5 năm, đồng thời nâng cao đời sống của nhân dân lên một bớc về ăn, mặc và học hành” [11,

tr.120-121]

Theo đó, phong trào thi đua lao động XHCN diễn ra sôi nổi trên khắp cácnông trờng, công trờng, xí nghiệp: lớp nông dân thi đua “đuổi kịp và vợt Đại Phong” (Quảng Bình), công nhân thi đua “đuổi kịp và vợt Duyên Hải” (Hải

Phòng), LLVT đẩy mạnh phòng trào “3 nhất” Nhiều điển hình tiên tiến lần lợt

xuất hiện nh: HTX cơ khí Thành Công (Thị xã); HTX Yên Trờng (Yên Định); Nhàmáy Nam Phát (Hàm Rồng), nông trờng Sao Vàng (Thọ Xuân), Phúc Do (CẩmThuỷ) liên tục cải tiến kỹ thuật, năng suất ngày càng cao, sản phẩm có chất lợng

Cuối năm 1961, tỉnh đã có 3.761 HTX nông nghiệp, trong đó có 75%HTX quy mô toàn thôn Tỉnh đã công nhận 53 HTX đạt danh hiệu Đại Phong.Nhờ đó vụ mùa và vụ chiêm có sản lợng cao, bình quân lơng thực đạt 328 kg/ngời Nghề biển đạt 32.000 tấn cá và hải sản quý, tăng hơn năm 1960 là 7.000tấn [6, tr.78-79]

Với tầm nhìn chiến lợc, những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, Đảng

và Chính phủ đã đầu t nâng cấp và xây dựng nhiều tuyến đờng bộ quan trọng vềkinh tế và quốc phòng: đờng 47 Thanh Hoá - Thọ Xuân, quốc lộ 1A, 15A,217A, đờng 15C (Đồng Tâm đi Phú Lệ) Ngày 20/ 1/ 1961, Thanh Hoá đợc Bộgiao thông giao nhiệm vụ xây dựng tuyến đờng 217B - dài 62km nối với đờng217A từ Na Mèo đến Sầm Na Cũng trong thời gian này, toàn tỉnh tham gia khôiphục tuyến đờng sắt Thanh Hoá - Vinh, góp phần vào việc thông xe tuyến đờngsắt Hà Nội - Vinh

Từ đầu năm 1961 để thúc đẩy sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân,

đảm bảo phơng tiện trong điều kiện có chiến tranh, Tỉnh uỷ-UBND đã chỉ đạothành lập: Ty Thuỷ sản Thanh Hoá, Công ty Tổng hợp miền núi nhằm phát triển

Trang 29

kinh tế - văn hoá của nhân dân 8 huyện miền núi Thanh Hoá; Trờng công nhân

kỹ thuật (thuộc Ty công nghiệp và thủ công nghiệp) Tính đến cuối năm 1964,toàn tỉnh đã có 1.111 công nhân kỹ thuật, hàng trăm cán bộ có trình độ trungcấp và đại học Ngoài ra, còn thành lập các công ty hợp doanh ô tô, các HTXvận tải

Sự nghiệp giáo dục phát triển nhanh, mạnh Nhiều nơi phát động phòngtrào bổ túc văn hoá sổi nổi nh: huyện Hoằng Hoá, Nh Xuân.v.v Theo chủ tr-

ơng của Đảng, ánh sáng văn hoá đã soi rọi tới tận các vùng sâu, vùng xa củamiền núi Huyện Ngọc Lặc có hệ thống trờng phổ thông sớm nhất khu vực miềnnúi Năm học 1961 - 1962 thành lập trờng cấp III Ngọc Lặc, là trờng cấp III đầutiên của 8 huyện miền núi

Công tác y tế-xã hội đợc đẩy mạnh, chất lợng khám chữa bệnh đợc nângcao Đầu năm 1961, Tỉnh phát động thi đua nuôi dỡng con em thơng binh, liệt

sỹ Với tấm lòng “lá lành đùm lá rách” ngay đầu năm đã có 31 cơ sở nhận 36

cháu, tiếp đó có 75 cơ quan, nông lâm trờng, xí nghiệp nhận nuôi 197 cháu.Nhiều cháu sau này trở thành cán bộ khoa học, quản lý và anh hùng (nh dũng sỹdiệt Mỹ Lê Mã Lơng)

Sau một năm thực hiện thắng lợi kế hoạch nhà nớc lần thứ nhất, Đảng bộ

và nhân dân tỉnh Thanh vinh dự đợc đón Bác Hồ vào thăm Thanh Hoá lần thứ 3(ngày 10 và 12/ 12/ 1961)

Về thăm Thanh Hoá lần này, Ngời cũng đã nhấn mạnh đến vị trí vai trò

và truyền thống cách mạng của nhân dân trong tỉnh, đã chỉ rõ phơng hớng cho

Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoá tiếp tục thực hiện: “Tỉnh ta là một tỉnh lớn nhất ở miền Bắc, đất rộng ngời nhiều, nhân dân có truyền thống anh dũng

đấu tranh và cần cù lao động có điều kiện giúp đỡ lẫn nhau phát triển kinh

tế về mọi mặt Tỉnh ta có ngót 12 vạn đảng viên và đoàn viên thanh niên lao

động cần phải ra sức phát triển và củng cố tốt Đảng và Đoàn, đoàn kết toàn

Trang 30

dân cùng nhau thi đua tiến bộ Làm đợc nh thế Thanh Hoá chắc chắn sẽ trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc Làm đợc nh thế là tỉnh ta đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc làm nền tảng vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nớc nhà” [2, tr.60]

Đầu năm 1962, Hội nghị BCH Đảng bộ tỉnh ra nghị quyết: Tăng cơ sở

Đảng ở nông thôn để củng cố HTX và đẩy mạnh sản xuất toàn diện “Trong nông nghiệp, diện tích gieo trồng cây lơng thực năm 1962 tăng 37.140 ha so với năm 1960 Công tác thuỷ lợi đợc mở rộng, diện tích tới tiêu đạt tới 35.000

ha Ngành công nghiệp cũng đã có đợc 106 cơ sở sản xuất quốc doanh và công t hợp doanh, 1.241 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp của tập thể ”[11, tr.126-127] Đó là những nền móng ban đầu của việc phát triển một

nền công nghiệp địa phơng trong tỉnh

Xuất phát từ thế mạnh là tỉnh có nguồn nguyên vật liệu và sức lao độngdồi dào, tháng 1/ 1963 Tỉnh uỷ ra nghị quyết về nhiệm vụ, phơng hớng xâydựng và phát triển công nghiệp-thủ công nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứnhất của tỉnh Đó là, đẩy mạnh và phát triển cả sản xuất nông nghiệp và sảnxuất công nghiệp, thủ công nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp làm trọng tâm

Năm 1963, ngành giao thông Thanh Hoá đợc các kỹ s Liên Xô, TrungQuốc giúp đỡ tiến hành xây dựng lại cầu Hàm Rồng, đến ngày 31/ 12/ cầu HàmRồng mới (dài 160 m) đã đợc thông xe Cùng lúc, Tỉnh uỷ ra chủ trơng nạo vétsông, lạch mở rộng giao thông đờng thuỷ, phục vụ cho phát triển kinh tế vàquân sự

Tiếp tục thực hiện chủ trơng nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ III và phơng hớng Đại hội Đảng bộ lần thứ VI (7/ 1963), cán bộ, đảng viên

và quần chúng nhân dân tích cực phấn đấu sản xuất và xây dựng Nhờ đó, sản ợng lơng thực (quy ra thóc) năm 1964 đạt 511.485 tấn, so với năm 1960 vợt36.191 tấn Công nghiệp chiếm tỷ trọng 30.4% so với tổng giá trị sản lợng công

Trang 31

l-nông nghiệp Các kho tàng trữ vừa phục vụ dân sinh vừa dự trữ phục vụ chochiến tranh thì đến năm 1964 cả tỉnh có 394 kho lơng thực, 72 kho thực phẩm,muối, 5 kho dợc phẩm, 34 kho nông hải sản [37, tr.55-56].

Trên các lĩnh vực văn hoá-giáo dục-y tế đang đợc đẩy mạnh, phát triển hơntrớc Năm 1964, Thanh Hoá có 598 trờng cấp I, 213 trờng cấp II, 13 trờng cấp III,tổng số học sinh phổ thông là 256.698 học sinh, gấp gần 50 lần so với thời khángchiến chống Pháp Công tác y tế đợc xây dựng hơn trớc, có 25 bệnh viện tỉnh vàhuyện với 5.882 giờng bệnh, 500 trạm y tế dân lập, trong đó 45 xã có y sĩ phụtrách [37, tr.56] Hệ thống đài truyền thanh và các phong trào văn hoá, văn nghệ

đợc phát triển đều khắp toàn tỉnh, nhằm góp phần xoá bỏ hủ tục, xây dựng nếpsống mới, văn hoá mới và con ngời và con ngời XHCN

Song song với phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của kế hoạch 5 nămlần thứ nhất, Đảng bộ Thanh Hoá ra sức cũng cố quốc phòng toàn dân Luônluôn chuẩn bị sẵn sàng lực lợng khi có chiến tranh Đó là nhiệm vụ thờng xuyên

và mang tính chiến lợc Ngày 30/ 8/ 1961 Tỉnh uỷ ra chỉ thị: “Xây dựng dân quân tự vệ tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trở thành lực lợng hậu bị hùng mạnh của quân đội chính quy hiện đại ” [37, tr.37] Ngay sau đó thành

lập thêm các đội tự vệ cho các nông trờng Lam Sơn, nhà máy phân lân HàmRồng, công trờng 120 và thành lập Đội giao thông liên lạc quân sự từ tỉnh đếnxã do Tỉnh đội và Ty Bu điện điều hành Bộ đôi địa phơng đợc bố trí lại vừa đợc

đảm bảo phòng thủ chiến đấu vừa sẵn sàng cơ động, kết hợp giữa kinh tế vớiquốc phòng

Thất bại trong chiến lợc chiến tranh đặc biệt ở Việt Nam, đế quốc Mỹ vàchính quyền tay sai vẫn rất ngoan cố, chúng chuẩn bị kế hoạch đa quân ồ ạt vàomiền Nam tiến hành chiến tranh đặc biệt Mặt khác, chúng tung những toán biệtkích gián điệp ra miền Bắc nhằm phá hoại công cuộc xây dựng CNXH

Trang 32

Thực hiện quyết định số 39 của Bộ chính trị TW Đảng (05/ 1/ 1962),Tỉnh uỷ đã chủ trơng tăng cờng công tác chống gián điệp biệt kích, bảo vệ anninh chính trị trật tự xã hội Công tác huấn luyện dân quân tự vệ chống gián

điệp, biệt kích đợc tổ chức trong toàn bộ các cơ quan, ban ngành và các vùngtrọng điểm, nâng cao cảnh giác trong nhân dân để kịp thời đập tan mọi âm muphá hoại của địch

Tháng 5/ 1962 Thanh Hoá mở hai cuộc vận động Phong trào “Bảo mật phòng gian” trong các cơ quan, xí nghiệp vào phong trào “Bảo vệ trị an” trong

toàn xã hội, các phong trào đã đợc phát triển sôi nổi

Do ngày càng bị lún sâu vào chiến tranh ở chiến trờng miền Nam, đếquốc Mỹ càng điên cuồng hơn, từ năm 1961 Mỹ đã liên tục tung bọn gián điệp,biệt kích ra miền Bắc (từ Quảng Bình, Hà Tĩnh trở ra) Trớc những hoạt độngphá hoại của địch, ngày 15/ 8/ 1963 Tỉnh uỷ Thanh Hoá chỉ thị về việc tiếnhành khẩn trơng, sẵn sàng phòng chống gián điệp biệt kích nhảy dù và xâmnhập “Nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta là phải ra sức đẩy mạnh các mặt công tác đánh địch, quyết tâm đập tan mọi âm mu phá hoại của bọn gián

điệp, biệt kích Mỹ, Diệm và các bọn phản cách mạng khác, giữ vững thành tựu an ninh ở trong tỉnh” [45, tr.2] Hết năm 1963, toàn tỉnh có 211 xã thuộc

vùng xung yếu Xã Quang Chiểu (Quan Hoá) trở thành 1 trong 4 xã tiêu biểucủa miền Bắc về phòng chống gián điệp, biệt kích [37, tr.50]

Để chuẩn bị phục vụ tác chiến, Uỷ ban tỉnh quyết định thành lập hệthống phòng không các cấp (14/ 3/ 1964 ) Các khu vực trọng điểm nh: Thị xãThanh Hoá, Sầm Sơn, Thọ Xuân, Bá Thớc, các huyện miền núi giáp biên giới tổchức các trạm báo động phòng không, đào hầm trú ẩn và giao thông hào Tất cảcác huyện trong tỉnh đều đợc huấn luyện thành các đội phòng cháy chữa cháy,cứu thơng và huấn luyện bảo đảm giao thông liên lạc Riêng khu vực Thị xã

Trang 33

Thanh Hoá và Hàm Rồng thành lập 5 trạm cấp cứu, bệnh viện tỉnh thành lập 4

đội cứu thơng cơ động và 3 đội dự bị [6, tr.130 ]

Trớc nguy cơ sụp đổ của chiến lợc “Chiến tranh đặc biệt”, tháng 3/ 1964Tổng thống Mỹ L.Giônxơn phải chuẩn bị kế hoạch mở rộng chiến tranh pháhoại ra miền Bắc (kế hoạch Đêxôtô - dùng tàu khu trục Mỹ tuần tiễu ở VịnhBắc Bộ để ngăn chặn tiếp tế của ta bằng đờng biển)

Đầu năm 1964, đế quốc Mỹ cho tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắcvới quy mô ngày càng ác liệt và tàn bạo Trớc tình hình ấy, ngày 27 và ngày 28/4/ 1964 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập hội nghị chính trị đặc biệt, tại đâyNgời đã khẳng định: “Nếu chúng liều lĩnh động đến miền Bắc thì chúng sẽ bị thất bại thảm hại Ngời kêu gọi: Mỗi ngời làm việc bằng hai để đền đáp cho

đồng bào miền Nam ruột thịt ”[4, tr.95].

Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 6/ 4/ 1964 Tỉnh

uỷ đã ra chỉ thị: Sẵn sàng và kiên quyết đập tan mọi âm mu hoạt động phá hoại

và khiêu khích của Mỹ và tay sai, kịp thời ngăn chặn các hành động chống phácủa bọn phản cách mạng trong tỉnh Đảng bộ Tỉnh đã kịp thời chuyển hớng hoạt

động từ thời bình sang thời chiến Mọi hoạt động sản xuất kinh tế, GTVT, y tế,giáo dục và công tác chuẩn bị lơng thực phục vụ chiến đấu, bảo đảm quốcphòng giờ đã đi vào hoạt động thời chiến

Nh vậy, sau 10 năm xây dựng trong hoà bình (1954 - 1964) quân và dânThanh Hoá đã vơn lên khắc phục chiến tranh do hậu quả chiến tranh để lại, từng b-

ớc xây dựng địa phơng vững chắc về chính trị, phát triển về kinh tế, vững mạnh vềquốc phòng, an ninh Bằng những nỗ lựcvợt bậc, Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoá

đã thu đợc nhiều thành qủa trên các lĩnh vực Kinh tế - văn hoá - xã hội, nền anninh quốc phòng toàn dân không ngừng đợc cũng cố và xây dựng vững mạnh.Thanh Hoá sẵn sàng bớc vào cuộc chiến đấu mới chống chiến tranh phá hoại bằngkhông quân và hải quân của đế quốc Mỹ Đồng thời quyết tâm chiến đấu ủng hộ

Trang 34

cho chiến trờng miền Nam, xứng đáng là hậu phơng lớn mạnh của cả nớc trongcuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc.

2.2 Quân và dân Thanh Hoá trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (5/8/1964 - 1/11/1968).

2.2.1 Âm mu của địch và chủ trơng của ta.

2.2.1.1 Âm mu của địch.

Trong khi tiến hành xâm lợc miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đã khôngngừng tăng cờng các hoạt động phá hoại miền Bắc nớc ta Chúng biết rõ miềnBắc là căn cứ địa của toàn bộ cách mạng Việt Nam, là nơi nhân dân ta có điềukiện làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng hai nớc anh em Lào vàCămpuchia Bằng sức mạnh tại chỗ cùng với sự chi viện của hậu phơng lớn,quân và dân miền Nam liên tiếp đánh bại những mục tiêu chiến lợc của “Chiếntranh đặc biệt” Từ cuối năm 1964, Mỹ - ngụy lâm vào một tình thế bị động và

có nguy cơ thất bại hoàn toàn Để cứu vãn những thất bại không thể tránh khỏi

ở miền Nam, Taylo (hiện là đại sứ Mỹ ở miền Nam) đã kiến nghị với chínhquyền Giônxơn: “Cần phải có hành động táo bạo để có một sự thay đổi Giờ

đây không hành động tích cực tức là chấp nhận thất bại trong một tơng lai khá gần” [39, tr.33] Ngay sau đó chiến lợc “Chiến tranh cục bộ” đợc đa ra, đế

quốc Mỹ ồ ạt tăng cờng quân viễn chinh và vũ khí mở rộng chiến tranh xâm lợcmiền Nam Đồng thời, tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hảiquân đối với miền Bắc nhằm mục đích:

1 - Ngăn chặn nguồn viện trợ từ bên ngoài vào miền Bắc và sự chi viện từmiền Bắc vào miền Nam nhằm bao vây, cô lập, làm suy yếu đi đến tiêu diệt cáclực lợng cách mạng, dập tắt cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miềnNam

2 - Phá hoại công cuộc xây dựng XHCN, làm suy yếu tiềm lực kinh tế vàlực lợng quốc phòng của miền Bắc, làm cho miền Bắc kiệt quệ, không thể tiến

Trang 35

hành một cuộc chiến tranh lâu dài Đồng thời, gây cho nhân dân ta những khókhăn trong việc xây dựng đất nớc khi kết thúc chiến tranh.

3 - Để uy hiếp tinh thần, làm lung lay quyết tâm, ý chí phấn đấu để giảiphóng miền Nam của nhân dân ta, nhằm làm rối loạn hậu phơng miền Bắc buộc

ta phải nhân nhợng và chấm dứt chiến tranh theo điều kiện của Mỹ

Đạt đợc những âm mu trên, Mỹ sẽ củng cố đợc tinh thần ngày càng sútkém của bọn ngụy quân, ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam Ngoài ra, chúngcòn răn đe đợc phòng trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh

mẽ ở nhiều nớc á, Phi, Mỹ la tinh

Là tỉnh “ở vào vị trí bản lề, cơ động của miền Bắc, trong kháng chiến

và trong kiến thiết XHCN, Thanh Hoá là một địa bàn đặc biệt quan trọng về các mặt chính trị, kinh tế, quốc phòng trên miền Bắc” [45, tr.1] Do đó, trong

cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất Thanh Hoá là một tỉnh mà đế quốc Mỹ

sẽ đánh phá quyết liệt Những âm mu và thủ đoạn mà Mỹ dùng trong chiếntranh phá hoại miền Bắc thì tất cả đều đợc chúng tiến hành đánh phá ở ThanhHoá Thủ đoạn đánh phá của đế quốc Mỹ ngày càng thâm độc, xảo quyệt và tànbạo

Trớc tình thế thất bại không thể cứu vãn đợc ở miền Nam, từ cuối 1964sang đầu 1965 không quân Mỹ liên tục hoạt động trinh sát trên bầu trời miềnBắc, đặc biệt là trên các trục đờng giao thông, các khu vực quân sự và khu côngnghiệp tập trung

Về không quân, ngay từ đầu đế quốc Mỹ dùng không quân tập trung

đánh phá lớn, có tính chất dứt điểm, nh trận đầu tập trung đánh dứt điểm cầuHàm Rồng với gần 500 lần chiếc đánh suốt hai ngày (3 và 4 / 4/ 1965) nhngkhông thành công Chúng lại thay đổi chiến thuật kết hợp đánh vừa, đánh nhỏvới đánh lớn, kết hợp đánh nghi binh Một số trận không quân Mỹ đánh nhỏ,

đánh vừa nhng đánh liên tiếp nhiều đợt trong một ngày, có ngày 19 đợt, đợt nàycách đợt kia chỉ độ 9 đến 10 phút Nhng thờng xuyên là địch dùng tốp nhỏ 1 - 2

Trang 36

- 3 chiếc lẻ đánh lén, đánh bất ngờ Trong nhiều trận đánh lớn, chúng chia thànhnhiều tầng, nhiều tốp liên tục bổ nhào tới Có khi chúng xảo quyệt cùng lúcnhiều tốp bay lợn không đánh mà bất ngờ 1, 2 cái ở tầng dới đột kích bay tới

đánh bất ngờ Gây cho ta một số khó khăn trong phòng tránh địch Không kểthời tiết sơng mù, ma gió, trời nhiều mây, có khi mới giông bão xong, ngày hay

đêm nhiều tốp nhỏ từ ngoài biển bay vào lợi dụng đờng sông, điểm cao bất ngờbắn phá mục tiêu đã chuẩn bị hoặc vừa trinh sát phát hiện vừa đánh phá ngoài

kế hoạch để quấy rối, liên tục gây căng thẳng cho ta và dứt điểm nếu ta sơ hở

Một thủ đoạn rất dã man thâm độc của đế quốc Mỹ là bắn phá ban đêmngày càng tăng, thờng dùng lối đánh bất ngờ, không thả pháo sáng, chúng thảbom theo lối “toạ độ”, lợi dụng lúc đồng bào ta đang ngủ say, nửa đêm, mờsáng để ném bom, nh vụ đánh phá lúc 12h đêm ở xã Cầu Lộc (Hậu Lộc), đánhphá xã Đông Thanh (Đông Sơn) lúc 4h sáng Có khi đánh lúc tra, chập tối lànhững lúc mọi ngời đang tu tập ở nhà đông đủ hoặc vào những lúc đồng bào ta

đang tập trung làm ruộng, đánh cá ngoài biển.v.v

Trong 4 năm chiến tranh phá hoại miền Bắc, Mỹ cũng đã sử dụng đủ cácloại vũ khí đối với địa bàn Thanh Hoá: Đó là bom phá các loại; tên lửa loại

“pun pơp”, loại “Shrike”; Rocket, bom bi, bom nổ chậm, bom từ trờng, thuỷ lôi,

đạn 20 ly.v.v Số vũ khí gây sát thơng, chúng dùng ngày càng nhiều hơn trớc,

Đặc biệt bom bi năm 1967 chúng đã dùng đến 1.107 thùng bom bi mẹ, chiếm 80,6% tổng số bom bi của 4 năm” [24, tr.6] Loại bom bi hình cầu chúng dùng

ngày càng tăng, vì loại này mang đợc nhiều và có khả năng gây tác hại nhiềuhơn, gây khó khăn cho ta, nhất là các cơ sở sản xuất và nhà máy khó có thể hoạt

động sản xuất trở lại ngay

Cuối năm 1967, đế quốc Mỹ dùng nhiều bom từ trờng thả xuống các củasông, cửa lạch, bến, bãi và nhiều khi các thôn xóm Mục đích của chúng khôngnhững để ngăn chặn giao thông - con đờng chi viện cho tiền tuyến mà cả nhữngsinh hoạt thờng xuyên của đồng bào trong tỉnh

Trang 37

Trong cuộc chiến tranh leo thang ra miền Bắc lần này đế quốc Mỹ đã huy

động đủ các loại máy bay hiện đại nh: F105D, F4H, F8U, AD6, AD4, A6A;riêng loại A6A, AD4 có thể mang từ 18 đến 22 quả bom phá hạng nặng, có cảloại máy bay vận tải lớn C-130 mang thuỷ lôi tấn

Về hải quân, đế quốc Mỹ sử dụng các loại tàu chiến, tuần dơng hạm, khutrục hạm bắn phá các vùng dân c ven biển, có khi còn bắn sâu vào nội địa thị xãThanh Hoá, khu vực Hàm Rồng, Nông Cống, Thiệu Hoá, đồng thời kết hợp vớicác hoạt động không quân để đánh phá

Thanh Hoá có đờng bờ biển dài, nớc sâu nên địch đã lợi dụng dùng thủ

đoạn dã man cho tàu biệt kích tiến sát vào gần bờ vây hãm các thuyền bè của

Dã man và tàn bạo hơn là đế quốc Mỹ cho tập trung đánh vào các mụctiêu tập trung đông dân c, ném bom vào khu vực chợ khi nhân dân ta đang họp

đông hay những nơi đồng bào ta đang tập trung sản xuất ngoài đồng ruộng vàngoài biển đánh cá Với dã tâm tàn bạo, đế quốc Mỹ không trừ nén bom, bắnphá vào các trờng học, nhà trẻ, mẫu giáo, các bệnh viện trạm xá, khu an dỡng

Trang 38

và cả các công trình văn hoá - xã hội, các nhà thờ, đền, chùa Tất cả đều khôngthoát khỏi những hoạt động đánh phá của giặc Mỹ.

Đi đôi với hoạt động phá hoại bằng không quân và hải quân, 4 năm qua

địch còn cấu kết với các phần tử phản cách mạng trong nội địa phối hợp với cácbớc leo tháng, dùng nhiều hình thức thủ đoạn gây chiến tranh tâm lý, gián điệprất thâm độc: chúng thả gián điện, biệt kích vào hoạt động quấy rối hậu phơng

ta, thả truyền đơn, đồ dùng tâm lý chiến, tuyên truyền xuyên tác chủ trơngchính sách của Nhà nớc

Nh vậy, trớc những thất bại không thể cứu vãn ở miền Nam Việt Nam,trong thế khốn quẫn Mỹ - nguỵ đã tiến hành mở rộng chiến tranh xâm lợc ramiền Bắc Theo nh Mắcnamara thì đây là “một biện pháp bổ sung chứ không phải là biện pháp thay thế cho cuộc chiến tranh trên bộ của Mỹ ở miền Nam”

[39, tr.34] Với những âm mu thâm độc, từ cuối năm 1964, đế quốc Mỹ bắt đầuleo những nấc thang mới trong cuộc chiến tranh xâm lợc Việt Nam Trongkháng chiến chống Mỹ, Thanh Hoá là tỉnh có vị trí chiến lợc trọng yếu, là cấunối giữa hậu phơng lớn với tiền tuyến miền Nam, nên khi có chiến tranh đây là

địa bàn bị địch tập trung đánh phá quyết liệt Phát huy cao độ tinh thần cáchmạng yêu nớc giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, quân và dân Thanh Hoáquyết tâm cùng cả nớc đánh thắng chiến tranh phá hoại do Mỹ gây ra

Trang 39

2.2.1.2 Chủ trơng của ta

Trớc sự thay đổi về chiến lợc của cuộc chiến tranh và sự phức tạp của tìnhhình mới, nghị quyết Hội nghị TW Đảng lần thứ 11 (25/ 3/ 1965) đã chỉ rõnhiệm vụ cơ bản của nhân dân ta là: tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp chặtchẽ xây dựng kinh tế và tăng cờng quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc

đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại và phong toả bằng không quân và hảiquân của địch, chuẩn bị sẵn sàng để đánh bại địch trong trờng hợp chúng đacuộc chiến tranh phá hoại hiện nay đến một trình độ ác liệt gấp bội hoặc chuyển

nó thành một cuộc “Chiến tranh cục bộ” ở cả miền Nam lẫn miền Bắc, ra sức

động viên lực lợng của miền Bắc chi viện cho miền Nam; ra sức giúp đỡ cáchmạng Lào” Trong tình hình hiện nay “miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phơng lớn” [7, tr.218] TW Đảng đã xác định sự nghiệp xây

dựng CNXH của miền Bắc chuyển từ thời bình sang thời chiến và khẩn trơngchuyển hớng về t tởng và tổ chức

Nhiệm vụ trọng tâm lúc này là phải đảm bảo tốt cả hai nhiệm vụ xâydựng kinh tế và tăng cờng lực lợng quốc phòng Khẩu hiệu chung của miền Bắclà: “Xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam” [7, tr.220].

Thực hiện nghị quyết của TW Đảng, Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã kịp thời chỉ

đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nhận thức rõ: “nhiệm vụ to lớn và cấp bách lúc này là vừa sản xuất, xây dựng vừa chiến đấu đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng thời chi viện ngày càng nhiều sức ngời sức của cho cách mạng miền Nam, làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Cămpuchia, đảm bảo đời sống nhân dân trong tỉnh” [11, tr.141].

Trớc những âm mu thâm độc của đế quốc Mỹ, Đảng bộ Thanh Hoá đãkịp thời chuyển hớng phát triển kinh tế, các cơ quan, đơn vị sản xuất, trờng học,bệnh viện, các hoạt động văn hoá-xã hội, đều chuyển sang thời chiến, thực hiệnquân sự hoá, phân tán gọn nhẹ, khẩn trơng nhng vẫn đảm bảo tốt năng suất lao

Trang 40

động và hiệu suất công tác trong tình hình cả nớc có chiến tranh Lĩnh vựcGTVT đảm bảo phục vụ chiến đấu và sản xuất Ngay từ đầu, Tỉnh uỷ cũng đãxác định hai nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu phải kết hợp chặt chẽ với nhau Dùcho cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ có ác liệt đến đâu Thanh Hoávẫn lấy sản xuất làm nhiệm vụ trọng tâm thờng xuyên Lợi dụng thế mạnh về tàinguyên, khoáng sản của mỗi vùng, mà chỉ đạo nhân dân trong tỉnh khai thác,phát huy thế mạnh của từng vùng, nhằm phục vụ chiến đấu, chi viện cho tiềntuyến và đảm bảo đời sống cho nhân dân.

Lực lợng quốc phòng trong toàn tỉnh đợc tăng cờng mạnh mẽ Trongchiến đấu lấy LLVT nhân dân làm nòng cốt và huy động mọi lực lợng phục vụquốc phòng

Từ tỉnh đến xã, làng xóm, các cơ quan, nhà máy đều thành lập các đơn vị

bộ đội, dân quân tự vệ Toàn dân và toàn quân luôn luôn trong t thế sẵn sàngchiến đấu cao độ đập tan mọi âm mu khiêu khích phá hoại cuả đế quốc Mỹ Hệthống phòng không nhân dân, phòng thủ chiến đấu hình thành nhanh chóng.Nhân dân toàn tỉnh kết hợp chặt chẽ với các LLVT chính quy, bộ đội địa phơngtiến hành triển khai thế trận chiến đấu

Lúc này khẩu hiệu: “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lợc” đã có ở

khắp nơi, trở thành phơng châm hành động của toàn Đảng bộ và nhân dânThanh Hoá trong tình hình mới

Nh vậy, trớc những yêu cầu cấp bách của cách mạng nớc ta, TW Đảng và

Đảng bộ Thanh Hoá đã kịp thời có những chủ trơng, chuyển hớng đúng đắn vàtoàn diện, đáp ứng yêu cầu tình hình mới Phát huy cao độ tinh thần cách mạngyêu nớc, toàn Đảng và toàn dân ta kiên quyết bảo vệ miền Bắc, không ngừngchi viện sức ngời, sức của cho chiến trờng miền Nam, hoàn thành sự nghiệp cáchmạng dân tộc

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bài phát biểu của đồng chí Ngô Thuyền Bí th TUTH (phát biểu ghi âm) sau chiến công 5/8/1964, (26/8/1964), Lu trữ Tỉnh uỷ Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu của đồng chí Ngô Thuyền Bí th TUTH (phát biểu ghi âm) sauchiến công 5/8/1964
2. Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ Thanh Hoá (1990), Bác Hồ với Thanh Hoá, Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với Thanh Hoá
Tác giả: Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ Thanh Hoá
Năm: 1990
3. BCĐTKCT – trực thuộc Bộ chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc: Thắng lợi và bài học, NXB CTQG - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nớc: Thắng lợi và bài học
Tác giả: BCĐTKCT – trực thuộc Bộ chính trị
Nhà XB: NXB CTQG - Hà Nội
Năm: 1995
4. Ban tổng kết kinh nghiệm chiến tranh - Học viện quân sự cao cấp (1980), Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc 1954 - 1975: Những sự kiện quân sự, NXB QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc 1954 - 1975: Những sự kiện quân sự
Tác giả: Ban tổng kết kinh nghiệm chiến tranh - Học viện quân sự cao cấp
Nhà XB: NXB QĐND
Năm: 1980
5. BCH Đảng bộ-Tỉnh uỷ Thanh Hoá (1999-2000), Lịch sử Đảng bộ Thanh Hoá, tập I, BNCBS Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ ThanhHoá
6. BCH Đảng bộ- Tỉnh uỷ Thanh Hoá (1996), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá, tập II, BNCBS Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá
Tác giả: BCH Đảng bộ- Tỉnh uỷ Thanh Hoá
Năm: 1996
7. BCHTW ĐCS Việt Nam, Viện Mác – Lênin (1985), Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ cứu nớc (1954 - 1965), tập I, NXB Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của Đảng vềchống Mỹ cứu nớc (1954 - 1965)
Tác giả: BCHTW ĐCS Việt Nam, Viện Mác – Lênin
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1985
8. BCHTW ĐCS Việt Nam, Viện Mác – Lênin (1986), Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ cứu nớc (1965 - 1970), tập II, NXB Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của Đảngvề chống Mỹ cứu nớc (1965 - 1970)
Tác giả: BCHTW ĐCS Việt Nam, Viện Mác – Lênin
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1986
9. BNCLSĐ, Tỉnh uỷ Thanh Hoá (1980), Hàm Rồng chiến thắng, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàm Rồng chiến thắng
Tác giả: BNCLSĐ, Tỉnh uỷ Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1980
10. BNCLSĐ TW (1979), 50 năm hoạt động ĐCS Việt Nam, NXB Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm hoạt động ĐCS Việt Nam
Tác giả: BNCLSĐ TW
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1979
11. BNC & BS lịch sử tỉnh Thanh Hoá (1980), 50 năm hoạt động của Đảng bộĐảng cộng sản tỉnh Thanh Hoá, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: năm hoạt động của Đảng bộ"Đảng cộng sản tỉnh Thanh Hoá
Tác giả: BNC & BS lịch sử tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1980
12. Báo cáo BCH tỉnh Đảng bộ Thanh Hoá-Hội nghị tháng 5/1955 - BNC&BSLSĐảng Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo BCH tỉnh Đảng bộ Thanh Hoá-Hội nghị tháng 5/1955
14. Báo cáo tổng kết công tác năm1957, ĐLĐVN, BCHĐB Thanh Hoá số 19 BC/TH (1957), Hs 53, Cs 6, Lu trữ Tỉnh uỷ Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm1957
Tác giả: Báo cáo tổng kết công tác năm1957, ĐLĐVN, BCHĐB Thanh Hoá số 19 BC/TH
Năm: 1957
15. Báo cáo sơ kết công tác phòng tránh, UBHC tỉnh Thanh Hoá số 47PK/UBTH (25/8/1965), Học sinh 125, Cs 17, Lu trữ UBND tỉnh Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết công tác phòng tránh, UBHC tỉnh Thanh Hoá số 47PK/UBTH(25/8/1965)
16. Báo cáo điển hình của bến Phà Ghép, Ty GTVT Thanh Hoá (1966), Hs 220, Cs 29, Lu trữ UBND tỉnh Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điển hình của bến Phà Ghép
Tác giả: Báo cáo điển hình của bến Phà Ghép, Ty GTVT Thanh Hoá
Năm: 1966
17. Báo cáo tình hình sơ kết 2 năm cống chiến tranh phá hoại từ 1965 đến 30/11/1966, Quân khu III, tỉnh đội Thanh Hoá số 1424C/2 (15/12/1966), Hs 495, Cs 75, Lu trữTỉnh uỷ Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình sơ kết 2 năm cống chiến tranh phá hoại từ 1965 đến 30/11/1966
18. Báo cáo tổng kết công tác năm 1996 và phơng hớng nhiệm vụ năm 1967,ĐLĐVN,Tỉnh Đảng bộ Thanh Hoá, số 05 BC/ TU(13/3/1967), Hs 241, Cs 36, Lu trữTỉnh uỷ Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 1996 và phơng hớng nhiệm vụ năm 1967
19. Báo cáo sơ lợc về cầu Hàm Rồng trong 3 năm chiến tranh phá hoại, BCHQS Thanh Hoá dân sự phía Nam, Đội Hàm Rồng (1967), Hs 496, Cs 75, Lu trữ Tỉnh uỷ Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ lợc về cầu Hàm Rồng trong 3 năm chiến tranh phá hoại
Tác giả: Báo cáo sơ lợc về cầu Hàm Rồng trong 3 năm chiến tranh phá hoại, BCHQS Thanh Hoá dân sự phía Nam, Đội Hàm Rồng
Năm: 1967
20. Ba năm phát triển kinh tế văn hoá trong chiến tranh 1965-1967, – UBND tỉnh Thanh Hoá, Hs 4, Cs 1, Lu trữ UBND tỉnh Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba năm phát triển kinh tế văn hoá trong chiến tranh 1965-1967
21. Báo cáo tổng hợp tình hình 3 năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ từ 1965-1966-1967, UBHC tỉnh Thanh Hoá, BĐTTACT của đế quốc Mỹ, Hs 121, Cs 17, Lu trữ UBND tỉnh Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp tình hình 3 năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ từ1965-1966-1967

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w