1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thanh chương trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc mỹ [1965 1973]

75 542 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thanh Chương Trong Hai Cuộc Chiến Tranh Phá Hoại Của Đế Quốc Mỹ [1965 – 1973]
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Khắc Thắng
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 208 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc phát triển văn hóa – giáo dục – y tế cũng đợc tăng cờng và mở rộng góp phần vào việc ổn định cuộc sống cho nhân dân trong toàn huyện.Trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ n

Trang 1

trờng đại học vinh khoa lịch sử -  -

thanh chơng trong hai cuộc chiến tranh

phá hoại của đế quốc mỹ

(1965 – 1973)

khóa luận tốt nghiệp đại học

chuyên ngành lịch sử Việt Nam

Trang 2

Vinh tháng 5 - 2005



Lời cảm ơn

Để hoàn thành khóa luận, tôi xin chân thành

gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo –

TH.S Nguyễn Khắc Thắng đã tin tởng, tận tình

hớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa luận

này.

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô

trong khoa Lịch sử, tới Ban nghiên cứu lịch sử

Đảng Nghệ An, Ban tuyên giáo huyện Uỷ

Thanh Chơng và bạn bè tôi những ngời đã tạo

điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình làm khóa

luận.

Vinh tháng 5 năm 2005

Tác giả

Trang 3

Mục lục

Trang

Phần A: dẫn luận 4

1 Lí do chọn đề tài: 4

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Đối tợng, nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu 8

5 Bố cục khóa luận 9

Phần B: nội dung 10

Chơng 1: Khái quát tình hình Thanh Chơng trớc cuộc

chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965) 10

1.1 Đặc điểm tự nhiên 10

1.2 Đặc điểm lịch sử – xã hội 13

1.3 Những tiền đề chính trị – kinh tế – xã hội Thanh Chơng

trớc khi bớc vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại 18

Chơng 2: Thanh Chơng trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965 – 1969) 25

2.1 Tình hình chính trị – xã hội, yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng đặt ra cho huyện Thanh Chơng 25

2.2 Thanh Chơng trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965 – 1969.) 27

2.2.1 Trên mặt trận chiến đấu và phục vụ chiến đấu 27

2.2.2 Trên mặt trận giao thông vận tải 34

2.2.3 Trên mặt trận sản xuất 39

2.2.4 Trên mặt trận văn hóa – giáo dục – y tế 43

2.2.5 Chi viện cho chiến trờng miền Nam 45

Trang 4

Chơng 3: Thanh Chơng sản xuất và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại

lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1969 – 1973) 48

3.1 Thanh Chơng khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội sau cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất 48

3.2 Thanh Chơng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (4/1972 – 1/1973) 52

3.2.1 Trên mặt trận chiến đấu và phục vụ chiến đấu 52

3.2.2 Trên mặt trận giao thông vận tải 57 3.2.3 Trên mặt trận sản xuất 60

3.2.4 Trên mặt trận văn hóa – giáo dục – y tế 63

3.2.5 Chi viện cho chiến trờng miền Nam 65

Phần c: kết luận 69

Tài liệu tham khảo 72

Trang 5

Tiến hành cuộc chiến tranh xâm lợc Việt Nam, một mặt dế quốc Mỹ tăng ờng việc đàn áp, khủng bố phong trào đấu tranh yêu nớc của nhân dân miềnNam Đồng thời dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc ác liệt với mục

c-đích đa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá, không còn khả năng chi việncho chiến trờng miền Nam

Nằm trong âm mu đánh phá của Mỹ, Nghệ An đợc xem là “cổ họng” nối liềnmiền Bắc với miền Nam Trong đó Thanh Chơng đợc coi là địa bàn quan trọng có

vị trí nối liền hậu phơng với tiền tuyến với các tuyến đờng quan trọng mang tínhsống còn trong việc đảm bảo giao thông thông suốt nh tuyến đờng 15A, đờng HồChí Minh, đờng 33, các tuyến đờng nối liền với Hà Tĩnh, Lào Do vị trí quantrọng đó, việc đảm bảo an toàn cho Thanh Chơng là hết sức cần thiết cho côngcuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ

Thực hiện cuộc chiến tranh công phá miền Bắc Mỹ đã sử dụng những phơngtiện chiến tranh hiện đại về không quân và hải quân với một khối lợng bom đạnkhổng lồ rải vào Thanh Chơng và nhiều địa phơng trên cả nớc Do có vị trí chiếnlợc quan trọng, là chiếc cầu nối liền tuyến giao thông miền Bắc với miền Nam vìthế Thanh Chơng là nơi bị đế quốc Mỹ đánh phá nhiều lần trong suốt thời kỳ Mỹtiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc

Trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt đó, dới sự lãnh đạo của Đảng bộThanh Chơng, nhân dân Thanh Chơng đã đoàn kết một lòng, phát huy cao độ

Trang 6

truyền thống đoàn kết, dũng cảm trong chiến đấu, cần cù sáng tạo trong lao

động, tạo nên những thắng lợi to lớn trên tất cả các mặt trận: trên mặt trận chiến

đấu nhân dân Thanh Chơng đã đánh bại các đợt đánh phá của Mỹ vào đồi Dùng,

đồi Rạng, vào núi Nguộc, bến phà Rộ, cầu Gang là khu vực đông dân c, các chốtgiao thông quan trọng Đặc biệt quân dân Thanh Chơng đã bắn rơi nhiều máybay địch trong đợt oanh kích đầu tiên (1965), đó là cơ sở để Thanh Chơng đánhbại hoàn toàn chiến tranh phá hoại của Mỹ vào năm 1968 Trong công tác phục

vụ chiến đấu, nhân dân Thanh Chơng đã phối hợp chặt chẽ với các lực lợng bộ

đội địa phơng, bộ đội chủ lực, tham gia tích cực vào tổ chức trận địa, vận chuyển

đạn dợc phục vụ chiến đấu

Trên mặt trận sản xuất: Thanh Chơng đã ra sức phát triển sản xuất, tăng cờngvai trò quản lý kinh tế, quản lý xã hội của các hợp tác xã, đảm bảo ổn định đờisống cho nhân dân làm tốt công tác tạo nguồn lơng thực, thực phẩm chi viện chochiến trờng miền Nam Về giao thông vận tải trong suốt thời kỳ chiến tranh Mỹ

đã đánh phá một cách ác liệt vào các điểm giao thông quan trọng nh cầu Gang,núi Nguộc, đặc biệt là bến phà Rộ nhằm cắt đứt sự chi viện cho chiến trờng miềnNam bằng quốc lộ 15A Vì vậy để đảm bảo giao thông thông suốt ngoài việc mởcác loại đờng vòng, đờng tránh, nhân dân Thanh Chơng đã tiến hành khẩn trơngcông tác san lấp hố bom, rà phá bom mìn, xây dựng hệ thống hầm trú ẩn, mở đ-ờng cho xe ra tiền tuyến Chỉ tính riêng năm 1968 toàn huyện đã đào đợc 11.230hầm công cộng, 614.472m hào giao thông, trồng 9.672 cọc bảo hiểm, huy động1.856 dân quân thờng trực làm nhiệm vụ sửa chữa cầu đờng đảm bảo thông xe,trồng 25.500 cây phòng không hai bên đờng, 7.500 ngày công phục vụ đảm bảogiao thông Việc phát triển văn hóa – giáo dục – y tế cũng đợc tăng cờng và

mở rộng góp phần vào việc ổn định cuộc sống cho nhân dân trong toàn huyện.Trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ nhân dân Thanh Chơng đã làmtốt công tác chi viện cho chiến trờng miền Nam hàng ngàn thanh niên đã tìnhnguyện lên đờng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc

Việc đi sâu tìm hiểu Thanh Chơng trong thời kỳ chiến tranh phá hoại của đếquốc Mỹ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện, đầy đủ về diện mạo cuộc đấu tranhcủa nhân dân Thanh Chơng nói riêng và nhân dân Nghệ An nói chung chống lạichiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Những thắng lợi ấy đã để lại nhiều bài học

Trang 7

kinh nghiệm quý báu trong sự nghiệp cách mạng giai đoạn hiện nay và mai sau.

Nó củng cố thêm niềm tin trớc những thách thức mới, thời cơ mới, vận hội mới

mà nhân dân Thanh Chơng cũng nh dân tộc Việt Nam đang tiến tới

Với tinh thần “uống nớc nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ ngời trồng cây” Hạnhphúc và vinh dự ngày nay là thành quả của bao công sức, nớc mắt và xơng máucủa nhiều thế hệ đi trớc đã ngã xuống Việc tìm hiểu những trang sử vẻ vang củaquê hơng đất nớc góp phần phát huy truyền thống anh hùng trong sự nghiệp cáchmạng để xây dựng quê hơng trong thời kỳ đổi mới

Với những ý nghĩa nêu trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Thanh Chơng tronghai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965 – 1973)” làm khóa luận tốtnghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề.

Đối với vấn đề: “Thanh Chơng trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đếquốc Mỹ (1965 – 1973)” cho đến nay vẫn cha có một công trình nào đi sâu vàonghiên cứu Tản mạn trong một số cuốn sách viết về Thanh Chơng có đề cập đếnvấn đề này nhng còn nhiều thiếu sót, chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó

Trong cuốn: “Lịch sử Đảng bộ Thanh Chơng” – tập 3 (1954 – 1975) –

xuất bản tháng 8 năm 2000 Đã tổng kết lịch sử Thanh Chơng trong thời kỳ(1965 – 1973) nhng cha trình bày một cách có hệ thống, toàn diện những thànhtích mà nhân dân Thanh Chơng đạt đợc trên các mặt trận: chiến đấu và phục vụchiến đấu, sản xuất, giáo dục – văn hóa – y tế, giao thông vận tải, chi viện chochiến trờng miền Nam

Trong cuốn: “sự kiện lịch sử Đảng bộ Nghệ An” (1954 – 1975) nhà xuất

bản Nghệ An năm 1995, có đề cập đến chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ởThanh Chơng (1965 – 1973) nhng chỉ trình bày một cách khái quát, tổng thể

Trong cuốn “với quê hơng” ban liên lạc đồng hơng Thanh Chơng ở thành phố

Vinh – xuất bản năm 2000 Các tác giả viết về Thanh Chơng từ xa cho đén nay,trong đó có phần viết về cuộc chiến đấu của nhân dân Thanh Chơng chống lạichiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ nhng mới chỉ khái quát sơ lợc những thànhtích mà huyện nhà đạt đợc trên các lĩnh vực

Trang 8

Ngoài ra trong một số báo chí của huyện Uỷ, Uỷ ban nhân dân huyên ThanhChơng, Tỉnh uỷ và các ban ngành ở Nghệ An trong giai đoạn (1965 – 1973) cáctài liệu của các nhà viết sử địa phơng, nghiên cứu lịch sử huyện nhà đợc cất giữtại t gia cũng nêu lên đợc một số thành tích của quân và dân huyện Thanh Chơngtrong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Nhìn chung các tài liệu trên đây đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến nhữngkhía cạnh của đề tài chúng tôi đã lựa chọn Song các tài liệu đó cha nêu lên đợcnhững thắng lợi, những đóng góp hết sức to lớn của nhân dân Thanh Chơng trongcuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965 – 1973) Tuynhiên đây là những tài liệu cơ sở, là nguồn t liệu quan trọng để chúng tôi tiếnhành thực hiện khóa luận của mình

Để hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp cuối khóa về “Thanh Chơng trong haicuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965 – 1973)” Đòi hỏi phải có sự

đầu t công phu và chu đáo hơn Đây là một công trình nghiên cứu khoa học đòihỏi phải có thời gian nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về lịch sử của ThanhChơng trong giai đoạn oanh liệt và hào hùng trên tất cả các mặt Nhằm làm nổibật những thắng lợi to lớn, những đóng góp quan trọng của nhân dân Thanh Ch-

ơng trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nớc của dân tộc

Trong đề tài khoa học của mình tôi cố gắng hệ thống hóa t liệu thu thập đợcnhằm góp phần vào việc tái dựng lại những đóng góp, những thành tích mà nhândân Thanh Chơng đạt đợc trong thời kỳ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ(1965 – 1973)

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu: “Thanh Chơng trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của

đế quốc Mỹ (1965 – 1973)” nhằm nghiên cứu những thắng lợi và đóng góp củanhân dân Thanh Chơng trong thời kỳ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965– 1973)

Với việc xác định đối tợng nh vậy, đề tài trớc tiên đề cập đến đặc điểm tựnhiên, lịch sử - xã hội của Thanh Chơng và những tiền đề kinh tế – xã hội –chính trị của huyện trong 10 năm bớc đầu xây dựng Thanh Chơng theo định hớng

Trang 9

xã hội chủ nghĩa (1954 – 1964) là những nhân tố có tác động đến cuộc chiến

đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở Thanh Chơng

Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là những đóng góp của nhân dân Thanh

Ch-ơng trên tất cả các mặt: chiến đấu và phục vụ chiến đấu, chi viện sức ngời, sứccủa cho miền Nam, đảm bảo giao thông vận tải, sản xuất, văn hóa – giáo dục –

y tế trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hảiquân của đế quốc Mỹ gây ra đối với miền Bắc nớc ta (1965 – 1973)

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu: “Thanh Chơng trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đếquốc Mỹ (1965 – 1973)” Chúng tôi chủ yếu tập trung khai thác các nguồn tliệu sau:

Bên cạnh những nguồn t liệu có tính chất tham khảo nghiên cứu về cuộcchiến đấu chống chiến tranh phá hoại trên toàn quốc Chúng tôi chủ yếu tập trungkhai thác những nguồn tài liệu thành văn là những tác phẩm viết về Thanh Chơngcủa các nhà nghiên cứu lịch sử “Lịch sử Đảng bộ Thanh Chơng”, “Với quê h-

ơng”, “Lịch sử Đảng bộ Nghệ An”, “Sự kiện lịch sử Đảng bộ Nghệ An” Nhữngbáo cáo, tổng kết, chỉ thị, nghị quyết của huyện Uỷ, Uỷ ban nhân dân huyệnThanh Chơng và các ban ngành lu giữ tại các cơ quan Các tài liệu dạng hồi kýcủa những ngời tham gia cách mạng trực tiếp ghi lại quá trình hoạt động củamình hoặc qua lời kể mình chép lại

Ngoài ra chúng tôi cố gắng tiếp xúc với một số t liệu gốc do các chuyên viênnghiên cứu lịch sử địa phơng điều tra su tầm Đồng thời chúng tôi cũng đã trựctiếp về các hiện trờng lịch sử, tiếp cận những nhân chứng lịch sử, những đồng chínguyên là lãnh đạo nhân dân kháng chiến, chiến đấu chống chiến tranh phá hoạicủa đế quốc Mỹ thời kỳ (1965 –1973) Thông qua lời kể của các ông bà đã từngsống, làm việc và chứng kiến cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ: ôngNguyễn Quốc Tuấn, ông Nguyễn Văn Hóa xóm 9 Thanh An – Thanh Chơng –Nghệ An, ông Nguyễn Văn Cần xã Cát Văn Thanh Chơng, chúng tôi có thêmnhững t liệu về cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên đất Thanh Chơng

Trang 10

Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi lựa chọn phơng pháp lịch sử và phơngpháp lôgic, phơng pháp điền dã su tầm lịch sử địa phơng Đề tài là sự kết hợpgiữa tài liệu thành văn và t liệu thực tế để làm rõ những đóng góp, những thànhtích của nhân dân Thanh Chơng trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc

Mỹ (1965 – 1973)

5 Bố cục đề tài:

Đề tài nghiên cứu đợc trình bày trong 72 trang Ngoài phần mở đầu, phầnkết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của khóa luận đợc trình bàytrong ba chơng nh sau:

Chơng 1: Khái quát tình hình Thanh Chơng trớc cuộc chiến tranh phá hoạicủa đế quốc Mỹ (1965)

Chơng 2: Thanh Chơng trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đếquốc Mỹ (1965 – 1969)

Chơng 3: Thanh Chơng sản xuất và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lầnthứ hai của đế quốc Mỹ (1969 – 1973)

Trang 11

Phần b: nội dung Chơng 1: khái quát tình hình Thanh Chơng trớc chiến

tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965).

1.1 Đặc điểm tự nhiên:

Thanh Chơng là huyện trung du miền núi nằm ở phía Tây Nghệ An, phía Bắcgiáp huyện Anh Sơn, phía Đông giáp huyện Đô Lơng và Nam Đàn, phía Namgiáp huyện Hơng Sơn – Hà Tĩnh, có đờng biên giới giáp Lào; Với toạ độ địa lý:

18034’30’’ đến 18055’ vĩ độ Bắc và 104055’30’’ đến 105030’ độ kinh đông

Thanh Chơng có rừng núi hiểm trở, sông suối dày đặc, với vẻ đẹp sơn thuỷhữu tình, một dòng Lam xanh hiền hoà uốn mình giữa những dãy đồi thoai thoảidần xuống miền hạ lu, rừng núi đại ngàn nhiều tầng nhiều lớp, rừng rậm núi caoxen lẫn đồi thấp càng làm tăng thêm vẻ đẹp của vùng đất này Thanh Chơng đợckéo dài theo dòng sông Lam và bị phân chia thành hữu ngạn và tả ngạn Ngoàisông Lam là chính còn có các con sông nhỏ bắt nguồn từ dãy Trờng Sơn hoặc từ

đồi núi phía tây nh sông Giăng, sông Rộ, sông Cả, sông Rào Gang nơi đây cónhững dãy núi cao trải dài mà tiêu biểu nh các đỉnh Thác Muối, Tháp Bút, ĐạiCan có đồi núi xen kẽ chạy ngang chạy dọc, sát bờ sông chia cắt địa hìnhhuyện ra nhiều mảnh tạo thành những cánh đồng nhỏ hẹp có độ dốc

Những vùng đồng bằng hay đất sinh sống của ngời Thanh Chơng đợc bao bọcbởi núi sông vì thế bất cứ thời kỳ nào đây cũng đợc coi là địa bàn chiến lợc quantrọng Ngời xa đánh giá địa thế Thanh Chơng “thực đáng gọi là nơi tứ tắc” (ngănlấp cả bốn mặt) và “hình thể Thanh Chơng đẹp nhất ở xứ hữu kỳ” (Từ Quảng Trị

đến Thanh Hóa)

Địa thế hiểm yếu địa hình phức tạp là lợi thế cho quân sự nhng lại khó khăn

về kinh tế Đất phù sa của huyện quá ít, chủ yếu là ruộng bậc thang, bạc màu cằncỗi Đất rừng chiếm đến 86% nhng bù lại rừng có nhiều cây gỗ quý nh: lim, táu,dổi Có nhiều loại thú quý hiếm nh: hổ, báo, hơu Sông suối cũng đem lạicho c dân nhiều thức ăn và sản vật quý hiếm nh tôm, cá, baba, rùa

Diện tích tự nhiên của toàn huyện là 112.763,37ha trong đó có 18.251ha đấtnông nghiệp, 42,37ha đất lâm nghiệp, 3.381ha đất chuyên dùng và 48.948ha đất

Trang 12

cha sử dụng Đất chủ yếu ở đây là đất Feralit với diện tích 102.986ha đợc phân

bố khắp toàn huyện Đất phù sa với diện tích 11.278ha đợc phân bố chủ yếu dọcsông Lam, sông Giăng, sông Rộ, sông Trai ở Thanh Chơng diện tích rừng núinhiều đó là một yếu tố gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên nếubiết khai thác tốt thì đó là nguồn lâm nghiệp quý giá Trong chiến tranh có thểbiến rừng núi thành địa bàn hoạt động bí mật an toàn

Thanh Chơng nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng, nóng ẩmquanh năm phần nào có thuận lợi cho việc trồng trọt và chăn nuôi Nhng do địahình phức tạp cho nên khí hậu và thời tiết khắc nghiệt Hàng năm mùa khô hanhkéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 dơng lịch, gió mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đếntháng 8; nhiệt độ bình quân năm 23,80C, nhiệt độ cao nhất 440C, nhiệt độ thấpnhất 4 đến 50C, ma từ tháng 9 đến tháng 12 lợng ma bình quân hàng năm1.870mm, lợng ma cao nhất 3.550mm, lợng ma thấp nhất 1.251mm Hạn hán th-ờng xuyên xảy ra vào tháng 5 và tháng 6 âm lịch; Bão lụt thờng xảy ra vào tháng

9 và tháng 10 dơng lịch gây lụt trên một diện rộng và có khi kéo dài một thờigian Hoàn cảnh thiên nhiên đó đã hun đúc truyền thống của con ngời Thanh Ch-

ơng cũng nh con ngời xứ Nghệ cam chịu gian khổ, giám đơng đầu với thiênnhiên

ở Thanh Chơng c dân chủ yếu là ngời Kinh, chỉ có một số ít dân tộc ngày xa

c trú ở đầu ngọn sông Đan Lai (nay thuộc xã Thanh Hơng) Dân c ở đây một số

ít theo đạo thiên chúa giáo c trú ở vùng Thanh Giang, Thanh Xuân [17;272]

Hệ thống giao thông vận tải: Sông Lam và các con sông nhỏ chiếm một vị tríquan trọng Ngoài tuyến đò dọc, ở đây đã mở gần 40 bến đò ngang để tạo điềukiện giao lu giữa các vùng trong huyện Men theo ven bờ tả ngạn sông Lam làtỉnh lộ 46 từ Vinh lên trải đều trên đất Thanh Chơng hơn 30km để về thị trấn ĐôLơng nối với đờng số 7 Hai tuyến giao thông thuỷ bộ quan trọng này nối liềnThanh Chơng với các huyện Nam Đàn, Hng Nguyên và thành phố Vinh – BếnThuỷ Thanh Chơng còn có các tuyến đờng bộ quen thuộc đi qua Lào mà nhữngnăm 20 của thế kỷ XX tuyến đờng ấy đã đợc những ngời yêu nớc ở Nghệ –Tĩnh dùng làm đờng liên lạc từ trong nớc ra nớc ngoài

Trang 13

Về vị trí địa lý hành chính: để có tên gọi Thanh Chơng nơi đây đã bao lần đổitên qua từng giai đoạn lịch sử: từ xa Thanh Chơng là trung tâm của bộ Việt Th-ờng của nớc Văn Lang - Âu Lạc Trớc và sau thế kỷ I là đất của huyện Cửu Đức.Thời Tam Quốc huyện Cửu Đức bao gồm: Hng Nguyên – Nam Đàn – ThanhChơng , một phần Đô Lơng và Đức Thọ ngày nay

Thanh Chơng thời thuộc Hán nằm trong huyện Hàm Hoan, thời thuộc ĐôngNgô đổi Hàm Hoan thành Đô Giao Thời thuộc Đờng đổi thành Nhật Nam nằmtrong Châu Hoan Dới thời thuộc Minh xâm lợc (1414 – 1427) chúng đã hoạch

định lại địa giới và đặt tên cho vùng đất này là Thổ Du Sau ngày đất nớc đợcgiải phóng 1427 nhà Lê (Lê Lợi) đổi huyện Thổ Du thành huyện Thanh Giang

Đến thời Lê Trung Hng vào năm 1729 Trịnh Giang lên ngôi chúa vì kiêng huýnên đã thay từ “Giang” thành từ “Chơng” Thanh Chơng đợc ra đời từ đó và mãicho đến ngày nay, tên gọi Thanh Chơng có tên trên bản đồ quốc gia năm 1802

Đến đầu nhà Nguyễn Thanh Chơng thuộc một trong 6 huyện của phủ Đức Thọ

và đợc chia thành 6 tổng: Nam Hoa, Bích Triều, Thổ Hào, Võ Liệt, Cát Ngạn,

Đông Sơn Năm 1826 Thanh Chơng đợc tách khỏi Đức Thọ để sát nhập vào phủAnh Sơn Năm 1831 huyện Thanh Chơng đợc tách khỏi huyện Anh Sơn là mộthuyện độc lập

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công trên cơ sở 5 tổng cũ, toànhuyện Thanh Chơng đã phân chia thành 12 xã kéo dài đến 13 năm Cho đếnngày 15 tháng 4 năm 1967 theo Quyết định số 140/NV của bộ trởng Bộ nội vụ,trong thời điểm từ ngày 15 tháng 4 năm 1967 đến ngày 24 tháng 3 năm 1969toàn huyện Thanh Chơng có 42 xã tất cả Cha đầy một tháng sau, Bộ nội vụ lại

có quyết định số 201/NV ra ngày 21 tháng 4 năm 1969 vào Thanh Chơng từ chỗ

42 xã đã sát nhập lại còn 28 xã Đến năm 1984 có 36 xã một thị trấn Dùng tồntại cho đến ngày nay

Cùng với sự thay đổi tên gọi của huyện thì lỵ sở cũng đợc thay đổi liên tục.Lúc đầu lỵ sở ở Thổ Du thuộc tổng Bích Hào Đến đời Lê chuyển lên xã LơngTrờng thuộc tổng Bích Triều Thời Thành Thái huyện lỵ chuyển đến tổng VõLiệt Từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1954 thì lỵ sở chuyển qua nhiều

Trang 14

địa điểm khác nhau Tháng 7 năm 1954 lỵ sở đợc đặt tại thị trấn Dùng và tồn tạicho đến ngày nay.

1.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội:

Điều kiện tự nhiên đã kiến tạo cho huyện Thanh Chơng một nền kinh tế xãhội đặc thù khác hẳn với các huyện khác Với một số ít đất phù sa ven các sông,còn lại đa số là ruộng bậc thang bạc màu; đời sống của c dân dựa vào hoa lợi càycuốc trên đồng ruộng là chính Nền kinh tế chính của huyện là nông - lâm - ng.Trớc điều kiện tự nhiên nh vậy nhân dân Thanh Chơng đã biết trồng các loạicây phù hợp nh: cây ăn quả, cây lúa nớc, ngô, khoai, lạc, đậu, chè Ngoài racòn biết chăn nuôi gia súc lấy sức kéo lấy thịt, phân bón Tận dụng nhữngnguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có, khai thác lâm thuỷ sản, săn bắt thú rừng

ở Thanh Chơng ngoài nghề nông là chính thì đây còn là một vùng quê cónhiều nghề truyền thống, hầu hết các xã trong huyện đâu đâu cũng có nghềriêng: nghề đan nong, đan cót ở Thanh La (Thanh Lĩnh ngày nay) nghề đanthúng, mủng, rổ, rá ở chợ Cồn, làm quang gánh, làm chổi ở Mĩ Ngọc, ngoài racòn có nghề mộc, nghề rèn, làm gạch, làm ngói, làm thợ nề các nông trờng,nông trang xí nghiệp mọc lên ở địa bàn Thanh Chơng Mỗi xã có một đặc tr-

ng nghề thủ công riêng phù hợp với tài nguyên sẵn có của xã Các ngành nghềtruyền thống đó vẫn đợc duy trì và phát triển cho đến nay Do nhu cầu của đờisống nhân dân ở hầu hết các xã trong huyện đều có chợ, đó là nơi trao đổi của cdân

Thanh Chơng có nhiều thành phần c dân sinh sống, có cả theo đạo phật và

đạo thiên chúa giáo Song họ gần gũi, đùm bọc tạo nên khối đoàn kết cộng đồngsâu đậm tình làng nghĩa xóm Hình ảnh quen thuộc của mỗi làng xóm là cây đa,bến nớc, sân đình hầu nh đâu đâu cũng có Cuộc sống bình lặng dới những luỹtre xanh, chân núi, dòng sông đã tạo nên nền văn hoá bản địa sâu sắc Dù tronghoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt xã hội có nhiều biến động nhng ngời dânThanh Chơng không bao giờ tuyệt vọng mà luôn lạc quan, giám coi thờng mọigian khổ chấp nhận hi sinh đấu tranh không khoan nhợng với thiên nhiên và kẻthù

Trang 15

Đời sống văn hóa phong phú đó cũng là một nét đặc sắc của nhân dân ThanhChơng Họ không chỉ quý trọng thuần phong mĩ tục mà còn rất trân trọng nhữnggiá trị văn hóa truyền thống của quê hơng sáng tạo ra Chính điều này nó nhdòng nớc mát truyền vào thế hệ con ngời Thanh Chơng làm nên tính cách: cần

cù, thông minh, hiếu học và mến khách

Thanh Chơng từ lâu đã có tiếng là nơi hiếu học Nhiều tên đất tên làng nh:Văn Giai, Kim Bảng, Tháp Bút giúp chúng ta hiểu đợc phần nào thái độ củanhân dân Thanh Chơng đối với nền Hán học Ngời dân nơi đây trọng nhân nghĩa,trọng đạo lý, học tập là cốt để hiểu đạo lý làm ngời Nhiều nhà nghèo vẫn chungnhau mời thầy mở lớp dạy học Nơi đây cũng nổi tiếng vì đã “công hiến cho đấtnớc nhiều vị khoa bảng nhất” nhiều danh nhân dân tộc đợc sinh ra tại Thanh Ch-

ơng nh: Tiến sĩ Nguyễn Đình Cổn đỗ đầu khoa thi Bính Thìn (1676), Tiến sĩNguyễn Thế Bính đỗ đầu khoa thi ất Vỵ (1775), Tiến sĩ Nguyễn Nhật Thận đỗ

đầu khoa thi Mậu Tuất (1838) ngoài ra Thanh Chơng còn có hàng chục phóbảng, cử nhân tú tài thông minh hay chữ Họ là những bậc sĩ phu yêu nớc khảngkhái trọng khí tiết

Khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, chúng kìm hãm đi đến xoá bỏ ảnh hởngcủa nền Hán học chủ trơng dạy chữ Tây và chữ quốc ngữ trong các trờng, cảhuyện chỉ có một trờng tiểu học Pháp – Việt ở Rộ và các trờng sơ đẳng tiểu học

ở Bích Thị, Đại Định, Đạo Ngạn với 250 học sinh hầu hết là con em quan lại nhàgiàu [8,17] Truyền thống hiếu học là niềm tự hào đối với vùng đất này từ xa đếnnay Hoàng Hữu Xứng trong cuốn “Đồng Khánh địa chí lợc” đã có nhận xét vềtruyền thống hiếu học rằng: “Kẻ sĩ chăm việc học hành trọng khí tiết”

Đời sống văn hóa ẩm thực trở thành một thói quen phong tục của huyệnThanh Chơng nh: “Nhút Thanh Chơng, tơng Nam Đàn” hay bát nớc chè xanh đãgắn kết con ngời nơi đây lại với nhau, cách nấu nớng tục ăn trầu uống rợu Đếnnay tất cả nét đẹp văn hóa đó vẫn đợc lu giữ và ghi nhận

Lịch sử Thanh Chơng gắn liền với lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam từthời Hùng Vơng dựng nớc Thanh Chơng là trung tâm của bộ Việt Thờng Nhândân Thanh Chơng tự hào với những di tích lịch sử, những nhân vật lẫy lừng vàtruyền thống hào hùng của quê hơng

Trang 16

Thanh Chơng cũng là mảnh đất luôn hứng chịu sự xâm lợc của kẻ thù Ngay

từ đầu nhân dân sẵn sàng đứng lên với một khí thế quật cờng Suốt trong thời kỳBắc thuộc nhân dân Thanh Chơng cùng với cả nớc đã đấu tranh chống lại sự

đồng hóa của kẻ thù, giữ vững nền văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc Bớc sangthời kỳ độc lập ngay từ thế kỷ XV ngời dân nơi đây đã nổi dậy chống quân Minhxâm lợc, giúp khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi mà sự kiện tiêu biểu vào năm 1424– 1425, Phan Đà ngời Thanh niên 18 tuổi ở Chi Long đã cùng với nghĩa quân

Lê Lợi chiến đấu chống quân Minh xâm lợc, dành độc lập cho dân tộc

Kể từ khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, hàng chục ngời con u tú của huyện

đã tham gia phong trào chống Pháp Tiêu biểu nh cuộc khởi nghĩa của Trần Tấnvào tháng 2 năm 1874, cuộc khởi nghĩa đợc nhân dân ở nhiều nơi của Nghệ Tĩnhnổi dậy hởng ứng, với khí thế:

“Dập dìu trống đánh cờ bayTrận này quyết đánh cả tây lẫn triều”

Cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn tuy thất bại nhng nó là một đòn cảnh báo đốivới bọn thống trị và mở đầu thời kỳ nhân dân Thanh Chơng cùng với nhân dânNghệ Tĩnh và cả nớc đứng lên cầm vũ khí chống thực dân Pháp và phong kiến.Khi tiếng súng Cần Vơng đợc khởi xớng, các sĩ phu yêu nớc của huyện đã có

kế hoạch mở đờng dọc chân núi Trờng Sơn, xây dựng cơ sở ở Động Chi (CátNgạn) để khi cần rớc xa giá nhà vua ra đó Năm 1897 tiếng súng phong trào CầnVơng bị dập tắt trong cả nớc, nhng ở Thanh Chơng đã diễn ra trận chiến đấu ở

Đồn Nu (nay là Thanh Xuân) Năm 1930 Phan Bội Châu lên dạy học ở ThanhChơng chuẩn bị cho cuộc vận động Đông Du, sĩ phu của huyện hăng hái thamgia sang Nhật học nh Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa Thanh Chơng làmột trong những trung tâm của Duy Tân Hội,khi thực Pháp câu kết với Nhật đàn

áp Duy Tân, huyện Thanh Chơng trở thành chỗ dựa cho Việt Nam quang phụchội Ngoài ra ở nớc ngoài còn có Trại Cày ở Xiêm(Thái Lan) do Đặng Thúc Hứalập nên Những năm 20 trở di nhiều ngời con của Thanh Chơng đã đi theo con đ-ờng cứu nớc giải phóng dân tộc giành độc lập tự do cho đất nớc, từ đây đã gieomầm cho sự phát triển của chủ nghĩa Mác – Lê Nin Năm 1925 ở đây đã xuấthiện tiểu tổ yêu nớc Tân Việt, Thanh niên lãnh đạo nhân dân ở các làng Hoa

Trang 17

Quân Thờng Long, Phủ Lập (1926) Xuân Tờng, Phong Nâm (1927) Cát Ngạn(1928) chống lại sự áp bức của thực dân Pháp Từ năm 1925 – 1929 toàn huyện

có 29 cuộc đấu tranh của quần chúng ở làng xã, phong trào đấu tranh ngày mộtlên cao Trong quá trình vận động các tiểu tổ cách mạng, Đảng bộ Thanh Chơng

đã ra đời vào ngày 20 tháng 3 năm 1930 Ngay lúc Đảng bộ mới thành lập đãlãnh đạo nhân dân làm nên phong trào 1930 – 1931 với đỉnh cao Xô Viết NghệTĩnh ở Thanh Chơng phong trào phát triển nh vũ bão với đỉnh cao là ngày 1tháng 9 năm 1930

Tinh thần Xô Viết ấy còn đợc nhân dân Thanh Chơng phát huy trong cuộc

đấu tranh chống thực dân Pháp giai đoạn 1930 – 1945 để cùng với nhân dân cảnớc làm nên sự thành công của cách mạng tháng Tám năm 1945, đa nớc ViệtNam bớc vào một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội Lúc bấy giờ Thanh Chơng là hậu cứ chiến lợc, là hậu phơng vững chắc củacác cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm ở Nghệ An Trong kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, kẻ địch không trừ một thủ đoạn nào đánhphá Thanh Chơng, chúng biết rằng các cơ quan xí nghiệp, kho tàng vũ khí đã từthành phố và đồng bằng sơ tán về Thanh Chơng

Sau cách mạng tháng Tám thành công nhân dân ra sức xây dựng huyện nhà,vừa sản xuất vừa kiện toàn bộ máy hành chính Bớc sang năm 1946 chủ tịch HồChí Minh đã ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”,hởng ứng lời kêu gọi đónhân dân Thanh Chơng đã cùng đồng bào toàn quốc tiến hành cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp Qua 9 năm trờng kì kháng chiến chống thực dân Pháp(1945 – 1954) Thanh Chơng với địa thế rừng núi hiểm trở, nhân dân có truyềnthống cách mạng, nơi đây đã trở thành an toàn khu của các cơ quan đầu não vềchính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa kháng chiến của tỉnh và liên khu IV, một hậu

cứ trọng yếu thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

Nhng cũng chính vì điều này mà Thanh Chơng là nơi mà thực dân Pháp tiếnhành ném bom bắn phá ác liệt, nhất là vào khu đông dân c và các làng xóm dọcsông Lam Song nhân dân Thanh Chơng không tiếc sức ngời, sức của, làm trònnhiệm vụ đối với quốc gia dân tộc, với tiền tuyến Hàng ngàn hàng vạn lợt bộ

đội, thanh niên xung phong và dân quân hoả tuyến của Thanh Chơng đã đi chiến

Trang 18

đấu và phục vụ chiến đấu trên các chiến trờng Bình – Trị - Thiên, Thợng Lào,Tây Bắc, Điện Biên Trong đợt phục vụ chiến trờng Thợng Lào, toàn huyện đãhuy động 2.100 dân công, biên chế thanh 4 đoàn, lên đờng ra tiền tuyến Sau đótrong chiến dịch Trung Lào, Thanh Chơng huy động hơn 400 dân công tham giachiến dịch.

Tuy nhiên với tinh thần quật khởi của dân tộc, nhân dân ta làm nên “thiên sửvàng”, “vành hoa đỏ” Điện Biên Phủ, đánh bại cuộc xâm lợc của bọn thực dânhiếu chiến Pháp năm 1954

Sang thời kỳ chống Mỹ cứu nớc Thanh Chơng cũng nh miền Bắc đã làm trọnnhiệm vụ của hậu phơng lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam Trong suốt chiềudài của cuộc chiến đấu Thanh Chơng đã cung cấp hàng vạn bộ đội, hàng trămngàn dân công phục vụ giao thông, phục vụ hoả tuyến, cung cấp nhiều lơng thựcthực phẩm cho tiền tuyến khi thành phố Vinh thực hiện “Tiêu thổ kháng chiến”nhiều nhà máy xí nghiệp đợc chuyển về nơi an toàn Trong đó có hàng trăm cơquan đơn vị, các xởng sản xuất vũ khí đợc di chuyển về Thanh Chơng Đặc biệttrong cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lợc, Thanh Chơng từng đụng đầutrực tiếp với quân xâm lợc Mỹ qua hai đợt ném bom bắn phá miền Bắc Songcùng với tinh thần và khí thế của dân tộc, nhân dân Thanh Chơng đã góp phầnvào thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc

Tình yêu quê hơng đất nớc đã nâng tầm con ngời Thanh Chơng dù ở bất cứ vịtrí nào, chiến trờng hay hậu phơng đều xả thân vì nớc, hoàn thành xuất sắc mọinhiệm vụ đợc giao Nhân dân Thanh Chơng luôn có ý nguyện làm sao cho dântộc đợc độc lập tự do, hoà bình Ta có thể đúc rút bằng nhận xét: “Thanh Chơng

là vùng đất mà qua các thời kỳ lịch sử chống giặc ngoại xâm, các sĩ phu yêu nớc,các nhà cách mạng, một số đã xuất phát từ Thanh Chơng, lấy đất này làm hậu cứchiến lợc, vừa xây dựng lực lợng vừa nuôi chí lớn, vừa làm bàn đạp để tấn công

kẻ thù” [17;93]

Chúng ta có thể thấy rằng Thanh Chơng có núi non hùng vĩ, có sông, có suối,

là nơi vạn vật, một địa bàn chiến lợc quan trọng về quân sự và cũng là địa bàn cótiềm năng kinh tế đa dạng Đời sống của nhân dân Thanh Chơng vất vả từ đờinày qua đời khác phải vật lộn với tự nhiên, đấu tranh chống áp bức bóc lột nặng

Trang 19

nề của phong kiến, thực dân đã đào luyện cho ngời dân phẩm chất cao quý, siêngnăng chịu khó, năng động sáng tạo, khổ học luyện tài Ngay thẳng mà nhân hậu,quyết liệt mà thuỷ chung, dũng cảm mà mu lợc, nhân dân đã làm nên lịch sử.Nhiều tên làng, tên sông, tên núi, nhiều con ngời u tú của quê hơng mãi mãi

đi vào sử sách nh đỉnh cao Xô Viết Thanh Chơng, phong trào chống Pháp, cuộc

đấu tranh chống Mĩ, máu của nhân dân Thanh Chơng đã đổ xuống viết nên trang

sử hào hùng, thiên anh hùng ca bất diệt Tôi tự hào đã sinh ra và lớn lên trên quêhơng cách mạng anh hùng vùng quê giàu lòng yêu nớc, địa linh nhân kiệt, sựnghiệp cách mạng của quê hơng gắn chặt với sự nghiệp của dân tộc

1.3 Những tiền đề chính trị kinh tế xã hội Thanh Ch ơng trớc khi bớc vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại:

Sau hiệp định Giơ ne vơ (20/7/1954) đất nớc ta tạm thời bị chia cắt làm haimiền: miền Bắc hoàn toàn giải phóng quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong khi miềnNam trở thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ Miền Bắc cần phải tiếp tụchoàn thành các nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ, tiến lên chủnghĩa xã hội làm cơ sở cho cách mạng miền Nam và sự nghiệp đấu tranh thốngnhất nớc nhà Miền Nam tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, cùngmiền Bắc đấu tranh thực hiện thống nhất nớc nhà đa cả nớc tiến lên chủ nghĩa xãhội

Cùng với quân và dân cả nớc, nhân dân Thanh Chơng phấn khởi, tng bừng

b-ớc vào giai đoạn cách mạng mới với những thuận lợi lớn Trong suốt 9 nămkháng chiến chống thực dân Pháp nơi đây là vùng tự do bởi vậy chế độ mới, chế

độ dân chủ nhân dân đã đợc xây dựng một bớc, tạo ra những thuận lợi cơ bản để

Đảng bộ và nhân dân Thanh Chơng bớc vào giai đoạn cách mạng mới Chínhquyền cách mạng, đoàn thể đợc củng cố, đội ngũ cán bộ đợc rèn luyện và trởngthành Bên cạnh những thuận lợi cơ bản thì Thanh Chơng cũng có những khókhăn riêng đó là vẫn phải chịu các cuộc tập kích, oanh tạc bằng máy bay của

địch; phải đơng đầu với những khó khăn do thiên nhiên gây ra nh hạn hán, lũ lụthiếm thấy trong lịch sử, gây nên nhiều khó khăn cho đời sống của nhân dân: nhtình trạng mùa màng mất trắng, nhà cửa, trờng học, các công trình giao thôngthuỷ lợi bị h hỏng nặng Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhng với khí thế chiến

Trang 20

thắng Thanh Chơng quyết tâm vợt mọi khó khăn bắt tay vào xây dựng quê hơngtheo định hớng xã hội chủ nghĩa nhằm từng bớc khôi phục kinh tế và phát triểnvăn hóa.

Thanh Chơng là mảnh đất mà có thành phần c dân đơn giản chủ yếu là ngờiKinh sinh sống Mặc dù vậy năm 1954 lợi dụng chính sách tập kết của chính phủ

ta, các thế lực phản động trong nớc đã mở chiến dịch dụ dỗ, cỡng ép đồng bàotheo đạo thiên chúa di c vào Nam Tuy không phải là địa bàn trọng điểm nhngThanh Chơng cũng là nơi tình hình diễn ra gay go, phức tạp nhất là ở những nơi

đông giáo dân nh Thanh Hòa, Thanh Tiên, Thanh Yên, Thanh Giang gây nêntình trạng bất ổn định ở các vùng đông giáo dân

Trớc tình đó Đảng bộ Thanh Chơng đã tập trung vào công tác vận động giáodân, tổ chức cho nhân dân học tập các chủ trơng, chính sách của Đảng, vạch trầnnhững luận điệu xuyên tạc của địch, kiên quyết trấn áp bọn phản động đội lốttôn giáo, vận động bà con giáo dân ở lại quê hơng làm ăn sinh sống Nhờ làm tốtcông tác tuyên truyền, vận động giáo dân, đấu tranh kiên quyết chống bọn phản

động, Thanh Chơng đã đẩy lùi đợc âm mu thâm độc của kẻ thù ổn định đợc tìnhhình các nơi đông giáo dân từ chỗ có hàng ngàn giáo dân ở các vùng làm đơnxin di c vào Nam, cuối cùng toàn huyện chỉ có 35 hộ, 168 giáo dân ở xứ TrungHoà xin di c

Một trong những trọng tâm của Đảng bộ Thanh Chơng trong thời kỳ này làlãnh đạo nhân dân khắc phục hậu quả lũ lụt, phục hồi kinh tế và phát triển vănhóa, giáo dục, y tế Đầu năm 1954 do hạn hán kéo dài nên việc sản xuất trongngành nông nghiệp ở Thanh Chơng bị ngừng trệ nghiêm trọng Hậu quả của đợthạn hán kéo dài cha khắc phục đợc thì đến tháng 9 năm 1954 Thanh Chơng lạiphải hứng chịu một trận lũ mang tính lịch sử Hậu quả hơn 15.000 mẫu/16.000mẫu lúa và hoa màu bị ngập, nhiều nhà cửa bị h hỏng, cuốn trôi, hàng chục ngời

Trang 21

năm 1954 dần dần đợc khắc phục Cùng với việc khôi phục kinh tế, Đảng bộThanh Chơng đã quan tâm phát triển văn hoá, xây dựng nếp sống mới Phongtrào bình dân học vụ đợc phát động nhằm thanh toán nạn mù chữ và nâng caotrình độ văn hoá của nhân dân

Thực hiện cơng lĩnh ruộng đất của Đảng, luật cải cách ruộng đất của Quốchội nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua ngày 04 tháng 12 năm 1953, chỉthị của liên khu uỷ IV, Ban thờng vụ Tỉnh uỷ Nghệ An Từ đầu tháng 1 năm

1956 đến tháng 6 năm 1956 Thanh Chơng thực hiện cải cách ruộng đất lần thứ V

đã đem lại kết quả trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trên mặt trận sản xuất, đã chiahàng nghìn mẫu ruộng cùng nhiều nhà cửa, trâu bò, nông cụ và lơng thực của địachủ cho nông dân Khẩu hiệu “ngời cày có ruộng” ớc mơ ngàn đời của nông dân

đã đợc thực hiện Nhng bên cạnh đó cuộc cải cách cũng phạm phải một số sailầm khuyết điểm nh quy sai thành phần, thiếu dân chủ Bớc sang năm 1958thực hiện nghị quyết của hội nghị trung ơng IV năm 1958 về việc cải tạo chủnghĩa xã hội và kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế văn hóa (1958 – 1960) Cùngvới các địa phơng khác trong tỉnh, Thanh Chơng bớc vào thời kỳ cải tạo quan hệsản xuất xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế, văn hóa

Năm 1958 năm đầu tiên của kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa, bớc đầu pháttriển kinh tế, văn hóa mặc dù gặp nhiều khó khăn nhất là ảnh hởng của những sailầm trong cải cách ruộng đất nhng nhân dân Thanh Chơng đã đạt đợc nhiềuthành tích trên tất cả các mặt:

Trên mặt trận sản xuất: toàn huyện đã tiến hành xây dựng củng cố phong trào

đổi công, phát triển hợp tác xã bớc đầu đạt kết quả 6 tháng đầu năm 1958 xâydựng đợc 1.630 tổ đổi công Tháng 2 năm 1959 toàn huyện xây dựng đựơc 2.100

tổ đổi công thu hút 80% số hộ nông dân tăng gấp 3 lần so với năm 1957 Điểnhình là các xã Thanh Cát, Thanh Bài, Thanh Văn, Thanh Lâm, Thanh Mĩ đã tổchức tốt phong trào đổi công Cuối năm 1958 huyện uỷ chỉ đạo xây dựng hợp tácxã nông nghiệp Đầu năm 1959 toàn huyện xây dựng đợc 29 hợp tác xã nôngnghiệp chiếm tỷ lệ 3,3% tổng số xóm Đến đầu năm 1959 đã có 348 hợp tác xãchiếm tỷ lệ 39,6% tổng số xóm trong đó có 6 hợp tác xã bậc cao bao gồm: Tùng

Trang 22

Sơn (Thanh Tài), Đình Long (Thanh Lam), Hoà Sơn, Hòa Nam (Thanh Hòa),Hùng Sơn (Thanh Bài) và Phú Xuân (Thanh Lơng).

Ngoài việc xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, Thanh Chơng còn phát triểnthêm hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng nhằm phục vụ cho việc giao lubuôn bán, phát triển nhanh về kinh tế của huyện Đa Thanh Chơng trở thành đơn

vị điển hình về phát triển kinh tế trong toàn tỉnh Chỉ tính riêng hợp tác xã tíndụng năm 1959 mỗi xã có một cơ sở gồm 251 tổ, 3.969 xã viên, toàn huyện huy

động đợc 21.808 đồng tiền gửi và vay ngân hàng 57.953 đồng để phục vụ sảnxuất Các hợp tác xã hoạt đông khá nh Thanh Tờng, Thanh Nam, Thanh Hòa,Thanh Bình, Thanh Tài

Về phát triển kinh tế: mặc dù gặp nhiều thiên tai hạn hán nhng sản xuất vẫntiếp tục phát triển Năm 1959 tổng sản lợng lơng thực tăng 6.847tấn so với năm

1958 Các biện pháp kĩ thuật liên hoàn đợc áp dụng vào sản xuất Các hợp tác xã

đạt năng xuất cao trong thời kỳ này nh Thanh Dơng, Thanh Hng, Thanh Cát.Một số hợp tác xã bắt đầu kinh doanh về chăn nuôi Đàn gia súc gia cầm pháttriển Công tác thu thuế thu nợ, thu mua nông sản đợc quan tâm, hàng năm đều

đạt chỉ tiêu

Nhờ sự phát triển vợt bậc của nền sản xuất, các ngành thủ công nghiệp và

th-ơng nghiệp có điều kiện cơ sở để duy trì và phát triển Đến cuối 1959 đầu 1960toàn huyện có tất cả 3.060 hộ trong đó 4.932 ngời làm 20 nghề thủ công lớn nhỏnh: mộc, nề, gạch ngói, đan lát phần lớn là bán chuyên nghiệp Đầu năm 1960

đã xây dựng đợc 3 hợp tác xã rèn, 1 hợp tác xã mộc, 1 hợp tác xã gạch ngói, 3hợp tác xã may mặc, 2 hợp tác xã kinh doanh thơng nghiệp

Công tác giáo dục – y tế: về giáo dục trên cơ sở căn bản hoàn thành việcdạy học xóa nạn mù chữ, các lớp bổ túc văn hóa nhằm phổ biến chơng trình cấp

I cho nhân dân và cán bộ đợc triển khai Năm học 1959 – 1960 tăng 75 lớp cấp

I với 4.282 học sinh, tăng 6 lớp cấp II với 412 học sinh Nhiều trờng học đợc tusửa, xây dựng, mỗi xã có ít nhất 1 trờng Bên cạnh trờng cấp II quốc lập còn có

hệ trờng cấp II t thục ở Thanh Bình, Thanh Văn, Thanh Lơng, Xuân Triều ở đâycòn có loại trờng phổ thông nông nghiệp để nâng cao trình độ văn hóa cho độingũ cán bộ trẻ Năm học 1960 – 1961 trờng cấp III đầu tiên đợc thành lập tại xã

Trang 23

Thanh Đồng, ban đầu mới thành lập trờng có 4 lớp 8 và 2 lớp 9.Về y tế ThanhChơng đã xây dựng đợc 24 trạm y tế dân lập Phong trào ăn sạch, uống sôi, ởsạch đợc phát động, các hủ tục lạc hậu giảm nhiều.

Qua 3 năm thực hiện kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa và bớc đầu phát triểnkinh tế văn hóa (1958 – 1960), Thanh Chơng cơ bản hoàn thành việc cải tạo xãhội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế, bớc đầu xây dựng các thành phầnkinh tế xã hội chủ nghĩa ở nông thôn Sự nghiệp văn hóa, xã hội cũng đạt nhiềuthành tựu quan trọng nhất là về giáo dục Những thành tựu này là động lực to lớn

để cho nhân dân Thanh Chơng bớc vào công cuộc xây dựng đất nớc với kế hoạch

5 năm lần thứ nhất (1961 –1965)

Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III năm 1960 và kếhoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) Thanh Chơng đã hăng hái thi đua sảnxuất Đây là kế hoạch dài hạn đầu tiên do đó đòi hỏi phải có sự phấn đấu rất caocủa nhân dân Trên thực tế nhân dân Thanh Chơng đã bắt tay vào việc thực hiện

kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và giành đợc nhiều thắng lợi to lớn

Trong công tác cải tiến và quản lý hợp tác xã: Thanh Chơng đã tăng cờngcủng cố hợp tác xã về mọi mặt, chuyển hợp tác xã bậc thấp lên bậc cao, bìnhquân mỗi hợp tác xã có 100 hộ xã viên Phần lớn t liệu sản xuất đã đa vào tập thểquản lý, nhiều hợp tác xã thực hiện “ba khoán” Bớc đầu các hợp tác xã đã ápdụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, hầu hết các hợp tác xã đều có chi bộ

Đảng, đội sản xuất có tổ Đảng lãnh đạo Việc tăng cờng quản lý hợp tác xã cũng

đợc chú trọng, qua 4 đợt thực hiện cải tiến quản lý, trình độ quản lý của cán bộhợp tác xã đợc nâng cao Số hợp tác xã “ba khoán” tăng từ 65% năm 1962 lên90% vào năm 1963 Quy mô hợp tác xã và đội sản xuất đợc điều chỉnh hợp lý,ban quản lý hợp tác xã đợc củng cố, kết nạp thêm 500 xã viên mới, đa số họ vàohợp tác xã lên 94,5%, thành lập mới 15 hợp tác xã ở các vùng khai hoang di dân,

đa số hợp tác xã bậc cao từ 17% lên 65%

Về sản xuất nông nghiệp: để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp Thanh Chơng

đã tiến hành khai hoang phục hóa mở mang diện tích canh tác với khẩu hiệu,

“biến đồi hoang thành bãi ngô, khoai, sắn, biến chân Trờng Sơn thành làng xóm”Thanh Chơng đã khai hoang 800 mẫu đất, xây dựng 12 nông trang với 200 hộ

Trang 24

lập làng xóm mới vào làm ăn tập thể Sản xuất đạt năng suất cao, trong vụ ĐôngXuân 1962 – 1963 gieo trồng hơn 7000 mẫu lúa, năng xuất lúa đạt 16tạ/ha Bớcsang năm 1963 – 1964 tổng sản lợng lơng thực quy thóc đạt 25.000 tấn năngxuất lúa đạt 19,18 tạ/ha, những địa phơng đạt năng suất cao nhất là Thanh Liên

21 tạ/ha, Thanh Ngọc 17 tạ/ha, Thanh Hà 20 tạ/ha

Việc sử dụng phân bón hóa học vào sản xuất trong năm 1963 tăng 47% sovới 1962, 10 lò vôi đợc xây dựng, hàng năm cung cấp gần 4.800 tấn vôi cho sảnxuất Việc nhân giống chọn giống cũng tiến bộ Đạt đợc những thành tựu nh vậytrong nông nghiệp là do nhân dân Thanh Chơng đã chú trọng vào công tác làmthuỷ lợi nh các đội thuỷ lợi đợc thành lập, tháng 9 năm 1964 toàn huyện có 192

đội với gần 2.300 ngời, 38 xã và 188 hợp tác xã trong huyện đã bớc đầu lập quyhoạch thuỷ lợi Đến cuối năm 1964 hoàn thành 36 công trình thuỷ lợi (27kmkênh mơng, 12km đê kè)

Trong giai đoạn này văn hóa đợc chú trọng phát triển, giáo dục phổ thông cóbớc tiến bộ vợt bậc, toàn huyện có 16.545 học sinh Chất lợng giáo dục đợc nânglên, phong trào thi đua học tập trờng Bắc Lý đợc phát triển Công tác bổ túc vănhóa đợc coi là công tác hàng đầu của ngành giáo dục, toàn huyện có 12.700 ngờitheo học lớp bổ túc văn hóa

Về an ninh chính trị và trật tự xã hội: an toàn xã hội đợc giữ vững, phong tràoquần chúng nhân dân bảo vệ an ninh Tổ quốc đợc phát động rộng rãi Phơng ánphòng chống gián điệp, biệt kích đã đợc xây dựng và triển khai tích cực Ngày

10 tháng 3 năm 1962 địch thả một toán biệt kích xuống vùng cao Vều, giáp giớixã Thanh Đức và huyện Anh Sơn hòng thâm nhập nội địa, gây cơ sở Quân dânThanh Chơng phát hiện và kịp thời vây bắt cả 4 tên thu vũ khí và trang bị củachúng Ngày 8 tháng 5 năm 1964 quân dân ta phát hiện một toán biệt kích nhảy

dù xuống khu rừng già xứ cây Dung thuộc xã Thanh Tùng Đợc sự giúp đỡ củatỉnh, sau hơn 10 ngày truy lùng quyết liệt, quân và dân Thanh Chơng đã bắt gọntoán biệt kích gồm 6 tên, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng của chúng.Bêncạnh đó Thanh Chơng còn chú trọng đến việc củng cố xây dựng, tổ chức lực l-ợng dân quân tự vệ, công an, tăng cờng xây dựng các trung đội mạnh, trung độicơ động, các trung đội dân quân

Trang 25

Sự phát triển của Thanh Chơng trong 10 năm (1954 – 1964) đã tạo ra nhữngnhân tố mới, chuẩn bị thế và lực vững vàng để bớc vào cuộc đọ sức gay go quyếtliệt với đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại, bảo vệ vững chắc quê hơng.Cùng với nhân dân miền Bắc, nhân dân Thanh Chơng đã làm tròn nhiệm vụ hậuphơng chi viện đầy đủ, kịp thời cho chiến trờng miền Nam.

Trang 26

Chơng 2: Thanh Chơng trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc mĩ (1965 1968).– 1968).

2.1 Tình hình chính trị xã hội, yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng đặt ra cho huyện Thanh Chơng:

Đến đầu năm 1965 chiến lợc “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ có nguy cơ bị phásản hoàn toàn, để cứu vãn tình thế chúng quyết định tăng cờng lực lợng quânviễn chinh cùng vũ khí và phơng tiện chiến tranh vào miền Nam Việt Nam nhằmthực thi chiến lợc “chiến tranh cục bộ” đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoạimiền Bắc nhằm cắt đứt nguồn chi viện của hậu phơng miền Bắc cho tiền tuyếnmiền Nam Khi áp dụng chiến lợc “chiến tranh cục bộ”, Mỹ hi vọng đè bẹp đợcphong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân yêu nớc miền Nam Việt Nam, nh-

ng Mỹ đã lầm chúng liên tiếp gặp thất bại còn nhân dân miền Nam tiếp tụcgiành đợc nhiều thắng lợi trên chiến trờng Trớc tình hình đó ngày 05 tháng 8năm 1965 bằng việc dựng lên sự kiện vịnh Bắc Bộ chúng bắt đầu đa máy bay,tàu chiến đánh phá ra miền Bắc với chiến dịch “sấm rền”

Sau hơn 10 năm hòa bình cùng với nhân dân miền Bắc, quân và dân Nghệ Anphải bớc vào cuộc chiến tranh mới với những nhiệm vụ mới Thanh Chơng làmột huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Nghệ An, là nơi có địa thế hiểmtrở, địa bàn chiến lợc quan trọng, có tuyến đờng 15A đi qua nối liền các huyện ởphía Tây với tỉnh lị Vinh là nơi chuyên chở lơng thực, thực phẩm, vũ khí đạn dợcchi viện cho chiến trờng miền Nam Nhận thấy tầm quan trọng đó ngay trong lần

đánh phá đầu tiên đế quốc Mỹ đã tiến hành bắn phá nơi đây rất ác liệt, nhiều xã

bị bắn phá một cách khốc liệt, các trung tâm của huyện, các khu vực đông dân ccủa Thanh Chơng cũng không nằm ngoài tầm ngắm của Mỹ Cùng với nhân dâncả nớc Thanh Chơng đã đứng lên chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hơng,tiếp tục chi viện cho chiến trờng miền Nam Khi tiến hành cuộc chiến tranh pháhoại miền Bắc đế quốc Mỹ tuyên bố: bằng không quân chúng ta có thể đạt đợcbất kỳ mục tiêu nào trên thế giới, dới làn ma đạn của Mỹ thì Bắc Việt khôngchọi nổi vài tuần

Trên thực tế tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, kẻ thù muốn dùngsức mạnh bạo tàn để bắt nhân dân ta khuất phục, để làm suy yếu hẳn miền Bắc,

Trang 27

khiến miền Bắc không thể tiếp tục chi viện cho miền Nam, nhằm chia cắt đất

n-ớc ta mãi mãi

Tiến hành cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc Mỹ đã huy động tất cả vũ khíchiến tranh hiện đại tối tân, tiến hành đánh phá suốt ngày đêm Chúng đánh phámiền Bắc với một khối lợng bom đạn khổng lồ với hi vọng không một sức mạnhnào chống lại nổi Tiến hành đánh phá miền Bắc đế quốc Mỹ tập trung đánh vàocác mục tiêu cơ bản, quan trọng có chọn lọc Bên cạnh đó chúng còn phong toảkhắp nơi gây cho ta những tổn thất lớn, đồng thời thủ đoạn chiến tranh tâm lýcũng đợc chúng ráo riết thực hiện bằng các phơng tiện thông tin đại chúng, chủyếu là phát sóng truyền thanh và kết hợp với máy bay rải truyền đơn khắp miềnBắc hòng đánh vào tâm lý ngời dân, xuyên tạc chủ trơng đờng lối của Đảng,hòng làm cho nhân dân ta giảm lòng tin đối với Đảng, ca ngợi sức mạnh quân sự

“bất khả xâm phạm” của Hoa Kỳ

Dùng tất cả những thủ đoạn trên rõ ràng Mĩ muốn nhân dân miền Bắc khuấtphục trớc “sức mạnh” Mỹ và đa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá Nhng Mỹ đã lầm,dới sự chỉ đạo và lãnh đạo kịp thời của Đảng, nhân dân miền Bắc nói chung vànhân dân Thanh Chơng nói riêng đã cùng nhau đoàn kết, chung sức chung lòngcùng nhân dân miền Nam từng bớc đánh bại giặc Mỹ

Cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân của Mỹ nhằm phá hoại miềnBắc đã làm cho tình hình nớc ta thay đổi, từ một nớc một nửa có chiến tranh,một nửa nớc có hoà bình biến thành cả nớc có chiến tranh với hình thức và mức

độ khác nhau ở mỗi miền Đứng trớc tình hình mới Ban chấp hành trung ơng

Đảng đã họp hội nghị lần thứ 11 (27/3/1965) và hội nghị lần thứ 12 (12/2/1965)khẳng định “quyết tâm đánh bại chiến tranh xâm lợc của đế quốc Mỹ trong bất

kỳ tình huống nào, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trongcả nớc tiến tới thực hiện hoà bình thống nhất nớc nhà” [21, 65], đồng thời chỉ rõnhiệm vụ cấp bách của miền Bắc lúc này là “phải ra sức xây dựng chủ nghĩa xãhội và tăng cờng lực lợng quốc phòng, kịp thời chuyển hớng nền kinh tế, ra sứctăng cờng phòng thủ trị an, bảo vệ miền Bắc, kiên quyết đánh bại kế hoạch némbom bắn phá, phong toả miền Bắc, ra sức chi viện cho cách mạng miền Nam”

Trang 28

[21,113] Phơng châm xây dựng và bảo vệ miền Bắc lúc này là “vừa xây dựngkinh tế – vừa chiến đấu”.

Trong tình hình và điều kiện cách mạng của cả nớc có sự thay đổi Ngày 21tháng 1 năm 1965 Tỉnh uỷ Nghệ An thông qua đề án “chuyển hớng xây dựngkinh tế 3 năm 1965 – 1967” Đề án nêu rõ “phát động cao trào quần chúngrộng rãi, nâng cao tinh thần phấn khởi cách mạng, phải hết sức coi trọng xâydựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, tiếp tục củng cố quan hệ sản xuất nôngnghiệp, tăng cờng tiềm lực quốc phòng, xây dựng hậu phơng xã hội chủ nghĩavững mạnh Sản xuất và chống chiến tranh phá hoại, tích cực góp phần vào sựnghiệp cách mạng của cả nớc” [19, 134] Tiếp đó ngày 27 tháng 2 năm 1965 Banthờng vụ của Tỉnh uỷ ra chỉ thị 05: “tăng cờng công tác t tởng và tổ chức , ra sứcchuẩn bị chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống”

Quán triệt đờng lối và những Nghị quyết, chủ trơng mới của Trung ơng

Đảng, Chính phủ và của Tỉnh uỷ, Đảng bộ huyện Thanh Chơng đã có những chủtrơng, biện pháp, kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân huyện Thanh Chơngkhẩn trơng chuyển hớng mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến, kết hợp sảnxuất và chiến đấu, góp phần cùng quân và dân toàn tỉnh và cả nớc chống chiếntranh phá hoại của đế quốc Mĩ, bảo vệ miền Bắc và làm tròn nghĩa vụ chi việncho miền Nam

Nhằm nâng cao nhận thức về nhiệm vụ mới cấp bách trớc mắt thực hiện chủtrơng của cấp trên, đầu năm 1965 huyện Uỷ đã tiến hành cuộc chỉnh huấn chínhtrị, học tập nghị quyết 11 của Trung ơng Đảng và các Nghị quyết của Tỉnh uỷ.Chuẩn bị điều kiện cần thiết để đấu tranh chống lại cuộc chiến tranh phá hoạicủa đế quốc Mỹ

2.2 Thanh Chơng trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ 1965 1969:

2.2.1 Trên mặt trận chiến đấu và phục vụ chiến đấu:

Trớc sự phá sản của chiến lợc “chiến tranh đặc biệt” Giôn Xơn nhanh chóng

đa ra kế hoạch mới, chiến lợc “chiến tranh cục bộ” với sự tham gia trực tiếp củaquân Mỹ trên chiến trờng miền Nam và tiến hành cuộc chiến tranh bằng không

Trang 29

quân và hải quân ra miền Bắc Nghệ An là một trong những địa điểm nằm trongtầm ngắm chiến lợc của đế quôc Mỹ Nơi đây đợc xem là “cổ họng” nối liềnmiền Bắc trong đó Thanh Chơng cũng đợc coi là một trong những địa bàn quantrọng, là hậu phơng, là cầu nối giữa các huyện miền Tây Nghệ An, nhằm tập hợpsức ngời, sức của chi viện cho miền Nam thông qua con đờng 15A xuống quốc

lộ 1A Nhận thấy đợc tầm quan trọng của mảnh đất Thanh Chơng nên ngay từ

đầu mới tiến hành chiến tranh ra miền Bắc, Mỹ không quên địa điểm này Từ khidựng lên sự kiện Vịnh Bắc Bộ, Mỹ đã chọn Nghệ An làm nơi rải bom ở loạt đầutiên vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 5 tháng 8 năm 1964 Đế quốc Mỹ mở cuộc tấncông “mũi tên xuyên” cho nhiều tốp máy bay phản lực ồ ạt đánh phá thành phốVinh, kho xăng dầu Bến Thuỷ và cảng Cửa Hội Quân dân Nghệ An đã anh dũngchống lại cuộc tấn công của Mỹ bắn rơi 1 trong 8 máy bay bị bắn rơi trên miềnBắc trong ngày 5 tháng 8 năm 1964

Ngày 15 tháng 3 năm 1965, từ 13 giờ đến 16 giờ, nhiều tốp máy bay Mỹ liêntục bắn phá nông trờng Tây Hiếu (Nghĩa Đàn), đờng 15A, cảng Bến Thuỷ,huyện Diễn Châu với lòng căm thù giặc cao độ, quân và dân Nghệ An đã chủ

động, dũng cảm đánh trả, kiên quyết bắt kẻ thù phải đền tội ngay từ loạt đạn đầutiên đã bắn rơi 3 máy bay của Mỹ Chiến thắng chiều 13 tháng 3 năm 1965 củaquân dân Nghệ An là thành tích đầu tiên của thời kỳ chuyển hớng mọi hoạt độngsang thời chiến

Ngày 19 tháng 3 năm 1965 giặc Mỹ đã huy động hàng trăm lần chiếc máybay ném bom, bắn phá ác liệt nhiều mục tiêu quan trọng ở đồi Dùng, đồi Rạnglàm 37 ngời chết, hàng chục ngời bị thơng, nhiều xí nghiệp kho tàng bị trúngbom

Sau ngày 19 tháng 3, địch liên tiếp cho máy bay ném bom đánh phá các côngtrình giao thông, thuỷ lợi, các cơ sở kinh tế công nông nghiệp và các trờng học,khu dân c nh Đông Trung (Thanh Đồng), Lam Hồng (Thanh Lam), Tờng Vinh( Thanh Tờng), Lơng Tiến (Thanh Lơng) gây nhiều tội ác đối với nhân dânThanh Chơng Hầu hết các xã trong huyện đều bị địch oanh tạc

Từ ngày 10 tháng 03 năm 1965 đến tháng 4 năm 1967 gần 1000 lần chiếcmáy bay đã xâm phạm bầu trời Thanh Chơng Trong thời gian hơn một năm

Trang 30

chúng đã ném xuống mảnh đất Thanh Chơng hàng ngàn tấn bom đạn đủ cácloại, gây ra biết bao đau thơng tang tóc cho nhân dân, tàn phá nặng nề cơ sở vậtchất, kỹ thuật, hủy hoại nhiều tài sản của nhân dân Riêng năm 1966 địch đã huy

động 1.665 lần tốp, 3.245 chiếc gồm đủ các loại máy bay nh: F115, F101, F8,A37, AĐ6 oanh tạc 367 lần ở 36/47 xã trong huyện, thả 1.310 quả bom sát th-

ơng, 23 quả bom Na-pan, 2.150 quả bom bi, bắn 649 quả rốc két làm 54 ngờichết, 37 ngời bị thơng, hàng trăm ngôi nhà bị h hỏng Ngày 26 tháng 4 năm

1968 máy bay Mỹ đã ném bom vào trờng học ở xã Thanh Xuân làm nhiều giáoviên và học sinh bị thiệt mạng

Trớc cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc

Mỹ gây ra đối với miền Bắc, chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân cả nớc

“chống Mỹ cứu nớc là nhiệm vụ thiêng liêng của mỗi ngời dân Việt Nam” Nhận

rõ sứ mệnh của mình cùng với sự chỉ đạo kịp thời, sáng tạo của Đảng bộ huyệnThanh Chơng quân và dân huyện Thanh Chơng đã nhanh chóng chuyển tất cảmọi hoạt động sang thời chiến

Trong cuộc chiến tranh này Mỹ sử dụng nhiều loại vũ khí tối tân hiện đại cósức công phá lớn, các máy bay, tàu chiến nh “thần sấm”, “con ma” chở một khốilợng lớn bom đạn trút xuống miền Bắc, đế quốc Mỹ đã từng rêu rao “sức mạnhkhông lực Hoa Kỳ” song trên bầu trời Thanh Chơng chúng bị đánh bại ở nhiềutrận Tiếp nối truyền thống chiến đấu của nhân dân toàn tỉnh, quân và dân ThanhChơng đã đứng lên đánh Mỹ bằng tất cả sức mạnh và trí tuệ của mình nhằm gópphần bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và làm trọn nghĩa vụ đối với miền Nam.Mọi ngời dân Thanh Chơng đều khắc sâu lời Bác “tất cả chúng ta hãy đoànkết triệu ngời nh một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lợc” với tấm lòng vì

độc lập, vì tự do của Tổ quốc, với quyết tâm sắt đá vì sự nghiệp giải phóng miềnNam ngay trong trận đầu tiên ngày 19 tháng 3 năm 1965 khi Mỹ huy động máybay ném bom xuống đồi Dùng và đồi Rạng làm 37 ngời bị chết và hàng chục ng-

ời bị thơng Với lòng căm thù giặc, mặc dù vũ khí còn thô sơ quân và dân ThanhChơng đã đánh trả quyết liệt các đợt tấn công của địch Trong trận này anhNguyễn Thế T tự vệ xí nghiệp “Quyết Thắng” đã cùng đồng đội chiến đấungoan cờng, dũng cảm và đã hi sinh anh dũng trong t thế đang cầm súng nhắm

Trang 31

thẳng quân thù Ngay sau khi địch bắn phá, Ban thờng vụ huyện Uỷ Thanh

Ch-ơng đã họp để bàn và quyết định những nhiệm vụ khẩn trCh-ơng trớc mắt Việcchôn cất những ngời chết và cấp cứu những ngời bị thơng đợc tiến hành kịp thời.Ngay trong đêm 19 tháng 3 năm 1965 quân và dân huyện Thanh Chơng đã khẩntrơng di chuyển 3.000 tấn lơng thực tại kho Vòm về các địa phơng an toàn trong

3 đêm liền sau đó Mặc dù vận chuyển vào ban đêm và trong một hoàn cảnh rất

bề bộn, nhng với ý thức tự giác cao độ của nhân dân, hàng ngàn tấn thóc của nhànớc đợc cất giữ cẩn thận Số lợng hao hụt không đáng kể

Ngày 29 tháng 8 năm 1965 quân và dân xã Thanh Khai đã phối hợp với bộ

đội chủ lực bắn rơi chiếc máy bay thứ 500 của giặc Mĩ Sau chiến công này,quân và dân ta đợc Uỷ ban thờng vụ Quốc hội và hội đồng chính phủ biểu dơng,nhiều cơ quan đơn vị, nhà máy xí nghiệp trong và ngoài tỉnh gửi th chúc mừngquân và dân huyện Thanh Chơng Ngày 27 tháng 10 năm 1965 đội dân quân trựcchiến xã Thanh Đồng đã góp phần bắn rơi một chiếc máy bay F150D, ngày 23tháng 4 năm 1966 quân và dân xã Thanh Hà đã phối hợp với bộ đội chủ lực bắnrơi một chiếc máy bay F105 của đế quốc Mỹ Nhiều tấm gơng chiến đấu dũngcảm đã xuất hiện nh dân quân các xã: Thanh Hng, Thanh Khai, Thanh Đức,Thanh Chung, Thanh Văn, Thanh Lam, Thanh Tiên, tự vệ xí nghiệp QuyếtThắng, tự vệ xí nghiệp gạch ngói Thanh Chơng Các chiến sĩ Nguyễn Thế T,Nguyễn Đức Độ đã chiến đấu kiên cờng, dũng cảm đến hơi thở cuối cùng ChịNguyễn Thị Hờng dân quân xã Thanh Lam với chiếc gậy trong tay đã dũng cảmxông vào bắt tên giặc lái Mỹ to lớn phải hạ vũ khí đầu hàng Bất chấp mọi hiểmnguy, bám trụ các trọng điểm suốt những tháng ngày chiến tranh ác liệt, vớinhững dụng cụ thô sơ, các đội rà phá bom mìn đã tháo gỡ an toàn hàng ngàn quảbom để thông đờng cho xe ra tiền tuyến và bảo vệ tính mạng của nhân dân Tổnữ dân quân xã Thanh Lĩnh do chị Phan Thị Nhị phụ trách trong tháng 7 vàtháng 8 năm 1967 đã phá 30 quả bom nổ chậm, 27 quả bom từ trờng Dũng sĩphá bom Nguyễn Đình Thuý (xã Thanh Ngọc) đã tháo gỡ, phá hơn 100 quả bom

nổ chậm trên tuyến đờng 15 và đi hớng dẫn rà phá bom cho các xã bạn trong cácvùng tả ngạn sông Lam

Cũng trong thời gian này 1.683 hộ dân với 7.657 nhân khẩu ở các vùng trọng

điểm nh: vùng Rạng, chợ Vĩnh, chợ Cồn, chợ Rộ đã đợc sơ tán Với khẩu hiệu

Trang 32

“thà đổ mồ hôi còn hơn đổ máu”, toàn huyện đã đào đắp hàng ngàn chục hầmtrú ẩn, trong đó có 1.000 hầm hai mái, cụ thể nhân dân Thanh Chơng đã đào đợc84.135 hầm cá nhân, 15.896 hầm gia đình (có 12.357 hầm Triều Tiên), 11.230hầm công cộng, 614.472 m hào giao thông, tổ chức 15 trận địa chiến đấu bảo vệmục tiêu, thành lập 101 tổ săn máy bay trong đó có 21 tổ thờng trực chiến đấu,

86 tủ thuốc phòng không, 310 tổ cứu sập hầm gồm 1.756 ngời và 15 tổ côngbinh rà phá mìn gồm 450 ngời Huyện Thanh Chơng đã thành lập 2 “trung độithép” để làm nhiệm vụ rà phá bom mìn tại các vùng trọng điểm nhất là đoạn đ-ờng qua núi Nguộc ở nhiều nơi đã kết hợp tốt giữa xây dựng làng chiến đấu vớicông tác làm giao thông thuỷ lợi Nhờ đó hạn chế đợc một phần tổn thất về ngời

và của, ngoài việc đánh phá bằng bom đạn đế quốc Mỹ còn thực hiện kiểu chiếntranh tâm lý bằng việc rải truyền đơn, gây hoang mang dao động trong nhân dânvới luận điệu “thơng lợng hoà bình” bịp bợm

Trớc âm mu thâm độc của kẻ thù nhân dân Thanh Chơng đã đồng sức đồnglòng cùng nhau chống lại mọi luận điệu bịp bợm của chúng tăng cờng khối đoànkết, chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Trong cuộc chiến đấuchống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, nhân dân và lực lợng

vũ trang Thanh Chơng đã góp phần bắn rơi, bắn bị thơng hàng chục máy bay,trong đó có chiếc máy bay thứ 500 và bắt sống hai tên giặc lái Mĩ

Khi đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc,Thanh Chơng trở thành một vùng hậu cứ quan trọng của tỉnh Nghệ An và Quânkhu IV Nhiều đơn vị bộ đội cơ quan xí nghiệp, trờng học, bệnh viện đã sơ tán vềThanh Chơng để tiếp tục chiến đấu, sản xuất và công tác Thanh Chơng vừa làchiến trờng trực tiếp chống lại các đợt tấn công của Mỹ vừa là hậu phơng an toàncho các cơ sở, cơ quan về sơ tán:

- Lữ đoàn công binh 249, trờng bắn, kho quân nhu, kho hóa chất củaQuân khu IV, đại đội 304 thanh niên xung phong đã sơ tán về xã Thanh Ngọc.Binh trạm 18 chuyển về xã Thanh Đồng

- Bệnh viện Quân khu IV sơ tán về các xã Thanh Cát, Thanh Bai

- Một số đơn vị thơng binh sơ tán về Thanh Nho, Thanh Liên, Thanh Mai

Trang 33

- Nhà máy in Nghệ An, nhà máy giấy Nghệ An chuyển về xã Thanh Liên.

- Nhà máy diêm, nhà máy phốt phát chuyển về xã Thanh Tiên

- Nhà máy đại tu ôtô B230 của Bộ giao thôngvận tải chuyển về xã Thanh

Đồng

- Xí nghiệp đóng tàu Cửa Hội chuyển về xã Thanh Tân

- Nhà máy gỗ Vinh chuyển về Thanh Hơng

- Một bộ phận nhà máy điện Vinh chuyển về xã Thanh Đồng

- Ty giáo dục Nghệ An, nhà máy in của quân đội, ty thơng nghiệp Nghệ

An chuyển về xã Thanh Trờng

- Liên hợp công đoàn Tỉnh Nghệ An, ty lao động Nghệ An chuyển về xãThanh Văn

- Nhà máy cơ khí Vinh chuyển về xã Thanh Hng, Thanh Đồng

- Công ty vận tải biển chuyển về Thanh Luân

- Trờng Đảng của tỉnh chuyển về các xã Thanh Lam, Thanh Long

- Đoàn văn công tỉnh Nghệ An chuyển về xã Thanh Ngọc

Sau khi sơ tán về Thanh Chơng một số cơ quan, đơn vị xí nghiệp còn dichuyển qua nhiều vùng nhiều xã Hầu nh xã nào, gia đình nào trong huyện cũng

có cán bộ, chiến sĩ, công nhân về sơ tán đến ở Mặc dù đời sống vật chất cònnhiều khó khăn nhng nhân dân Thanh Chơng đã hết lòng cu mang, đùm bọc cán

bộ, chiến sĩ về sơ tán nh những ngời yêu thơng nhất của mình, tạo mọi điều kiện

để các cơ quan, đơn vị xí nghiệp sớm ổn định nơi ăn, chốn ở tiếp tục sản xuất vàcông tác Trong những tháng năm chiến tranh ác liệt, nhân dân Thanh Chơng đãsẵn sàng nhờng nhà và nhiều tài sản quý giá của mình để các đơn vị quân đội,các cơ quan, xí nghiệp làm nơi ở, sinh hoạt và công tác Đồng thời đã bảo vệ antoàn tuyệt đối cho các cơ quan, đơn vị về sơ tán Cán bộ chiến sĩ về sơ tán đã cónhiều hoạt động thiết thực, góp phần đa phong trào cách mạng địa phơng khôngngừng tiến lên Từ đây Thanh Chơng vừa là nơi chiến đấu chống chiến tranh pháhoại của đế quốc Mỹ vừa là nơi sơ tán an toàn bí mật cho các cơ quan của tỉnhhoạt động có hiệu quả nhằm hỗ trợ vững chắc cho quân và dân miền Nam đánh

Trang 34

thắng chiến lợc “chiến tranh cục bộ”, quân dân miền Bắc đánh thắng cuộc chiếntranh phá hoại của giặc Mỹ xâm lợc.

Ngày 19 tháng 3 năm 1965 Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã phát độngphong trào “ba đảm đang chống Mỹ cứu nớc và xây dựng chủ nghĩa xã hội” H-ởng ứng phong trào “Ba đảm đang” nhân dân Thanh Chơng đã ra sức phát triểnsản xuất, hăng hái tham gia phong trào cách mạng chống Mỹ bảo vệ quê hơng,hàng ngàn thanh niên đã lên đờng nhập ngũ, làm dấy lên ở đây phong trào cáchmạng sôi nổi

Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, tinh thần yêu nớc cách mạngcủa nhân dân Thanh Chơng đợc phát huy cao độ Hàng ngàn gia đình sẵn sàngnhờng nhà mình cho bộ đội, thanh niên xung phong, cán bộ công nhân viên sơtán về ở Đồng thời sẵn sàng cống hiến, hy sinh những tài sản của gia đình mình

để phục vụ cuộc chiến đấu chống Mỹ Hàng ngàn thanh niên đã tình nguyện hiếnhàng ngàn đơn vị máu để cứu chữa chăm sóc thơng binh đang điều trị tại bệnhviện quân y Quân khu IV và cấp cứu thơng binh trên các trận địa Khẩu hiệu “tấtcả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lợc” đã trở thành hành độngcách mạng thờng ngày của quân và dân ta Trong 4 năm chống chiến tranh pháhoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965 – 1968), quân và dân huyện Thanh Ch-

ơng đã làm tốt công tác phòng, tránh, đánh địch Việc sơ tán nhân dân kết hợpchặt chẽ với việc di dân khai hoang và dãn dân để sản xuất

Tổng kết cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của dế quốc

Mỹ, toàn huyện có 607 cán bộ, chiến sĩ đợc tặng huy hiệu “5/8”, 506 cán bộchiến sĩ đợc tặng Bằng khen của Thủ tớng Chính phủ, Bộ t lệnh Quân khu IV vàcủa Uỷ ban hành chính tỉnh Nghệ An Toàn huyện đợc tặng thởng 30 Huân ch-

ơng các loại trong đó có 3 Huân chơng chiến công hạng Nhất, 6 Huân chơngchiến công hạng hai cho tập thể và cá nhân

Nh vậy trong suốt quá trình đánh phá miền Bắc lần thứ nhất, đế quốc Mỹ đãtrút xuống địa bàn Thanh Chơng hàng chục vạn tấn bom đạn, oanh tạc hàngnghìn chục trận, đánh phá nhiều nơi không từ bỏ bất cứ mục tiêu nào dù đó làbệnh viện hay trờng học, gây nhiều thiệt hại cho nhân dân ta Với lòng yêu nớcnồng nàn, bầu nhiệt huyết cách mạng toàn thể nhân dân Thanh Chơng quyết tâm

Trang 35

một lòng, một dạ chiến đấu và phục vụ chiến đấu, để giành lại hoà bình thốngnhất Tổ quốc Phát huy truyền thống cách mạng, quyết tâm sắt đá, tất cả vì miềnNam ruột thịt

Dới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Chơng nhân dân Thanh Chơng đã thànhlập các đội dân quân tự vệ địa phơng, phối hợp với bộ đội chủ lực quân khu xâydựng trận địa pháo cho hầu hết các xã ở trong huyện Nhờ quán triệt t tởng tinhthần chủ động sáng tạo trong chiến đấu, Thanh Chơng đã phát huy sức mạnh củacuộc chiến tranh nhân dân và t tởng chủ động tiến công địch, ra sức chăm lo,tăng cờng lực lợng của huyện về mọi mặt Nhờ vậy quân và dân Thanh Chơng đã

đánh thắng nhiều trận, tiêu diệt nhiều máy bay địch, bảo vệ an toàn cho quê hơngtạo điều kiện cho huyện phát triển sản xuất cùng với quân dân miền Bắc làm trònnghĩa vụ hậu phơng lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam đánh thắng kẻ thù xâmlợc

2.2.2 Trên mặt trận giao thông vận tải

Muốn nhanh chóng bình định, “san phẳng” Miền Nam, đế quốc Mỹ đã dùngtrăm phơng ngàn kế hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phơng Miền Bắc chochiến trờng miền Nam Sau những đợt rải thảm bom đạn xuống miền Bắc không

đem lại kết quả nh mong muốn Mỹ quyết định chuyển hớng đánh phá, chúngnhằm vào giao thông vận tải Đây là khâu quan trọng, là cầu nối giữa hai miềnNam - Bắc, bằng sức mạnh không quân, quân đội Mỹ đã tiền hành đánh phá ácliệt dã man hơn trớc, với khối lợng bom đạn khổng lồ chĩa vào các đầu mối giaothông, các tuyến đờng thuỷ bộ quan trọng nhằm ngăn chặn bớc tiến của xe cộ,tàu thuyền vận tải hàng chi viện từ miền Bắc vào miền Nam Bất cứ con đờngnào, cầu cống lớn nhỏ, thậm chí chiếc cầu tre nối liền hai thôn cũng nhiều lần bị

đánh tan Rõ ràng máy bay Mỹ không từ bỏ bất cứ mục tiêu nào

Nằm trong âm mu chuyển hớng đánh phá giao thông, ngăn chặn nguồn chiviện Nghệ An cũng nh Thanh Chơng là vùng trung chuyển hàng hóa, nhân, vậtlực, là nơi tập kết hàng chi viện, có vị trí nối liền hậu phơng với tiền tuyến Dovậy đây là nơi địch bắn phá ác liệt về giao thông vận tải địa bàn huyện ThanhChơng là nơi có các tuyến đờng giao thông quan trọng, tuyến đờng 15A nối liềncác huyện miền Tây Nghệ An với nhau và nối liền với thành phố Vinh nh các

Trang 36

huyện Anh Sơn, Đô Lơng, Tân Kỳ tuyến đờng 33 nối liền các xã trong toànhuyện với nhau, các tuyến đờng quan trọng nối liền huyện Thanh Chơng vớiNam Đàn, với Hơng Sơn (Hà Tĩnh), với Lào.

Nhận thức đợc tầm quan trọng của giao thông vận tải đối với công cuộc giảiphóng đất nớc đất nớc, thống nhất nớc nhà Nhận thấy âm mu và hành động của

Mỹ Sau khi đánh phá hầu hết các cầu lớn trên tuyến đờng bộ nh quốc lộ 1A,quốc lộ 7, đờng sắt, chúng liên tiếp đánh phá các cầu nhỏ còn lại trên các tuyếnquốc lộ, tỉnh lộ, thậm chí đánh phá cả các loại cầu cống trên các tuyến đờng liênhơng Địch kết hợp dùng hoả lực, không quân và đại bác của hải quân đánh mạnhvào các tuyến đờng bộ và khu dân c, chúng đánh đi đánh lại nhiều lần nhằm cắt

đứt mạch máu giao thông Bắc - Nam

Với quyết tâm phải đánh thắng địch, đảm bảo giao thông vận tải, hoàn thànhtốt nhiệm vụ chi viện cho các chiến trờng Ngày 25 tháng 3 năm 1965 Ban thờng

vụ Tỉnh uỷ họp bàn về công tác giao thông vận tải trong tình hình mới, chuyển ớng công tác đảm bảo giao thông vận tải thời chiến Nghị quyết nêu rõ: “phải bốtrí mạng lới giao thông toàn diện, xác định đúng mạch chính mạch phụ, tập trungmọi khả năng, quyết sinh tử với địch để bảo vệ cho đợc các tuyến đờng chủ yếu.Phát triển rộng rãi đờng nông thôn nối liền với mạch chính làm thế trận chiến l-

h-ợc, đảm bảo sự sống còn cho mạch máu giao thông thời chiến”

Để cụ thể hóa chủ trơng trên ngày 27 tháng 7 năm 1965 Uỷ ban hành chínhtỉnh quyết định thành lập “tổng đội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nớc”,với nhiệm vụ cơ bản là làm công tác đảm bảo giao thông vân tải Thực hiện chủtrơng của Đảng, nghị quyết của Tỉnh uỷ Nghệ An, nhân dân Thanh Chơng vớikhẩu hiệu “tay cày, tay súng”, “tay búa, tay súng”, “xe cha qua nhà không tiếc”,

“lấp Rào Gang, san Núi Nguộc, thông đờng cho xe ra chiến trờng chi viện”, đãchiến đấu quyết liệt để bảo vệ tài sản và tính mạng của nhân dân, bảo vệ sản xuấtlàm tròn nhiệm vụ chi viện cho chiến trờng lớn miền Nam, đảm bảo giao thôngthông suốt Hàng trăm đội cứu thơng, đội phá bom mìn, tổ chức chiến đấu đợcthành lập (gồm 12 tổ) Tại các vùng trọng điểm nh cầu Gang, núi Nguộc, đò Rộcác vị trí chiến lợc dọc đờng 15A, đại đội pháo 37 ly của lực lợng vũ tranghuyện, các trung đội trực chiến trên các trọng điểm và các tổ phòng không ở các

Trang 37

xã đã ngày đêm xông pha lửa đạn, đánh trả quyết liệt máy bay Mỹ, bảo vệ mụctiêu thông xe thông đờng trong mọi tình huống Lực lợng dân quân du kích đãphối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực trong chiến đấu, đóng góp hàng ngàn ngàycông kéo pháo vào trận địa, hàng ngàn gánh lá ngụy trang, bốc dỡ vận chuyểnhàng trăm tấn hàng, đạn dợc đảm bảo cho việc đánh thắng giặc Mỹ xâm lợc đồngthời bảo vệ đợc sự thông suốt trong công tác giao thông vận tải.

Tại Thanh Chơng “nút” giao thông quan trọng nhất là khu vực Rào Gang vànúi Nguộc ở đây đế quốc Mỹ đã đánh không biết bao nhiêu trận, thả xuống đâybao nhiêu bom đạn nhằm cắt đứt liên lạc, cắt đứt mạch máu giao thông giữa cáchuyện miền núi phía Tây với tỉnh lỵ Vinh Núi Nguộc,phà Rộ là nơi trọng điểm

đánh phá của Mỹ, trớc khi máy bay của Mỹ ra bắc đánh phá nơi đầu tiên chúng

đánh là đây.Và sau khi quay về số bom đạn không sử dụng hết chúng lại trútxuống nơi đây Máy bay Mỹ ném bom nhiều nh vậy bởi đây là nơi hiểm yếu,một bên là núi cao, một bên là vực sâu Núi Nguộc, phà Rộ trở thành “chốt’’giaothông quan trọng, mang tính sống còn trên toàn tuyến đờng 15A cho các chuyến

xe chở hàng chi viện cho chiến trờng miền Nam

Với khẩu hiệu vang dậy khắp mọi miền “địch phá ta sửa ta đi’’, “ địch lại phá

ta lại sửa’’.Nhờ vậy mà dới cuộc chiến đấu không cân sức của đế quốc Mỹ mạchmáu giao thông của huyện luôn thông suốt, các phơng tiện vận tải từ thô sơ, cơgiới đợc huy động tham gia vận chuyển hàng hoá một cách tích cực nhất

.Càng ngày địch đánh phá càng ác liệt, yêu cầu chi viện của chiến trờng ngàycàng lớn, công tác giao thông vận tải trở nên cấp bách.Ngày 15 tháng 9 năm

1965 Ban thờng vụ Tỉnh uỷ họp, kiểm điểm công tác đảm bảo giao thông vàvạch phơng hớng trong thời gian tới Hội nghị nêu quyết tâm “Tận lực khai thácmọi khả năng, phơng tiện sẵn có, tăng cờng mở rộng một số đờng tránh dù khókhăn ác liệt đến đâu cũng phải đảm bảo giao thông vận tải [28;155] Để đảm bảovận tải và để tránh địch, tỉnh chủ trơng chuyển hớng đóng thuyền pha sông biểnloại 10 tấn,thuyền sông 3 tấn Giao chỉ tiêu cho các huyện Yên Thành, Nam

Đàn, Thanh Chơng, Hng Nguyên sản xuất thêm thuyền nan, vật liệu do hợp tácxã mua bán cung cấp

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. BCH Đảng bộ và UBND huyện Thanh Chơng (1985): Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Thanh Chơng. [sơ khảo tập 1 (1930 – 1945). NXB Nghệ Tĩnh] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Thanh Chơng
Tác giả: BCH Đảng bộ và UBND huyện Thanh Chơng
Nhà XB: NXB Nghệ Tĩnh]
Năm: 1985
2. BCH Đảng bộ và UBND huyện Thanh Chơng (1995): Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chơng. Tập 2 (1945 – 1954). Nhà in Báo Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chơng
Tác giả: BCH Đảng bộ và UBND huyện Thanh Chơng
Năm: 1995
3. BCH Đảng bộ và UBND huyện Thanh Chơng: Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chơng (2000). Tập 3 (1954 – 1975). Nhà in Báo Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chơng (2000)
Tác giả: BCH Đảng bộ và UBND huyện Thanh Chơng: Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chơng
Năm: 2000
4. BCH Đảng bộ và UBND xã Xuân Tờng (1999): Lịch sử xã Xuân Tờng. NXB qu©n khu IV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử xã Xuân Tờng
Tác giả: BCH Đảng bộ và UBND xã Xuân Tờng
Nhà XB: NXB qu©n khu IV
Năm: 1999
5. BCH Đảng bộ và UBND xã Thanh Long (2004): Lịch sử xã Thanh Long. NXB qu©n khu IV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử xã Thanh Long
Tác giả: BCH Đảng bộ và UBND xã Thanh Long
Nhà XB: NXB qu©n khu IV
Năm: 2004
6. BNC và BS LS Đảng Nghệ An (1999): Lịch sử Đảng bộ Nghệ An. Tập 2 (1954 – 1975). NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Nghệ An
Tác giả: BNC và BS LS Đảng Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1999
7. BNC và BS LS Đảng Nghệ An (1995): Sự kiện lịch sử Đảng bộ Nghệ An (1954 – 1975). NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự kiện lịch sử Đảng bộ Nghệ An
Tác giả: BNC và BS LS Đảng Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1995
8. BNC và BSLS Đảng Nghệ An (1993): Nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ Nghệ An (1930 1992). Sơ thảo. NXB Nghệ An. – Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ Nghệ An (1930 1992). Sơ thảo. NXB Nghệ An
Tác giả: BNC và BSLS Đảng Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An."–
Năm: 1993
9. Ban liên lạc đồng hơng Thanh Chơng tại thành phố Vinh (2000): Với quê hơng. NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Với quê hơng
Tác giả: Ban liên lạc đồng hơng Thanh Chơng tại thành phố Vinh
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2000
12. Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh: Nghệ An lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ – cứu nớc (1954 – 1975) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ"–"cứu nớc
13. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc vĩ đại. NXB sự thật Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc vĩ đại
Nhà XB: NXB sự thật Hà Nội 1995
16. Lịch sử Nghệ Tĩnh. NXB Nghệ Tĩnh năm 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ Tĩnh năm 1984
17. Nghệ Tĩnh hôm nay và hôm qua. NXB sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ Tĩnh hôm nay và hôm qua
Nhà XB: NXB sự thật
18. Trần Duy Ngoãn (2000): Với quê hơng. NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Với quê hơng
Tác giả: Trần Duy Ngoãn
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2000
19. Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc và bài học. NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc và bài học
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
20. Luận văn: Thanh Chơng trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 1931 – . 21. Luận văn thạc sĩ: Truyền thống lịch sử và văn hóa làng Võ Liệt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Chơng trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 1931"– .21. Luận văn thạc sĩ
22. Luận văn: Quỳnh Lu trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965 1973). – Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỳnh Lu trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965 1973)
10. Báo cáo tổng kết của UBND huyện Thanh Chơng nhiệm kỳ (1967 – 1969). Tài liệu đánh máy. Lu tại văn phòng UBND huyện Thanh Chơng Khác
11. Báo cáo tổng kết của UBND huyện Thanh Chơng nhiệm kỳ (1972 – 1973). Tài liệu đánh máy. Lu tại văn phòng UBND huyện Thanh Chơng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w