Vì tác hại của NO3- nh vậy nên ngời ta xem hàm lợng NO3- nh là mộtchỉ tiêu đánh giá chất lợng nông sản nói chung và chất lợng rau quả nóiriêng.Hiện nay trên thế giới cũng nh Việt Nam các
Trang 1điều kiện thuận lợi cũng nh góp nhiều ý kiến quý báu, giúp tôi hoàn thànhluận văn Quá trình thực hiện luận văn, tôi còn nhận đợc sự giúp đỡ, độngviên của bạn bè và ngời thân Tôi xin trân trọng cảm ơn.
Mặc dầu, bản thân đã có nhiều cố gắng nhng chắc chắn luận văn sẽkhông tránh khỏi sai sót Kính mong các thầy giáo, cô giáo và bạn bè chỉdẫn
Vinh, tháng 05 năm 2003
Tác giả:
Hồ Thị Huệ
Trang 2Đặt vấn đề
Sự "bùng nổ" dân số trên hành tinh chúng ta, nhất là trong nhữngthập niên gần đây, đã đặt ra cho các quốc gia trớc nhu cầu cấp thiết phải
đảm bảo không ngừng tăng cờng sản xuất lơng thực, thực phẩm
Những thực phẩm quan trọng và không thể thiếu đợc trong khẩu phầndinh dữơng của con ngời - đó chính là rau Rau là cây trồng quan trọngcho giá trị dinh dỡng cao, giàu vitamin và muối khoáng Theo sự phát triểncủa đời sống và xã hội nhiều nhà dinh dỡng học Việt Nam và trên thế giới
đã nghiên cứu khẩu phần ăn, theo thế giới là 2.600 Calo / ngời /ngày ( nữ2.200, nam 3.000 ) với ngời Việt Nam, tính ra một ngày chúng ta cần 1300
- 1500 calo năng lợng để sống và hoạt động, trong đó nhu cầu rau hàngngày phải có 250 - 300 g Rau là một loại cây trồng tạo tiềm năng năng l-ợng và là nguồn vitamin thiết yếu cho sự sống của con ngời đồng thời đemlại giá trị và hiệu quả kinh tế cao trong đời sống; Vì vậy mà lợi nhuận sảnxuất rau thờng cao hơn so với nhiều cây trồng khác Đối với nớc ta khi cánhcửa kinh tế thị trờng đợc mở thì vì lợi nhuận mà những ngời sản xuất rau cónhững hành động cha thật đúng "lơng tâm" Điều này thể hiện ở việc sửdụng quá tải một lợng phân bón hoá học; đặc biệt là phân đạm và nhất làsau thời gian bón phân cha đủ quy định đã thu hoạch Hậu quả trên dẫn đếntích luỹ nhiều NO3- trong đất và rau
NO3- là một ion rất độc, nó có tác hại rất lớn đối với sức khoẻ con
ng-ời nh gây bệnh Methaemogobinaemia ở trẻ em dới 10 tuổi, bệnh ung th dạdày Ngời ta đã coi NO3- là "quả bom nổ chậm" có thể nổ bất cứ lúc nào
Vì tác hại của NO3- nh vậy nên ngời ta xem hàm lợng NO3- nh là mộtchỉ tiêu đánh giá chất lợng nông sản nói chung và chất lợng rau quả nóiriêng.Hiện nay trên thế giới cũng nh Việt Nam các công trình nghiên cứu
về hàm lợng NO3- trong rau rất ít và hạn chế Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài
"Thăm dò hàm lợng NO 3 - trong một số loại rau trên thị trờng và đặc
điểm ở vài địa phơng sản xuất rau cung cấp cho thành phố Vinh".
Vấn đề đặt ra là nội dung nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn và khárộng Đáng tiếc vì thời gian nghiên cứu quá ngắn ( 3 tháng) và trang thiết bịhiện tại của phòng thí nghiệm còn hạn chế nên để tài chỉ tập trung mộtsốvấn đề:
1 Nghiên cứu một số tính chất đất của 2 địa điểm trồng rau cung cấpcho thành phố Vinh là Hng Đông (TP Vinh) và Quỳnh Lơng (Quỳnh Lu)
2 Chỉ phân tích hàm lợng NO3- trong đất và rau (xà lách, cải bắp)theo pha thời gian ở 2 địa điểm sản xuất trên
Trang 33 Thăm dò hàm lợng NO3-trong một số loại rau đang lu hành ở thị ờng TP Vinh (cải bắp, củ cải, da chuột, cà chua, hành lá)
tr-Hy vọng những kết quả thu đợc sẽ cung cấp những thông tin khoahọc ban đầu bổ ích góp phần bảo vệ sức khoẻ con ngời, đồng thời tạo tiền
đề cho những nghiên cứu tiếp nối, tiến tới xây dựng tiêu chuẩn rau an toàn
Trang 4P hần thứ nhất : Khái quát vấn đề nghiên cứu 1.1 Tình hình ô nhiễm môi trờng đất trên thế giới và Việt Nam.
1.1.1 Tình hình ô nhiễm môi trờng đất trên thế giới.
Đất là vật thể thiên nhiên đợc hình thành do sự tác động đồng thời,tổng hợp của 5 yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian(Docutraep, 1879) sau này đợc bổ sung thêm một yếu tố quan trọng là conngời Đất là vật thể sống hoạt động nh một hệ sinh thái, thậm chí còn là vậtmang ( Carieer) của tất cả các hệ sinh thái trên cạn và dới nớc Do vậy đểcác hệ sinh thái khác bền vững và đạt năng suất cao thì trớc hết vật mangphải bền vững Trên quan điểm đó đất là tài nguyên đặc biệt, tài sản cố địnhlớn nhất của xã hội; là đối tợng lao động độc đáo và là t liệu sản xuất đặcbiệt, xét về mặt nông nghiệp Vai trò chức năng của đất là nơi sinh sống củacon ngời và sinh vật ở cạn, là nền móng địa bàn cho mọi hoạt động sống(sản xuất công - nông nghiệp; các công trình xây dựng ) là nơi tạo ra môitrờng sống cho mọi sinh vật trên Trái Đất bằng cách điều hoà đất, nớc, khíquyển, rừng Trong tổng số diện tích 148 triệu km2 (14,8 x 109 ha) đất trênhành tinh (theo FAO - UNESCO) Diện tích đất nông nghiệp chiếm 10 %( xấp xỉ 1500 triệu ha) song lại phân bố không đều ở các quốc gia và thờng
bị giảm sút do nhiều nguyên nhân Hàng năm, 30% diện đất có nớc tới bịnhiễm mặn thứ cấp; 6 - 7 triệu ha đất bị xói mòn, 1,5 triệu ha đất bị úng,chua mặn không có khả năng sản xuất tiếp tục Đồng thời hàng triệu ha đất
bị đô thị hoá mà những đất này nói chung thuộc loại đất tốt.Trung Quốcmỗi năm mất một triệu ha đất nông nghiệp do đô thị hoá, ở Mỹ sự bành tr-ớng của các đô thị hàng năm mất khoảng 400.000 ha đất nông nghiệp [24].Theo Naythun (1982) thì năm 1970, 1 ha đất canh tác đợc sử dụng bởi 2,6ngời còn năm 2000 là 4 ngời/ha [5].Theo Liên Hợp Quốc diện tích bìnhquân đầu ngừơi trên toàn thế giới năm 1983 là 0,31 ha/ngời, năm 1993giảm còn 0,26 ha/ngời và con số đó sẽ không dừng lại Nh vậy con ngời đãkhai thác quá mức và cũng thải bỏ vào đất nhiều chất độc hại, dẫn đến ônhiễm môi trờng đất trầm trọng Tác nhân ô nhiễm môi trờng đất chủ yếulà: tác nhân hoá học, tác nhân vật lý, tác nhân sinh học [5] Qua thống kê ởAnh ngời ta thấy có 300 vùng bị ô nhiễm với diện tích 100.000 ha Tuynhiên, trên thực tế có đến 50.000 - 100.000 vùng với diện tích 1 000.000 ha(Bridges 1991) ở Mỹ có 25.000 vùng và Hà Lan có 6.000 vùng đất bị ônhiễm [12]
Trang 5Việc tăng cờng sử dụng hoá chất trong nông nghiệp có tác độngmạnh mẽ đối với môi trờng đất Theo số liệu của FAO (1981) thì việc sửdụng phân hoá học (1961 - 1978) đã tăng từ 17 kg - 40 kg/ha ở các nớcphát triển và 2 -9kg/ha ở các nớc đang phát triển Sản lợng phân bón hoáhọc trung bình tăng khoảng 2 triệu tấn/năm Ngời ta ớc tính chỉ khoảng 50
% Nitơ bón vào đất đợc cây hấp thụ,số còn lại tồn đọng trong đất và rất dễ
là nguồn gây ô nhiễm [5] Hiện nay việc sử dụng quá tải thuốc trừ sâu trongnông nghiệp làm ô nhiễm môi trờng đất trầm trọng và ảnh hởng xấu đến sứckhoẻ con ngời Tính ra trên thế giới đã sử dụng khoảng trên 1000 hợp chấthoá học vào nông nghiệp, một số thuốc trừ sâu trớc đây đợc sử dụng rấtnhiều nh DDT, đây là loại thuốc0 rất bền với môi trờng vì vậy tính độc hạicủa nó cao và kéo dài [5].Theo Lichtenstein (1961) thì một năm sau khiphun DDT d lợng còn 80%; Lin dan còn 60 % và Aldrin còn 20% Sau 3năm DDT còn 50%; Aldrin còn 5% Một số tác giả thấy Clo hữu cơ tồn dtrong đất từ 4 - 15 năm; Cacbamit từ 1- 2 năm [27].Theo Barker (1958) ở tr-ờng Đại học tổng hợp Illionis và một số nhà khoa học khác ở trờng Đại họcMichigan (Mỹ) đã thấy chim chết hàng loạt ở rừng cây du do phun thuốcDDT Giun đất ăn những lá rụng bị nhiễm thuốc và chim ăn giun cũng chếtvì nhiễm DDT Nh vậy DDT phun cho cây trồng làm ô nhiễm môi trờng đấtrất nhanh và dễ dàng sau đó là động vật đất, chim và ngời [24]
Các chất thải công nghiệp và các chất thải sinh hoạt cũng thờng chứanhững sản phẩm độc hại ở dạng hoà tan và dạng rắn Tính chung trên toànthế giới mỗi ngời thải khoảng 600kg /năm, ở các nớc phát triển số lợng nàycòn cao hơn nhiều Nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh sự thải bỏ cácchất rắn tạo nên nguồn gây ô nhiễm trầm trọng cho đất Khoảng 50% chấtthải công nghiệp là ở dạng rắn, trong đó có 15% là gây độc hại Các chấtrắn chiếm tỷ trọng rất lớn, nh New York mỗi ngày cần 2500 chuyến xe tải
để chở rác (tơng đơng 25.000 tấn) Thành phần rác thải cũng thay đổi tuỳtừng địa phơng (bảng 1) [5]
Bảng 1: Thành phần rác thải gia đình tại các thành phố khác nhau (%)
Loại rác Rome Minalo Sanpaolo Oslo Califormia
Trang 6Những nghiên cứu trong đất Thụy Điển cho thấy thời gian từ 1949
-1954, pH của đất giảm từ 0,5 - 0,7 đơn vị do ma a xít và do chất thải côngnghiệp [27] Điều đáng lo ngại là các phế thải công nghiệp thờng làm ônhiễm đất bởi kim loại nặng và hoá chất Theo Thomas (1986) cho rằng Cd
sẽ tăng gấp đôi ( 0,6 ppm ) vào năm 2000 Còn Foerster (1986) cho biết đất
ở Thụy Sĩ có thể đạt tới 3 ppm vào 20 - 30 năm tới [28] Và qua điều tra chothấy hàm lợng các nguyên tố kim loại nặng trong rãnh bùn nớc cống đô thị(bảng 2) [7]
Bảng 2: Hàm lợng các nguyên tố kim loại nặng trong rãnh bùn nớc cống đô thị (mg/kg chất khô).
Bảng 3: Ngỡng cho phép (MAC) của các kim loại nặng đợc xem là
độc trong các đất nông nghiệp (ppm)
Nguồn: Ellis S - Pendias & Pendias 1992
Bảng 4: Tình hình nhiễm giun đũa một số nớc trên thế giới (%) [12]
Trang 7Châu Phi 95
-Ngoài ra, đất còn bị ô nhiễm do nhiệt và chất thải từ các xí nghiệp, nhà máysản xuất công nghiệp
1.1.2 Tình hình ô nhiễm môi trờng đất ở Việt Nam
ở Việt Nam trong những năm gần đây tình hình ô nhiễm môi trờng
đất cũng trở nên trầm trọng do nhiều nguyên nhân Đáng chú ý là lợng chấtthải hàng ngày ở Việt Nam khoảng 20.000 tấn rác thải trong đó chất thảicông nghiệp là 10.162 tấn, thải bệnh viện là 212 tấn, thải sinh hoạt là 8.941tấn Riêng thành phố Hà Nội có 20 bệnh viện mỗi ngày thải 11 tấn và hàngtrăm khối mét nớc [16].ở thành phố Vinh 1997, mỗi ngày thải khoảng126,15 tấn chất thải và thành phần các chất thải (bảng 5) [23]
Bảng 5: Thành phần chất thải rắn (%)
Thành phần Thấp nhất Cao nhất Trung bình
đợc 120 tấn/ngày số rác còn lại đổ tùy tiện nhiều nơi trên thành phố gây ônhiễm môi trờng [21] Tính trung bình năm 1986 - 1998 lợng chất thải rắnbình quân ở các thành phố lớn từ 0,6 - 0,8 kg/ ngời/ngày, ở các thành phốcòn lại và các thị xã từ 0,3 - 0,5 kg/ ngời/ ngày Tổng cộng chất thải phátsinh và tỷ lệ thu gom từ 1997 - 1999 (bảng 6) [9]
Bảng 6: Lợng chất thải phát sinh và tỷ lệ thu gom trên toàn quốc từ 1997 1999.Nguồn trạm quan trắc môi trờng quốc gia
-Loại chất thải 1997 Lợng phát sinh tấn/ngày 1998 1999 1997 Tỷ lệ thu gom 1998 1999
Chất thảI sinh hoạt 14.525 16.559 18.879 55 68 75
Trang 8Thải công nghiệp độc hại 1.930 2.200 2.500 98 50 60
ở Việt Nam hiện nay, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật rất nhiềutrong đó thuốc trừ sâu là tác nhân số một gây ô nhiễm môi trờng đất và ảnhhởng lớn đến sức khoẻ con ngời Những năm cuối thập kỷ 80, thuốc bảo vệthực vật đợc sử dụng là 10.000 tấn /năm sang thập kỷ 90: tăng gấp đôi vàonăm 1991 (21.400 tấn) và tăng gấp 3 vào năm 1994 Nhng thực tế cho thấynông dân sử dụng thuốc trừ sâu còn cao hơn nhều [19]
Trong chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đế quốc Mỹ đã sử dụng nhiềuloại thuốc trừ sâu, diệt cỏ nh: 2,4D; 2,4, 5T và đáng chú ý nhất là lợng chất
độc màu da cam mà Mỹ đã thả xuống diện tích 1 triệu 700 ha Theo số liệumới nhất của chính phủ Hoa Kỳ công bố ( thời sự đài truyền hình Việt Namngày 17/4/2003) thì trong chiến tranh Việt Nam - Mỹ đã thả 100 triệu lítchất độc màu da cam (không phải 70 triệu lít nh chính phủ Việt Nam côngbố) lên đất miền Nam với hàm lợng Diôxin tăng gấp đôi Khoảng 190 kg
Điôxin, những chất độc hại này ảnh hởng rất lớn đến con ngời nh: ung th,quái thai, tê liệt thần kinh Ngoài ra các hoá chất này còn làm cho đất đaigiảm độ phì, gây xói mòn, diệt cây cối, sinh vật trong đất làm giảm chứcnăng sản xuất của đất [1]
ở Việt Nam nhìn chung tình hình ô nhiễm đất bởi kim loại nặng khôngphổ biến, tuy nhiên trờng hợp cục bộ gần khu công nghiệp tình trạng ônhiễm kim loại nặng diễn ra trầm trọng Qua nghiên cứu của bộ môn thổnhỡng môi trờng (Trờng đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội) cho thấy hàmlợng Pb rất cao, vợt quá mức cho phép (bảng 7) ở xã Chỉ Đạo - Mỹ Văn -Hng Yên [9]
Bảng 7: Hàm lợng Pb trong đất và bùn ở xã Chỉ Đạo
Mẫu bùn trong ao chứa nớc thải phá ắc quy 2166.0
(Hàm lợng Pb> 100 ppm đợc đánh giá là đất bị ô nhiễm)
Kết quả phân tích hàm lợng kim loại nặng độc hại trong nớc tới rau ởBạch Mai - Từ Liêm - Hà Nội cho thấy có các kim loại nặng (Pb, As, Hg,Cu) và đặc biệt hàm lợng As rất cao ( 0,022 - 0,045 ppm) [9] Nghiên cứucủa viện hạt nhân Việt Nam năm 1998 cho thấy hàm lợng Hg trong tóc của
Trang 9Theo Nguyễn Quốc Trân(1981) Cho thấy một số nguồn nớc Hà Nội
có hoạt động phóng xạ vào khoảng 0,1 - 1,0 pci / lít Và qua điều tra của
Lê Văn Khoa và Nguyễn Xuân Cự (1991) ở khu vực nhà máy nhiệt điện Phả Lạicho thấy có ảnh hởng của phóng xạ nhng cha vợt mức cho phép [4]
Hiện nay, các vùng nông thôn miền Bắc có tập quán sử dụng phânbắc và phân chuồng tơi trong canh tác vẫn còn phổ biến Chỉ tính riêngtrong nội thành Hà Nội hàng năm lợng phân bắc thải ra khoảng 550 nghìntấn, trong khi đó Công ty môi trờng đô thị chỉ đảm bảo thu đợc 1/3; còn lạinông dân chuyên chở về bón cho cây trồng, làm mất vệ sinh và gây ô nhiễmmôi trờng đất [9] Xét nghiệm luống đất trồng rau tại Mai Dịch -Từ Liêm vàLong Biên - Gia Lâm cho thấy mật độ trứng giun đũa và giun móc khá cao(450 trứng/kg đất) và lợng vi khuẩn gây bệnh (2,6 triệu vi khuẩn/1g đất)[9].Theo điều tra của viện thổ nhỡng nông hoá (1993 - 1994) tại một sốvùng trồng rau nông dân chủ yếu sử dụng phân bắc tơi Do vậy trong một lítnớc mơng máng khu vực trồng rau có tới 360 E.coli, ở giếng nớc công cộng
là 20 và trong đất lên tơi 2.105 / 100g đất Chính vì vậy kết quả điều tra sứckhoẻ của 87,6 % ngời trồng rau thờng xuyên sử dụng phân bắc trên 20 nămthì 53,3% số ngời điều tra có triệu chứng thiếu máu, 60% số ngời bị mắcbệnh ngoài da [9] Theo Đỗ Dơng Thái tình hình nhiễm giun móc ở ViệtNam ở một số vùng nh sau (%) [12]:
Vùng mỏ: 58% Vùng nông nghiệp: 35,2%
Nh vậy ta thấy rằng tình hình ô nhiễm môi trờng đất trên thế giớicũng nh Việt Nam ngày càng trở nên trầm trọng làm ảnh hởng rất lớn đếnchất lợng lơng thực thực phẩm cũng nh sức khoẻ con ngời Do đó vấn đề đặt
ra cho các quốc gia phải có những biện pháp kịp thời hữu hiệu để khắc phục
và ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trờng
1.2 Tình hình sử dụng phân hoá học trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sử dụng phân hoá học trên thế giới.
Phân bón là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất cây trồng vànhất là hiện nay phải sản xuất số lợng lớn lơng thực, thực phẩm để đáp ứngnhu cầu an ninh lơng thực thực phẩm, và giảm nghèo đói Vì vậy mà trongnhững năm qua sức tiêu thụ phân bón hoá học tăng lên rất nhanh (bảng 8)[6,19]
Bảng 8: Tình hình tiêu thụ phân hoá học trên thế giới (triệu tấn)
(1973 - 2000)
Trang 10Song song với việc tiêu thụ phân bón tăng thì việc bón phân cho một ha
đất canh tác cũng tăng lên rõ rệt [2]
1973/ 1983 1 ha (bình quân toàn thế giới) tăng
ha với tỷ lệ 1: 0,36: 0,12 Tổng NPK sử dụng của các nớc đang phát triểnchỉ bằng 44,5% tổng NPK của các nớc phát triển Nhìn chung các nớc pháttriển lợng phân bón cho 1 ha cao và tỷ lệ cân đối hơn
Trong thập kỷ qua, ngay trong cả tỷ lệ sản xuất các loại phân cũng có
sự thay đổi Đối với phân đạm: tỷ lệ phân Urê chiếm hơn 38%, Amôniắcchiếm 22%, phân phức hợp (có N) tăng 19%, Amônsunphát chiếm 5% Đốivới phân lân thì phân lân phức hợp tăng vọt chiếm 60% tổng số, super lânkép chiếm 20%, Super lân đơn giản chiếm 12% [2]
Theo số liệu của FAO về nhu cầu ăn của thế giới so với năm 1960 thìnăm 1980 phải tăng 75% và năm 2000 tăng 168% Vai trò quyết định đểtăng nguồn vật chất, lơng thực và thực phẩm là phân khoáng Tính toán sơ
bộ năm 2000 sản xuất phân bón thế giới đã đạt 30 triệu tấn, trong đó đạm là
1700 triệu tấn, P2O5 là 700 triệu tấn, K2O là 600 triệu tấn.[6]
Theo Samuel L Tisdale (1990) thì lợng NPK sử dụng 1 số ở một sốnớc trên thế giới (bảng 9) [2]
Trang 11ở châu á có nhịp độ sử dụng phân hóa học lớn nhất từ 17 triệu tấn,năm 1975 tăng lên 59 triệu tấn Hiện nay trung Quốc là nớc sản xuất, tiêuthụ phân đạm lớn nhất thế giới, đứng thứ nhì về tiêu thụ và đứng thứ ba vềsản xuất phân lân ấn Độ 1960 mới sử dụng 290.000 tấn NPK nhng năm
1981 đã sử dụng 5,5 triệu tấn.Thái Lan năm 1980, mới sử dụng 275.100 tấnNPK thì năm 1990 tăng lên 1.043.800 tấn [6]
Liều lợng NPK bón cho một ha ở các nớc đang phát triển và pháttriển từ năm 1992-1993 (Bảng 10) [6]
và sa mạc hoá Hiện nay trên thế giới vẫn còn 800 triệu ngời đói ăn, hơn 3
tỷ ngời sống trong cảnh nghèo đói ( mỗi ngời < 2 USD/ngày); 1,2 tỷ ngờisống < 1,2 USD/ ngày Trong số 4,4 tỷ ngời ở các nớc đang phát triển thì60% thiếu điều kiện vệ sinh cơ bản, gần 1/3 không đợc dùng nớc sạch, 1/4thiếu điều kiện nhà ở tơm tất, 20% không đợc tiếp xúc với dịch vụ y tế hiện
đại, 20% trẻ em không đợc học hết lớp 5 [24]
1.2.2 Tình hình sử dụng phân hóa học ở Việt Nam.
Việc sử dụng phân hóa học ở nớc ta ngày một gia tăng qua các giai
đoạn [6] Cụ thể:
Trang 12- Giai đoạn 1961-1970: Giai đoạn này việc sử dụng phân hoá học chacao Tổng NPK bón cho một ha đất canh tác là 50 kg nguyên chất.
- Giai đoạn 1971-1975: Giai đoạn này sử dụng phân hoá học quánhiều Tổng NPK bón cho lúa trên một ha canh tác là 50 kg nguyên chấttrong đó đạm bình quân bón đến 38 kg N,hiệu quả phân bón trong thời kỳnày quá cao, nhất là đạm, hiệu suất phân đạm từ 10-15 kg thóc
- Giai đoạn 1976-1980: Là giai đoạn chuyển tiếp số lợng phânkhoáng tuy không giảm, song phải phục vụ cho toàn quốc nên lợng phânbón bị giảm khá nhiều Tổng NPK bón chỉ đạt 34 kg/ha canh tác
- Giai đoạn 1981- nay: sử dụng phâm hoá học tăng lên đáng kể nhất
là đạm Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng NPK không cân đối (Bảng 11) [6]
Bảng 11 Số lợng và tỷ lệ phân bón từ 1981-1984) ở Việt Nam kg/ha
Nếu theo dự thảo và phát triển và chế biến 5 năm 1996- 2000 (Bộ NN
& PTNT) với tộc độ tăng 4 đến 4,5 % về giá trị số lợng thì nhu cầu phânbón rất lớn, trong đó phân khoảng sẽ là:
Đạm: 630.000 tấn nguyên chất 1,4 triệu tấn urê
Lân: 217.000 tấn nguyên chất 1,32 triệu tấn Super lân
Kali: 166.000 tấn nguyên chất 0,33 triệu tấn Kali
Năm 1995, Công nghiệp sản xuất phân hoá học của Việt Nam mới
đáp ứng đợc 8% nhu cầu về phân đạm, khoảng 20% về phân lân Nh vậy100% nhu cầu về phân Kali, trên 90% nhu cầu về phân đạm và khoảng 50%nhu cầu về phân lân đều phải nhập từ nớc ngoài
Tuy vậy tình hình sản xuất và cung ứng phân bón ở Việt Nam ngàycàng cải thiện trong 5 năm 1991-1995 mức tăng trởng trong sản xuất Superlân 124,6%; Lân nung chảy 227, 37%; Đạm urê 336% cụ thể đợc trình bàyqua bảng 12 [6]
Bảng 12 Sản xuất phân khoáng ở Việt Nam Năm
Trang 13ở nớc ta ngoài việc sử dụng mất cân đối giữa N:P:K thì phân hoá học
sử dụng không đều giữa các vùng Thực tế cho thấy phân hoá học chủ yếubón ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Việc sử dụngphân bón cho thấy hộ giàu bón đến 280 kg NPK nguyên chất/ ha và 14,9tấn phân chuồng, hộ trung bình bón 258 kg NPK/ha và 9,7 tấn phânchuồng, trong khi đó ở miền núi nhiều hộ nông dân cha biết bón phân hoáhọc [6]
1.3 Tình hình nghiên cứu Nitrat.
Nitrat là ion có mặt trong đất do kết quả của quá trình Nitrat hoá Dớitác dụng của nhóm vi sinh vật (nhóm vi khuẩn Nitrat: Nitrosomonas,Nitrosococus .Và nhóm vi khuẩn Nitrit: Nitrobacter, Nitrocystis) đạmamôn đợc ô xi hoá thành NO3 qua một giai đoạn trung gian ngắn ở dạng
ở các nớc phơng Tây, NO3- đợc xem là có ý nghĩa to lớn trong vấn
đề dinh dỡng đạm của cây trồng Về mặt thực tiễn nhiều nhà khoa học đã
Trang 14chứng minh nếu ion này quá cao trong đất thời kỳ cây ra rễ sẽ ức chế pháttriển của rễ non [18] Chính vì vậy mà có rất nhiều công trình nghiên cứu vềhàm lợng NO3- trong đất Theo Vozơbuxkaia (1994) đất decnopotzon hàm l-ợng NO3- là 2,85mg/100g đất Và theo Perevecdep (1959) nhận thấy đấtcanh tác càng lâu năm, càng làm tăng hàm lợng NO3- (từ 2,7mg đất hoang
đến 7,6mg/100g đất) [11] Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Bananốp hàm ợng NO3- trong các loại đất Liên Xô rất thấp (bảng 14) [11]
l-Bảng 14: Hàm lợng NO 3 - trong các loại đất chính của Liên Xô
Loại đất Hàm lợng NO 3 - mg/100g đất
ở Việt Nam năm 1996 Nguyễn Vy - Trần Khải: Nghiên cứu hoá học
đất vùng Bắc Việt Nam đã cho biết hàm lợng NO3- trong đất bạc màu:
1 - 3 mg NO3- /1 kg đất; đất bồi tụ thung lũng đá vôi có 1,9 - 7 mg NO3-/kg
đất và năm 1968 trong đất phù sa sông Hồng có 22 mg/1kg đất [11]
Năm 1997, Sở khoa học công nghệ và môi trờng Nghệ An (chi cụcbảo vệ thực vật) đã nghiên cứu hàm lựng NO3- trong đất trồng rau của các
Bảng 15: Liều lợng phân N và hàm lợng trung binh NO 3 - trong nớc
Liều lợng bón phân
đạm (kg/ ha) NO 3
- trong nớc ngầm (mg/ lít) NO 3
- trong nớc bề mặt (mg / lít)
Trang 1524 7,18 1,02
Ô nhiễm Nitrat không phải là vấn đề mới mà đã cách đây hàng trămnăm ngời ta đã ghi nhận nồng độ cao của nó trong các giếng ăn Nhng điềuphát hiện mới nhất là NO3- có liên quan đến sức khoẻ cộng đồng và biểuhiện qua hai loại bệnh: ung th dạ dày ở ngời lớn và Methaemoglobinaemia(hội chứng trẻ xanh ở trẻ sơ sinh) [9]
Vì tính độc hại của NO3- đối với sức khoẻ con ngời nên cộng đồngchâu Âu quy định mức chuẩn cho nớc uống là 50g NO3- /m3 Tổ chức quốc
tế FAO nghiên cứu và đa ra hàm lợng NO3- cho phép trong rau (bảng 16)[5]
Bảng 16: Ngỡng NO 3 - trong rau (mg/kg tơi)
theo tiêu chuẩn CAC của OMS / FAO)
Hà Nội, với mức bón trên dới 300kg N/ ha Do vậy, việc tích luỹ NO3- trong
đất và rau không thể tránh khỏi Theo báo cáo của Chi cục bảo vệ thực vật
Hà Nội năm 1996 thì lợng NO3- tích luỹ trong một số cây trồng đã vợt mứccho phép:
- Cải bắp: 1450 - 1680 mg NO3- /kg
- Hành tây: 2000 mg NO3-/kg
Năm 1997, Chi cục bảo vệ thực vật Nghệ An đã nghiên cứu và xác
định hàm lợng NO3- trong một số loại rau (bảng 17) [15]
Bảng 17: Hàm lợng NO3- trong một số loại rau ở ruộng nông dân vàruộng trình diễn (mg NO3-/kg)
Trang 16Rau c¶i ruéng n«ng d©n 1054
Trang 17Phần thứ hai:
phơng pháp nghiên cứu.
2.1 Đối tợng, địa điểm, nội dung và thời gian nghiên cứu.
2.1.1 Đối tợng nghiên cứu.
- Một số loại rau tiêu thụ phổ biến ở TP Vinh: Cải bắp, Củ cải, Hànhlá, Da chuột và Cà chua
- Đất và rau ( xà lách và cải bắp ) ở hai địa điểm sản xuất
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu.
- Khảo sát rau: mẫu rau đợc lấy ở 3 chợ: Bến Thuỷ, Cửa Đông, Vinh
Đây là 3 chợ lớn nhất, thuộc 3 vùng đại diện cho thị trờng rau tại TP Vinh
- Khảo sát đồng thời đất và rau ở hai địa điểm sản xuất là Quỳnh
L-ơng ( Quỳnh Lu) và Hng Đông - TP Vinh
2.1.3 Nội dung nghiên cứu.
- Phân tích một số chỉ tiêu dinh dỡng trong đất ở hai địa điểm sản xuất
- Phân tích hàm lợng NO3 trong đất và rau ở hai địa điểm sản xuất trên
- Phân tích hàm lợng NO3- trong một số loại rau tiêu thụ trên thị trờng
a) Lấy mẫu đất.
- Sử dụng phơng pháp lấy mẫu hỗn hợp đại diện cho từng lô đất Gạt lớptrên khoảng 10 cm, lấy 5 điểm đại diện và trộn đều, mỗi điểm lấy khoảng 30g đất.Sau đó lấy 1/2 số lợng đem về phân tích
b) Lấy mẫu rau ở chợ.
- Đối với mỗi loại rau lấy cùng một thời gian ở cả 3 chợ mỗi chợkhoảng 100g sau đó đem về trộn đều và phân tích chung
Trang 18c) Lấy mẫu rau ở địa điểm sản xuất.
- Mỗi lô đất trồng rau lấy rau ở 5 điểm đem về trộn đều và lấy lợngphân tích Đồng thời cùng lấy mẫu đất
a) Phân tích chỉ tiêu dinh dỡng trong đất
- Đo độ pH của đất bằng thang màu pH
- Xác định độ chua trao đổi theo phơng pháp Xôkôlôp (1939)
- Xác định độ chua thuỷ phân theo phơng pháp Kapen
C6H3 (HSO3)2OH + 3HNO3 C6H2(OH)(NO2)3 + H2SO4 + H2O
C6H2(OH)(NO2)3 + NaOH C3H2(NO2)3 ONa + H2O
Dựa trên cờng độ màu vàng tỷ lệ với lợng NO3- mà chúng ta có thể
so màu trên máy so màu Model- 581
Tính kết quả :
Hàm lợng NO3- đợc tính theo công thức
NO3- (mg/kg) =
c n
v a
.
1000 100
Trong đó: a: là hàm lợng mg NO3- theo đồ thị
v: là thể tích tổng số (ml)c: là thể tích dung dịch chiết đợc lấy để phân tích (ml) n: là khối lợng nguyên liệu phân tích (mg)
2.2.5 Phơng pháp xử lý số liệu.
Dùng toán thống kê đẻ xử lý số liệu:
- Số trung bình mẫu: