Những nét biểu hiện độc đáo của cái tôi trữ tình trong thơChế Lan Viên sau 1975 qua ba tập Di cảo ...97 Qua bao nhiêu bớc thăng trầm, các thế hệ nhà văn Việt Nam đã xây dựng nên một nền
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học Vinh
Ngô thái lễ
Sự vận động của cái tôi trữ tình
Trong thơ chế lan viên
luận văn thạc sĩ ngữ văn
Vinh - 2010LờI CảM ƠN
Trớc hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Mạnh Hùng,
TS Nguyễn Đức Mậu và PGS.TS Biện Minh Điền đã tận tình giúp đỡ tôitrong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Ngữ Văn
- Trờng Đại học Vinh đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quátrình học tập, nghiên cứu
Trang 2Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ, tạo
điều kiện tốt để tôi nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn này
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Ngô Thái Lễ
Mục lục
Trang
Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi khảo sát của đề tài 8
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phơng pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc luận văn 10
Chơng 1 Tổng quan về sự hình thành cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên qua các thời kì sáng tác 12
1.1 Những vấn đề lí luận cơ bản xung quanh khái niệm cái tôi trữ tình 12
1.1.1 Khái niệm cái tôi trữ tình 12
1.1.2 Bản chất cái tôi trữ tình 14 1.1.3 Những nhân tố tạo nên sự vận động của cái tôi trữ tình
Trang 3trong thơ .21
1.2 Vị trí văn học sử của nhà thơ Chế Lan Viên trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại 25
1.3 Sự hình thành cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên 31
1.3.1 Thời kì trớc Cách mạng tháng Tám - 1945 32
1.3.2 Thời kì 1945 - 1975 33
1.3.3 Thời kì sau 1975 36
Chơng 2 Từ cái tôi lãng mạn đến cái tôi hiện thực cách mạng mang khuynh hớng sử thi và ngợi ca cuộc sống mới 39
2.1 Từ cái tôi trữ tình lãng mạn trớc cách mạng 39
2.1.1 Vị trí văn học sử của tập thơ Điêu tàn trong sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên .39
2.1.2 ảnh hởng của thời đại đối với việc hình thành cái tôi trữ tình trong Điêu tàn .42
2.1.3 Những biểu hiện của cái tôi trữ tình trong Điêu tàn 44
2.2 Đến cái tôi hiện thực cách mạng mang khuynh hớng sử thi và ngợi ca cuộc sống mới trong giai đoạn 1945 - 1975 54
2.2.1 Sự hình thành cái tôi trữ tình kiểu mới trong thơ Việt Nam .55
2.2.2 Cái tôi hiện thực cách mạng mang khuynh hớng sử thi và ngợi ca cuộc sống mới trong thơ Chế Lan Viên .61
Chơng 3 Từ cái tôi sử thi và ngợi ca cuộc sống mới sang cái tôi suy ngẫm về đời t thế sự 85
3.1 Những đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975 và sự phân hóa các kiểu cái tôi trữ tình trong thơ 85
3.1.1 Hoàn cảnh xã hội sau 1975 85
3.1.2 Những đổi mới của văn học sau 1975 88
3.1.3 Sự phân hóa các kiểu cái tôi trữ tình trong thơ sau 1975 90
3.2 Sự chuyển biến từ cái tôi chính trị sang cái tôi suy ngẫm về đời t thế sự 94
3.2.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên sau 1975 94
Trang 43.2.2 Những nét biểu hiện độc đáo của cái tôi trữ tình trong thơ
Chế Lan Viên sau 1975 qua ba tập Di cảo 97
Qua bao nhiêu bớc thăng trầm, các thế hệ nhà văn Việt Nam đã xây dựng nên
một nền văn học tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nh bây giờ Trong cả chặng
đờng dài phát triển, có thể khẳng định văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX
đến nay đợc xem là giai đoạn có nhiều bớc biển chuyển mạnh mẽ nhất Đây làthời kỳ văn học vận động và không ngừng đổi mới theo xu hớng hiện đại hóa
và dân chủ hóa cả về nội dung và hình thức biểu hiện Sự chuyển biến này có
ý nghĩa cách mạng, làm thay đổi phạm trù văn học, chuyển văn học Việt Nam
từ trung đại sang hiện đại
Nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, để chiếm lĩnh những giátrị nhân văn và giá trị thẩm mĩ của nó chúng ta không thể không chú ý đến sự
vận động và phát triển chung của cả nền văn học và cụ thể hóa ở những tác giatiêu biểu
1.2 Những ngời có công đóng góp vào quá trình đổi mới của văn họcdân tộc trong hơn một thế kỷ qua, có rất nhiều tác giả thuộc nhiều thể loại
khác nhau Trên lĩnh vực thơ ca, chúng ta có cả một đội ngũ nhà thơ hùng hậu
bao gồm nhiều thế hệ Có nhiều ngời rất nổi tiếng, có tầm ảnh hởng sâu sắctrong đời sống tinh thần của dân tộc và trên trờng quốc tế nh Xuân Diệu, HuyCận, Chế Lan Viên, Tế Hanh… Trớc Cách mạng tháng Tám, họ là những nhàthơ tiêu biểu và nổi tiếng của phong trào Thơ mới Sau Cách mạng, sáng tác
Trang 5của họ rất phong phú, có nhiều thành tựu, đã đợc độc giả và giới nghiên cứuphê bình khẳng định
Với nhà thơ Chế Lan Viên, có thể khẳng định rằng ông là một trongnhững nhà thơ tiêu biểu nhất của thế kỷ XX Sự nghiệp sáng tác của Chế LanViên kéo dài hơn nửa thế kỷ, qua ba thời kỳ: thời kỳ trớc cách mạng, thời kỳ
“Ba mơi năm dân chủ cộng hòa” và thời kỳ sau 1975 Trong tiến trình phát
triển của thơ Việt Nam hiện đại, hiếm có một nhà thơ nào chiếm lĩnh đợc cả
ba đỉnh cao ở cả ba thời kỳ sáng tác nh Chế Lan Viên Chính tài năng vànhững thành tựu to lớn trong sự nghiệp sáng tác mà Chế Lan Viên đã đợcnhiều ngời quan tâm nghiên cứu
1.3 “Trong thơ, vấn đề chủ thể cái tôi trữ tình có một ý nghĩa đặc biệtquan trọng” [14, 61] Thơ trữ tình luôn luôn gắn với cái “tôi” Bởi vậy khinghiên cứu cái tôi trữ tình trên các phơng diện thuộc về thể loại, các trào lu,khuynh hớng, các chặng đờng sáng tác, các tác giả hay ngay cả một tác phẩmthơ cụ thể, ngời ta thờng quan tâm nhiều đến việc tìm hiểu cái tôi trữ tình.Việc nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ rất rộng, rất phức tạp và cha đợc
nghiên cứu nhiều Nghiên cứu đề tài Sự vận động của cái tôi trữ tình trong
thơ Chế Lan Viên là một việc làm hữu hiệu để thấy đợc nét độc đáo trong
phong cách, những tiến bộ nghệ thuật, những đóng góp của Chế Lan Viêntrong nền thơ Việt Nam
1.4 Có nhiều căn cứ để khảo sát sự vận động của cái tôi trữ tình trongthơ Đó là căn cứ triết học về sự vận động biện chứng của mọi hiện tợng tựnhiên và xã hội, nh một quá trình không ngừng của sự sinh thành và sự tiêuvong, của sự tiến triển vô tận từ thấp đến cao Ngoài căn cứ triết học còn phải
có căn cứ từ thực tế Trong sáng tạo thơ, tác giả nào cũng có sự vận động và sựtrởng thành Tuy nhiên, có những nhà thơ chỉ sáng tác trong một thời gianngắn, số lợng tác phẩm không nhiều thì dấu ấn của sự vận động này ít có điềukiện thể hiện Thơ Chế Lan Viên đã trải qua một quá trình sáng tác rất dài,qua ba thời kỳ và đã thể hiện rất rõ sự vận động của cái tôi trữ tình Chế LanViên luôn luôn đề cao ý thức trách nhiệm ngời cầm bút, luôn luôn mongmuốn cung cấp cho đời nhiều tác phẩm Với quan niệm “thơ cần có ích cho
đời, cho nhân dân”, Chế Lan Viên đã không ngừng phấn đấu Cuộc “đấu tranhbản thân” trong con ngời công dân và con ngời nghệ sĩ ở ông làm cho ông hay
“sám hối”, không tự bằng lòng về những gì thơ mình cha hoàn thiện Cuộc
Trang 6chiến đấu ấy dầu gian nan nhng ông đã vợt qua và đạt đợc những thành công.Trong một số tiểu luận, trong rất nhiều bài thơ, ông đã nói rõ quá trình phấn
đấu, trởng thành, nói rõ sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ mình
Lý do nghiên cứu đề tài có cơ sở thực tiễn đó là thơ Chế Lan Viên tồn tạimột cái tôi trữ tình không ngừng vận động, không ngừng biến đổi trên cơ sở
kế thừa và cách tân Đó là sự vận động từ một cái tôi lãng mạn trớc cách mạng
đến cái tôi trữ tình chính trị giai đoạn 1945 - 1975 và đến cái tôi đời t thế sựmang nặng cảm xúc trầm t suy ngẫm trong những bài thơ đợc sáng tác sau
1975, đặc biệt là những bài thơ đợc sáng tác những năm cuối đời Quả là,trong lịch sử phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại thế kỷ XX, hiếm có mộtnhà thơ nào tạo ra sự vận động liên tục trong suốt cả sự nghiệp sáng tác, tạonên đợc sức hấp dẫn đối với công chúng yêu thơ nh Chế Lan Viên
1.5 Chế Lan Viên là một tác giả lớn, có nhiều tác phẩm đợc đa vàogiảng dạy trong chơng trình văn ở các cấp học từ phổ thông đến đại học.Nhiều bài thơ của ông đã để lại những ấn tợng sâu sắc đối với bao thế hệ học
sinh nh Ngời đi tìm hình của nớc, Tiếng hát con tàu, Tình ca ban mai…
Nghiên cứu đề tài này cũng là để bổ sung thêm kiến thức về thân thế, sựnghiệp sáng tác của Chế Lan Viên, để giảng dạy tốt hơn tác giả này ở nhà tr-ờng
Khái niệm cái tôi và cái tôi trữ tình đã đợc đề cập và đợc nghiên cứu
trong mĩ học cổ điển cận đại phơng Tây và phơng Đông Các nhà thơ cổ điển
Trung Quốc và Việt Nam, trong các ý kiến bình giải về tình, tâm, trí, đạo trong thơ, tuy cha sử dụng thuật ngữ cái tôi trữ tình nhng phần nào cũng thể
hiện ý nghĩa của nó
Cái tôi đợc Hoài Thanh trực diện đề cập đến trong bài Một thời đại trong thi ca (Thi nhân Việt Nam) có ý nghĩa tổng kết phong trào Thơ mới.
Theo Hoài Thanh, chữ “tôi” xuất hiện trên thi đàn Việt Nam đã đem lại mộtquan niệm hoàn toàn mới về con ngời cá nhân: “Ngày thứ nhất ai biết đích xác
là ngày nào - chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực sự bỡ ngỡ Nó
Trang 7nh lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo một quan niệm cha từng thấy ở xứ
này: Quan niệm cá nhân” [54, 45] Cái tôi là linh hồn của Thơ mới, “Thời đại
Thơ mới là thời đại của chữ tôi” [54, 47] Cái tôi là một phạm trù đối lập với
cái ta của “thơ cũ” Khái niệm cái tôi cũng đợc Hoài Thanh vận dụng uyển
chuyển để nhận dạng phong cách hồn thơ của mỗi nhà thơ
Từ những năm 70 của thế kỷ XX, vấn đề cái tôi đợc đặt ra nh một đối
t-ợng nghiên cứu ở một số chuyên khảo về thơ Trong công trình Thơ và mấy
vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Hà Minh Đức đã dành một số chơng bàn
về cái tôi trữ tình, tác giả đặt cái tôi trữ tình vào một hệ thống và phân tích nó trong mối quan hệ với nhà thơ, các hình thức biểu hiện cái tôi trữ tình trong
thơ
Trần Đình Sử với chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu đã đa ra một khái niệm kiểu nhà thơ Đó cũng là một hình thức trực diện bàn đến cái tôi trữ tình trong thơ Ngoài ra, trong cuốn Những thế giới nghệ thuật thơ, Trần Đình Sử
cũng đã trình bày các loại hình nghệ thuật thơ ca và nêu lên đặc trng của cáitôi trữ tình trong các loại hình thơ Ông phân biệt cái tôi trữ tình trong thơcách mạng khác với cái tôi trữ tình trong các loại hình thơ dân gian, cổ điển,lãng mạn…
Đã có hai luận án tiến sĩ đề cập đến cái tôi trữ tình trong thơ Đó là luận
án Cái tôi trữ tình trong thơ (qua một số hiện tợng thơ trữ tình Việt Nam 1975
1990) của tác giả Lê Lu Oanh và luận án Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945
-1995 (nhìn từ phơng diện sự vận động của cái tôi trữ tình) của tác giả Vũ
Tuấn Anh Điểm chung của hai công trình này là đều nghiên cứu về cái tôi trữtình trong thơ và đều lấy cả một chặng đờng phát triển của thơ Việt Nam làm
đối tợng khảo sát Điểm riêng tạo nên nét khác biệt đó là tác giả Vũ Tuấn Anhthì khảo sát sự vận động của cái tôi trữ tình suốt cả một chặng đờng thơ ViệtNam nửa thế kỷ (1945 - 1995), còn tác giả Lê Lu Oanh thì chỉ khảo sát quamột số hiện tợng thơ trong vòng mời lăm năm (1975 - 1990) Phần lý luận vềcái tôi trữ tình, các tác giả đã trình bày quan niệm về cái tôi và cái tôi trữ tìnhtrong các lĩnh vực triết học, tâm lý học và lý luận văn học Từ đó các tác giảnêu lên những vấn đề liên quan đến khái niệm cái tôi trữ tình nh bản chất, cáckiểu cái tôi trữ tình và những nhân tố thúc đẩy sự vận động của cái tôi trữ tình
Đề tài Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên cũng
là một hớng đi riêng Đó là vận dụng lý luận về cái tôi trữ tình vào việc nghiên
Trang 8cứu một tác giả cụ thể Hớng này có thể áp dụng rộng rãi để nghiên cứu bất kỳmột tác giả thơ nào.
cứu bàn về thơ Chế Lan Viên, trong đó nhấn mạnh cái tôi trữ tình Trong Đôi
điều suy nghĩ bộc bạch cùng bạn đọc, cuốn Chế Lan Viên - Ngời làm vờn vĩnh cửu, Phong Lan viết: “Cũng giống nh bất kỳ nhà văn, nhà thơ lớn hiện đại
nào khác, việc đánh giá từng tác phẩm nói riêng hay toàn bộ sự nghiệp văn
ch-ơng của Chế Lan Viên nói chung trải dài trong suốt sáu mơi năm, hẳn khôngtránh khỏi ở thời kỳ này hay thời kỳ khác, ở tác giả này hay tác giả khác, dochi phối của lịch sử hay sự ràng buộc của điều kiện khách quan, chủ quan nào
đó mà đã có nhiều cách đánh giá thơ ông khác biệt nhau, thậm chí trái ngợcnhau tùy theo quan điểm thẩm định riêng của mỗi thời và mỗi ngời Đó cũng
là điều bình thờng và là quyền của ngời viết Lẽ thờng xa nay, nhà văn tầmvóc càng lớn, các tác phẩm của họ càng đa diện, đa thanh, đa sắc, đa tầng baonhiêu thì sự đánh giá họ càng phong phú, phức tạp bấy nhiêu Tuy nhiên, rồi sự
định giá công tâm sáng suốt và đáng tin cậy nhất bao giờ cũng là của thời gian
và các thế hệ độc giả hôm nay và mai sau” [26, 7]
Trao đổi với tác giả bài Chế Lan Viên và Di cảo thơ, Phạm Quang
Trung viết: “Không ai phủ nhận có một thời ta sống cho riêng ta không nhiều.Thơ cũng vậy Chế Lan Viên cũng vậy… Cái chung có phần lấn át cái riêng,
ấy là do cuộc sống đòi hỏi nh vậy ở đây không có sự đối lập giữa cái riêng vàcái chung, giữa cá nhân và xã hội Hơn thế, nh những tài năng thơ ca khác,con ngời công dân Chế Lan Viên đi vào trong thơ đã thực sự tạo lập nên bảnsắc riêng của mình” [64]
Nguyễn Bá Thành là một chuyên gia nghiên cứu về Chế Lan Viên Ông
có một chuyên luận gần 400 trang với nhan đề Thơ Chế Lan Viên với phong
cách suy tởng cũng đã khảo sát các chặng đờng thơ Chế Lan Viên, trong đó
đặc biệt chú ý đến chất trí tuệ, phong cách suy tởng trong thơ Chế Lan Viên.Theo Nguyễn Bá Thành, Chế Lan Viên cuối đời “quay lại điểm xuất phát,quay lại với cái đài thơ, cái tháp nghỉ của thi nhân thuở xa Đó không phải là
Trang 9sự cách tân mà chủ yếu là sự phục hồi cách cảm và cách nghĩ của nhà thơ thờitrớc cách mạng tháng Tám Phơng pháp t duy ấy đợc Chế Lan Viên đúc kếtthành phơng pháp “lộn trái”, hay là “thêu bề trái” [55, 165] Nguyễn Bá Thành
đánh giá cao thơ Chế Lan Viên giai đoạn ông trở về với nhân dân, với Đảng vàBác Hồ từ ngày đầu kháng chiến chống Pháp, quả nhiên nh có phép mầu, thơ
ông từ khi có định hớng “vì ai” đã gặt hái đợc nhiều thành tựu Một loạt bàithơ vào loại đặc sắc nhất thơ Việt Nam hiện đại đã nối tiếp nhau xuất hiện hồiấy
Luận văn này đã tập hợp và khảo sát hầu hết các công trình nghiên cứu
về thơ Chế Lan Viên, trong đó đặc biệt chú ý đến các giáo trình, các chuyênluận, các luận án tiến sĩ về Chế Lan Viên
Giáo trình Văn học Việt Nam 1945 - 1975 của nhiều tác giả do Nguyễn
Đăng Mạnh chủ biên có hẳn một chơng về Chế Lan Viên do Nguyễn VănLong viết Chơng đó cũng đã tìm hiểu những chặng đờng thơ và phong cáchnghệ thuật của thơ Chế Lan Viên
Có nhiều luận án và luận văn về Chế Lan Viên, đáng kể nhất là luận án
Những nét đặc sắc cơ bản của hình thức nghệ thuật thơ Chế Lan Viên từ sau
1945 của Đoàn Trọng Huy Luận án này chủ yếu nghiên cứu về nghệ thuật thơ
Chế Lan Viên và cũng chỉ dừng lại trong một chặng đờng sáng tác ngắn 1945
- 1975 Tuy vậy, tác giả đã nêu lên đợc những nét đặc sắc trong phong cáchnghệ thuật thơ Chế Lan Viên, đó là tính triết lý
Có một công trình về Chế Lan Viên đợc đánh giá cao, nghiên cứu một
cách toàn diện hơn, đó là công trình của Hồ Thế Hà với nhan đề Thế giới nghệ
thuật thơ Chế Lan Viên Chuyên luận đợc phát triển trên cơ sở luận án tiến sĩ.
Hồ Thế Hà đi sâu vào quan niệm nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, tính triết lý,không gian, thời gian nghệ thuật, phơng thức thể hiện và thể loại thơ Chế LanViên Bấy nhiêu vấn đề đã làm hiện lên phong cách thơ độc đáo - phong cáchtriết lý thơ Chế Lan Viên
Ngoài các công trình nêu trên, phải kể đến các công trình của các nhànghiên cứu khác có tên tuổi đợc tập hợp trong các công trình nh:
- Chế Lan Viên - Ngời làm vờn vĩnh cửu
- Chế Lan Viên giữa chúng ta
- Chế Lan Viên, tác gia và tác phẩm
Trang 10Mỗi tác giả trong ba cuốn sách vừa nêu chủ yếu nghiên cứu một vấn đề,thậm chí là vấn đề rất nhỏ Nhng tập hợp lại, chúng ta thấy một cái nhìn khátoàn diện về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên.
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi khảo sát của đề tài
3.1 Đối tợng
Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên.
3.2 Phạm vi khảo sát
Toàn bộ các tập thơ của Chế Lan Viên, trong đó chủ yếu là các tập thơ:
Điêu tàn, Gửi các Anh, ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thờng - Chim báo bão, Những bài thơ đánh giặc, Hoa trên đá và ba tập Di cảo thơ.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên là một
đề tài vừa mang tính lý luận (những vấn đề lý luận xung quanh khái niệm vềcái tôi trữ tình), vừa mang tính văn học sử (gắn với tìm hiểu cuộc đời và sựnghiệp sáng tác của tác giả Chế Lan Viên) Với mức độ là một luận văn thạc
sĩ và với t cách là một đề tài khoa học chuyên ngành văn học Việt Nam thuộcloại hình nghiên cứu tác giả, chúng tôi xác định tính văn học sử vẫn là chính.Bởi vậy, trong cấu trúc luận văn, chúng tôi không dành riêng hẳn một chơng
để tìm hiểu những vấn đề lý luận về khái niệm cái tôi trữ tình Mặc dầu vậy,những vấn đề lý luận này cũng phải đặt ra nh là một nhiệm vụ, một mục tiêucủa luận văn
4.1 Về lý luận
Vấn đề quan trọng là nêu lên đợc các quan niệm về cái tôi trữ tình, tìmhiểu bản chất, những nhân tố thúc đẩy sự vận động cái tôi trữ tình và đa ra đ-
ợc các kiểu biểu hiện cái tôi trữ tình có liên quan đến tác giả Chế Lan Viên
nh kiểu cái tôi trữ tình lãng mạn, hiện thực cách mạng, cái tôi trữ tình chính trịmang khuynh hớng sử thi, cái tôi đời t thế sự,… Từ đó, áp dụng những vấn đề
lý luận này vào việc khảo sát sự vận động của cái tôi trữ tình trong một tác giả
cụ thể
4.2 Về văn học sử
Trên cơ sở cái nền của lý luận, vận dụng nó vào tìm hiểu cái tôi trữ
tình trong các chặng đờng thơ Chế Lan Viên Từ đó, chỉ ra quá trình vận động
của thơ Chế Lan Viên, từ cái tôi lãng mạn trong Điêu tàn đến cái tôi sử thi trong thơ giai đoạn 1945 - 1975 (Gửi các Anh, ánh sáng và phù sa, Hoa ngày
Trang 11thờng, Chim báo bão,…) và cái tôi suy ngẫm về đời t thế sự trong các tập Di cảo thơ.
Trong sáng tác thơ, nhất là ở các nhà thơ lớn có quá trình sáng tác dàiqua các thời kỳ lịch sử và văn học khác nhau, không chỉ nhà thơ Chế Lan Viênmới có sự vận động Lấy ngay hiện tợng các nhà thơ cùng thế hệ với ông nhXuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh , ta cũng thấy có quá trình vận động và biếnchuyển này Từ đây đặt ra thêm một mục tiêu là tìm hiểu quá trình chuyểnbiến của thơ Chế Lan Viên có những gì giống và khác với các nhà thơ cùng
thời Có nh vậy mới thấy đợc nét độc đáo trong sự vận động của Cái tôi trữ
tình trong thơ Chế Lan Viên.
5 Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn này có sự phối hợp đồng bộ các phơng pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phơng pháp thống kê, phân loại
5.1.1 Thống kê các ý kiến về thơ trữ tình và cái tôi trữ tình trong thơ, từ
những quan niệm của các nhà triết học duy tâm nh Hêghen, Phoiơbắc đến cácnhà duy vật biện chứng nh Mác - Lênin, quan niệm của các nhà lý luận vănhọc về vấn đề này qua các thời kỳ
5.1.2 Thống kê các tập thơ của Chế Lan Viên để phân loại, chọn nhữngtập thơ nào, bài thơ nào là tiêu biểu nhất thể hiện rõ sự vận động
5.1.3 Thống kê thơ của các nhà thơ cùng thời với Chế Lan Viên
5.1.4 Thống kê các ý kiến thẩm bình thơ Chế Lan Viên Cần phân loạicác ý kiến đúng và sai
Vấn đề của luận văn là chỉ ra quá trình vận động của cái tôi trữ tình
trong thơ Chế Lan Viên Muốn thấy đợc quá trình vận động, chuyển biến tất
yếu phải dùng biện pháp so sánh để thấy đợc cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan
Viên giữa giai đoạn này và giai đoạn kia có nét tơng đồng và khác biệt, có nét
kế thừa và cách tân Phơng pháp so sánh không chỉ đợc dùng trong quá trìnhtìm hiểu sáng tác của Chế Lan Viên mà còn mở rộng so sánh với các nhà thơcùng thời để chỉ ra nét độc đáo của Chế Lan Viên với các nền thơ khác
Trang 125.4 Phơng pháp tổng hợp
Các ý kiến phân tích, so sánh sau khi đợc đa ra cần phải đi tới sự tổnghợp khái quát nâng lên thành vấn đề
6 Đóng góp của luận văn
Chỉ ra những biểu hiện cái tôi trữ tình của thơ Chế Lan Viên qua các
thời kỳ, từ đó nêu lên quá trình vận động của nó Từ đây có thể thấy đợc:
- Thơ Chế Lan Viên qua các tập thơ có sự vận động của cái tôi trữ tình.
- Sự vận động này rất tiêu biểu cho quá trình chuyển biến từ một nhàthơ lãng mạn thành nhà thơ hiện thực
7 Cấu trúc luận văn
Tơng ứng với những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, ngoài phần Mở đầu,
Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đợc triển khai
trong ba chơng
Chơng 1 Tổng quan về sự hình thành cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan
Viên
Chơng 2 Từ cái tôi lãng mạn đến cái tôi hiện thực cách mạng mang
khuynh hớng sử thi và ngợi ca cuộc sống mới
Chơng 3 Từ cái tôi sử thi và ngợi ca cuộc sống mới chuyển thành cái
tôi suy ngẫm về đời t thế sự
Trang 13Chơng 1 Tổng quan về sự hình thành cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản xung quanh khái niệm cái tôi trữ tình
Đề tài Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên là một
đề tài vừa mang tính lý luận vừa mang tính văn học sử Với mức độ là mộtluận văn thạc sĩ và với t cách là đề tài khoa học chuyên ngành văn học ViệtNam thuộc loại hình nghiên cứu tác giả, chúng tôi xác định tính văn học sửvẫn là chính Những vấn đề lý luận xung quanh khái niệm về cái tôi trữ tình đ-
ợc xem là những phơng tiện cần thiết
Những vấn đề lý luận này đã đợc nhiều ngời nghiên cứu và đợc công bốthành những công trình có giá trị Trong phần lịch sử nghiên cứu chúng tôi đã
có dịp khảo sát Vấn đề của luận văn này là vận dụng những kết quả nghiêncứu đó để tìm hiểu con đờng vận động của cái tôi trữ tình ở một tác giả thơ cụthể
Lý luận về cái tôi trữ tình trong thơ bao gồm những vấn đề cơ bản sau:
1.1.1 Khái niệm cái tôi trữ tình
Sáng tác thơ là một nhu cầu tự biểu hiện, một sự thôi thúc bên trongnhiều khi mãnh liệt, dồn dập do sự tác động của đời sống gây nên Trong lời
đề tựa tập thơ của mình, nhà thơ Sóng Hồng viết: “Ngời làm thơ phải có tìnhcảm mãnh liệt, thể hiện sự nồng cháy trong lòng” [21] Trong thơ, dấu ấn chủquan của tác giả thể hiện rất rõ nét, nói nh Hàn Mặc Tử: “Ngời thơ phong vận
nh thơ ấy” Từ rất lâu, khoa nghiên cứu văn học đã khẳng định thể loại thơ trữtình: “vơng quốc chủ quan” (Biêlinxki), là “sự biểu hiện và cảm thụ của chủthể” [45, 17], trong đó tính chủ quan vừa là nguyên tắc tiếp cận đời sống vừa
là nguyên tắc xây dựng thế giới nghệ thuật
+ Khái niệm “chủ quan” nh Lê Lu Oanh quan niệm: “Là một khái niệmtriết học rất rộng có thể vận dụng vào rất nhiều lĩnh vực không chỉ ở thể loạitrữ tình Do đó cần phải tìm đến một khái niệm mang nội dung xác định bảnchất thể loại hơn Khái niệm đó là cái tôi trữ tình” [45, 25]
Khái niệm cái tôi trữ tình gắn với bài thơ trữ tình Bài thơ trữ tình “là
một bài thơ, trong đó nhà thơ viết về những suy nghĩ và cảm xúc của mình,
Trang 14trong đó nhà thơ cố gắng điều khiển và tổ chức các cảm xúc và ấn tợng của
mình” [1, 31]
Đã có nhiều ngời nói đến mối quan hệ giữa nhà thơ và cái tôi trữ tìnhtrong thơ Từ những năm 70 của thế kỷ XX, khi mà vấn đề cái tôi trữ tình đợc
đặt ra nh một đối tợng nghiên cứu ở một số chuyên luận về thơ, Hà Minh Đức
trong công trình Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại đã dành một
số chơng nói về cái tôi trữ tình, đặt nó trong một cái nhìn hệ thống Trongcông trình đó ông viết: “Trong thơ vấn đề chủ thể cái tôi trữ tình có một ýnghĩa đặc biệt quan trọng” [14, 61]
Từ những điều trình bày trên đây, có thể rút ra một cách quan niệm vềcái tôi trữ tình Nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ Tuấn Anh nêu lên quanniệm: “Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối vớithế giới và con ngời thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông quaviệc tổ chức các phơng tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêngbiệt độc đáo mang tính thẩm mĩ nhằm truyền đạt tinh thần ấy đến ngời đọc”[1, 32]
ý kiến trên đây nh là sự tổng hợp các quan niệm về cái tôi trữ tình củanhiều học giả quan tâm nghiên cứu vấn đề này Nh vậy, nói đến cái tôi trữ tình
là nói đến hai yếu tố Yếu tố thứ nhất: cách nhìn, cách cảm thụ của tác giả.Yếu tố thứ hai: tổ chức các yếu tố để tạo nên một văn bản trữ tình
Do cái tôi trữ tình có những yếu tố đó cho nên ngời ta thờng vận dụng
nó để nghiên cứu thể loại thơ trữ tình, để phát hiện ra những vấn đề cá tínhsáng tạo, phong cách nhà thơ, kiểu nhà thơ, tiến trình phát triển của văn học
1.1.2 Bản chất của cái tôi trữ tình
Để hiểu rõ hơn khái niệm cái tôi trữ tình, chúng ta cần phải đi sâu tìmhiểu bản chất của nó Cái tôi trữ tình là một khái niệm tổng hợp nhiều yếu tố,
có thể nêu lên đây các bản chất cơ bản của cái tôi trữ tình
1.1.2.1 Bản chất chủ quan cá nhân
Điều mà Biêlinxki khẳng định thể loại thơ tình “là vơng quốc chủ quan”
đợc thể hiện rõ ở bản chất này Ngời làm thơ bao giờ cũng có nhu cầu tự biểuhiện, giải bày tâm t, tình cảm của riêng mình Hiện thực cuộc sống rất rộnglớn, nhng quan tâm đến vấn đề gì, nhìn nhận nó nh thế nào và chọn lọc đa nóvào trong tác phẩm theo một phơng thức biểu hiện nào là do nhà thơ thể hiệndựa trên sự trải nghiệm cuộc sống cùng với sự thôi thúc niềm cảm hứng sáng
Trang 15tạo và tài năng thi nhân Có chất liệu rồi đến lợt xây dựng văn bản trữ tình,cũng có nhiều sự lựa chọn Sự lựa chọn, cách thể hiện nào cũng mang rõ nétcá tính sáng tạo của chủ thể Do thơ trữ tình in đậm dấu vết cá nhân nên nhữnggì liên quan đến cuộc đời tác giả, từ tiểu sử đến tính cách đều đóng một trònhất định trong sáng tác Chế Lan Viên, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác đã tạonên đợc nét cá tính độc đáo Cao Bá Quát đã từng nói: “Xem ngời có thể biết
đợc thơ” Hàn Mặc Tử cũng khẳng định: “Ngời thơ phong vận nh thơ ấy”.Nghiệm vào đời và thơ Chế Lan Viên, ta cũng thấy rõ toàn bộ sáng tác của
ông vừa là tấm gơng phản chiếu thời đại vừa là những bức chân dung tự họasinh động về con ngời ông từ thở niên thiếu cho đến những năm cuối đời
Từ bản chất chủ quan cá nhân của cái tôi trữ tình, ta thấy cái tôi tác giả
và cái tôi trữ tình có mối quan hệ với nhau Tiểu sử và những trải nghiệm cuộc
đời riêng là một bộ phận cấu thành nhân cách trữ tình Cái tôi trữ tình, trớc hết
là tính cách của bản thân ngời mang lời nói Một Chế Lan Viên sắc sảo nặng
về suy t triết lý nên những vần thơ ông viết ngay từ buổi đầu ở tuổi thiếu niên
đã thể hiện rõ khát khao tìm hiểu đời, tìm hiểu bản thân mình:
Ai bảo giùm ta có, có ta không?
Tuy cái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình có mối quan hệ gần gũi nhngchúng ta không nên đồng nhất nó Từ thực tế những bài thơ đợc viết trongnhững năm cuối đời, ta có thể suy luận giữa đời và thơ còn có một khoảng
cách Chẳng hạn nh Chế Lan Viên có bài Tháp Bayon bốn mặt:
Anh là tháp Bayon bốn mặt Dấu đi ba còn lại đấy là anh Chỉ mặt đó mà nghìn trò cời khóc Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình
Không phải mọi suy nghĩ về cuộc đời đợc bộc bạch một cách đầy đủtrong thơ Sau 1975 đã có nhà thơ nói rõ điều này:
Đã có một thời nỗi đau ta phải giấu
Ta đánh mất ta trong mỗi con ngời
Trong thực tế, tiểu sử nhà thơ luôn ẩn hiện trong những vần thơ trữ tình,nhng tự thân nó không đủ làm nên cái tôi trữ tình “Cái tôi trữ tình khác vềchất lợng với cái tôi nhà thơ Đó là sự khác nhau giữa cuộc đời và nghệ thuật,giữa chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa hiện thực, giữ nguyên mẫu và điển hình,giữa gốc rễ và cành lá nảy nở sinh động” [1, 38]
Trang 16Do yếu tố chủ quan cá nhân nên trong thơ trữ tình thờng có hình thức tựbiểu hiện đợc xng danh ở đại từ ngôi thứ nhất: Tôi, ta hoặc chúng tôi, chúngta:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
nó Một trong những nhân tố hàng đầu dẫn đến sự trởng thành của nhà thơ,dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận và cảm thụ thế giới trong cách tổchức xây dựng văn bản trữ tình
1.1.2.2 Bản chất xã hội nhân loại của cái tôi trữ tình
Nhà thơ Sóng Hồng đã đa ra một định nghĩa về thơ: “Thơ không chỉ nóilên tình cảm nhà thơ mà nhiều khi thông qua đó nói lên niềm hy vọng của cảmột dân tộc, những ớc mơ của nhân dân, vẽ nên nhịp đập của trái tim quầnchúng và xu thế chung của lịch sử loài ngời” [21, 5]
Ngay từ độ tuổi mời tám, khi mới giác ngộ lý tởng cộng sản (Từ ấy
trong tôi bừng nắng hạ), nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện quan niệm về một cái tôi
mang bản chất xã hội hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng:
Tôi buộc lòng tôi với mọi ngời
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời
Còn Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên - những nhà thơ tiêu biểu củaphong trào Thơ mới trớc Cách mạng bớc sang thời kỳ sáng tác mới, nhất là
Trang 17những năm chống Mỹ, đều đã có những bớc chuyển biến Xuân Diệu từ chỗnhấn mạnh cái tôi cá nhân của mình một cách mạnh mẽ, đầy sự kiêu ngạo:
Ta là Một, là Riêng là Thứ nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta
Thì nay, trải qua cuộc đấu tranh bản thân, Xuân Diệu đã chuyển biến,lột xác để trở thành một thi sĩ kiểu mới:
Tôi cùng xơng thịt với nhân dân của tôi Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu Tôi sống với cuộc đời yêu dấu Của triệu ngời chiến đấu gian lao
Trong đời sống xã hội xuất hiện những cá thể ngời nh một đơn vị tồn tại
độc lập với các cá thể khác Điều đó đã giúp khẳng định vị thế của con ngời
trong cộng đồng Nhng nh Các Mác đã khẳng định: “Con ngời là sự tổng hòa
mọi mối quan hệ xã hội”, con ngời có thể độc lập tự chủ, suy nghĩ và hành
động theo cách riêng của mình, nhng con ngời không bao giờ biệt lập với cộng
đồng, với nhân loại Làm thơ là để bày tỏ tình cảm, là sự giao lu với mọi ngờixung quanh những vấn đề về số phận, về cuộc sống con ngời Những đề tàinh: hạnh phúc, đau khổ, niềm vui, nỗi buồn, tình yêu, sự sống và cái chết…,nghĩa là mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống con ngời, đã trở thành đề tàitruyền thống Đó là đề tài mà bất cứ nhà thơ thời đại nào cũng quan tâm Dovậy, thơ trữ tình trong lăng kính hẹp nhất của cái nhìn cá thể, lại luôn luôn
phản chiếu những vấn đề chung nhất của con ngời Tập thơ Việt Bắc của Tố
Hữu có đến 6 bài thơ do tác giả dịch từ thơ nớc ngoài Điều đó không phảingẫu nhiên Tố Hữu đã thấy những bài thơ đó phản ánh đợc tấm lòng của ngờidân Việt Nam trong kháng chiến Về một phơng diện khác, những bài thơ đó
đã góp thêm tiếng nói tâm tình, thông cảm của bè bạn đối với những hy sinhmất mát của nhân dân ta trong chiến tranh Những bài dân ca Nam T hay
những câu thơ của Ximônốp (Đợi anh về) dờng nh đã vì Việt Nam mà hát, đã
vì Việt Nam mà viết, bởi một lẽ rất đơn giản, chiến tranh đã gây nên baonhiêu cảnh đau thơng cho mọi ngời dân và bất kỳ ở đâu quân đế quốc xâm lợccũng gieo tang tóc nh vậy
Nếu nh ở phơng diện cái tôi trữ tình mang tính chủ quan cá nhân, chúng
ta quan tâm đến mối quan hệ giữa cái tôi nhà thơ với cái tôi trữ tình, thì phơng
Trang 18diện cái tôi trữ tình mang bản chất xã hội nhân loại này, chúng ta chú ý đếnmối quan hệ giữa cái tôi trữ tình với cái ta cộng đồng
Chúng ta thừa nhận thơ trữ tình là vơng quốc chủ quan, nhng cái chủquan này vẫn hớng về cái ta chung mang tính xã hội, nhân loại Đặc biệt,trong những hoàn cảnh lịch sử khi con ngời phải đối mặt với những thiên taikhủng khiếp, với những thế lực giặc xâm lăng cờng bạo, lúc đó mọi ngời đềuphải tập hợp trong một lực lợng để tạo nên sức mạnh đối phó ở nớc ta, haicuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho ta thấy rõ đợc khối sức mạnh
đoàn kết toàn dân tộc Chiến tranh khốc liệt, sự tồn vong của dân tộc đợc đặtlên hàng đầu Hoàn cảnh ấy sẽ ít có chỗ cho cái tôi cá nhân tồn tại Nếu nh thơtrữ tình lúc đó không phải là những lời hiệu triệu mọi ngời xông lên phía trớc
mà chỉ quay xung quanh những cảm xúc cá nhân khép kín, cô đơn thì thơ sẽrất lạc lõng Thơ lúc bấy giờ phải là lời hiệu triệu, cổ vũ quần chúng nhân dân,vóc nhà thơ phải là ở những vị trí chiến đấu Thơ phải thể hiện sự lo toan trớcvận mệnh nớc nhà, phải đề cao ý thức công dân sẵn sàng hy sinh cái riêng choquyền lợi chung của đất nớc:
Ôi Tổ quốc ta, ta yêu nh máu thịt
đồng (sau cách mạng) Quá trình đó đã đợc tác giả viết thành những tiểu luận,những bài thơ đặc sắc Đó là quá trình nh Chế Lan Viên đã từng khái quát:
- Từ thung lũng đau thơng ra cánh đồng vui
- Từ chân trời một ngời đến chân trời tất cả
- Từ mất nỗi đau riêng để đợc niềm vui chung
1.1.2.3 Bản chất thể loại của cái tôi trữ tình
Cái tôi trữ tình gắn với thể loại thơ trữ tình thông qua sự cảm nhận chủquan về hiện thực nhà thơ đã tích lũy cho mình một nguồn t liệu cần thiết.Nguồn t liệu ấy đợc xem nh là nội dung, chất liệu làm nên tác phẩm Đến lợt
nó, cái tôi trữ tình sẽ sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật đặc thù và tổ chức
Trang 19toàn bộ thế giới ấy dới hình thức một văn bản trữ tình Rõ ràng, việc đa hiệnthực vào trong tác phẩm ở thơ trữ tình phải khác với tác phẩm tự sự hay tácphẩm kịch Bởi thế cần phải nắm đợc bản chất nghệ thuật thẩm mĩ của cái tôitrữ tình và sáng tạo theo những quy tắc riêng của thể loại Trớc hết là hìnhthành tứ thơ và xác lập vị thế cái tôi trữ tình Tứ thơ là cái cốt lõi t tởng, là sựkết tinh cảm xúc, suy t của chủ thể trữ tình Gọi là tứ trớc hết là để phân biệtvới ý trong một bài thơ có nhiều ý Nhng phải có một ý lớn bao trùm toàn bài.
Có ngời hiểu ý bao trùm toàn bài thơ ấy là tứ của bài thơ Nhng phân tích kỹ,
tứ và ý là hai bình diện khác nhau Các ý mà văn bản thơ muốn biểu đạt thờngkhông đợc thông báo trực tiếp đầy đủ qua bài thơ mà do tứ thơ gửi lên Cùngvới tứ thơ là sự xác lập t thế trữ tình Đó là những hình thức biểu hiện cái tôitrữ tình trong thơ
Cái tôi trữ tình bộc lộ trong thơ dới ba hình thức cơ bản Có khi dớidạng trực tiếp gắn với cuộc đời riêng của ngời viết Thờng trong những trờnghợp ấy, cái tôi trữ tình rất gần hoặc cũng chính là cái tôi của tác giả và nhà thơthờng sử dụng một cách trực tiếp qua các đại từ nhân xng “tôi” hoặc “ta”:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vờn hoa lá
Rất đậm hơng và rộn tiếng chim
(Từ ấy - Tố Hữu)
Hay nh trờng hợp của Chế Lan Viên:
Giã mẹ ra đi kháng chiến bốn phơng trời Kết nạp Đảng, bỗng quay về quê mẹ!
Có phải quê hơng gọi ta về đấy nhỉ?
Dặn dò ta, khuyên nhủ ta thêm (Kết nạp Đảng trên quê mẹ)
Trờng hợp thứ hai là cảnh ngộ sự việc trong thơ không phải là cảnh ngộriêng của tác giả Nhà thơ nói lên cảm nghĩ về những sự kiện mà mình có dịptrải qua hoặc chứng kiến nh một kỷ niệm, một quan sát:
Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào Thấy nghìn núi, trăm sông diễm lệ Con ngọc trai đêm hè đáy bể Uống thủy triều bỗng sáng hạt châu
Trang 20Trờng hợp thứ ba là những bài thơ trữ tình viết về một loại nhân vật nào
đó nh bài thơ Bà mẹ Việt Bắc của Tố Hữu hay bài thơ Bữa cơm thờng trong
bản nhỏ của Chế Lan Viên viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Trong thơ khi đã xác lập đợc tứ thơ và vị thế trữ tình, nhà thơ sẽ tổ chứchình thức văn bản trữ tình Mọi sự lựa chọn từ thể thơ cho đến hệ thống từngữ, vận nhịp, kết cấu,… đều in đậm dấu ấn của chủ thể và phù hợp thị hiếuthẩm mĩ của con ngời thời đại Cái tôi trữ tình chính luận Chế Lan Viên a lốithơ văn xuôi tạo cái thế trùng điệp liên hoàn của ngôn ngữ thơ:
Khi Nguyễn Huệ cỡi voi, cầm hỏa hổ, có thấy hồn Tổ quốc mênh mang
nh ta cỡi nghìn xe thiết giáp.
Và những biên đội oai hùng giết giặc giữa trời mây?
1.1.3 Những nhân tố tạo nên sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ
Cái tôi trữ tình với t cách là một hiện tợng nghệ thuật, nó có sự hìnhthành, phát triển, kết thúc hoặc chuyển hóa sang một dạng khác Quá trình vận
động ấy khó hình dung một cách đầy đủ trong thơ của một số tác giả mà sựnghiệp thơ của họ quá ngắn ngủi, chỉ xuất hiện với một vài ấn phẩm Phần
đông các tác giả khác có số lợng tác phẩm nhiều lại sáng tác qua các giai đoạnlịch sử và văn học có nhiều bớc biến chuyển thì dấu ấn của sự vận động càng
rõ nét
Chế Lan Viên là một tác giả lớn Sự nghiệp sáng tác của ông kéo dàihơn nửa thế kỷ qua ba chặng đờng lớn của văn học Việt Nam thế kỷ XX.Nghiên cứu thơ Chế Lan Viên, ai cũng dễ dàng nhận thấy, thơ ông giữa giai
đoạn này với giai đoạn khác đều có bớc tiến triển Trong những bài tiểu luận,hay một số bài thơ của mình ông cũng khẳng định điều đó Ông viết:
- Mất nỗi đau riêng để đợc niềm vui chung
- Giọng cao bao nhiêu năm giờ anh hát giọng trầm.
Hơn thế nữa, ông còn chỉ ra nguyên nhân tạo ra bớc biến chuyển Một
trong những nguyên nhân đó là vai trò của lãnh tụ (Ngời thay đổi đời tôi -
ng-ời thay đổi thơ tôi) và vai trò của nhân dân Nhân dân nh một ngọn nguồn
trong lành đã nâng đỡ hồn thơ Chế Lan Viên:
Con gặp lại nhân dân nh nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Nh đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đa.
Trang 21Có thể nêu lên đây những nhân tố đã thúc đẩy sự vận động của cái tôitrữ tình trong thơ nói chung và thơ Chế Lan Viên nói riêng
1.1.3.1 Hoàn cảnh xã hội, các trào lu văn học và sự tiếp nhận của ngời đọc
Đây đợc xem là nguyên nhân khách quan Giữa hoàn cảnh xã hội vàtiến trình văn học có mối quan hệ khăng khít Đó là mối quan hệ giữa hạ tầngcơ sở và kiến trúc thợng tầng Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà trong mộtbài văn học sử về một giai đoạn đều phải thông qua bớc tìm hiểu hoàn cảnh xãhội Hoàn cảnh này đã tác động đến cái tôi trữ tình Bởi vì, cái tôi trữ tình baogiờ cũng là sản phẩm của một thời đại Có thể thấy rõ điều này qua tập thơ
đầu tay của tác giả Có tới năm yếu tố chi phối t duy nghệ thuật, hình thành
nên cái tôi trữ tình trong Điêu tàn:
1 Cuộc sống lầm than của dân tộc bị áp bức trớc cách mạng
2 Phong trào thơ mới (1932 - 1945)
3 Những quan niệm của Trờng thơ loạn của nhóm thơ Bình Định
4 ảnh hởng của gia đình, quê hơng, những tháp Chàm ở Bình Định
5 ảnh hởng của các thứ tôn giáo
Cả 5 yếu tố trên thuộc về hoàn cảnh xã hội là những nguyên nhân khách
quan tạo nên cái tôi trữ tình độc đáo trong Điêu tàn Đó là cái tôi lãng mạn thoát ly chối bỏ cuộc sống thực tại (Với tôi tất cả nh vô nghĩa - Tất cả không
ngoài nghĩa khổ đau) và cái tôi siêu hình hoang tởng (Làm bóng ma Hời sờ soạng đêm mơ) Nghiên cứu thơ Chế Lan Viên các giai đoạn sau này, ta cũng
thấy rõ sự ảnh hởng to lớn của hoàn cảnh xã hội đối với sự hình thành và pháttriển của cái tôi trữ tình trong thơ
Nói đến hoàn cảnh xã hội còn là nói đến sự tiếp nhận của ngời đọc.Trong sáng tạo nghệ thuật, không thể không chú ý đến đối tợng tiếp nhận Cómột thực tế là nhà thơ đã tạo ra công chúng của mình nhng công chúng cũng
có thể tạo ra nhà thơ của họ Thơ Đờng luật rất uyên bác trong thời kỳ văn họctrung đại, chủ yếu là để phục vụ cho tầng lớp trí thức, quan lại quý tộc Vănhọc lãng mạn Việt Nam 1932 - 1945 với Thơ mới và tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn đợc viết ra hớng tới độc giả chủ yếu là tầng lớp trẻ, là tầng lớp thanhniên trí thức tiểu t sản ở thành thị Cả hai bộ phận văn học nói trên không gầngũi lắm với bộ phận bình dân Đến thời kỳ kháng chiến, văn học mang khuynhhớng sử thi đem tiếng nói cộng đồng, hớng tới quảng đại quần chúng, đặc biệt
Trang 22là quần chúng công nông binh Viết cho quần chúng thì phải viết những vấn
đề gì sát thực với cuộc sống và nhất là sát với trình độ tiếp nhận của họ Tơng
tự nh vậy, đến thời kỳ sau 1975 khi mà cuộc chiến tranh đã kết thúc, đất nớcbớc vào thời kỳ hòa bình, cuộc sống và nghệ thuật trở lại với muôn mặt đời th-ờng, thị hiếu thẩm mĩ của ngời đọc thay đổi, ngời ta quan tâm nhiều đếnnhững tác phẩm phản ánh đời t thế sự, đến đời sống cá nhân Điều đó buộcnhà thơ phải thay đổi giọng điệu, từ giọng điệu “vang ngân” chuyển sang
“giọng trầm” của cuộc sống thờng nhật:
Giọng cao bao nhiêu năm giờ anh hát giọng trầm
Hay:
Xa tôi hát mà bây giờ tôi tập nói Chỉ nói thôi mới nói hết đợc đời.
Nh vậy, nghiên cứu sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ không thể
bỏ qua đối tợng tiếp nhận của ngời đọc Một nhà thơ lớn đợc đánh giá caophải nói lên đợc tiếng nói phù hợp với tâm t tình cảm thị hiếu của bạn đọc
Một trong những nhân tố khách quan khác cũng có ảnh hởng tới sự hìnhthành và phát triển cái tôi trữ tình của tác giả đó là trào lu văn học của thời đại
và những kinh nghiệm của thể loại Chế Lan Viên viết Điêu tàn vào những
năm phong trào Thơ mới đạt đến đỉnh cao của mình Nhìn rộng ra thì đây làthời kỳ văn học dân tộc đang trên đà chuyển biến mang tính chất cách tân sovới lịch sử hàng nghìn năm phát triển Văn học trong quá trình hiện đại hóa.Phong trào Thơ mới có tác động lôi kéo thúc đẩy mầm mống tài năng thơ củaChế Lan Viên phát triển Hơn thế nữa, khi đã là thành viên của phong trào,Chế Lan Viên đã đóng một vai trò tích cực Với t cách là ngời trong cuộc, ChếLan Viên không thể không hấp thụ những nguyên tắc sáng tác của Thơ mới.Mặc dầu Chế Lan Viên đã đa đến cho Thơ mới một giọng điệu riêng, một nétcá tính sáng tạo độc đáo đến mức “kỳ dị”, nhng phải thấy rằng cái tôi trữ tình
trong Điêu tàn có những nét tơng đồng với cái tôi lãng mạn của Thơ mới Ông
tìm thấy ở đó tiếng nói đồng cảm của một bộ phận tầng lớp thanh niên tiểu tsản bế tắc:
Ôi tâm t ngăn giữa bốn bờ tờng Chờ gió mới nhng cửa đều đóng kín
(Lửa thiêng - Huy Cận)
Trang 23Nói về ảnh hởng mà kinh nghiệm của thể loại đa lại, ta cũng thấy ChếLan Viên là ngời chịu ảnh hởng khá sâu sắc Thế kỷ XX, thể loại thơ đã tíchlũy cho mình những kinh nghiệm quý báu Các thể thơ truyền thống nh thơ Đ-ờng luật, thơ lục bát không ngừng đợc hoàn thiện, cộng thêm đó thể thơ tự dotuy mới đợc hình thành nhng cũng đa đến những hình thức biểu đạt hấp dẫncho thơ Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Chế Lan Viên đã tiếp thu và vậndụng sáng tạo những kinh nghiệm ấy của thể loại thơ và tạo nên những bài thơ
đặc sắc Đặc biệt là trong hai hình thức mà Chế Lan Viên thành công nhất đó
sự vận động cái tôi trữ tình Nhà thơ Pháp Aragông (1897 - 1982) nhờ sự giácngộ “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” đã chuyển từ một nhà thơ siêu thựcsang một nhà thơ trữ tình cộng sản Bớc biến chuyển của Chế Lan Viên cũng
có nét tơng tự Bài thơ Ngời thay đổi đời tôi, ngời thay đổi thơ tôi trong tập
Hoa ngày thờng - Chim báo bão là bài thơ tiêu biểu cho điều đó Bài thơ nói
tới vai trò của lãnh tụ đã làm thay đổi cuộc đời của tác giả và đã tạo nên bớcbiến chuyển trong cuộc đời thơ ông Nh một hệ quả tất yếu: cuộc đời đợc đổithay đã kéo theo sự thay đổi về thơ Trong các tiểu luận cũng nh trong các bàithơ đợc sáng tác sau năm 1954, Chế Lan Viên hơn bất cứ nhà thơ nào khác đãnói nhiều về sự thay đổi này Từ tâm hồn một thi sĩ cảm thơng đến tâm hồn thi
sĩ tham gia cải tạo thế giới đối với Chế Lan Viên là cả một bớc đờng rèn luyệnphấn đấu không ngừng Khi cuộc đời đã có một hớng đi đúng đắn “từ chântrời một ngời đến chân trời tất cả”, nhà thơ cũng có sự thay đổi Tất cả đã làmnên một sức sống mới cho thơ:
“Ta là ai?” - nh ngọn gió siêu hình
Trang 24Câu hỏi h vô thổi nghìn nến tắt
“Ta vì ai ?” - khẽ xoay chiều ngọn bấc
Bàn tay ngời thắp lại triệu chồi xanh
(Hai câu hỏi)
1.2 Vị trí văn học sử của nhà thơ Chế Lan Viên trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại
Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên nằm trọn trong thế kỷ
XX Đây là thế kỷ có nhiều sự kiện lịch sử và văn học dân tộc đạt đến đỉnhcao nhất của thiên niên kỷ
Những tháng ngày ấy, vợt qua muôn vàn gian khổ hi sinh, nhân dân ta
đã lập nên những chiến công hiển hách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Đồng thời, đây cũng là thế kỷ nền văn học nớc nhà có nhiều bớc biếnchuyển mạnh mẽ Văn học không ngừng vận động, đổi mới theo xu hớng hiện
đại hóa, dân chủ hóa cả về mặt nội dung và hình thức biểu hiện Văn học ViệtNam đã chuyển từ văn học trung đại sang văn học hiện đại
Thế kỷ XX, chúng ta có nhiều nhà thơ nổi tiếng Đầu thế kỷ có các nhàthơ lớn nh Tản Đà, Phan Bội Châu… Giai đoạn 1930 - 1945 đã xuất hiệnnhững nhà thơ trẻ nổi tiếng nh Tố Hữu, Lu Trọng L, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu,Huy Cận,… Thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến nay đã có biết baonhà thơ đầy tài năng nh: Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đình Thi, Phạm TiếnDuật, Xuân Quỳnh, Giang Nam, Thanh Thảo… Trong số các nhà thơ đó, ChếLan Viên đợc xem là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế kỷ
Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng, một nhà văn hóa có vị trí quantrọng trong văn học Việt Nam hiện đại Trong hơn năm mơi năm cầm bút, ông
đã để lại một khối lợng tác phẩm lớn và đa dạng: trên mời tập thơ, hàng chụctập bút ký, tiểu luận, phê bình đã xuất bản và hàng ngàn trang di cảo mới đợc
tập hợp, bớc đầu đợc in thành ba tập Di cảo thơ.
Chế Lan Viên là một nhà thơ gắn bó đời và thơ mình với vận mệnh dântộc và sự nghiệp cách mạng, đồng thời luôn luôn thể hiện những khát khaosáng tạo của một bản lĩnh, một tâm hồn thi sĩ Nhiều tác phẩm của ông đã cótiếng vang lớn, in đậm dấu ấn trong lòng độc giả trở thành đỉnh cao trongthành tựu thơ Việt Nam hiện đại Sáng tác của Chế Lan Viên, cùng với nhữnghoạt động văn hóa phong phú của ông đã có tác động tích cực và ảnh hởngrộng rãi trong đời sống Việt Nam hiện đại và trên trờng quốc tế
Trang 25Sinh thời và sau khi Chế Lan Viên mất, mỗi tác phẩm cũng nh sựnghiệp sáng tác của ông đã đợc giới nghiên cứu phê bình chú ý Dù có những
ý kiến khác nhau, nhng nhìn chung Chế Lan Viên đợc đánh giá nh một thi sĩtài năng, một phong cách đặc sắc
Nói về vị trí văn học sử của nhà thơ Chế Lan Viên, Nguyễn Bá Thành
đã từng khẳng định: “Trong tiến trình lịch sử thơ hiện đại Việt Nam ở thế kỷ
XX, hiếm có nhà thơ nào chiếm lĩnh đợc đỉnh cao ở cả ba thời kỳ tiêu biểunhất nh nhà thơ Chế Lan Viên” [57, 3] Điều này đã đợc khẳng định qua cácchặng đờng sáng tác của ông
Thời kỳ sáng tác trớc Cách mạng tháng Tám năm 1945, giữa lúc phongtrào Thơ mới (1932 - 1945) đang thịnh hành, đảm đơng sứ mệnh “một thời đại
mới trong thi ca” thì tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên ra đời Đây là một tập
thơ mỏng gồm 36 bài, đợc viết khi tuổi đời, tuổi nghề văn chơng của nhà thơcòn rất trẻ Nhng khi xuất hiện giữa làng thơ, nó đã tạo nên sự kinh dị và thánphục đối với mọi ngời Nguyễn Vĩ, một nhà thơ lúc bấy giờ thuộc bậc đàn anhtrong số các nhà Thơ mới khi nhận xét tập thơ đã không ngần ngại mà chorằng: “Đây là những lời thanh cao tuyệt vời đáng ghi nhận vào lịch sử thi ca”
[26, 25] Tiếp đến, các học giả Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt
Nam cũng đã dành nhiều lời bình mang tính khẳng định về giá trị tập thơ đầu
tay này
Từ sau Cách mạng tháng Tám đến 1975 là thời kỳ đỉnh cao nhất trong
sự nghiệp thơ của Chế Lan Viên Với những tập thơ tiêu biểu nh ánh sáng và
phù sa (1960), Hoa ngày thờng - Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972)…, Chế Lan Viên đã thật sự làm sôi động văn đàn và làm vẻ vang
cho cả nền văn học chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân tộc
Sau 1975, Chế Lan Viên đã để lại hàng trăm bài thơ đặc sắc đợc introng ba tập Di cảo Trong đó, với hơn một nửa số lợng bài thơ đợc sáng táctrong những năm cuối đời, Chế Lan Viên một lần nữa tạo nên sự sửng sốt đối
với độc giả yêu thơ Trong ba tập Di cảo này, có tập Di cảo II (1993) đã đợc
Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thởng tác phẩm thơ xuất sắc nhất của năm
Trang 26ông đã đi đúng vào nguồn mạch chính của dân tộc và thời đại Thơ Chế LanViên khi thì nh tiếng kèn xông trận, khi thì thủ thỉ tâm tình lắng sâu vào lòngngời đọc, với t cách là một ngời bạn đờng, hơn thế nữa đó là ngời hớng dẫn.Một trong những đặc sắc của thơ Chế Lan Viên làm nên sức hấp dẫn đối với
độc giả còn bởi thơ Chế Lan Viên là thứ thơ giàu chất triết lý, giàu màu sắcnhận thức luận Đó là thứ thơ mà nh ông đã từng quan niệm:
Thơ không chỉ đa ru mà còn thức tỉnh Không chỉ “ơ hời” mà còn đập bàn quát tháo lo toan
Đi theo phơng hớng này, trong thơ Chế Lan Viên, vai trò của trí tuệ rấtnổi bật Vì giàu chất trí tuệ nên thơ Chế Lan Viên cũng giàu suy tởng Thơ
ông không chỉ đi vào miêu tả biểu hiện cảm xúc mà còn đi sâu, cắt nghĩa mọihiện tợng của đời sống Đặc biệt, trong những trang thơ viết về Tổ quốc, ông
đã đa đến cho ngời đọc những suy tởng lớn về đất nớc và con ngời Việt Namthời đại Ngời đọc nhận ra đợc cội nguồn dân tộc từ cái chiều sâu, cái bề xacủa những trang sử đã trải qua đầy đau thơng và hào hùng Tất cả đa đến chochúng ta niềm tự hào về Tổ quốc ta trong thời đại Hồ Chí Minh
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
Chế Lan Viên không chỉ là một nhà thơ mà còn là một nhà lý luận, phêbình thơ sắc sảo, độc đáo Điều này không phải chỉ đợc thể hiện trên nhữngtiểu luận viết bằng văn xuôi mà ngay cả trong thơ Nh là một hiện tợng độc
đáo, gần nh là có một không hai, Chế Lan Viên trở thành ngời sử dụng thơ đểbàn luận về thơ một cách say sa và đầy đủ nhất Các tác giả khác cũng dùngthơ để bàn luận về thơ Cuối thế kỷ XIX, nhà thơ yêu nớc Nguyễn Đình Chiểu
(Sóng Hồng)
Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong
(Hồ Chí Minh)
Trang 27Tuy có nhiều tác giả dùng thơ bàn luận về thơ nhng họ cũng chỉ dừnglại ở một số bài thơ trong những thời điểm sáng tác nhất định Còn đối với ChếLan Viên, đọc các tập thơ của ông từ những năm còn rất trẻ mới bớc vào nghềcho đến những năm cuối đời, chúng ta đều thấy tập thơ nào cũng có nhiều bàithơ bàn luận về thơ trên các phơng diện: Quan niệm về thơ và ngời làm thơ, ýthức trách nhiệm của ngời cầm bút Tác giả còn bàn luận về cả nội dung vànghệ thuật cũng nh các thao tác, các kỹ thuật làm thơ Nhiều câu thơ của ChếLan Viên bàn luận về thơ vừa phản ánh quan niệm của chính tác giả vừa phản
ánh quan niệm về thơ của cả một phong trào thơ và của cả một thời kỳ lịch sử.Chẳng hạn, ông nói đến tính chất của thơ xa và thơ nay Trớc hết ông đi từthực tế của thơ mình:
Xa tôi hát mà bây giờ tôi tập nói Chỉ nói thôi mới nói hết đợc đời
Sau đó, ông khái quát, nói lên xu thế vân động của cả một nền thơ trongthời đại mới:
Thơ xa chỉ hay than mà ít hỏi
Đảng dạy ta thơ phải trả lời
Đề cập đến vị trí nhà thơ trong từng thời kỳ, ông cũng có những quan
niệm khác nhau Nếu trong Điêu tàn ông quan niệm “thi sĩ là ngời mơ, ngời
say, ngời điên”,… thì đến thời kỳ chống Mỹ, ông viết:
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi
Thể hiện quá trình vận động của cái tôi trữ tình trong thơ của mình, ChếLan Viên đã diễn đạt nó bằng nhiều câu thơ xúc động, gây ấn tợng mạnh mẽ
Đó là sự đánh giá nghiêm khắc thơ mình thời kỳ trớc Cách mạng:
Chớ bao giờ quên nỗi chua cay của một thời thơ ấy
Tổ quốc trong lòng ta mà có cũng nh không Nhân dân ở quanh ta mà ta nào có biết Thơ xuôi tay nh nớc chảy xuôi dòng
Đến thời kỳ sáng tác mới, sống chan hòa trong cuộc sống chung củaCách mạng, ông đã nói đợc vai trò của Đảng, Bác Hồ đối với sự nghiệp sángtác của mình Ông viết:
Ngời thay đổi đời tôi, Ngời thay đổi thơ tôi
Trang 28Và đối với nhân dân, ông đã thấy đợc nguồn sức mạnh, nguồn cổ vũ lớnlao:
Con gặp lại nhân dân nh nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Nh đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đa
Thơ sau 1975 có sự chuyển đổi giọng điệu Bắt nhịp xu thế này, thơ ChếLan Viên cũng đã thể hiện xu thế vận động từ giọng thơ “vang ngân” đãchuyển sang “giọng trầm”:
Giọng cao bao nhiêu năm giờ anh hát giọng trầm Tiếng hát lẫn với im lìm của đất
Từ những phạm vi đề cập trên đây, một lần nữa, chúng ta có thể khẳng
định: Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng, một nhà văn hóa lớn có vị tríquan trọng trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại Tác phẩm thơ của ông đã đểlại ấn tợng sâu sắc cho nhiều thế hệ độc giả Sự nghiệp sáng tác của ông mãi
là tấm gơng sáng cho các thế hệ noi theo
Trong một bài thơ vĩnh biệt Chế Lan Viên (tháng 6 năm 1989), nhà thơlớn Tố Hữu viết:
Mai sau những cánh đồng thơ lớn Chắc có thơ anh bón sắc hồng
1.3 Sự hình thành cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên
Nghiên cứu sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên lànhằm chỉ ra cái tôi trữ tình của tác giả ở giai đoạn này với giai đoạn khác cónhững nét tơng đồng và khác biệt nh thế nào Từ đây, có thể thấy đợc sự kếthừa và cách tân trong sáng tạo nghệ thuật của Chế Lan Viên Để đi đến mụctiêu đó trớc hết cần phải có cái nhìn toàn cảnh về sự hình thành cái tôi trữ tìnhtrong thơ Chế Lan Viên qua một chặng đờng dài hơn nửa thế kỷ sáng tác của
ông
Chế Lan Viên bớc vào sự nghiệp sáng tác từ lúc còn rất trẻ và miệt mài
sự nghiệp ấy cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng Năm 1983, cha phải là nămcuối cùng của cuộc đời ông nhng ông đã giải bày tâm sự:
Tôi tiếp cận trang giấy ngày mời sáu tuổi Bây giờ sáu ba
Cái trang mơ ớc một đời cha với tới
Trang 29Dần xa Tôi nh ngời xâu sợi chỉ vào cây kim ngay trớc mặt Chỉ sắp lọt rồi Kim bỗng lùi xa
Tôi bớc lên một bớc Kim lùi thêm một bớc
ấy thế mà hết một cuộc đời văn học Tính tháng ngày nửa thế kỷ trôi qua
(Hồi ký bên trang viết)
Năm mơi ba năm gắn bó với thơ, qua bao bớc đờng thăng trầm của xãhội và của cuộc đời riêng, Chế Lan Viên đã miệt mài với sự nghiệp sáng tác và
đã cung cấp cho nền văn học Việt Nam hiện đại mời bốn tập thơ Số lợng tácphẩm ấy chứng tỏ sức sáng tạo dồi dào và bền bỉ của nhà thơ Với số l ợng tácphẩm thơ nhiều nh vậy nhng thơ Chế Lan Viên không đơn điệu và cũng không
hề tản mạn Do ảnh hởng của thời đại và sự nhận thức của cuộc đời và nghệthuật ở mỗi chặng đờng thơ khác nhau nên cái tôi trữ tình trong thơ cũng khácnhau Nhng xâu chuỗi lại, nó đã tạo nên một phong cách thống nhất Đó là sựkết hợp giữa trí tuệ và cảm xúc, trong đó chất trí tuệ là một thế mạnh tạo nêndiện mạo riêng của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên:
Thơ không chỉ đa ru mà còn thức tỉnh Không chỉ “ơ hời” mà còn đập bàn, quát tháo, lo toan.
(Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ…)
Chúng ta có thể thấy sự hình thành cái tôi trữ tình trong thơ Chế LanViên qua ba thời kỳ lớn gắn liền với ba thời kỳ phát triển của văn học ViệtNam thế kỷ XX
1.3.1 Thời kỳ trớc Cách mạng tháng Tám
Đây là thời kỳ mở đầu sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên Ông xuất
hiện giữa làng thơ với tác phẩm đầu tay Điêu tàn Tập thơ này gồm 36 bài đợc nhà xuất bản Thái Dơng, Hà Nội xuất bản năm 1937 Sau Điêu tàn, từ năm
1937 đến 1945, Chế Lan Viên vẫn tiếp tục làm thơ Những bài thơ này, một số
đã đợc đăng rải rác trên các báo thời kỳ đó Đến năm 1992 và 1994, nhà văn
Vũ Thị Thờng đã tuyển chọn 26 bài đa vào hai tập Di cảo Các bài thơ đều có
nét chung giống nhau về nguồn cảm hứng sáng tạo, về bút pháp thể hiện… Vì
vậy khi nghiên cứu, ta chỉ cần chọn Điêu tàn là đủ.
Điêu tàn đợc viết khi Chế Lan Viên mới ở độ tuổi mời lăm - mời bảy,
đang là học sinh trung học ở Quy Nhơn (Bình Định) Thời kỳ đó, bản lĩnh và
Trang 30cá tính sáng tạo của nhà thơ mới đợc hình thành, bản thân chịu nhiều ảnh ởng của phong trào Thơ mới và thơ tợng trng phơng Tây, đặc biệt là Bôđơle.
h-Cùng với sự ra đời của Điêu tàn, lần đầu tiên cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan
Viên xuất hiện với đầy đủ diện mạo của nó Cái tôi này mang những đặc điểmchung của cái tôi trong thơ lãng mạn
Nó nằm ở vị trí trung tâm cảm nhận làm thế giới quan Đây là cái tôi cánhân tự biểu hiện, khép kín và cô đơn về mặt xã hội Cái tôi thể hiện ớc mơ vàhành động để giải thoát cuộc sống thờng ngày với những “u phiền, đau khổvới buồn lo” bằng nhiều con đờng - trong đó con đờng thoát li thực tế vẫn là
con đờng chủ đạo Bên cạnh những nét tơng đồng, cái tôi trữ tình trong Điêu
tàn vẫn có nhiều nét khác biệt so với cái tôi trữ tình của Thơ mới Nh Nguyễn
Văn Long đã nhận xét: “Điêu tàn có những cảm xúc mạnh mẽ, những suy
t-ởng và cấu tứ táo bạo, một số hình ảnh khoáng đạt chứa đựng sức mạnh nộitâm và trí tởng tợng phong phú, nó báo hiệu cho sự hình thành của một hồnthơ rộng lớn” [33, 72]
Trong Điêu tàn, Chế Lan Viên đã tạo ra một thế giới nghệ thuật khác lạ.
Đó là thế giới u linh của những quỷ dữ, ma Hời gắn với sự tàn vong của đất
n-ớc Chiêm Thành xa Có thể cảm nhận một cách chung nhất về cái tôi trữ tìnhtrong thơ Chế Lan Viên ở chặng đờng đầu sáng tác: đó là cái tôi lãng mạn siêuhình mang màu sắc triết lý hoang tởng, nó nói nhiều đến cái vô nghĩa, tuyrằng cái vô nghĩa hợp lý
1.3.2 Thời kỳ 1945 - 1975
Đây là giai đoạn thứ hai trong sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên.Giai đoạn này gắn với những sự kiện lịch sử hào hùng của dân tộc Mở đầu làcuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 Mốc son chói lọi này đã đa đất nớc ta
từ nô lệ đến độc lập, đa những ngời dân bị áp bức lầm than trở thành nhữngchủ nhân của lịch sử Đối với văn học, cách mạng cũng đã giải phóng cho vănnghệ sĩ, mở ra cho họ một chặng đờng sáng tác mới Tiếp đến, hai cuộc khángchiến chống Pháp, chống Mỹ và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềnBắc trở thành nơi thử thách, tôi luyện nên chất thép, tạo nên nguồn cảm hứngsáng tạo dào dạt cho những ai đợc vinh dự sống và sáng tác trong giai đoạnnày Thời đại mới, thời đại Hồ Chí Minh đã tạo nên bớc chuyển biến mạnh mẽtrong tâm hồn thơ của Chế Lan Viên cũng nh đội ngũ các nhà Thơ mới đếnvới nền thơ cách mạng
Trang 31- Đảng đã cho tôi sáng mắt, sáng lòng (Xuân Diệu)
- Ngời thay đổi đời tôi, Ngời thay đổi thơ tôi (Chế Lan Viên)
Nhìn một cách khái quát, trong ba giai đoạn sáng tác thì ở giai đoạnsáng tác thứ hai này, thơ Chế Lan Viên đạt đợc nhiều thành tựu nhất cả về sốlợng và chất lợng nghệ thuật Tất nhiên, để có đợc thành quả đó, ngời nghệ sĩ
đã phải trải qua một quá trình phấn đấu, đấu tranh với chính bản thân mình
Đi xa về hóa chậm Biết bao là nhiêu khê.
Từ năm 1945 đến năm 1975, Chế Lan Viên đã sáng tác và giới thiệu với
bạn đọc sáu tập thơ Mở đầu là tập thơ Gửi các Anh, đợc viết trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp Tập thơ này, nh tác giả đánh giá là không hay, nhng
nó ra đời đánh dấu bớc biến chuyển trong tâm hồn thơ Chế Lan Viên Từ mộttrí thức tiểu t sản, một công chức của chế độ cũ, bây giờ ông đã trở thành mộtchiến sĩ trên mặt trận văn hóa, sát cánh cùng đồng bào chiến đấu bảo vệ Tổquốc Con ngời công dân, con ngời xã hội ở Chế Lan Viên đã có một sự thay
đổi căn bản và có thể nói là mau lẹ Điều này đã có ảnh hởng tạo nên sự thay
đổi trong con ngời nghệ sĩ ở ông Ông đã rời bỏ những băn khoăn và bế tắc vềcái “tôi” và cuộc sống để cảm nhận đợc những vẻ đẹp, sự hi sinh to lớn vànhững tình cảm cao quý của nhân dân Từ đây, thơ Chế Lan Viên đã hìnhthành một cái tôi trữ tình kiểu mới rất tiêu biểu cho thơ ca thời kỳ kháng chiếnchống Pháp Đó là cái tôi trữ tình chính trị, mang khuynh hớng sử thi Có thểnói đây là sự chuyển biến mang ý nghĩa bớc ngoặt, chuyển từ cái tôi lãng mạnsiêu hình sang cái tôi hiện thực cách mạng Mặc dù có bớc biến chuyển, nhngnhìn chung thơ Chế Lan Viên giai đoạn này cha đạt đến sự ổn định và nhuầnnhuyễn trong nghệ thuật, cha có một phong cách rõ nét
Những năm tháng có ý nghĩa nhất trong sự nghiệp sáng tác của Chế LanViên sau cách mạng tháng Tám là thời kỳ miền Bắc bớc vào cao trào xây dựngchủ nghĩa xã hội và cả nớc tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc.Hồn thơ Chế Lan Viên thật sự dạt dào tuôn chảy phải kể từ sau năm 1954, khicuộc sống mới hình thành trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào Thấy nghìn núi, trăm sông diễm lệ
Trong vòng hai mơi năm, có bốn tập thơ của Chế Lan Viên đã lần lợt
đến với độc giả Đầu tiên phải kể đến ánh sáng và phù sa Tập thơ gồm 69 bài
Trang 32đợc sáng tác trong khoảng 1955 - 1960 ánh sáng và phù sa trình bày cuộc
phấn đấu trong tâm hồn và t tởng nhà thơ để vợt qua những nỗi đau riêng hòahợp với niềm vui chung, thể hiện niềm tin yêu, lòng biết ơn và sự gắn bó sâusắc của nhà thơ với nhân dân, đất nớc và Đảng, Bác Hồ
Nguyễn Văn Long đã có nhận xét: “ánh sáng và phù sa đã giải quyết
đ-ợc căn bản vấn đề “riêng chung”, nhà thơ đã đi trọn hành trình “từ chân trờimột ngời đến chân trời tất cả”” [33, 73]
Tiếp theo ánh sáng và phù sa là các tập thơ đợc sáng tác trong những năm chống Mỹ sục sôi trên cả hai miền đất nớc Đó là: Hoa ngày thờng -
Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973)
và Ngày vĩ đại (1975) Với các tập thơ này, Chế Lan Viên đã làm một cuộc
chuyển quân đa thơ lên sát chiến hào của cuộc chiến đấu Cái tôi trữ tình trongthơ Chế Lan Viên đạt đến độ viên mãn của cái tôi sử thi Trong đó, tình yêu
Tổ quốc trở thành tình cảm thiêng liêng:
Ôi, Tổ quốc ta, ta yêu nh máu thịt
Nh mẹ cha ta, nh vợ, nh chồng !
Ôi, Tổ quốc ! Nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông.
Và tình yêu đó đã nâng vị trí nhà thơ lên một tầm cao mới:
Cho tôi sinh ra giữa những ngày diệt Mỹ Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi.
Cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn 1945 - 1975 không chỉvang ứng với những vấn đề chính trị trọng đại của đất nớc mà nó còn rung
động, tinh tế trớc những nét bình dị của cuộc sống đời thờng:
Khi tôi muốn thơ tôi thành hầm chông giết giặc Thành một nhành mai mát mắt cho đời
Chùm thơ Hoa ngày thờng ở thơ Chế Lan Viên là một dạng biểu hiện
của cái tôi đời t, thế sự, với những cảm xúc vui buồn, suy t trớc cuộc sống gia
đình, đời thờng hàng ngày
Điểm qua các tập thơ trong giai đoạn sáng tác thứ hai của Chế LanViên, ta có thể nêu một cách khái quát giai đoạn này thơ ông đã hình thànhmột cái tôi trữ tình đa dạng, phong phú, bao gồm cái tôi sử thi, cái tôi ngợi ca
Trang 33cuộc sống mới và cái tôi đời t thế sự Trong đó, cái tôi sử thi vẫn là cái tôi nổibật nhất Đó là cái tôi giàu chất triết lý, đa đến những suy tởng lớn về đất nớc
và con ngời Việt Nam anh hùng trong thời đại Hồ Chí Minh
1.3.3 Thời kỳ sau 1975
Chiến thắng mùa xuân năm 1975 đã đa lịch sử dân tộc ta chuyển sangtrang mới Chiến tranh kết thúc, đất nớc thống nhất cùng đi lên xây dựng chủnghĩa xã hội Hoàn cảnh hòa bình, cuộc sống dần dần trở lại với những quiluật bình thờng Đất nớc đứng trớc những vận hội mới, hứa hẹn một tơng lai t-
ơi sáng, nhng cũng đứng trớc khó khăn, thử thách go của thời kỳ hậu chiến.Tình hình đó đã ảnh hởng sâu sắc đến sự phát triển của văn học, làm thay đổiquan niệm nghệ thuật của các nhà văn Sáng tác của nhà thơ Chế Lan Viêngiai đoạn này cũng không nằm ngoài qui luật chung đó Sau ngày đất nớc đợcgiải phóng, Chế Lan Viên chuyển vào sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh vàqua đời tại đây vào năm 1989
Trong khoảng cha đầy 15 năm ấy, nhà thơ đã sống với những niềm tâmtrạng có phần đối lập nhau Ông có niềm hân hoan với những chiến côngthắng giặc Mỹ xâm lợc và bè lũ tay sai bán nớc đã qua, vừa có những lo toan,bức xúc với những khó khăn của đời sống xã hội và của bản thân trong cơnkhủng hoảng của đất nớc thời kỳ đó Năm 1986, đất nớc bớc vào thời kỳ đổimới, nhng không phải ngày một ngày hai đã thay đổi ngay cuộc sống Tiếcrằng, khi cuộc sống bớc đầu có những đổi thay thì Chế Lan Viên lại bị bệnhnặng và từ giã cuộc đời
Sau năm 1975, có sáu tập thơ của Chế Lan Viên đã đợc xuất bản (đấy là
cha kể tập thơ Hoa trớc lăng Ngời, một tập thơ mang tính tổng hợp những bài
thơ, những đoạn thơ Chế Lan Viên viết về Bác Hồ từ năm 1953 - 1976) Đó là
các tập thơ: Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986)
và ba tập Di cảo thơ xuất bản vào các năm 1992, 1993 và 1996 Cái tôi trữ
tình trong thơ ông ở giai đoạn sáng tác thứ ba này đã có sự phân hóa trên cơ sở
kế thừa và cách tân cái tôi trữ tình ở các giai đoạn trớc ở ba tập thơ đầu từ
1975 - 1984, Chế Lan Viên một mặt tiếp tục phơng hớng đã mở ra trong giai
đoạn thơ chống Mỹ (thơ mang khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn),mặt khác hồn thơ ấy có phần lắng lại, hớng về vấn đề của cuộc sống bình th-
ờng hàng ngày Đến Di cảo thơ, sau khi Chế Lan Viên qua đời, ngời vợ của
ông là nhà văn Vũ Thị Thờng đã su tầm, biên tập những bài thơ cha đợc công
Trang 34bố thành các tập Di cảo Nhà xuất bản Thuận Hóa (Thừa Thiên Huế) đã cho inthành ba tập vào những năm chín mơi của thế kỷ trớc Ba tập Di cảo có 567bài, bao gồm những bài đợc Chế Lan Viên sáng tác từ những năm trớc Cáchmạng tháng Tám cho đến những năm cuối đời Trong đó, ngời đọc đặc biệtchú ý đến 287 bài đợc Chế Lan Viên sáng tác trong hai năm 1987 và 1988
Đến Di cảo thơ, giọng điệu thơ đã thay đổi, chất sử thi nhạt dần, nhờng
chỗ cho chất đời t thế sự:
Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng trầm, Tiếng hát lẫn với im lìm của đất,
Vờn lặng im mà thơm mùi mít mật Còn hơn anh rồ giọng hát vang ngân.
Vóc nhà thơ bây giờ cũng đã đợc giản lợc đi Từ chỗ “Vóc nhà thơ đứng
ngang tầm chiến lũy”, bây giờ ông viết: “Tôi chỉ là một nhà thơ cỡi trâu”.
Di cảo thơ đã tạo nên một bớc chuyển của nhà thơ từ những chủ đề có
tính chất lịch sử, có tính chất thời sự về Tổ quốc, nhân dân, về dân tộc và thời
đại sang chủ đề thế thái nhân tình Chế Lan Viên nhìn thẳng vào sự thật đờimình mà suy ngẫm, trăn trở
Điểm lại ba chặng đờng lớn trong sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên,
ta thấy mỗi chặng đờng thơ ông đã hình thành một cái tôi trữ tình riêng biệt.Cái tôi trữ tình trong thơ ông trớc Cách mạng là cái tôi trữ tình lãng mạn mangmàu sắc triết lý siêu hình hoang tởng Cái tôi trữ tình trong chặng đờng từ
1945 - 1975 là cái tôi trữ tình chính trị mang khuynh hớng sử thi giàu chấthiện thực, giàu sự suy tởng về dân tộc, thời đại và con ngời Việt Nam trongchiến đấu và xây dựng Còn cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn
1975, đặc biệt là trong các tác phẩm sáng tác những năm cuối đời là cái tôi trữtình suy ngẫm về thế thái nhân tình và cuộc đời riêng của tác giả Những nétriêng trong cách biểu hiện cái tôi trữ tình trong từng chặng đờng sáng tác nóilên sự đa dạng, phong phú, nói lên sự vận động, chuyển biến của thơ Chế LanViên
Chơng 2
từ cái tôi lãng mạn đến cái tôi hiện thực
cách mạng mang khuynh hớng sử thi
và ngợi ca cuộc sống mới
Trang 352.1 Từ cái tôi trữ tình lãng mạn
Cái tôi trữ tình lãng mạn đợc hình thành trong tập thơ Điêu tàn (1937).
Khi viết tập thơ này, tuổi đời, tuổi nghề Chế Lan Viên còn rất trẻ Nhng vớisức sáng tạo và trí tởng tợng phong phú, ông đã tạo nên đợc một cái tôi trữtình độc đáo gây ấn tợng mạnh mẽ đối với độc giả
2.1.1 Vị trí văn học sử của tập thơ Điêu tàn trong sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên
Cho đến nay, thơ của Chế Lan Viên đã đợc các nhà xuất bản in thành
15 tập với hàng ngàn bài Quả là một cái tháp thơ đồ sộ, nổi bật trên đồng
bằng thơ ca Việt Nam thế kỷ XX Nếu so với cái tháp thơ ấy thì Điêu tàn, tác
phẩm đầu tay của ông còn quá mỏng Toàn bộ tập thơ chỉ có 36 bài Mặc dầu
vậy Điêu tàn vẫn có một vị trí xứng đáng làm nên một giai đoạn sáng tác
không thể nào quên của tác giả
Ngay từ khi mới ra đời, Điêu tàn đã đợc mọi ngời chú ý Trên công
luận, những nhà nghiên cứu mang ý thức hệ t sản đều đề cao giá trị của tập thơnày Nguyễn Vỹ, một nhà thơ thuộc bậc đàn anh trong số các tác giả Thơ mới
đã nhận xét tập thơ có nhiều bài độc dáo, cảm động và không ngần ngại chorằng: “Đây là những lời thanh cao, tuyệt vời, đáng ghi nhận vào lịch sử thi
ca” Còn Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam cũng đã khẳng định một cách mạnh mẽ vị trí của Điêu tàn trong nền thơ ca đơng thời: “Giữa đồng
bằng của văn học Việt Nam thế kỷ XX, nó đứng sừng sững nh một cái thápChàm chắc chắn và lẻ loi, bí mật” [54, 198]
Tuy nhiên, từ giai đoạn trớc 1945 cũng đã xuất hiện nhiều ý kiến phê
bình tập thơ Điêu tàn với những quan điểm trái ngợc nhau Tố Hữu trong bài thơ Tháp đổ (tháng 3 năm 1938) đã đứng trên lập trờng Mác xít phê phán những hạn chế của Điêu tàn:
Ai lẩn thẩn đa màu tơi hoa lá
Rắc trên cành khô chết nhựa trong cây?
Ai khờ dại nhặt từng viên gạch rã
Băng bó vờn cổ tháp đã lung lay?
Sau Cách mạng cho đến những năm trớc thời kỳ đổi mới, Điêu tàn còn
bị phê phán nhiều lần Nhng với bài thơ Tháp đổ thì Tố Hữu có lẽ là ngời đầu tiên đã mạnh dạn phê phán những hạn chế của Điêu tàn Trong sự phê phán đó
có phần cực đoan nặng nề nhng cũng biểu hiện một thái độ chân thành của Tố
Trang 36Hữu đối với Chế Lan Viên Nh vậy là trớc cách mạng đã có nhiều ý kiến bànluận, khen chế khác nhau Nhng khách quan mà nói ý kiến khẳng định vẫn
chiếm u thế Điêu tàn vẫn đợc công luận đánh giá cao.
Sau Cách mạng tháng Tám, việc đánh giá tập thơ trở nên sôi động và cónhiều ý kiến khác biệt nhau hơn Đây cũng là tình trạng chung thuộc nhiều tácphẩm văn chơng giai đoạn 1930 - 1945 Những năm trớc thời kỳ đổi mới(1986), nhìn chung ngời ta không đề cao Thơ mới và Tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn Thậm chí họ còn cho đó là thứ văn chơng “bạc nhợc suy đồi” Do đó các
tác phẩm văn học lãng mạn trong đó có Điêu tàn trong một thời gian dài bị
đánh giá rất thấp
Không riêng gì những ngời nghiên cứu phê bình văn học mới có ý kiếnphê phán văn học lãng mạn, mà ngay các nhà văn, nhà thơ “tiền chiến” đã đợc
“cách mạng hóa” cũng có lúc chối bỏ những tác phẩm của mình trớc đây Đọccác bài viết của Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Hoài Thanh… chúng ta thấy cáctác giả đã tự phủ nhận mình riết róng đến mức nào
Chế Lan Viên cũng không nằm ngoài quỹ đạo này Hơn thế nữa, ông làngời thờng hay “sám hối” nhất khi nhìn nhận chặng đờng sáng tác trớc cáchmạng:
Chớ bao giờ quên nỗi chua cay của một thời thơ ấy
Tổ quốc trong lòng ta mà có cũng nh không Nhân dân ở quanh ta mà ta nào có biết Thơ xuôi tay nh nớc chảy xuôi dòng.
Thực ra thời kỳ đó cũng đã có ý kiến bảo vệ Thơ mới Năm 1966, trongmột bài phát biểu ở nớc ngoài, Chế Lan Viên cũng đã khẳng định Thơ mới
“thuộc văn mạch dân tộc” [5] Còn Xuân Diệu cũng đã từng nói: “Ngời ta
định chôn thơ mới nhng chôn không nổi đâu, có chôn đến mấy lớp đất nó
cũng lóp ngóp bò dậy” [5] Những ý kiến nh vậy tỏ rõ sự phản ứng bức xúc,
nghiêm túc và đúng đắn trong việc bảo vệ những di sản của văn học quá khứ,nhng cha phải là ý kiến của số đông d luận
Phải đến sau Đại hội VI của Đảng, mọi mặt của đời sống xã hội bớc vàothời kỳ đổi mới thì văn học quá khứ, nhất là văn học lãng mạn Việt Nam trớcCách mạng tháng Tám mới đợc đánh giá một cách khách quan, khoa học, thỏa
đáng Những nghi án về văn học lãng mạn đợc giải tỏa Theo dòng thời cuộc,
Điêu tàn cũng đợc hồi sinh và tỏa sáng Tác phẩm đợc đa vào giáo trình của
Trang 37một số trờng đại học không phải để nhằm phê phán nh trớc mà là để khẳng
định Trong cuốn Văn học Việt Nam 1945 - 1975, các tác giả viết: “Điêu tàn
là tập thơ đầu tay đợc viết khi nhà thơ mới bớc vào tuổi thanh niên nhng Điêu
tàn có những cảm xúc mạnh mẽ, những suy tởng và cấu tứ táo bạo, một số
hình ảnh khoáng đạt chứa đựng một sức mạnh nội tâm và trí tởng tợng phongphú, nó báo hiệu cho sự hình thành của một hồn thơ rộng lớn” [33, 72]
Trong chuyên luận Một thời đại trong thơ ca, Hà Minh Đức cũng khẳng
định: “Điêu tàn có một vị trí văn học sử quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp
sáng tác của Chế Lan Viên, đa Chế Lan Viên trở thành “một trong những nhàthơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới”” [15, 156]
2.1.2 ảnh hởng của thời đại đối với việc hình thành cái tôi trữ tình trong Điêu tàn
Cái tôi trữ tình bao giờ cũng là sản phẩm của một thời đại Chế Lan
Viên viết Điêu tàn trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam đang trải qua nhiều biến
đổi và phân hóa sâu sắc Một mặt là hiện thực đen tối do chế độ thuộc địa nửaphong kiến đa lại Chế độ này đã phơi trần bộ mặt tàn bạo, phi lý, bịp bợm mà
điển hình là các vụ đàn áp đẫm máu cuộc khởi nghĩa Yên Bái và phong tràoXô Viết Nghệ Tĩnh Hoàn cảnh ấy đã gây nên không khí u uất bao trùm xã hộilàm cho không ít ngời điêu đứng, bế tắc, hoang mang, dao động (trong đó cómột bộ phận thuộc tầng lớp thanh niên trí thức tiểu t sản) Bên cạnh hiện thực
đó, năm 1930 Đảng cộng sản Đông Dơng ra đời đã tạo ra một nguồn ánh sángsoi rọi con đờng đi cho dân tộc Dới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào côngnhân và phong trào yêu nớc của quần chúng nh một đợt sóng thần, ngày mộtdâng cao liên tiếp đập vào thành lũy của bọn cớp nớc và lũ bán nớc, tạo nênmột khí thế tức nớc vỡ bờ mùa thu 1945 Khí thế ấy dần dà tạo nên một sự lay
động, thức tỉnh tâm hồn và nhận thức của mọi ngời
Có thể thấy sự tác động khách quan của hoàn cảnh đối với sáng tác củaChế Lan Viên Chế Lan Viên không tiếp nhận ánh sáng cách mạng từ sớm nh
Tố Hữu Nhng ông đã tiếp nhận nỗi khổ đau của con ngời làm thơ với tâmtrạng bị dày vò và niềm bi phẫn của sự bế tắc:
Với tôi tất cả nh vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau.
Về mặt văn học, Chế Lan Viên viết Điêu tàn vào những năm phong trào
Thơ mới đạt đến đỉnh cao của mình Nhìn rộng ra thì đây là thời kỳ văn học
Trang 38dân tộc đang trên đà chuyển biến mang tính chất cách tân so với lịch sử hàngnghìn năm phát triển Văn học trong quá trình hiện đại hóa Quá trình nàydiễn ra từ đầu thế kỷ XX, nhng phải kể đến thời kỳ 1932 - 1945, nó mới đợc
đẩy lên một bớc phát triển mới với nhiều cuộc cách tân trên tất cả các thể loại.Trong đó phải kể đến thể loại thơ Thơ ca giai đoạn này phát triển cha từng có.Năm 1941, khi tổng kết mời năm phát triển của phong trào Thơ mới, HoàiThanh đã khẳng định một cách dứt khoát đầy hào hứng: “Tôi quyết rằng tronglịch sử thơ ca Việt Nam cha bao giờ có một thời đại phong phú nh giai đoạnnày” [54, 29] Phong trào Thơ mới có một tác động lôi kéo, thúc đẩy mầmmống tài năng văn học của Chế Lan Viên Với t cách là một thành viên củaphong trào, Chế Lan Viên không thể không hấp thụ những nguyên tắc sángtác của Thơ mới Theo nhiều tài liệu, những năm này Chế Lan Viên còn chịu
ảnh hởng của thơ tợng trng Pháp, đặc biệt là thơ Bôđơle (1821 - 1867) Chế
Lan Viên tìm thấy trong tập thơ Bông hoa tội ác (1857) của nhà thơ Pháp nét
đồng cảm của những nỗi buồn ảo não, chán chờng, tuyệt vọng và sự vùng vẫykhắc khoải mang mầu sắc thần bí Ngoài ảnh hởng của thơ tợng trng Pháp,Chế Lan Viên cũng chịu ảnh hởng của các thứ triết học duy tâm, siêu hình vàcác thứ tôn giáo: “Mở đầu tôi yêu Chúa rồi tôi yêu Phật Tôi tìm Chúa qua cácgiáo lý đạo Cơ đốc, của Tin lành Và tôi tìm Phật nơi bản Phật của cha tôi ởkinh các chùa và ở ngoài chùa nữa”
Nói đến ảnh hởng của thời đại, đất nớc, quê hơng, gia đình đối với Chế
Lan Viên khi viết Điêu tàn không thể không nói đến những chứng tích lịch sử
trên mảnh đất Bình Định, quê hơng thứ hai của ông Đó là những tháp Chàm,chứng tích của một nền văn minh cổ kính, của đất nớc Chiêm Thành xa sụp
đổ Chúng ta đồng ý rằng không phải Chế Lan Viên viết Điêu tàn cho dân tộc
Chàm, nhng khi ông thể hiện thực trạng nô lệ của đất nớc ta lúc bấy giờ ông
đã mợn hình ảnh điêu tàn của nớc non Chàm
Chế Lan Viên viết Điêu tàn lúc còn trẻ Lúc đó, ông còn là một nhà thơ
lãng mạn, một thanh niên trí thức tiểu t sản Lòng yêu nớc thơng nòi ở ông đã
có nhng cha thật thờng trực nh một số nhà thơ cách mạng đơng thời Hoàncảnh xã hội và tiểu sử bản thân đã hình thành quan điểm nghệ thuật của tác
giả và để hình thành nên một cái tôi trữ tình độc đáo trong Điêu tàn.
2.1.3 Những biểu hiện của cái tôi trữ tình trong Điêu tàn
Trang 39Cùng với sự ra đời của tập thơ Điêu tàn, lần đầu tiên cái tôi trữ tình
trong thơ Chế Lan Viên xuất hiện một cách có hệ thống với đầy đủ diện mạocủa nó Đó là “sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới vàcon ngời thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chứccác phơng tiện của thơ trữ tình tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo
mang tính thẩm mĩ nhằm truyền đạt năng lợng tinh thần ấy đến ngời đọc” [1,
31]
Điêu tàn nằm trong văn mạch của Thơ mới, đợc sáng tác theo khuynh
hớng lãng mạn Cái tôi này mang những nét đặc trng của cái tôi trong thơ lãngmạn Đồng thời với trí tởng tợng phong phú, Chế Lan Viên đã tạo ra một cáitôi trữ tình độc đáo mang đậm dấu ấn của chủ thể
2.1.3.1 Cái tôi trữ tình của Điêu tàn tiêu biểu cho cái tôi của Thơ mới
Cái tôi trong Điêu tàn, trớc hết, đó là cái tôi tự biểu hiện Tác phẩm văn
học nào cũng biểu hiện t tởng, tình cảm của tác giả đối với đời sống xã hộihoặc của cá nhân con ngời Mỗi phơng thức phản ánh đều có một cách biểuhiện riêng ở tác phẩm tự sự, t tởng tình cảm đợc biểu hiện một cách kháchquan Thế giới tác phẩm tự sự là thế giới tồn tại ngoài ngời trần thuật Còn ởtác phẩm trữ tình, thế giới chủ quan của con ngời, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ
đợc trình bày trực tiếp Đặc biệt với nhà thơ lãng mạn thì cái tôi tự biểu hiệnnày càng đợc biểu hiện một cách rõ nét: “Nhà thơ lãng mạn muốn bày tỏ chochúng ta trớc hết là về chính họ, là phơi bày tâm hồn cõi lòng họ Họ thổ lộcho chúng ta những chiều sâu tâm hồn cảm xúc, sự đa dạng của ca tính Họreo lên vì vui, họ gào lên, khóc lên vì đau đớn Họ kể lể, họ bảo ban, họ vạchtrần với khuynh hớng rõ rệt, buộc ngời ta phục tùng cảm giác về đời sống của
họ, làm cho ngời nghe thấy cái gì đang hiện lên trong trực giác trực tiếp củanhà thơ” [49, 36]
Trong Thơ mới, ta bắt gặp hàng loạt cái tôi đợc đặt ở vị trí trung tâmcủa sự cảm nhận Hoài Thanh đã chính xác khi gọi thời đại Thơ mới là thời
đại của chữ “tôi” Một loạt câu định danh có hình thức kết cấu giống nhau đợcthể hiện trong các bài thơ của các tác giả Thơ mới
- Tôi là khách bộ hành phiêu lãng
- Tôi là một khách tình si
- Tôi là con chim đến từ núi lạ
Trang 40- Tôi là chiếc thuyền say …
Đã có nhà thơ tự ví mình nh ngọn núi Hy Mã Lạp Sơn:
Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta (Xuân Diệu)
Đọc Điêu tàn, chúng ta thờng xuyên bắt gặp cái tôi tự biểu hiện dới
dạng đại từ nhân xng “tôi” hoặc “ta” Khi thì nó xuất hiện với t thế con ngờibình thờng:
Ta nằm đọc sách trong vờn chuối Chim khách trên nhành hót líu lo.
Khi thì nó biến hóa trong sắc màu hoang tởng siêu hình “Làm bóng ma
Hời sờ soạng đêm mơ”
Cũng nh nhiều tác giả của phong trào Thơ mới, Chế Lan Viên rất có ýthức mình là thi nhân Ông đã có những tuyên ngôn trực tiếp trình bày dòng t
tởng của mình Trong lời đề tựa Điêu tàn, tác giả đã đa ra quan niệm về thơ và
ngời làm thơ thật táo bạo: “Hàn Mặc Tử nói: “Làm thơ tức là điên” Tôi thêmlàm thơ là làm sự phi thờng Thi sĩ không phải là ngời Đó là Ngời Mơ, NgờiSay, Ngời Điên… Nó thoát Hiện tại, nó xáo trộn Dĩ vãng, nó ôm trùm Tơnglai”
Đối chiếu quan niệm này với quan niệm của các nhà thơ khác, ta thấyXuân Diệu cũng đã từng định nghĩa thế nào là thi sĩ:
Là thi sĩ nghĩa là ru với gió Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
Còn Thế Lữ thì cho rằng:
Tôi chỉ là một khách tình si Ham cái đẹp có muôn hình muôn vẻ
Nh vậy, họ đều có chung một quan niệm về nghệ thuật Đó là quanniệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” một cách thuần tuý, đẩy thơ ra khỏi sự ràngbuộc của cuộc sống xã hội Kiểu thi sĩ đó đã tạo ra một giọng thơ thoát ly hiệnthực Cho nên, cũng là cái tôi tự biểu hiện, nhng cái tôi của Thơ mới nói
chung và Điêu tàn nói riêng là cái tôi cá nhân cô đơn, khép kín về mặt xã hội.
Cái tôi đó thể hiện ớc mơ và hành động để giải thoát tâm hồn khỏi cuộc sống
tù túng thờng ngày bằng nhiều con đờng - trong đó con đờng thoát ly thực tếvẫn là con đờng chủ đạo