1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tích hợp các yếu tố của chủ nghĩa tự nhiên và lãng mạn trong sáng tác nam cao trước 1945

79 1,2K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự tích hợp các yếu tố của chủ nghĩa tự nhiên và lãng mạn trong sáng tác nam cao trước 1945
Tác giả Tạ Quỳnh Trang
Người hướng dẫn Ts. Chu Văn Sơn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Văn Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 344,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự xác lập một chủ nghĩa hiện thực kiểu mới, Nam Cao đem đến cho nghệ thuật hiện thực nhiều sự tìm tòi, đổi mới, cách tân có giá trị, đợcminh chứng bằng sự nghiệp văn học có sức

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh

- -Tạ quỳnh trang

Sự tích hợp các yếu tố của chủ nghĩa tự nhiên và l ng mạn ãng mạn

của chủ nghĩa tự nhiên và l ng mạn ãng mạn

trong sáng tác Nam Cao trớc 1945

điểm này những vấn đề nghiên cứu về Nam Cao nhìn chung đã đi đến nhữngnhận định, đánh giá tơng đối thống nhất Đây cũng là thời điểm giới nghiêncứu đã đạt đến những thành tựu tơng đối toàn diện và sâu sắc trong việc tiếp

cận sáng tác Nam Cao.Tuy nhiên, Nam Cao không cũ đi mà luôn mới mẻ và ở

giữa chúng ta [15,2] Khám phá về tác phẩm Nam Cao vẫn còn tồn tại những

quan điểm, tranh luận, vẫn có những giá trị còn bỏ ngỏ, vẫn luôn gây đợcnhững hứng thú cho những ngời yêu mến văn chơng của ông Nam Cao là một

Trang 2

trong số không nhiều những nhà văn lớn của thế kỉ đợc nghiên cứu nhiều nhất,liên tục nhất với những công trình có chất lợng Điều đó khẳng định giá trị vàsức hấp dẫn của văn nghiệp Nam Cao qua các thế hệ bạn đọc

1.2 Nam Cao là ngời đã đa chủ nghĩa hiện thực cổ điển sang một chủnhgiã hiện thực kiểu mới ở Việt Nam-đây là điều đợc giới nghiên cứu thừanhận Cùng với sự xác lập một chủ nghĩa hiện thực kiểu mới, Nam Cao đem

đến cho nghệ thuật hiện thực nhiều sự tìm tòi, đổi mới, cách tân có giá trị, đợcminh chứng bằng sự nghiệp văn học có sức sống mãnh liệt.Tuy nhiên, mộttrong những phơng diện, thậm chí là phơng diện cơ bản, góp phần tạo nên chủnghĩa hiện thực kiểu mới của Nam Cao- đó là sự hấp thu, kết hợp, đan xen cácyếu tố tự nhiên chủ nghĩa, lãng mạn chủ nghĩa vào ngòi bút hiện thực trongviệc chiếm lĩnh đời sống-lại ít đợc chú ý đến, thậm chí những ảnh hởng này(tự nhiên, lãng mạn) đã từng bị phủ nhận, bị xem là những tồn tại, hạn chế củanhà văn Thực tế, việc tích hợp các yếu tố nghệ thuật để làm giàu cho sáng tạocủa mình bao giờ cũng là một dấu hiệu, một thớc đo đối với giá trị tác phẩm

và tài năng của tác giả Vì thế, nhìn Nam Cao là ngời tích hợp các yếu tố tựnhiên chủ nghĩa và lãng mạn chủ nghĩa để làm giàu cho ngòi bút hiện thựccủa mình là cái nhìn mới mẻ, ghi nhận đợc những đóng góp, những giá trịchân chính trong các văn phẩm của Nam Cao Chính nó là một khía cạnhkhông nhỏ tạo nên tầm vóc lớn lao của Nam Cao

Đó là những lý do thúc đẩy chúng tôi tiến hành đề tài: Sự tích hợp các yếu

tố của chủ nghĩa tự nhiên và lãng mạn trong sáng tác Nam Cao trớc 1945

2 Lịch sử vấn đề

Việc tiếp cận, tìm hiểu sáng tác của Nam Cao tơng đối thuận lợi Đây làtác giả đợc nghiên cứu nhiều, có hệ thống và đạt đợc những thành tựu khátoàn diện Đến nay đã có trên hai trăm các bài báo, các công trình viết về NamCao đợc in ấn, xuất bản, nhiều cuộc hội thảo khoa học về nhà văn đợc tổ chức.Không khí dân chủ hoá trong việc đọc và tiếp nhận tác phẩm của văn học hiệnnay cho phép ngời đọc có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với sáng tác củaNam Cao Có thể xem đây là một thuận lợi lớn

Gần một thế kỉ trôi qua, sự nhận chân lại các giá trị giúp các nhà nghiêncứu, phê bình và bạn đọc có cái nhìn cởi mở và khoa học hơn đối với nhữngtìm tòi, nỗ lực đổi mới của Nam Cao, bên cạnh sự tồn tại những quan điểm

đánh giá truyền thống đã có từ trớc và nay vẫn đợc tiếp tục, đặc biệt là trong

những vấn đề gây nhiều tranh cãi: Có hay không yếu tố tự nhiên chủ nghĩa,

Trang 3

lãng mạn chủ nghĩa trong sáng tác của Nam Cao? Trên cơ sở những công

trình, tài liệu đã tham khảo đợc, xin đợc đa ra một số nhận định, đánh giá,quan điểm đã đợc công bố có liên quan đến đề tài của luận văn

2.1 Đánh giá về yếu tố tự nhiên chủ nghĩa trong sáng tác Nam Cao

Sự ảnh hởng của chủ nghĩa tự nhiên đối với sáng tác của Nam Cao là

điều đã đợc giới nghiên cứu nhận định từ khá sớm và cho đến nay, nó vẫn

đang là một vấn đề tồn tại những tranh luận khác nhau Tạm thời có thể chialàm hai quan điểm

Trớc đây, khoảng trớc đổi mới, do hẹp hòi về quan điểm và do cha tờngtận về chủ nghĩa tự nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã có cái nhìn không đúng vềchủ nghĩa tự nhiên Cụ thể là do hiểu con ngời cha sâu sắc, chỉ xem xét conngời ở bình diện xã hội mà cha quan tâm đúng mức đến bình diện tự nhiên; đềcao các giá trị nội dung xã hội mà xem nhẹ giá trị hình thức, ít quan tâm đếnnhững tìm tòi nghệ thuật; độc tôn chủ nghĩa hiện thực, xem chủ nghĩa hiệnthực là nhân đạo, cao hơn, còn chủ nghĩa tự nhiên là phi nhân đạo, là thấphơn.Vì những lẽ đó, yếu tố tự nhiên chủ nghĩa bị xem là tiêu cực, tác phẩm cóyếu tố tự nhiên bị xem là hạn chế

Những hạn chế này thờng đợc gắn với những tác phẩm nh Nửa đêm,

Chí Phèo, Lang Rận, Quái dị khi nói về những sáng tác của Nam Cao.

Tác giả Nguyễn Hoành Khung trong Lịch sử văn học Việt Nam 1930 –

1945 phần Nam Cao có nhận xét: Nửa đêm có nhiều nét điển hình của chủ nghĩa tự nhiên, tuy vẫn còn yếu tố phê phán và nhân đạo nhng yếu ớt Cũng về

truyện ngắn Nửa đêm, một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra quy luật di truyền quả

báo và việc xây dựng các hình tợng nhân vật trong tác phẩm là những biểuhiện sinh động của chủ nghĩa tự nhiên và là một hạn chế đáng tiếc của Nam

Cao: Trong truyện ngắn Nửa đêm, chúng ta thấy thêm một hạn chế khác của

Nam Cao Trơng Rự và Đức, con trai hắn, hình nh đều chịu đựng một số phận

có tính chất tiền định, đều là nạn nhân của luật di truyền quả báo [11,124]; Cả hai nhân vật ( Đức, Tr

ng-ời tự nhiên thờng gặp trong văn học tự nhiên chủ nghĩa Ngoài tính di truyền truyện Nửa đêm còn tập trung làm nổi bật t tởng định mệnh khủng khiếp Nó

đè nặng lên số phận của mấy thế hệ nhân vật, không cách gì cỡng lại đợc Trong chủ nghĩa tự nhiên, nhà văn chẳng những thờng thể hiện nhân vật nh là sản phẩm của quy luật di truyền, mà còn thờng xây dựng những nhân vật con bệnh thần kinh, có những nét tính cách ma quái ở phần cuối truyện Nửa

Trang 4

đêm, Nam Cao đã thể hiện các nhân vật Đức và vợ của hắn theo kiểu nh vậy.

Nhận định này đợc tác giả nhấn mạnh, trở đi trở lại trong bài viết của mình:

Vợ chồng Đức không còn là những con ngời bình thờng mà đều là những con bệnh thần kinh quái dị, minh hoạ cho t tởng định mệnh có tính chất ma quái của nhà văn Đó đúng là kiểu nhân vật thờng gặp trong những sáng tác của chủ nghĩa tự nhiên [50,11].

Ngoài ra, sự ảnh hởng của chủ nghĩa tự nhiên còn đợc các nhà nghiêncứu chỉ ra ở hệ thống những nhân vật xấu xí, dị dạng của nhà văn, coi đó làbiểu hiện của chủ nghĩa khách quan lạnh lùng, cực đoan Đó là ý kiến đánh

giá của tác giả Trần Tuấn Lộ trong bài viết Qua truyện ngắn Chí Phèo, bàn

thêm về cái nhìn hiện thực của Nam Cao: Sự miêu tả của Nam Cao đối với ngoại hình Thị Nở có làm cho ngời đọc cảm thấy nặng nề khi tác giả nêu một cách tỉ mỉ những nét quá xấu xí, dị thờng của bộ mặt nhân vật, và ở chỗ đó, Nam Cao đã lạc bớc vào ngỡng cửa của chủ nghĩa tự nhiên Nhà nghiên cứu

Hà Minh Đức trong cuốn Nam Cao - Nhà văn hiện thực xuất sắc cũng có ý kiến tơng tự, cho rằng lối miêu tả ngoại hình của một số nhân vật Chí Phèo -

quá lạnh lùng, tàn nhẫn khi biến nhân vật trở thành những biếm hoạ đợc tạo

tác giả cha tránh khỏi là sự sa đà trong miêu tả làm lộ rõ ở nhân vật những

lạnh lùng làm cho nhiều trang viết nh thiếu đi sự thông cảm, tiếc thơng

Trang 5

thành quả đáng ghi nhận, làm phong phú thêm cho cái nhìn hiện thực của nhàvăn.

Tác giả Trần Thị Việt Trung trong bài viết Về các nhân vật dị dạng

trong sáng tác Nam Cao khẳng định sự xuất hiện của yếu tố tự nhiên chủ

nghĩa trong truyện Nam Cao là một việc làm có dụng ý và mang lại hiệu quả

nghệ thuật rõ rệt: Khẳng định Nam Cao không chịu ảnh hởng nào của chủ

nghĩa tự nhiên trong việc thể hiện loại nhân vật dị dạng là điều chúng tôi cha

Nam Cao là một việc làm đầy dụng ý của tác giả (về nội dung phản ánh cũng

nh hình thức biểu hiện) Phải chăng Nam Cao muốn nhấn mạnh tính chất khốc liệt và tàn bạo của xã hội Việt Nam trong thời kỳ đen tối nhất Sự bế tắc

đến mức dồn nén đã xô đẩy con ngời vào ngõ cụt cuộc đời Nó đã làm méo

mó, dị dạng đi cả tâm hồn, thể xác của ngời dân lơng thiện Từ đó tác giả đi

đến khẳng định: Xây dựng loạt nhân vật xấu xí, kì quặc là một thủ pháp nghệ

thuật mang tính thi pháp rõ rệt của Nam Cao, cũng từ đó đã toát ra khuynh

khi miêu tả loại nhân vật xấu xí, Nam Cao vẫn là ngời đứng vững trên đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực [51,463].

Trong Nam Cao Nhìn từ cuối thế kỉ– , GS Phong Lê cũng đa ra những

nhận xét hết sức xác đáng: Sự biện minh theo hớng cho rằng cái quái dị, cái

nghịch dị thờng có trong tác phẩm của Nam Cao là gắn liền với quan niệm

nh đời sống xã hội Việt Nam thời tiền cách mạng, cái bình thờng và nghịch dị thờng là rất gắn liền với nhau, đến mức cái nghịch dị cũng thành bình thờng –

nó nói một trạng thái không bình thờng của xã hội Nh vậy, nếu có một sự tô

đậm cái nghịch dị, chất oái oăm và trái khoáy trong thế giới văn Nam Cao thì

đó không phải là một điều thiếu sót hoặc đáng tiếc, mà là một điểm đáng lu ý,

do những quy định của hoàn cảnh và do sự tìm tòi để đáp ứng các yêu cầu của hoàn cảnh [30,172] Tác giả đã chỉ ra một cách thuyết phục sự tồn tại của

yếu tố nghịch dị - một biểu hiện của chủ nghĩa tự nhiên trong sáng tác củaNam Cao nh một yêu cầu tất yếu của thời đại đợc phản ánh, yêu cầu của chủnghĩa hiện thực mới và nó đợc thể hiện một cách có ý thức, gắn liền với quanniệm nghệ thuật riêng của Nam Cao

Cùng chung một quan điểm nghệ thuật nh vậy, nhà nghiên cứu Vơng

Trí Nhàn trong bài viết Những biến hoá của chất nghịch dị ttong truyện ngắn

Trang 6

của Nam Cao cũng đa ra nhận định: Có thể nói, sự nhạy cảm với những cái kì quặc, thích gọi tên chúng ra, đa bằng đợc chúng vào truyện, đầy là một cảm hứng nghệ thuật không thể che giấu ở ngòi bút tác giả Chí Phèo, một yếu

tố giống nh cái hích đầu tiên, thúc đẩy hoạt động sáng tạo của tác giả

[38,454]

ở bài viết Tsêkhôp và Nam Cao - một sáng tác hiện thực kiểu mới, tácgiả Đào Tuấn ảnh khẳng định một lần nữa sự hiện diện của yếu tố tự nhiên

chủ nghĩa và ý nghĩa của nó trong sáng tác Nam Cao: Hiển nhiên trong sáng

tác của ông có những yếu tố của chủ nghĩa tự nhiên Ông sử dụng những yếu

tố này nh nột thủ pháp để đào tận gốc rễ cái căn nguyên của những thảm trạng xã hội Từ đó tác giả đi đến nhận xét khái quát: Sự kết hợp những yếu tố

sâu sắc làm nên sáng tác hiện thực kiểu mới ở Nam Cao [2,21].

Bên cạnh đó, đồng thời có quan điểm không thừa nhận sáng tác Nam

Cao có dấu ấn của chủ nghĩa tự nhiên Tác giả Quỳnh Nga trong bài viết: Có

hay không yếu tố tự nhiên chủ nghĩa trong tác phẩm Nam Cao xem xét trên

hai bình diện từ trớc vẫn tồn tại quan điểm cho rằng đây là biểu hiện tập trungcủa chủ nghĩa tự nhiên: về ngoại hình nhân vật ngời nông dân và về truyện

ngắn Nửa đêm Trong nghệ thuật khắc hoạ ngời nông dân, tác giả thừa nhận:

Nam Cao có khách quan đến rợn lạnh, có cực đoan trong miêu tả, so sánh bởi những thậm xng, ngoa dụ nhng cực đoan hay cờng điệu để làm nổi bật bản chất của hiện thực đợc miêu tả thì điều đó là cần thiết đối với nghệ thuật nói chung và đối với chủ nghĩa hiện thực nói riêng Về truyện ngắn Nửa đêm,

tác giả đa ra những lí lẽ, lập luận, để đi đến quan điểm cho rằng: Rõ ràng

không thể kết luận Nửa đêm có nhiều nét điển hình của tự nhiên chủ nghĩa… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr

mà ngợc lại là tác phẩm hiện thực xuất sắc ở đây, nhà nghiên cứu đã đối lập

chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa hiện thực, xem việc loại trừ yếu tố tự nhiên

chủ nghĩa trong sáng tác của nhà văn sẽ góp phần làm rạng ngời Nam Cao

hơn khi thấy rõ Nam Cao không rơi vào tự nhiên chủ nghĩa [35,12].

Thêm một cách tiếp cận khác đối với yếu tố tự nhiên chủ nghĩa trong tácphẩm Nam Cao, đó là từ góc độ nhìn nhận những yếu tố này nh là những giá trịthẩm mĩ trong việc sử dụng tài liệu sáng tác hiện thực Phan Huy Dũng trong bài

viết Bàn thêm về ý nghĩa thẩm mĩ của cái gọi là yếu tố tự nhiên chủ nghĩa trong tác phẩm Nam Cao cho rằng: Cái mà nhiều khi ta gọi là yếu tố tự nhiên đáng gạt

Trang 7

bỏ, thực ra chỉ là một trong nhiều biểu hiện bất trị của tài liệu mà nhà văn cố“bất trị” của tài liệu mà nhà văn cố ” của tài liệu mà nhà văn cố

ý đa vào tác phẩm Không những không nói về sự sai lầm, lệch lạc, hạn chế của

hoà giữa hình thức và tài liệu nhằm đày đoạ cảm xúc của ng” của tài liệu mà nhà văn cố “bất trị” của tài liệu mà nhà văn cố ” của tài liệu mà nhà văn cố ời đọc theo kiểu

mà nghệ thuật đòi hỏi để từ đó tác phẩm thực hiện đợc chức năng tạo sự tự nhận

tiếp cận khá mới mẻ và thú vị, khai thác thêm đợc những tầng giá trị của yếu tố

tự nhiên chủ nghĩa trong truyện Nam Cao

Nh vậy, đánh giá sự ảnh hởng của chủ nghĩa tự nhiên đến sáng tác củaNam Cao chúng tôi thấy tồn tại hai luồng ý kiến trái ngợc nhau:

- Luồng thứ nhất khẳng định có sự hiện diện của yếu tố tự nhiên chủnghĩa trong sáng tác của nhà văn ở luồng ý kiến này lại có hai dạng ý kiếntrái chiều: một là, phủ nhận những yếu tố tự nhiên chủ nghĩa, coi đó là hạnchế, nhợc điểm, tiêu cực làm tổn hại đến giá trị hiện thực và giá trị nhân đạotrong sáng tác Nam Cao; hai là, khẳng định những yếu tố tự nhiên chủ nghĩa

có ý nghĩa tích cực, nh là một thủ pháp nghệ thuật làm nâng cao khả năngchiếm lĩnh hiện thực và tạo thành một khuynh hớng nghệ thuật riêng ở nhàvăn Quan điểm thứ nhất chủ yếu đợc phát biểu trớc đổi mới, cho đến nay vẫn

có những ý kiến tán đồng; quan điểm thứ hai chủ yếu đợc đa ra trong nhữngnăm gần đây khi xem xét lại các giá trị của sáng tác Nam Cao trong không khívăn học dân chủ, cởi mở và khoa học hơn

- Luồng thứ hai lại phủ nhận những ảnh hởng của chủ nghĩa tự nhiên,cho rằng sáng tác Nam Cao không có dấu ấn của những yếu tố tự nhiên chủnghĩa Tuy nhiên loại ý kiến này có phần lẻ tẻ và thiếu sức thuyết phục

2.2 Đánh giá về yếu tố lãng mạn trong sáng tác Nam Cao

Đánh giá về ảnh hởng của chủ nghĩa lãng mạn đối với sáng tác củaNam Cao không sôi nổi và tiêu biểu bằng sự ảnh hỏng của chủ nghĩa tự nhiên

Đây là một phần bỏ ngỏ khá đáng tiếc.Trớc đây, nếu nói về yếu tố lãng mạntrong sáng tác Nam Cao, chủ yếu là nói về các tác phẩm đầu tay, khi nhà vănmới bớc chân vào làng văn, cha định hình phong cách, đang loay hoay tìm h-

ớng đi cho sáng tác của mình Đến tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao đã thực sự

b-ớc vào chủ nghĩa hiện thực, hoàn toàn từ bỏ, không có một chút dấu ấn củachủ nghĩa lãng mạn Điều này đợc nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nhận định

trong công trình Nam Cao, đời văn và tác phẩm : Bắt đầu viết từ những năm

Trang 8

nghệ thuật nào nhng yêú tố chủ đạo trong ý thức của tác giả cũng nh trong nội dung các tác phẩm nghiêng về nghệ thuật lãng mạn ở giai đoạn này, ý thức t tởng cũng nh nội dung sáng tác của Nam Cao còn xa lạ với chủ nghĩa hiện thực Đó là thời kì mà Nam Cao vừa rời khỏi ghế nhà trờng, tâm hồn còn

ấp ủ nhiều mộng đẹp nh trong các sách báo lãng mạn đơng thời Nam Cao chịu ảnh hởng nhiều của sách báo lãng mạn Pháp [17,27].

Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên trong Nam Cao và sự lựa chọn

một chủ nghĩa hiện thực mới cũng đa ra nhận định tơng tự: ảnh hởng của văn

ảnh hởng lãng mạn đối với Nam Cao qua rất nhanh Sau này, khi Nam Cao

đã viết văn hiện thực hoàn toàn rồi thì lối văn có hơi hớng Tự lực văn đoàn… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr chỉ còn mang ý nghĩa là một cách nhạo báng, đùa cợt [37,144].

Tuy nhiên sau này một số nhà nghiên cứu đã có những quan điểm khác

Khi nói về chủ nghĩa hiện thực kiểu mới Nam Cao, các bài viết: Tsêkhôp và

Nam Cao, một sáng tác hiện thực kiểu mới của Đào Tuấn ảnh, Nam Cao, nhìn từ cuối thế kỉ của Phong Lê đã chỉ ra những biểu hiện của yếu tố lãng

mạn góp phần tạo nên chất thơ, chất trữ tình trong sáng tác Nam Cao

Đào Tuấn ảnh cho rằng ở thời kì sau, khi Nam Cao đã trở thành nhà

văn hiện thực, sáng tác của ông vẫn có dấu ấn của văn học lãng mạn: Trăng

sáng vẫn đợc xem là tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao trong đó ông từ biệt

lực văn đoàn không thể không để lại dấu vết trong cách xây dựng tâm lí nhân vật của Nam Cao, ở những đoạn trữ tình đầy chất thơ của ông [2]

Thực ra, yếu tố lãng mạn không chỉ ảnh hởng đến sáng tác của NamCao giai đoạn đầu Cũng không chỉ có mặt ở giai đoạn sau qua dấu vết củachất trữ tình hay chất thơ thuộc bề nổi của các văn phẩm Nam Cao Xem xét

kĩ hơn, có thể thấy yếu tố lãng mạn đã ngấm vào sáng tác của Nam Cao ởnhững tầng sâu hơn, thậm chí ngay ở những chỗ tởng chừng chỉ thuần hiện

thực chủ nghĩa hay tự nhiên chủ nghĩa Trong Chín lời bình dành cho Chí

Phèo, nhận xét về bút pháp xây dựng nhân vật thị Nở, tác giả Chu Văn Sơn

cho rằng để viết nên nhân vật này, Nam Cao đã phối hợp thủ pháp hiện thựcchủ nghĩa với thủ pháp dân gian và cả lãng mạn nữa, nhất là ở xu h ớng ta th-ờng gặp ở những ngòi bút lãng mạn thích đẩy đối tợng lên mức lí tởng, mức

Trang 9

hoàn hảo kể cả phía tích cực lẫn tiêu cực Trờng hợp thị Nở là cái xấu xí hoàn

hảo: “bất trị” của tài liệu mà nhà văn cốNhiều ngời cứ phê phán Nam Cao là tự nhiên chủ nghĩa, là quá trớn khi

mô tả thị Nở xấu đến ma chê quỉ hờn Nhng xét ở bình diện nghệ thuật, Thị càng xấu, truyện càng hay Dĩ nhiên, hay không phải vì xấu Hay là: có xấu

đến thế, bi kịch Chí Phèo mới sâu sắc Không phải ngẫu nhiên Nam Cao đã trút vào Thị tất cả những nét mỉa mai nhất của hoá công dành cho một ngời

đàn bà Dờng nh bút pháp Nam Cao đã dùng tả thị Nở không hẳn của hiện thực mà vay mợn của dân gian và lãng mạn Có thể nói, thị Nở đã xấu một cách hoàn hảo, xấu ở mức lí tởng Đã xấu, nghèo, dở hơi, lại còn thuộc dòng giống hủi Tất cả những thứ ấy đã biến Thị Nở thành một thứ phế thải, vô giá trị Nhng ở cái con ngời ngỡ vô giá trị kia lại có thứ tài sản vô giá: tình ngời Những tơng phản trái khoáy ấy thuộc về dụng ý và dụng công của Nam Cao” của tài liệu mà nhà văn cố.

Nh vậy, yếu tố lãng mạn ảnh hởng tới sáng tác Nam Cao ở bề sâu đã đợc ngời

đi trớc nhận diện Tuy nhiên, việc nhận diện hãy còn sơ bộ, lẻ tẻ và cha triểnkhai khảo sát một cách hệ thống Dầu sao, đó cũng là những mách bảo quantrọng để những ngời đi sau tiếp tục theo đuổi hớng nghiên cứu này

2.3 Nhận định về sự dung hợp các yếu tố của chủ nghĩa tự nhiên và lãng mạn vào ngòi bút hiện thực của Nam Cao

Một số nhà nghiên cứu trong các bài viết của mình đã chỉ ra sự dunghợp giữa các yếu tố tự nhiên, lãng mạn dới những tên gọi và biểu hiện khácnhau của những yếu tố này.Tiêu biểu có bài viết của Đào Tuấn ảnh, Phong Lê

đã đề cập ở trên.Tuy nhiên, các nhận định về vấn đề này nhìn chung còn lẻ tẻ

và thiếu hệ thống, mới chỉ dừng lại ở nêu hiện tợng

Đào Tuấn ảnh cũng trong bài viết Tsêkhôp và Nam Cao, một sáng tác

hiện thực kiểu mới đã chỉ ra sự tích hợp của nhiều yếu tố thuộc nhiều phơng

pháp sáng tác khác nhau trong ngòi bút của Nam Cao đã tạo nên một chủ

nghĩa hiện thực kiểu mới: Nam Cao đã tạo ra một kiểu sáng tác hiện thực

riêng biệt cao hơn so với lối tả chân xã hội lúc đó, bởi nó kết hợp nhuần nhuyễn sức khái quát nghệ thuật cao của phơng pháp hiện thực cổ điển, bút pháp miêu tả khách quan với phong cách trữ tình không thể lẫn, lối miêu tả lạnh lùng cái dung tục, vụn vặt của đời thờng với chất thơ của cuộc sống.

Trong quan niệm của tác giả, những yếu tố nh lối văn trữ tình giàu chất thơ,ngòi bút phân tích tâm lí…[10,448] Đây cũng là một cách đều là những biểu hiện gần gũi của văn chơng lãng

mạn – chúng hoà lẫn với các yếu tố khác trong văn Nam Cao: Đó là sự kết

hợp những yêú tố của chủ nghĩa cổ điển phơng Tây với lối miêu tả khách quan

Trang 10

biện chứng, tạo nên dòng chảy cuộc đời, phân tích mổ xẻ tâm lí nhân vật, cách tạo những lớp mạch ngầm của văn bản nghệ thuật với những yếu tố tự

của kiểu sáng tác hiên thực mới [2].

Trong Nam Cao - nhìn từ cuối thế kỉ (Văn học trên hành trình thế kỉ

XX), GS Phong Lê nhận thấy: ở văn Nam Cao gần nh có đầy đủ các chất liệu: hài và bi, trào phúng và chính luận, triết lí và trữ tình, nghich dị và nhàm tẻ, thô nhám và chất thơ… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr[30,124] Nghĩa là văn Nam Cao là một sự tổng hợp đa

dạng, phức hợp nhiều yếu tố, trong đó có sự tích hợp yếu tố tự nhiên chủ nghĩa

- Đối với yếu tố lãng mạn, sự xem xét còn khá mờ nhạt Chủ yếu mới

chỉ dừng lại ở những biểu hiện gọi là chất thơ, chất trữ tình

- Đánh giá về sự tích hợp các yếu tố của chủ nghĩa tự nhiên và lãng mạn

để làm giàu cho ngòi bút hiện thực của Nam Cao cũng có những ý kiến tuynhiên còn lẻ tẻ và thiếu sức khái quát

Xuất phát từ thực tế nghiên cứu đó, trên cơ sở những thành quả đã đợccông bố có liên quan đến đề tài, chúng tôi mong muốn sẽ đi đến những tìm tòi

và kết luận có ý nghĩa đóng góp và thuyết phục

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích những biểu hiện của yếu tố tự nhiên chủ nghĩa và yếu tốlãng mạn trong sáng tác của Nam Cao

- Làm rõ trong sáng tác của Nam Cao, các yếu tố lãng mạn, tự nhiênchủ nghĩa đan xen, song hành trong ngòi bút hiện thực nhằm phản ánh vàchiếm lĩnh đời sống

- Thấy đợc ở Nam Cao là ngời đã tích hợp các yếu tố tự nhiên chủnghĩa và lãng mạn chủ nghĩa để tiếp cận và mô tả con ngời, làm giàu cho ngòibút, làm phong phú thêm cho cái nhìn hiện thực của nhà văn Điều này gắnliền với quan niệm nghệ thuật và tài năng nghệ thuật của Nam Cao

Trang 11

4 Phạm vi đề tài

Đối tợng mà luận văn tập trung tìm hiểu là những tác phẩm thể hiện tiêubiểu sự tích hợp yếu tố lãng mạn, yếu tố tự nhiên chủ nghĩa trong ngòi búthiện thực của Nam Cao.Vấn đề này chủ yếu đợc biểu hiện trong các sáng táchiện thực trớc cách mạng, tập trung ở lĩnh vực truyện ngắn và tiểu thuyết.Vìvậy phạm vi khảo sát của đề tài là truyện Nam Cao trớc cách mạng, tập hợp

trong Tuyển tập Nam Cao, tập 1,2, Hà Minh Đức biên soạn, NXB Văn học,

Chơng 1 Đặc trng của chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa lãng mạn, chủ

nghĩa hiện thực và cơ sở để tích hợp các yếu tố của chủ nghĩa tự nhiên và lãng mạn trong sáng tác Nam Cao

Chơng 2 Yếu tố tự nhiên chủ nghĩa và lãng mạn chủ nghĩa trong sáng

tác Nam Cao

Chơng 3 Sự tích hợp các yếu tố của chủ nghĩa tự nhiên và lãng mạn

trong ngòi bút hiện thực của Nam Cao

Chơng 1

Đặc trng của chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa

lãng mạnng mạn, chủ nghĩa hiện thực và cơ sở để tích hợp các yếu tố của chủ nghĩa tự nhiên và lãng mạnng mạn

trong sáng tác Nam Cao

Trang 12

1.1 Đặc trng của chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực

Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, khi văn học Việt Nam bớc vàoquỹ đạo hiên đại hoá trong bối cảnh mở rộng giao lu, tiếp nhận những thànhquả của văn học thế giới, nhiều trào lu, t tởng, phơng pháp sáng tác của vănhọc thế giới, đặc biệt là phơng Tây đã có ảnh hởng trực tiếp đến văn học nớc

ta Bằng chứng là văn học Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ này phát triển kháphong phú, đa dạng, phân hoá thành nhiều khuynh hớng, trờng phái khácnhau Trong đó nổi bật lên là sự ảnh hởng, xâm nhập của chủ nghĩa tự nhiên,chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực đã để lại những dấu ấn trực tiếptrong thực tiễn sáng tác văn học Việt Nam

ra yêu cầu đối với chủ nghĩa tự nhiên, cũng nh đối với chủ nghĩ hiện thực trớc

đó: phản ánh hiện thực con ngời và xã hội Tuy nhiên sự phản ánh ở đây tuântheo những nguyên tắc mĩ học của chủ nghĩa tự nhiên

Chủ nghĩa tự nhiên chịu ảnh hởng triết học thực chứng của A.Công tơ(1789 – 1937) - nhà triết học và xã hội học Pháp , mĩ học của H.Ten (1828– 1893)- nhà triết học, mĩ học ngời Pháp và những t tởng của khoa học tựnhiên Chủ nghĩa thực chứng của A.Công tơ phủ nhận bản chất và nguồn gốccủa sự vật, ít quan tâm đến nguồn gốc, bản chất mà dừng lại ở việc trình bày

hiện trạng của sự vật Chủ nghĩa tự nhiên cho rằng chỉ có những sự kiện và

hiện tợng vật chất nghe nhìn và cảm thấy đợc, khoa học giải thích và kiểm nghiệm đợc mới là có thực [33,] Vì vậy, trong nhìn nhận con ngời, khác với

chủ nghĩa hiện thực quan tâm đến khía cạnh xã hội, chủ nghĩa tự nhiên tậptrung khai thác khía cạnh sinh vật và sinh lí của nó

Chủ nghĩa tự nhiên cũng tiếp thu ở mĩ học H Ten những quan điểm

t-ơng tự Nó cũng đề cao bản năng tự nhiên, hoạt động sinh lý của con ngời,

cho rằng mọi biểu hiện tâm lý và hành vi con ngời đều do hoạt động sinh lý

quyết định [33,].

Trang 13

Có thể nói chủ nghĩa tự nhiên là trào lu văn học lấy phơng pháp khoahọc tự nhiên, trớc hết là sinh lý học làm cơ sở cho sáng tác Có thể tóm tắtnhững nguyên tắc và đặc trng cơ bản của chủ nghĩa tự nhiên ở mấy điểm sau:

Chủ nghĩa tự nhiên đặt ra yêu cầu sự nhận thức nghệ thuật cũng phải

giống nh sự nhận thức khoa học, tác phẩm văn học đợc xem nh là t liệu về con ngời [21,53] Sự phản ánh con ngời và cuộc sống của nó hiện lên với trạng thái

vốn có, mang tính tự nhiên và vật chất

Chủ nghĩa tự nhiên từ bỏ việc luân lí hoá tác phẩm văn học, vì họ cho

rằng cái thực tế đợc mô tả một cách khách quan lạnh lùng, chính xác với thái

độ vô t khoa học tự bản thân nó đã đủ sức diễn cảm rồi [21,53].

Chủ nghĩa tự nhiên đặc biệt quan tâm đến việc nghiên cứu sinh hoạt vậtchất Theo các nhà văn của chủ nghĩa tự nhiên, tính cách con ngời đợc quy

định bởi bản chất sinh lý học và bởi môi trờng đợc quan niệm chủ yếu là môitrờng sinh hoạt vật chất, trực tiếp xung quanh Chủ nghĩa tự nhiên chủ trơngtái hiện một cách trung thành với tự nhiên một mảng hiện thực nào đó, chútrọng đến tính quy luật của môi trờng tự nhiên, dù không quan tâm đến bảnchất xã hội, chủ nghĩa tự nhiên cũng không loại trừ bản chất xã hội, lịch sửcủa chúng

Chủ nghĩa tự nhiên đặc biêt chú ý đến các dạng vật thể của con ngời(mặt mũi, hình dạng) và các sinh hoạt vật chất của nó, nhất là sinh hoạt sinh lí,

giới tính Một kiểu nhân vật trung tâm của chủ nghĩa tự nhiên là con vật ng –

-ời.

Chung quy lại, chủ nghĩa tự nhiên đa đến một cách tiếp cận khác về conngời: tiếp cận từ phơng diện tự nhiên, bản năng cũng là một khía cạnh, phơngdiện quan trọng chi phối, quy định bản chất con ngời Con ngời là một chỉnhthể thống nhất giữa phần tự nhiên và phần xã hội, tất cả những phơng diện này

có mối quan hệ chặt chẽ và có giá trị ngang nhau trong việc chi phối, quyết

định nên đặc điểm của con ngời Chủ nghĩa tự nhiên với những nguyên tắc và

đặc trng của nó dù có những nhợc điểm, hạn chế song đã mang lại một cáinhìn mới trong việc khám phá, phản ánh hiện thực đời sống và con ngời bêncạnh các trào lu, phơng pháp sáng tác khác

ở Việt Nam, trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là thời kỳ trớc đổimới (1986), sự nhìn nhận về chủ nghĩa tự nhiên có khá nhiều phức tạp Do hẹphòi về quan điểm và do cha tờng tận về chủ nghĩa tự nhiên, nhiều ngời có cáinhìn không đúng về trào lu này

Trang 14

Về mặt triết học, do hiểu con ngời cha thật sâu sắc, chỉ xem xét con

ng-ời ở bình diện xã hội mà cha quan tâm đúng mức đến bình diện tự nhiên, do

đó cha thấy đợc bình diện tự nhiên cũng chi phối nhân cách con ngời khôngthua kém gì bình diện xã hội

Về khuynh hớng tiếp cận giá trị trong văn học nghệ thuật, ngời ta đềcao các giá trị nội dung xã hội mà xem nhẹ các giá trị hình thức, đề cao việcphản ánh bình diện xã hội trong tác phẩm mà ít quan tâm đến những tìm tòinghệ thuật trong việc chiếm lĩnh con ngời và thực tại

Về mặt khuynh hớng lí luận, do độc tôn chủ nghĩa hiện thực, đặc biệt làchủ nghĩa hiện thực XHCN, nên họ đối lập chủ nghĩa tự nhiên với chủ nghĩahiện thực, xem chủ nghĩa hiện thực là nhân đạo, cao hơn, còn chủ nghĩa tựnhiên là phi nhân đạo , thấp hơn Vì những lẽ đó mà yếu tố tự nhiên chủ nghĩa

bị xem là tiêu cực Tác phẩm có yếu tố tự nhiên bị xem là hạn chế

Cái nhìn về chủ nghĩa tự nhiên sau này, nhất là sau đổi mới, đã cởi mởhơn, đúng đắn hơn Cụ thể là, ngời ta dần dần hiểu đầy đủ hơn rằng mỗikhuynh hớng nghệ thuật chân chính là một cách chiếm lĩnh con ngời và đờisống Mỗi khuynh hớng là một cách hiểu, cách quan niệm, cách cắt nghĩa vềcon ngời Mỗi khuynh hớng ấy thờng nhấn mạnh một phía nào đó trong conngời: phía xã hội - phía tự nhiên, phía trần thế - phía thần thánh, phía cao cả -phía thấp hèn, phía lí tính – phía cảm tính, phía xác định – phía bất định,phía hiện thực – phía siêu thực, phía thực chứng- phía tâm linh, phía khả tri -phía bất khả tri v.v Có thể xem mỗi khuynh hớng ấy là một luồng ánh sángsoi chiếu vào con ngời Nó góp phần làm sáng rõ lên một phơng diện nào đótrong con ngời Vì thế mỗi luồng sáng là một cách phát hiện Chúng bình đẳngvới nhau và bổ sung nhau, khắc chế những nhợc điểm của nhau để nghệ thuật

có một cái nhìn đầy đặn toàn diện về con ngời Chỉ khi ngời ta quá say sa độctôn, quá lạm dụng một khuynh hớng nào đó thì bấy giờ nó mới trở nên cực

đoan và sai lệch mà thôi Còn từng khuynh hớng ấy đều có hạt nhân hợp lí của

nó Một nghệ sĩ tài năng phải là ngời tích hợp đợc nhiều hớng để làm giàu chocái nhìn của mình, để sự chiếm lĩnh đời sống của mình sâu sắc và toàn diệnhơn Việc vận dụng nhuần nhuyễn các yếu tố của các khuynh hớng khác nhau

là dấu hiệu của một bậc thầy trong sáng tạo Chính vì thế, ngời ta dần nhìnthấy ở chủ nghĩa tự nhiên một cách tiếp cận khác có thể đa lại những khámphá hiện thực mới về con ngời

Trang 15

Trên thế giới, trào lu này gắn liền với khá nhiều tên tuổi tiêu biểu: Zôla(Pháp), anh em Gôngcua (Pháp), Hôpman (Đức), Crâynơ (Mĩ)…[10,448] Đây cũng là một cách và những tác

phẩm lớn: Giecmina, Bran, Pơ Guyn, Nhà búp bê …[10,448] Đây cũng là một cách

ở Việt Nam, tuy không có nhà văn nào thuần tuý sáng tác theo phơngpháp sáng tác của chủ nghĩa tự nhiên, song có một số nhà văn hiện đại ít nhiềutiếp thu các yếu tố của chủ nghĩa tự nhiên để làm phong phú thêm cho ngòibút của mình nh Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…[10,448] Đây cũng là một cách ớc cách mạng và khá nhiều trcây bút của văn học hiện đại sau này

1.1.2 Chủ nghĩa lãng mạn

Chủ nghĩa lãng mạn là một trong những trào lu văn hoá lớn nhất ở Âu

-Mĩ vào cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, có ảnh hởng và ý nghĩa lớn

đối với sự phát triển văn học toàn thế giới

Vào thế kỷ XVII, từ lãng mạn vốn để chỉ tất cả những cái gì hoang ờng, kì lạ, khác thờng, chỉ thấy trong sách chứ không có trong hiên thực Vàokhoảng giữa thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa lãng mạn trởthành một thuật ngữ để chỉ một khuynh hớng văn học, một phơng pháp sángtác mới đối lập với chủ nghĩa cổ điển trớc đó

đ-Chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện ở Anh vào thế kỷ XVIII với các nhà thơ

đợc xem là những nhà tiền lãng mạn chủ nghĩa nh Kisơ, Câulơrit, Bairơn vàcác nhà tiểu thuyết nh Richơtxơn, Xcốt…[10,448] Đây cũng là một cách Đến thế kỷ XIX, ở Pháp chủ nghĩalãng mạn phát triển thành một trào lu có hệ thống luận điểm, có phơng phápsáng tác riêng, phổ biến trên mọi lĩnh vực thơ, tiểu thuyết nh trong các tácphẩm của Lamactin, Muyxê, Vinhy, Huygô…[10,448] Đây cũng là một cách

Có thể rút ra một số đặc trng của chủ nghĩa lãng mạn với t cách là mộtkhuynh hớng và một phơng pháp sáng tác nh sau:

Chủ nghĩa lãng mạn xây dựng con ngời cá nhân cô đơn xung đột vớimôi trờng xung quanh với một khát vọng tự do cá nhân vô hạn tách biệt hoàntoàn với xã hội, dẫn tới sự hứng thú đặc biệt của những tác phẩm lãng mạn vớinhững tình cảm mạnh mẽ, những tơng phản gay gắt, những vận động bí ẩn củatâm hồn…[10,448] Đây cũng là một cách

Chủ nghĩa lãng mạn trao cho ngời nghệ sĩ quyền cải biến thế giới hiệnthực bằng cách tạo ra cho mình một thế giới riêng đẹp hơn, chân thực hơn và vì

thế hiện thực hơn Nó thích sự tởng tợng phóng khoáng và bác bỏ tính quy phạm

trong văn học và sự quy định có tính chất duy lí trong nghệ thuật [21].

Trang 16

Chủ nghĩa lãng mạn chủ trơng dựa chủ yếu vào tình cảm và ớc mơ, tởngtợng của ngời nghệ sĩ để sáng tác Thực tiễn cuộc sống cũng thông qua sự cảmnhận chủ quan và khát vọng riêng t của từng nghệ sĩ để tự biểu hiện, chứkhông dựa hẳn vào thực tại khách quan và sự miêu tả phân tích cụ thể của tácgiả nh trong chủ nghĩa hiện thực.

Trong tiếp cận con ngời, chủ nghĩa lãng mạn đặc biệt quan tâm đến thếgiới nội cảm với những cảm xúc, tình cảm, ớc mơ, khát vọng…[10,448] Đây cũng là một cách của con ngời.Tập trung khai thác thế giới nội tâm nên trong tác phẩm lãng mạn, vai trò củathiên nhiên đợc quan tâm, đề cao nh là nơi phản ánh một cách sinh động nhấtnội tâm và là nơi nuôi dỡng tình cảm con ngời

Khuynh hớng tích cực của chủ nghĩa lãng mạn luôn thể hiện một niềmtin tràn trề vào hiện thực và tơng lai, lạc quan về nhân thế, nuôi dỡng cho ngời

đọc hoài vọng về lí tởng tự do, bình đẳng, bác ái, gợi ra một thế giới tốt đẹp

mà mọi ngời đều sống trong sự hoà hợp với tình thơng yêu

ở Việt Nam, trớc thời kì văn học hiện đại cha có chủ nghĩa lãng mạnvới t cách là một trào lu, một phơng pháp sáng tác Tuy nhiên, một số loại thơtức cảnh, thơ tự tình đến các truyện thơ đã xuất hiện những yếu tố lãng mạn về

mặt cảm xúc và biểu hiện ngôn từ Truyện Kiều của Nguyễn Du căn bản mang

tính hiện thực nhng chứa đựng những yếu tố lãng mạn sâu sắc về tả cảnh, tảtình Trong các loại ca hát dân gian ( quan họ, ca trù…[10,448] Đây cũng là một cách), tính chất lãng mạnthể hiện rất rõ qua các làn điệu, giai điệu, các lời hát uyển chuyển, duyêndáng, bộc lộ một tâm hồn nhạy cảm trớc thiên nhiên, cảnh vật, một mơ ớc thathiết vê tình yêu, tình ngời Những năm 30, 40 của thế kỉ XX, văn học ViệtNam đã tiếp thu ảnh hởng của văn thơ lãng mạn Pháp Phong trào thơ mớimang tính chất một trào lu lãng mạn bao gồm cả quan điểm và phơng phápsáng tác mà đại diện tiêu biểu là các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ,Nguyễn Bính…[10,448] Đây cũng là một cách Về tiểu thuyết đại diện có nhóm tác giả trong Tự lực văn đoàn

nh Nhất Linh, Khái Hng, Hoàng Đạo…[10,448] Đây cũng là một cách

1.1.3 Chủ nghĩa hiện thực

Chủ nghĩa hiện thực là trào lu văn học nghệ thuật lấy hiện thực xã hội

và đời sống con ngời làm đối tợng sáng tác nhằm đa đến cho ngời đọc nhữngbức tranh chân thực, sinh động, quen thuộc về đời sống, về môi trờng xã hộixung quanh Trong văn học, những tác phẩm có tính chất hiện thực và giá trịhiện thực đã xuất hiện từ lâu trớc khi có chủ nghĩa hiện thực Nhng chủ nghĩa

Trang 17

hiện thực với t cách là một trào lu, một khuynh hớng, một phơng pháp sángtác chỉ xuất hiện ở thế kỉ XIX, trớc hết ở các nớc nh Pháp, Anh, Nga, Italia…[10,448] Đây cũng là một cách,

từ đó ảnh hởng đến văn học các nớc trên thế giới

Chủ nghĩa hiện thực hết sức chú ý đến những t liệu, dữ liệu có thậttrong đời sống và dùng chúng nh những chất liệu nghệ thuật để xây dng cốttruyện , các nhân vật, các tính cách, các hiện tợng tâm lý, với nghệ thuật kháiquát và điển hình hoá cao và nghệ thuât phân tích t tởng, tâm lý sâu sắc

Thừa nhận sự tác động qua lại giữa con ngời và môi trờng sống, giữatính cách và hoàn cảnh, các hình tợng của chủ nghĩa hiện thực hớng tới táihiện chân thực các mối quan hệ của con ngời và hoàn cảnh Nhiều nhà vănhiện thực đã sáng tạo ra đợc những nhân vật điển hình mang dấu ấn rất đậmcủa xã hội và thời đại đơng thời

Cùng với sự điển hình hoá nghệ thuật, chủ nghĩa hiện thực coi trọngnhững chi tiết cụ thể và độ chính xác của chúng trong việc mô tả con ngời và

đời sống, coi trọng việc khách quan hoá những điều đợc mô tả, làm cho chúng

tự nói lên đợc tiếng nói của mình…[10,448] Đây cũng là một cách

Chủ nghĩa hiện thực luôn luôn quan tâm đến sự đa dạng, phong phú vềhình thức Nó sử dụng cả huyền thoại, tợng trng, cờng điệu, ẩn dụ…[10,448] Đây cũng là một cách song tấtcả những cái đó đều phải phục tùng những nguyên tắc sáng tác hiện thực chủnghĩa, phục tùng sự nhận thức của con ngời trong các mối quan hệ phức tạpvới thế giới xung quanh, với những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể…[10,448] Đây cũng là một cách

Do khuynh hớng phê phán, tố cáo các biểu hiện xấu xa, tiêu cực trong

đời sống xã hội t sản hoặc nửa t sản, nửa phong kiến, chủ nghĩa hiện thực

trong thời kì này đợc mệnh danh là chủ nghĩa hiện thực phê phán

Trong văn học Việt Nam, những tác phẩm nh Truyện Kiều , Chinh phụ

đều đặt ra những vấn đề có tính chất hiện thực Đó là những vấn đề nóng bỏngcủa cuộc sống ở các thời đại, chứa đựng những hy vọng và ớc mơ của con ngờitrong cuộc đấu tranh cho tự do, hạnh phúc, phơi bày hiện trạng xấu xa củacuộc sống

Khoảng từ năm 1930 cho đến trớc cách mạng tháng 8 năm 1945,

khuynh hớng hiện thực mà thời ấy gọi là tả chân hay tả thực mới hình thành

và phát triển thành một trào lu trong văn học.Văn học hiện thực phê phán ViệtNam đã đạt đợc khá nhiều thành tựu Đại bộ phận các nhà văn theo trào lu này

đều có tinh thần dân tộc Mặc dù chế độ kiểm duyệt của thc dân Pháp rất khắt

Trang 18

khe, các tác phẩm của họ cũng đã vạch ra đợc nỗi thống khổ và nhục nhã củanhững ngời dân nghèo nông thôn và thành thị sống dới ách bóc lột, áp bức củathực dân, quan lại, cờng hào, t sản Những nhà văn hiện thực nh Vũ TrọngPhụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao…[10,448] Đây cũng là một cách đã để lạinhững tác phẩm có giá trị cao Chí Phèo, Xuân Tóc đỏ, chị Dậu, anh Pha…[10,448] Đây cũng là một cách lànhững nhân vật nổi tiếng trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam.

1.2 Mối quan hệ giữa chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực

Không phải ngẫu nhiên mà thế kỉ XVIII, XIX ở các nớc phơng Tây,

tr-ớc hết là Pháp đánh dấu sự ra đời của nhiều trào lu, khuynh hớng sáng táctrong văn học Bối cảnh lịch sử - xã hội cũng nh tiền đề văn học là những điềukiện để nảy sinh những trào lu văn học mới

Cuộc cách mạng t sản Pháp năm 1789 đánh đổ chế độ phong kiến làmột bớc ngoặt vĩ đại không chỉ đối với Pháp mà còn đối với cả Châu Âu.Chính sự sụp đổ của chế độ phong kiến và sự hình thành quan hệ xã hội mới

đã tác động sâu sắc đến t tởng , tình cảm của mọi tầng lớp trong xã hội Đốivới lớp ngời thuộc tầng lớp quý tộc, họ cảm thấy bất mãn với trật tự xã hộimới, lo sợ trớc các phong trào quần chúng, hoang mang vì tơng lai mờ mịt

đồng thời luyến tiếc thời vàng son không còn nữa Một bộ phận tầng lớp t sản

bị phá sản khi cách mạng bùng nổ nên họ có tâm trạng bi đát Đối với lớp ngờiủng hộ và đặt hy vọng vào cuộc cách mạng thì họ cảm thấy thất vọng vì thànhquả thực tế của cuộc cách mạng không nh họ mong muốn Chính những phảnứng đối với thực tại xã hội đó đã sản sinh ra chủ nghĩa lãng mạn

Giai cấp t sản Pháp từ chỗ là lực lợng tiến bộ chống phong kiến trởthành một thế lực hoàn toàn phản động thẳng tay đàn áp giai cấp công nhân vànhân dân lao động Mâu thuẫn giữa giai cấp t sản và giai cấp vô sản càng trởnên gay gắt Giờ đây, các nhà văn chân chính hoàn toàn thất vọng với chế độ

t bản, quay về nhìn thẳng vào hiện thực, để vạch trần những tội ác của nó Đây

là nguyên nhân sâu xa nhng căn bản, giải thích quá trình chuyển biến từ chủnghĩa lãng mạn sang chủ nghĩa hiện thực trong văn học Pháp và phơng Tâythời kì ấy

Song song và tiếp nối chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên cũng nảysinh trên cơ sở mâu thuẫn xã hội và đấu tranh giai cấp giữa vô sản và t sản

đang ngày càng trở nên hết sức gay gắt Tình hình ấy làm cho một số nhà văntuy đã nhìn thấy những mặt thối tha của xã hội nhng không có khả năng và

Trang 19

cũng không chủ trơng đi sâu vào những cội nguồn xã hội, họ chỉ trng bày tội

ác và tệ nạn nh nó tự nhiên vốn có Đó là mảnh đất hình thành và phát triểncủa chủ nghĩa tự nhiên

Nh vậy, các trào lu văn học hiện thực, lãng mạn, tự nhiên chính là sựthể hiện những phản ứng khác nhau của các nhà văn, các nghệ sĩ xuất phát từcùng một bối cảnh thực tại xã hội, lại ra đời trong những thời điểm song song

và nối tiếp nhau, cùng bộc lộ thái độ phản ứng (dù dới những hình thức khácnhau) đối với thực tại xã hội ấy…[10,448] Đây cũng là một cách nên giữa các trào lu, khuynh hớng sáng tácnày rõ ràng là có tác động, ảnh hởng, giao thoa lẫn nhau Mặt khác, mỗi ph-

ơng pháp sáng tác này đều có những u thế trong việc chiếm lĩnh và phản ánhhiện thực con ngời, đời sống Các u thế này có thể bổ sung cho nhau để đa đếnmột cách tiếp cận toàn diện nhất Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự nhiêngiống nhau ở mục đích, tái hiện hiện thực đời sống và con ngời nhằm đem đếnmột bức tranh xã hội chân thực, chính xác, khách quan nh nó vốn có Chủnghĩa hiện thực lựa chọn phơng thức phản ánh là xây dựng đợc những tínhcách điển hình trong hoàn cảnh điển hình, phản ánh hiện thực khách quan từbình diện xã hội, đi vào lí giải, cắt nghĩa bản chất xã hội của sự vật, hiện tợng.Chủ nghĩa tự nhiên quan tâm đến yếu tố tự nhiên, vật chất, bản năng sinh lícủa sự vật, hiện tợng để cắt nghĩa chúng Con ngời hay các sự vật, hiện tợngtrong đời sống đều là sự cấu thành từ hai phơng diện tự nhiên và xã hội Để cắtnghĩa, lí giải toàn diện đợc chúng, cần có sự tiếp cận từ cả hai bình diện này.Vì thế, việc kết hợp đợc những u thế của chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa hiênthực sẽ cho phép khám phá hiện thực đời sống và con ngời chân thực đầy đủ,sâu sắc hơn

Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn về cơ bản đối lập nhau ởphơng pháp sáng tác Chủ nghĩa hiện thực tôn trọng tính khách quan của hiệnthực, phản ánh nó nh diện mạo vốn có của nó Chủ nghĩa lãng mạn tìm kiếmmột thế giới lãng mạn trong hiện thực mà nó phản ánh, nhiều khi theo ảo tởngchủ quan, theo khát vọng, lí tởng của nhà văn Nhân vật của chủ nghĩa lãngmạn là những con ngời đợc quan tâm ở bình diện nội cảm, tâm trạng, cảmxúc Trong khi đó, để làm nổi bật đợc tính cách nhân vật, chủ nghĩa hiện thựckhông thể không quan tâm đến đời sống tâm lí, nội tâm của nhân vật Vì vậy,

đây là một bình diện mà chủ nghĩa hiện thực có thể vận dụng đợc ở chủ nghĩalãng mạn để làm phong phú thêm cho cái nhìn hiện thực của mình Hơn nữa,mục đích của các nhà chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn tích cực về

Trang 20

cơ bản đều giống nhau Chủ nghĩa hiện thực mang khát vọng cải tạo, thay đổithế giới thực tại đầy xấu xa, nhơ bẩn Chủ nghĩa lãng mạn hớng đến mơ ớcxây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

Đó là những cơ sở, điều kiện tạo nên sự giao thoa, ảnh hởng, tác độnglẫn nhau giữa các khuynh hớng sáng tác này Vì vậy, về mặt nhận thức lí luận,không nên quan niệm có một phơng pháp sáng tác thuần tuý, li khai hẳn vớicác phơng pháp sáng tác khác

Thực tiễn sáng tác ở các nhà văn cũng minh chứng cho mối quan hệgiao thoa này Trong văn học, nghệ thuật, chủ nghĩa hiện thực nhiêu khi đã sửdụng những yếu tố lãng mạn, kì ảo nh trong một số tác phẩm của Banzắc

(Miếng da lừa…[10,448] Đây cũng là một cách), những yếu tố huyền diệu ( Trăm năm cô đơn của Gacxia

Macket…[10,448] Đây cũng là một cách) Ngợc lại, có những tác giả sử dụng những biện pháp sáng tác dựavào cái kì ảo và kinh dị nhng tác phẩm lại mang xu hớng hiện thực ( nhNguyễn Dữ, Bồ Tùng Linh, A.Poe…[10,448] Đây cũng là một cách hay nh là Zô la, trởng tràng của chủnghĩa tự nhiên, nhng đồng thời cũng là nhà văn viết nhiều tác phẩm mang

những giá trị hiện thực không thua kém gì Tấn trò đời của Banzăc).

ở Việt Nam, sự ảnh hởng của chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa lãng mạn

và chủ nghĩa hiện thực đến muộn song xuất hiện khá đồng thời Hệ quả là vănhọc nớc ta ở thời kì nửa đầu thế kỉ XX phân hoá thành nhiều khuynh hớng đadạng, phức tạp Đặc biệt, xuất hiện những nhà văn mà tác phẩm của họ cónhững biểu hiện giao thoa của nhiều phơng pháp sáng tác nh Vũ Trọng Phụng,Nam Cao, Thạch Lam…[10,448] Đây cũng là một cách Chính điều đó cũng làm nên giá trị riêng biệt và tầmvóc riêng của các nhà văn này

1.3 Cơ sở để tích hợp các yếu tố tự nhiên chủ nghĩa, lãng mạn chủ nghĩa trong sáng tác hiện thực của Nam Cao

Nam Cao là một trong những đại biểu xuất sắc nhất của trào lu văn họchiện thực phê phán ở nớc ta giai đoạn 1930 – 1945 Ông là một nhà văn hiệnthực, các sáng tác tiêu biểu giàu giá trị của Nam Cao là những tác phẩm hiệnthực, thể hiện rõ phơng pháp sáng tác của chủ nghĩa hiện thực, đó là điều

không cần bàn cãi Song hiện thực ở Nam Cao là chủ nghĩa hiện thực kiểu mới

, một chủ nghĩa hiện thực có sự tích hợp các yếu tố tự nhiên và lãng mạn

Cơ sở để tích hợp các yếu tố tự nhiên, lãng mạn trong sáng tác hiện thựccủa Nam Cao trớc hết là hoàn cảnh thời đại Nh trên chúng ta đã trình bày, đờivăn Nam Cao chủ yếu tập trung vào thời kì trớc cách mạng, đặc biệt là giai

đoạn 1930 – 1945 Đây là thời kì đánh dấu quá trình hiện đại hoá của văn

Trang 21

học Việt Nam thoát khỏi phạm trù trung đại, trong đó giai đoạn 1930 – 1945

đánh dấu sự hoàn tất của quá trình hiện đại hoá Động lực cho sự hiện đại hoánền văn học dân tộc chính là sự mở rộng, giao lu với văn học thế giới, trớc hết

là văn học phơng Tây, dẫn đến những tác động, ảnh hởng của những trào lu,khuynh hớng, t tởng văn học mới Sự tiếp xúc với những giá trị mới đó đã thổimột luồng không khí mới đến nền văn học, đến những ngời cầm bút Khôngthể nói đến sự ra đời của thơ mới mà không nhắc đến những tác động, ảnh h -ởng của thơ văn lãng mạn, tợng trng, siêu thực phơng Tây, đến những tên tuổi

nh V Huygô, Baudelaire, Paul Valery…[10,448] Đây cũng là một cách Hay nói đến nền văn học hiện thựcphê phán thời kì này không thể thoát li khỏi ảnh hởng của những tên tuổi lớncủa chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên nh Banzăc, Zôla, Đốtxtôiepxki,Sêkhôp…[10,448] Đây cũng là một cách

Sự du nhập của những trào lu, khuynh hớng t tởng đa dạng, phức tạp từbên ngoài đặt các nhà văn Việt Nam – những trí thức trẻ tuổi sớm đợc tiếpxúc với nền học vấn phơng Tây trớc những sự lựa chọn hiện thực hay lãngmạn? Nam Cao cũng không phải là một trờng hợp ngoại lệ Trong bối cảnh

mở rộng, giao lu văn hoá, văn học nh vậy Nam Cao đợc tiếp xúc với nhiều trithức, nhiều trào lu t tởng, quan niệm, nhiều phong cách nghệ thuật, tự nhiên

có, lãng mạn có, hiện thực có…[10,448] Đây cũng là một cách và chắc chắn điều đó không thể không tác

động đến ngòi bút sáng tác, khuynh hớng t tởng của ông

Bên cạnh đó, để thấy rõ những điều kiện, cơ sở tích hợp các yếu tố lãngmạn, tự nhiên chủ nghĩa trong sáng tác hiên thực của Nam Cao, cần chú ý đếnhoàn cảnh bản thân của nhà văn, đặc biệt là con đờng tìm đến chủ nghĩa hiệnthực của Nam Cao

Trớc khi định hình phong cách là những sáng tác hiện thực chủ nghĩa,thời gian đầu trong sự nghiệp cầm bút của Nam Cao, theo nh những văn bảncòn để lại và qua sự đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, Nam Cao chịu ảnh h-

ởng sâu sắc của chủ nghĩa lãng mạn Trong Nam Cao - Đời văn và tác phẩm ,

nhà nghiên cứu phê bình văn học Hà Minh Đức đã có những lí giải cho ngòi

bút lãng mạn của Nam Cao ở thời kì này: Thuở thỏ đi học, cậu học sinh Nam

Cao đã tiếp thu nhiều ảnh hởng phức tạp của nhà trờng dới chế độ cũ Vốn là một ngời giàu tình cảm, nhiều suy nghĩ, trong những ngày sôi nổi của tuổi trẻ lớn lên, Nam Cao có chịu ảnh hởng của văn chơng lãng mạn đơng thời Nam Cao thích mơ mộng, có nhiều suy tởng không thực tế, nhiều hoài bão và thích phiêu du, du lịch Trong bản chất chân thực của một cậu học sinh nông thôn

Trang 22

hiền lành, đã chen vào một con ngời tiểu t sản thành thị với những tình cảm

ca lãng mạn, xoay quanh các chủ đề về tình yêu, về tâm trạng vui buồn, uỷ mị… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr[17,16].

Bắt đầu cầm bút sáng tác từ những năm 1937- 1938, ở Nam Cao chahình thành một khuynh hớng nghệ thuật nào Tuy nhiên, ý thức t tởng cũng

nh nội dung sáng tác nghiêng về nghệ thuật lãng mạn Cũng dễ hiểu vì đây làthời kì mà Nam Cao vừa rời khỏi ghế nhà trờng, tâm hồn còn ấp ủ nhiều mộng

đẹp nh trong các sách báo lãng mạn đơng thời Những sách báo lãng mạnPháp đã để lại dấu ấn khá sâu đậm với Nam Cao ở thời kì này Nhiều tác phẩmmang màu sắc lãng mạn đã ra đời, đợc kí dới cái tên Thuý R, Nhiêu Khê…[10,448] Đây cũng là một cách

Đây là cơ sở để sau này, khi đã lựa chọn con đờng hiện thực, các sáng tác củaNam Cao vẫn giàu yếu tố tâm lí, nội cảm, tâm trạng của chủ nghĩa lãng mạn

Tuy nhiên, Nam Cao không dừng lại ở các sáng tác lãng mạn dễ dãi.Theo dõi quá trình sáng tác của Nam Cao, có thể thấy ngay ở thời kì đầu đã có

sự đan xen giữa những tác phẩm viết theo cảm hứng lãng mạn với những tácphẩm viết bằng cảm hứng hiện thực Bên cạnh những vần thơ buồn lãng mạn

đã có những bài thơ nói về số phận những ngời nghèo khổ ( Tiếng khóc bên

đ-ờng…[10,448] Đây cũng là một cách), đồng thời cũng có những tác phẩm truyện ngắn có giá trị hiện thực và

ý nghĩa phê phán nhất định (Nghèo, Đui mù, Một bà hào hiệp…[10,448] Đây cũng là một cách) Những tácphẩm này cha thật tiêu biểu, xuất sắc, song bớc đầu đã thể hiện cái nhìn thẳng

vào hiện thực của Nam Cao Cho đến năm 1940 khi viết truyện Cái lò gạch

cũ ( Chí Phèo ), Nam Cao đã dứt bỏ đợc thứ văn chơng thuần tuý lãng mạn để

đến với chủ nghĩa hiện thực với ý nghĩa đích thực của nó

Con đờng đến với chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao hoàn toàn khôngmang tính ngẫu nhiên, tình cờ mà nh một quy luật tất yếu, đợc quy định bởihiện thực xã hội vây quanh nhà văn và trên cơ sở những đặc điểm cá nhân củachính nhà văn

Nam Cao sinh ra ở một vùng chiêm trũng giữa đồng bằng Bắc Bộ Cuộcsống nơi đây nghèo đói quanh năm, bão lụt, mất mùa, dân li tán, nhà cửa vắng

vẻ, tha thớt, tiêu điều Bản thân gia đình Nam Cao cũng nghèo khó, đông con,kinh tế sa sút, các em của ông không một ai đợc đặt chân đến trờng, phải gồngthuê, gánh mớn để kiếm sống nuôi thân Nếm trải những vất vả thiếu thốn từthuở nhỏ, Nam Cao sớm thấu hiểu và đồng cảm với cuộc sống cơ cực củanhững ngời nông dân nghèo trong xã hội cũ

Trang 23

Bản thân cuộc đời Nam Cao cũng đầy gian truân, sóng gió, điển hìnhcho thân phận ngời trí thức trong xã hội thuộc địa Mặc dù là ngời con duynhất trong gia đình đợc đi học song cái sự học đó không làm bớt đi đợc cáinghèo trong cảnh ngộ của ông Hết vào Nam, ra Bắc long đong, lận đận, rồi vềquê lấy vợ, Nam Cao vẫn không dứt nổi cái nghèo Chính vì vậy hiện thựccuộc sống đầy những khắc nghiệt, tàn nhẫn đã in đậm, ám ảnh trong tâm trícủa ông.

Bản thân con ngời Nam Cao tuy bề ngoài có thể lầm tởng là lạnh lùng,khinh khỉnh, khó gần…[10,448] Đây cũng là một cách những bên trong lại ẩn chứa một tâm hồn nhân hậu,một trái tim giàu tình yêu thơng Ông sống gắn bó, nặng tình với quê hơng,với những ngời lao động nghèo khổ, nhất là những ngời nông dân Trong

truyện ngắn Dì Hảo, Nam Cao đã tâm sự về sự gần gũi ruột thịt của mình với

đời sống làng quê: Có lẽ lúc tôi sinh ra, ông trời đã định cho tôi một cái kiếp

chẳng giàu sang, nên phú sẵn cho tôi cái tính thích những món ăn rẻ tiền của những ngời nghèo túng Lúc có tôi thì nhà tôi chẳng còn nghèo, thế mà tôi cứ thấy ăn cơm gạo đỏ, thổi khô khô với rau muống luộc chấm tơng, ngon hơn cơm tám thịt đông, mà cái bánh đức xay nấu khéo còn đậm đà gấp nghìn lần cái bún trắng, tuy mềm nhng nhạt bép Tất cả những điều đó đã tạo nên sự gắn

bó sâu sắc của nhà văn đối với quê hơng nghèo khó, với những ngời nông dânlầm than, bằng một tình cảm thân thiết, ruột thịt Đó cũng chính là cơ sở tạonên cái gốc nhân đạo sâu sắc rất bền vững trong sáng tác của Nam Cao Đócũng chính là sức hút mãnh liệt lôi kéo nhà văn từ buổi đầu chập chững còn bị

ảnh hởng của văn chơng lãng mạn, ngày càng xa dần con đờng đó để dấn bớcngày càng sâu vào con đờng lớn của trào lu hiện thực chủ nghĩa

Hơn nữa Nam Cao sống trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt.Những năm 1939 - 1940, khi Nam Cao chính thức bớc chân vào trào lu hiệnthực cũng là thời kì ngột ngạt, đen tối nhất của xã hội Việt Nam thời Phápthuộc Làng Đại Hoàng, quê hơng nhà văn cũng nh bao làng quê khác bị bóclột thậm tệ, bị bọn cờng hào ác bá hoành hành, đục khoét, lâm vào tình trạngnghèo đói xơ xác, bị đẩy vào tình trạng bần cùng hoá, phá sản không lối thoát.Nhiều ngời phải bỏ quê hơng đi tha phơng cầu thực Có ngời tìm đến cái chết,

có ngời bị đẩy vào tình trạng bị tớc mất cơm áo và sau đó bị tớc mất nhân

phẩm Trong Heo may buồn , Nam Cao đã trực tiếp miêu tả hiện thực này: Cả một vùng bị đói, trộm cớp nh rơi, những ngời lơng thiện nhất cũng sinh ra

ăn trộm Bản thân cuộc sống ngời trí thức cũng đầy những ngột ngạt, bức bối,

Trang 24

tăm tối Trong tiểu thuyết Sống mòn , Nam Cao đã hồi tởng lại những năm tháng kiếm sống của ngời trí thức sau khi rời ghế nhà trờng: Y vào Sài Gòn với

một ngời làng, mặc dầu rằng khí hậu nóng ẩm chẳng tốt cho sức khoẻ của y tí nào ở Sài gòn, y kiếm sống bằng rất nhiều nghề, kể cả những nghề ngời tự x-

ng trí thc không làm y trà trộn với phu phen, thợ thuyền, y mặc đồ bà ba, đi chích thuốc hút ở nhà thơng Ngời trí thức ngoài vật lộn với cơm áo gạo tiền,

cuộc sống túng thiếu, cùng quẫn quanh năm, còn phải đối mặt với những bi

kịch sống mòn, đời thừa

Nh vậy, có thể thấy, hiện thực vây quanh Nam Cao là một hiện thực tù

túng, ngột ngạt, làm huỷ hoại nhân tính, bóp nghẹt sự sống và những khát vọng chân chính của con ngời, đẩy họ vào tình trạng chết mòn không lối thoát Nam Cao trong những tác phẩm của mình đã thể hiện đợc cái không khí oi bức đến ngột thở, đầy khắc khoải trớc hiện thực đã ở tận cùng của sự thối nát đang trong cơn quằn quại lột xác để đổi thay [14,156] Nam Cao

không thể ngoảnh mặt làm ngơ trớc cái sự thực tàn nhẫn đang bày ra trớc mắtmình Hiện thực đó trở thành một động lực thôi thúc nhà văn trăn trở, dằn vặt

và không thể không cầm bút viết về nó Chính vì vậy, việc lựa chọn chủ nghĩahiện thực đối với Nam Cao dờng nh đã trở thành một điều tất yếu, mang tínhquy luật

Lựa chọn khuynh hớng hiện thực, Nam Cao có các bậc tiền bối đi trớcdọn đờng nh Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất

Tố, Vũ Trọng Phụng…[10,448] Đây cũng là một cách Tuy nhiên, nh trên đã nói, trong sự phát triển tăng tốc

30 năm đầu thế kỉ, văn học Việt Nam mang trong mình lẫn lộn mọi yếu tố của

các trờng phái sáng tác khác nhau Dờng nh không có nhà văn nào là thuần

tuý , thuần chủng Sáng tác của Thạch Lam có những trang đậm đà màu sắc

hiện thực, nghiêng về phản ánh hiện thực với ý nghĩa tố cáo, lại cũng có rấtnhiều tác phẩm gần gũi với kiểu sáng tác tình cảm - lãng mạn của Tự lực văn

đoàn Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan sáng tác theo lối tả chân – mổ xẻ xã

hội nhng cũng có lúc quay trở lại lối sáng tác ớc lệ, cổ điển ( Cô giáo Minh…[10,448] Đây cũng là một cách

) Trên thực tế, những đại diện tiêu biểu của trờng phái tả chân xã hội nhNguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng…[10,448] Đây cũng là một cách cũng không hoàn toàn

khép mình trong những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực cổ điển Trong

sáng tác của họ, chủ nghĩa tự nhiên chiếm liều lợng khá rõ, có thể điều này

đáp ứng nhiệm vụ điều tra xã hội, phanh phui cái căn bản có đầy rẫy trong xã hội thực dân phong kiến, điều này cũng đáp ứng việc dân chủ hoá nền văn

Trang 25

học một cách triệt để hơn nữa [2] Sáng tác trong bối cảnh văn chơng nh vậy,

Nam Cao không thể không tiếp thu những thành tựu của các trờng phái khácnhau Hiển nhiên trong sáng tác của ông có những yếu tố của chủ nghĩa tựnhiên, vừa là sự kế thừa vừa là sự nâng cao hơn so với các bậc tiền bối đi trớc

Các yếu tố tự nhiên ở đây đợc Nam Cao sử dụng nh là một thủ pháp để đào

đến tận gốc rễ cái căn nguyên của những thảm trạng xã hội.

Bên cạnh đó, Nam Cao còn chịu ảnh hởng những nhà văn hiện thực tiêubiểu của thế giới mà ông vốn ngỡng mộ nh Sêkhôp, Lỗ Tấn…[10,448] Đây cũng là một cách Chủ nghĩa hiệnthực cổ điển, mẫu mực đến những tác giả này đã có những cách tân, đổi mới,

đã hình thành một chủ nghĩa hiện thực kiểu mới có sự tiếp thu, kết hợp nhiềuyếu tố của các khuynh hớng sáng tác khác, trong đó có những yếu tố tự nhiênchủ nghĩa Tuy nhiên, vợt lên trên các nhà tự nhiên chủ nghĩa, cái mới trongsáng tác của Sêkhôp, Lỗ Tấn, hay Nam Cao chính là đa đến một cái nhìn hiệnthực phức tạp, biện chứng hơn

Trên đây là những tiền đề, cơ sở, điều kiện để tích hợp các yếu tố củanhiều phơng pháp sáng tác khác nhau, trong đó nổi bật là yếu tố tự nhiên chủnghĩa và lãng mạn chủ nghĩa trong một khuynh hớng sáng tác chủ đạo, nhấtquán là chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao Trên cơ sở tích hợp những yếu tố

này và bằng tài năng của mình, Nam Cao đã tạo ra một kiểu sáng tác hiện

thực riêng biệt cao hơn so với lối tả chân xã hội học trớc đó, bởi nó kết hợp nhuần nhuyễn sức khái quát nghệ thuật cao của phơng pháp hiện thực cổ

điển, bút pháp miêu tả khách quan với phong cách trữ tình không thể lẫn, lối miêu tả lạnh lùng cái dung tục, vụn vặt của đời thờng với chất thơ của cuộc sống [2] Với tất cả những điều đã làm đợc đó, Nam Cao đã tạo ra một chủ

nghĩa hiện thực kiểu mới, đa chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam pháttriển đến đỉnh cao của nó

Trang 26

Chơng 2 Yếu tố tự nhiên chủ nghĩa và lãng mạnng mạn chủ nghĩa

trong sáng tác của Nam Cao

Nói đến yếu tố tự nhiên chủ nghĩa và yếu tố lãng mạn chủ nghĩa trong

sáng tác của Nam Cao là nói đến sự ảnh hởng, dấu ấn của chủ nghĩa tự nhiên

và chủ nghĩa lãng mạn trong tác phẩm của nhà văn Dùng tên gọi yếu tố ở đây

với ý nghĩa chỉ những biểu hiện ở một số phơng diện, bình diện của chủ nghĩa

tự nhiên, chủ nghĩa lãng mạn Nh trên đã nói, Nam Cao không phải là nhà văn

tự nhiên chủ nghĩa hay lãng mạn chủ nghĩa, nhng Nam Cao đã tích hợp, vậndụng một số yếu tố của các trờng phái này Có thể thấy rõ điều đó trên cơ sởkhảo sát một số bình diện sau

2.1 Yếu tố tự nhiên chủ nghĩa

2.1.1 Khuynh hớng nhận thức thực tại

Một trong những đặc điểm trong khuynh hớng nhận thức thực tại củachủ nghĩa tự nhiên đó là chủ trơng tái hiện một cách trung thành với tự nhiênmột mảng hiện thực nào đó, chú trọng đến tính quy luật của mội trờng tựnhiên, hoàn cảnh vật chất, quy luật tâm sinh lý, bệnh lý Chủ nghĩa tự nhiêngiữ một cái nhìn khách quan, chính xác đối với hiện thực Điều này trớc đây

đợc các nhà lí luận của ta nhấn mạnh là thái độ vô tâm và khách quan chủnghĩa đối với cuộc sống và con ngời khi nói về phản ánh hiện thực trong cácsáng tác của chủ nghĩa tự nhiên

Cái nhìn và phơng thức phản ánh hiện thực của Nam Cao khá gần gũivới chủ nghĩa tự nhiên ở bình diện này Hiện thực trong sáng tác của Nam Cao

là cuộc sống nh diện mạo vốn có của nó, đầy những nham nhở, lồi lõm, rạnnứt, những mảnh vỡ và Nam Cao tái hiện trong tính lạnh lùng, chính xác,khách quan của nó Nam Cao muốn thể hiện một cuộc sống tự nhiên, chânthật, khách quan nh nó vốn tồn tại Cái bình thờng và cái không bình thờngtồn tại bên nhau đúng nh hiện thực cuộc sống thời đại Nam Cao

Chí Phèo là một kiệt tác của Nam Cao, rất tiêu biểu cho cái nhìn hiện

thực của nhà văn Không giàu niềm tin vào con ngời dù trong bất cứ hoàncảnh nào vẫn giữ đợc vẻ đẹp nhân tính nh cái nhìn của Ngô Tất Tố, hay viết vềcon ngời với một trái tim nỏng bỏng tình yêu thơng nh Nguyên Hồng, NamCao viết về cuộc đời của những con ngời nhỏ bé trong xã hội thuộc địa ViệtNam bao giờ cũng gắn liền với những bi kịch không lối thoát Bởi lẽ hiển

Trang 27

nhiên, vốn dĩ cuộc sống là nh vậy Chí Phèo sinh ra đã là một đứa trẻ bị bỏ rơi,

và đúng với thân phận của một đứa trẻ mồ côi, Chí Phèo phải sống phiêu dạtnay nhà này mai nhà khác với công việc cày thuê cuốc mớn Lẽ dĩ nhiên, anh

ta bị đè nén, áp bức bởi bọn thống trị, bọn thực dân cho đến khi ngời nông dânkhông thể chịu đựng đợc, phải chống trả bằng con đờng lu manh hóa nh mộtquy luật tất yếu Ngời đọc cảm thấy xót xa, ngột ngạt trớc cái kết thúc dữ dội,khốc liệt của truyện Tại sao Nam Cao không để cho Chí Phèo đợc trở lại kiếpsống lơng thiện bình thờng nh bao ngời nông dân khác khi đã thức tỉnh? Tạisao không để mối tình Chí Phèo - Thị Nở nảy nở, tốt đẹp nh một niềm an ủi,

bù đắp cho những con ngời thiệt thòi, bất hạnh, bị tạo hoá đối xử bất côngnày? …[10,448] Đây cũng là một cách Một kết thúc mang màu sắc lãng mạn nh vậy có thể làm dịu, làm thỏamãn mong ớc chủ quan của độc giả, song lại không thể là diễn biến của đờisống nh hiện thực khách quan của nó

Hay nh truyện Lang Rận với phần kết thúc gợi nhiều xót xa cho ngời

đọc Một ông lang đợc đặt cho cái tên lang Rận đã đủ nói lên sự khổ sở, lại

thêm cái mặt trông dơ dáng thật, quần áo thì thòi thà thòi thụt, trông nh quân

ăn mày Đã thế, Lang Rận lại có một thân phận tội nghiệp: Mẹ anh chết từ ngày anh mới biết lẫm chẫm chạy đi Anh lấy liên tiếp ba đời vợ, nhng vợ nào cũng chê anh Cuối cùng thì anh bực chí, quẩy đôi bồ thuốc ra đi Anh đi

ngồi với họ, nghe họ nói họ cời, đợc góp với họ một vài câu nói của anh Chỉ thế thôi, chứ anh cũng chẳng dám áo ớc gì hơn Nghĩa là một con ngời bé mọn

và ý thức đợc sự bé mọn của mình Thế nhng nhân vật nào đợc yên ổn với cáimong ớc giản dị rất con ngời là đợc chung sống hoà đồng với mọi ngời ấy

Anh bị họ khinh bỉ, lờm nguýt, phỉ nhổ, nhạo cời, chế giễu, đủ trăm hình trăm cấp Anh hơi nhếch môi cời là họ khoặm mặt lại, nhổ bọt đến phì một cái… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr

Nam Cao miêu tả một cách điềm nhiên, khách quan nỗi đau khổ của một conngời Nhng không dừng lại ở đó, mỗi khi con ngời bị giễu cợt, khinh bỉ, họ

đồng thời trở thành trò chơi mua vui cho lũ ngời nhàn rỗi Giọng lạnh lùng của

tác giả tiếp tục dựng lên phần tiếp diễn và kết thúc nghiệt ngã: Một đôi chân

mặt ông đọng máu sng lên bằng cái thớt Cái đầu ông nghẹo xuống, nh đầu một thằng bé khi nó dỗi Trông thật là thiểu não… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr Tất cả sự thật trần trụi của

cuộc sống, của số phận con ngời đợc tác giả phơi bày, không chút ngậpngừng, không chút cờng điệu, phóng đại, cũng không vì hiện thực quá tàn

Trang 28

khốc mà cố gắng giảm bớt phần bi thơng Tất cả tạo nên nỗi ảm ánh nhức nhối

về cuộc đời, về con ngời ở mỗi độc giả mỗi khi đọc truyện Nam Cao

Cái nhìn hiện trạng trong truyện ngắn Chí Phèo cũng là khuynh hớng

nhận thức thực tại chung trong sáng tác của Nam Cao trớc cách mạng Những

truyện Lão Hạc, Điếu văn, Nửa đêm, Một đám cới, Sống mòn, Truyện ngời

sống và con ngời Đọc văn Nam Cao đừng mong chờ nụ cời hả hê, khoái chíkhi bộ mặt của cái xấu, cái ác bị kệch cỡm, lố bịch hóa, bị hạ bệ, mỉa mai,châm biếm đến kích cỡ cao nhất nh trong văn Nguyễn Công Hoan, Vũ TrọngPhụng hay đợc trải nghiệm những tình cảm ấm áp, đằm thắm dù là viết vềnhững cuộc đời khốn khổ trong văn của Thạch Lam…[10,448] Đây cũng là một cách Đọc văn Nam Cao, ng-

ời đọc sẽ cảm thấy bị day dứt, dằn vặt, cảm thấy bức bối, ngột ngạt…[10,448] Đây cũng là một cách cái cảmgiác khó chịu khiến con ngời ta muốn vùng dậy, muốn hành động, muốn thay

đổi một điều gì đó Bởi lẽ, cái xã hội ngột ngạt, tù đọng với những kiếp sốngmòn mỏi, tàn tạ, bế tắc của Việt Nam trớc cách mạng đợc Nam Cao "chụp" lạichân thực quá, trần trụi quá, đến mức ngời đọc nh thấy tác giả quá lạnh lùng,tàn nhẫn trong những dòng chữ của mình

Thực ra, cái hiện thực cuộc sống mà nhà văn tôn trọng và phản ánhkhách quan trong tác phẩm chẳng phải là sự việc, sự kiện, biến cố gì lớn lao,

to tát, bất ngờ, mà chủ yếu nó là những chuyện vặt vãnh của đời sống hàngngày Chuyện một ông lão bán chó, chuyện thằng say rợu rạch mặt la làng,

chuyện trẻ con không đợc ăn thịt chó, cảnh đứa bé hờ khóc mẹ chết, chuyện một bà già cố ăn một bữa no…[10,448] Đây cũng là một cách tất cả cho thấy một nguyên tắc trong thi phápmiêu tả, phản ánh đời sống của Nam Cao là xuất phát từ sự thật trần trụi củacuộc sống Đây là điểm Nam Cao vận dụng đợc từ nguyên tắc mĩ học của chủnghĩa tự nhiên, đồng thời ở điểm này Nam Cao cũng có sự gặp gỡ với nhà văn

hiện thực lớn của nớc Nga Sêkhôp Sêkhôp đã từng quan niệm: ngời ta đòi hòi

cần phải có những nhân vật anh hùng, những cảch giật gân gây ấn tợng, nhng trong cuộc sống không phải cứ từng phút một ngời ta bắn nhau, treo cổ, tỏ tình với nhau Và không phải cứ từng phút một ngời ta nói những lời thông minh Họ ăn uống nhiều hơn, và nói những điều ngu xuẩn nhiều hơn Cần phải đa tất cả những cái đó lên sân khấu [46] Tuy nhiên, vợt lên trên các nhà

tự nhiên chủ nghĩa, các sáng tác của Nam Cao hay Sêkhôp không sa vào chitiết, tủn mủn, tràn lan, quan tâm đến những điều vặt vãnh ấy không chỉ để mà

quan tâm Cốt lõi của cái mới trong sáng tác của họ là ở cách hiểu cuộc sống

Trang 29

của họ phức tạp, biện chứng hơn Trong những bức tranh đời thờng họ tìm thấy tính liên hoàn tạo nên dòng chảy của cuộc đời [2].

Khuynh hớng nhận thức thực tại còn đợc thể hiện trong nhận thức vềtrạng thái, xu thế vận động của đời sống - đợc thể hiện qua sự vận động củacốt truyện trong tác phẩm La Khắc Hòa khi bàn về sự vận động của cốt

truyện trong tác phẩm văn học, đã đa ra nhận định: Lấy sự cố làm sờn cho

truyện ngắn, các nhà văn thờng chọn lấy những sự kiện đợc tạo thành từ mới

bị đảo lộn "Nhân" to ắt "quả lớn" [33]

Đọc truyện Nam Cao, chúng ta thấy tác giả ít sử dụng loại sự kiện, biến

cố đó Nam Cao không phải không xây dựng sự kiện, biến cố nhng sự kiện,biến cố trong truyện Nam Cao dờng nh vận động và phát triển theo dòng xoáytrên ốc, có vận động, có phát triển song rốt cuộc không làm thay đổi điều gìcả Thông thờng, cây ra hoa ắt thành quả, nhng lẽ tự nhiên, bên cạnh hoa đơm

trái bao giờ cũng có hoa điếc, và La Khắc Hòa nhận định: Phần lớn sự kiện,

biến cố trong sáng tác của Nam Cao chính là cái hoa điếc của đời sống [33]

Có thể đa ra vài ví dụ tiêu biểu nh truyện Dì Hảo, ở hiền …[10,448] Đây cũng là một cách Trớc sự vũphu, tàn bạo đến trắng trợn của chồng, dì Hảo hay Nhu chỉ biết ôm mặt khócrng rức, khóc xong, ốm xong lại nai lng ra làm để nuôi chồng Ngời đọc chờ

đợi một sự phản ứng từ phía nhân vật, dù là phản ứng tiêu cực theo kiểu con

giun xéo mãi cũng quằn, tức nớc vỡ bờ nhng rốt cuộc vẫn không có gì xảy ra.

Nh vậy, xu thế vận động của đời sống ở đây là: cái đáng lẽ xảy ra nhngkhông bao giờ xảy ra; có nhân nhng không thấy quả, có đơm hoa nhng chẳng

bao giờ kết trái Vơng Trí Nhàn gọi đây là nghịch dị kì quặc ở mọi trạng thái

trớc và sau biến chuyển lẫn trong hành động tạo biến chuyển Ông cụ thể hoá

bằng việc tìm hiểu sự phát triển tình thế trong truyện Nam Cao, phác ra sơ đồgồm ba giai đoạn: a, Cái trì trệ, sống mòn lúc đầu; b, Sự cựa quậy, muốn thay

đổi; c, Kết cục: tình thế bi đát hơn…[10,448] Đây cũng là một cách Sự tổ chức diễn tiến, vận động của đờisống, của sự kiện, biến cố nh vậy sẽ dẫn đến hệ quả: cảm tởng nh truyện NamCao là truyện không có truyện Trạng thái, xu thế vận động đó tô đậm nhịp

điệu thực tại dàn trải, ngng đọng trong truyện Nam Cao

Xuất phát từ hiện thực trần trụi của cuộc sống, tái hiện con ngời và hoàncảnh trong tính chân thực, khách quan, đi vào những cái tởng chừng nhỏ nhặt,vặt vãnh của cuộc sống đời thờng…[10,448] Đây cũng là một cách đó là dấu ấn của chủ nghĩa tự nhiên trongkhuynh hớng nhận thức thực tại của sáng tác Nam Cao Trung thành với hiện

Trang 30

thực đời sống và con ngời dù nhiều khi đó là hiện thực đầy tàn nhẫn, lạnhlùng, khắc nghiệt, tô đậm một thực tại bí bách, tù đọng, mục ruỗng vốn có củathời đại, đó là sự vận dụng thi pháp tái hiện hiện thực thờng thấy của chủnghĩa tự nhiên Điều đó giúp Nam Cao đa đến cho ngời đọc một bức tranhcuộc sống trung thực, sinh động đến không ngờ.

2.1.2 Nghệ thuật xây dựng hình tợng

Hình tợng nhân vật mà trung tâm là hình tợng con ngời, là tiêu điểmcủa mọi giá trị nghệ thuật cùng nh giá trị t tởng của sáng tác văn học Thôngqua hình tợng, nhà văn trình bày một cái nhìn, một quan niệm về thế giới Xâydựng hình tợng, do đó không chỉ bộc lộ tài năng, phong cách nghệ thuật màcòn thể hiện rõ t tởng, quan niệm nghệ thuật của nhà văn

Trong nghệ thuật xây dựng, khắc họa hình tợng của Nam Cao, chủnghĩa tự nhiên để lại một dấu ấn khá rõ nét Xây dựng nhân vật, các sáng táccủa CNTN đặc biệt chú ý đến các dạng vật thể của con ngời (mặt mũi, hìnhdáng) và các sinh họat vật chất của nó, nhất là sinh họat sinh lí, giới tính.Quan tâm đến con ngời ở phơng diện bản năng, sinh lí…[10,448] Đây cũng là một cách, chú ý miêu tả chândung, ngoại hình …[10,448] Đây cũng là một cáchlà một điểm khá nổi bật trong nghệ thuật xây dựng nhânvật của Nam Cao

Có thể nói Nam Cao có một hứng thú đặc biệt trong việc khắc họa chândung ngoại hình nhân vật Các nhân vật của Nam Cao, đặc biệt là loại nhânvật ngời lao động, ngời nông dân thờng đợc phác thảo trớc hết qua những chitiết ngoại hình, dù đặc tả hay gợi lên qua vài chi tiết thì đều tạo ra một ấn tợngkhá đậm đà trong trực quan ngời đọc

Thi pháp gây ấn tợng mà Nam Cao thờng sử dụng trong miêu tả chândung nhân vật thờng là những thậm xng, ngoa dụ, phóng đại, cờng điệu,những biện pháp nghệ thuật quen thuộc của chủ nghĩa tự nhiên Qua đó nhữngchi tiết về dáng dấp, khuôn mặt, hành động, cử chỉ…[10,448] Đây cũng là một cách của nhân vật đợc phónglên ở kích cỡ khác thờng, tạo ra một dấu ấn chạm trổ sắc nét về nhân vật Cáchmiêu tả này ta có thể bắt gặp trong rất nhiều truyện ngắn của Nam Cao

Đó là hình dung của Điền trong truyện ngắn Giăng sáng về những ngời khách thô kệch khi bọn họ ngả lng vào những chiếc ghế mà anh ta rất quý: cái

đít to bành bạch nh cái vại … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr ngả cái l ng to nh lng trâu … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr

Là hình dung của tôi về ngời vợ khi tức giận trong Những truyện không

muốn viết: Mặt y nhăn nh mặt hổ phù Đôi mắt thì long sòng sọc, chúng toan nhảy vọt ra … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr Lại nghiến răng ken két nữa … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr

Trang 31

Gơng mặt của Trạch Văn Đoành trong Đôi móng giò đợc Nam Cao

miêu tả rất chi tiết: … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr Cái mặt hắn vênh vênh, ngậu xị thế nào … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr đôi l ỡng quyền nhô ra, nh muốn gây sự với ngời ta Hai má thóp vào để tiếp sức cho hai cái lỡng quyền Cái mũ bóp lại ở trên để cho dới đợc banh ra Nó phệ bụng ngồi trên một cái vành trăng khuyết màu đen giống nh hai cái sừng trâu chắp liền lại với nhau: ấy là những cái ria ngoắt hẳn lên Cái hàm răng vổ làm môi trật hẳn ra Những cái răng dọa nạt ai, y nh một con chó khi nó gừ

chúng lấp lánh nh nhạo, nh cời, nh khinh khỉnh với ngời ta Chúng chẳng nhìn xuống bao giờ Chúng nhìn thẳng Chúng nhìn nghiêng Cái nhìn tự đắc nh cái nhìn của một kẻ có thể nhấc ngời ta lên nh nhấc một cái lông… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr

Hay chân dung của thiên lôi Trơng Rự trong truyện Nửa đêm cũng rất

tiêu biểu cho ngòi bút miêu tả của Nam Cao: … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr da đen nh cột nhà cháy, mặt

rỗ tổ ong, trán thấp và bó lại ở hai bên, tóc cồm cộp dở ngắn dở dài, mắt ti hí nhng sáng nh mắt vọ, đã thế còn đợc đôi lông mày rậm và dựng đứng nh hai con sâu róm nằm trên trợ lực Tất cả những cái ấy hoà với cái mũi ngắn và to hếch lên nh mũi hổ phù, đôi lỡng quyền cao trên bờ những cái má trũng nh hai cái hố, những cái xơng hàm nỗi lên và bộ răng cải mả nhai xơng rau ráu, cũng nhăn nhó, trừng trợn với nhau để tạo cho hắn một bộ mặt làm những trẻ con trông thấy phải thét lên nh ma bóp cổ… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr

Đặc biệt, trong xây dựng nhân vật, Nam Cao thờng sử dụng mặt thủpháp quen thuộc là kệch cỡm hóa, một thủ pháp của nghệ thuật grôtescơ - th-ờng xuất hiện nhiều trong các sáng tác của chủ nghĩa tự nhiên - tạo ra một thếgiới nhân vật riêng của Nam Cao - loại nhân vật dị dạng Đó là yếu tố kì dị,cái quái dị, chất nghịch dị mà các nhà nghiên cứu thờng nhắc đến trong xâydựng nhân vật của Nam Cao, nh một biểu hiện tiêu biểu cho sự ảnh hởng củachủ nghĩa tự nhiên

Điều này đợc thể hiện tập trung trong việc xây dựng những cặp đôi đầy

ấn tợng: Chí Phèo Thị Nở (Chí Phèo); Lang Rận Mụ Lợi (Lang Rận); Đức Nhi (Nửa đêm)…[10,448] Đây cũng là một cách những đôi lứa xứng đôi trong văn học Xây dựng loại nhân

-vật này, Nam Cao làm nổi bật lên cả một sự biến dạng, dị dạng về thể xác lẫntâm hồn

Trớc tiên là hình tợng nhân vật Thị Nở, biểu tợng của cái xấu trong vănhọc Việt Nam Nhà văn đã dành một đoạn dài để giới thiệu nhân vật này: … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr Ngời đàn bà ấy lại là Thị Nở, một ngời ngẩn ngơ nh ngời đần trong cổ tích và

Trang 32

xấu ma chê quỷ hờn Cái mặt của thị thực là một sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nỗi ngời ta tởng bề ngang hơn bề dài, thế mà hai má hóp vào mới thật là tai hại Cái mũi thì vừa ngắn vừa to, vừa đỏ vừa sần sùi nh vỏ cam sành, bành bạnh nh muốn chen lẫn nhau với những cái môi cũng cố to cho

cân đối chữa đợc phần nào cho sự xấu… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr

Trớc hết, Nam Cao đã dùng bút pháp phóng đại, cờng điệu để miêu tảnhân vật Mặt khác, tác giả sử dụng hàng lọat các chi tiết đặc tả nhằm cụ thểhóa diện mạo nhân vật, tập trung ở khuôn mặt theo một trật tự hết sức chặtchẽ: từ những đờng nét chung cho đến những bộ phận cụ thể, từ trên xuống d-

ới Xấu ma chê quỷ hờn, Thị Nở lại thêm cái dở hơi, cái nghèo, cái dònggiống mả hủi…[10,448] Đây cũng là một cách Bấy nhiêu chi tiết miêu tả đủ hoàn chỉnh nỗi bất hạnh của Thị

Nở Nhân vật Thị Nở trớc ngòi bút của Nam Cao, trớc hết là về ngoại hình, giathế…[10,448] Đây cũng là một cách có thể nói là ở mức zêrô trong bậc thang giá trị

Có thể liệt kê thêm nhân vật Nhi trong Nửa đêm tiêu biểu cho loại nhân

vật nữ xấu xí của Nam Cao: … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr ớc da trắng lắm, trắng nh con lợn cạo Ngời n

nó phục phịch quá Giá có phải lợn bán đợc hơn hai mơi đồng Bàn chân to và

đầy hùm hụp, nhấc đợc lên kể là đã khó nhọc Cái mặt chỉ thịt là thịt, nẫn lên những thịt Hai má phị, cái mũi to mà lỗ thì nhỏ, gần nh đặc, mắt không còn chỗ để phô ra, cái mi mắt d đầy nh một cái môi, và cái môi thì dày nh không

có gì dày hơn thế… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr

Thử xem xét thêm một số nhân vật đồng dạng nữa của Nam Cao đểxem tác giả đã sử dụng cái nghịch dị, kì quặc trong miêu tả nhân vật nh thế

nào Chúng ta lựa chọn truyện ngắn Lang Rận, ở đây Nam Cao đã dựng nên

một hình tợng nghịch dị song trùng: Lang Rận và mụ Lợi

Anh chàng có cái mặt dơ dáng thật Mặt gì mà nặng chình chĩnh nh

ng-ời phù, da nh con tằm bủng, lại lấm tấm đầy những tàn nhang Cái trán ngắn

cong lên, bịt gần kín hai lỗ mũi con con, khiến anh ta thở khò khè… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr

Mụ Lợi thì: … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr không có một ng ời đàn bà nào có thể xấu hơn Mụ béo trục béo tròn, mặt mũi nh tổ ong bầu, mắt trắng, môi thâm, da đen nh thằng quỷ ở đây ngời ta vẫn lấy tên mụ ra để dọa trẻ… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr

Qua những chân dung tiêu biểu trên, có thể thấy Nam Cao đặc biệt chú

ý đến khuôn mặt nhân vật Nhà văn thờng dùng phép dồn tụ những chi tiết đểmiêu tả khuôn mặt Nam Cao miêu tả rất cụ thể, tỉ mỉ, tởng nh nhân vật hiển

Trang 33

hiện sinh động trớc mắt ta Thế mà việc hình dung những nhân vật trên lạikhông đơn giản chút nào bởi vì nó xấu quá, dị dạng quá, méo mó quá khó mà

có đợc trong thực tế Một Thị Nở thậm chí không đợc cái may mắn hao hao

nh mặt lợn; Lang Rận thì da nh con tằm bủng, đôi mắt thì híp lại nh mắt lợn

của nhân vật Nam Cao đợc đẩy lên bình diện kì quặc, quái gở khi nhà văn sửdụng thủ pháp phóng đại, thậm xng, ngoa dụ làm biến chất hiện tợng, chuyểnphạm trù ngời sang phạm trù vật, xác lập kiểu con ngời vật hoá

Nh vậy, trong nghệ thuật xây dựng hình tợng nhân vật của Nam Cao cómột khuynh hớng, đó là vật hoá ngoại hình nhân vật Điều này khá gần gũi với

hình tợng trung tâm của các sáng tác tự nhiên chủ nghĩa là những con vật –

ngời Trong rất nhiều sáng tác của Nam Cao, khi miêu tả nhân vật, ngời đọc

rất hay gặp những so sánh đồng nhất giữa hình ảnh con ngời và con vật nh thếnày:

Cái l

Tiếng bà cũng khàn khàn ra nh là tiếng mèo Cái mặt thì nhăn dúm nh cái đèn

đêm)

- Nó trắng lắm, trắng nh con lợn cạo (Nhi - Nửa đêm)

- Mụ vật vã ngời, khóc rống lên nh một con chó cha quen xích (Mụ Lợi

- Lang Rận)

- Từ yêu chồng bằng một thứ tình yêu rất gần với tình yêu của một con chó đối với ngời nuôi (Đời thừa)

- Ngời ta tránh Thị Nở nh tránh một con vật nào rất tởm (Chí Phèo)

Không chỉ dị dạng về ngoại hình, không chỉ dừng lại ở những biếndạng, méo mó ở hình thức bên ngoài, những nhân vật Nam Cao còn kì dị, quái

gở không kém ở suy nghĩ, tính cách bên trong Tác giả đã kịp giới thiệu Thị

Nở là ngời dở hơi, nhng ngời đọc vẫn có quyền nghĩ rằng (mặc dù không hivọng nhiều lắm) một ngời dở hơi cũng có thể là một ngời có tâm tính tốt Nh-

ng Thị Nở dở hơi đến mức không thể ý thức đợc tiếng nói lơng tâm của thị ,

thị hành động phần nhiều theo bản năng, yêu Chí Phèo hay từ bỏ Chí Phèo chủ

yếu là theo bản năng, theo tính bột phát nhất thời của nhân vật Rốt cuộc, vềmặt tâm hồn, Thị Nở cũng là một ngời dị dạng

Trang 34

Lang Rận thì ngay trong nếp sinh họat đã phản ánh một con ngời sống

tự nhiên, nguyên thủy nh thế nào Anh ta có tật hám gái và cũng rất háu

chuyện Hơn nữa, trong bản chất nhân vật có cái gì đó nhẫn tâm, thể hiện quachi tiết những lời nói bạc miệng trong cuộc đùn đẩy trách nhiệm ở cuối tác

phẩm giữa Lang Rận và mụ Lợi Còn mụ Lợi thì cũng tự nhiên, nhi nhiên đến

mức gần nh loài vật vô tri vô giác, sau cuộc tranh cãi, bỏ mặc Lang Rận, mụ

lăn ra ngủ và ngủ đến mức khi ngời bạn tình đã chết trên dây treo cổ, mụ vẫn nằm ngủ, miệng há hốc và ngáy to nh xẻ gỗ Nhân vật không đẹp dần lên trong

mắt độc giả, từ ấn tợng xấu về một ngoại hình dị dạng đến cái buồn cho nhữngméo mó về tâm hồn

Thế nhng, trong khi vẫn miêu tả cái xù xì, Nam Cao đã lặng lẽ dẫn ngời

đọc đi theo một con đờng mới chẳng ai ngờ Cho dù Thị Nở có ma chê quỷhờn, có ngẩn ngẩn ngơ ngơ nh thế nào đi chăng nữa, Lang Rận, mụ Lợi có dị

hình, dị dạng và quái gở thế nào đi chăng nữa thì đến một lúc nào đó ta cũng

buộc thừa nhận chúng cũng là những con ngời, cũng sống, vui buồn, yêu

th-ơng, mơ mộng, căm uất nh chúng ta [40,235], trong chúng vẫn tồn tại phẩm

chất ngời, giá trị ngời, nhu cầu ngời…[10,448] Đây cũng là một cách và thậm chí, tất cả những điều đó đềurất đáng trân trọng, khi mà chúng phải chịu những thiệt thòi to lớn trong sự kì

dị của mình

Tất cả những điều đó cho thấy sự độc đáo trong việc xây dựng hình ợng của Nam Cao: một mặt nhà văn luôn làm cho ngời đọc ngỡ tởng những kẻnửa ngời nửa ngợm nh Thị Nở, Lang Rận, mụ Lợi, Đức, Nhi…[10,448] Đây cũng là một cách thì làm gì biết

t-đến tình yêu, làm gì có cảm xúc yêu đơng; mặt khác tác giả lại hết sức thờngtình, tự nhiên, không có gì là bất thờng khi miêu tả tình yêu giữa những conngời đó Chính vì vậy, câu chuyện của những kẻ dị dạng, xấu xí kia lại đặt ranhững vấn đề hết sức nghiêm túc đáng lu tâm

Rõ ràng, có yếu tố tự nhiên, có vận dụng thi pháp của CNTN trong xâydựng nhân vật, song sự miêu tả của nhà văn hớng tới một mục đích thẩm mĩcao hơn việc khắc họa những bức chân dung thông thờng theo lối tự nhiên chủnghĩa Nhà văn đã sử dụng cái nghịch dị, cái kì quặc, để đi sâu hơn vào bảnchất của vấn đề Nhân vật Nam Cao ở những con ngời ngay cả dị dạng nhânhình nhân tính vẫn lấp lánh ánh sáng nhân phẩm con ngời Chính vì lẽ đó,

Đức, Nhi, Lang Rận, mụ Lợi…[10,448] Đây cũng là một cách vẫn để lại niềm thơng xót chân thành của độcgiả

Trang 35

Không chỉ vận dụng yếu tố tự nhiên chủ nghĩa trong việc miêu tả ngoạihình, chân dung, Nam Cao còn dành sự quan tâm đến phơng diện những sinhhọat vật chất, bản năng sinh lí…[10,448] Đây cũng là một cách của nhân vật Kiệt tác Chí Phèo hay Nửa

đêm là những tác phẩm thể hiện rất rõ đặc điểm này trong nghệ thuật xây

dựng hình tợng của Nam Cao

ở truyện Đôi móng giò, không chỉ miêu tả chi tiết những đờng nétngoại hình, tác giả còn rất quan tâm đến cái ăn, cái mặc của nhân vật Trạch

Văn Đoành: Suốt một mùa, hắn chỉ mặc một cái ba-đơ-xuy sắc chó gio … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr Lần

làm, khi chơi Cái áo ba-đơ-xuy mất hết cúc rồi Hắn đơm hai cái dải thật to hình cái bơi chèo Những khi hắn đi cày, hai cái dải đợc bắt giao nhau để thắt

buông xuôi cho lẫn vào hai mép áo trong Sự kì quặc, khác ngời trong trang

phục, cách ăn mặc của Trạch Văn Đoành minh họa rõ thêm tính cách ngôngnghênh, thách thức, ngạo đời của nhân vật khi đối diện với bọn trởng giả thốinát ở thôn quê

Trong truyện Trẻ em không đợc ăn thịt chó, để lí giải cho mệnh đề phủ

định kì quặc này, tác giả trớc hết miêu tả cơn say của ngời cha: Những cơn

say, nếu kéo dài ra tất thành nôn nao Ngời ta đâm chúi đầu vào bức vách hoặc xều dãi ra nh một con chó trớc khi hóa dại Tởng chừng cơn say không

có dính dáng gì đến chuyện ăn thịt chó, song nó chính là biểu hiện vật chấtbên ngoài dẫn con ngời đến sự ham hố, thèm thuồng ăn uống đến mức phàmtục, thậm chí mất hết tính ngời Miếng thịt chó là miếng ăn, song từ miếng ănvật chất đó, tác giả muốn hớng đến nhân phẩm, giá trị con ngời

Cũng nh vậy để lột tả bản chất thú tính trong con ngời Trơng Rự (Nửa

đêm), Nam Cao quan tâm đến phơng diện bản năng, sinh lí của nhân vật trong

chuyện tình ái: nó đã mua nàng nh mua con lợn, ái ân với nàng nh ngời ta giết

lợn… Cả hai nhân vật ( Đức, TrSoi chiếu nhân vật từ phơng diện bản năng, sinh lí giúp nhà văn xây

dựng đợc chân dung Trơng Rự với kiểu nhân vật con vật – ngời

Hay trong truyện Chí Phèo, tác giả phát hiện một trong những nguyên

nhân để thức tỉnh ý thức làm ngời, thức tỉnh tâm tính con ngời trong những kẻ

vốn u mê nh Chí Phèo, Thị Nở cũng bắt nguồn trớc hết từ tình yêu mang tính

chất bản năng, sinh lí của nhân vật Miêu tả cảnh âu yếm giữa Chí Phèo và Thị

Nở trong đêm trăng sáng bên vờn chuối, những chi tiết mà trớc đây các nhànghiên cứu cho rằng đã lạc bớc sang chủ nghĩa tự nhiên, thực ra là một việc

Trang 36

làm đầy dụng ý và có sức thuyết phục để minh chứng cho một điều: những kẻnửa ngời nửa ngợm kia thực chất cũng là những con ngời với ý nghĩa đích thựccủa nó

Sử dụng cái quái gở, kì quặc, nghịch dị để khắc họa chân dung ngoạihình nhân vật, nhng Nam Cao không dừng lại ở đó Ông còn sử dụng nhữngthủ pháp này để khám phá, phơi bày cái trái khoáy bên trong, thuộc về bảnchất của hiện tợng Đóng góp của Nam Cao, điểm mà nhà văn giống nhng

đồng thời đã vợt lên chủ nghĩa tự nhiên, nâng các yếu tố tự nhiên chủ nghĩatrong xây dựng hình tợng lên một tầm mới, đó là nhà văn phát hiện trongnhững cái vặt vãnh đời thờng, trong những hiện tợng thoạt nhìn thoáng qua t-ởng nh rất đỗi bình thờng nhng thực chất lại chứa đầy những nghịch lí

Đó là ngời chồng trong truyện ngắn Cời dùng tiếng cời làm liều thuốc giải uất, dùng phép tự kỷ ám thị: Tôi khỏe lắm, tôi vui lắm Tôi sung sớng lắm.

Vợ tôi thật đáng yêu để có thể vẫn duy trì đợc cuộc sống ngột thở của mình

Trong Quên điều độ, Hài điều độ vì bắt buộc điều độ, vì đó là bệnh của

ngời nghèo Từ điều độ đến quên điều độ, Hài luôn bị đặt trong thế lỡng phân:

hắn đợi chết mà không chết; bệnh tự nhiên mà khỏi hay không khỏi cũng vậy ,

và cuối cùng, cuộc đời nghèo hèn đã trả Hài về với triết lí: Ngời điều độ là

ng-ời khôn ngoan

Đó là bà già trong Một bữa no lăn lội đến nửa ngày đờng để kiếm ăn.

ăn rồi bội thực mà chết, điều đó làm cho nghịch lí trở thành chân lí: ngời ta

đói đến đâu cũng không chết nhng no một bữa lại đủ chết Miếng ăn đợc nâng

lên thành thử thách với lơng tâm, thể diện, nhân phẩm con ngời

Hay đó là ngời cha phàm tục mất hết tính ngời với lí lẽ trẻ con không

đ-ợc ăn thịt chó, là tình thế bẽ bàng của ông bà đồ Cảnh trong mong ớc giản dị

đợc kén duyên cho con gái (Đón khách), là màn trả thù ngoạn mục của Du với ngời bán sách trong Nhỏ nhen…[10,448] Đây cũng là một cách

Nhng ám ảnh hơn, không thua kém gì cái quái gở ở loại nhân vật dị

dạng là cái quái gở ở dạng nhân vật ở hiền Thọat nghe ngời đọc chắc phải băn

khoăn ở hiền thì đáng quý quá, đáng trân trọng quá, nhất là trong cái xã hội

đầy bon chen, độc ác, tàn bạo lúc bấy giờ? Nam Cao muốn tìm kiếm cái khácthờng gì ở đây? Nhng thông qua những Nhu, những Hảo…[10,448] Đây cũng là một cách Nam Cao quả đãthuyết phục ta rằng ngay cả ở hiền nhiều khi cũng là quái gở, kì quặc, là bấtthờng, trái với tự nhiên

Trang 37

Nhu trong truyện ở hiền hiền ngay từ trong trứng nớc Từ nhỏ đã bị anh

em trong nhà lấn át Lớn lên lấy chồng, bị chồng hành hạ, rồi chồng lấy vợ lẽ,sống trên của cải của Nhu Nhu đã làm gì? Nhu chỉ biết khóc đến mòn tất cả

ra thành nớc mắt Cuối cùng, Nhu chấp nhận sống nh một con vú trong cái cơ

nghiệp chính tay Nhu đã dùng tiền của mẹ mình tạo ra… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr

Dì Hảo cũng là một kiểu nhân vật đồng dạng Cũng nai lng ra làm đểnuôi chồng, nuôi nhân tình của chồng không hề oán thán, nếu có phản ứng thìbằng cách khóc lóc đày đọa bản thân mình thôi Triết lí cuộc đời gì chỉ gói

gọn trong hai chữ : nhẫn nại, nhẫn lại là hơn

Nam Cao đã phát hiện ở những con ngời tởng có những phẩm chất đángquý, đáng trân trọng đó những vấn đề cần đặt ra: sự hạ bệ và thoái hóa con ng-

ời, sự hiền lành đến nhẫn nhục, cam chịu, những con ngời sống ít ý thức vềbản thân, ít ý thức về giá trị và sức mạnh của mình Nam Cao đã tái hiện điều

đó dới hình thức mẫu ngời hiền lành đến mức lạ lùng, vô lí, cái hiền lành trởthành đồng lõa với sự nhu nhợc và thú nô lệ của con ngời

Khi tái hiện dạng nhân vật này, giọng điệu chủ yếu là trần thuật kháchquan, có khi lạnh lùng nhng vẫn thấp thoáng nỗi chua xót của tác giả trongviệc đặt ra những hiện tợng nghịch lí trong đáy sâu bản chất con ngời

Nh vậy, trong nghệ thuật xây dựng hình tợng, Nam Cao đã vận dụngchủ nghĩa tự nhiên ở việc sử dụng những thủ pháp cờng điệu, thậm xng, sửdụng cái kì quặc, quái gở để xây dựng những chân dung nhân vật đợc tô đậm

ở nhiều phơng diện: từ ngoại hình bên ngoài đến những sinh hoạt vật chất vàthế giới tâm hồn bên trong Với sự tích hợp những yếu tố tự nhiên chu nghĩatrong nghệ thuật xây dựng nhân vật, Nam Cao đã tạo đợc những hình tợngnghệ thuật giàu sức ám ảnh

2.1.3 Nghệ thuật tạo dựng hoàn cảnh

Nếu xem nhân vật là vấn đề trung tâm của tác phẩm văn học thì hoàncảnh trong sáng tác văn học cũng là một phạm trù nhất thiết không thể không

lu tâm Hơn nữa, giữa nhân vật và hoàn cảnh, tính cách và hoàn cảnh là vấn đề

có mối liên hệ khăng khít với nhau và có thể chuyển hóa cho nhau Những yếu

tố của hoàn cảnh trong trờng hợp này nếu đợc đẩy lên ở những giá trị điểnhình, nó sẽ trở thành nhân vật văn học và ngợc lại, nhân vật, hệ thống nhân vậtlại là một trong những yếu tố cấu thành nên cấu trúc hoàn cảnh

Trang 38

Các sáng tác của chủ nghĩa tự nhiên cũng dành sự quan tâm đặc biệtcho nghệ thuật khắc họa hoàn cảnh Chủ nghĩa tự nhiên tập trung miêu tả hoàncảnh, môi trờng tự nhiên, môi trờng sinh hoạt vật chất trực tiếp xung quanhcon ngời Nó cũng thờng xuyên sử dụng yếu tố quái dị, nghịch lí để xây dựngnên những bức tranh hiện thực trần trụi, nham nhở của cuộc sống

Nam Cao trong đòi hỏi của chủ nghĩa hiện thực cũng dành sự quan tâm

đặc biệt đối với việc xây dựng hoàn cảnh, một phạm trù cơ bản trong nguyêntắc mĩ học của các sáng tác hiện thực chủ nghĩa ở phạm trù này, nhà văn đãvận dụng những yếu tố tự nhiên chủ nghĩa trong việc sử dụng những chi tiếtquái dị, kì quặc - những tính chất mà nhà nghiên cứu Vơng Trí Nhàn gọichung là nghệ thuật nghịch dị để tái hiện những hoàn cảnh vừa có tính dị biệt,

vừa có tính điển hình Nghệ thuật nghịch dị là một kiểu ớc lệ đặc thù, nó công

nhiên và chú ý trình bày một thế giới dị thờng, trái tự nhiên Nh vậy, yếu tố

chủ đạo để làm nên tính chất của hoàn cảnh nghịch dị, đó là sự méo mó biếndạng, vô lí, sự kì quặc, phi lí, quái gở, bất bình thờng của đối tợng phản ánh

Trực tiếp tạo nên những diện mạo hoàn cảnh trong truyện ngắn củaNam Cao là hệ thống những chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm, từ những chitiết về cảnh vật, đồ vật, từ môi trờng thiên nhiên, thời tiết, khí hậu, âmthanh…[10,448] Đây cũng là một cách Những chi tiết này không phải đợc xây dựng một cách ngẫu nhiên

mà đều quy tụ về nhằm thực hiện một chức năng: tái tạo lại không khí trungtâm của hoàn cảnh xã hội trong tác phẩm

Sử dụng yếu tố nghịch dị trong xây dựng hoàn cảnh, Nam Cao tái hiệnmột không khí ngột ngạt, bế tắc, một trạng thái mục ruỗng, thối rữa, một tinhthần của sự tàn tạ, chết chóc Sự kì dị, quái gở, sự ám ảnh đáng sợ đối với ngời

đọc thể hiện ở cảm nhận về một sợi dây vô hình đang thít chặt lấy độc giả dokhông khí bức bối, ngột ngạt của tác phẩm gây nên Cảm nhận của Lã Nguyênkhi bớc vào thế giới nghệ thuật của Nam Cao là: … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr nh lạc vào một vờn cây ăn quả già cỗi lúc hết mùa Trên cây rặt những hoa điếc Nếu đây đó còn sót lại mấy quả lơ thơ thì chim muông sâu bọ và cái oi nồng của thời khí lập tức làm cho h hỏng, thối rữa… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr[36,16] Toàn bộ không khí đó đã đợc tái hiện qua một

hệ thống chi tiết phong phú về không gian, thời gian, hình ảnh, màu sắc, âmthanh…[10,448] Đây cũng là một cách

a) Thiên nhiên

Tác phẩm Nam Cao không phải không có những bức tranh đẹp về thiênnhiên Đây đó có những chi tiết miêu tả thiên nhiên giàu sức sống, giàu chất

Trang 39

thơ mộng nh: Bên ngoài trời rất đẹp Nắng tng bừng Một đàn sẻ chí chóe cãi

nhau nh một lũ trẻ con tập làm ngời lớn: chúng xỉa xói, chúng chanh chua,

liềm vàng giữa đống sao Giăng là cái đĩa bạc trên tấm thảm nhung da trời Giăng tỏa mộng xuồng trần gian Giăng tuôn suối mát để những tâm hồn khát

nhằm để làm nổi bật hơn cái nghiệt ngã, tàn nhẫn của những hoàn cảnh bịméo mó, biến dạng

Nam Cao đặc biệt chú ý đến thiên nhiên ở khoảnh khắc ngày tàn, khi

mọi sự vật bị úa đi trong màu vàng tàn tạ của buổi chiều còn sót lại Không

gian xám tro và tít ngoài xa, đầy sau những đám me loáng thoáng nh những mạng nhện đen, trên một nền trời bằng lặng, mấy vệt màu đỏ chót, cứ nhạt dần đổi sang màu tim tím… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr Cảnh vật úa tàn dần gây một cảm giác sự sống

đang trút ra những hơi thở cuối cùng của nó: nắng nhạt dần, nắng úa vàng,

sự sống giảm đi rất mau, thời gian trôi và ngày chết dần đi… Cả hai nhân vật ( Đức, TrTrong cái

khoảnh khắc của ngày tàn đó, cảnh vật trở nên yên tĩnh quá, những giậu tre

thì rậm nh rừng, chiều đến thở ra u ám, khu vờn hẻo lánh tựa tha ma (Nửa

đêm)

Nam Cao không chỉ thể hiện cái đáng sợ của thiên nhiên vào những thời

điểm hiền lành của nó - thiên nhiên ở trạng thái đang ngủ hay đang tự nó vận

động lụi tàn, nghĩa là nó chỉ phát huy cái sức mạnh âm thầm, ngấm ngầm thítchặt sự sống con ngời - mà còn hớng tới một thứ thiên nhiên trực tiếp, côngkhai thách thức, đe dọa con ngời Đó là những cơn gió, trận bão, những thiêntai đợc miêu tả nh những hung thần đang tìm mọi cách hãm hại con ngời

Đó là những cơn gió của miền nhiệt đới, qua ngòi bút miêu tả của NamCao hiện lên nh những thế lực thần bí gây sức ám ảnh, đáng sợ, đầy tính chất

ma quái:… Cả hai nhân vật ( Đức, Tr gió suốt đêm … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr gió đã hung hăng lắm, lấn át cả những tiếng kêu

Và trên cao, cái thứ tiếng u u vẫn kéo dài ra mãi nh có ngời chọc tiết hàng trăm con bò (Làm tổ) Có khi gió đã trở thành một lũ âm binh quái đản dữ tợn

từ địa ngục xô về dơng thế: … Cả hai nhân vật ( Đức, Tr Gió thổi hồng hộc, gió gào rít lên, gió nghiến răng, gió reo cời Đó là cả một bọn âm hồn xông từ địa ngục ra Chúng điên

ngời ăn tết lạ)

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1999), “Phong cách truyện ngắn Nam Cao”, in lại trong “Nam Cao, về tác giả, tác phẩm”, Báo Quân đội nhân dân thứ 7, (1), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách truyện ngắn Nam Cao”, in lại trong “Nam Cao, về tác giả, tác phẩm”, Báo "Quân đội nhân dân thứ 7
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
2. Đào Tuấn ảnh (1992), “Tsêkhôp và Nam Cao - một sáng tác hiện thực kiểu mới”, Tạp chí Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tsêkhôp và Nam Cao - một sáng tác hiện thực kiểu mới”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Đào Tuấn ảnh
Năm: 1992
3. Lại Nguyên Ân (1999), “Nam Cao và cuộc canh tân văn học đầu thế kỷ”, Nam Cao, về tác giả, tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao và cuộc canh tân văn học đầu thế kỷ”, "Nam Cao, về tác giả, tác phẩm
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
4. Bakhtin. M (Phạm Vĩnh C dịch và giới thiệu, 1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trờng Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
5. Lu Văn Bổng (2000), “Văn học so sánh khái luận”, Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh khái luận”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Lu Văn Bổng
Năm: 2000
6. Phạm Vĩnh C (1994), “Mấy suy nghĩ về giao lu văn hóa Việt Nam - Nga”, Tạp chí Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về giao lu văn hóa Việt Nam - Nga”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Phạm Vĩnh C
Năm: 1994
7. Huệ Chi - Phong Lê (1961), “Con ngời và cuộc sống trong tác phẩm Nam Cao”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con ngời và cuộc sống trong tác phẩm Nam Cao”, Tạp chí "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Huệ Chi - Phong Lê
Năm: 1961
8. Nguyễn Văn Dân (2000), “Văn học phi lý - một đóng góp đáng ghi nhận cho lịch sử văn học nhân loại”, Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phi lý - một đóng góp đáng ghi nhận cho lịch sử văn học nhân loại”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2000
9. Đinh Trí Dũng (1999), “Bi kịch tự ý thức - nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của Nam Cao”, Nam Cao, về tác giả, tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bi kịch tự ý thức - nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của Nam Cao”, "Nam Cao, về tác giả, tác phẩm
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
10. Phan Huy Dũng (1999), “Bàn thêm về ý nghĩa thẩm mĩ của cái gọi là “yếu tố tự nhiên chủ nghĩa” trong tác phẩm Nam Cao”, Nam Cao, về tác giả, tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về ý nghĩa thẩm mĩ của cái gọi là “yếu tố tự nhiên chủ nghĩa” trong tác phẩm Nam Cao”, "Nam Cao, về tác giả, tác phẩm
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
11. Nguyễn Đức Đàn (1968), “Nam Cao”, Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam”, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao”, "Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1968
12. Phan Cự Đệ (1961), “Nam Cao”, Văn học Việt Nam 1930 - 1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao”, "Văn học Việt Nam 1930 - 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1961
13. Phan Cự Đệ (1975), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1975
14. Hà Minh Đức (1961), Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1961
15. Hà Minh Đức (1993), Nam Cao vẫn ở giữa chúng ta, lời giới thiệu Tuyển tập Nam Cao, tập 1, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao vẫn ở giữa chúng ta, lời giới thiệu Tuyển tập Nam Cao
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1993
16. Hà Minh Đức (1997), “Nam Cao và nghệ thuật sáng tạo tâm lý”, Nam Cao đời văn và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao và nghệ thuật sáng tạo tâm lý”, "Nam Cao đời văn và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
17. Hà Minh Đức (1997), Nam Cao đời văn và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao đời văn và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
18. Hà Minh Đức (1997), “Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác phẩm của Nam Cao”, Nam Cao, đời văn và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác phẩm của Nam Cao”, "Nam Cao, đời văn và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
19. Hà Minh Đức (1998), “Đọc lại Nam Cao”, Lời bạt tập Những cánh hoa tàn, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc lại Nam Cao”, Lời bạt tập "Những cánh hoa tàn
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1998
20. Văn Giá (1992), “Nói thêm về nhân vật Thị Nở”, Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói thêm về nhân vật Thị Nở”, "Nghĩ tiếp về Nam Cao
Tác giả: Văn Giá
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1992

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w