1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thức tỉnh của nhu cầu xã hội và cái tôi cá nhân trong thơ việt nam sau năm 1975

76 664 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự thức tỉnh của nhu cầu xã hội và cái tôi cá nhân trong thơ Việt Nam sau năm 1975
Tác giả Dơng Thị Thu Hơng
Người hướng dẫn Thầy Ngô Thái Lễ
Trường học Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 190 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong toàn bộ tiến trình của nền văn học Việt Nam nói chung và của nền thơ nói riêng, không phải chỉ đến sau năm 1975 mới có “ sự thức tỉnh của nhu cầu xã hội và cái tôi cá nhân” mà trớc

Trang 1

Lời Cảm Ơn

Để hoàn thành tốt bản luận văn này, em đã nhận

đợc sự

giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Đặc biệt là

sự hớng dẫn nhiệt tình, chu đáo của thầy Ngô Thái Lễ

Em xin gửi tới các thầy cô lời cảm ơn chân thành, kính chúc các thầy cô sức khoẻ, hạnh phúc và luôn thành

đạt trong công việc.

Mặc dù đã cố gắng vận dụng những kiến thức đã học, các tài liệu tham khảo nhng luận văn khó tránh khỏi những sai sót, hạn chế nhất định Em mong các thầy cô, bạn bè đóng góp ý kiến để bản luận văn đ ợc hoàn thiện hơn.

Vinh, ngày 12/5/2005

Sinh viên Dơng Thị Thu Hơng

Trang 2

Mục lục

Trang

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

IV Phạm vi và đối tợng nghiên cứu. 7

Trang 3

a Mở đầu

I Lí do chọn đề tài

1 Trong toàn bộ tiến trình của nền văn học Việt Nam nói chung và của nền thơ nói riêng, không phải chỉ đến sau năm 1975 mới có “ sự thức tỉnh của nhu cầu xã hội và cái tôi cá nhân” mà trớc đó rất lâu, cái tôi cá nhân của con ngời đã trỗi dậy, thể hiện những khát vọng, ớc muốn của bản thân Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng cái tôi cá nhân trong các giai đoạn trớc đó, cụ thể là ở thời trung đại cha thực sự bộc lộ đợc cái “ bản ngã ” của con ngời Chúng ta đã từng thấy có sự xuất hiện của một Hồ Xuân Hơng mạnh mẽ, táo bạo; một Tú Xơng ngạo nghễ; một Nguyễn Công Trứ đầy khí phách Mặc dù trong thơ của họ, cái tôi cá nhân

đã đợc thể hiện nhng nó vẫn nằm trong một khuôn khổ nhất định, cha vợt ra khỏi những quy định khắt khe của lễ giáo phong kiến Hay nói cách khác, nó mới chỉ là những hiện tợng đơn lẻ chứ cha trở thành phổ biến

Đến thời kỳ văn học lãng mạn 1932 - 1945, có thể nói, cha bao giờ cái tôi cá nhân lại đợc đẩy đến đỉnh điểm nh bây giờ Xuân Diệu đã từng khẳng định: “

Ta là một, là riêng, là thứ nhất ” Nhng có điều, cái tôi cá nhân trong thơ ca lãng mạn 1932 - 1945 là cái tôi của sự cô đơn, sự bế tắc, không có lối thoát và các nhà thơ cố gắng tìm cho mình một hớng thoát li

Trong 30 năm chiến tranh (1945 - 1975), thơ ca Việt Nam phát triển theo một hớng mới Do đòi hỏi của cách mạng, thơ ca giai đoạn này trở thành thứ vũ khí sắc bén để cổ vũ kháng chiến, tuyên truyền chính trị, chính vì vậy, ta thấy rằng có một hệ quả tất yếu xảy ra đó là, cái tôi cá nhân nhờng chỗ cho cái ta chung của cộng đồng Những sự kiện trọng đại của đất nớc trong thời kỳ “nớc sôi lửa bỏng” đợc thể hiện một cách đầy đủ Lúc này, cái tôi hoà vào cái ta chung, vào trong cộng đồng, tập thể, trở thành cái tôi sử thi Nhu cầu phục vụ kháng chiến, tuyên truyền chính trị trở thành nhu cầu chung của thời đại Đặt trong hoàn cảnh này, cảm hứng chủ đạo của thơ ca giai đoạn này chính là cảm

Trang 4

tổ quốc Lúc này, cái tôi cá nhân không có cơ hội đợc thể hiện Nhng nếu đợc thể hiện thì cái tôi đó phải đợc đặt trong mối quan hệ với cái chung, với cộng

đồng, tập thể Lúc đó nó mới phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của văn học giai

đoạn này và đợc chấp nhận

Vậy thì, sau năm 1975, khi đất nớc đợc giải phóng, hoà bình lập lại, những nhu cầu xã hội với cái tôi cá nhân trong thơ ca lúc này sẽ nh thế nào? Khi đất nớc đợc giải phóng cũng chính là lúc văn học nói chung và thơ ca nói riêng hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình (vũ khí đấu tranh cách mạng) và nó trở về phản ánh những khía cạnh khác nhau của cuộc sống hàng ngày Trong thơ, những nhu cầu xã hội và cái tôi cá nhân đợc đánh thức, nó trỗi dậy ở nhiều ph-

ơng diện khác nhau

Nghiên cứu đề tài “ sự thức tỉnh của nhu cầu xã hội và cái tôi cá nhân trong thơ Việt Nam sau năm 1975” chính là để thấy đợc sự khác nhau giữa thơ ca sau

1975 so với thơ ca trong các giai đoạn trớc đó Đồng thời để thấy đợc những

ph-ơng diện thể hiện của nhu cầu xã hội và cái tôi cá nhân trong thơ sau 1975

2 Có ý kiến cho rằng, thơ ca giai đoạn sau năm 1975 không phát triển Thực ra, sau năm 1975, thơ ca không những không phát triển mà nó còn hớng vào việc phản ánh đời sống một cách toàn diện hơn, phong phú hơn Tìm hiểu thơ ca giai

đoạn này, chúng ta sẽ thấy đợc sự đa dạng nhiều mặt của hệ thống đề tài, chủ đề cũng nh hình thức thể hiện

Thơ ca giai đoạn này đi sâu vào khám phá những ngóc ngách, những khía cạnh đầy phức tạp của con ngời và cuộc sống Do vậy, cảm hứng lúc này không chỉ là cảm hứng ngợi ca nh giai đoạn trớc đó mà là sự phối hợp, đan xen giữa nhiều nguồn cảm hứng: ngợi ca, phê phán, tố cáo, đả kích, với sự đa dạng của nhiều giọng điệu, cảm xúc Nếu nh những vấn đề về đời t, thế sự trớc đây không

có cơ hội để thể hiện thì bây giờ nó lại đợc thể hiện một cách mạnh mẽ, toàn diện nhất Đó chính là sự thể hiện cái tôi cá nhân trong thời kỳ đổi mới cùng với

Trang 5

thấy đợc bớc phát triển mới, bộ mặt mới của cả nền văn học nói chung và thơ ca nói riêng sau ngày đất nớc đợc thống nhất.

3 Nói đến sự phát triển của nền văn học nói chung, chúng ta phải tính đến cả sự phát triển của văn xuôi, thơ ca, kịch Sự phát triển của từng bộ phận góp phần tạo nên bớc phát triển mới của toàn bộ nền văn học ở đề tài này chúng tôi khai thác trong lĩnh vực thơ ca Điều này giúp chúng ta có cái nhìn bao quát hơn, khái quát hơn, toàn diện hơn về sự phát triển của văn học nớc nhà

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Sự phát triển của nền văn học Việt Nam sau năm 1975 nói chung và thơ

ca nói riêng với nhiều khía cạnh, góc độ đã đa đến nhiều ý kiến đánh giá, phê bình khác nhau Về “ sự thức tỉnh của nhu cầu xã hội và cái tôi cá nhân trong thơ Việt Nam sau năm 1975” cũng đã có một số công trình đề cập đến ở nhiều phơng diện về nội dung cũng nh nghệ thuật biểu hiện

Có thể nói, về đề tài này thì có không nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến

1 Năm 1994, có công trình nghiên cứu của Lê Lu Oanh, đó là luận án phó tiến

sĩ với đề tài “Cái tôi trữ tình trong thơ” qua một số hiện tợng thơ trữ tình Việt Nam giai đoạn 1975 - 1990 Theo Lê Lu Oanh, bản chất của thơ trữ tình đó chính là sự ý thức về cái tôi, về giá trị bản thân và về quyền sống, quyền làm ngời Tác giả đặt ra câu hỏi: “con ngời trữ tình hiện nay đang trăn trở, kiếm tìm

và khát vọng điều gì? Họ suy nghĩ, phủ nhận và khẳng định điều gì?” Và theo tác giả thì thơ hiện nay muốn hoà nhập vào hơi thở của thời đại thì phải có giải

đáp đợc hai câu hỏi ấy

Theo Lê Lu Oanh, “ nhu cầu xã hội cao cả nhất của giai đoạn 1945 -

1975 là nhu cầu độc lập, tự do Khát vọng bức thiết nhất, đau đớn nhất của con ngời giai đoạn 1980 - 1991 là khát vọng dân chủ Chính vì vậy mà những vấn đề của cuộc sống, cả mặt tốt, mặt xấu; tích cực và tiêu cực đều đợc khám phá một cách đầy đủ, toàn diện Các nhà thơ có cái nhìn chân thật hơn, tỉnh táo hơn; một

Trang 6

với hiện thực cuộc sống đầy phức tạp sau chiến tranh Trong sự biến động đầy phức tạp của cuộc sống thời hậu chiến, “cái tôi trữ tình nhận thấy mình mất chỗ

đứng và niềm tin” Với tác giả thì “trách nhiệm công dân của cái tôi trữ tình hiện nay từ những cảm hứng về thời thế, con ngời, lịch sử vẫn nhằm tìm kiếm một đạo đức xã hội mang tính thời sự, một nghĩa vụ đối với nhân dân, một chỗ

đứng của ngời nghệ sỹ, thể hiện khát vọng về một xã hội yên bình và hạnh phúc” [8, 84]

Trong công trình này, Lê lu Oanh đã đề cập đến sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân ở các khía cạnh nh: tình yêu, đó là một tình yêu phức tạp và trần tục với nhiều cung bậc nh “mất mát, tan vỡ, hoà hợp, hờn giận, nỗi đau đớn về tinh thần, sự trống rỗng vô vọng, niềm khắc khoải, chênh vênh, day dứt, dự cảm, nồng nàn ” [8, 84]

Sự thức tỉnh của cá nhân còn thể hiện ở sự khẳng định cá tính, khẳng định chính bản thân mình “Đó là nhu cầu ý thức về mình, xác định chỗ đứng của mình trớc thế giới và trong các mối quan hệ xã hôi, cá nhân” [8, 86]

Con ngời đợc đặt trong mọi mối quan hệ phức tạp, mọi khía cạnh đều đợc khám phá Do vậy, thế giới nội tâm của con ngời đợc chú ý thể hiện nh là một đòi hỏi bắt buộc của thơ ca trong thời đại mới Tác giả đã có sự so sánh giữa thơ ca sau năm 1975 với giai đoạn trớc đó để tìm ra sự độc đáo riêng biệt của từng giai

đoạn Nhìn chung, với công trình này, Lê Lu Oanh đã đề cập khá đầy đủ những phơng diện về nội dung cũng nh hình thức biểu hiện của thơ trữ tình giai đoạn

1975 - 1990 Trong đó, sự thức tỉnh của nhu cầu xã hội và cái tôi cá nhân là một nội dung quan trọng Tuy nhiên, ở đây sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân cha đợc thể hiện một cách toàn diện, triệt để

2 Trong cuốn “50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám”, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 1996, có một số bài viết đề cập đến thơ sau năm

1975 Trong đó, Vũ Tuấn Anh có bài “ Đôi nét về qui luật vận động thơ Việt

Trang 7

thơ từ phong trào “Thơ mới” 1932 - 1945 Đối với thơ sau 1975, tác giả đã khẳng định sự phong phú, đa dạng với nhiều cảm xúc, nhiều giai điệu, cái tôi trữ tình giành lại vai trò chủ thể trữ tình với t cách một cá thể ở đây ông cũng khẳng định sự nhận thức về bản thân của các nhà thơ thể hiện ở khát vọng khẳng định mình: “Ngời đi tìm mặt”, “Mình anh trong một thế giới”, “Tôi đi tìm tôi”

Theo tác giả thì cảm xúc mang tính cá nhân mở ra từ Thơ mới có những nét “đồng điệu” và “hỗ trợ” cho cái tôi trữ tình hôm nay trong việc khám phá và biểu hiện những sắc thái tình cảm của con ngời Tuy nhiên, cái tôi trong thơ giai

đoạn sau này cũng có những nét khác biệt Tác giả Vũ Tuấn Anh cũng đề cập

đến sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân nhng nó còn chung chung, cha đi vào cụ thể: “ Sự thức tỉnh của nó không phải là để tách biệt thành một thế giới cô đơn

mà trớc hết là để khẳng định lại vị thế chủ thể của cá nhân trong xã hội: chủ thể sống, chủ thể sáng tạo” Về hình thức biểu hiện thì tác giả đề cập đến ngời nghệ

sỹ tìm cách thể hiện không chỉ bằng t tởng và cảm xúc mà còn bằng hệ thống ngôn từ, chữ và cả “bóng chữ” Do đó , nó góp phần tạo ra sự mới lạ so với thơ

- “Những ngời đi tới biển” (Thanh Thảo)

- “Đờng tới thành phố” (Hữu Thỉnh)

- “Mặt đờng khát vọng” (Nguyễn Khoa Điềm)

Trang 8

- “Sóng Côn Đảo” (Anh Ngọc)

- “ Tình ca ngời lính” (Nguyễn Trọng Tạo)

Dần dần cái tôi sử thi chuyển dần sang đời t, thế sự, đợc cảm nhận trên những cung bậc mới của đời thờng Do vậy, thơ ca giai đoạn này toả nhánh trên nhiều hớng của đề tài, chủ đề nhằm đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ của độc giả và khát vọng sáng tạo của các nhà thơ hiện nay Sự mở rộng của hệ thống đề tài, chủ đề đó là:

- “ Cảm hứng sự thật về hiện thực và con ngời”

- “ Đi tìm bản thân, trở về với cái tôi, khẳng định cá tính”

- “ Tình yêu trong thơ”

- “ Cảm nhận thời gian”

- “ Cái chết”

- “ Thế giới tâm linh”

Qua bài viết này, Bích Thu đã phần nào thể hiện đợc những nét mới của thơ

ca Việt Nam sau năm 1975 Đây chính là “bóng dáng” của nhu cầu mới của xã hội và sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân trong thơ trữ tình trong thời kỳ đổi mới

Nh vậy, chúng ta thấy rằng những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này còn cha nhiều Đặc biệt, ở một số bài viết còn chung chung, cha đi sâu vào nội dung cụ thể của vấn đề đặt ra

Chúng tôi nghiên cứu sự thức tỉnh của nhu cầu xã hội và cái tôi cá nhân trong thơ Việt Nam sau năm 1975 là để tiếp nối hớng nghiên cứu mà những ng-

ời đi trớc đã mở ra Cái mới ở đề tài này đó là đi sâu vào việc khám phá sự thức tỉnh của nhu cầu xã hội và đặc biệt là sự trổi dậy của ý thức cá nhân trong điều kiện hoàn cảnh mới Đồng thời để thấy đợc sự vận động , biến đổi của t duy thơ

từ trung đại cho đến thời hiện đại Nghiên cứu đề tài này cũng là để góp phần hiểu sâu hơn, rộng hơn bộ mặt mới của nền văn học nói chung và thơ ca nói riêng trong toàn bộ tiến trình của nền văn học nớc nhà

Trang 9

III Nhiệm vụ của đề tài

1 Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhiệm vụ đầu tiên mà chúng ta cần thực hiện đó là giúp ngời đọc thấy đợc bớc chuyển đổi của thơ trong thời kỳ đổi mới

2 Văn học phản ánh hiện thực cuộc sống, khi hiện thực cuộc sống thay đổi thì bắt buộc văn học cũng phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu của xã hội, nếu không

nó sẻ trở nên lạc hậu Chính vì vậy, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài này cũng là để thấy đợc sự vận động của thơ so với các giai đoạn trớc đó Đồng thời

có thể khái quát đợc bộ mặt của nền thơ Việt Nam trong tiến trình phát triển của toàn bộ nền văn học

3 Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các thao tác nh so sánh, phân tích, lý giải để làm nổi bật sự khác nhau giữa thơ sau 1975 với thơ các giai đoạn trớc mà cụ thể là thơ lãng mạn 1932 - 1945, thơ ca kháng chiến 1945

- 1975 Qua đó để thấy đợc xu thế mới của thơ trong thời kỳ mới của đất nớc

IV Phạm vi và đối tợng nghiên cứu

Tóm lại, trong khuôn khổ của công trình này chúng tôi giới hạn ở phạm

Trang 10

Nền văn học Việt Nam sau năm 1975 phát triển ở nhiều phơng diện Trong đó, thơ ca có xu thế vơn tới khám phá, thể hiện những khía cạnh mới mẻ của cuộc sống Từ năm 1975 trở lại nay, đã trải qua gần ba mơi năm, để bao quát đợc cả một nền thơ trong một thời gian dài là điều không đơn giản Bởi vì, trong thời gian này xuất hiện một đội ngũ nhà thơ trẻ bên cạnh các nhà thơ tr-ởng thành qua các cuộc kháng chiến Họ đã cho ra đời hàng nghìn tập thơ Chính vì vậy, trong giới hạn của một luận văn, ở đây chúng tôi sẽ tìm hiểu ở một số vấn đề nỗi bật của thơ sau 1975 ở khía cạnh nội dung cũng nh nghệ thuật biểu hiện Đó chính là “sự thức tỉnh của nhu cầu xã hội và cá nhân” và những phơng diện hình thức nghệ thuật thể hiện sự thức tỉnh đó.

Có thể nói, “sự thức tỉnh của nhu cầu xã hội và cái tôi cá nhân” là một vấn đề nổi bật của thơ giai đoạn này Để làm rõ nội dung này, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu ở một số nhà thơ tiêu biểu Trong đó có các nhà thơ trởng thành trong kháng chiến nh Chế Lan Viên, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh Đồng thời tìm hiểu các nhà thơ trẻ nh Nguyễn Quang Thiều, Lê Minh Quốc

Để có một cái nhìn toàn diện về toàn bộ nền thơ sau năm 1975 là công việc tơng đối khó, chúng tôi chỉ mong qua việc nghiên cứu đề tài này sẽ phần nào giúp ngời đọc có thể hình dung một cách sơ bộ nhất về thơ ca của văn học nớc nhà

V Phơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện đợc các nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm và đa vào sử dụng nhiều phơng pháp khác nhau Các phơng pháp này không phải đợc sử dụng một cách tách rời, độc lập với nhau mà có sự phối hợp, hỗ trợ giữa các phơng pháp để phát huy đợc mặt mạnh và hạn chế mặt yếu của mỗi phơng pháp Những phơng pháp mà chúng tôi đã sử dụng là:

1 Phơng pháp so sánh - đối chiếu

Giai đoạn thơ sau năm 1975 đợc đặt trong toàn bộ của tiến trình thơ hiện

Trang 11

giai đoạn trớc So sánh là phơng pháp giúp chúng tôi thấy đợc sự khác nhau về “ nhu cầu xã hội và cái tôi cá nhân giữa các giai đoạn Đồng thời, với phơng pháp này, chúng tôi so sánh giữa các nhà thơ với nhau, so sánh giữa các thời kỳ sáng tác của mỗi nhà thơ đễ thấy đợc sự chuyển biến trong t duy của họ.

2 Phơng pháp phân tích

Đây là phơng pháp chúng tôi sử dụng để đi vào phân tích sự biểu hiện của cái tôi cá nhân ở các phơng diện khác nhau Đây cũng là phơng pháp để lý giải sự chi phối, ảnh hởng của hoàn cảnh lịch sử đối với sự phát triển của nền văn học nói chung và thơ ca nói riêng trong từng thời kỳ lịch sử

Trang 12

b NộI DUNG

CHƯƠNG I

Sự THể HIệN CủA CáI TÔI Cá NHÂN TRONG VĂN HọC TRƯớc

năm 1975

1 Khái niệm về cái tôi cá nhân

Cái “tôi” là một trong những khái niệm triết học cổ nhất, đánh dấu ý thức đầu tiên của con ngời về bản thể tồn tại, để nhận ra mình là một con ngời khác với tự nhiên và khác với ngời khác

Những ngời sáng lập ra chủ nghĩa Mác chỉ ra rằng: cá nhân chỉ xuất hiện trong một giai đoạn nhất định, khi mỗi thành viên của mỗi tập thể bắt đầu tách ra khỏi chỉnh thể theo một ý nghĩa nhất định Có nghĩa là bắt đầu đối lập với tập thể ấy Đây có thể coi là sự thức tỉnh đầu tiên về cá thể Số phận của cá nhân gắn với quá trình biến đổi của xã hội Có một thời kỳ dài, xã hội đã làm

“teo” đi, làm “ốm yếu” những phẩm chất cá nhân của con ngời Đó là thời kỳ con ngời bị thần quyền ngự trị, chi phối Sự nhận thức phi lý về cái “tôi” là một bớc ngoặt của nhân loại về bản thể tồn tại của cá nhân

Đối với các tôn giáo thì cái "tôi" cá nhân nhìn chung không đợc bàn

đến, nếu có nói đến thì cũng chỉ hoà tan vào những quan niệm siêu hình Cơ đốc giáo quy các giá trị cá nhân vào linh hồn, một sản phẩm siêu nghiệp và chỉ thừa nhận hình ảnh cá nhân khi nó đã tẩy rửa hết những gì là cá biệt để gần với hình

ảnh chúa Nho giáo cũng không dành chỗ đứng cho cái "tôi" cá nhân Cái "tôi" cá nhân hoà tan vào bản chất chung của con ngời tự nhiên, con ngời của chức năng, con ngời của cơng thờng

Triết học duy tâm (Kant) cũng quan tâm đến phơng diện cá nhân Theo

họ cái "tôi" này gồm hai phơng diện: Cái "tôi" với t cách là một chủ thể t duy, chủ thể nhận thức thế giới; cái "tôi" với t cách là khách thể của sự nhận thức

Trang 13

theo trờng phái này nhấn mạnh tuyệt đối vai trò của chủ thể, cho cái "tôi" là trung tâm của sự tồn tại, cái "tôi" quy định hiện thực khách quan.

Các nhà duy vật biện chứng cho rằng con ngời vừa là sản phẩm của tựnhiên là kết quả của sự tiến hoá sinh vật của loài mà thành; nó vừa là một sản phẩm của lịch sử xã hội Mác khẳng định: bản chất của con ngời không phải là cái gì vốn có trừu tợng của mỗi cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất của con ngời là tổng hoà các mối quan hệ xã hội Con ngời vừa mang bản chất riêng, vừa nằm trong mối quan hệ chung với xã hội

Trong thơ trữ tình, cái tôi cá nhân là một phơng diện biểu hiện của cái tôi trữ tình Về bản chất, thơ trữ tình biểu hiện khát vọng của con ngời nhằm

đối diện và khám phá những trải nghiệm tinh thần của con ngời trớc mọi hiện ợng xã hội và tự nhiên Cuộc trải nghiệm diễn tiến trong suốt lịch sử nhân loại

t-nh một hiện tợng tit-nh thần đặc thù của con ngời Đồng thời cũng lại là cuộc trải nghệm thông qua mỗi cá nhân và đợc thể hiện bằng tiếng nói cá thể của mỗi nhà thơ - chủ thể trữ tình Có thể nói, sự cá thể hoá cảm nghĩ, tính chất chủ quan hoá của sự thể hiện là đặc điểm bản chất của thơ trữ tình Hêghen đã từng chú ý nhấn mạnh: “ nguồn gốc và điểm tựa của nó (thơ trữ tình) là ở chủ thể, và chủ thể là ngời duy nhất, độc nhất mang nội dung” Biêlinxky cũng khẳng

định : “toàn bộ hiện thực đều có thể là nội dung của thơ trữ tình nhng với điều kiện là nó phải trở thành sở hữu máu thịt của chủ thể, là bộ phận cảm giác của chủ thể, gắn liền với sự hoàn chỉnh bản chất của chủ thể” Tác giả Viên Mai trong “ Tuỳ viên thi thoại” cho rằng: gốc của thơ trữ tình chính là sự thể hiện cá nhân

Cái tôi trữ tình là một cách thể hiện và cảm nhận thế giới của chủ thể,

lại vừa chính là một điểm nhìn nghệ thuật của chủ thể Đồng thời cái tôi trữ tình cũng đóng vai trò sáng tạo, tổ chức các phơng tiện nghệ thuật (thể thơ, hình t-

Trang 14

trữ tình.Chúng ta cần phân biệt rõ cái "tôi" nhà thơ với cái tôi trữ tình Cái tôi trữ tình trong thơ phong phú, đa dạng, phức tạp hơn cái "tôi" nhà thơ trong cuộc

đời rất nhiều lần Cái tôi trữ tình đó là bản chất, là số phận của thơ trữ tình, nó

là một thế giới đầy hấp dẫn, đầy bí ẩn Nếu chúng ta loại bỏ cái tôi trữ tình ra khỏi thơ trữ tình thì coi nh đó là hành động “thủ tiêu” thơ trữ tình

2 Sự thể hiện của cái tôi cá nhân trong thơ trớc 1975

2.1 Cái tôi cá nhân trong thơ ca trung đại

Cái tôi theo “Từ điển triết học” có nghĩa là cá nhân, cá thể, cái riêng lẻ của con ngời Cái "tôi" đó làm nên sự đa dạng, phong phú cho cuộc đời Thơ văn phản ánh hiện thực tâm trạng của con ngời Do đó, cái tôi lại đợc thể hiện muôn màu muôn vẻ trong văn học

Nền văn học trung đại Việt Nam với những quy định khắt khe trongvòng cơng toả của t tởng Nho giáo, cái tôi cá nhân trong thơ ca nói riêng

là cái tôi “phi ngã” Nó không đợc biểu hiện một cách tự do, phóng khoáng

mà chịu sự chi phối nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến Nó là cái tôi trữ tìnhvô danh khuôn mình trong các chuẩn mực của hệ thống thể loại phơng Đông Nói nh vậy không có nghĩa là cái tôi cá nhân trong văn học trung đại không đợc thể hiện Trong thời kỳ văn học này cái tôi cá nhân vẫn đợc đề cập nhng nó vẫn nằm trong một khuôn phép nhất định Đồng thời nó chỉ xuất hiện ở những hiện tợng đơn lẻ, chứ cha trở thành phổ biến Chúng ta nhận thấy sự xuất hiện của cái "tôi" cá nhân trong thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Tú Xơng, Con ng… ời cá nhân xuất hiện với nhu cầu hởng hạnh phúc lứa đôi, nhu cầu đợc thực hiện khát vọng yêu đơng của mình Thuý Kiều trong

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã thể hiện khát vọng đó của mình một cách mạnh mẽ:

“ Thời trân thức thức sẵn bàyGót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tờng”

Trang 15

“ Xăm xăm băng lối vờn khuya một mình”

Đây đợc xem là hành động phá vỡ bức tờng của lễ giáo phong kiến, thể hiện khát vọng đợc tự do yêu đơng Nguyễn Du đã thấu hiểu và diễn tả đợc khát vọng muôn đời của ngời phụ nữ Đến Hồ Xuân Hơng với hàng loạt bài thơ Nôm, bà đã khẳng định đợc vị trí, sự tồn tại của cá nhân mà không hề e ngại Trong thơ, “Bà chúa thơ nôm” tự xng mình, tự bộc lộ mình:

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôiNày của Xuân Hơng mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh nh lá bạc nh vôi”

( Mời trầu)

ý thức về giá trị của mình, bà đã nói hết nỗi lòng, đó là những trăn trở

về cuộc đời, về số phận của bản thân nói riêng và của ngời phụ nữ nói riêng

“Mời trầu” không chỉ là nhu cầu xã giao bình thờng, mà nó còn thể hiện khát vọng về tình yêu lứa đôi Trong thơ, Xuân Hơng luôn bộc lộ khát vọng yêu và

đợc yêu- biểu hiện của cái tôi công khai, tự khẳng định mình của nhà thơ Sự ý thức về cái tôi cá nhân trong thơ Hồ Xuân Hơng còn đợc biểu hiện ở khía cạnh khác Đó là con ngời cá nhân ý thức đợc mình là bậc đàn chị, có thể dạy bảo đ-

ợc cả “lũ ngẩn ngơ” :

“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

Lại đây cho chị dạy làm thơ

Ong non ngứa nọc châm hoa rữa

Dê cỏn buồn sừng húc giậu tha”

Trang 16

“Vị Xuyên có Tú Xơng

Dở dở lại ơng ơngCao lâu thờng chơi quỵtThổ đĩ lại chơi lờng”

trong sự đợi chờ Nàng Kiều mặc dù khi yêu thì mãnh liệt, hết mình nhng cuối cùng, nàng rơi vào nghịch cảnh, phải chấp nhận cái đạo lý Nho gia đã định sẵn

“làm con trớc phải đền ơn sinh thành” Đặc biệt với Hồ Xuân Hơng- con ngời ý thức sâu sắc về mình, về quyền sống của ngời phụ nữ, nhng rốt cuộc phải chấp nhận cuộc sống của một ngời vợ lẽ

2.2 Cái tôi cá nhân trong thơ ca từ đầu thế kỷ xx đến năm 1945

Giai đoạn đầu thế kỷ xx đến 1945 là giai đoạn mang tính chất giao thời

Đó là giai đoạn chuyển từ hình thái phong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến Xã hội không còn nguyên vẹn là xã hội phong kiến nghìn năm, xã hội ấy

có yếu tố t bản thâm nhập trên tất cả mọi phơng diện của đời sống Yếu tố t bản dần dần lấn át, chi phối yếu tố phong kiến Đây là thời kỳ hệ ý thức và t tởng xã hội phức tạp nhất trong lịch sử dân tộc Đặc biệt là có sự xuất hiện của t tởng cá nhân chủ nghĩa T tởng này thâm nhập vào Việt Nam bằng con đờng công khai, hợp pháp Nó đã truyền vào nớc ta một ý thức mới - ý thức về cá nhân Đây là một bớc chuyển biến lớn trong hệ t tởng của con ngời Việt Nam Trong môi tr-ờng của hoàn cảnh mới, ý thức cá nhân cũng đợc thể hiện trong văn học, nhất là

Trang 17

thế kỷ, cái tôi cá nhân xuất hiện với khát vọng “xê dịch” Đó là cái “ngông” của một con ngời luôn ớc ao đợc khẳng định mình trong cuộc đời Đã nhiều lần, tác giả tự xng mình trong thơ :

“Trời sinh ra bác Tản ĐàQuê hơng thời có cửa nhà thời khôngNửa đời Nam, Bắc, Tây, ĐôngBạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly”

Có thể nói, với Tản Đà, cái “tôi” ngoài cuộc đời lần đầu tiên đã đờng hoàng bớc vào văn học “không chút giấu giếm”, “nhà thơ lấy mình làm đề tài, viết tự truyện về đời mình” Với Tản Đà, đó là cái “ tôi” “chơi vơi, man mác, vô

định” (Tản Đà, tuyển tập, lời tựa của Xuân Diệu trong tuyển tập, Nxb Hà Nội,

1986 ) Con ngời cá nhân đã có nhu cầu tách khỏi xã hội cơng thờng nhng cha tìm đợc sức mạnh và vị trí của mình Trong dòng thơ của những nhà chí sỹ, tiêu biểu là Phan Bội Châu, ông xuất hiện với t cách một nhà nho mang cảm hứng duy tân, khát khao đổi mới Các bài thơ của ông luôn thể hiện lý tởng, khát vọng của cá nhân, mong muốn phủ nhận định mệnh vơn lên làm chủ cuộc đời Nhân vật trữ tình trong thơ ông có ý thức ghi dấu ấn của mình vào lịch sử, vào non sông Đó là ý thức của cái tôi vơn tới những chân trời mới, đồng thời còn có biểu hiện của cảm xúc dấn thân

Đến đầu những năm ba mơi trở đi, sự bùng nổ của Thơ mới và văn

xuôi Tự lực văn đoàn đã đánh dấu sự hình thành của quan niệm cá nhân trong văn học Nhà phê bình Hoài Thanh đã nhận định: “lần đầu tiên, chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó bỡ ngỡ, nó nh lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo một quan niệm cha từng thấy ở xứ này - quan niệm “cá nhân” [2,50] Cái tôi trong Thơ mới tràn đầy một cảm xúc tơi trẻ, chân thành nhng chủ yếu ở phơng diện sầu mộng, cô đơn Chính Hoài Thanh cũng đã từng đa ra lời nhận xét : cái tôi ấy “nó tội nghiệp quá!”, “cơ hồ mất hết cái cốt cách hiên ngang ngày trớc Đến chút tự trọng để khinh cảnh cơ hàn họ cũng không có nữa ” [2,

Trang 18

Các nhà thơ mới rơi vào tình trạng bế tắc, cô đơn, lạc lõng Họ cha tìm thấy đợc vị trí của mình trong xã hội Hoài Thanh từng nói: thời đại của Thơ mới là thời đại của chữ tôi, chúng ta chỉ “quanh quẩn trong vòng chữ tôi” Các nhà nghiên cứu khác cũng đa ra nhận xét của mình : “Cái tôi đợc nhắc đến với nhiều dáng vẻ” (Hà Minh Đức ), “Thơ mới là thơ của cái tôi”(Lê Đình Kỵ) Trong Thơ mới, hầu nh không có nhà thơ nào là không có thơ giải bày cái tôi cô

đơn của mình Cái tôi đợc đặt ở vị trí trung tâm của sự cảm nhận và đợc cấu tạo bởi dạng thức:

- “Tôi là khách bộ hành phiêu lãng”

- “Tôi là con chim đến từ núi lạ”

- “Tôi là con chim bị chiều đánh lới”

- “Tôi là một khách tình si”

- “Tôi là kẻ lạc loài”

- “Tôi là chiếc thuyền say”

Cái tôi của phong trào Thơ mới xuất hiện với đủ giọng điệu, trong đó, não nề, buồn chán là giọng điệu chủ đạo nhất Đó là sự hụt hẫng vì không tìm thấy chỗ đứng của bản thân: “Thiên hạ đoàn viên, riêng mình thui thủi” (“Con ngời vơ vẩn”- Thế Lữ ), là cảm giác bị bỏ rơi, không chỗ nơng dựa, không tìm

thấy sự hoà hợp với đời:

“Cảnh mênh mang riêng có bóng hình tôi

Đang thơ thẩn với nỗi lòng bát ngát

Nh một kẻ bộ hành ngơ ngácLạc vào nơi đồng đất hoang vu”

( Thế Lữ )

Với Xuân Diệu, đó là nỗi buồn của một cái tôi luôn luôn khát khao giao cảm với đời, luôn luôn bộc lộ niềm yêu mến thiết tha đối với thiên đờng ở giữa cuộc đời Chính vì ý thức đợc giá trị của cuộc sống - tình yêu, mùa xuân và

Trang 19

đời sẽ mất hết ý nghĩa nếu những phần tơi ngon của cuộc sống không tồn tại vĩnh viễn Đó là lý do giải thích tại sao trong lúc tận hởng những giây phút hạnh phúc, nhà thơ cuả chúng ta dờng nh có cảm giác mất mát điều gì quý giá, để lại trong lòng thi nhân sự cô đơn:

“Tôi chỉ là cây kim bé nhỏ

mà vạn vật là muôn đá nam châm”

(Cảm xúc )

Và ông đã xây dựng cho mình một thế giới riêng:

“Ta là một, là riêng, là thứ nhấtKhông có chi bè bạn nỗi cùng ta”

Nhà thơ Huy Cận - nhà thơ của nỗi sầu vạn thuở cũng luôn mang nặng cảm giác của sự cô đơn và khát vọng đợc giải toả:

“Không gian ơi xin hẹp bớt mênh mông

ảo não quá trời một chiều tiễn biệt

Và ngời nữa, tiếng gió buồn thê thiếtXin lặng giùm cho nhẹ bớt cô đơn”

Các nhà thơ mới có nhiều cách để giải thoát khỏi bế tắc, đau khổ, Chế Lan Viên viện đến một tinh cầu:

“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnhMột vì sao trơ trọi cuối trời xa

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránhNhững u phiền,đau khổ, với buồn lo”

Có nhà nghiên cứu đã có những nhận xét thú vị về con đờng thoát ly của Chế Lan Viên: “Chế Lan Viên “ghét” mùa xuân, vì mùa xuân rạo rực tơng phản với tâm hồn nhà thơ vốn rụng đầy những lá vàng Anh mong mùa thu đến để đợc tắm tâm hồn mình trong nỗi buồn da diết của mùa thu, “mùa thu rớm máu rơi từng chút, trong lá bàng thu đỏ ngập trời” Thơ Chế Lan Viên thể hiện rõ sự

Trang 20

nhà thơ chỉ còn biết khát khao tìm thấy nơi lẩn tránh giữa “ một tinh cầu giá lạnh, một vì sao trơ trọi cuối trời xa”” [10, 74 ]

Còn Huy Cận lại nơng nhờ vào thợng đế:

“Hỡi thợng đế, tôi cúi đầu trả lạiLinh hồn tôi một kiếp đã đi hoangSầu đã chín xin ngời thôi hãy háiNhận tôi đi dù địa ngục thiên đàng”

Trong phong trào Thơ mới, sự xuất hiện của cái tôi cá nhân chính là sự thể hiện của việc thức tỉnh ý thức cá nhân so với giai đoạn trớc đó Cái tôi lãng mạn mang đậm màu sắc cô đơn, bế tắc và mang khát vọng thoát ly Các nhà thơ mới dờng nh không đủ can đảm và đức tin để dấn thân vào con đờng cách mạng Họ chỉ biết tỏ thái độ bất hoà với thực tại bằng cách lẩn trốn vào cái tôi cá nhân và làm ngơ trớc những biến động của lịch sử Chính vì lẽ đó mà nhiều ngời đánh giá Thơ mới là tiêu cực Sau này, trong hoàn cảnh mới, giới phê bình

đã có cái nhìn khách quan hơn với Thơ mới: cái buồn, cô đơn xuất hiện trong Thơ mới là để phủ nhận cuộc sống xã hội đơng thời, thể hiện sự bất hợp tác với chế độ thực dân bằng cách lẩn trốn vào cái tôi của chính mình để cuối cùng rơi vào sự lạc lõng, cô đơn trong triền miên

Dới sự ảnh hởng của văn hoá - văn học phơng Tây, nhu cầu giải

phóng cánhân, cá tính trỗi dậy một cách mạnh mẽ Con ngời có khát vọng bộc

lộ mình, đợc thể hiện mình một cách cao độ Đồng thời, cũng dới tác động của hoàn cảnh lịch sử mà con ngời rơi vào cảm giác của sự cô đơn, mất mát và hụt hẫng Đánh giá về Thơ mới, Trần Đình Sử đa ra nhận xét: Thời đại Thơ mới là

“thời đại mà mỗi con ngời tự cảm thấy mình là những cá nhân cô đơn, lạc lõng, bơ vơ , đó là những con ngời cảm thấy rõ nhất cái cá nhân; là lúc con ngời tự khám phá cá nhân mình, thổ lộ mình để mong tìm sự đồng cảm ở ngời khác, cá nhân khác” Chúng ta cũng phải thấy rằng, đây cũng là thời kỳ có sự xuất hiện

Trang 21

một cái tôi mới, cái tôi cộng đồng, cái tôi công dân Tuy nhiên, cái tôi mới này

sẽ đợc thể hiện rõ nét trong thơ ca sau cách mạng tháng Tám

2.3 Cái tôi cá nhân trong thơ kháng chiến 1945-1975

Giai đoạn 1945-1975 là giai đoạn đất nớc ta trải qua nhiều biến

động lịch sử Đây là ba mơi năm đất nớc bớc vào cuộc đấu tranh chống đế quốc, thực dân Văn học là bức tranh phản ánh cuộc sống, chính vì vậy, trong hoàn cảnh mới, những nhu cầu mới lại xuất hiện phù hợp với đòi hỏi của cuộc kháng chiến Với thời đại đất nớc mắc nạn ngoại xâm, nhân dân bị nô dịch thì cái tôi cá nhân, đặc biệt là cái tôi cô đơn, bế tắc trong văn học lãng mạn không còn thích hợp, không còn lí do để tồn tại Thơ mới cách mạng đã bắt đầu với “Từ ấy” của Tố Hữu Trên hành trình thơ mới đơng thời, Tố Hữu đã mang lại cho thơ một cái tôi cá nhân đầy nhiệt huyết, cảm tình, đem cái tôi cá nhân gắn với cái ta đoàn thể, quần chúng, tạo ra những vần thơ bay bổng và đầy sức mạnh Thơ ca cách mạng từ sau năm 1945 là một cuộc đổi thay lớn, nó khác với Thơ mới về ý thức hệ và về thi pháp Nó đã vợt qua đợc cái tôi cá nhân, cá thể để tìm

đến với kiểu nhân vật trữ tình mới mang tinh thần quần chúng, tập thể và thời

đại, đậm đà sắc thái dân tộc Trong hoàn cảnh đất nớc có chiến tranh, mọi ngời dân Việt Nam luôn có khát vọng độc lập, tự do Có thể nói, cha bao giờ nhu cầu

đợc giải phóng, chiến đấu lại đợc đẩy lên cao độ nh lúc này Vận mệnh của tổ quốc đợc quan tâm hết thảy Ngời dân hăng hái ra trận, coi ngày ra trận vui nh ngày hội:

“Những buổi vui sao cả nớc lên đờngXao xuyến bờ tre, từng hồi trống giụcXóm dới làng trên con trai con gáiXôi nắm cơm đùm, ríu rít theo nhauSúng nhỏ súng to, chiến trờng chật chộiTiếng cời hăm hở, đầy sông đầy cầu”

Trang 22

Văn học giai đoạn này xây dựng những con ngời hi sinh vì lợi ích của cộng đồng, vì lợi ích chung quên lợi ích riêng Chính vì vậy, quan niệm của các văn nghệ sỹ không thích những con ngời có bi kịch cá nhân, những ngời số phận éo le, phức tạp, những tâm trạng day dứt Những cái đó đợc coi là những căn bệnh tiểu t sản, thị hiếu cũ Con ngời mới phải là con ngời lạc quan vui tơi, dứt khoát, trong sáng, khoẻ khoắn, giản dị Con ngời trong văn học giai đoạn này đại diện cho lý tởng, lơng tâm và khí phách của thời đại Chính vì vậy, chúng ta thấy có sự xuất hiện của con ngời quần chúng Những cụm từ nh là:

“chúng tôi”, “Lũ chúng ta”, “đằng này”, “đằng nớ”, Xuất hiện nhiều:

“ Chúng ta đoàn quân áo vải”

Tháng năm bạn cùng thôn xóm”

(Chính Hữu)

Với cách gọi ấy, chúng ta cảm thấy sự gần gũi ấm cúng, trìu mến của những con ngời giống nhau về cảnh ngộ, cuộc đời, làng quê, giai cấp, lý tởng, thậm chí cả trang phục

Trong hoàn cảnh này, cái riêng của cá nhân không đợc đề cập đến Tình cảm yêu nớc là nội dung thời đại lớn nhất, liên kết cá nhân trong mọi cộng đồng nhằm bảo vệ độc lập, tự do Mọi ngời xác định t thế công dân của mình trong một đoàn thể, một tập thể, gánh vác công việc kháng chiến Cái tôi cá nhân cha

có điều kiện hình thành rõ rệt trong đời sống văn hoá Việt Nam, càng trở nên

Trang 23

giặc cứu nớc Đời sống riêng của cá nhân không có nghĩa gì trong đời sống bao

la của đoàn thể Tuy nhiên, cái riêng nhiều khi cũng đợc đề cập đến, nhng cái riêng đó phải đợc đặt trong mối quan hệ với cộng đồng, tập thể

Về tình cảm lứa đôi, Tố Hữu từng viết:

“Chào xuân đẹp! Có gì vui đấyHỡi em yêu? mà má em đỏ vậy!

Nh buổi đầu hò hẹn, say mêAnh nắm tay em, sôi nổi, vụng về

Mà nói vậy: “Trái tim anh đóRất chân thật chia ba phần tơi đỏAnh dành riêng cho Đảng phần nhiềuPhần cho thơ, và phần để em yêu ”…

Em xấu hổ: “Thế cũng nhiều anh nhỉ!”

Rồi hai đứa hôn nhau, hai ngời đồng chí”

(Bài ca mùa xuân năm 1961)

Đó là tình yêu của lí tởng cao đẹp Nó đợc đặt trong khát vọng chung của mọi ngời - khát vọng chiến đấu và giải phóng Tình yêu - một thứ tình cảm thiêng liêng nhất, đợc nhìn nhận theo chiều hớng hoà hợp với cái ta chung, theo

hệ quy chiếu nhiệm vụ chung của cả cộng đồng Nhà thơ Tế Hanh khi viết về tình yêu lứa đôi rất riêng t, thầm kín: “ mà vẫn cảm thấy hai đứa mình nh đôi hạt giữa nghìn đôi của trái đời vũ trụ”[ 10, 260 ]:

“Bát ngát lòng anh giữa trái đờiHai ta đôi hạt giữa nghìn đôi”

( “Anh viết bài thơ” )

Các nhà thơ trong lúc nói về nỗi đau của sự thiếu vắng ngời yêu cũng không bao giờ quên đặt nó trong nỗi đau chung của cả đất nớc:

“Ta không phải ngời đi kiếm khổ đau

Trang 24

Nh đất nớc lòng ta cha thống nhất

Em ở đâu rồi, em ở đâu ?”

(“Em ở đâu”- Tế Hanh )

Thơ ca Việt Nam hiện đại không từ chối; không loại trừ thơ ca viết

về

tình yêu, về phụ nữ , về gia đình vì tất cả những thứ đó đều thuộc về chủ nghĩa nhân đạo Đó là biểu hiện của cái tôi đời t, thế sự; cái tôi ca ngợi cuộc sống Tuy nhiên, các văn nghệ sĩ phải giải quyết tất cả những thứ tình cảm thuộc về con ngời trên tinh thần cách mạng, gắn liền hanh phúc riêng trong hạnh phúc chung, gắn liền con ngời, xã hội và thời đại Chính vì vậy, “suốt một thời, ngời

ta không cho phép thơ đợc buồn, đợc cô đơn và đợc chết”[3,8] Điều này giải thích tại sao trong thời kì 1945 - 1975, những bài thơ mang âm điệu buồn bã, gợi đến cái chết lại bị cấm không cho lu hành

Ví dụ nh : “Màu tím hoa sim”của Hữu Loan, “Tây tiến” của Quang Dũng Trong bài “Màu tím hoa sim”, tác giả viết:

“Lấy chồng thời chiến chinhMấy ngời đi trở lại

Lỡ khi mình không về Thì thơng

Ngời vợ chờ

Bé bỏng chiều quê ”…

(“Màu tím hoa sim”)

Nói chung, những vần thơ đầy xót thơng không đợc đánh giá cao từ quan niệm thơ chính thống vì nó tạo nên một không khí ảm đạm, không phù hợp với thời đại sục sôi cách mạng của dân tộc Ngày nay, với cách nhìn thay đổi và cách đánh giá mới, “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan đã đợc “minh oan” Thơ

ca giai đoạn này xây dựng hình ảnh những con ngời mang tầm vóc của thời đại

Trang 25

dân tộc Cái “tôi”sử thi hớng về những giá trị cao đẹp, ca ngợi Tổ quốc, nhân dân, lịch sử, thời đại, Đảng, Bác Hồ; hớng vào kẻ thù dân tộc, vạch mặt, luận tội với một niềm căm phẫn cao độ, tìm đến những phút bình yên trong chiến tranh

để tạo thế cân bằng trong đời sống tinh thần; mang cảm hứng lãng mạn, luôn tin tởng vào tơng lai

Nh vậy, văn học trung đại thế kỷ XVIII - XIX, cái tôi cá nhân đã đợc thể hiện nhng lại nằm trong khuôn khổ của những quy tắc chặt chẽ của lễ giáo phong kiến Đến phong trào Thơ mới, dới tác động của hoàn cảnh chính trị, xã hội, nhu cầu giải phóng con ngời và cái tôi cá nhân bùng nổ Một đặc điểm nỗi bật của cái tôi cá nhân giai đoạn này đó là cái tôi cô đơn, bế tắc, tìm đờng thoát

ly Đến văn học giai đoạn 1945 -1975, ba mơi năm đất nớc có chiến tranh, cái tôi cá nhân nhờng chỗ cho con ngời sử thi, con ngời quần chúng Điều này phù hợp với đờng lối văn nghệ của Đảng lúc bấy giờ, đó là văn nghệ phục vụ kháng chiến tuyên truyền cách mạng:

“ Văn học nghệ thuật là một mặt trận, anh chị em là chiến sỹ trên mặt trận ấy” (Hồ Chí Minh)

“Tôi muốn ngời ta đặt ngang ngòi bút với lỡi lê” (Mai a cốp x ky) [7, 93 ]

Đây chính là biểu hiện của tính chiến đấu của thơ ca trong thời đại cách mạng Mỗi nhà thơ đợc xem là một ngời chiến sỹ, đóng góp một phần to lớn vào công cuộc đấu tranh, thống nhất nớc nhà Lúc này, “Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ” (Chế Lan Viên ), các nhà, nhà văn tự hào với danh hiệu nhà văn- chiến sỹ và luôn phấn đấu để xứng đáng với danh hiệu ấy

Trang 26

Chơng II

Nhìn chung về sự vận động của văn học sau 1975

1 Vài nét về hoàn cảnh lịch sử sau năm 1975

Tháng 4/1975, với cuộc tổng tiến công và nỗi dậy, đất nớc ta bớc vào thời kỳ hoà bình, độc lập, hai miền Nam - Bắc thu về một mối Dới sự lãnh

đạo của đảng, nhân dân ta đã quét sạch bọn đế quốc Mỹ và lũ tay sai ra khỏi biên giới lãnh thổ Đây là thời kỳ lịch sử mới của dân tộc, nó cũng không kém phần khó khăn và thử thách Đất nớc đứng trớc những hậu quả của chiến tranh

để lại Bao nhiêu vấn đề đặt ra hết sức cấp bách nhằm giải quyết, khắc phục những khó khăn trớc mắt

Bớc ra từ hai cuộc chiến đấu với hai đế quốc sừng sỏ Pháp và Mỹ, nhân dân Việt Nam đứng trớc muôn vàn những vấn đề nhức nhối Đây chính là thời kỳ, dân tộc ta tiến hành chơng trình khôi phục lại nền kinh tế, khắc phục hậu quả của chiến tranh trên mọi lĩnh vực để đa đất nớc tiến kịp với thời đại mới Đặc biệt là từ năm 1986, với đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, chúng

ta thực hiện công cuộc đổi mới với nhiều lĩnh vực khác nhau nh chính trị, kinh

tế, văn hoá, xã hội Đây cũng là lúc nền kinh tế thị trờng xuất hiện Do vậy, nó kéo theo những vấn đề hết sức phức tạp dới sự chi phối, ảnh hởng của kinh tế thị trờng Trong thời gian chiến tranh, mọi cái đều phải rõ ràng, con ngời luôn sống với lịch sử, họ sống chết với những mất còn của tổ quốc Có thể nói, vận mệnh của tổ quốc và dân tộc đợc đặt lên hàng đầu Mọi ngời đều dốc sức vì mục tiêu cao cả và thiêng liêng ấy Từ sau năm 1975, khi đất nớc hoàn toàn đợc giải phóng, nhân dân đợc tự do, mục tiêu độc lập dân tộc đã đạt đợc thì con ngời trở

về với những cái hằng ngày của chính mình Đó là vấn đề xảy ra xung quanh cuộc sống của con ngời, từ vấn đề nhỏ cho đến vấn đề lớn, từ cái đơn giản cho

đến cái phức tạp Tất cả đều trở thành mối quan tâm lớn của mỗi cá nhân

Vậy thì, trong hoàn cảnh mới, nền văn học của chúng ta vận động và

Trang 27

Văn học Việt Nam sau năm 1975 vẫn tiếp tục dòng văn học từ sau cách mạng tháng Tám nhng đây là giai đoạn mới Trong thời gian ba mơi năm của cuộc kháng chiến, trớc yêu cầu văn học phục vụ kháng chiến, tuyên truyền cách mạng cổ vũ nhân dân ta trong lao động và đánh giặc thì văn học phải khẳng định “ chủ nghĩa anh hùng cách mạng là tiêu chuẩn thông thờng trong cách nghĩ Ngời ta không thể suy nghĩ khác thế, không thể có những quyết định khác thế” (Nguyễn Khải) Đây là thời kỳ mà văn học phải “miêu tả cho hay,

cho chân thật, cho hùng hồn cuộc sống mới, con ngời mới”, phải nổ lực hớng tới đời sống khách quan, lấy công - nông - binh làm nhân vật trung tâm Sau năm 1975, do tình hình cách mạng có nhiều thay đổi, cách mạng xã hội chủ nghĩa ngày càng đi vào chiều sâu với những vấn đề phức tạp, nhiều chiều, nhiều phơng diện Con ngời đứng trớc nhiều vấn đề cần phải nhìn nhận, suy ngẫm đó

là về lý tởng, về đờng lối, về những mục tiêu cụ thể, về bản thân mình và gia

đình mình Trớc đây, văn học viết về chiến tranh, xây dựng nên cuộc kháng chiến anh hùng của dân tộc ta, thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng Sau

1975, các văn nghệ sỹ có điều kiện, thời gian nhìn lại tất cả những gì đã qua một cách nghiêm chỉnh Họ có cái nhìn trong sự phát triển đa diện và kiểm chứng của cuộc sống: “mô tả cuộc sống đang cựa quậy, ngổn ngang, trần trụi của chiến tranh, hiện thực nghiệt ngã của chiến tranh” (Tô Phơng Lan).

Bây giờ, họ có thể nói tất cả những gì mà trớc kia cha nên nói, cha

cần nói Những vấn đề của cuộc sống đều đợc văn học đề cập đến ở nhiều

Trang 28

quan tâm bên cạnh vận mệnh của dân tộc Xã hội Việt Nam thời hậu chiến có nhiều phức tạp, cuộc sống hành ngày với bao nhiêu khó khăn, với bao nhiêu nghịch lý của cuộc đời cần phải giải quyết “Chiến tranh ồn ào náo động mà lại

có cái yên tĩnh, giản dị của nó Hoà bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong (Nguyễn Khải) Đây không còn là

thời kỳ mà hầu nh tất cả các văn nghệ sỹ đều nhất loạt ca ngợi Bác Hồ, ca ngợi nhân dân, bộ đội, tôn vinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng “Không còn dàn

đồng ca thơ, không còn ngời lĩnh xớng, không cả ngời nhạc trởng, trên sân khấu thơ chúng ta chỉ thấy những bài đơn ca thảm thiết lúc đầu và những lời độc tấu nhạt nhẽo về sau” Thơ từ sau năm 1975 bớc sang một chặng đờng mới, có những đặc điểm khác biệt với thơ của giai đoạn trớc đó Thơ Việt Nam giai

đoạn 1975 là một nền thơ có tính tập trung cao, có xu hớng nhất thể hoá quan

điểm thẩm mỹ và cảm hứng trữ tình

Đặc điểm nổi bật của thơ từ sau năm 1975 là quá trình phân hoá, đa dạng hoá về thể loại Sự phân hoá này thể hiện tính đa dạng, phức tạp của đời sống tinh thần xã hội và có ý nghĩa nh một sự vận động tích cực của chủ thể sáng tạo để từng bớc định hình diện mạo cái tôi trữ tình của một giai đoạn văn học mới Thơ ca giai đoạn này chú ý đến cai riêng, những số phận, hạnh phúc riêng t của con ngời Nó dần dần trở về hớng nội, tăng cờng tính phê phán, đấu tranh với những thói h tật xấu, dám nhìn thẳng vào sự thật, những vấn đề phức tạp, rối ren của cuộc sống trong thời kỳ xã hội chịu sự chi phối của nền kinh tế thị trờng Nguyễn Bá Thành cho rằng đây “là một dấu hiệu của đổi mới t duy, là

sự cân bằng trở lại của một nền thơ sau hai cuộc kháng chiến lâu dài” [12, 222] Bàn về thơ sau 1975, chúng ta không thể không nhắc đến độ ngũ các nhà thơ

Đội ngũ làm nên dòng thơ bốn thế hệ trong sự chuyển giọng, bắt nhịp của thơ

ca giai đoạn mới Thế hệ đầu tiên là các nhà thơ tiền chiến, bớc sang giai đoạn này, họ vẫn tiếp tục sáng tác, tiêu biểu có các nhà thơ nh: Tố Hữu, Huy Cận,

Trang 29

sửng sốt cho độc giả, ở giai đoạn lịch sử nào ông cũng có những thành công nhất định, khẳng định đợc tài năng trong sức sáng tạo của bản thân Thế hệ thứ hai là các nhà thơ trởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp: Huy Thông, Quang Dũng, Hoàng Cầm Thế hệ thứ ba là các nhà thơ trởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: Bằng Việt, Võ Văn Trực, Xuân Quỳnh, Thanh Thảo, Thu Bồn Họ chính là những ngời vừa tiếp tục mạch thơ trớc những năm 1975 nhng đã có những suy nghĩ khác, làm nên sự đổi mới của thơ ca giai đoạn này Bên cạnh đó là sự xuất hiện của các nhà thơ trẻ nh: Nguyễn Quang Thiều, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Nhật ánh, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Lê Thị Kim Tuy nhiên, vẫn cha có ai vợt đợc các nhà thơ lớp trớc.

Với một đội ngũ nhà thơ đông đảo nh vậy, chỉ trong vòng cha đầy mời năm (1986 - 1995) chúng ta có khoảng 3000 tập thơ Thơ đợc in rất nhiều, “Thơ đang mở ra nhiều hớng, nhiều cách Nắm bắt thơ hiện nay nh nắm bắt một mục tiêu đang di động, đang bay lên trời: thơ cha định hình, đang phát triển” [12, 353] Nhà thơ Vũ Quần Phơng phát biểu: “Nếu chỉ căn cứ vào sợ xuất bản sách thì sẽ không nói hết tình hình thơ của chúng ta Đây chính là thời

kỳ thơ ca hớng về cái tôi nội cảm Nó không nhằm phản ánh hiện thực khách quan nh trớc đây mà đi sâu vào thế giới tình cảm đầy phong phú và phức tạp của cá nhân con ngời Đến giai đoạn mới của lịch sử, có thể nói, thơ ca cách mạng

đã đi hết chặng đờng đầu tiên của nó, hoàn thành sứ mệnh mà lịch sử đã giao phó Đó là chức năng vũ khí sắc bén để đánh giặc, tuyên truyền cách mạng Bớc sang những năm tám mơi của thế kỷ XX, thơ ca trở về với chính nó, trở về nơi

“chôn rau cắt rốn” trớc đây “Thơ ca trở về nơi nó đã sinh ra: trở về với cái

"tôi"” [12, 354]

Nói đến sự vận động của văn học sau 1975 chúng ta không thể không nhắc đến quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học nói chung và thơ ca nói riêng

Trang 30

trong văn học thực chất là sự cắt nghĩa và quan niệm về con ngời đợc thể hiện bằng hình tợng nghệ thuật trong các bình diện con ngời đợc miêu tả, trong tơng với không gian, thời gian và trong các nguyên tắc miêu tả tính cách, tâm lí ” Ngời ta gọi đó là quan niệm nghệ thuật về con ngời ở các nhà văn có tầm cỡ thì các quan niệm có sự khác nhau rõ rệt, nhng chung có sự gặp gỡ nhau ở trong từng thập kỷ văn học Đối tợng chủ yếu và trung tâm chú ý của văn học 1945 -

1975 là con ngời mới, con ngời anh hùng, con ngời chỉ có tính giai cấp và tính giai cấp qui định mọi phẩm chất khác Họ là những mẫu hình lý tởng của một thời kỳ vinh quang và oanh liệt Họ là những con ngời của sự nghiệp chung, họ xuất hiện nh là sự đại diện toàn vẹn cho vẻ đẹp của đất nớc cho lý tởng, lơng tâm và khí phách của thời đại Đó là những con ngời đẹp một cách hoàn thiện, hoàn mĩ nh những viên ngọc không có tỳ vết, luôn nén tình riêng vì sự ngiệp chung Chúng ta thấy ít có những nhân vật chính diện có sự dằn vặt, cô đơn, đau

đớn trong tính toán, trong sự mất mát, trong sự riêng t Đây là những con ngời:

Có thể nói con ngơi cá nhân cha trở thành đối tợng thẩm mỹ của văn học giai

đoạn 1945 -1975 Chính vì vậy, không gian đời t, đời thờng là không gian mà con ngời sử thi phải dứt khoát từ bỏ hoặc tạm thời quên đi Con ngời đời thờng hầu nh bị bỏ rơi trong văn học giai đoạn 1945 -1975 Văn học 1945 -1975 cũng cho ngời đọc biết đến hai tuyến nhân vật chính diện - phản diện Con ngời có sự phân biệt rạch ròi dứt khoát giữa cái cao cả và cái thấp hèn, cái thiện với cái ác, cái tiên tiến và cái lạc hậu

Ngợc lại, trong văn học sau 1975, con ngời đợc phản ánh là con

Trang 31

ng-hùng, thờng dân, những ngời dới đáy xã hội Văn học không có sự phân biệt, u

ái cho một đối tợng nào, mọi ngời đều bình đẳng trớc trang viết của nhà văn Con ngời trong văn học hiện nay đợc soi rọi từ nhiều hớng, nhiều chiều, nó vô cùng bí ẩn và phức tạp Nó có sự đan xen, chen lấn giữa các nét đẹp của thiên thần với sự xấu xa của quỷ dữ, giữa cái cao cả và cái tầm thờng Trong văn học

1945 -1975, Con ngời ít đợc thể hiện thế giới nội tâm Tâm hồn của họ chỉ đợc bộc lộ qua ngôn ngữ, chân dung và hành động Trái lại con ngời trong văn học sau này lại đợc khai thác khá kỹ về thế giới nội tâm, tâm hồn - một thế giới chứa đựng sự bí ẩn, phong phú và phức tạp Đúng nh Nguyễn Minh Châu đã từng nói, trong thời kỳ này diễn ra “một cuộc đối chứng giữa hai mặt nhân cách

và phản nhân cách, giữa cái hoàn thiện và cha hoàn thiện, giữa ánh sáng và những khoảng tối vẫn còn rơi rớt trong tâm hồn con ngời - miếng đất mầu mỡ gieo mầm tội ác”( Nguyễn Minh Châu, Bến quê, nhà xuất bản tác phẩm mới, 1975).

Những ngời làm thơ hôm nay dám đi sâu vào mọi đề tài, mọi lớp

ng-ời, mọi sự kiện, mọi góc cạnh của cuộc sống miễn sao có thể dựng lên bức chân dung về cuộc đời trong thời đại mới Chúng ta thấy rằng: dờng nh trớc đây mọi việc đều đơn giản, nhng trong cuộc sống hiện nay họ vừa phải sống, vừa phải suy nghĩ, ngẫm nghĩ về những vấn đề nhân tình thế thái Họ là những con ngời luôn nặng trĩu suy t, đầy sự chiêm nghiệm, trách móc, dò xét Chính trong hoàn cảnh này, nhà văn phải “có cái nhìn sắc sảo hơn đối với cuộc sống, biết nhìn ra những mâu thuẫn, biết phân tích các đối cực, các nghịch lý” (Chu Văn Sơn).

Nhà thơ Thanh Thảo đã từng đa ra lời phát biểu của mình: “ngời ta đã nhìn trời đất từ nhiều hớng và trái đất cha bao giờ đợc khám phá hết Ngời ta đã thăm giò con ngời bằng nhiều cách, mà con ngời vẫn là một bí ẩn” “ Nếu các thập kỷ trớc , ngời ta chủ yếu tái hiện, đánh giá con ngời theo các t tởng đạo đức của nó, thì ngày nay, văn học đã mở rộng t duy sang các bình diện của tồn tại

Trang 32

Nh vậy, con ngời trong văn học sau 1975 đợc nhìn nhận, soi rọi, khám phá từ nhiều chiều, nhiều phơng diện Các nhà thơ đi vào “mỗ xẻ”, suy t, nghiền ngẫm về con ngời Chính vì vậy mà con ngời trong văn học giai đoạn này đợc thể hiện một cách sâu sắc, toàn diện Cái tôi cá nhân trở thành vị trí trung tâm của sự cảm nhận.

Trang 33

Chơng III

Sự thức tỉnh của nhu cầu x hội vàãcái tôi cá nhân trong thơ sau năm 1975

1 Cái tôi tiếp tục âm hởng sử thi và đối thoại sử thi

Sau năm 1975, nền văn học nói chung và thơ ca nói riêng bớc vào đời sống dân chủ hoá Nền thơ Việt Nam với sự thức tỉnh của ý thức cá nhân đã đa tới sự phát triển sôi nổi, đa dạng và phong phú của hệ thống đề tài, thể loại, có nhiều tìm tòi về thủ pháp nghệ thuật Từ đó, chúng tôi thấy có sự đa dạng về phong cách, khu vờn văn học có nhiều màu sắc, hơng vị với các dáng vẻ khác nhau, thậm chí có nhiều hiện tợng kỳ dị, lạ lùng Cảm hứng ngợi ca giai đoạn này không còn là cảm hứng chủ đạo, duy nhất, tập trung mà nó đợc mở rông, đợc

“giải phóng” trên nhiều khía cạnh mới “Thơ đã có điều kiện tung hoành trên một biên độ thoáng rộng của sự sáng tạo” [5, 301] Thơ ca trong điều kiện mới của lịch sử đã mạnh dạn nói những điều mà trớc đây cha dám nói hoặc cha cần nói, cha nên nói Thơ phản ánh một cách thẳng thắn thành thật những vấn đề tr-

ớc đây cha đợc chú ý hoặc bị cấm Đây chính là hệ quả tất yếu của sự thức tỉnh của những nhu cầu xã hội và ý thức cá nhân

Chúng ta nhận thấy rằng, bên cạnh sự trỗi dậy, bừng tỉnh của cái tôi cá nhân cùng với những nhu cầu xã hội của nó thì những âm hởng của thơ giai

đoạn trớc đó vẫn còn tiếp tục vang vọng trong thơ hiện nay Từ năm 1975, đến

đầu những năm 1980 có thể nói đây là thời kỳ giao thời của văn học hai giai

đoạn Lịch sử đã sang một trang mới nhng văn học không sang trang đồng bộ với lịch sử Dòng văn học sử thi còn chảy theo quán tính một thời gian nữa, cho

đến đầu những năm 1980 Trong thơ, ngời đọc cảm nhận đợc niềm vui, lòng tự hào của các nhà thơ qua các bài thơ viết về chiến thắng của dân tộc Hầu nh nhà thơ nào cũng có vài ba bài thơ thể hiện niềm vui đất nớc thống nhất, quê hơng

đợc giải phóng Đặc biệt, đây là thời kỳ nở rộ của các trờng ca Các nhà thơ có

Trang 34

là các trờng ca nh:

- “Những ngời đi tới biển" (Thanh Thảo)

- “Đờng tới thành phố", “Sức bền của đất" (Hữu Thỉnh)

- “Sóng côn đảo” (Anh Ngọc )

- “S đoàn” (Nguyễn Đức Mậu)

- “Đất nớc hình tia chớp” (Trần Mạnh Hảo)

Những trờng ca này ra đời đã đem lại một “Khí sắc” mới cho đời sống thơ

ca vào cuối những năm 1970, đầu những năm 1980 các tác phẩm này tiếp tục nguồn cảm hứng ca ngợi đất nớc anh hùng, tôn vinh những con ngời dám xả thân vì vận mệnh, vì sự sống còn của tổ quốc Cái tôi sử thi gắn liền với không khí hào hùng của cuộc kháng chiến vẫn tiếp tục “vận động một cách bền bỉ” nhằm mục đích hớng tới một chất lợng mới, một đỉnh cao mới Các nhà thơ đã khắc hoạ chân dung tinh thần của một thế hệ cầm súng với ý thức công dân, ý thức trách nhiệm trớc dân tộc qua sự lựa chọn và cống hiến Các nhà thơ đã dựng lên hình tợng những con ngời anh hùng, gánh vác trách nhiệm lớn lao của lịch sử :

“ Chúng tôi, những thằng lính trẻLớn lên khắp trăm vùng gọi nhau là đồng đội

Đi chiến đấu ngã bụi nằm bờ đầu nguồn cuối bãi”

(“Những ngời đi tới biển” - Thanh Thảo)

Đây là những anh hùng mang vẻ đẹp của lý tởng cao cả, họ đến từ mọi miền

tổ quốc, cùng chung tiếng gọi “đồng chí”

Các nhà thơ giai đoạn này trớc hết ca ngợi các thế hệ cầm súng đánh giặc Đây chính là một sự tiếp nối một cách tự nhiên, theo “quán tính” :

“ Cả thế hệ xoay trần đánh giặcMặc quần đùi khiêng pháo lội qua bng”

(Thanh Thảo)

Trang 35

mến, họ là những chàng trai ở độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời:

“Lứa cầm súng suốt một thời trai trẻ”

(Nguyễn Duy)

Chân dung của thế hệ đánh giặc đã đợc khắc hoạ mang tầm vóc lớn của lịch sử, của thời đại:

“Thế hệ chúng con đi nh gió thổi

áo quân phục xanh đồng sát với da trời Thế hệ chúng con ồn ào, dày dặn Sống thì đi mà chết thì nằm”

(Trần Mạnh Hảo)

Đó là một thế hệ anh hùng, sẵn sàng hi sinh, với t thế đẹp đẽ , mạnh

mẽ nh ngọn gió có thể cuốn phăng hết mọi trở ngại trên hành trình của cuộc chiến đấu Những con ngời trẻ tuổi “ Xoay trần đánh giặc” cống hiến sức trẻ của mình vào sự nghiệp cách mạng thiêng liêng và cao cả:

“ Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình(những tuổi hai mơi làm sao không tiếc)Nhng ai cũng tiếc tuổi hai mơi thì còn chi tổ quốc”

(“Những ngời đi tới biển” - Thanh Thảo)

Đứng trớc những yêu cầu cấp bách, bức thiết của cuộc kháng chiến, họ không

hề do dự mà dứt khoát hành động, thể hiện tình yêu của mình với đất nớc:

“ Anh ôm súng bò lên với trái tim tình nguyện”

(“Những ngời đi tới biển” - Thanh Thảo).

Trang 36

của tổ quốc Trong mắt họ không có sự toán tính vụ lợi mà đó là những “trái tim tình nguyện” xông lên, là những trái tim mãi miết hành động, là:

“ Những bàn chân im lặng bớc tuần traNhững ngọn sóng tinh tờng xuyên bóng tối

Tổ quốc đây và nhân dân ở đấy

Đôi mắt tôi nhìn mang lửa cháy nghìn xa”

đấu:

“ Ta sẵn sàng xé trái tim taCho Tổ Quốc và cho tất cả

Lá cờ này là máu là daCủa ta, của con ngời, vô giá”

Trang 37

thấy niềm vui chung của cả cộng đồng:

“ Những buổi vui sao cả nớc lên đờngXao xuyến bờ tre từng hồi trống giục”

sự lý giải, phân tích để tìm ra chỗ đứng của chính bản thân mình ở đây, con ngời không chỉ có duy nhất thái độ dứt khoát, quyết liệt mà còn có sự do dự, e ngại khi vào trận chiến Đây chính là biểu hiện của sự nhạt dần của chất sử thi Sau một quãng lùi lịch sử, chất sử thi nhạt dần, bớt đi khí vị anh hùng cao cả

đầy màu sức lãng mạn Và vì thế mà nó trở nên thâm trầm, sâu lắng hơn Bên cạnh cái cao cả, anh hùng là những phẩm chất cơ bản của cái tôi sử thi thì còn

có sự dằn vặt, trăn trở của con ngời bình thờng trớc cái sống và cái chết, và trớc cái đợc và cái mất Nếu nh nhân vật sử thi đợc soi chiếu trên bình diện con ngời anh hùng, nghĩa vụ thì nhân vật trữ tình trong thơ sau năm 1975 đợc nhận từ nhiều bình diện Trớc hết , họ tự xác định mình là một con ngời bình thờng vô danh :

“Tôi vô danh nói với ngời vô danh”

(Anh Ngọc)

Hay là:

“Ngời vô danh hoa cỏ cũng vô danh”

Trang 38

Con ngời sử thi luôn có sự giằng xé, nghĩ ngợi, suy t Tâm hồn của họ không bình lặng mà dờng nh luôn nổi lên những cơn sóng suy nghĩ về cuộc đời, về số phận Họ có sự quan tâm, lo lắng của mọi ngời sau trận đánh Những thiệt thòi, mất mát; những nỗi đau đợc đề cập một cách trực diện, đầy xót xa Đó là hình

ảnh những số phận nhận ra đợc sự hụt hẫng khi bớc ra từ cuộc chiến tranh Họ

có cái hào hùng, anh dũng nhng bên cạnh đó còn có sự đau đớn, khổ tâm:

“ Những năm chiếc áo dính chặt vào thân bạc màu ngắn nhanh rồi ráchNhững năm

Một chiếc áo có thể sống lâu hơn một cuộc đờiRồi tới lúc chúng con thay áo khác

Nhng khi cởi áo ra con không còn gì thay đợc”

(“Những ngời đi tới biển” - Thanh Thảo)

Đó còn là những dằn vặt, xao xuyến, những day dứt khó tả về bản thân, về mọi ngời, về cuộc chiến:

“ Anh thơng em đơn độcMột vầng trăng goá bụa ở ven trời”

(Trần Mạnh Hảo)

Cuộc chiến tranh ác liệt đã làm cho những ngời vợ trở nên goá bụa, đã khiến cho những cô gái chôn chặt tuổi thanh xuân của mình trong bom đạn của trận đấu:

“ Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền”

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000.[ 3]. Trần Mạnh Hảo, Thơ - phản thơ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam", Nxb Văn học, Hà Nội, 2000.[ 3]. Trần Mạnh Hảo, "Thơ - phản thơ
Nhà XB: Nxb Văn học
[4]. Bùi Công Hùng, Sự cách tân thơ văn Việt Nam hiện đại, Nxb VHTT, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cách tân thơ văn Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nxb VHTT
[5]. 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám, Nxb ĐHQG, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 "năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám
Nhà XB: Nxb ĐHQG
[6]. Hoàng Nh Phơng, Văn học hôm nay đang nhìn lại chính mình, Tạp chí văn học số 1- 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hôm nay đang nhìn lại chính mình
[7]. Lê Lu Oanh, Sự thức tỉnh những nhu cầu xã hội và cá nhân của cái tôi trữ tình trong thơ hiện nay,Tạp chí văn học số 4, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thức tỉnh những nhu cầu xã hội và cá nhân của cái tôi trữ tình trong thơ hiện nay
[8]. Lê Lu Oanh, cái tôi trữ tình trong thơ ... Luận án PTS, 1994[ 9]. Trần Đình Sử, Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb GD, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cái tôi trữ tình trong thơ" ... Luận án PTS, 1994[ 9]. Trần Đình Sử, "Những thế giới nghệ thuật thơ
Nhà XB: Nxb GD
[12]. Nguyễn Bá Thành, T duy thơ và t duy thơ hiện đại Việt Nam, Nxb VH, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T duy thơ và t duy thơ hiện đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb VH
[13]. Tuyển tập thơ Việt Nam 1975 - 2000 (tập 1), Nxb HNV, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ Việt Nam 1975 - 2000 (tập 1)
Nhà XB: Nxb HNV
[14]. Tuyển tập thơ Việt Nam 1975 - 2000 (tập 2), Nxb HNV, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ Việt Nam 1975 - 2000 (tập 2)
Nhà XB: Nxb HNV
[15]. Tuyển tập thơ Việt Nam 1975 - 2000 (tập 3), Nxb HNV, Hà Nội, 2001 [16]. Tuyển tập thơ Hoài Ân, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ Việt Nam 1975 - 2000 (tập 3)," Nxb HNV, Hà Nội, 2001[16]. "Tuyển tập thơ Hoài Ân
Nhà XB: Nxb HNV
[17]. Thơ Việt Nam 1945- 1985, Nxb GD, Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam 1945- 1985
Nhà XB: Nxb GD

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w