Với phạm vi đề tài này, chúng tôi không đặt vấn đề đi vào nghiên cứu từng tác phẩm một cách quá cụ thể mà chỉ nghiên cứu kiểu nhân vật "con ngời cá nhân" đợc nhà văn thể hiện trong 3 cuố
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh - khoa ngữ văn
Tháng 05 - 2005
Trang 2
-Mục lục
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
1.5 Sự trở về của con ngời cá nhân trong văn xuôi sau 1975
Ch ơng 2: sự thể hiện con ngời cá nhân qua "mùa lá rụng trong vờn",
"thời xa vắng" và "thân phận của tình yêu"
2.1 Con ngời cá nhân trong những mối quan hệ xã hội rộng lớn
2.2 Con ngời cá nhân trong sự xung đột với môi trờng sống
2.3 Con ngời cá nhân trong quan hệ với chính mình
Ch ơng 3: Những đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện con ngời cá nhân trong 3 tác phẩm: "Mùa lá rụng trong vờn", "thời xa vắng" và "thân phận của tình yêu"
3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
3.2 Nghệ thuật xây dựng tình huống
3.3 Sự chuyển đổi không gian thời gian nghệ thuật
Trang 3Vì vậy, nghiên cứu 3 cuốn tiểu thuyết này, chúng ta hiểu thêm những quyluật, đặc điểm về thể loại tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết Việt Nam từ nhữngnăm 80 trở về sau.
Trong tiểu thuyết, việc quân tâm thể hiện con ngời chính là một phơng diện hếtsức quan trọng Vì từ việc thể hiện này đã dẫn đến việc chi phối các quan niệm khác
về nghệ thuật của nhà văn Vì vậy, nghiên cứu quan niệm này chúng ta hiểu đợc lí dovận động, chuyển đổi trong tiểu thuyết đồng thời hiểu thêm nhiều về nghệ thuật thểhiện của nó, đặc biệt là trong nghệ thuật xây dựng nhân vật
Trong nhà trờng phổ thông, tiểu thuyết cũng là một thể loại đợc đa vào nghiêncứu, giảng dạy nhiều Bản thân sau này là một giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạyhọc sinh phổ thông vì vậy để nắm vững thêm về chuyên môn, ngời nghiên cứu rấtquan tâm chú ý đến thể loại tiểu thuyết , nhất là tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổimới với những cây bút đã in dấu đậm vào nền văn học dân tộc nh Nguyễn MinhChâu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu
2 Lịch sử vấn đề:
Nh chúng ta đã biết, 3 tiểu thuyết: "Mùa lá rụng trọng vờn", "Thời xa vắng" và
"Thân phận của tình yêu" ra đời trong giai đoạn lịch sử xã hội đặc biệt - giai đoạnvừa ra khỏi chiến tranh, có nhiều mặt trớc đây cho là đợc nhng trong hoàn cảnh mớikhông phù hợp nữa Trong cuộc sống con ngời có nhiều nhu cầu đòi hỏi, nhiều vấn
đề đặt ra cần phải giải quyết.v.v Vận động đổi mới và đổi mới là nhu cầu bức thiếtcủa lịch sử xã hội lúc bấy giờ Trong sự đổi mới toàn diện đó văn học cũng đợc đổimới Vì vậy, đây là giai đoạn đánh dấu bớc chuyển mình của văn học Việt Nam thờichiến sang hậu chiến, nhìn nhận vấn đề một chiều sang đa chiều, từ cảm hứng sử thi
Trang 4lãng mạn trở về với thế sự đời t Văn học ngày càng tiến gần đến chất nhân bản hơn,
đậm tính chất đời hơn Vì vậy, để hiểu đợc một cách sâu sắc, trung thực, toàn diện vềnhững lớp nội dung nói chung và vấn đề phạm vi đề tài quan tâm chứa đựng trong 3tiểu thuyết này chúng ta phải đặt nó dới nhiều góc độ và bối cảnh khác nhau
2.1 - Trớc hết, ta phải xem xét vấn đề trong bối cảnh rộng của nó Đó là bối
cảnh của những cuộc tranh luận cha phân "thắng bại" về đổi mới văn học Văn học
từ sau 1975, phát triển hết sức đa dạng, phong phú, phức tạp và cũng cha thật địnhhình chắc chắn Các hiện tợng văn học: tác giả, tác phẩm ra đời, sự khen chê chanhất quán Ngời khen khen hết mức, ngời chê, chê hết lời và cũng có những ý kiếnrất dè dặt trong nhìn nhận đánh giá Cụ thể là: Trong bài viết "Gắn bó tâm huyết vớicông cuộc đổi mới" đăng trên báo Văn nghệ số 49, 3/12/1989, nhà văn Bùi Hiển đãkhẳng định: "Ngay từ đầu những năm 80, đặc biệt là văn xuôi, sân khấu và điện ảnh
đã bắt đầu xuất hiện những sáng tác mang nhiều sắc thái mới"
Bài "Nhiệm vụ của khoa học xã hội trong thời kỳ cách mạng" của tạp chí Vănhọc số 5/1988 có đăng lời phát biểu của đồng chí Trần Xuân Bách Uỷ viên Bộ chínhtrị BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam tại Hội nghị các chủ tịch viện hàn lâm khoahọc tổ chức tại Hà Nội: "Đại hội VI của Đảng chúng tôi xác định rằng: "KHXH phảitrở thành công cụ sắc bén trong việc đổi mới nhận thức, đổi mới phơng pháp t duy,xây dựng ý thức xã hội và nhân cách xã hội chủ nghĩa"
Trong bài: "Cần tăng cờng hiệu quả xã hội của tác phẩm văn học" (Tạp chí vănhọc, số 5, 1988), Nguyễn Kim Hồng viết: "Trong sự nghiệp cách tân đất nớc theotinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, nền văn học nghệ thuật của ta đóng
vai trò hàng đầu trong việc "sản xuất ra con ngời" có khả năng đáp ứng yêu cầu của thời đại, góp phần phát huy cao nhất "năng lợng con ngời" trong sự nghiệp xây dựng
đất nớc hiện nay Đó cũng là thớc đo hiệu quả xã hội đích thực của văn học nghệthuật" Những lời khẳng định đó chứng tỏ ngời ta rất ủng hộ, khuyến khích đổi mớitrong văn học để phù hợp với cuộc sống mới và nhu cầu mới của con ngời Giáo sựHoàng Ngọc Hiến trong bài viết: "Thời kỳ văn học vừa qua và xu thế phát triển của vănhọc" cũng đã có thái độ tán thành, khen ngợi nh sau: "Thời kỳ văn học
Trang 5từ 1975 đã đặc biệt định hớng sắp tới Đến nay đã 15 năm những vẫn còn là sớm đểthấy hết chân giá trị của những tác phẩm và những tác giả xuất hiện đợc chú ý ở thời
kỳ này - một thời kỳ phong phú các hiện tợng văn học" (Tạp chí văn học, 1990).Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu khác lại có ý kiến cho rằng giai đoạn này
là một bớc thụt lùi của văn học Việt Nam đặc biệt là đối với lĩnh vực thơ ca ( ).Trong lĩnh vực văn xuôi, cũng có một số ý kiến không tán thành, ví dụ nh một số bàiphê bình đối với hiện tợng Nguyễn Huy Thiệp chẳng hạn, đó là: "Một cây bút có tài,nhng "của Hồng Diệu, hay một số bài viêt của Đỗ Văn Kháng in trong tác phẩm
"Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp" (NXB VHTT, H, 2001) Ngời ta tổ chức "gặp gỡ và trao
đổi với Nguyễn Huy Thiệp" ( Bài viết trên Tạp chí văn học, số 1, 1989)
Mặt khác, một số nhà nghiên cứu phê bình còn giữ thái độ trung hoà, hoặc nhận
định dè dặt những đặc điểm, quy luật phát triển của văn học sau 1975 trên con đờngtiếp cận, tìm hiểu và chiếm lĩnh đối tợng phức tạp này qua các bài viết nhỏ nh sau:
Trần Đình Sử "Mấy ghi nhận về đổi mới t duy nghệ thuật và hình tợng con ngời
trong văn học ta thập kỷ qua" (Tạp chí văn học, số 6, 1986, tr.7); Phạm Quang Long
với bài viết "Thử nhìn lại từ góc độ khác" (Tạp chí văn học, số 5, 1988, tr.94); Nguyên Ngoc có bài "Văn xuôi sau 1975 - Thử thăm dò đôi nét về quy luật phát
triển" (Tạp chí văn học, số 4, 1991, tr.9); Nguyễn Đăng Mạnh với "Một cuộc nhận ờng mới" (Tạp chí văn học, số 4,1995, tr.5); Nguyễn Văn Long "Thử xác định đặc
đ-điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn từ sau 1975" (Tạp chí cộng sản, số 6,
2001)
Khi xét vấn đề trong bối cảnh rộng của nó chúng ta không thể không nói đến ờng lối văn nghệ của Đảng cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ và đặc biệt là thời kỳsau 1975 đợc cụ thể hoá và thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986)
đ-đánh dấu thời kỳ mới - thời kỳ đổi mới toàn diện, thời kỳ mở cửa ở n ớc ta, trong đó
văn học - nghệ thuật cũng đợc đổi mới "Đờng lối văn nghệ của Đảng là một bộ
phận hữu cơ gắn bó và có tác động qua lại với các bộ phận khác trong đờng lối cách mạng nói chung, đờng lối văn nghệ " của Đảng cộng sản Việt Nam đợc trình bày
trong các văn kiện về văn nghệ chủ yếu từ "Đề cơng văn hoá 1943" đến các bức th
của TW Đảng gửi các Đại hội văn nghệ toàn quốc, cũng nh ở các phần bàn về văn
Trang 6hoá văn nghệ (trong đó quan trọng hơn cả là văn học) ở cac báo cáo chính trị và cácnghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng Nó có tính chất định hớng cho các văn nghệ sĩtrên con đờng sáng tạo nghệ thuật phục vụ quần chúng và sự nghiệp cách mạng xã
hội chủ nghĩa Tại Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng đã kêu gọi "Toàn Đảng toàn dân
đổi mới t duy, nhìn thẳng vào sự thật đất nớc và cuộc sống của nhân dân"
Một sự kiện quan trọng nữa ảnh hởng đến sự phát triển của văn học nghệ thuậtgiai đoạn này là: Đồng chí Tổng bí th Nguyễn Văn Linh đã dành 2 ngày 6,7/10/1987 đến nghe các văn nghệ sĩ tâm tình, trao đổi mọi vấn đề về văn học nghệ
thuật và cuộc sống Và đồng chí đã kêu gọi: "Các nhà văn trong thời kỳ đổi mới có
quyền nói thẳng, nói thật mọi vấn đề trong cuộc sống của chúng ta miễn là anh đứng trên quyền lợi lập trờng của dân tộc" Lời kêu gọi của đồng chí Tổng bí th đã thực
sự "cởi trói" cho các nhà văn, tạo nên một không khí mới trong bầu nhiệt huyết của
những ngời cầm bút, thôi thúc họ bắt tay viêt về những mảng đề tài mới sau nhiềuthập kỷ còn im lìm nhất là những mặt trái của cuộc sống mà trớc đây không dám
"nhìn thẳng", "nói thẳng sự thật"
Từ đó, văn học dân tộc sau 1975 xuất hiện nhiều hiện tợng phong phú và phứctạp Các hiện tợng văn học đặc biệt đợc độc giả chú ý nhiều, gây ra những làn sóng
tranh luận mạnh mẽ, ví dụ nh hiện tợng Nguyễn Huy Thiệp với "Tớng về hu", "Nhà
không vua", Dơng Thu Hơng với "Thiên đờng mù" trong đó không thể không kể
đến 3 tác phẩm: "Mùa lá rụng trong vờn" của Ma Văn Kháng, "Thời xa vắng" của Lê Lựu và "Thân phận của tình yêu"(tác phẩm này có tên gốc ban đầu là "Nỗi buồn
chiến tranh") của Bảo Ninh Ba tác phẩm này đã đánh dấu 3 điểm mốc rõ rệt trong
thời kỳ đổi mới đất nớc và đổi mới văn học Ba tác phẩm đều đợc Hội nhà văn trao
giải thởng cao quý: "Mùa lá rụng trong vờn" đạt giải nhì năm 1984, "Thời xa vắng"
đạt giải nhất năm 1986 và "Thân phận của tình yêu" đạt giải nhất năm 1991.
Nh đã nói, đây là thời kỳ đổi mới của văn học Và nó đợc cụ thể hoá tại Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI vào tháng 12 năm 1986 Nghĩa là năm 1986 đờng lối "đổi
mới" cho văn nghệ mới ra đời nhng văn học trong quá trình vận động phát triển của
mình đã có sự biến chuyển từ trớc đó Đứng ở góc độ lý luận mà xét: Văn học phản
ánh cuộc sống Vì vậy, khi cuộc sống đã thay đổi, văn học buộc phải thay đổi, nếu
Trang 7không anh ta sẽ "chết" Nếu không có sự biến đổi thích nghi thì nền văn học đó sẽ tự
diệt vong Nh chúng ta đã biết, hoàn cảnh lịch sự xã hội nớc ta sau 1975 hoàn toànkhác trớc Một mặt nó vừa là cuộc sống thời hậu chiến còn nhiều tồn tại, rạn nứt cầnphải hàn gắn, đền bù mặt khác là sự du nhập, len lỏi những nét mới của cuộc sốnghiện đại, cuộc sống theo cơ chế thị trờng Từ cuộc sống đó bao vấn đề đặt ra, baonhu cầu đòi hỏi buộc phải giải quyết Hoàn cảnh lịch sử xã hội phức tạp, có nhiềubiến động nh vậy buộc văn học không thể cứ giữ mãi cách viết đơn giản, một chiều
nh trớc đợc mà phải có sự đổi mới, dù bớc đầu đang ở giai đoạn vận động, manh nha
Sự lí giải này rất phù hợp với tác phẩm "Mùa lá rụng trong vờn" của Ma Văn
Kháng Tác phẩm ra đời trớc đổi mới 2 năm và cái không khí của cuộc sống chạytheo cơ chế thị trờng đã phả vào tác phẩm Hay nói cách khác, nó là tác phẩm viết vềbuổi đầu của nền kinh tế thị trờng ở nớc ta Cuộc sống đó có những mặt đợc, mặt hạn
chế nhng dù sao chuyện cũng đã qua rồi Đến "Thời xa vắng" , Lê Lựu viết vào đúng lúc "đổi mới" Vì vậy rất nhiều vấn đề đặt ra và nó đòi hỏi độc giả phải xem xét, nhìn nhận trên nhiều góc độ Còn "Thân phận của tình yêu" đợc viết khi chiến tranh đã
kết thúc Tác phẩm này chính là sự nhìn nhận lại chiến tranh, mốt sự nhận thức lạirất tỉnh táo sau khi nó đã phải trải qua sự bầm dập, thử thách của văn học viết theokhuynh hớng sử thi và cảm hững lãng mạn giai đoạn 1945-1975, và viết khi trớc đó
đã có nhiều những tác phẩm thành công trong sự chuyển mình, đổi mới nền văn họcdân tộc Vì vậy, tác phẩm sẽ có một sự thành công nhất định
2.2 - Góc nhìn hẹp - góc nhìn của những nhà nghiên cứu:
Thực tế cuộc sống và đời sống văn học sau 1975 phức tạp đó khiến chúng takhông tránh khỏi sự phiến diện trong cách nhìn nhận đánh giá vấn đề Vì vậy, khi đisâu nghiên cứu đề tài: Sự thể hiện con ngời cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam từ
thập niên 80 đến 2000 qua 3 tác phẩm "Mùa lá rụng trong vờn", "Thời xa vắng" và
"Thân phận của tình yêu", ta phải đặt nó trong bối cảnh hẹp - đó chính là những góc
nhìn khác nhau của những ngời nghiên cứu xuất phát từ những quan điểm khác nhauthông qua các bài viết in trên báo hoặc tập hợp trong một số cuốn sách
"Mùa lá rụng trong vờn", "Thời xa vắng" và "Thân phận của tình yêu" là những
hiện tợng lớn của sau 1975 Đó là điều đã đợc lịch sử văn học và công chúng độc giả
Trang 8ghi nhận Nhng chúng ta phải thấy rằng: cả 3 tác phẩm này mới ra đời trong một thời
gian cha dài, lại ra đời trong công cuộc vận động đổi mới và "đổi mới" nên cha định
hình rõ đợc hớng phát triển tối u của nó Và đây cũng là lúc đời sống xã hội có nhiềuvấn đề văn học cần đợc văn học quan tâm chú ý, vậy nên các bài nghiên cứu về nócha nhiều, chỉ mới nhìn nhận ở một vài khía cạnh nào đó nổi bật của tác phẩm; hoặcngời nghiên cứu xuất phát từ sở thích, cảm đợc một mặt nào đó của tác phẩm mà
mình cho là đúng, là tâm đắc rồi viết thành bài, hoặc đã có những cái nhìn "toàn
diện" về mỗi tác phẩm nhng chỉ dừng lại ở mức chung chung, trên "tinh thần đại thể" (chữ dùng của Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam) của bối cảnh xã hội và đời
sống văn học sau 1975 Chúng ta có thể lấy một vài dẫn chứng tiêu biểu nh sau:
Nguyễn Kim Hồng trong bài "Cần tăng cờng hiệu quả xã hội cho tác phẩm văn
học" (Tạp chí văn học 1988, số 5, trang 36), ở bài viết này ngời viết đã lấy những tác
phẩm cụ thể, tiêu biểu ra làm dẫn chứng cho những góp ý của mình có nói đến "Thời
xa vắng" của Lê Lựu và "Mùa lá rụng trong vờn" của Ma Văn Kháng Ví dụ tác giả viết: "Tác phẩm Thời xa vắng" của Lê Lựu là một tác phẩm giàu năng lợng sự thật".
Đối với "Mùa lá rụng trong vờn", tác giả viết:"Cuộc sống còn cần mĩ học của nhu
cầu con ngời để thực sự trả cho cuộc sống về cái nhân bản của nó" "Mùa lá rụng trong vờn" Ma Văn Kháng gợi ý định hớng sự tự nhận thức ngời đọc thông qua suy
nghĩ của nhân vật (tr 36)
Bài "Văn xuôi gần đây và quan niệm về con ngời" của Bùi Việt Thắng lại viết:
"Văn xuôi gần đây nh nhiều ngời nhận xét, đã "áp sát" tới cuộc sống và con ngời,
b-ớc đầu đem đến cho ngời đọc một cảm nhận trung thực về thực tại ở bài viết này tácgiả đề cập đến 5 mục nh là những nhận định riêng của mình về "văn xuôi gần đây và
quan niệm về con ngời", trong đó có mục "1 Con ngời và hoàn cảnh", tác giả có
đụng đến "Thời xa vắng": Hoàn cảnh tạo ra một cái bẫy, nếu con ngời không tỉnh táo
và thông minh sẽ bị sa lới Giang Minh Sài của Lê Lựu trong "Thời xa vắng" là một
ví dụ: Giang Minh Sài là nạn nhân của hoàn cảnh (dĩ nhiên cũng có một phần là "tội
nhân") (Tr.18) ở mục "4 Sự khẳng định nhân cách", Bùi Việt Thắng đề cập đến
"Thân phận của tình yêu" nh sau: cái phần đợc của "Thân phận của tình yêu" chính
là ở chỗ tác giả khao khát có những nhân cách nh Kiên trong cuộc đời vốn còn rấtnhiều hỗn độn này" [41,20]
Trang 9Mục "Đọc sách" của Tạp chí văn học, số 3, 1991, trang 85 Trần Quốc Huấn cóbài viết về "Thân phận của tình yêu" dài khoảng hơn một trang báo ở bài viết này,tác giả cố gắng khái quát: "Toàn bộ tác phẩm là một cái nhìn ngoái lại thờ thẩn, đăm
đắm của ngời lính trận khi đã tàn cuộc" (Tr 85) và đã ít nhiều đi vào khai thác, phân
tích các nhân vật, nhng dù sao cũng chỉ mới ở mức độ "điểm qua" và có tính chất
"Trong lúc ngời ta đổ xô xem mấy cái cù lao vừa mới nổi lên và đã reo hò ầm ĩ, vì đã
tìm ra đợc một vờn địa đàng" "Anh vác xẻng đi đào mỏ Và rồi cứ từng khối vàngròng nguyên chất, Lê Lựu huỳnh huỵch đắp một cái lô cốt - rồi cho nó một cái tênrất văn chơng, rất thi ca: Thời xa vắng" [21,81] ở đây, Trần Đăng Khoa đã có cái
nhìn nhận về thời đã qua, "về thời xa vắng xa mà không xa, nó vẫn ngự trị, vẫn treo
lơ lửng, đâu đó trên đầu mỗi ngời nh một cái bóng ma" [21.83] và có nhận xét khá
sâu sắc về nhân vật Giang Minh Sài: "Lúc đầu anh phải yêu cái ngời khác yêu, khi
đ-ợc tự do yêu lại đi yêu cái mình không có" [21 84].
Ngoài ra, 3 tác phẩm "Mùa lá rụng trong vờn", "Thời xa vắng" và "Thân phận
của tình yêu" còn có một số bài viết khác nh:
- "Một mảnh đời trong cuộc sống hôm nay qua Mùa lá rụng trong vờn" (Vân
- "Những nghịch lý của chiến tranh khi đọc Thân phận của tình yêu của Bảo
Ninh" (Hoàng Ngọc Hiến, báo văn nghệ số 15, 1991)
Trang 10- Bài "Nỗi buồn chiến tranh đến từ đâu?" của Nguyễn Thanh Sơn, in trong
"Phê bình văn học" NXB Hà Nội, 2000.
- Đỗ Đức Hiểu với "Thân phận của tình yêu" của Bảo Ninh qua nhan đề
"Trong thi pháp hiện đại", NXB Hội nhà văn, HN, 2000.v.v.
Tóm lại, những bài viết, những công trình nghiên cứu đợc kể trên đây chỉ mới
là những đánh giá chung, nhìn nhận chung về những xu hớng phát triển, quan niệmnghệ thuật, quan niệm về con ngời của văn học sau 1975
Nếu có những bài viết về những tác phẩm cụ thể thì bên cạnh những phát hiệnmới mẻ, thấy đúng vấn đề còn có những nhận định cha hợp lí, còn hạn chế.v.v.,chính bản thân nhà văn cũng cha thoả mãn Ví dụ: Ma Văn Kháng từng trả lời
phỏng vấn về "Mùa lá rụng trong vờn": "Ta xa nay chỉ a lí giải, phân tích quá mà coi
nhẹ cái phần cảm thụ tác phẩm có sự tham gia của lí trí nhng về cơ bản tôi viếttrong cái mạch cảm xúc của mình, trong cái đà văn tự nhiên của cảm hứng rất ngẫu
nhiên nhiều khi của mình họ hiểu sai( ) thành ra cuối cùng vấn đề vẫn là mình
hiểu mình, mình tự đánh giá mình là chính" ("Hỏi chuyện nhân vật Ma Văn Kháng",
Lê Kim Vinh, Tạp chí văn học, số 5, 1988, trang 111)
Lê Lựu cũng vậy, ông trả lời trong bài viết "Nhà văn Lê Lựu: đi đến tận cùng
tính cách nhân vật" của Lê Hồng Sâm: "Ai khen chê, chửi bới đánh đạp, chúng tôi không để ý khi viết tôi chỉ biết viết hết mình và không ai hiểu nó bằng chính mình".
Nh vậy, qua những khảo sát trên, chúng tôi kết luận đề tài ( ) trớc đó cha hề cómột công trình nghiên cứu cụ thể nào mà chỉ có những nhận định chung, những bàiviết có tính chất khái quát hoặc xoay quanh những chủ đề khác và viết theo những đềtài khác Luận văn chúng tôi đợc thể hiện trên cơ sở tiếp thu những thành tựu củanhững ngời đi trớc, nhìn nhận những mặt thiết sót hay cha phù hợp của các bài viếttrớc để đi sâu khảo sát, phân tích, tìm hiểu vấn đề, nhằm đa ra một quan điểm, mộtcách nhìn riêng của chúng tôi Chúng tôi hy vọng rằng, đề tài: sự thể hiện con ngời
cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam từ thập niên 80 - 2000 (qua 3 tác phẩm "Mùa lá
rụng trong vờn", "Thời xa vắng" và "Thân phận của tình yêu" ở mức độ nào đó sẽ
mang đến những ý nghĩ khoc học và thực tiễn hữu ích
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 11Nhiệm vụ nghiên cứu đợc xác định cụ thể tơng ứng 3 chơng của luận văn Bởivì sự thể hiện con ngời cá nhân suy cho cùng đó cũng là một nguyên tắc thẫm mĩ củanhà văn Từ sự thức tỉnh của con ngời cá nhân ngoài xã hội, nhà văn đã phản ảnhvào tác phẩm thông qua hệ thống hình tợng nhân vật Vì vậy, việc nhà văn miêu tảnhân vật từ ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, ngoại cảnh đến nội tâm nhân vật làmột biện pháp nghệ thuật cần thiết để bộc lộ tính cách, con ngời nhân vật Vì vậy, đểlàm rõ vấn đề phạm vi đề tài quan tâm chúng tôi phải tiến hành phân tích, thống kê
để làm sáng tỏ kiểu nhân vật "con ngời cá nhân" trong 3 cuốn tiểu thuyết "Mùa lá
rụng trong vờn", "Thời xa vắng" và "Thân phận của tình yêu" mà 3 nhà văn Ma Văn
Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh thể hiện Tuy nhiên, để làm sáng tỏ vấn đề, trớc hết chúngtôi quan tâm, khảo sát sự thể hiện con ngời cá nhân trong văn xuôi trớc thập niên 80;
từ đó đi vào phân tích, so sánh, đối chiếu với sự thể hiện con ngời cá nhân trong tiểuthuyết Việt Nam giai đoạn từ thập niên 80 - 2000 có sự khác biệt gì và thể hiện đếnmức độ nào và có ý nghĩa ra sao
Để đề tài "Sự thể hiện con ngời cá nhân " đợc nhìn nhận sâu sắc và kĩ lỡng
hơn, chúng tôi còn sẽ soi xét ở phơng diện nghệ thuật (chơng 3 của luận văn)
Với phạm vi đề tài này, chúng tôi không đặt vấn đề đi vào nghiên cứu từng tác
phẩm một cách quá cụ thể mà chỉ nghiên cứu kiểu nhân vật "con ngời cá nhân" đợc nhà văn thể hiện trong 3 cuốn tiểu thuyết đợc gọi là "đỉnh" của văn học thời kỳ đổi
mới nh là một chỉnh thể thống nhất, một loại hình nhân vật của văn học giai đoạnsau 1975, nhất là từ thập niên 80 -2000
4 Phạm vi nghiên cứu:
Sự thể hiện con ngời cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam từ thập niên 80-2000
không bó hẹp trong phạm vi 3 cuốn tiểu thuyết "Mùa lá rụng trong vờn" của Ma Văn Kháng, "Thời xa vắng" của Lê Lựu và "Thân phận của tình yêu" của Bảo Ninh, nhng
3 cuốn tiểu thuyết này là 3 cuốn tiểu thuyết tiêu biểu nhất của văn học thời kỳ
Trang 12những năm 80 - 2000 nên nó có khả năng làm rõ phạm vi đề tài chúng tôi quan tâm
và góp phần làm rõ những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam từ 1975 trở vềsau
Ngoài ra, còn có rất nhiều những tác phẩm, ở nhiều thể loại văn học khác nhausau 1975 đã đề cập đến số phận con ngời cá nhân Bởi lúc này quan tâm đến số phậntừng con ngời cá nhân là vấn đề cấp thiết của cuộc sống và đời sống văn học, Tuy
nhiên, do điều kiện thời gian, năng lực, chúng tôi chỉ khảo sát 3 tác phẩm: "Mùa lá
rụng trong vờn", "Thời xa vắng" và "Thân phận của tình yêu" của 3 nhà văn: Ma
Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh và ở chừng mực nào đó chúng tôi liên hệ, so sánh, mởrộng với một số tác phẩm khác cùng thời
L
đề cho tác phẩm (ví dụ cuốn "Thân phận của tình yêu" của Bảo Ninh lúc đầu mới ra
đời có tên là "Nỗi buồn chiến tranh" nhng đến năm 1991 khi nhận giải nhất của Hội nhà văn, tác giả đã đặt lại tên là "Thân phận của tình yêu" Dù là tiêu đề nào thì văn
bản cũng chỉ là một Vì vậy, chúng tôi thống nhất lấy tên gọi "Thân phận của tìnhyêu" trong suốt quá trình làm sáng tỏ đề tài).v.v
Vì vậy, chúng tôi chọn 3 cuốn tiểu thuyết của 3 NXB sau để khảo sát nghiêncứu:
Ma Văn Kháng - "Mùa lá rụng trong vờn" (in chung với "Đám cới không có
giấy giá thú") - (NXB Hội nhà văn, HN, 2003)
Lê Lựu - "Thời xa vắng" tiểu thuyết, tái bản lần thứ 5 (NXB Hội nhà văn, HN,
2002)
Bảo Ninh - "Thân phận của tình yêu", tiểu thuyết, (NXB Hội nhà văn, HN,
1991)
5 Ph ơng pháp nghiên cứu:
K.Marx đã từng nói: "Cái nào thì cách ấy" Điều này nghĩa là mỗi vấn đề, mỗi
đối tợng sẽ có những phơng pháp giải quyết, nghiên cứu riêng dựa trên nhữngnguyên tắc nhất định, phù hợp với từng loại đối tợng, từng phạm vi đề tài quan tâm
Trang 13Xác định đợc phơng pháp nghiên cứu phù hợp với phạm vi đề tài quan tâm làmột việc rất quan trọng và ý nghĩa Bởi vì, nguyên tắc tiếp cận là một trong những
định hớng giúp chúng ta có thể chiếm lĩnh đợc vấn đề một cách chính xác, sâu sắc
hơn Để tìm hiểu "Sự thể hiện con ngời cá nhân trong 3 tiểu thuyết "Mùa lá rụng
trong vờn", "Thời xa vắng" và "Thân phận của tình yêu" của 3 nhà văn Ma Văn
Kháng, Lê Lựu và Bảo Ninh, chúng tôi phải tiến hành phân tích, thống kê, tổng hợp
để làm sáng tỏ vấn đề
Mặt khác, trong một chừng mực nào đó, chúng tôi sẽ dùng phơng pháp lịch sử
so sánh, liên hệ với các tác phẩm khác trong giai đoạn văn học Việt Nam từ 1975 trở
về sau và cả trong văn xuôi Việt Nam từ thập niên 80 trở về trớc để thấy đợc nhữngnét chung và riêng, độ sâu sắc trong việc thể hiện con ngời cá nhân trong văn học từthập niên 80 - 2000, thấy đợc những đóng góp của 3 nhà văn cho nền văn học nớcnhà
Chúng tôi không đặt vấn đề nghiên cứu từng tác phẩm cụ thể riêng biệt mà chỉnghiên cứu "sự thể hiện con ngời cá nhân" trong 3 tác phẩm ( ) đó nh một chỉnhthể, một loại hình nhân vật đặc biệt, nổi trội của tiểu thuyết Việt Nam từ thập niên 80
- 2000
6 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
ch-ơng:
Trang 14ơng 1 : Nhìn chung về sự thể hiện con ngời cá nhân trong văn xuôi trớc thập niên 80
Ch
ơng 2: Sự thể hiện con ngời cá nhân qua "Mùa lá rụng trong vờn",
"Thời xa vắng" và "Thân phận của tình yêu"
Ch
ơng 3: Những nét đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện con ngời cá nhân ở
3 tác phẩm: "Mùa lá rụng trong vờn", "Thời xa vắng" và "Thân phận của tình yêu".
Ch ơng 1 nhìn chung về sự thể hiện con ngời cá nhân
trong văn xuôi thập niên 80
1.1 Nhìn nhận chung về sự thể hiện con ngời cá nhân trong văn học trung đại:
Sự thể hiện con ngời cá nhân, con ngời cá nhân thức tỉnh trong tiểu thuyếtkhông còn là một vấn đề mới trong tiến trình văn học Con ngời cá nhân đã đợc cácnhà văn thể hiện phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ lịch
sử khác nhau và càng về sau càng phát triển lên một trình độ cao hơn, tiến bộ hơn.Bởi vì, trình độ văn minh, văn hoá ngày càng đợc nâng lên Sự phát triển ngày càngcao thì sự ý thức, thức tỉnh của con ngời cá nhân cũng cao hơn, mạnh mẽ hơn, sâusắc hơn, biểu hiện rõ rệt hơn, sự thể hiện cũng phong phú, đa dạng, sâu sắc và hayhơn, đem lại ý nghĩa thiết thực cho cuộc sống của con ngời hơn Hơn ai hết, nhà văn
là một trong những nghệ sĩ nhạy cảm nhất đối với cuộc sống con ngời, theo sát nỗikhổ, niềm vui của con ngời Sự thức tỉnh của con ngời cá nhân nó mang ý nghĩa nhânsinh sâu sắc Nó đánh dấu một bớc tiến trong sự phát triển đi lên của con ngời trongnhận thức Con ngời cá nhân thức tỉnh trong xã hội, trong đời sống đợc phản ánh vàotrong văn chơng, đó chính là sự thể hiện con ngời cá nhân thức tỉnh trong các chặng
đờng phát triển của văn học Macxim Gocki từng nói: "Văn học là nhân học", Văn
học phản ánh cuộc sống của con ngời, văn học vì con ngời và cho con ngời Văn họcphản ánh cuộc sống chứ văn học không phản ánh tồn tại Bởi có những tồn tại khôngphải là bản chất cuộc sống Một tác phẩm văn học đợc xem là tác phẩm đích thực khitác phẩm đó phản ánh đợc một vài khía cạnh bản chất của cuộc sống Một tác phẩm
Trang 15văn chơng ra đời phần lớn là chịu ảnh hởng sâu sắc của hoàn cảnh xã hội Tơng tự sựthức tỉnh của con ngời cá nhân trong văn học cũng nh vậy Tùy vào từng thời kỳ,hoàn cảnh lịch sử cụ thể và tài năng sáng tạo, thể hiện của nhà văn.
Văn học trung đại quan tâm tới con ngời cá nhân từ rất sớm, đặc biệt đến thời
"phục hng", con ngời đợc xem là trung tâm của cuộc sống là "kiểu mẫu của muôn
nén của giai cấp phong kiến thống trị và thần quyền của giáo hội Cơ đốc thì thời đại
"Phục hng" nh một cơn gió mạnh thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống ngời dân
phơng Tây, làm bừng thức dậy tất cả các mặt của đời sống, trong đó đặc biệt là sựthức tỉnh của con ngời cá nhân
Con ngời cá nhân ý thức về bản thân mình, về thế giới xung quanh mình, từ đó
ý thức về sứ mệnh của mình trớc lịch sử Con ngời muốn cải tạo xã hội, phục hng đời
sống Họ là những ngời "khổng lồ" của thời đại tiền t bản chủ nghĩa Điều này đã đợc
phản ánh rõ nét, sống động trong văn học qua những hình tợng nhân vật nh Ôtenlô,Hamlet, Đônkihôtê Có thể nói, khát vọng sống, khát vọng cống hiến, khát vọng
đấu tranh, khát vọng giải phóng của con ngời cá nhân là đặc điểm nổi bật nhất củavăn nghệ văn học phục hng
Nh vậy, con ngời cá nhân đã đợc đề cập đến khá nhiều và sống động trong văn
học "phục hng" ở phơng Tây Tuy nhiên, sự thể hiện con ngời cá nhân và con ngời cá
nhân thức tỉnh ở đây chỉ dừng lại ở mức chung chung, cha cụ thể Nhà văn cha đi sâukhám phá thế giới nhiều chiều bên trong của mỗi con ngời cá nhân cụ thể nh văn họchiện đại sau này Con ngời cá nhân thức tỉnh ở đây chỉ là sự thức tỉnh chung mang
tính lịch sử của cả thời đại - thời đại bừng tỉnh sau "đêm trờng trung cổ" phải chịu áp
lực dồn nén của chế độ phong kiến và giáo hội Cơ đốc và là thời kỳ quá độ đểchuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội t bản
Hạn chế này không hẳn nằm ở sự thể hiện yếu kém của nhà văn mà là hạn chếchung của cả một thời đại lịch sử Tuy vậy, sự thể hiện những cá nhân thức tỉnh trongvăn học phục hng ở phơng Tây cũng là một trong những tiền đề góp phần cho sựthức tỉnh của con ngời cá nhân và sự thể hiện của nhà văn trong văn học hiện đại saunày, đặc biệt là con ngời cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam từ thập niên 80 - 2000
Trang 16Cũng giống nh phơng Tây, đến một lúc nào đó thì con ngời có sự thức nhận
đúng đắn và sâu sắc hơn về thế giới, xã hội và nhất là chính con ngời khi mà đờisống, trình độ văn minh văn hoá ngày càng phát triển đi lên, nhu cầu đòi hỏi của conngời cũng nhiều hơn, cao hơn trớc Con ngời không còn là một cái gì đơn giản, mộtchiều nữa mà nó cũng phong phú, phức tạp, nhiều chiều hơn thì sự thức nhận của conngời về cuộc sống xung quanh mình và nhất là về chính bản thân mình cũng ngàycàng nhiều hơn, mạnh mẽ hơn và sâu sắc hơn Hơn ai hết, nhà văn là những ngờinghệ sĩ nhạy cảm nhất đã nhận thấy điều đó và thể hiện sự thức tỉnh này vào trongtác phẩm Vì vậy, có thể xem đây là điểm tơng đồng của văn học phơng Đông và ph-
ơng Tây về sự thức tỉnh của con ngời cá nhân Tuy nhiên, nếu xét trên tinh thần lịch
sử tổng thể thì con ngời cá nhân ở phơng Tây ra đời sớm (văn học phục hng Thế kỷ
14 - 17) Bởi xã hội phơng Đông là xã hội phong kiến hàng ngàn năm, con ngời làcon ngời lệ thuộc, đẳng cấp, con ngời phi ngã, con ngời cá nhân không có chỗ để tồntại
ở mặt nào đó thì con ngời cá nhân trong văn học phơng Đông không phải xuấthiện muộn mà đã có từ trong sáng tác của các nhà s đời Lí, Trần, thời Nguyễn Trãi
Đặc biệt, đến khoảng thế kỷ 18 trở về sau những sáng tác của Đặng Trần Côn, ĐoànThị Điểm, Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Du.v.v vấn đề con ngời đợcquan tâm, thể hiện khá nhiều mặt và sâu sắc
Lúc này, ý thức của con ngời cá nhân khá mạnh mẽ Lần đầu tiên hình ảnh ngờiphụ nữ cô độc tự ý thức về nỗi đau, về thân phận cô đơn, héo hắt của mình trong
"Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn; lần đầu tiên ngời phụ nữ tự hào về vẻ đẹp
tâm hồn cũng nh vẻ đẹp thể chất của mình, giám khẳng định cá tính riêng của mình,
đòi quyền bình đẳng cho mình.v.v một cách quyết liệt, tự tin và có hệ thống trongthơ Hồ Xuân Hơng Ta còn gặp một cô Kiều (trong Truyện Kiều của Nguyễn Du) ýthức sâu sắc về bản thân, về thế giới xung quanh mình Trong cô, một thế giới nộitâm nhiều chiều, đầy mâu thuẫn, giằng xé, đau đớn đang diễn ra Ta thử đọc một
đoạn trong "Truyện Kiều":
"Bẽ bàng mây sớm đèn khuyaNửa tình, nửa cảnh, nh chia tấm lòng"
Trang 17(Câu 1037 - 1038)Hoặc:
"Vui là vui gơng kẻo là
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Thờ ơ gió trúc ma maiNgẩn ngơ trăm mối, dùi mài một thân "
(Câu 1247 - 1250)Suy cho cùng, đó chính là những con ngời cá nhân thức tỉnh, thức tỉnh trớc cuộcsống, thức tỉnh với chính bản thần mình Sự thức tỉnh này mạnh hay yếu, đơn giảnhay phong phú đều chỉ là những hiện tợng chứ cha thể trở thành một phong trào
nh phong trào văn nghệ phục hng ở phơng Tây Ngời ta đã từng đặt câu hỏi: có mộtnền văn học phục hng ở Việt Nam vào những Thế kỷ cuối của văn học trung đại ViệtNam không qua những sáng tác của Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Du ? Câu hỏi này đã
đợc giải đáp là: không Tiền đề của sự bừng thức dậy của văn học phục hng ở phơng
Tây là con ngời phơng Tây thoát khỏi "đêm trờng trung cổ" chuẩn bị mọi điều kiện
để bớc vào một thời kỳ mới của lịch sử: thời kỳ TBCN Còn ở Việt Nam thế kỷ 18,
19 về cơ bản vẫn là một xã hội phong kiến Nhng xã hội phong kiến đó đã có nhữngyếu tố mới du nhập từ nớc ngoài vào, từ phơng Tây đến bằng con đờng giao lu buônbán hoặc truyền đạo (thế kỷ 17 các cha cố phơng Tây đã đến Việt Nam để truyền
đạo) Những thơng gia hay cha cố đến Việt Nam ít nhiều đều mang theo những nétvăn hoá riêng của xứ lạ đến với ngơi Việt Nam, ở mặt nào đó sẽ ảnh hởng đến đờisống và nhận thức của ngời Việt Nam, ít nhiều có ảnh hởng đến sự thức tỉnh của ýthức con ngời cá nhân Tuy nhiên, con ngời cá nhân thức tỉnh trong văn học trung đạiViệt Nam chủ yếu là do sự thức nhận của nhà văn, của bản thân ngời sáng tác Họ lànhững nghệ sĩ nhạy cảm trong t duy nghệ thuật, có t tởng tiến bộ vợt trớc thời đại đãthấy đợc sự ràng buộc của hệ t tởng nho giáo, ý thức hệ phong kiến bó buộc con ngờivào những khuôn khổ nhất định Cuộc sống quy định trong "Tam cơng ngũ thờng"(cho đàn ông), "Tam tòng tứ đức" (cho đàn bà) Văn học cũng không nằm ngoàinhững quy định đó Ví dụ khi nói đến ngời con gái đẹp phải mày ngài, mắt phợng,
Trang 18giọt châu, gót sen , nói cây tùng, cây trúc là chỉ ngời quân tử, còn hạng tiểu nhân làchim sẻ, chim ri.v.v Tất cả nằm trong những khuôn khổ, nằm trong hệ thống quyphạm mà nho giáo phong kiến là t tởng chi phối toàn bộ mọi mặt hoạt động của đờisống phong kiến, trong đó có văn học và vì vậy, suốt trong lịch sử hàng ngàn nămphong kiến khi ngời ta nhắc đến văn học là chủ yếu nói đến văn học quan phơng.Văn học thờng minh hoạ trực tiếp cho hệ t tởng phong kiến Vì vậy, mỗi tác phẩm làmột bài học, một bài giáo huấn về đạo đức Đó là văn học chính thống của xã hộiphong kiến Trên quan điểm này có nhà nghiên cứu đã nhận xét xác đáng rằng: "Lâunay khi nói đến con ngời cá nhân hay cái "tôi " ("ngã") trong văn học cổ trung đạingời ta thờng có sự dè dặt, thận trọng "(Tiến sĩ Biện Minh Điền, Tạp chí văn học, số
Tuy nhiên, sự thức tỉnh là sự thức tỉnh mang tính chất trung đại Con ngời cánhân vẫn là con ngời cá nhân của thời trung đại Để phân tích, tìm hiểu, đánh giá nóphải dựa theo các đặc trng thi pháp của văn học trung đại
Sự thể hiện con ngời cá nhân trong văn học trung đại chỉ mới là những xu hớng,những hiện tợng "dị biệt" nằm trong quy luật phát triển tiến bộ chứ cha thể trở thành
Trang 19một trào lu, một thứ chủ nghĩa nh sự thức tỉnh của con ngời cá nhân trong văn họchiện đại sau này.
1.2 Sự thể hiện con ngời cá nhân trong văn xuôi lãng mạn 1932-19 45:
Nh chúng ta đã phân tích ở trên, con ngời cá nhân đã xuất hiện từ trong văn họctrung đại Đó thực chất là sự giải phóng cái tôi cá nhân cá thể ra khỏi hệ thống ớc lệkhắt khe có tính chất phi ngã của thơ ca thời phong kiến, đó là những hiện tợng
"phản thi pháp văn chơng trung đại" khá táo bạo Nhng thời trung đại, do hạn chế về
mặt lịch sử xã hội, nhận thức và ý thức hệ phong kiến nên nó cha đủ sức phá vỡ đợctính quy phạm chặt chẽ của văn chơng cổ Nhng từ khi tiếp xúc với Pháp, xã hội ViệtNam đã có sự thay đổi hẳn
1/9/1858 Pháp nổ súng vào Đà Nẵng mở đầu quá trình xâm lợc Việt Nam Từ
1858 đến hết thế kỷ XIX, thực dân Pháp chủ yếu hoạt động về quân sự Đến đầu thế
kỷ XX chúng thật sự tiến hành khai thác thuộc địa về mặt kinh tế Sau hai cuộc khaithác lần thức nhất và lần thức hai, (trớc và sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914
- 1918), cơ cấu xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc Nhiều đô thị, thị trấnmọc lên Đó là những nơi tập trung kinh tế, văn hoá, hành chính của xã hội thực dân
ở đấy, ra đời nhiều tầng lớp xã hội mới: t sản, tiểu t sản, công nhân Những tầnglớp này có nhu cầu văn hoá, thẩm mĩ mới
Lúc bấy giờ thành thị có một sức hút ghê gớm, nh một ma lực đang làm rạn nứt,biến đổi dần những nguyên tắc tởng nh đã cố hữu của "chốn nớc non lặng lẽ này"[43,106] Hình bóng con ngời cá nhân của xã hội phơng Tây đã tác động mạnh mẽvào đời sống xã hội và đợc các tầng lớp, đặc biệt là thanh niên, trí thức hồ hởi đónnhận Bởi họ là những ngời đợc học chữ quốc ngữ, chữ Pháp, sớm đợc tiếp xúc vớicái mới, cái lạ của đời sống văn minh phơng Tây Chính sự tiếp xúc này đã đem đếncho các tầng lớp trong xã hội sự nhận thức mới về cuộc sống, về con ngời và sự ýthức sâu sắc về bản thân
Trong tiểu thuyết "Tự lực văn đoàn" đã xuất hiện những con ngời mới Đó lànhững "trí thức tây học” hoặc "gái mới" Họ là những thanh niên mới đợc theo họcmột nền giáo dục Tây âu từ nhỏ, đợc tắm mình trong không khí văn hoá mới của thời
đại Đó là những Lộc (Nửa chừng xuân) là tham tá; Dũng (Đoạn tuyệt) tham gia hoạt
Trang 20động trong một hội kín; Nam (Đẹp) là hoạ sĩ; Minh (Ghánh hàng hoa) là nhà
báo;Tr-ơng (Bớm trắng) là sinh viên trờng luật; Chbáo;Tr-ơng (Đời ma gió) là giáo viên trờng tthục Ngay cả những nhân vật nữ nh Loan (Đoạn tuyệt), Lan (Đẹp), Hồng (Thoátly) đều là những ngời có học (học sinh trờng t thục hoặc cao đẳng) Đến cả một côgái nông thôn nh Mai cũng đợc cha dạy chữ Hán cho từ nhỏ Một cô gái bán hànghoa nh Liên (Ghánh hàng hoa) cũng giúp đợc chồng chép bản thảo Ngay cả Tuyết,cô gái giang hồ (Đời ma gió) cũng biết chữ Pháp Những nhân vật này đều đợc mô tảmột cách trực diện, không qua màn sơng thời gian và sự hiện diện của họ là để đạidiện cho một tầng lớp mới, một xu thế mới của thời đại Các nhân vật này là nhữngcon ngời cá nhân cụ thể Qua ngoại hình, ngôn ngữ, hành động ta thấy đợc tất cảthế giới tâm hồn bên trong phong phú của họ Đặc biệt là ở họ có sự thức nhận sâusắc về cuộc sống và chính bản thân mình Phần lớn là những nam nữ thanh niên đ ợchọc hành chu đáo và đợc tiếp xúc với nền văn hoá mới của phơng Tây nên có cáinhìn mới mẻ về con ngời về cuộc sống Họ thấy đợc những cái gì là lạc hậu, gò épcon ngời trong những khuôn khổ mà trớc đây đợc coi là mẫu mực thì nay bị coi phi
nhân tính, vô nhân đạo Con ngời cá nhân trong tiểu thuyết "Tự lực văn đoàn" đã
mạnh mẽ đấu tranh chống lễ giáo phong kiến để khẳng định vai trò của mình, khẳng
định quyền cá nhân cho mình (Quyền tự do yêu đơng, quyền sống theo khát vọng,quyền đợc tôn trọng ) Họ đấu tranh đòi quyền tự do thể hiện cái riêng t của mình Mỗi nhân vật với một cá tính riêng, một ý thức riêng đã mạnh mẽ thể hiện con ng ờicá nhân của mình Điều này đem đến cho hệ thống nhân vật con ngời cá nhân trong
tiểu thuyết "Tự lực văn đoàn" sự phong phú, đa dạng.
"Hồn bớm mơ tiên" (Khái Hng) đợc xem là tác phẩm mở đầu cho sự nghiệp văn học của Khái Hng đồng thời là tiểu thuyết đầu tiên của "Tự lực văn đoàn" Ngời ta coi đây là "khúc dạo đầu" của phong trào chống lễ giáo phong kiến Với nhân vật
Ngọc và Lan, hai ngời thề yêu nhau dới bóng từ bi của Phật Tổ, yêu nhau trong tâmtởng, "nghĩa là suốt đời tôi, tôi không lấy ai, chỉ sống trong cái thế giới mộng ảo của
ái tình lý tởng, của ái tình bất vong, bất diệt Gia đình! Tôi không có gia đình nữa
Đại gia đình của tôi nay là nhân loại, là vũ trụ, mà tiểu gia đình tôi là hai linh hồncủa đôi ta ẩn núp dới bóng từ bi phật tổ" [40,59]
Trang 21Đến "Nửa chừng xuân"(Khái Hng) là lời tuyên chiến với lễ giáo phong kiến.
Mai dù đã phải trải qua bao gian truân để giữ vững tình yêu chung thuỷ với Lộc nhng
khi đợc bà án (mẹ Lộc) hỏi: "Vậy bây giờ tôi rớc cô về làm chị làm em với mợ
huyện thì cô nghĩ sao?" Mai không do dự mà nói thẳng vào mặt bà án: "Tha cụ,
sáu năm về trớc hình nh tôi đã trình bày với cụ biết rằng nhà tôi không có mả lấy
lẽ tôi cho làm cô thợng không bằng, không sung sớng bằng làm chị xã, chị bếp,chị bồi mà đợc vợ một, chồng một, yêu mến nhau, khi vui có nhau khi buồn cónhau, khi hoạn nạn có nhau" [40,216] Mai nhất quyết không chịu làm vợ lẽ, nghĩa
là cô chống lại cái quan niệm phong kiến "Trai năm thê bảy thiếp" Mai không chỉbiết lên tiếng bốp chát lại mà còn bằng cả hành động: Từ chối làm lè Hàn Thanh, dùhắn là một phú gia khi gia đình nàng gặp khó khăn
Cũng với ý thức chống lại những quan niệm hủ tục khắt khe của lễ giáo phongkiến, nhân vật Hồng (Thoát Ly - Khái Hng) bị bà dì ghẻ "áp chế hành hạ", bắt nàngphải lấy chồng theo ý muốn của bà nhng trong nàng luôn nung nấu một tinh thầnphản kháng: "Thoát ly gia đình, dù phải hy sinh danh dự cũng cam" (Thoát ly,
[40,366] Bị ngăn cản tình yêu, Hồng vẫn quyết tâm chống lại: "Hai ngời sẽ lấy nhau
dù ông Phán bằng lòng hay không cũng mặc kệ" ( Thoát ly, [40,376] Và cuối tác
phẩm, Hồng quyết định bỏ nhà ra đi theo tiếng gọi của trái tim, còn đối với Loan,(Đoạn tuyệt) cô quyết liệt đấu tranh chống lại cái gọi là đại gia đình phong kiến, mà
cụ thể ở đây là gia đình bà Phán Lợi (Mẹ chồng Loan) Ngay khi bớc chân về nhàchồng, Loan đã công khai thách thức với lề thói cổ lỗ của gia đình chồng: đáng lẽ
phải bớc qua cái hoả lò thì Loan lại "vờ nh vô ý lấy chân hất đổ cái hoả lò" trớc sự
trố mắt của mọi ngời Trong buổi lễ tơ hồng, lẽ ra Loan phải ngồi lùi lại sau chồng
thì cô đã "thản nhiên ngồi ngang hàng với Thân" Và trong đêm tân hôn, trớc hành
động ích kỷ, lạc hậu của Thân, Loan đã ví thân phận mình nh "thân phận của gái
giang hồ" Và ngay ngày đầu tiên về làm dâu Loan đã cãi nhau với mẹ chồng, với em
chồng Loan là một cô "gái mới" sống theo những quan niệm mới về gia đình, về
hạnh phúc và về quyền bình đẳng nam nữ Loan ý thức sâu sắc về nhân phẩm, về bảnthân, về mọi ngời xung quanh Loan dám giành quyền cho mình, cho con mình Cô
luôn "ao ớc đợc sống cái đời tự do rộng rãi, không gì bó buộc" (Đoạn tuyệt,
[40.159] Không bó buộc bởi các lễ giáo phong kiến lạc hậu, đợc tự do yêu đơng, tự
Trang 22do sống thật là con ngời mình, sống đúng với cái tôi cá nhân riêng biệt của mình Ao
ớc đó của nhân vật Loan cũng là ao ớc, là ý thức thờng trực ở các nhân vật con ngời
cá nhân trong văn "Tự lực văn đoàn" Theo tờ "Phong hoá" , số 101 (ngày 8/6/1934)
đăng tôn chỉ "Tự lực văn đoàn" gồm 9 điểm, trong đó có một trong năm điểm quan trọng nhất đợc nhấn mạnh là: "Tự do cá nhân" [12,529] "Tự lực văn đoàn" không
đặt vấn đề giải phóng xã hội nhng đã đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, giải phóngbản ngã, đặc biệt đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho quyền sống của ngời phụ nữchống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, đại gia đình phong kiến
Đặc biệt, các nhân vật con ngời cá nhân đã đợc "Tự lực văn đoàn" dành cho
những trang viết đi sâu miêu tả thế giới nội tâm phong phú, với nhiều cảm giác,nhiều cung bậc, trạng thái đa dạng bên trong của tâm hồn Ta thấy một loạt nhân vật
trong "Tự lực văn đoàn" nh: Mai, Dũng, Lộc, Trơng, Hồng, Tuyết thực tế trong
lòng suy nghĩ, nhận thức nhiều khi hoàn toàn khác với con ngời bên trong Đặc biệt,
ở nhân vật Loan (Đoạn Tuyệt - Nhất Linh) Để vui lòng cha mẹ, Loan đã chấp nhậnlấy Thân, mặc dù nàng không hề yêu Thân Và khi đã là vợ Thân rồi, trong đêm tânhôn, thể xác ở bên Thân nhng tâm hồn Loan lại nghĩ về Dũng: "Thân, sau khi đãkhoá cửa cẩn thận, tiến đến sau lng nàng Hai ngời yên lặng hơn một phút đồng hồ Bỗng Loan thấy một bàn tay nhẹ để lên vai nàng Nàng vẫn không quay lại, ngớcmắt nhìn ra ngoài cửa sổ, và lúc đó, hình ảnh Dũng lại hiện ra trong trí t ởng củaLoan rõ rệt nh trông thấy rõ rệt ở trớc (Văn chơng "Tự lực văn đoàn" tập 1 -NXBGD, TPHCM, 1999, Tr.52)
Các nhân vật thấy lòng xao động trớc một buổi chiều thu êm đềm, trớc mộtcánh đồng lúa mát mẻ và ngơ ngẩn buồn khi tiếng chuông chùa ngân lên lúc chiều
muộn Đành rằng các nhân vật trong văn "Tự lực văn đoàn" là những nhân vật đợc
xây dựng theo khuynh hớng lãng mạn tiểu t sản nên không tránh khỏi những tởng ợng đôi khi vợt xa hiện thực cuộc sống nhng dù sao họ cũng đã phản ánh đợc nhữngrung động sâu xa bên trong của thế giới tâm hồn con ngời, mà chỉ đến các nhân vậtcủa văn học hiện đại giai đoạn sau này mới có đợc Dới ngòi bút của các nhà văn
t-"Tự lực văn đoàn" con ngời không còn là một cái gì cứng nhắc, là hiện thân của một
t tởng - đạo đức nh trong văn học phong kiến nữa mà là những con ngời cá nhân cụthể, có thể giới tâm hồn phong phú, có sự nhận thức, ý thức về cuộc sống và với
Trang 23chính bản thân mình Họ cổ vũ cho tự do cá nhân, đấu tranh cho quyền lợi cá nhânmình, khẳng định cái bản sắc riêng của mình và lên án những gì là lạc hậu, gò ép củaxã hội phong kiến để lại v.v Và sự đấu tranh này ngày càng trở lên gay gắt, quyếtliệt Tuy nhiên, khi sự đấu tranh này đã đạt đợc mục đích của mình (dù chỉ có đợc
trong t tởng tôn chỉ của các nhà văn "Tự lực văn đoàn" và bằng một loạt tác phẩm thành công nh Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Con đờng sáng ) thì tiểu thuyết "Tự
lực văn đoàn" nói chung và con ngời cá nhân của họ nói riêng đã đi vào xu hớng vôluân, đồi truỵ, bế tắc Đúng nh nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung trong lời giới
thiệu về bộ "Văn xuôi lãng mạn Việt Nam" đã có kết luận rất xác đáng về văn"Tự lực
văn đoàn" : "Thời kỳ mặt trận dân chủ sự phân hoá của văn học lãng mạn diễn ra rõ
rệt: một mặt họ tiếp tục chủ đề tình yêu, tiếp tục phê phán lễ giáo phong tục gia đình
phong kiến nhng đề cao con ngời cá nhân thoái hoá (Đời ma gió, Trống mái, Đẹp) để rồi cuối cùng sau đó đi vào đồi bại với chủ nghĩa vô luân trắng trợn (Bớm trắng của Nhất Linh, Thanh Đức của Khái Hng) (NXH KHXH, HN, 1989, tr.13)
Nh vậy, con ngời cá nhân trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn từ chỗ là những conngời cá nhân thức tỉnh, nhận thức tiến bộ về cuộc sống và về chính bản thân mình
Họ đấu tranh quyết liệt cho tự do cá nhân, cho quyền lợi của cá nhân mình, cái tôicá nhân riêng của mình và kịch liệt lên án gia đình phong kiến cổ lỗ với những lễgiáo khắt khe, lạc hậu đã dần đi đến chỗ con ngời cá nhân cực đoan, bế tắc và trêntinh thần chung chung
Điều này do hạn chế của thời đại, mặt khác do chính bản thân ngời cầm bút.Các nhà văn Tự lực văn đoàn là những nhà văn mang t tởng cải lơng t sản Họ viếtvăn là để cổ vũ cho những tôn chỉ của mình đặt ra Vì vậy, các tác phẩm của họ phần
đông mang tính chất luận đề t tởng (cổ vũ cho việc cải cách âu hoá, cho tinh thần vui
- khỏe - trẻ trung, mị dân, hớng mọi ngời vào cuộc sống cải lơng t sản) Vì vậy, conngời cá nhân ở đây trở nên không thật lắm, không đời, không mang đúng hơi thở củacuộc sống nh con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam sau 1975, nhất là từ thậpniên 80 trở về sau
1.3 Sự thể hiện con ngời cá nhân trong văn xuôi hiện thực:
Trang 24Vũ Trọng Phụng trong bài bút chiến với nhóm Tự lực văn đoàn đã viết đã viết:
Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết
“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Tôi và các nhà văn cùng chí hớng nh
tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời” (Theo báo Tơng lai, số 9 ngày 25/3/1937).Với
tinh thần đó các nhà văn thuộc trào lu văn học hiện thực phê phán đã nhìn xã hộitrong quan hệ với số phận và ứng xử cá nhân Khi cảm nhận và thể hiện con ngời cánhân, các nhà văn thuộc trào lu này thờng gắi con ngời cá nhân với quyền sống,quyền tồn tại bình đẳng nh những con ngời thực sự chứ không phải sống trong đóikhát trong sự chà đạp, trong sự cùng đờng, trong sự tha hoá nhiều lúc con ngờikhông hơn gì động vật Con ngời cá nhân ý thức về sự bất lực của mình trong cuộc
sống: Từ sự trải nghiệm của mình, L.Tônxtôi đã rút ra Mọi hạnh phúc đều giống“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết
nhau, nhng bất hạnh chẳng ai giống ai” Nhà văn muốn nhấn mạnh đến tính chất đa
dạng về nỗi đau“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” của con ngời
Chị Dậu (Tắt đèn), Tám Bính (Bí võ) Tú Anh Mịch Long (Giông tố) Phú (Vỡ
đê) Phúc (Trúng số độc đắc) Huyền (Làm đĩ) Hộ (Đời thừa), Thứ, San, Oanh (Sống mòn) là những con ngời cá nhân cụ thể mang trong mình những bi kịch khác nhau
trong cuộc đời Bởi vì họ là ngời có học thức, có nhân cách, phẩm chất và đặc biệt là
có sự nhận thức, ý thức về cuộc sống và về chính bản thân mình Ai đó đã từng nói
Bi kịch càng trở nên đau đớn hơn khi con ng
“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ời ý thức đợc nó mà không làm cách gì ngăn cấm nó đợc” Các nhà văn hiện thực đã dành những trang văn cảm động để nói
về sự đau đớn, dằn vặt của con ngời cá nhân trớc những bất lực của mình trớc hoàncảnh
Đọc tác phẩm Tắt đèn“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” của Ngô Tất Tố, chúng ta không chỉ không xúc độngtrớc hoàn cảnh chị Dậu phải đau lòng bán đi đứa con gái mới 7 tuổi đầu, ngoanngoãn, hiếu thảo cho nhà Nghị Quế Chị phải bán con để tránh đợc cái chết đói sẽ
đến nay mai của cả gia đình và nhất là để cứu tính mạng của anh Dậu lúc này, bán đi
đứa con mình đứt ruột đẻ ra, có ngời mẹ nào lại không đau đớn? Nó đau hơn ngànlần nổi đau thể xác mà bọn Hào Lý giáng vào thân xác chị Trong tác phẩm ng ời ta
đã thống kê có tới 25 lăm lần chị phải khóc và rơi nớc mắt xung quanh việc bán cái
Tý (Chỉ mới nghe anh Dậu bàn tới việc bán con nớc mắt chị đã chảy qua gò má“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết
ròng ròng” nhng chỉ dám”Se se gạt thầm nớc mắt ; ” hoặc chị Dậu lại Rơm rớm“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ”
sụt sùi )
“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” con số thống kê này đã nói lên nỗi đau đớn bên trong của chị Dậu Đây
Trang 25là nổi đau của chị đồng thời là nổi đau chung của biết bao ngời dân trớc nạn su thuếtrong cảnh khốn cùng phải bán vợ đợ con trong xã hội cũ Nhà văn Ngô Tất Tố vừathể hiện lòng cảm thông sâu sắc của mình đối với nổi bất hạnh của con ngơì đồngthời đã phần nào thể hiện thế giới nội tâm dằng xé nhiều chiều bên trong của chịDậu Đó cũng là một minh chứng trong việc quan tâm, thể hiện con ngời cá nhân ởnhà văn này.
Cũng nh chị Dậu nhân vật Tám Bính (Bỉ võ – Nguyên Hồng) Nguyên Hồng) phải trải quanhững cuộc dằng xé nội tâm đầy đau đớn trớc sự bất hạnh của cuộc đời mình Đó lànổi đau của một con ngời cá nhân ý thức Từ một cô gái quê xinh đẹp chỉ vì mộtchút lỡ lầm nàng đã bị gia đình, xóm làng ruồng bỏ Rồi nàng sa chân bào nghề làm
đĩ, ăn cắp, những nghề xấu xa nhất của xã hội Từ đó cuộc đời Bính sống trong lo
âu, sợ hãi đủ điều Bất hạnh lớn nhất Bính là hai lần sinh đẻ nhng cha bao giờ đợcquyền làm mẹ Bính muốn có một đứa con mà âu yếm nhng ớc mơ đó không bao giờ
có đợc Bính muốn sống Một cuộc đời trong sạch, êm đềm, dù nghèo“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” nhng không
đợc Tay đã nhúng chàm làm sao rửa sạch ý thức đợc điều này, Bính luôn cảm thấy
đau khổ day dứt,đã bao lần Bính muốn trở lại cuộc đời, muốn khuyên Năm Sài Gònhoàn lơng, nhng ý định đó nằm ngoài sức của cô Xã hội cũ không cho Bính đợcquyền làm ngời bình thờng mà cứ đẩy Bính lâm dần vào vũng bùn nhơ nhớp Cứ mỗi
lần cô thấy ngùn ngụt sự thèm thuống khao khát cuộc đời trong sạch, êm đềm“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” làmỗi lần Bính lại nhớ tiếp một cái gì đó đã mất, một cái gì đó xót xa, đau khổ Càng
ý thức đợc sự bất hạnh của mình, Bính càng thấy đau đớn và nổi đau đó luôn dày xétâm can Bính, Bính phải sống một cuộc đời khốn nạn dài vô tận và thế là hết!
ở những trang viết này Nguyên Hồng đã thể hiện những diễn biến tâm lý khátài tình, tuy rằng đây cha phải là những trang độc thoại nội tâm nhân vật một cáchxuất sắc nhng cũng đã để lại cho nhân vật của mình, ý thức đợc về sự bất hạnh củabản thân
Cũng thể hiện con ngời cá nhân với những chiều sâu của thế giới nội tâm bêntrong nhân vật, ở nhân vật của Vũ Trọng Phụng và nhân vật của Nam Cao là cáinhìn sâu sắc hơn cả
Trang 26Đọc Dứt tình “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” của tác giả Vũ Trọng Phụng ta bắt gặp Huỳnh Đức- một kiểu“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết
ngời dị biệt” ( chữ dùng của T.S Đinh Trí Dũng) với đám đông nhân vật nh yvone,
Việt anh, Tiết Hằng là những kẻ chạy theo dục vọng, mất dần nhân cách có thể nói”
Huỳnh Đức là mộ nhân vật cao thợng đến khó hiểu bởi anh là nhân vật lý t“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ởng”
(chữ dùng của T.S Đinh Trí Dũng), chủ quan, đứng cao hơn hoàn cảnh thờng thấyxuất hiện trong văn học lãng mạn
Huỳnh Đức là kẻ đến sau, đến muộn“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” Trong cuộc đời tiết Hằng đã trải quamối tình với Đào Quân rồi “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyếtquan hệ” với Việt Anh nhng Đức vẫn yêu Hằng chânthành không ghen với quá khứ của vợ thậm chí đối xử với việc vợ vẫn yêu ngời đàn
ông khác bằng sự cao thợng “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyếtquên tôi đi mà sống bằng cái hạnh phúc của ngời màtôi yêu quý và không chỉ có thế Đức còn viết trọng nhật ký “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyếtcác nhà văn hào đềunói rằng ái tình là một môn mỹ thuật, ngời nào muốn đắc thắng trong tình trờng, ít ra
phải có t cách là một “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyếtnghệ sỹ” Đức quả là một thứ “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Nghệ sỹ” đầy lãng mạn trong
con mắt Vũ Trong Phụng Qua những dòng nhật ký đó chứng tỏ Đức là một con ngời
nớc mắt, viết nhật ký cảm động không kém nhật ký Tổ Tông Rõ ràng Huỳnh đức là
một nhân vật cá nhân cụ thể, ở Đức là một thế giới nội tâm thầm lặng nhng phongphú Hơn nữa Đức là con ngời có bản lĩnh, có ý thức – Nguyên Hồng) ý thức về sự khác biệt giữa
mình và những ngừơi tầm thờng xung quanh Câu nói: ”tôi không nh ngời khác đợc”
của Đức đã khẳng định đợc bản lĩnh, sự riêng bịet ý thức của Đức trớc những ngờixung quanh Dù rằng Huỳnh Đức là nhân vật mang tính chất ý tởng của Vũ TrọngPhụng, nhng suy cho cùng đó cũng là một cách thể hiện con ngời cá nhân của nhàvăn
Tú Anh ( Giông Tố) là nhân vật đầy phức tạp và qua nhân vật này Vũ TrọngPhục muốn gửi gắm những triết lý nhân sinh của mình
Trang 27Trong tác phẩm nhà văn miếu tả Tú Anh là ngời chuyên đứng ra sữa chữanhững mảnh đời bất công giảm bớt nỗi đau cho những ngời chịu thiệt thòi mà không
hề cầu lợi Nhng mặt khác, Tú Anh lại là con ngời đầy h vô, khinh bạc đối với conngời không tin vào những điều thiêng liêng vốn có trên đời
Trong quan hệ với ông bố gian ác, thái độ của Tú Anh cũng mang tính haimặt: Vừa khinh bỉ căm tức những hành động tàn ác của Nghi Hách vừa tìm cáchchạy chữa thanh danh cho lão
Và dờng nh mục đích cuối đời của Tú Anh đã gói gọn trong lời khuyên của
ông già Hải Vân “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết đã có học thức, nhân phẩm lại cao lý tởng mà thờ, con sẽ cố gắng
làn những vịệc hữu ích cho dân chúng trong vòng pháp luật, thì làm gì không trở thành con ngời hữu ích.”
Nh đã nói: Tú Anh là nhân vật mà nhà văn Vũ Trọng Phụng gửi gắm nhữngtriết lý nhân sinh của mình ( ) nhng đồng thời qua đó cũng chứng tỏ Tú Anh là mộtngời cá nhân cụ thể , riêng biệt
Khác với Tú Anh, Phú (Vỡ đê) là nhân vật trung tâm xuất hiện từ đầu đến cuối
tác phẩm, là một trí thức Phú không sống trong triết lý “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Khinh bỉ sự đời ,” lại xuấtthân trong một gia đình có truyền thống yêu nớc, anh háo hức với tình hình chính trịtốt trong nớc và trên thế giới Phú mong mỏi những ngời dân quê ngu dốt hiểu thế
nào là “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyếtHội Quốc liên”, “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Chính phủ Xô Viết ,” Đảng xã hội“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” Can đảm hơn, Phú đãtham gia vào việc hộ đê với những ngời nông dân và trở thành ngời lãnh đạo tinhthần của họ Nhng trong khi hăng hái nhập cuộc phong trào chính trị của quầnchúng Phú đã thể hiện sự day dứt trớc thời cuộc của mình Thế giới nội
tâm của Phú đã có sự băn khoăn, giằng xé về cách nhìn nhận con ngời và cuộc đời,Phú thơng xót những ngời dân quê đói khổ nhng Phú cũng khinh họ dốt nát, ngumuội Phú cùng đi biểu tình với nông nhân nhng Phú lại không tin vào sức mạnh của
họ trong cuộc đấu tranh với cờng quyền Và một hệ quả mà mỗi chúng ta đều thấy rõràng: ở nhân vật nào càng phức tạp thì càng chứng tỏ thế giới tâm hồn của họ càngphong phú và họ càng khẳng điịnh đợc bản sắc riêng cuả mình, điều đó càng chứng
tỏ khả năng quan tâm, thể hiện con ngời cá nhân ở mỗi nhà văn
Trang 28Đặt trong tiến trình ấy, trong việc thể hiện con ngời cá nhân, chúng ta khôngthể không nhắc tới Mịch và Long (hai nhân vật chính và là hai hiện thân của hoàncảnh).
Cũng nh Tám Bính ( Bỉ Vỏ - Nguyên Hồng), Thị Mịch đang sống yên ổn trong
cảnh nghèo túng của mình ở một làng quê mà ngời làng ch“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết a ai trông thấy một lọ
n-ớc hoa, cha ai nghe thấy một cái máy hát” thì bỗng nhiên bao nhiêu tai hoạ liên tiếp
đổ lên đầu Mịch - ngời con gái có ớc vọng rất đẹp và giản dị “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyếtăn ở cho hiếu thuận,làm ăn cho chăm chỉ, thấy ai túng thiếu thì không dè dặt cởi ngayhầu bao đa cái
đồng đã để dành trong 10 ngày đã bị quẳng vào cơn lốc xoáy của đời đen bạc Ngòibút "tả chân” của Vũ Trọng Phụng đã hết sức chân thực khi đi sâu vào những chi tiết,những cảnh ngộ cụ thể:( )
Thành công trong ngòi bút tả chân“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” đi cùng với chiều sâu của sự thê hiệntâm lý Trong tâm trạng cô đơn khi nằm ở nhà thơng, xung quanh toàn ngời xa lạ,Mịch vừa đau đớn vừa tủi hổ vì sự trong trắng và trinh tiết không còn nữa, vừa oán
hận vừa trách móc ngời nhà, vừa căm tức cuộc đời độc ác vô cùng “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” Nỗi đau đớnkhiến ”Mịch tủi thân giận đời, chỉ muốn chết” Càng suy nghĩ kỹ lòng Mịch càngdâng lên sự phẫn uất, có pha chút lì lợm của kẻ thù mà “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết lòng tự ái đã bị thơng, nókhông cần biết thế nào là điều hay, lẽ phải nữa” trong tâm trạng ấy Mịch đã bỏ hẳn ýtởng tự tử, đối đáp lại với ông đồ Uẩn những câu nói can đảm, quyết liệt khiến
ông Đồ rất ngạc nhiên vì Mịch không khi nào nói đợc nh thế’ Và Mịch càng cô
đơn trong phòng sang trọng nhng lãnh lẽo khi bị Nghị Hách bỏ rơi sau ngày cới
Sự đầy đủ về thể chất không thể khoả lấp sự xót xa của thân phận lẽ mọn nhàgiàu Trong Mịch lúc này đầy sự mâu thuẫn: Vừa nhớ nhung yêu th ơng, hờn giậnthậm chí căm thù Long; vừa có những suy nghĩ dằn vặt khi thấy mình làm điều gì đókhông phải dù chỉ trong ý nghĩ thấp hèn Có những phút giây sa đoạ về đạo đức dùchỉ trong tởng tợng, và ”Sau những phút ghê tởm kinh hoàng ấy Mịch không phải làkhông hối hận”
Rõ ràng nhân vật Thị Mịch - với t cách là một con ngời cá nhân - đã có thếgiới nội tâm đầy trăn trở, suy t, giằng xé đầy đau xót
Trang 29Cũng nh Mịch, số phận của nhân vật Long có nhiều điểm gần gũi, tơng đồng.Trong mối quan hệ với xã hội, gia đình, ở nhân vật này đều chứa nhiều mâu thuẫn:Căm giận Nghị Hách, kẻ cỡng doạt vợ cha cới của mình, nhng lại phải làm tôi tớ chohắn; yêu thơng Mịch nhng rồi lại hiểu lầm đối xử tệ với thị Cuộc ân ái vụng trộmvới Mịch, trong Long có sự dằn vặt lơng tâm vì biết mình đang làm điều xâu hổ,
chính Long đã nói với Mịch về điều này xếp tôi vào hàng những ngời thất phu bỏ
học, những kẻ mất nhân cách, những kẻ vô lơng tâm Đây là một xung đột đầy kịch
tính trong con ngời Long- Ngời mà tự nhận mình là có “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết nhân cách ” và rất đợc nhâncách ấy Bi kịch này càng đau đớn khi Long biết đợc kẻ đã cớp vợ mình là NghịHách – Nguyên Hồng) cha đẻ của mình Sự thật quá phũ phàng, nhục nhã với những “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết cuộc loạnluân có ý thức và không có ý thức” Long gào thét nh hoá điên: “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyếtTôi? Tôi mà là con
ông Nghị Hách! ồ! Thế thì quá lắm! thế thì là bố hiếp vợ của con, con thông dâmvới vợ của bố rồi anh em ruột” Nỗi đau đớn của sự nhục nhã và sự dằn vặt đã buộcLong phải giải thoát bằn cài chết thê thảm Có thể nói, cha có nhân vật nào trong tiểuthuyết hiện thực phê phán thời kỳ này cảm nhận về sự bất lực bế tắc của số phậnmột cách xót xa, đau đớn nh Long
Nh vậy, ở đây có vần đề thức tỉnh ý thức con ngời cá nhân, cảm nhận về sựnhỏ bé, bất hạnh của bản thân cũng là một biểu hiện có ý thức cá nhân, khi mà conngời cảm thấy trống trải, chơi vơi khi bị cắt đứt những mối dây liên hệ với đồng loại.Vì thế Mịch cảm thấy cô đơn, đau khổ mặc dù đầy đủ vật chất Long tuyệt vọngkhông tìm đợc hạnh phúc dù là con đẻ của nhà t bản giàu có Những hành động pháphách của Long là sự lạc hớng của một thứ chủ nghĩa cá nhân bất lực, không tìm đợc
con đờng giải thoát Nhà ngiên cứu Vơng Trí Nhàn cho rằng ở Long cái ý thức về“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết
cá nhân đã lên đến cực điểm Long mạnh, Long khác ngời vì phần ý thức ấy, nhng
Qua tác phẩm chúng ta cha thấy Long mạnh ở điểm nào, nhng Long quả lànạn nhân” của phần ý thức mất phơng hớng ở đây, sự đào sâu nhận thức về nhậnthức của con ngời đã tạo nên chiều sâu của nhân vật Nhận thức về con ngời cá nhânvới những nỗi đau riêng, với những nỗi niềm sâu kín nh ở Long, ở Mịch cha thấy
xuất hiện ở các nhà văn cùng thời nh Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan qua Tắt“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết
đèn” và B “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ớc đờng cùng ”
Trang 30Trong văn xuôi hiện thực, nếu nh ở các nhân vật: chị Dậu, Tám Bính, Huyền,Phú, Mịch, Long là những nhân vật thức tỉnh đã ý thức sâu sắc về những bật hạnhcá nhân cua mình thì một loạt nhân vật con ngời cá nhân khác nh Hộ, Điền, Thứ,San, Oanh, Hài, của Nam Cao thể hiện nổi đau đớn bất lự trớc cuộc sống mòn vànhững khát vọng cống hiến tài năng nhng không thực hiện đợc.
Trong văn học hiện thực phê phán 1930 – Nguyên Hồng) 1945 không chi các nhân vật củaNam Cao mới có vấn đề tự ý thức Mà các nhân vật Tiểu t sản trong tác phẩm củaThạch Lam, Nguyên Hồng cũng có nhiều phút suy t, dằn vặt đầy cảm động nhng cha
ai đa đợc vấn đề tự ý thức về nhân vật đến mức sâu sắc, thờng trực, nhất quán nhngòi bút Nam Cao
Thứ cũng nh Hộ, Điền, San, Oanh là những trí thức tiểu t sản, luôn ý thức về
địa vị xã hội, về cá nhân về hoàn cảnh, trách nhiệm của bản thân mình trớc cuộc đời
và đặc biệt luôn muốn vơn lên để hoàn thiện nhân cách của mình hơn Nhng chínhsách của chế độ cũ vô cùng ảm đạm khiến họ phải bỏ mình và mòn mỏi dần trongcảnh sống mòn Trong hoàn cảnh đó đã có những ngời sống buông xuôi, luôn thèmkhát những hởng thụ vật chất Những con ngời này không phải không có ớc mơ chânchính nhng cả cuộc đời bị ghì sát đất bởi những dục vọng tầm thờng Đó là kiểu sống
mòn của San Cứ Động nói đến con gái là y õng eọ và chớt nhã“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” cái chất phàmtục của San bung ra trong tiếng cời San “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyếtcời phè một cái ra đằng mũi”, “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyếtcời hở cảlợi”, “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyếtcời ằng ặc”, Còn thứ thì luôn nghĩ mình là ngời trí thức, luôn giữ ý giữ tứ đếnmức nhu nhợc, luôn lặng lẽ quan sát chứng kiến những thói xấu mà ngời trí thức tiểu
t sản thờng mắc phải mà không làm gì đợc Thứ cảm thấy tiếng c“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ời của San thái
Oanh là một kiểu sống mòn nhỏ nhen, ích kỷ, keo kiệt đến độc ác Con ngời ấy cáigì cũng so đo tính toán, khôn đến róc đời, khôn đến quắt queo ngời lại Oanh tínhtoán chi li bớt từng lẽ gạo, từng xu nớc mắn cho từng bữa ăn, tính toán và hết sứctỉnh tào cả trong chuyện tình yêu với Đính, oanh tham tinh toán nên sinh lắm thủ
đoạn, mánh khoé và đầy giả dối trong cuộc sống hàng ngày, trong tình bạn ,tình yêu
và cả trong tiếng khóc, tiếng cời, thứ nhận thấy, Mặc dù Oanh “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyếtđã tít cả hai mắt lại
để cời, trông y vẫn chẳng có vẻ thực tình một tí nào”
Trang 31Những nhân vật trí thức tiểu t sản cứ buông xuôi theo lối sống mòn thảm hạiấy.Thứ chứng kiến hàng ngày, hàng giờ nhng không có cách nào ngăn nó lại đợc.
Và cuộc sống buông xuôi đó đã không loại trừ anh, Thứ với t cách là nhân vậttrung tâm của tác phẩm “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Sống mòn", một điển hình có ý nghĩa sâu sắc của bi kịchchết mòn Thứ bớc vào đời với bao hoài bão, ớc mơ đẹp, nhng thực tế phũ phàng đãgiết chết ớc mơ đó, bất lực phải sống quá loại vật, chẳng còn biết ngoài công việc
"kiếm thức ăn đổ vào dạ dày" Thứ vẫn căm thù khinh bỉ sự nhỏ nhen, ích kỷ, nh ngvẫn cứ sống mãi trong cái ích kỷ nhỏ nhen Thứ thấy chán ghét, ghê tởm cuộc sốngbuồn tủi, đơn điệu, nhng lại cứ nhẫn nhục, cam chịu cuộc sống ấy Thứ luôn khaokhát sự đổi thay và anh tâm niệm rằng: "Sống có nghĩa là thay đổi”, nhng bây giờchính Thứ lại sợ bất cứ cái sự thay đổi nào Thứ muốn sống ngẩng cao đầu, hiênngang, dũng cảm nhng thực tế là một kẻ do dự, hèn nhát Thứ muốn sống có hoàibão, luôn nghĩ đến chuyện to tát vì nhân loại nhng thực tế hành động lại nhỏ nhentầm thờng đối với nhân loại nhỏ, cụ thể ở quanh mình ý thức sâu sắc đợc điều đó,Thứ muốn vơn lên thoát khỏi sự nhỏ nhen tầm thờng của mình mà không đợc Cànggiãy giụa lại càng chìm sâu hơn vào lối sống mòn thảm hại đó Thứ muốn sống khác
họ mà nào có đợc, chất độc ở sâu trong sự sống Nó thấm vào máu phá huỷ tất cảnhững gì tốt đẹp trong con ngời, kích thích trong nó những bản năng hèn hạ Nóbiến Thứ thành kẻ giàu lòng trắc ẩn nhạy cảm trớc nỗi đau của ngời khác, vậy mà
cũng đã có lúc nghĩ mình “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyếtích kỷ” , “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết đồi bại” và : khốn nạn” Chi tiết: Khi nghe tin
Đích ốm nặng, Thứ đã thầm mong” giá Đích chết ngay đi” Và ngay lúc ấy Thứ đã
khóc- những giọt nớc mắt âm thầm và tủi nhục khóc cho” cái chết của tâm hồn ,”thấy rõ cái sự đi xuống của nhân cách mình nhng không thể nào cứu vãn tâm hồn
đau đớn, đau đớn nhng vẫn cứ lặp đi, lặp lại, một cuôcn sống mòn vô nghĩa lí Thứluôn hành động theo sự điều khiển quan điểm tâm lý Do vậy nhân vật này luôn có
sự giắng xé, đấu tranh trong chính nội tâm mình Cuộc đấu tranh vật lộn với bi kịch
vở mộng, với gánh nặng cơm áo và thực tại cay nghiệt xung quanh mình
Hộ – Nguyên Hồng) Nhân vật chính của Đời thừa“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” cũng có ý thứ sâu sắc về sự sống, muốnnâng cao giá trị đời sống của mình, bằng một sự nghiệp có ích cho xã hội Hộ mêvăn, say văn và là nhà văn có tài, có tâm, có hoài bão lớn khát khao đợc cống hiếntài năng của mình cho xã hội Nhng hoàn cảnh sống không cho phép anh làm việc
Trang 32đó Suốt ngày chỉ lo "cơm áo gạo tiền ” Cuộc sống vật chất hàng ngày đè nặng lên
vai anh khiến anh phải viết nhanh viết vội“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” để lấy tiền Và vì viết nhanh viết vội nênphải viết cẩu thả, viết những thứ nhạt nhẽo, vô vị, quấy loãng một thứ văn chơngquá bằng phẳng” còn gì bất công và tận tâm hơn thế Hộ không thể nào tha thứ chomình Cha hết, ở Hộ còn có bi kịch thứ hai đau đớn hơn thế nhiều mà không thể giảithóat nỗi Hộ – Nguyên Hồng) một nhà văn luôn coi tình thơng là nguyên tắc sống của mình thì
chính anh lại vi phạm điều đó Vì tình thơng, Hộ đã "cúi xuống cuộc đời Từ” (Một nhần vật khác cũng trong tác phẩm Đời thừa) nâng đỡ và lấy Từ làm vợ trong khi Từ
gặp hoàn cảnh bất hạnh nhất Nhng từ khi có gia đình, cả một gánh nặng đặt lên vai
Hộ khiến anh không thể thực hiện đợc ớc mơ hoài bão của mình đợc nữa Và quantrọng hơn, Hộ muốn có một không khí, một chỗ yên tĩnh để viết nhng không thể,bởi suốt ngày” Tiếng khóc mếu và quấy khóc” của những đứa con Hộ bỏ đi langthang gặp bạn bè và uống rợu rồi trở về nhà đánh đập vợ con, xong tỉnh dậy lại xinlỗi và hôn vào các con nh một ngời cha tốt biết bao nhiêu lần cảnh đó diễn ra và lặplại nhng không thay đổi đợc Cuộc đời nhân vật Hộ cứ phải triền miên trong những
bi kịch Anh ớc mong một hoàn cảnh khác, một xã hội khác để nơi đó con ngời cóthể cống hiến tài năng và sống đúng nhân cách của mình
Cần nói thêm, sự thức tỉnh này không chỉ là những nhân vật trí thức tiểu t sản,
nh : Thức, Hộ, Long, Mịch mà còn có đợc cả những nhân vật khác nh : Lão Hạc,Chí Phèo hình ảnh một chí Phéo triền miên trong những cơn say, suốt ngày đập
phá, là con quỷ dữ của làng Vũ đại“ Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết ” cũng đã khóc khi nhận từ tay Thị Nở bát cháohành
Rõ ràng, trong việc thể hiện con ngời cá nhân, các nhà văn hiện thực 1930 – Nguyên Hồng)
1945 đã đi sâu miêu tả thế giới tâm hồn bên trong của nhân vật Những giằng xé nộitâm đau đớn, nhiều điều của nhân vật Đồng thời chứng tỏ đó là những con ngời cánhân thức tỉnh Sự thức tỉnh trớc cuộc sống, thức tỉnh về chính mình, đấu tranh chonhững quyền lợi bản chất của bản thân mình
Nhng sự thức tỉnh của các cá nhân con ngời trong văn học 1932 – Nguyên Hồng) 1945 cóphần dễ dãi Một mặt do quy luật tự nhiên của đời sống mặt khác do sự nhận thức vàthể hiện của nhà văn ở họ cha có cái nhìn thấu đáo, toàn diện nhng các nhân vật
Trang 33sau 1975 Bởi vì đã qua sự bầm dập, qua sự "trả giá" và bây giờ đã đến lúc nhận thứclại đời sống, nhìn thẳng sự thật Con ngời thật hơn chứ không phải kiểu nhân vật tựtin nh văn học 1932 – Nguyên Hồng) 1945 cho rằng thay đổi hoàn cảnh thì có thể sẽ hết bi kịch.Thực tế, bi kịch là muôn đời của cuộc sống, chỉ có điều nhà văn nhận thức và thểhiện nó đến mức nào.
Và dù sao đó cũng là một trong những tiêu đề góp phần thể hiện con ng ời cánhân sau này một cách sâu sắc và toàn diện hơn
1.4 Sự vắng mặt con ngời cá nhân trong văn học giai đoạn 1945 - 1975:
Cách mạng tháng 8/1945 đã mở ra trên đất nớc ta một thời kỳ đổi mới Thời
kỳ độc lập, tự do tiến lên CNXH Cùng với sự kiện lịch sự ấy, một nền văn học mới
ra đời Nền văn học đó đợc đặt dới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng cộng sản ViệtNam Nhng giai đoạn 1945 - 1975 là một giai đoạn đặc biệt của lịch sử, cuộc chiếntranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt, muôn triệu con ngời Việt Nam đều chungmột lòng, một nhiệm vụ là giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân Chiếntranh kéo dài suốt 30 năm, điều kiện giao lu văn hóa với nớc ngoài có nhiều hạn chế:thu hẹp trong vùng ảnh hởng của phe xã hội chủ nghĩa, mà trớc hết là Liên Xô (cũ)
và Trung Quốc
Trong hoàn cảnh ấy, nền văn học mới có những đặc điểm riêng và nhữngthành tựu riêng nhng đồng thời cũng có mặt hạn chế của nó; cả nớc muôn ngời nhmột đều phải một lòng đánh giặc đem lại độc lập tự do cho tổ quốc cho nhân dân
Chúng ta phải đánh giặc trên tất cả các mặt trận và "văn hoá văn nghệ cũng là một
mặt trận, các văn nghệ sĩ phải là những chiến sĩ trên mặt trận ấy" (Bác Hồ) Trong
không khí sôi nổi của thời đại, văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 đã xác định
rõ nhiệm vụ của mình:
1.4.1 Một nền văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu:
Đáp ứng yêu cầu lịch sử đất nớc, văn nghệ phải thực hiện nhiệm vụ hàng đầu
là phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu Không khí cách mạng và kháng chiến đã khơidậy mạnh mẽ tinh thần công dân của những ngời cầm bút Lợi ích cách mạng phải
đặt lên trên hết Mất nớc là mất tất cả, văn học trớc hết phải là vũ khí chiến đấu Với
ý thức đó, các thế hệ nhà văn trong 30 năm ấy đã xây dựng nên một nền văn học
Trang 34"Xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học, nghệ thuật chống
đế quốc trong thời đại ngày nay" (Báo cáo chính trị của BCH TW Đảng tại Đại hội
ĐCSVN lần thứ IV) Phản ánh và phục vụ cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện Lýtởng độc lập tự do, tinh thần giết giặc, thái độ với CNXN, đó là tiêu chuẩn cao nhất
để đánh giá con ngời Các vấn đề t tởng, những mâu thuẫn riêng chung đều phải đợcphán xét theo tiêu chuẩn ấy Cũng vì vậy, những gì thuộc về riêng t, cá nhân đều bịgạt bỏ, bị cho là lạc lỏng, không phù hợp Con ngời cá nhân không đợc quan tâmchú ý.Con ngời trong văn học chủ yếu là con ngời của lịch sử, của sự nghiệp chung,của đời sống cộng đồng Tất cả đều hoà trong cái ta chung của cộng đồng, của dântộc Và tất nhiên, nhân vật trung tâm lúc này phải là ngời chiến sỹ trên mặt trận vũtrang và những lực lợng trực tiếp phục vụ chiến trờng: bộ đội, giải phóng quân, dânquân du kích, dân công, thanh niên xung phong Đó là những con ngời đứng ở mũinhọn nóng bỏng nhất của cuộc chiến đấu vì lợi ích chính trị thiêng liêng của tổ quốc:
độc lập, tự do và CNXH
Một nền văn học phục vụ chính trị, nên trong quá trình vận động phát triểnhoàn toàn ăn nhịp với từng bớc đi của cách mạng, theo sát từng nhiệm vụ chính trịcủa đất nớc: ngợi ca cách mạng và cuộc sống mới; cổ vũ kháng chiến, theo sát từngchiến dịch, biểu dơng các chiến công, phục vụ cải cách ruộng đất, xây dựng MiềnBắc XHCN, phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nớc; cổ vũcao trào chống Mỹ cứu nớc của toàn dân tộc Có thể nói, nếu đánh giá văn học
1945 - 1975 theo nhiệm vụ lịch sử của nó phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu thì vănhọc giai đoạn này đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình
Tuy nhiên, mặt hạn chế tất yếu của giai đoạn văn học 1945 - 1975 là chỉnghiêng về cổ vũ, ngợi ca những chiến công, những thắng lợi Tất cả chỉ tập trungcho cộng đồng, cho dân tộc mà vô tình hoặc cố tình đã bỏ qua những phơng tiện đời
t, đời thờng Con ngời cá nhân không đợc văn học quan tâm chú ý, có chăng một vàinhân vật cá nhân nh Mị (vợ chồng A phủ - Tô Hoài); Hoàng (Đôi mắt - Nam Cao)những nhân vật đó cũng vẫn nằm trong văn mạch của văn học lúc bấy giờ là tuyêntruyền chính trị, cổ vũ chiến đấu, ít nhiều có viết về con ngời cá nhân nhng chủ yếu
là để tô đậm thêm trách nhiệm công dân nhân vật Trong lúc đó, con ngời cá nhânvẫn tồn tại, cuộc sống của mỗi con ngời vẫn diễn ra, dù nó nằm trong không khí
Trang 35của thời đại là tất cả giành cho dân tộc, cho cộng đồng, cả n ớc cùng một nhiệm vụ
là đánh giặc và thắng giặc Con ngời với thế giới tâm hồn bên trong vô cùngphong phú, đa dạng, phức tạp bao giờ vẫn tồn tại nhng cả một giai đoạn dài (1945
- 1975) nó ít đợc văn học đề cập đến Xét ở góc độ phản ánh cuộc sống của conngời và con ngời trong ý nghĩa đủ đầy của nó thì đây là một hạn chế, một thiếusót của văn học 1945 - 1975 Văn học sau này, khi chiến tranh kết thúc, ngời ta có
điều kiện nhìn nhận lại sẽ thấy đó thật sự là một sự thiếu sót
1.4.2 Văn học 1945 - 1975 còn là một nền văn học hớng về đại chúng trớc hết
là công nông binh Hồ Chủ Tịch từng nói (cũng là để xác định rõ đối tợng và mục
đích viết cho những ngời cầm bút): "Viết cho ai? - Viết cho đại đa số: công - nôngbinh Viết để làm gì? - Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình, để phục vụ quầnchúng" (Văn Hồ Chủ Tịch - NXB GD - 1971 Tr 240) Đại quần chúng vừa là đối t-ợng thể hiện vừa là công chúng của văn học, đồng thời cũng là nguồn cung cấp lực l-ợng sáng tác cho nó Mặt khác, viết về đại chúng không thể không nói đến công laocủa cách mạng đã thay đổi số phận của họ Một chủ đề nổi bật khác cảu văn học
1945 - 1975 là khẳng định sự đổi đời của nhân dân nhờ cách mạng ấy là sự đổi đời
từ thân phận nô lệ, làm thuê cực khổ, trở thành ngời làm chủ, tự do nh Mỵ (vợ chồng
A phủ - Tô Hoài), Đào (Mùa lạc - Nguyễn Khải), Vợ nhặt của Kim Lân đó cũng là
sự phục sinh về tinh thần, từ chỗ mê muội, thậm chí lạc đờng (do XH cũ hoặc tác
động của địch) đến chỗ đợc giải phóng về t tởng, đợc thanh thoát về tâm hồn (mộtloạt tác phẩm nh: "Làng" của Kim Lân, "Đứa con nuôi" của Nguyễn Khải, "Anhkeng" của Nguyễn Kiên, "Xoè" của Nguyễn Tuân, "Bão biễn" của Chu Văn, "Đôimắt" của Nam Cao
1.4.3 Đặc điểm nổi bật hết sức quan trọng của văn học 1945 - 1975 là: Một
nền văn học chủ yếu đợc sáng tác theo khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Ra đời và phát triển trong không khí sục sôi cách mạng và cuộc chiến tranh áiquốc vĩ đại chống Pháp, chống Mỹ vô cùng ác liệt và kéo dài, gian khổ, hi sinh vănhọc Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 trớc hết không phải văn học của những số phầncá nhân mà là tiếng nói của cả một cộng đồng dân tộc trớc thử thách quyết liệt Tổquốc còn hay mất, độc lập tự do hay nô lệ, ngục tù? Lúc này văn học là của những sựkiện lịch sử, của số phận toàn dân, của chủ nghĩa anh hùng Nhân vật trọng tâmkhông phải là những cá nhân riêng biệt, đại diện cho cá nhân mình mà phải là nhữngcon ngời gắn bó số phận mình với số phận đất nớc và kết tinh những phẩm chất caoquý của cộng đồng Đó là hình ảnh những con ngời tiêu biểu nh chị Trần Thị Lý, anh
Trang 36Nguyễn Văn Trỗi, anh hùng Núp, Đấy là những nhân vật trớc hết đại diện cho giaicấp, cho dân tộc và thời đại chứ hoàn toàn không thuộc về riêng t ở họ sẽ có phúthao hao giống nhau là đều yêu nớc, căm thù giặc, sống kiên cờng bất khuất và sẵnsàng hi sinh cho tổ quốc, co lẽ phải chung (kiểu nhân vật này đến giai đoạn văn học
từ thập niên 80 trở về sau ít đợc nói đến, thay vào đó là những số phận cá nhân củacuộc sống đời thờng với đủ mọi cung bậc, phong phú đa dạng đúng với bản chất conngời trong cuộc sống hơn)
Lúc này đối với ngời cầm bút cũng vậy Nhân danh cộng đồng mà ngỡng mộ,ngợi ca ngời anh hùng với những chiến công chói lọi Tố Hữu nhìn chị Trần Thị Líkhông phải nh một cá nhân của một miền quên, một gia đình mà nh một "Ngời congái Việt Nam" với trái tim vĩ đại, không phải đập "cho em" mà "cho lẽ phải trên
đời" Cái cá nhân, cái riêng t cơ hồ mất vị trí trong cảm quan thẩm mỹ Nhà thơ nhìn
Tổ quốc mình bằng "con mắt Bạch Đằng, con mắt Đống đa ", nghĩa là con mắt của
lịch sử, của dân tộc chứ không phải đợc nhìn bằng con mắt cá nhân nh văn học giai
đoạn sau Những anh Núp của Nguyễn Ngọc, chị út của Nguyễn Thi, ông Tám Xẻo
Đớc của anh Đức, bà mẹ đào hầm của Dơng Hơng Ly, anh giải phóng quân trên sânbay Tây Sơn Nhất của Lê Anh Xuân đâu phải chỉ là những cá nhân Đó là "Đất nớc
đứng lên", là những "Ngời mẹ cầm súng", là sự vùng dậy dữ dội của Đất, là sứcmạnh vô tận của "Đất quê ta mênh mông", là "Dáng đứng Việt Nam tạc vào thếkỷ" Khuynh hớng sử thi đã chi phối phần lớn nền văn học Việt Nam từ 1945 -
1975 thuộc các thể loại khác nhau
Khuynh hớng sử thi gắn liền với cảm hứng lãng mạn, có thể gọi là chủ nghĩalãng mạn anh hùng Dờng nh con ngời giai đoạn lịch sử này tuy đứng giữa thực tại
đầy đau khổ nhng tâm hồn luôn hớng về lý tởng về tơng lại Đó là nguồn sức mạnhtinh thần to lớn khiến họ có thể vợt lên mọi thử thách tạo nên những sự tích phi th-ờng:
"Xẻ dọc Trờng Sơn đi cứu nớc
Mà lòng phơi phới dậy tơng lai!"
(Tố Hữu)
Trong chiến đấu ngời ta nghĩ đến ngày chiến thắng, trong khó khăn thiếu thốnnghĩ đến ngày độc lập, tự do và CNXH Bằng cảm hứng lãng mạn cách mạng, bằngniềm tin phơi phới vào tơng lai, dờng nh ngời ta quên đi những gian khổ hi sinh,những hoàn cảnh nghiệt ngã nhất của chiến tranh Cho nên "Đờng ra trận là mùa nay
đẹp lắm" (Phạm Tiến Duật), những cuộc chia ly cũng "chói ngời sắc đỏ" (NguyễnMỹ)
Trang 37Trong văn xuôi từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến bút ký, tuỳ bút (kể cả kịch bảnsân khấu) cũng đều đợc viết bằng cảm hứng lãng mạn, giàu chất thơ và hớng vận
động của cốt truyện, của số phận nhân vật, của dòng cảm nghĩ của tác giả hầu nh
đều đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ hiện tại đến tơng lai đầyhứa hẹn
Những đặc điểm trên đây, nhìn trên tổng thể, đã tạo nên những nét cơ bản củadiện mạo văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 văn học ở vào một giai đoạn lịch
sử đặc biệt: 30 năm đất nớc có chiến tranh Muôn ngời nh một đều chung một lòngcứu nớc bởi vì "mất nớc là mất tất cả" Văn học vận động và phát triển trong hoàncảnh đặc biệt đó đã tạo ra một hệ quả tất yếu là một nền văn học cổ vũ chiến đấu,một nền văn học hớng về đại chúng và nền văn học đó đợc viết theo khuynh hớng sửthi và cảm hứng lãng mạn Nhà văn với t cách công dân, nhân danh cộng đồng luôntheo sát những diễn biến của lịch sử đất nớc để ngợi ca, cổ vũ tinh thần chiến đấucủa nhân dân những tác phẩm mà các nhà văn viết ra ở giai đoạn này có tác dụng
động viên, cổ vũ bao lớp thanh niên lên đờng chiến đấu, tránh đợc những bi quan, bikịch và tập hợp đợc lực lợng chiến đấu góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộcchiến tranh vệ quốc vĩ đại Văn học Việt Nam 1945 - 1975 chủ yếu là ngợi ca nhữngchiến công mà ít đề cập đến những mặt khác của đời sống Giai đoạn 1945 - 1975cũng đã có những tác phẩm viết về đời t đời thờng và không có giọng điệu sử thi Cónhững trang truyện ký viết theo cảm hứng hiện thực chủ nghĩa có những đề tài lạc rabên lề của những nhân vật chính trị trọng đại của đất nớc
- Có những cách hành văn không nhằm vào đối tợng đại chúng công nông nghĩa là ở một số ngời cầm bút lúc bấy giờ ít nhiều đã có ý thức viết về phơng diện
đời t, đời thờng nhng những tác phẩm đó đã nhanh chóng bị bỏ rơi, trở lên lạc lõngkhông có đất để phát triển Một nền văn học để cổ vũ chính trị, cổ vũ chiến đấu tấtnhiên phải nói nhiều đến thuận lợi hơn là khó khăn, về chiến thắng hơn là thất bại, vềthành tích hơn là tổn thất, về cái vui hơn là nỗi đau, cái buồn, về hi sinh hơn là hởngthụ Thêm vào đó, nhận thức ấu trĩ của nhiều cây bút và quan điểm giai cấp khiến sựthể hiện con ngời có phần đơn giản, sơ lợc Ngời anh hùng không thể có tâm lý phứctạp, con ngời chỉ có tính giai cấp không thể có tính nhân loại phổ biến Đặc biệt conngời cá nhân hầu nh không đợc quan tâm thể hiện Trong lúc đó cuộc sống của conngời dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng vẫn là cuộc sống của con ngời, vẫn phải có đủmọi nhu cầu cả về vật chất lẫn tinh thần, vẫn phải sống đúng bản chất con ngời, cảthế giới bên ngoài và thế giới tâm hồn bên trong Nhng văn học Việt Nam giai đoạn
Trang 381945 - 1975 hầu hết không đề cập đến Nhiều tác phẩm thể hiện con ngời và cuộcsống một cách đơn giản, xuôi chiều, phiến diện.
1.5 Sự trở về của con ngời cá nhân trong văn xuôi sau 1975:
30 năm chiến tranh, Việt Nam phải trải qua bao gian khổ hi sinh nhng cuốicùng đã làm nên kỳ tích vĩ đại Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc thắnglợi vẻ vang, mở ra kỉ nguyên mới của cách mạng Việt Nam, kỷ nguyên đất nớc độclập, thống nhất, đi lên CNXH
Lịch sử sang trang, chuyển từ đời sống bất bình thờng (chiến tranh) về vớicuộc sống bình thờng (đời thờng) cuộc sống đời thờng vơí bao nhu cầu, mọi cáikhông nh 30 năm trớc đó nữa
Nếu nh trớc đây trong hoàn cảnh chiến tranh, muôn ngời nh một đều tập trungmột lòng một sức để đánh giặc và thắng giặc Nghĩa là tất cả vì cộng đồng, vì cáichung thì nay trở về với cuộc sống đời thờng với những lo lắng thờng ngày của cuộcsống, trở về với quy luật bình thờng của nó Con ngời phải đối mặt với bao nhiêu vấtvả khó khăn và đầy biến động, đổi thay của thời kỳ hậu chiến Nếu nh trớc đây tronghoàn cảnh chiến tranh, muôn ngời nh một đều tập trung một lòng, một sức để đánhgiặc và thắng giặc thì nay tất cả trở về với những gì riêng t nhất, đi sâu vào đời sốngriêng của từng con ngời, từng cá nhân cụ thể
Trong chiến tranh, cái chung đợc chiếm u thế Ngời ta nhờng chỗ, tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho cộng đồng, cho tập thể, cho dân tộc để tạo nên sức mạnhtổng hợp để hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nên những gì thuộc về cánhân, riêng t đều bị xem là nhỏ nhặt, bỏ qua hoặc không cần chú ý đến Nếu cóchăng thì nó cũng trở nên lạc lõng, lạc loài, không hợp thời, thì thời hậu chiến, chínhnhững cái đó lại đòi hỏi và trở thành nhu cầu cấp thiết, chính đáng Nếu nh trớc đâyngời ta nhìn cuộc sống bằng con mắt lạc quan, sôi nổi, luôn luôn nghĩ về ngày maichiến thắng và tin tởng vào tơng lai đầy hứa hẹn thì nay ta không thể nhìn cuộc sốngmột chiều một cách đơn giản nh cũ Bởi vì cuộc sống của con ngời vốn dĩ vô cùngphong phú và phức tạp Nếu vẫn giữ "đôi mắt cũ" để nhìn, để quan sát e giả dối,không thật nữa Điều này ảnh hởng không nhỏ đến t tởng và sự nhận thức của nhàvăn
Nếu nh trớc đây con ngời trong văn học là những con ngời chung của cộng
đồng, của dân tộc Mỗi cá nhân có đợc miêu tả, đợc nói đến suy cho cùng họ cũngchỉ đứng ở t cách công dân để cất lên tiếng nói và hành động cho dân tộc, cho cộng
đồng thì nay là những con ngời cá nhân cụ thể, riêng biệt, cất lên tiếng nói cho chính
Trang 39mình Và mỗi cá nhân là một cuộc sống riêng, không ai giống ai, không thể lẫn lộnngời này với ngời kia.
Trớc thực tế cuộc sống đó khiến những ngời cầm bút không thể tiếp tục viết
theo cách cũ, không thể nhìn cuộc sống và con ngời bằng "đôi mắt cũ" mà phải đặt
nó trong sự biến động, đổi thay, phức tạp, đầy vất vả khó khăn và cũng nhiều mặttích cực của nó Đứng ở góc độ lý luận mà xét: Văn học phản ánh cuộc sống, khicuộc sống đã thay đổi thì buộc văn học cũng phải thau đổi Nhà văn phải có mộtcách viết phù hợp để phản ánh chân thực, đúng nh bản chất vốn có của cuộc sốngchứ nhà văn không thể viết theo nó phải có Văn học chuyển từ khuynh hớng sử thi,lãng mạn sang cái nhìn thế sự, đời t Văn học vì con ngời và cho ngời Ngời ta quantâm nhiều đến số phận con ngời Bởi vì xét cho cùng, bất cứ thời nào hạnh phúc củacon ngời cũng cần phải đặt lên hàng đầu đó mới là thứ văn học nhân văn nhất và mỗicon ngời cũng sống thật với mình hơn, sống thật là cuộc sống của con ngời Mỗi cánhân con ngời đợc soi chiếu từ nhiều góc độ, đợc nhìn nhận, đánh giá một cách sâusắc hơn trong ý nghĩa đủ đầy của nó Đó cũng là lý do giải thích vì sao văn học ngàycàng nói nhiều đến vấn đề thân phận của con ngời, đề cập đến số phận của từng cánhân cụ thể Nhà văn thể hiện con ngời cá nhân nhiều hơn và đó đồng thời ra một đềtài phong phú, phức tạp có tính lịch sử lâu dài để các nhà văn khai thác
Đứng về phía tâm lý bạn đọc mà xét Trong hoàn cảnh hoà bình, cuộc sống
khác trớc, nhận thức của độc giả về cuộc sống xung quanh và nhất là cuộc sống củachính họ là không thể nh trớc Những trang văn đợc viết ra trớc đó có cái gì e khôngthật nữa và nhu cầu thẩm mỹ của họ cũng đã thay đổi Công chúng đòi hỏi mỗi nhàvăn phải đáp ứng sự tìm hiểu hiện thực của cuộc sống, của đất nớc, của con ngời mộtcách toàn diện chứ không phải một chiều, một mặt nh văn học giai đoạn 1945 -
1975 Hoàn cảnh cuộc sống mới và nhu cầu đòi hỏi mới của độc giả buộc nhà vănphải có sự chuyển biến trong t tởng, trong nhận thức, phải thay đổi theo cách viếtnếu không anh ta sẽ bị độc giả lãng quên và quy luật đào thải của văn học
Mặt khác, ngời ta nhận thấy đã đến cần trả văn học về đúng bản chất của nó:Văn học với t cách là một nghệ thuật Nó phản ánh đời sống bằng hình tợng, thôngqua hình tợng, văn học giai đoạn 1945 - 1975 là văn học nhằm tuyên truyền chínhtrị, cổ vũ chiến đấu Một nền văn học chủ yếu để phục vụ cho mục đích chính trị,nhà văn buộc phải viết những điều cuộc sống phải có chứ không phải viết nh nó vốn
có Dờng nh văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 có sự trở lại với lối viết củacác nhà văn thời trung đại Đó là thứ văn học mang tính chất quan phơng
Trang 40Tác phẩm văn học nó có cuộc sống độc lập riêng của nó Văn học là nghệthuật ngôn từ Nhà văn phản ánh cuộc sống hiện thực không phải bằng cách sao chépmáy móc y nguyên cuộc sống, nhìn cuộc sống một cách dễ giãi, đơn giản Bởi cuộcsống vốn bên cạnh những mặt tích cực, tốt đẹp còn có những mặt hạn chế, mặt cha
đợc, còn khiếm khuyết Những cái dở vẫn tồn tại vẫndiếm ra hàng ngày, bao vấn đềmới nảy sinh
Bên cạnh những tác phẩm biểu dơng, ca ngợi những nét đẹp của chủ nghĩa anhhùng cách mạng trong đấu tranh và trong xây dựng, còn phải có những tác phẩmphản ánh những mặt trái của cuộc sống, những mặt tiêu cực nổi cộm của xã hội,những tổn thất nặng nề do chiến tranh mang lại Văn học cần phải đề cập đến cảnhững cái đau buồn, cái bi trong cuộc sống; từ chuyện đời t, đời thờng, chuyện tìnhyêu, tình dục đến tâm t, nguyện vọng của từng số phận cá nhân cụ thể
Những điều đó đã ảnh hởng không nhỏ đến t tởng và nhận thức của văn nghệ
sĩ về hiện thực khác với giai đoạn trớc các nhà văn viết vào giai đoạn 1975 trở về sauphải có sự thay đổi trong t tởng, trong nhìn nhận về con ngời, về cuộc sống và cáchthể hiện khác trớc Đối tợng chủ yếu và là trung tâm chú ý của văn học Việt Namgiai đoạn 1945 - 1975 là con ngời mới, con ngời anh hùng, con ngời chung của dântộc, của cộng đồng Con ngời chỉ có tính giai cấp và tính giai cấp quy định mọi phẩmchất khác Họ là mẫu hình lý tởng của một thời kỳ vinh quang và oanh liệt Những
con ngời của một sự nghiệp chung, xả thân vì nghĩa lớn, vì tập thể Khẩu hiệu "Mình
vì mọi ngời, mọi ngời vì mình" là lẽ sống đạo đức của con ngời trong văn học sử thi
giai đoạn 1945 - 1975 Họ xuất hiện qua các trang văn, vần thơ nh là sự đại diện trọnvẹn cho vẻ đẹp của đất nớc, cho lý tởng và lơng tâm, khí phách của thời đại Họ đẹpmột cách hoàn thiện, hoàn mỹ nh những viên ngọc không có tì vết, luôn nén tìnhriêng vì sự nghiệp chung ít có những nhân vật chính có sự dằn vặt, cô đơn, đau đớntrong tính toán, trong sự mất mát, trong sự riêng t Con ngời cá nhân cha trở thànhmột đối tợng thẩm mỹ của văn học giai đoạn 1945 - 1975 Văn học 1945 - 1975 hầu
nh bỏ quên con ngời đời thờng Một giai đoạn văn học hầu nh chỉ xây dựng 2 tuyếnnhân vật: Chính diện - phản diện, ta - địch, tích cực - tiêu cực Con ngời đợc miêu tảrạch ròi, dứt khoát giữa cái tiên tiến và cái lạc hậu, giữa tính cách cao cả và sự đớnhèn Rất hiếm những nhân vật có sự đan xen giữa các mặt tốt - xấu trong phẩm chất,
đạo đức, lẫn lộn phức tạp trong tâm hồn
Một điều dễ nhận thấy là cả giai đoạn văn học Việt Nam 1945 - 1975 hầu nhchỉ có những mẫu ngời nhất định Xấu hoặc tốt, yêu nớc hoặc phản bội đi theo giặc,anh dũng hoặc đớn hèn khiến cho nhân vật trong văn học giai đoạn 1945 - 1975 là