1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân cư của thành phố vinh (nghệ an) từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 10 năm 2008

91 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Thay Đổi Về Địa Giới Hành Chính Và Dân Cư Của Thành Phố Vinh (Nghệ An) Từ Tháng 9/1945 Đến Tháng 10/2008
Tác giả Nguyễn Thị Lý
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Nguyễn Quang Hồng
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 605 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thay đổi địa giới hành chính của thành phố Vinh trong thời gianqua kéo theo sự thay đổi về dân c và có ảnh hởng đến những vấn đề quản lý đất đai, bố trí lại các vùng dân c, phát tr

Trang 1

Tiến sĩ Nguyễn Quang Hồng, ngời thầy đã giúp đỡ, chỉ bảo cho tôi trong

suốt quá trình làm luận văn Tôi cũng xin đợc gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo trong khoa đào tạo Sau đại học, khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh, các phòng ban chức năng cùng gia đình và bạn bè, đồng nghiệp

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.

Do năng lực và nguồn t liệu có hạn nên luận văn của tôi chắc chắn

sẽ không tránh khỏi những sai lầm thiếu sót Tôi rất mong nhận đợc sự góp ý của thầy cô, gia đình, bạn bè.

Trang 2

sự thay đổi đó có ảnh hởng không nhỏ đến đời sống kinh tế – vật chất, tinhthần của các thế lực c dân c trú nên phạm vi địa giới hành chính cũ cũng nh ởphạm vi mới vừa thay đổi Do đó, nghiên cứu về những thay đổi địa giới hànhchính, dân c của một vùng, miền là một trong những đề tài tơng đối mới nhng

có giá trị to lớn cho việc nghiên cứu lịch sử dân tộc nói chung Đề tài này tuymang tính chất địa phơng nhng nhằm góp phần nhỏ bé vào mục đích chung

đó

1.2 Về mặt thực tiễn

Từ năm 1945 – 2008 trải qua hơn 6 thập kỷ, thành phố Vinh – Bếnthuỷ, thị xã Vinh, thành phố Vinh… đều có những thay trải qua nhiều tên gọi, phạm vi khônggian địa lý của thành phố, thị xã cũng có nhiều thay đổi Từ việc tiêu thổkháng chiến (1946 – 1947) xoá bỏ toàn bộ cơ sở hạ tầng của thành phố Vinh– Bến Thuỷ đợc Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ XIX đến khi cách mạng thángTám bùng nổ, đến việc tản c trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và cảviệc xây dựng lại thành phố Vinh trong chiến tranh phá hoại của đế quốc

Mỹ… đều có những thay đến khi Vinh trở thành đô thị loại I (10/2008) Những biến động, thay

đổi dồn dập đó của lịch sử thành phố gắn liền với lịch sử dân tộc Đề tài gópphần vào việc nghiên cứu một cách có hệ thống toàn diện những thay đổi về

địa giới hành chính, dân c ở thành phố Vinh nhằm góp phần làm lấp mộtkhoảng trống trong nghiên cứu lịch sử địa phơng lâu nay

Những thay đổi địa giới hành chính của thành phố Vinh trong thời gianqua kéo theo sự thay đổi về dân c và có ảnh hởng đến những vấn đề quản lý

đất đai, bố trí lại các vùng dân c, phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, bốtrí lại cán bộ quản lý… đều có những thay Do đó đề tài không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứunhững thay đổi về địa giới hành chính, dân c mà phạm vi nội dung của đề tàicòn đợc mở rộng sâu hơn nhằm tạo dựng lại bức tranh toàn cảnh bớc đờngphát triển của một thành phố từ đổ nát hoang tan của chiến tranh phá hoạithành đô thị loại I với vị thế là trung tâm kinh tế – chính trị – văn hoá - xãhội của cả vùng Bắc Trung Bộ

Ngoài những nét riêng trong quá trình phát triển từ 1945 – 2008 thìVinh còn mang nét chung của hệ thống các thành phố - đô thị ở nớc ta trongquá trình hình thành phát triển kể từ nửa sau thế kỷ XX đến nay Do đó nghiêncứu về những thay đổi về địa giới hành chính, dân c ở thành phố Vinh là góp

Trang 3

phần vào việc nghiên cứu về hệ thống đô thị ở nớc ta Đây là một vấn đề đang

đợc giới sử học đặc biệt quan tâm

Với những lý do nh trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Sự thay đổi“Sự thay đổi

về địa giới hành chính và dân c của thành phố Vinh (Nghệ An) từ tháng 9/1945 đến tháng 10/2008” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về thành phố Vinh nói chung và vấn đề địa giới hành chính,dân c của thành phố nói riêng là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu củanhiều nhà khoa học, nhiều công trình có tầm quan trọng

Tác giả Nguyễn Quang Hồng trong công trình Thành phố Vinh “Sự thay đổi – quá trình hình thành và phát triển từ 1804 đến 1945” đã nghiên cứu một cách toàn

diện, công phu, có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của thànhphố Vinh từ đầu thế kỷ XIX đến khi cách mạng tháng 8 năm 1945 bùng nổ

thắng lợi Trong công trình Lịch sử mặt trận tổ quốc Việt Nam thành phố“Sự thay đổi

Vinh 1930 2005 ,” Tiến sĩ Nguyễn Quang Hồng cũng có đề cập ít nhiều vềquá trình thay đổi địa giới hành chính, dân c ở Vinh sau cách mạng tháng 8năm 1945 đến 2005, Khi nghiên cứu về kinh tế Nghệ An từ 1885 – 1945 tácgiả Nguyễn Quang Hồng cũng đề cập đôi nét về những thay đổi địa giới hànhchính, dân c trên địa bàn Bến Thuỷ – Vinh

Trong cuốn Lịch sử thành phố Vinh ,“Sự thay đổi ” tập 2 (1945 – 1975) của NxbNghệ An năm 2003 do Phạm Xuân Cần – Bùi Đình Sâm chỉ đạo biên soạn,trong cuốn sách này tác giả đã phản ánh một cách trung thực các sự kiện liênquan đến thành phố Vinh từ khi thực dân Pháp trở lại xâm lợc đến ngày khángchiến chống Mỹ kết thúc, trong đó có đề cập đến vấn đề địa giới hành chính,dân c ở thành phố Vinh trong kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954) vàkháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

Trong cuốn Vinh “Sự thay đổi – thành phố quê h ơng Bác Hồ” do tác giả Bùi Thiết,

biên soạn với sự cộng tác của Uỷ ban nhân dân thành phố Vinh và Nxb Ngoạivăn Hà Nội năm 1986 thì tác giả đã trình bày về vấn đề địa giới hành chính,diện tích tự nhiên, dân c của thành phố Vinh ở thời điểm tiến hành công cuộc

Trang 4

giả cũng trình bày thực trạng vấn đề dân số việc làm của thành phố trongphạm vi nghiên cứu của đề tài.

Bên cạnh đó còn có các Nghị quyết, Quyết định của Chính phủ nh:Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 02/01/1998 của Thủ tớng Chính phủphê duyệt định hớng quy hoạch tổng thể đô thị Việt Nam đến năm 2020 Nghịquyết số 72/2001/NQ-CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ về việc phân loại đôthị và cấp quản lý đô thị Quyết định số 3588/QĐ-UBND ngày 20/09/2007của UBND tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt đề án phát triển thành phố Vinhlên đô thị loại I; Nghị quyết số 215/NQ – Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ Anngày 14/12/2007 về việc thông qua nội dung đề án điều chỉnh quy hoạch xâydựng thành phố Vinh đến năm 2025 Nghị quyết số 219/2008/NQ-HĐNDngày 18/06/2008 của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An về việc thông qua đề

án công nhận thành phố Vinh là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Nghệ An Đặcbiệt Nghị định 45/2008/NĐ-CP ngày 17/04/2008 của Chính phủ về việc điềuchỉnh địa giới hành chính các huyện Hng Nguyên, Nghi Lộc để mở rộng địagiới hành chính thành phố Vinh, thành lập phờng Vinh Tân thuộc thành phốVinh

Ngoài ra trong quá trình chuẩn bị đón nhận danh hiệu đô thị loại I củathành phố Vinh đã có nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu nh: Kỷ niệm

220 năm Phợng Hoàng – Trung Đô, 45 năm thành phố Vinh và chuẩn bị đónnhận đô thị loại I của báo Kinh tế, số 68 ra ngày 22/08/2008: “Sự thay đổiVinh – xứngtầm đô thị loại I”, báo Kinh tế số 66 ra ngày 14/08/2008: “Sự thay đổiRạng rỡ thànhVinh” của Tạp chí Văn hiến Việt Nam số 9 ra ngày 25/09/2008

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đây đã làmsáng tỏ một số vấn đề của thành phố nói chung và vấn đề địa giới hành chính,dân c của thành phố nói riêng Tuy nhiên, nếu xét một cách khách quan thìcho đến nay vẫn cha có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết vềnhững thay đổi địa giới hành chính, dân c của thành phố Vinh từ sau cáchmạng tháng 8 năm 1945 đến ngày Vinh đợc công nhận là đô thị loại I Vì vậyvới đề tài này tác giả mong muốn có thể tập trung nghiên cứu một cách hệthống những thay đổi về địa giới hành chính và dân c của thành phố Vinh –Nghệ An từ tháng 9 – 1945 đến tháng 10 – 2008

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Trang 5

Luận văn tập trung nghiên cứu toàn bộ những thay đổi về địa giới hànhchính và dân c của thành phố Vinh tỉnh Nghệ An từ tháng 9 năm 1945 đếntháng 10 năm 2008 cũng nh những tác động của vấn đề đến đời sống kinh tếxã hội của thành phố Vinh.

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tợng nghiên cứu nêu trên thì phạm vi nghiên cứu của đề tài lànhững thay đổi về địa giới hành chính và dân c của thành phố Vinh, cũng nhnhững chuyển biến về tình hình kinh tế – chính trị – xã hội của thành phốVinh từ sau cách mạng tháng Tám đến khi Vinh đợc công nhận là đô thị loại Inăm 2008

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn t liệu

Chúng tôi đã tiến hành thu thập, su tầm tài liệu, các Nghị quyết củaChính phủ, các đề án xây dựng của tỉnh Nghệ An cũng nh của Uỷ ban thànhphố Vinh có ở phòng thống kê, phòng lu trữ và cả những tài liệu của Trungtâm th viện tỉnh Nghệ An, Th viện trờng đại học Vinh, các Bảo tàng… đều có những thay

5 Đóng góp của Luận văn

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tơng đối toàn diện, có

hệ thống về những thay đổi địa giới hành chính, dân c của thành phố Vinh –Nghệ An từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 10 năm 2008

Luận văn đã hệ thống đợc những t liệu liên quan đến đề tài để những tácgiả khác có thể tham khảo khi nghiên cứu về thành phố Vinh, lịch sử NghệAn

Thông qua hệ thống t liệu khá phong phú, bớc đầu luận văn đánh giánhững tác động do thay đổi địa giới hành chính, tên gọi đến đời sống kinh tế,văn hoá, tình hình chính trị, xã hội… đều có những thay cũng nh một số hạn chế do tác động của

Trang 6

sự thay đổi địa giới hành chính trên địa bàn thành phố Vinh qua các giai đoạnlịch sử.

Luận văn cũng góp phần cung cấp tài liệu để giảng dạy lịch sử địa

ph-ơng, góp phần giáo dục truyền thống yêu nớc cho thế hệ trẻ

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn đợc trìnhbày trong ba chơng:

Chơng 1: Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân c của thành phố Vinh từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 10 năm 1963.

Chơng 2: Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân c cuả thành phố Vinh từ thang 10 năm 1963 đến tháng 10 năm 2008.

Chơng 3: Tác động của sự thay đổi địa giới hành chính và dân c đến quá trình phát triển của thành phố Vinh.

Nội dungChơng 1

Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân c của

thành phố Vinh từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 10 năm 1963

1.1 Bối cảnh lịch sử

Cách mạng tháng 8/1945 thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới vớilịch sử dân tộc ta – kỷ nguyên độc lập tự do, cũng vì lẽ đó mà ngày 2/9/1945tại quảng trờng Ba Đình - Hà Nội, Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độclập khai sinh ra nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuyên bố với thế giới về nền

độc lập của dân tộc Việt Nam Đó là thắng lợi của quá trình chuẩn bị lâu dài,

kỹ lỡng của Đảng và của toàn thể dân tộc trong suốt mời lăm năm qua Tuynhiên vừa mới ra đời thì chính quyền đó phải đối mặt với muôn vàn khó khăn

Trang 7

thử thách mà tởng chừng nh một chính quyền non trẻ, còn mang tính chất lâmthời và sẽ khó có thể vợt qua đợc Đó là nạn đói đầu năm 1945 đã cớp đi hơnhai triệu đồng bào ta, kèm theo đó là trận lụt lớn làm vỡ nhiều đoạn đê sôngHồng, cuốn trôi nhiều nhà cửa Trong khi đó tại miền Nam, thực dân Pháp

đang tìm cách gây hấn hòng phát động việc tái chiếm Nam Bộ Các ngànhkinh tế quan trọng, giao thông vận tải huyết mạch đều bị đình trệ làm chohàng vạn công nhân thất nghiệp, không có công ăn việc làm, tệ nạn xã hội lantràn khắp nơi, hơn 90% dân số mù chữ, ngân sách nhà nớc trống rỗng, Ngânhàng Đông Dơng vẫn đang nắm quyền phát hành giấy bạc Chính quyềnTrung ơng cũng nh ở địa phơng đều cha tiến hành tổng tuyển cử, vẫn đangtrong tình trạng Chính phủ lâm thời, cán bộ đảng viên cha có kinh nghiệmquản lý, điều hành đất nớc Mặt khác, lợi dụng danh nghĩa quân đồng minhvào giải phóng quân đội Nhật thì vừa đặt chân tới Sài Gòn, thực dân Anh đãtạo điều kiện thuận lợi cho việc tái chiếm nớc ta của thực dân Pháp Tại miềnBắc, 20 vạn quân Tởng đã ồ ạt kéo vào nớc ta, theo sau chúng là bọn ViệtQuốc – Việt Cách với âm mu “Sự thay đổiphá tan mặt trận Việt Minh”, “Sự thay đổiDiệt cộng cầmHồ”, xoá bỏ chính quyền cách mạng

Trong tình thế vô cùng khó khăn đó, ngày 11/11/1945 Đảng ta tuyên bố

tự giải tán nhng thực chất là rút vào hoạt động bí mật nhằm phá tan âm mu

“Sự thay đổitiêu diệt Đảng cộng sản Đông Dơng” của bọn quân phiệt Tởng Giới Thạch

ở Nghệ An, sau ngày cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công,chính quyền cách mạng lâm thời tỉnh Nghệ An đợc thành lập do ông Lê ViếtLợng làm Chủ tịch Ngày 23 / 8/ 1945 thành phố Vinh cũng thành lập Chínhquyền cách mạng lâm thời do ông Nguyễn Tài – phó chủ tịch lâm thời Uỷban hành chính tỉnh Nghệ An làm Chủ tịch lâm thời Uỷ ban hành chính thànhphố Vinh

Trong bối cảnh cả nớc đang phải đơng đầu với muôn vàn khó khăn thửthách, Chính quyền cách mạng ở Nghệ An nói chung, thành phố Vinh nóiriêng cũng không tránh khỏi những khó khăn thử thách nêu trên Quân Nhật rasức tung tiền để mua các đồ vật quý hiếm để đa về nớc, quân Pháp lại đangchuẩn bị kế hoạch tái chiếm Nghệ – Tĩnh, một vạn quân Tởng đang âm mu

tổ chức xây dựng lực lợng phản động Trong khi đó tình hình thực tế của địaphơng lại rất rối ren Trên nửa số diện tích canh tác phải bỏ hoang vì thiếu sứclao động, thiếu giống và thiếu sức kéo, thiên tai hạn hán dồn dập làm cho mùa

Trang 8

màng thất bát, ngời dân phải đối mặt với nạn đói và dịch bệnh, nhiều nơi trongvùng đã có ngời chết đói Ngành công nghiệp bị đình đốn, hơn 600 công nhânthất nghiệp, chỉ còn nhà máy xe lửa Trờng Thi và Đê pô ga Vinh là còn hoạt

động, giao thông vận tải bị đình trệ, các ngành nghề thủ công bị tê liệt vì đóikém không có ngời mua, chợ búa ngừng lu thông, tình hình tài chính gần nhkiệt quệ, khi chiếm ngân khố của Chính quyền cũ tại Vinh, toàn tỉnh Nghệ Anchỉ thu đợc 720.000 đồng bạc rách tiền Đông Dơng [9;14] Tổ chức Đảng đợcphục hồi nhng số lợng Đảng viên còn ít, lại cha có kinh nghiệm lãnh đạo,quản lý hành chính Đó là cha kể đến việc xuất hiện những mâu thuẫn trongnội bộ chính quyền và mặt trận Việt Minh ở Nghệ – Tĩnh

Trớc tình hình cấp bách đó, ngày 2/10/1945, Hội nghị thành lập Đảng

bộ đã đợc tổ chức tại Vinh nhằm đề ra chủ trơng, biện pháp để kiện toàn cáccấp bộ Đảng ở địa phơng, xoá bỏ mọi mâu thuẫn và vạch ra chơng trình hành

động cụ thể nhằm giải quyết hàng loạt khó khăn của Thị xã Các đại biểutham dự hội nghị đã đi tới thống nhất ý kiến đề ra các biện pháp cụ thể, gấprút xây dựng các chi bộ Đảng, mỗi cấp bộ phải cử một bộ phận làm công tác

Đảng sinh hoạt độc lập với Việt Minh và Chính quyền, đổi tờ báo “Sự thay đổiKháng

địch” thành báo “Sự thay đổiTiến lên”

Ngày 3/11/1945, Đại hội đại biểu lần thứ III của Đảng bộ Nghệ An đợc

tổ chức tại làng Yên Dũng Thợng (nay thuộc phờng Hng Dũng – thành phốVinh), với sự tham gia của 23 đại biểu thay mặt cho khoảng 200 Đảng viên ở

10 phủ, huyện đồng bằng và trung du Đại hội đã đề ra nhiều biện pháp để xâydựng phát triển với các tổ chức đoàn thể của mặt trận Việt Minh nhằm tập hợpmọi lực lợng chính trị – xã hội làm nòng cốt cho công việc chống thù tronggiặc ngoài Cuối tháng 8/1945 thành bộ Vinh quyết định thống nhất lực lợng

tự vệ theo năm đơn vị hành chính

Khu phố 1 do đồng chí Nguyễn VănVạn – chỉ huy

Khu phố 2 do đồng chí Đinh Viết Vân – chỉ huy

Khu phố 3 do đồng chí Nguyễn Khang – chỉ huy

Khu phố 4 do đồng chí Nguyễn Đình Đồng – chỉ huy

Khu phố 5 do đồng chí Nguyễn Văn Thực – chỉ huy

Cùng với nó là phong trào “Sự thay đổiDiệt giặc đói, giặc dốt” diễn ra sôi nổi.Trong những năm tháng gian khổ đó, mặt trận Việt Minh thành phố – thị xãVinh đã dựa vào dân, tạo ra sức mạnh đoàn kết toàn dân, đem đến nhiều lợi

Trang 9

ích thiết thực cho đông đảo quần chúng nhân dân, do đó nhận thức đợc sự ủng

hộ toàn diện của tất cả các tầng lớp nhân dân để bảo vệ và phát huy mọi thànhquả mà cách mạng tháng Tám mang lại Mặt trận Việt Minh trở nên gần gũi,thân thiết với mọi tầng lớp giai cấp trên địa bàn thị xã, nó thực sự phát huymọi khả năng của mình, góp phần đa chính quyền cách mạng vợt qua khókhăn thử thách

Khi mọi khả năng hoà hoãn đã hết, sự nhân nhợng giữa ta và Pháp đãkết thúc thì ngày 19/12/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời “Sự thay đổiKêu gọi toànquốc kháng chiến”, phát động cuộc chiến tranh nhân dân trên phạm vi cả nớc

để bảo vệ độc lập tự do của cả dân tộc Hởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịchthì mọi hoạt động của thị xã đều tập trung phục vụ cho cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp tái chiếm xâm lợc Công tác chuẩn bị diễn ra sôi nổi,nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực và đợc đông đảo quần chúng nhân dân h-ởng ứng Để ngăn chặn bớc tiến của giặc Pháp, ngày 2/6/1947, Chủ tịch HồChí Minh đã ra lời kêu gọi “Sự thay đổiTiêu thổ kháng chiến” , Ngời nói: “Sự thay đổiTa vì nớc màchịu khổ một chút, đến ngày kháng chiến thắng lợi ta sẽ cùng nhau kiến thiết

và sửa sang lại có khó gì Các chiến sĩ ngoài mặt trận hy sinh xơng máu cho

Tổ quốc họ không tiếc, không lẽ ta tiếc một đoạn đờng, một cái cống hay mộtngôi nhà để cho Pháp lợi dụng đánh Tổ quốc ta” [22;60]

Chấp hành lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, nhân dân thành phố Vinh đãthực hiện triệt để vờn không, nhà trống, ban tản c đợc thành lập để tổ chức chonhân dân đi sơ tán, ngời già, trẻ em, phụ nữ có con nhỏ lập thành từng đoàn,từng nhóm đều có ngời phụ trách Nơi sơ tán cách thành phố từ 15 – 20km.Tuy khó khăn gian khổ nhng nhân dân vẫn chấp hành triệt để, thanh niên traitráng ở quê sản xuất, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ ra chiến trờnggiết giặc để bảo vệ Tổ quốc

Điều đó chứng tỏ trong mọi hoàn cảnh, thành phố Vinh đều có nhữngthay đổi cho phù hợp với yêu cầu mới của tình hình lịch sử đặt ra Cũng xuấtphát điểm từ những yêu cầu của cuộc xây dựng bộ máy chính quyền sau cáchmạng tháng Tám và việc thực hiện tiêu lệnh “Sự thay đổiTản c, tiêu thổ kháng chiến” mà

nó đã dẫn tới những thay đổi về địa giới hành chính và dân c trên địa bànthành phố Vinh trong những năm tháng trờng kỳ kháng chiến

Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơ - ne – vơ về Đông Dơng đợc ký kết,

nó đã kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trờng kỳ với thắng lợi

Trang 10

về nhân dân Việt Nam, hoà bình đợc lập lại trên bán đảo Đông Dơng nhngriêng Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm giớituyến quân sự tạm thời, sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đấtnớc Nhng trên thực tế đế quốc Mỹ và tay sai đã không thi hành nghiêm chỉnhhiệp định này mà chúng âm mu biến miền Nam Việt Nam thành quốc giariêng biệt phụ thuộc vào Mỹ Do đó cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc,thống nhất nớc nhà còn phải trải qua nhiều chặng đờng gian khổ, hi sinh ácliệt

Sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc, nhân dân thị xã đã trở về quê xâydựng cuộc sống của mình Để có bớc đi thích hợp cho Nghệ An nói chung,Vinh nói riêng Trung ơng Đảng và Tỉnh uỷ Nghệ An chia ra từng chặng Khókhăn đầu tiên trong việc khôi phục lại thị xã Vinh là tất cả các tuyến đờng dẫnvào thị xã, các cầu lớn đều bị máy báy phá huỷ, toàn bộ các khu phố chỉ cònbình địa, các đờng phố chỗ thì bị đào thành hố sâu, chỗ thì bị đắp cao thành ụtác chiến chống xe tăng của Pháp Thị xã không có điện, không có nớc, không

đờng đi lối lại… đều có những thay Sau khi nhân dân lần lợt trở về, lãnh đạo đã cử lực lợng bộ

đội địa phơng và an ninh về thị xã để làm nhiệm vụ duy trì trật tự xã hội vàgiúp đỡ nhân dân hồi c Ngoài ra tỉnh còn huy động nhân dân các huyện lâncận nh Nghi Lộc, Hng Nguyên mang theo dụng cụ và nguyên vật liệu để làmcầu và san lấp mặt bằng giúp dân xây dựng nhà cửa

Tháng 7/1954, Uỷ ban hành chính tỉnh Nghệ An ra quyết định thành lậpBan phục hồi thị xã Vinh và giao cho đồng chí Nguyễn Tất Thắng uỷ viên Banthờng vụ tỉnh uỷ và đồng chí Nguyễn Khắc Nha chỉ đạo trực tiếp cuộc phụchồi thị xã có nhiệm vụ chỉ đạo việc tổ chức, sắp xếp cho đồng bào trở về Vinh

để ổn định cuộc sống

Mặt khác, theo tinh thần của công cuộc cải cách ruộng đất mà thị xãVinh đã sát nhập một số xã lân cận vào địa bàn của thị xã để rồi từ đó nó gópphần làm thay đổi địa giới hành chính của thị xã Khi địa giới hành chính củathị xã thay đổi cộng với sự hồi c của nhân dân trở về quê cũ đã góp phần làmcho dân c của thị xã thay đổi cả về quy mô và cơ cấu so với thời kỳ trớc

Phong trào đồng khởi nghĩa là bớc nhảy vọt của cách mạng miền Nam,

nó đa phong trào cách mạng từ thế giữ gìn lực lợng sang thế tiến công chiến

l-ợc Nhờ có tinh thần yêu nớc, khát vọng độc lập tự do, thống nhất dân tộc,cộng sự chi viện kịp thời của miền Bắc và quân dân miền Nam đã liên tiếp

Trang 11

đập tan kế hoạch Xtalây-Taylo; Giôn xơn – Mác Namara làm cho chiến lợc

“Sự thay đổiChiến tranh đặc biệt” bị phá sản, thay vào đó là chiến lợc “Sự thay đổiChiến tranh cụcbộ”, trực tiếp đa lính Mỹ vào tham chiến ở miền Nam Việt Nam với thamvọng trong vòng 18 tháng có thể giành lại quyền chủ động trên chiến trờng,

đánh tan quân chủ lực của ta Vì miền Bắc là hậu phơng vững chắc của miềnNam mà Bộ quốc phòng và Tổng thống Mỹ đã quyết định sử dụng lực lợnglớn không quân, hải quân để tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn,

ác liệt trên toàn miền Bắc Nắm bắt đợc tình hình đó,nhân dân Miền Bắc nóichung,Đảng bộ, nhân dân tỉnh Nghệ An, thành phố Vinh nói riêng đã cónhững chuẩn bị kịp thời để đối phó khi Mỹ tấn công ra Miền Bắc.Trong hàngloạt những vấn đề cấp bách đợc đặt ra thì vấn đề xây dựng, nâng cấp Vinh trởthành một trong 5 khu công nghiệp lớn nhất miền Bắc đợc các cấp chínhquyền đặc biệt quan tâm Chính từ những yêu cầu cấp bách đó đã dẫn đến sựthay đổi địa giới hành chính cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đặt ra Và

sự thay đổi về địa giới hành chính sẽ kéo theo những thay đổi về dân c là điềukhông thể tránh khỏi Điều đó lý giải vì sao có sự thay đổi địa giới hành chính

và dân c của thành phố trong những năm tháng qua

1.2 Sự thay đổi về địa giới hành chính thành phố Vinh từ tháng 9 năm

1945 đến tháng 10 năm 1963

Thành phố Vinh có một lịch sử hình thành tơng đối lâu đời, trong đó có

sự kiện xây dựng thành phố Trung Đô cách đây 220 năm đợc coi là mốc khởi

đầu của sự phát triển đô thị Ngày 01/10/1788 vua Quang Trung – NguyễnHuệ đã quyết định cho xây dựng kinh đô tại vùng đất Yên Trờng nay thuộcphờng Trung Đô - Thành phố Vinh – Nghệ An và đặt tên là Phợng HoàngTrung Đô, nhà vua nhìn thấy nơi đây “Sự thay đổihình thế rộng rãi, khí tợng tơi sáng cóthể chọn để xây dựng mới, thật là chỗ đẹp để đóng đô vậy” [19;10] Đây làmột vị trí hội tụ đủ mọi điều kiện thuận lợi để có thể cai quản đất nớc, khốngchế trong Nam ngoài Bắc chống giặc ngoại xâm

Năm 1804 vua Gia Long ra chỉ dụ xây dựng trấn thủ Nghệ An tại làngVĩnh Thành (nay gọi là thành cổ Vinh) Thành cổ Vinh ngày nay, Thành Nghệ

An xa đợc xây dựng gấp rút trong năm 1831, tuy có ảnh hởng của lối xâydựng thành trì nớc ngoài đợc du nhập vào nớc ta thế kỷ 18 nhng vẫn giữ đợccấu trúc thành trì truyền thống kiểu phơng Đông Trong sách “Sự thay đổiĐại Nam nhấtthống chí”, tập 13, trang 144 có đoạn ghi: “Sự thay đổiThành tỉnh Nghệ An ở địa phận 2

Trang 12

xã Yên Trờng và Vĩnh Yên huyện Chân Lộc, chu vi 603 trợng, cao 1 trợng, 1thớc 5 tấc, mở 3 cửa, hào rộng 7 trợng, sâu 8 thớc Đời Lê, lỵ sở thừa ty vàhiến ty ở huyện Hng Nguyên gọi là Lam Thành (vì ở đây có rú Thành và cósông Lam), lỵ sở trấn thủ ở huyện Kỳ Anh gọi là Dinh Cầu, sau dời đến xãDũng Quyết (tức là thành Phợng Hoàng Trung Đô) huyện Chân Lộc Bản triềunăm Gia Long thứ ba (1804) dời đến chỗ hiện nay và đắp bằng đất Năm MinhMạng thứ 12 (1831) đổi xây đá ong” Theo thuật phong thuỷ, thành Nghệ An

có 3 cửa: cửa Tả, cửa Hữu, cửa Tiền, đợc xây dựng theo hình rùa nên còn cótên gọi là “Sự thay đổiQuy Thành” (tợng trng cho sự tồn tại, bền vững và lâu dài) Riêngcửa Bắc (tức cửa Hậu) luôn luôn đóng kín, do đó trong dân gian có câu

“Sự thay đổiThanh vô tiền, Nghệ vô hậu” Thành Nghệ An vừa là nơi làm việc của hệthống quan lại từ “Sự thay đổiTrấn thủ” đến “Sự thay đổiTổng đốc” An Tĩnh, vừa là nơi tích trữ binhlơng (nh kho thuốc súng, chuồng voi, kho tiền, kho thóc… đều có những thay), nơi đặt nhà lao vàcũng là nơi đóng quân bảo vệ thành Các vua Gia Long và Minh Mạng đã choxây dựng công đờng Hiệp trấn (thời Gia Long), dinh Tổng đốc (thời MinhMạng), dinh bố chánh, dinh án sát, công sảnh lãnh binh ngay ở phía trongthành Nhng Vinh chỉ thực sự hình thành với ý nghĩa đầy đủ đô thị khi thựcdân Pháp xâm chiếm Việt Nam Ngời Pháp đã sớm nhận ra vị trí đắc địa củaVinh và đã cho tiến hành xây dựng, cải tạo hệ thống giao thông từ đờng sắt,

đờng bộ và đờng thuỷ, lúc này Vinh trở thành một vị trí đầu mối giao thôngquan trọng của khu vực miền Trung và cả nớc, xây dựng Vinh thành một trongnhững đô thị lớn nhất cả nớc Vì vậy cuối những năm 20 đầu những năm 30của thế kỷ XX, Vinh đợc biết đến nh một đô thị với những nhà máy, xínghiệp, bến cảng, hàng buôn, nhà hàng… đều có những thay nổi tiếng của ngời Pháp, Hoa kiều,

ấn kiều … đều có những thay Vinh cũng là thành phố của thợ thuyền với hàng vạn công nhân, đócũng là cái nôi của phong trào yêu nớc và cách mạng Năm 1930 – 1931, caotrào cách mạng Xô Viết – Nghệ Tĩnh diễn ra tại đây không chỉ thành phố nổitiếng là thành phố giàu truyền thống lịch sử và cách mạng còn là nơi hội tụtinh hoa văn hoá xứ Nghệ và sớm hình thành những giá trị của văn hoá đô thị

Sự phát triển của các cơ sở dịch vụ kéo theo sự hình thành các khu vựcdân c mang tính đô thị, lúc này đòi hỏi phải có sự quản lý hành chính, xã hội

và bộ máy quản lý đô thị, do đó mà đô thị Vinh lần lợt đợc hình thành qua cácmốc thời gian Tuy nhiên lúc này yếu tố “Sự thay đổithành” đang lấn át yếu tố “Sự thay đổithị”, Vinhcòn chìm ngập trong vành đai làng xã

Trang 13

Nhằm biến Vinh thành bàn đạp để độc chiếm toàn bộ thị trờng BắcTrung Bộ và Trung Lào, ngày 12/7/1899 ngời Pháp tìm mọi cách để vuaThành Thái ký đạo dụ thành lập trong cùng một lúc 6 trung tâm đô thị Trung

Kỳ là: Thanh Hoá, Vinh, Huế, Hội An, Quy Nhơn, Phan Thiết Từ đó Vinh trởthành một mắt xích quan trọng đối với chính quyền thuộc địa cả về kinh tế lẫnchính trị, văn hoá, thu hút sự đầu t của hàng loạt tập đoàn t sản

Ngày 11/3/1914 vua Duy Tân ra đạo dụ thành lập Thị xã Bến Thuỷ.Ngày 20/ 8/1917 vua Khải Định ra đạo dụ thành lập thị xã Trờng Thi Sau 28 năm kể từ ngày thành lập thị xã Vinh, ngày 10/12/1927 toànquyền Đông Dơng đã ký nghị định sát nhập ba thị xã kề nhau: Vinh – BếnThuỷ – Trờng Thi thành một đơn vị hành chính mới có quy mô dân số vàdiện tích lớn hơn, trở thành trung tâm kinh tế – chính trị của khu vực miềnTrung lúc bấy giờ và đặc biệt là thành phố Vinh – Bến Thuỷ, có diện tíchkhoảng 20 km2, đơn vị hành chính đợc lập ra 10 phố từ phố Đệ Nhất, đến phố

Đệ Thập

Sau cách mạng tháng 8/1945, Chủ tịch lâm thời Việt Nam dân chủ cộnghoà đã ra đời sắc lệnh số 77 ngày 21/12/ 1945 cho phép một số đô thị Vinh –Bến Thuỷ, Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt và Sài Gòn – Chợ Lớn

đợc đặt tên làm thành phố

Theo Sắc lệnh số 11 ngày 24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thờinớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, thành phố Vinh – Bến Thuỷ cùng các thànhphố Nam Định, Huế, Đà Nẵng tạm đợc coi nh là thị xã Đơn vị hành chínhthay đổi từ mời phố sát nhập lại thành năm khu phố, từ khu phố I đến khu phố

V, địa giới hành chính hầu nh không thay đổi Trong phiên họp ngày 23/3/

1946 Hội đồng nhân dân các khu phố đã bầu Uỷ ban hành chính các khu phốbao gồm:

Khu phố I: Do ông Nguyễn Ngọc Quang đợc bầu làm Chủ tịch, ông Lê

Đức Nhật làm phó Chủ tịch, ông Trờng Văn Thịnh làm uỷ viên th ký

Khu phố II: Do ông Nguyễn Văn Thái làm Chủ tịch, ông Nguyễn DuyThân làm phó Chủ tịch, ông Nguyễn Văn Cận làm uỷ viên th ký

Khu phố III: Do ông Lê Xuân Thị đợc bầu làm Chủ tịch, ông Trần Tứlàm phó Chủ tịch, phụ trách tài chính, ông Trần Sửu làm uỷ viên thờng trực

Khu phố IV: Do ông Nguyễn Đình Lộc làm chủ tịch, ông Nguyễn VănTrúc làm phó Chủ tịch, bà Ngô Thị Phú làm uỷ viên th ký

Trang 14

Khu phố V: Do ông Nguyễn Khắc Mỹ làm chủ tịch, ông Phạm Châulàm phó Chủ tịch, ông Lê Viết Cơ làm uỷ viên th ký, trởng ban dân sự kinh tế[23;26].

Với quyết định này từ 10 khu phố từ thời thuộc Pháp, thị xã Vinh chỉcòn lại 5 khu phố Điều này xuất phát từ điều kiện lịch sử đòi hỏi chính quyềncách mạng phải thay đổi địa giới hành chính của thành phố Vinh cho phù hợpvới yêu cầu quản lý trong điều kiện mới chứ không phải do yêu cầu phát triểnkinh tế xã hội

Sau này thị xã tản c kháng chiến, tình hình chung của thị xã có nhiềuthay đổi mà trớc hết là về tổ chức đơn vị hành chính

Ngày 10/3/1947 Chủ tịch nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra sắc lệnh

số 22/SL, tại điều 2 của sắc lệnh có ghi: “Sự thay đổiSát nhập 237 mẫu 5 sào 6 thớc củathôn Đông Yên ở các khoảnh đất số 5, 6, 7; 264 mẫu 5 sào 6 thớc ở cáckhoảnh 1, 2 của thôn Trung Mỹ vào khoảnh đất số 4 giáp thôn Đông Yên diệntích 38 mẫu 4 sào vào địa hạt thị xã Vinh – Bến Thuỷ” [33;30] Điều này chothấy đã có thêm một sự thay đổi về địa giới hành chính trên địa bàn Vinh –Bến thuỷ Nhng đến thời điểm này, phần lớn dân c trên địa bàn đã tản c vềvùng nông thôn trực thuộc địa phận các huyện Nam Đàn, Thanh Chơng, ĐôLơng, Nghĩa Đàn… đều có những thay cho nên sự thay đổi này chỉ có ý nghĩa cho việc tổ chứclực lợng quân đội sẵn sàng đối phó nếu nh Pháp liều lĩnh đánh vào địa phậnVinh - Bến Thuỷ

Tháng 4/1949 tổ chức đơn vị hành chính cấp khu phố trớc đây vẫn tồntại thờng gọi là các khu vực Đến đầu năm 1954, thị xã tổ chức lại địa giớihành chính, theo “Sự thay đổiBáo cáo về tình hình thị xã Vinh – Bến Thuỷ (1/1954) của

Uỷ ban kháng chiến hành chính thị xã Vinh thì trong thời kỳ này đơn vị hànhchính của thị xã đợc chia thành các khu vực nh sau:

Khu vực I: Gồm các chòm: Hng Thịnh – Yên Giang – Cộng Hoà Quang Trung – Tân Hng – Ngũ Phúc

-Khu vực II: Gồm các thôn: Minh Tân – Hợp Tiến – Tân Thịnh –Tân Vinh – Tân Thắng – Trung Hoà - Trờng Phúc – Bình Yên – ThạnhTiến

Khu vực III: Gồm có các chòm nh: Vĩnh Thạnh - Đại Đồng – HạnhPhúc – Thái Bình – Yên Hoà

Trang 15

Với diện tích khu tự nhiên của cả ba khu là gần 25km2 [33;133] Nhvậy, từ tháng 9 năm 1945 khi chính quyền về tay nhân dân đến tháng 7/1954khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, địa giới hành chính củathành phố Vinh – Bến Thuỷ, thị xã Vinh – Bến Thuỷ có nhiều thay đổi Cáccơ sở hạ tầng gần nh bị triệt phá hoàn toàn, thành phố Vinh – Bến Thuỷ doPháp xây dựng trớc năm 1945 không còn nữa Những thay đổi của Chính phủ,

Uỷ ban hành chính kháng chiến Nghệ An về địa giới hành chính trên địa bànVinh không xuất phát từ yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế mà chủ yếu là

để đáp ứng yêu cầu bức thiết của công cuộc kháng chiến chống Pháp về mặt

an ninh, quốc phòng Trên thực tế, từ năm 1946 – 1954 trên địa bàn Vinhhoàn toàn không còn một nhà máy, xí nghiệp… đều có những thay nào hoạt động Một diện tíchlớn đất đai nông nghiệp bị bỏ hoang, hệ thống cầu cống bị đánh sập… đều có những thay Đó làhậu quả mà thực dân Pháp để lại cho nhân dân thị xã, điều đó đã gây không ítkhó khăn cho việc xây dựng và phát triển thị xã trong những năm tiếp theo

Từ cuối năm 1955, Chính phủ có quyết định mở rộng địa giới hànhchính thị xã Vinh bằng việc cắt thêm ba xã của Hng Nguyên là Hng Bình –Hng Dũng – Hng Thuỷ sát nhập vào Vinh, nâng diện tích của thị xã lên26km2 [33;133]

Xã Hng Bình mà ngày nay là phờng Hng Bình có một quá trình thay đổi

địa danh, địa giới qua một quá trình lâu dài Theo các th tịch, địa chí cũ đầuthế kỷ 19 trở về trớc thì vùng đất Hng Bình ngày nay thuộc xã Yên Trờng,Tổng Ngô Trờng, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, sau đổi tên thành tổng YênTrờng với diện tích tự nhiên chiếm gần nh toàn bộ thành phố Vinh bây giờ.Trong địa bàn phờng Hng Bình ngày nay thuộc phần lớn thôn Trung Mỹ, mộtphần thôn Đông Yên và một phần thôn Yên Vinh Sau khi thực dân Pháp xâmchiếm Nghệ An (20/7/1885) khi chúng đã thành lập thị xã Vinh, thị xã BếnThuỷ, thị xã Trờng Thi trên địa bàn xã Vĩnh Yên và một phần xã Yên Trờngvới trung tâm là thành cổ Vinh Sau đó Pháp cho hợp nhất các thị xã và lập ramời khu phố, đại bộ phận đất đai phía Nam và phía Đông Hng Bình ngày naythuộc phố Đệ Nhất Sau cách mạng tháng 8/1945 nhằm đáp ứng việc quản lýhành chính trong tình hình và nhiệm vụ mới, theo sắc lệnh số 2/SL ngày 24/01/1946 của Chủ tịch chính phủ lâm thời nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà thìmời khu phố của thị xã Vinh – Bến Thuỷ đợc chia thành năm khu vực, trong

đó địa bàn phờng Hng Bình hiện nay gồm khu vực 4, một phần khu vực 2 và

Trang 16

một phần xã Trung Đông Từ năm 1947 thị xã thực hiện tiêu thổ kháng chiếnnên số dân ở lại không nhiều, vì vậy Uỷ ban hành chính thị xã Vinh tạm giaocho uỷ ban kháng chiến hành chính huyện Hng Nguyên quản lý Sang đầunăm 1954 sau khi hoàn thành công cuộc phát động giảm tô với chủ trơnghoạch định lại các khu vực hành chính cấp xã của Uỷ ban kháng chiến hànhchính Liên khu bốn thì xã Hng Bình thuộc huyện Hng Nguyên đã ra đời cùngmột số xã lân cận khác nh Hng Dũng – Hng Thuỷ

Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, tháng 10/1954 Uỷ ban hànhchính thị xã Vinh đợc tái lập, các xã thuộc địa bàn Vinh – Bến Thuỷ lại từHng Nguyên chuyển trả lại cho Vinh Hng Bình ngày ấy là xã có địa bàn rộnglớn, phía Tây và Tây Bắc giáp xã Hng Đông, phía Đông và Đông Nam giáptận bản doanh Bộ t lệnh Quân khu 4 hiện nay Tên xã Hng Bình và địa bàn ấytồn tại 25 năm cho đến khi Hội đồng Chính phủ Quyết định số 73/CP ngày02/3/1979 chuyển xã Hng Bình thành tiểu khu Hng Bình, lúc này địa giới thuhẹp lại, bớt phần đất phía Tây và Tây Bắc để lập tiểu khu Lê Lợi và Cửa Bắc

Ba năm sau, ngày 18/8/1982 Hội đồng Bộ trởng lại ra Quyết định số137/HĐBT, tách tiểu khu Hng Bình thành hai phờng là phờng Hng Bình vàphờng Hà Huy Tập ngày nay

Đối với xã Hng Dũng xa và phờng Hng Dũng nay có tên gọi từ rất xa

x-a Dũng Quyết là tên của làng xuất hiện trớc khi hai tập đoàn phong kiếnTrịnh – Nguyễn đánh nhau, chiến sự diễn ra ác liệt dọc bờ sông Lam Đây làmột vùng đất rộng lớn gồm 6 phờng xã ngày nay là: Trung Đô - Bến Thuỷ –Trờng Thi – Hng Dũng – Hà Huy Tập và một phần đất của Hng Bình Từnăm 1788 Quang Trung - Nguyễn Huệ đã chọn vùng đất Yên Trờng có núiDũng Quyết để xây dựng kinh đô Dũng Quyết lúc bấy giờ bao gồm có haithôn là thôn Thợng và thôn Hạ, thôn Thợng bao gồm phờng Trờng Thi – HngDũng, một phần phờng Hng Bình – Hà Huy Tập – một xóm của Hng Lộc,thôn Hạ bao gồm phờng Bến Thuỷ – Trung Đô Sau cách mạng tháng Támnăm 1945, theo yêu cầu quản lý địa bàn và phát triển xã hội, Yên Dũng Thợngthuộc phủ Hng Nguyên đã đổi thành xã Văn Phong thuộc huyện Hng Nguyên

Đến thời điểm năm 1947 – 1948 xã Văn Phong hợp nhất với xã Thái Hoà vàxã Đức Lộc thành xã lớn Hng Phong Năm 1953 phát động giảm tô Xã HngPhong chia ra làm ba xã: Hng Dũng – Hng Hoà - Hng Lộc, cả ba xã đó đềuthuộc Hng Nguyên, do đó mãi đến năm 1953 mới chính thức có tên gọi Hng

Trang 17

Dũng Năm 1957, để mở rộng thị xã Vinh thì xã Hng Dũng đã đợc sáp nhậpvào thị xã Vinh [11;7] Năm 1982 xã Hng Dũng chuyển một phần đất phíaTây gồm các xóm Tân Vệ – Phúc Lâm thành lập phờng Trờng Thi, tháng10/1994 xã Hng Dũng lại chuyển một phần đất thuộc các xóm Yên Bình sangphờng Hng Bình và năm khối Kênh Bắc về phờng Hà Huy Tập Khi thànhphố Vinh đợc Thủ tớng Chính phủ nâng lên đô thị loại II thì xã Hng Dũngchuyển thành đơn vị phờng với 11.170 nhân khẩu, diện tích tự nhiên là 565 ha,chia ra 19 khối với địa giới nh sau: Phía Bắc giáp phờng Hà Huy Tập, phíaNam giáp phờng Bến Thuỷ – Sông Lam, phía Đông giáp xã Hng Hoà, phíaTây giáp phờng Trờng Thi.

Sau khi sát nhập thêm ba xã của Hng Nguyên thì diện tích của thị xãVinh đợc nâng lên 26km2 và chia làm năm khu phố

Khu phố 1: Bao gồm vùng Cổng Chốt, khu vực thành cổ và xung quanhnhà thờ Cầu Rầm bây giờ

Khu phố 2: Chủ yếu là phần đất của phờng Quang Trung và Lê Lợi Khu phố 3: Bao gồm toàn bộ khu vực xung quanh chợ Vinh xuôi theocầu Thông thuộc địa bàn phờng Hồng Sơn và xã Vinh Tân ngày nay

Khu phố 4: Bao gồm địa bàn phờng Hng Bình và Lê Mao

Khu phố 5: Gồm phờng Bến Thuỷ và Trung Đô nh hiện nay

Từ đó đến năm 1964, thị xã Vinh có điều chỉnh về địa giới một số khuvực ở nội thành là Vinh Hng – Vinh Tân – Hng Bình – Hng Dũng – HngThuỷ Mặc dù vậy nhng diện tích tự nhiên của thành phố không có thay đổi

đáng kể Đặc biệt, ngày 10/10/1963 Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 148/

CP về việc chính thức thành lập thành phố Vinh, với mục tiêu xây dựng Vinhtrở thành một trong năm khu công nghiệp lớn của miền Bắc

Những thành quả ban đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội củathị xã Vinh cùng với những điều kiện cơ sở vật chất đã và đang xây dựng củathành phố sẽ là những chuẩn bị tích cực cho cuộc chiến đấu chống chiến tranhphá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Mắc và góp phần vào công cuộc đấu tranhthống nhất nớc nhà Điều đáng chú ý là trong mọi hoàn cảnh, thành phố đềunhận đợc sự quan tâm thu hút của cấp trên về mọi mặt, trong đó đặc biệt chú ý

đến việc mở mang xây dựng cho Thành phố ngày càng giàu đẹp hơn

1.3 Sự thay đổi về dân c của thành phố Vinh từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 10 năm 1963

Trang 18

Theo nghị định của toàn quyền Đông Dơng ngày 10/12/1927, thành phốVinh – Bến Thuỷ có diện tích 20 km2 và 2 vạn dân nội thành Nhng khi cả n-

ớc bớc vào cuộc kháng chiến toàn quốc, để chống địch đổ bộ vào các thànhphố, đô thị tiến công ta từ nhiều hớng, thì ngày 6/2/1947 Chủ Tịch Hồ ChíMinh ra lời kêu gọi “Sự thay đổiTiêu thổ kháng chiến” Thực hiện chủ trơng của Ngời,Thành bộ và các cấp chính quyền ở Thị xã Vinh phải giải quyết hàng loạt khókhăn nh sau:

Một là: Cán bộ, Đảng viên và nhân dân muốn ở lại thị xã để quyết tâmbảo vệ thị xã đến cùng mà không muốn tháo dỡ, phá bỏ toàn bộ nhà cửa cũng

nh cơ sở vật chất trên địa bàn thị xã

Hai là: Một lực lợng lớn thanh niên đã tham gia lực lợng vũ trang, việctháo dỡ, phá bỏ toàn bộ nhà máy, hệ thống đờng giao thông, cơ sở vật chấttrên địa bàn thị xã đòi hỏi phải huy động một lực lợng lớn để tham gia Đó làcha tính đến hàng trăm ngôi nhà kiên cố, hai, ba tầng, khách sạn cùng hàngvạn tấn máy móc thiết bị cần di chuyển khỏi địa bàn thị xã về nông thôn trongmột khoảng thời gian ngắn Trong khi đó công việc tháo dỡ, phá bỏ, di chuyểnmáy móc … đều có những thay đều thực hiện chủ yếu bằng sức ngời với công cụ thô sơ, không

có phơng tiện máy móc hỗ trợ, v.v… đều có những thay

Theo tinh thần đó, Ban thờng vụ tỉnh uỷ phối hợp với Ban lao động tỉnh

đề ra ba công tác trọng tâm

1- Giáo dục cho công nhân, nhân dân hiểu rõ mục đích yêu cầu củacông cuộc tiêu thổ kháng chiến để công nhân di chuyển toàn bộ máy mócthiết bị về nông thôn

2- Sơ tán toàn bộ công nhân và gia đình họ về vùng nông thôn, trung

du, miền núi sớm ổn định đời sống cho nhân dân để họ bắt tay vào việc sảnxuất vũ khí, hàng hoá phục vụ kháng chiến

3- Di chuyển xởng sản xuất vũ khí Lê Viết Thuật về trại cây Lê Mao đểtrong thời gian sớm nhất xởng tiếp tục chế tạo vũ khí, cung cấp cho mặt trận

Mặt trận Liên Việt, Liên hiệp lao động tỉnh cùng các cấp chính quyềncòn tổ chức tốt công tác tản c cho nhân dân thị xã về các huyện Nam Đàn,Thanh Chơng, Anh Sơn, Đô Lơng, Nghĩa Đàn… đều có những thay phối hợp với Đảng bộ, nhândân các huyện sớm ổn định nơi ăn chốn ở cho nhân dân tản c Điều này đã tác

động đến số lợng dân c sống trên địa bàn thị xã, theo thống kê thì trong thờigian này dân c sống trên địa bàn thị xã chỉ còn lại khoảng 5.000 đến 6.000 ng-

Trang 19

ời [23;95] Dân số ít nên trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, tình hìnhtrật tự xã hội trên địa bàn thị xã tơng đối ổn định

Sau một thời gian tản c, do thị xã không có chiến tranh nên một số ngờidân trên địa bàn đã trở về quê làm ăn sinh sống Cũng từ đó làm cho dân c trên

địa bàn thay đổi, có đủ thành phần dân c nh: địa chủ phong kiến, phú nông,trung nông, bần nông và các tầng lớp t sản, tiểu t sản, tiểu chủ… đều có những thay Số ngời Hoa

c trú trên địa bàn thị xã cũng tăng lên khoảng 280 ngời [33;78]

Theo bảng thống kê đầu năm 1954 dân c của thị xã tăng lên thành 9.469ngời [33;78] Điều đó cho thấy trong giai đoạn đầu đến khi cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp kết thúc, tình hình dân c của thị xã đã có sự thay đổitheo chiều hớng tăng dần Nó cũng tác động ít nhiều đến các mặt của đời sốngxã hội của thị xã Vinh lúc bấy giờ Khi thị xã tiến hành tản c, các nhà máy, xínghiệp lớn bị tháo dỡ, phá huỷ nh: nhà máy xe lửa Trờng Thi, Điện Bến Thuỷ,

ca xẻ gỗ… đều có những thay Máy móc thiết bị đợc đa lên vùng nông thôn để thành lập các cơ sởsản xuất nên ở Vinh lúc bấy giờ không còn ngành công nghiệp Hoạt độngkinh tế chủ yếu của thị xã là sản xuất nông nghiệp Trong giai đoạn tản c, dothiếu nhân lực nên sản xuất nông nghiệp bị đình đốn, đến đầu năm 1954 dân

c tăng lên, cùng với những chính sách khuyến khích, hỗ trợ của Tỉnh làm chohoạt động sản xuất nông nghiệp đạt đợc kết quả đáng khích lệ, không chỉ đảmbảo lơng thực, thực phẩm cho nhân dân mà còn góp phần để nuôi quân và ủng

hộ đồng bào Bình – Trị – Thiên bị lũ lụt Cùng với các huyện trong tỉnh,nhân dân thị xã Vinh đã tham gia vào đợt bán thóc gạo cho Hồ chủ tịch khaothởng bộ đội, và nhân dân thị xã cũng đã góp đợc 26 tấn gạo cho vay để huy

động cho chiến trờng

Bên cạnh các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thị xã vẫn duy trì cácngành nghề tiểu thủ công nghiệp và thơng nghiệp dù cho quy mô của cácngành này còn rất hạn chế Các ngành kỹ nghệ lớn không còn, các ngành nhỏcũng chỉ duy trì hoạt động trong một thời gian ngắn Ban đầu có nghề dệt vải,kéo sợi, làm tơ, làm nón nhng về sau các nghề này không thể duy trì đợc nữa,một phần do cuộc sống có nhiều khó khăn, mặt khác do kỹ thuật chuyên mônhạn chế, sản phẩm không đáp ứng đợc yêu cầu nên đa số các ngành nghề nêutrên dần dần mất hẳn, chỉ còn lại một số ngành nghề không cần dùng nhiều kỹthuật nh làm bát, nung vôi, nung gạch

Trang 20

Hoạt động giao lu buôn bán cũng tha thớt, một phần vì đời sống củanhân dân còn nhiều khó khăn, nhng phần khác vì phải thờng xuyên tránh máybay địch nên chợ búa ít họp hơn, vả lại cũng không cần những chợ lớn nh chợVinh ngày trớc, lẻ tẻ có một vài chợ nhỏ xung quanh các khu vực tiếp giápvùng nội thị và ven đô.

Hoạt động giao thông vận tải giữa Vinh và các vùng trong tỉnh gặpnhiều khó khăn do hệ thống đờng bộ đã dỡ bỏ để thực hiện Tiêu thổ khángchiến

Công tác giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng cũng đợc các cấp chínhquyền quan tâm Tuy nhiên do hình hình chung của thị xã còn nhiều khó khănnên kết quả thu đợc vẫn còn hạn chế

Việc mở rộng địa giới hành chính của thị xã đã kéo theo sự thay đổi dân

c của thành phố Vinh trong giai đoạn 1954 – 1964 Mặt khác do chủ trơnghồi c, kêu gọi những ngời tản c trong kháng chiến quay trở về quê cũ làm ăn,sinh sống Sau nhiều năm xa quê tản c kháng chiến, đóng góp sức ngời, sứccủa cho chiến trờng cùng cả nớc đánh lại thực dân Pháp xâm lợc, nay hoà bìnhlập lại, đa số nhân dân trở về thị xã xây dựng lại quê hơng Theo sự chỉ đạocủa Ban phục hồi thị xã thì nhân dân tự sắp xếp, ổn định cuộc sống, nơi ăn,chốn ở cho mình, trớc kia ở đâu thì nay ở đó Nơi c trú nhiều nhất là khu vựcxung quanh chợ Vinh và dọc đờng từ cầu Rầm xuống cầu Thông Cuộc sốngcủa nhân dân đã đi vào ổn định, nhân dân tự giác sắp xếp cuộc sống chomình, chấp hành mọi chỉ đạo của chính quyền và các cơ quan có nhiệm vụ.Lực lợng an ninh phát huy vai trò xung kích giữ gìn bảo đảm trật tự an ninh xãhội, tháng 12/1956 Công an thị xã Vinh đã mở đợt truy quét, trấn áp các loạitội phạm hình sự và bài trừ các tệ nạn xã hội, đồng thời phát động quần chúngtham gia công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm Nhìn chung cuộcsống của nhân dân đã dần dần ổn định

Theo thống kê, nếu đầu năm 1954 dân c thị xã mới chỉ có 9.469 ngời thì

đến năm 1964 dân c của thị xã đã tăng lên 71.283 ngời [33;147] Ngoài ra thịxã còn tập trung một bộ phận Hoa Kiều làm ăn sinh sống, cả thị xã có 135 gia

đình ngời Hoa với 513 nhân khẩu [33;147], đa số họ đều có nguồn gốc từQuảng Đông, Phúc Kiến, do chiến tranh và nghèo đói nên họ chạy sang ViệtNam sinh sống tập trung xung quanh khu vực Hội quán Hoa Kiều trớc chợVinh, họ sống bằng nghề làm thuốc bắc và mở hiệu ăn Thời thuộc pháp họ có

Trang 21

tổ chức Lý sự hội, sau khi thị xã Tiêu thổ kháng chiến, nhân dân tản c, nhiềungời trong số họ cũng tản c về các huyện Sau khi phục hồi thị xã thì bà conHoa Kiều lại trở về ổn định lại cuộc sống, họ quần c quanh khu vực chợ Vinhchịu sự quản lý của chính quyền địa phơng và làm nghĩa vụ công dân nh ngờiViệt Nam

Nh vậy, trải qua gần 20 năm (1945 - 1963) địa giới hành chính củaVinh có nhiều thay đổi kéo theo sự gia tăng về dân số sống trên địa bàn thị xã,

để rồi từ đó nó tác động đến mọi mặt của đời sống nhân dân Từ năm 1954 –

1964 Vinh trở thành một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xãhội của Nghệ An, Hà Tĩnh nói riêng và cả miền Bắc nói chung Một số cơ sởkinh tế của thị xã đợc phục hồi xây dựng: Nhà máy Điện Vinh, cảng BếnThuỷ… đều có những thay Trờng đại học Vinh ra đời (1959) và là trờng Đại học đầu tiên của khuvực Bắc Trung Bộ; Trờng TH s phạm Nghệ An, bệnh viện, trờng cấp 1, cấp 2,cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng Hệ thống giao thông đờng sắt nối liền Vinh – HàNội, đờng bộ đi Hà Nội, đờng giao thông nối Vinh đi đến các huyện là điềukiện không thể thiếu để thành phố đánh thắng chiến tranh phá hoại của đếquốc Mỹ, tiếp tục chi viện cho miền Nam để đi đến thống nhất nớc nhà

Trải qua gần 20 năm (1945 - 1963) với nhiều tên gọi khác nhau: Từthành phố Vinh – Bến Thuỷ (1927), đến Thị xã Vinh – Bến Thuỷ (1946),rồi đến thành phố Vinh (1963) Đi cùng với những biến đổi về tình hình kinh

tế – chính trị – văn hoá - xã hội thì vấn đề địa giới hành chính và dân c củathành phố cũng không ngừng thay đổi tuỳ theo điều kiện lịch sử cụ thể củatừng thời kỳ, từng giai đoạn mà điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu phát triểncủa cả nớc nói chung và thành phố nói riêng Từ sắc lệnh số 77 ngày21/12/1945 về việc thành lập thành phố Vinh – Bến Thuỷ đến sắc lệnh số 11ngày 24/1/1946 của chủ tịch Chính phủ lâm thời nớc Việt Nam dân chủ cộnghoà về việc đổi thành thị xã Vinh, đồng thời điều chỉnh địa giới hành chínhcủa thị xã từ 10 khu phố sáp nhập thành năm khu phố, đến đầu năm 1954 điềuchỉnh địa giới hành chính của thị xã theo ba khu vực, nâng diện tích của vùnglên 25km2 Đây là một bớc tiến quan trọng đối với vấn đề địa giới hành chínhcủa thành phố Vinh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Đặc biệt ngày10/10/1963 Hội đồng chính phủ ra Nghị định số 148/CP về việc chính thứcthành lập thành phố Vinh với mục tiêu xây dựng Vinh trở thành một trongnăm khu công nghiệp lớn của miền Bắc Cùng với những thay đổi địa giới

Trang 22

hành chính thì tình hình dân c của thành phố Vinh cũng không ngừng cónhững chuyển biến Sau cách mạng tháng Tám theo lời kêu gọi của Hồ ChíMinh về việc triển khai công tác Tiêu thổ kháng chiến, thành phố đã nghiêmchỉnh chấp hành triệt để đa nhân dân về vùng an toàn, số ngời ở lại bảo vệthành phố, tham gia chiến đấu, sản xuất chỉ dao động từ 5.000 – 6.000 ngời.Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi vào giai đoạn kết thúc thì dân

số của thành phố lại tăng lên 9.469 ngời, đến năm 1964 theo yêu cầu của việchồi c, nhân dân sơ tán nay đợc trở về quê cũ làm ăn, ngời dân thành phố từkhắp các huyện đã lần lợt trở về quê hơng, do đó mà dân số thành phố Vinhthời điểm đó lên đến 71.283 ngời Mặc dù dân c tăng thờng kéo theo vấn đềxã hội phức tạp, đã tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế – chính trị –văn hoá - xã hội của thị xã trong những năm qua và cả những năm sắp tới,nh-

ng những thay đổi đó là điều kiện đa thành phố tiếp tục vơn mình sau chiếntranh, đồng thời là cơ sở để thị xã bớc vào thời kỳ hội nhập xứng đáng là trungtâm của tỉnh Nghệ An theo tinh thần Nghị định số 148 (10/10/1963)

Chơng 2

Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân c của

thành phố Vinh từ tháng 10 năm 1963 đến tháng 10 năm 2008

2.1 Giai đoạn từ tháng 10 năm 1963 đến tháng 08 năm 1993

Trang 23

2.1.1 Bối cảnh lịch sử

Tháng 4/1964 Hội đồng tham mu trởng liên quân Mỹ vạch ra kế hoạchném bom miền Bắc thông qua 94 mục tiêu đánh phá, trong đó có thành phốVinh Đêm 4/8/1964 lấy cớ tàu chiến Mỹ bị hải quân Việt Nam tấn công tạiVịnh Bắc Bộ, chúng dựng nên sự kiện “Sự thay đổiVịnh Bắc Bộ” thông qua kế hoạch phát

động cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Từ đâymiền Bắc bớc vào thời kỳ mới – thời kỳ vừa đẩy mạnh sản xuất sẵn sàngchiến đấu, vừa tiếp tục chi viện sức ngời, sức của cho chiến trờng miền Nam

Nghệ An nói chung, thành phố Vinh nói riêng là vùng chiến lợc quantrọng nên ngay từ đầu nó đã trở thành một trong những mục tiêu đánh phámang tính chiến lợc trong kế hoạch của Mỹ Trong tình thế khẩn cấp đó, ngày25/11/1965, tỉnh Nghệ An đã thông qua đề án “Sự thay đổiChuyển hớng xây dựng kinh tế

ba năm 1965 – 1967”, xác định rõ những mục tiêu cụ thể:

- Trong bất cứ tình huống nào cũng phấn đấu cung ứng đầy đủ lơngthực, thực phẩm cho nhu cầu quốc phòng, ổn định đời sống nhân dân

- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp nhất là công nghiệp điện lực, cơ khísửa chữa, đảm bảo lu thông hàng hoá trong mọi tình huống

- Đề cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mu của kẻ thù, góp phầntích cực vào sự nghiệp cách mạng chung của cả nớc và cách mạng Lào

Theo tinh thần chung của đề án, Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận

Tổ quốc cũng lãnh đạo các cấp, các ngành cử cán bộ trực tiếp về các khối phố,thôn xóm, phối hợp với lực lợng thanh niên, bộ đội cùng nhân dân củng cốhầm hào trú ẩn cho nhân dân, sơ tán cụ già, em nhỏ

Ngày 13/3/1965, 22 lợt máy bay Mỹ ném bom oanh tạc thành phố.Ngày 30/3/1965, Mỹ sử dụng trên 200 lợt máy bay đánh phá huỷ diệt sân bayVinh và vùng phụ cận, chiến tranh phá hoại trên địa bàn thành phố ngày càngtrở nên khốc liệt Chỉ tính từ tháng 3 đến tháng 5/1965, trung đoàn pháo caoxạ và quân dân thành phố Vinh đã bắn rơi 3 máy bay của Mỹ Chiến thắng củaquân dân thành phố Vinh đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ nhân dân cả nớc tiếptục đứng lên vì nền hoà bình, độc lập, tự do của dân tộc Mặc dù vậy, khói lửacủa cuộc chiến tranh ngày càng trở nên khốc liệt, do đó Uỷ ban nhân dân tỉnh

đã quyết định hết sức chính xác, đúng đắn là phải đi sơ tán phần lớn nhân dân

ra khỏi địa bàn thành phố Ngày 10/5/1965, Ban chỉ đạo sơ tán của tỉnh đợcthành lập, ngày 12/5/1965 lệnh sơ tán đợc triển khai, trong đó Vinh là trọng

Trang 24

điểm, khi mà tình hình chiến tranh ngày càng khốc liệt, Thành uỷ, Uỷ banMặt trận Tổ quốc và các ban ngành, đoàn thể quyết định sơ tán nhân dân khỏivùng trọng điểm đánh phá của Mỹ – Ngụy Toàn bộ học sinh phải rời thànhphố lên Nghĩa Đàn, Thanh Chơng … đều có những thay để tiếp tục học nhằm tránh những tổnthất về ngời cho nhân dân Cán bộ đã phối hợp với các đoàn thể quần chúng đểtuyên truyền vận động cho nhân dân hiểu rõ chủ trơng của Thành uỷ, Uỷ banmạnh dạn cho con em đi sơ tán

Cuối năm 1968 Mỹ tạm thời ngừng các cuộc ném bom ở miền Bắc đểtiến hành đàm phán ở Pari Tranh thủ thời gian đó, từ 1969 – 1971 quân vàdân thành phố tổ chức xây dựng, củng cố lại lực lợng, khôi phục và phát triểnkinh tế, văn hoá, xã hội Trên đồng ruộng, phố phờng ngày ngày đều có lực l-ợng san lấp hố bom, xây dựng lại đồng ruộng, củng cố đờng sá, sữa chữa ph-

ơng tiện vận tải, chấn chỉnh kho tàng bến bãi Ngày đêm nhân dân khẩn trơngvận chuyển hàng hoá, vợt sông đa vào chiến trờng miền Nam Sau 5 nămngừng nay đờng sắt Thanh Hoá - Vinh lại thông suốt, hàng hoá vận chuyểnbằng đờng sắt vào Vinh ngày càng lớn, tàu thuyền nớc ngoài cũng cập bếncảng Bến Thuỷ làm cho không khí trở nên nhộn nhịp Theo kế hoạch, nhà máy

Xi măng Cầu Đớc đến giữa năm 1969 mới hoàn thành việc sữa chữa và đi vàosản xuất, thế nhng đến tháng 12/1968 đã khôi phục xong và đi vào sản xuất.Diện tích đất nông nghiệp tăng 6,4% so với năm 1970 Trong ngành tiểu thủcông nghiệp, xí nghiệp bánh kẹo Vinh, mộc Thống nhất, ép dầu, cảng BếnThuỷ và 16/18 cơ sở tiểu thủ công nghiệp có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật

đã hoàn thành vợt mức kế hoạch năm 1971 trớc thời hạn Năm 1971, ngànhthơng nghiệp tiếp tục chuyển thêm 426 ngời buôn bán nhỏ sang làm ngànhnghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Các hoạt động tài chính, thơng nghiệp,giáo dục và y tế đợc củng cố, phục vụ nhân dân một cách bình thờng trongthời kỳ có hoà bình tạm thời, là điều kiện để thành phố sẵn sàng khi Mỹ tiếnhành ném bom bắn phá miền Bắc lần 2

Ngày 6/4/1972, đế quốc Mỹ tuyên bố dùng không quân, hải quân tiếnhành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai Địch mở đầu cuộc đánh phálần này ở Nghệ An Vào lúc 02 giờ 55 phút ngày 10/4/1972, 55 lần chiếc máybay, trong đó có 9 chiếc B52 ào ạt bay tới, ném bom rải thảm dày đặc xuốngmột vùng dài gần 6km, rộng gần 1km trùm lên các xã Hng Hoà, Hng Dũng,Hng Đông, Nghi Phú, Bến Thuỷ và Trung Đô Mật độ bom dày đặc, mỗi quả

Trang 25

chỉ cách nhau từ 5 đến 10m, gây thơng vong nặng nề cho thành phố Trongtình hình địch bắn phá liên tục và rất ác liệt, Đại hội đại biểu Đảng bộ thànhphố lần thứ VIII đã đợc tổ chức tại xã Hng Thông, huyện Hng Nguyên từ ngày

22 đến 24/5/1972 Đại hội đề ra Nghị quyết: “Sự thay đổiLãnh đạo quân dân phát huytruyền thống anh dũng, bất khuất, kiên cờng bám trụ, kiên quyết đánh thắngmột lần nữa cuộc chiến tranh phá hoại tàn bạo của đế quốc Mỹ, bảo đảm giaothông vận tải thông suốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho tiềntuyến, sẵn sàng đối phó và chiến thắng giặc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào”[33;210] Theo tinh thần đó, quân dân thành phố đã ngày đêm lao động sảnxuất, chiến đấu góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lợc, đa thành phố bớc vàothời kỳ khôi phục hậu quả chiến tranh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thốngnhất đất nớc Với chiều dài thời gian cùng những biến động lớn của lịch sử,thành phố đã có chủ trơng, chính sách điều chỉnh mọi mặt đời sống xã hội chophù hợp với đòi hỏi của lịch sử

Xuất phát từ những yêu cầu thiết thực đó và nó đã tác động đến nhiềumặt của đời sống xã hội của thành phố Vinh mà trớc hết là vấn đề dân c củavùng Cộng với những nhu cầu quan trọng trong việc xây dựng lại và mở rộngthành phố khi hoà bình lập lại mà nó đã làm thay đổi địa giới hành chính củathành phố Vinh thời kỳ 1964 – 1975

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã kết thúc bằng chiếndịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, đa cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nớc kéo dài gần một phần t thế kỷ của nhân dân ta đếnthắng lợi hoàn toàn, Tổ quốc thống nhất, giang sơn thu về một mối, Bắc Namsum họp một nhà Cách mạng nớc ta chuyển sang giai đoạn mới: xây dựngchủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong niềmvui chiến thắng, nhân dân hai miền Nam Bắc dới sự lãnh đạo của Đảng cộngsản Việt Nam, phấn khởi, hăng hái tham gia khôi phục và xây dựng đất nớc.Nhng chiến tranh mới đi qua, hậu quả sau gần 30 năm chiến tranh ở cả haimiền đã để lại muôn vàn khó khăn thử thách chồng chất ở miền Nam, bọn

địch tàn phá, nhiều vùng đất bị bỏ hoang, nhà cửa của dân bị san bằng nhất làvùng nông thôn, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt, hàng triệu nguỵ quân,nguỵ quyền tan rã cha ổn định cuộc sống, chính quyền cách mạng mới thiếtlập, kinh tế ngừng phát triển, đời sống nhân dân khó khăn ở miền Bắc, saukhi ký hiệp định Pari năm 1973, một số vùng, một số mặt kinh tế, văn hoá đã

Trang 26

đợc khôi phục, nhng “Sự thay đổitất cả cho tiền tuyến”, “Sự thay đổitất cả để chiến thắng”, dốc toànlực cho chiến trờng, nền kinh tế tăng trởng chậm, năng suất lao động thấp.Nhà nớc đang thực hiện chế độ “Sự thay đổibao cấp” Trong khi đó tình hình thế giới diễn

ra phức tạp, các nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, sự viện trợ của LiênXô cũ và các nớc cho Việt Nam không còn, các thế lực phản động và đế quốc

Mỹ dùng mọi thủ đoạn hòng phá hoạt công cuộc xây dựng đất nớc ta Nhữngkhó khăn đó không thể một sớm một chiều có thể khắc phục đợc mà nó đòihỏi phải có thời gian và đờng lối chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nớc đểlãnh đạo nhân dân từng bớc vợt qua những khó khăn nêu trên

Nghệ An là một trong những tâm điểm của chiến tranh nên hậu quả củacuộc chiến tranh để lại cũng không kém phần nặng nề Tại thành phố Vinh,thơng tích của chiến tranh làm cho cơ sở vật chất kỹ thuật thấp kém, lạc hậu,

đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn Hệ thống trờng học, bệnh viện,giao thông vận tải đều xuống cấp trầm trọng đòi hỏi phải có sự quan tâm đầu

t xây dựng, nâng cấp lại để phù hợp với tình hình mới, với yêu cầu mới củathời kỳ quá độ Những thách thức đó đang đòi hỏi sự nỗ lực cao nhất của tất cảcác cán bộ, Đảng viên, nhân dân toàn thành phố phải cố gắng để khắc phụcnhững khó khăn nêu trên

Với tinh thần đoàn kết, không quản ngại gian khổ hy sinh thì từ đổ náthoang tàn do chiến tranh để lại, Đảng bộ và nhân dân thành phố lại bắt tay xâydựng thành phố Vinh “Sự thay đổiđàng hoàng hơn, to đẹp hơn” đúng nh lời Bác Hồ đãdặn Để đáp ứng những yêu cầu nêu trên, ngày 20/6/1975, Đại hội đại biểuMặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Vinh lần thứ IV chính thức khai mạctại hội trờng thành uỷ Vinh Đại hội đã thảo luận, xây dựng phơng hớng,nhiệm vụ cho công tác mặt trận trong thời gian sắp tới là: phát huy truyềnthống cách mạng, tăng cờng mở rộng các tổ chức, đoàn thể quần chúng, độngviên kịp thời cán bộ, Đảng viên, nhân dân thi đua lao động sản xuất sáng tạovới tinh thần làm chủ tập thể, nhanh chóng khắc phục mọi hậu quả chiếntranh, đẩy mạnh phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, đa thành phố Vinh thực

sự trở thành đầu tàu trên tất cả các phợng diện Từ năm 1975 trở đi, với sựquan tâm của Trung ơng Đảng, thành phố Vinh đợc quy hoạch lại, phố phờngtiếp tục mọc lên, các cơ quan trung ơng, tỉnh, thành phố, phờng, xã gấp rút đ-

ợc xây dựng trong không khí chung của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Năm 1986 theo tinh thần chung của Đảng,

Trang 27

nhà nớc về việc đa cả nớc bớc vào thời kỳ mới – thời kỳ đổi mới, mở cửa đểhội nhập với thế giới và khu vực Tiếp thu nhanh chóng, nhạy bén với tìnhhình mới, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An nói chung, thành phố Vinh nói riêng

đã nghiêm chỉnh chấp hành đờng lối của Đảng đề ra, bên cạnh những thànhtựu đạt đợc thì Vinh cũng vấp phải những sai lầm, thiếu sót Tuy nhiên vớitinh thần tự giác vơn lên, Đảng bộ và nhân dân thành phố đã nhanh chóng sửasai, khắc phục những sai lầm thiếu sót để tiếp tục đa thành phố phát triển vữngmạnh hơn, hoàn thành xuất sắc hơn các kế hoạch năm năm và đa thành phốphát triển vững mạnh về mọi mặt Những kết quả đạt đợc to lớn đó là điềukiện cần thiết, không thể thiếu đợc để ngày 13/8/1993 Thủ tớng chính phủ kýquyết định số 10404 TTg xếp Vinh là đô thị loại II Chính những yêu cầu thiếtthực của việc xây dựng, đổi mới đã dẫn đến những thay đổi về địa giới hànhchính của thành phố Vinh trong giai đoạn này, từ đó kéo theo những thay đổi

về dân c trên địa bàn thành phố trong khoảng thời gian (1975 – 1993)

2.1.2 Sự thay đổi về địa giới hành chính

Để chuẩn bị xây dựng lại và mở rộng thành phố khi hoà bình lập lạinhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân dân quay trở về địa phơng sinhsống cũng nh việc chuẩn bị cơ sở vật chất hạ tầng cho việc xây dựng phát triểnquê hơng thì Tỉnh ủy và Uỷ ban hành chính tỉnh đã chỉ đạo thành phố duy trìphòng kiến trúc Vinh để vừa làm nhiệm vụ xây dựng các vờn ơm cây xanh,cây bóng mát, cây ăn quả Đồng thời tỉnh đã đề nghị lên Chính phủ cho sápnhập một số xã của Hng Nguyên, Nghi Lộc vào thành phố Vinh Ngày20/12/1970 Phủ thủ tớng có Quyết định số 80 phê chuẩn việc sáp nhập các xãHng Đông, Hng Lộc, Hng Hoà, Hng Vĩnh, một phần đất đai ở bờ bắc sôngCầu Đớc thuộc xã Hng Chính huyện Hng Nguyên và xã Nghi Phú thuộchuyện Nghi Lộc vào thành phố Vinh

Xã Hng Đông: Theo các th tịch địa chí cũ trớc thế kỷ 19 thì nó thuộc xãYên Trờng, Tổng Ngô Trờng, năm 1826 Tổng Ngô Trờng đổi thành Tổng YênTrờng Cũng trong năm 1826 Tổng Yên Trờng đợc chuyển sự quản lý từhuyện Nghi Lộc sang phủ Hng Nguyên Phủ Hng Nguyên bao gồm 6 tổng là:Phù Long, Văn Viên, Thông Lạng, Đô Yên, Yên Trờng, Hải Đô Từ năm 1946Hng Nguyên có thay đổi về địa giới hành chính, đó là việc cắt một số làng chothị xã Vinh và các huyện lân cận, lập xã mới Cụ thể: Các làng Long Xuyên,Xuân Trạch, Mai Sơn, Đông Châu thuộc Tổng Phù Long đợc cắt về Nam Đàn,

Trang 28

xã Xuân Yên đổi tên là xã Thờng Xuân Sang giữa năm 1947, thị xã Vinh thựchiện Tiêu thổ kháng chiến, các cơ quan, xí nghiệp, trờng học và nhân dân tản

c về nông thôn, số dân của thị xã không nhiều nên Uỷ ban kháng chiến hànhchính tỉnh Nghệ An đã quyết định chuyển các khu vực hành chính của thị xãVinh tạm giao cho Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện Hng Nguyên quản

lý Chính vì vậy, Hng Nguyên lại thay đổi bằng việc sáp nhập một số làng, xãthành đơn vị hành chính mới, xã Thờng Xuân nhập với xã Hơng Cái thành xãHng Thành Cuối năm 1953, khi Chính phủ thực hiện giảm tô, giảm tức nhằmnâng đỡ sức dân, đẩy mạnh cuộc kháng chiến thì thấy xã Hng Thành có địabàn rộng và kết cấu dân c phức tạp, huyện Hng Nguyên lại chia Hng Thànhlàm hai, lấy ranh giới là con sông Già (kênh nhà Lê), phía Tây gọi là xã HngTây, phía Đông gọi là xã Hng Đông và tên gọi Hng Đông chính thức có từ đó.Sau Quyết định số 80/CP ngày 20/12/1970 xã Hng Đông chính thức thuộcthành phố Vinh Năm 1975 sau giải phóng Miền Nam, cả nớc đi lên chủ nghĩaxã hội, thành phố Vinh đứng trớc ngỡng cửa thành phố lớn công nghiệp, cần

có một vành đai thực phẩm Do vậy thành phố và địa phơng đã chuyển một sốdân biết nghề rau ở Hng Đông, Diễn Xuân, Quỳnh Lơng và Vinh Hng thànhlập Hợp tác xã chuyên rau Đông Vinh Từ đó xã Hng Đông có thêm hai xóm

Đông Vinh và Vinh Xuân nh ngày nay Tháng 4/1979 theo tinh thần đa nềnsản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, thành phố Vinh lại thay đổi

địa giới các phờng xã một lần nữa, thành phố nhập hai đơn vị là xã Hng Đông

và Hng Vĩnh thành xã Đông Vĩnh Do địa bàn rộng không phù hợp với tìnhhình đổi mới của đất nớc, ngày 28/6/1994 Quyết định số 54 của Chính phủchia tách xã Đông Vĩnh thành hai đơn vị hành chính riêng gọi là Đức Thịnh vàxã Lộc Đa Đức Thịnh trớc kia có tên là Biện Thành hoặc Bồ Sơn, tên Nôm làlàng Bồ từ đó đẻ ra các tên nh đền Bồ, chợ Bồ, cầu Bồ, xã Đức Thịnh gồm cólàng Hạ, làng Thợng, làng Thạch, làng Tháp, làng Chay Xã Lộc Đa gồm thônLộc Đa, Mậu Lâm, Mậu Đơn, Ngũ Lộc, Triều Đông Sau cách mạng tháng8/1945 bỏ các tổng Lộc Đa và Đức Thịnh thuộc phủ Hng Nguyên và đếnQuyết định số 80BT ngày 20/12/1970 thì xã Hng Lộc đặt dới sự lãnh đạo trớctiếp của thành uỷ Vinh và sự chỉ đạo của uỷ ban thành phố, từ đó tạo nên sựphấn khởi mới đối với nhân dân toàn xã

Sau quyết định này thì nó đã nâng diện tích của thành phố lên 60km2

[33;201] bao gồm 6 xã ngoại thành và 11 phờng nội thành Đây là thay đổi

Trang 29

quan trọng đối với thành phố Vinh trong lĩnh vực địa giới hành chính thời kỳ(1964 – 1975) tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng, xây dựng và pháttriển thành phố sau ngày hoà bình lập lại.

Đất nớc thống nhất, cả nớc đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện Nghịquyết 425 ngày 20/9/1975 của Bộ chính trị Trung ơng Đảng về việc bỏ cấpkhu, hợp tỉnh Trong hai ngày 24 và 25/10/1975 tại thành phố Vinh, Ban thờng

vụ Tỉnh uỷ Nghệ An, Hà Tĩnh đã họp ra thông báo đặc biệt về việc hợp nhấthai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh để thành lập tỉnh Nghệ Tĩnh Thực hiện nghịquyết của Hội đồng chính phủ, từ ngày 3/2/1976 hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnhchính thức sáp nhập thành tỉnh Nghệ Tĩnh Từ đó thành phố Vinh trở thànhtrung tâm kinh tế – chính trị – văn hoá của một trong những tỉnh có dân tộc

và dân số lớn nhất trong 51 tỉnh thành của cả nớc sau ngày đất nớc hoà bình,miền Nam hoàn toàn giải phóng

Là một thành phố lâu năm, đến nay trong công cuộc đổi mới thì thànhphố Vinh đã không ngừng cố gắng vơn mình lên về mọi mặt, cùng với nhữngthay đổi quan trọng của cả tỉnh, thành phố Vinh cũng có những bớc tiếnkhông ngừng, mà đáng kể nhất là việc thay đổi địa giới hành chính của địa ph-

ơng Tháng 4/1979 theo tinh thần đa nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hộichủ nghĩa, thành phố Vinh đã thay đổi địa giới hành chính các phờng xã mộtlần nữa: Thành phố nhập hai đơn vị xã Hng Đông và Hng Vĩnh thành xã ĐôngVĩnh

Ngày 18/8/1982 Hội đồng Bộ trởng ra Nghị định số 137/HĐBT về việcphân vạch một số phờng thuộc thành phố Vinh – tỉnh Nghệ An Trong đó

điều C của Nghị định ghi rõ về việc tách phờng Hng Bình thành 2 phờng lấytên là phờng Hng Bình và phờng Hà Huy Tập Theo tinh thần của Nghị định,phờng Hà Huy Tập đợc thành lập mới sẽ có địa giới hành chính nh sau:

Phía Bắc giáp xã Nghi KimPhía Nam giáp phờng Hng BìnhPhía Đông giáp xã Nghi Phú và phờng Hng DũngPhía Tây giáp đờng Lê Lợi và xã Đông VĩnhToàn bộ phờng Hà Huy Tập sẽ có 22 khối với diện tích là 217ha, dân số

là 15.600 ngời, phờng đợc hình thành từ tiểu khu Kênh Bắc Đây là phần đấttách ra từ phờng Hng Bình, Hng Dũng, Lê Lợi và xã Nghi Phú Vùng đất này

Trang 30

trớc đó vốn là những trận địa pháo bảo vệ thành phố trong kháng chiến chống

Ngày 12/9/1982 sau một thời gian chuẩn bị, Uỷ ban nhân dân tỉnh,thành phố Vinh quyết định thành lập phờng Hồng Sơn Xã Vinh Tân cắt mộtphần đất theo quyết định của Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Cụ thể xã VinhTân mới sẽ chỉ gồm những đơn vị thuần sản xuất nông nghiệp, để đủ số dân vàdiện tích, tỉnh cắt thêm hai hợp tác xã Yên Giang và Vĩnh Mỹ từ Hng Nguyênnhập vào xã Đổi lại xã Vĩnh Tân chuyển những hộ buôn bán, nhà mặt phốcủa các xóm Phúc Tân, Quang Tiến, Quang Trung và chợ Vinh cho phờngHồng Sơn Đồng thời tách luôn cả xóm Yên Phú về phờng Trung Đô, xómPhúc Tiến về phờng Lê Mao, là hai phờng mới có quyết định thành lập cùngthời gian với phờng Hồng Sơn

Cũng năm 1982, theo chủ trơng của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An,Thành uỷ Vinh, xã Vinh Tân còn cắt xóm Tân Vinh (kẹp giữa đờng MinhKhai và đờng Hồng Bàng), xóm Trung Hoà (kẹp giữa đờng Minh Khai và đ-ờng Ng Hải), xóm Phúc Tiến (Cầu Nại, nhà Bạt, nhà tu kín) cho phờng LêMao)

Cũng theo tinh thần đó, ngày 21/8/1982 phờng Trờng Thi đợc thành lậptrên cơ sở nhập một số đất đai và dân c của các xã, phờng Hng Dũng, BếnThuỷ, Trung Đô Tuy mới thành lập nhng vùng đất Trờng Thi đã có lịch sửhình thành từ xa xa Trờng Thi là nơi xa kia có trờng thi Hơng – một trongbảy trờng thi Hơng của cả nớc đợc tổ chức thi tuyển cử nhân, tú tài để bổ sungcho bộ máy của nhà nớc phong kiến Đây là nơi có nhà máy sữa chữa xe lửaTrờng Thi – một trong ba nhà máy sữa chữa xe lửa của ngành hoả xa ĐôngDơng Trờng Thi cũng đã từng là một trong ba thị xã hợp thành thành phốVinh Từ ngày có Đảng, nhân dân trên địa bàn Trờng Thi đã cùng công nhân,nông dân Vinh – Bến Thuỷ đứng lên chống ách thống trị của thực dân phongkiến Vùng đất Trờng Thi là nới chứng kiến bao cuộc xuống đờng của giai cấpcông nhân, nông dân Vinh – Bến Thuỷ đợc mở đầu bằng cuộc biểu tình

Trang 31

1/5/1930, làm nên cao trào cách mạng 1930 – 1931 và Xô Viết Nghệ Tĩnh.Trờng Thi là nơi diễn ra cuộc biểu dơng lực lợng của hàng vạn nhân dân Nghệ

An trong cao trào cách mạng 1936 – 1939… đều có những thay Từ ngày thành lập đến nay,

Đảng bộ và nhân dân phờng Trờng Thi tiếp tục phát huy những truyền thốngkiên cờng của Trờng Thi – Bến Thuỷ, khắc phục mọi khó khăn, từng bớc đểxây dựng quê hơng mình lớn mạnh

Sau khi thành lập thêm phờng Trờng Thi, toàn bộ thành phố Vinh có59,1 km2 bao gồm 17 phờng xã Trong đó có 12 phờng nội thành: Đội Cung,Trung Đô, Quang Trung, Trờng Thi, Bến Thuỷ, Hồng Sơn, Lê Mao, Cửa Nam,

Lê Lợi, Hng Bình, Hà Huy Tập, Hng Dũng Và 5 xã ngoại thành: Hng Lộc,Vinh Tân, Hng Hoà, Nghi Phú, Đông Vĩnh [21;9]

đình phát triển khá, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ổn định và đợccải thiện Cơ sở vật chất kỹ thuật đợc nâng cấp, bộ mặt đô thị có sự thay đổilớn, sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục – thể thao tiến bộ, tình hìnhchính trị an ninh đợc giữ vững Căn cứ vào những bớc phát triển của thành phốVinh thì ngày 13/8/1993 Thủ tớng Chính phủ ký Quyết định số 10404 TTgxếp Vinh là đô thị loại II

Những thay đổi về địa giới hành chính của thành phố Vinh từ năm 1975– 1993 đợc mở rộng theo hớng Nam, về phía sông Lam và Quốc lộ 1 đoạn đ-ờng tránh thành phố Vinh Sau khi mở rộng, diện tích tự nhiên của thành phốtăng gần 6 lần so với năm 1927, và nhiều hơn một đơn vị hành chính so vớinăm 1975 Những thay đổi đó là bớc đi đầu tiên của thành phố trong lĩnh vực

địa giới hành chính ở thời kỳ đổi mới, nó sẽ tạo cơ sở để thành phố tiếp tục

điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới, đồng thời nó cũng gópphần không nhỏ trong việc phấn đấu đa thành phố trở thành trung tâm kinh tế– chính trị – văn hoá của vùng Bắc Trung Bộ

Trang 32

2.1.3 Sự thay đổi về dân c thành phố Vinh giai đoạn từ tháng 10 năm 1963 đến tháng 8 năm 1993

Cũng nh thời kỳ trớc, trong giai đoạn này tình hình dân c thành phốVinh vẫn tiếp tục thay đổi theo chiều hớng gia tăng Riêng trong năm 1973dân số thành phố đã tăng 50.000 [62;218], đến năm 1975 dân số thành phố là96.473 ngời [62;8], trong đó tỉ suất sinh đạt 26,2% tơng đơng 2.527 ngời và tỉsuất tử là 5,3% tơng đơng với 511 ngời Từ đó ngời ta tính đợc rằng tỉ lệ giatăng dân số tự nhiên của thành phố Vinh nằm ở mức cao với 20,9‰ Trongtổng số dân c nói trên thì số ngời trong độ tuổi lao động là 59.593 ngời chiếm61,7% trong tổng số dân c, điều đó chứng tỏ dân c trong độ tuổi lao động củathành phố đạt tới mức lao động trẻ, số ngời trong độ tuổi lao động cao Riêng

số lao động Nữ của thành phố trong năm 1975 là 27.043 ngời đạt 45%, còn lại

là lao động Nam Số dân nội thành lên tới 62.448 ngời chiếm 64,7%, trong khidân số ngoại thành chỉ có 34.025 ngời, chiếm 35.3% [9;18]

Cuối thập kỷ 70 thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều chuyển biếnphức tạp tác động mạnh mẽ đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam Liên Xô cùng các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu rơi vào khủng hoảngkinh tế – chính trị – xã hội nghiêm trọng, đang đứng bên bờ vực của sự sụp

Trang 33

đổ Trong khi đó tập đoàn PônPốt – Iêngxary trắng trợn huy động 19 trêntổng số 23 s đoàn quân chính quy phát động cuộc chiến tranh biên giới TâyNam Ngày 17/2/1979 chiến tranh biên giới nổ ra ở phía Bắc, cả nớc phải tiếptục cầm súng để bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc Tình đoàn kết của haidân tộc đã thôi thúc thanh niên Việt Nam tình nguyện lên đờng tham chiến,trong đó có không ít thanh niên là con em thành phố Vinh anh hùng.

Cuối những năm 1977 đầu 1978, cũng nh nhiều địa phơng khác trên cảnớc, số ngời Việt gốc Hoa c trú trên địa bàn thành phố Vinh tìm cách về nớc.Những thay đổi dồn dập đó đã tác động không nhỏ đến tình hình dân c trên

địa bàn thành phố Vinh lúc bấy giờ

Cũng trong thời gian này, do chủ trơng mở rộng địa giới hành chính củathành phố đã kéo theo việc sáp nhập dân c của các xã lân cận vào địa bànthành phố Vinh làm cho dân số của thành phố tăng lên đáng kể, từ 96.473 ng-

ời (1975) lên 125.000 (1978) và đạt 135.560 ngời năm 1980

Những năm sau khi tiến hành công cuộc đổi mới, trên địa bàn Nghệ Antiếp tục có nhiều tác động đến tình hình dân c, đặc biệt sự kiện chia tách haitỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh vào năm 1991, việc đầu t xây dựng nâng cấp thànhphố Vinh trở thành đô thị loại II và phấn đấu trở thành đô thị loại I, hình thànhkhu công nghiệp Bắc Vinh đã làm cho dân c của thành phố thay đổi theo chiềuhớng gia tăng Nếu nh năm 1986 dân c của thành phối mới chỉ có 159.046 ng-

ời thì đến năm 1993 dân c của thành phố đạt tới 190.378 ngời Điều đó chứng

tỏ chỉ trong vòng bảy năm, dân c thành phố Vinh đã tăng 31.332 ngời với tỉ lệgia tăng tự nhiên năm 1986 đạt 21,7%, năm 1993 đạt 16,8% Mặt khác dân sốthành phố trong giai đoạn này tiếp tục có sự điều chỉnh việc phân bố dân cgiữa thành thị và nông thôn Chẳng hạn, năm 1976 dân c của thành phố Vinh

là 108.388 ngời, trong đó số dân thành thị chiếm 70.535 ngời tơng đơng với65%, nông thôn chiếm 37.848 ngời tơng đơng 35% Điều này cho thấy việcsáp nhập các xã ngoại thành vào thành phố đã làm tăng số lợng dân c ngoạithành, dân c ở khu vực nông thôn đồng nghĩa với việc số dân hoạt động tronglĩnh vực nông nghiệp của thành phố có chiều hớng tăng lên

Trang 34

Bảng thống kê dân số và tỷ lệ tăng tự nhiên qua các năm của thành phố Vinh

sự thay đổi địa giới hành chính, chính sách phát triển kinh tế – xã hội… đều có những thay củathành phố làm cho dân số của thành phố tiếp tục tăng dần, điều đó đã mang lạicho thành phố Vinh nguồn lao động dồi dào để khai thác mọi tiềm năng, thếmạnh để phát triển Mặc dù vậy khó khăn của việc gia tăng dân số cũng ảnh h-ởng không nhỏ đến vấn đề kinh tế – xã hội của thành phố Vinh, trong đó cóvấn đề hạ tầng cơ sở, giáo dục, y tế, giao thông vận tải, điện, đờng… đều có những thay đều phải

đợc đầu t nâng cấp để đáp ứng nhu cầu ngày càng nhiều của dân c sống trên

địa bàn

Qua đó ta thấy, từ năm 1963 – 1993, mặc dù tình hình kinh tế, chínhtrị, văn hoá, xã hội của thành phố còn gặp nhiều khó khăn nhng vấn đề địagiới hành chính và dân c của thành phố không ngừng nhận đợc sự quan tâmcủa các cấp chính quyền để phục vụ cho công cuộc xây dựng, bảo vệ quê h-

ơng Nhờ đó, trong những năm qua, địa giới hành chính và dân c của thànhphố luôn thay đổi, đặc điểm của việc thay đổi đó là thành lập thêm một số ph-ờng xã, mở rộng đơn vị hành chính trên địa bàn thành phố, từ đó kéo theo sự

Trang 35

thay đổi về dân c Những thay đổi đó sẽ còn tiếp tục diễn ra trong những thậpniên tiếp theo để phù hợp với yêu cầu của việc phát triển cũng nh việc khaithác tiềm năng của thành phố Vinh.

2.2 Giai đoạn từ đô thị loại II, Vinh phát triển thành đô thị loại I (1993 2008)

2.2.1 Bối cảnh lịch sử

Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX tình hình thế giới, khu vực vàtrong nớc có nhiều thay đổi, biến động không ngừng Cuộc cách mạng khoahọc kỹ thuật đang diễn ra nh vũ bão tạo thành bớc nhảy vọt của lực lợng sảnxuất, đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá lực lợng sản xuất, lúc này trên thế giớihình thành nhiều trung tâm kinh tế mới, lớn mạnh về mọi mặt nh Mỹ, Nhật,Tây Âu… đều có những thay ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng cũng đang diễn ra những biến

đổi quan trọng, các lực lợng cách mạng và hoà bình tiếp tục lớn mạnh, nềnkinh tế khu vực tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh Liên xô và các nớc Đông

Âu đang đứng trớc cuộc khủng hoảng do chậm thích nghi với cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật

Trong hơn một thập niên, trải qua hai nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toànquốc IV và V (1976 – 1986), Đảng và nhân dân ta vừa triển khai, vừa tìm tòithử nghiệm con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội Trong quá trình đó, cách mạngxã hội chủ nghĩa ở nớc ta đã đạt đợc những thành tựu và tiến bộ đáng kể trêncác lĩnh vực của đời sống xã hội, song cũng gặp không ít khó khăn, yếu kém.Khó khăn của ta trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng làm cho đấtnớc lâm vào khủng hoảng trầm trọng, nhất là những năm giữa của thập niên

80 Sản xuất trì trệ, nạn thiếu lơng thực diễn ra triền miên, đời sống nhân dângặp nhiều khó khăn Đứng trớc những biến đổi to lớn của đất nớc, thế giới,

đồng thời để khắc phục những sai lầm, khuyết điểm, đa đất nớc vợt qua cuộckhủng hoảng, đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên, tháng12/1986 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam

đã đề ra đờng lối đổi mới, những nội dung của Đại hội đã đáp ứng đợc yêu cầucủa lịch sử đặt ra, là mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển mình của đất nớcsang thời kỳ đổi mới

Đảng bộ tỉnh Nghệ An nói chung, Đảng bộ thành phố Vinh nói riêng đãnắm bắt kịp thời đờng lối đổi mới của Đảng, căn cứ vào tình hình cụ thể của

Trang 36

tỉnh, thành phố đã thực hiện một cách chủ động, sáng tạo đờng lối đổi mới của

Đảng và địa phơng

Dới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, tháng 10/1986, Đảng bộ thành phố Vinh đã

tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XVI Đại hội đã đa ra phơng hớng, nhiệm vụ,mục tiêu kinh tế – xã hội của thành phố Vinh trong những năm đầu của thời

kỳ đổi mới Đại hội xác định “Sự thay đổiThành phố phải có bớc chuyển biến sâu sắc,toàn diện, tạo ra bớc ngoặt kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng Trong đó vềkinh tế phải đi với nhịp độ nhanh và phát triển mạnh mẽ Công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu là nhiệm vụ cótính then chốt Kiên quyết xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, nhanh chóng thựchiện cơ chế quản lý mới phù hợp với trình độ và lực lợng sản xuất hiện nay”[40;37] Nội dung của Đại hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt những năm đầu thựchiện công cuộc đổi mới của thành phố Vinh (1986 – 1990)

Không chỉ dừng lại ở đó, khi Nghị quyết mới đi vào cuộc sống, trên cơ

sở các Nghị quyết của các kỳ Đại hội của Trung ơng Đảng (Đại hội VII, VIII,IX), thành phố cũng đã tiến hành các kỳ Đại hội XVII (12/1989), XVIII(1/1992), XIX (2/1996), XX (12/2000) và gần đây nhất là Đại hội Đảng bộthành phố lần thứ XXI (10/2005), Đảng bộ thành phố đã tìm đợc lối đi chocông cuộc đổi mới với mong muốn tạo nên diện mạo mới, mang lại một cuộcsống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, no đủ hơn cho ngời dân trên thành phố Đỏanh hùng

2.2.2 Sự thay đổi về địa giới hành chính

Sau hai mơi năm khôi phục và phát triển, ngày 13/8/1993 Thủ tớngChính phủ đã có Quyết định số 10404/QĐ-TTg công nhận thành phố là đô thịloại II Lúc này đơn vị hành chính thành phố Vinh đợc tổ chức thành 12 phờng

và 5 xã với tổng diện tích là 59,1 km2 Từ đó đến nay, địa giới hành chínhthành phố tiếp tục đợc điều chỉnh mở rộng qua từng thời kỳ để phù hợp vớinhu cầu phát triển của xã hội

Tháng 10/1994 xã Hng Dũng chuyển một phần đất thuộc các xóm YênBình sang phờng Hng Bình và năm khối Kênh Bắc về phờng Hà Huy Tập

Cũng trong năm 1994, ngày 28/6/1994 Chính phủ có Quyết định số 54chia tách xã Đông Vĩnh thành hai đơn vị hành chính là phờng Đông Vĩnh vàxã Hng Đông Đồng thời Quyết định 52/QĐUB phân chia Hợp tác xã Hng

Đông II thành hai đơn vị kinh tế tập thể, lấy tên là Hợp tác xã Thống Nhất

Trang 37

(thuộc phờng Đông Vĩnh) và Hợp tác xã Nông nghiệp II thuộc xã Hng Đông.Lúc này đơn vị hành chính đợc điều chỉnh thành 13 phờng và 5 xã với diệntích không đổi.

Trong đó 13 phờng nội thành bao gồm: Phờng Đội Cung, Trung Đô,Quang Trung, Trờng Thi, Bến Thuỷ, Hồng Sơn, Lê Mao, Cửa Nam, Lê Lợi, H-

Theo tinh thần của Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg, từ đó đến nay tốc

độ phát triển kinh tế, xây dựng hạ tầng cơ sở, văn hoá, giáo dục, y tế… đều có những thay trên

địa bàn thành phố Vinh tăng lên nhanh chóng Vinh thực sự đã góp phần tolớn vào việc thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế – văn hoá - khoa học kỹ thuật củatỉnh Nghệ An

Từ đó đến nay, thành phố đã trải qua mấy kỳ Đại hội Đảng bộ, lần lợt

từ Đại hội Đảng bộ lần thứ XX (12/2000), lần thứ XXI (10/2005)… đều có những thay nhằm tìm

ra hớng đi đúng đắng cho công cuộc đổi mới của thành phố với mong muốntạo nên diện mạo mới, mang lại một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, no

đủ hơn cho ngời dân trên thành phố Đỏ anh hùng

Những bớc đi của thành phố Vinh luôn thu hút sự đầu t, quan tâm theodõi của Đảng và nhà nớc ta để qua đó đánh giá đúng kết quả mà nhân dânthành phố đạt đợc nhằm khích lệ tinh thần phấn đấu của toàn tỉnh, đó là lý dovì sao Chính phủ nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà không ngừng đa ra cácquyết định về việc điều chỉnh địa giới hành chính của thành phố Vinh choxứng đáng với khả năng mà nhân dân thành phố đạt đợc trên các lĩnh vựckhác

Ngày 23/3/2005 Chính phủ ra Nghị định 39/2005/NĐ/CP về việc điềuchỉnh địa giới hành chính, thành lập phờng, xã thuộc thành phố Vinh và cáchuyện Tân Kỳ, Quế Phong thuộc tỉnh Nghệ An

Trang 38

Tại điều 1, Nghị định quy định: Thành lập phờng Hng Phúc thuộc thànhphố Vinh trên cơ sở 58,17ha diện tích tự nhiên và 7.932 nhân khẩu của phờngHng Bình; 55,73ha diện tích tự nhiên và 1.535 nhân khẩu của phờng HngDũng Phờng Hng Phúc mới thành lập sẽ có 113,90ha diện tích tự nhiên và9.467 nhân khẩu, địa giới hành chính phờng Hng Phúc sẽ đợc sắp xếp nh sau:

Phía Đông giáp phờng Hng DũngPhía Tây giáp phờng Hng BìnhPhía Nam giáp phờng Trờng ThiPhía Bắc giáp phờng Hà Huy Tập [69]

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính thành lập phờng Hng Phúc thìphờng Hng Bình còn lại 162,22ha diện tích tự nhiên và 14.523 nhân khẩu, ph-ờng Hng Dũng còn lại 515,76ha diện tích tự nhiên và 11.565 nhân khẩu

Tại điều 2, Nghị định quy định thành lập phờng Quán Bàu thuộc thànhphố Vinh trên cơ sở 111,20ha diện tích tự nhiên và 5.300 nhân khẩu của ph-ờng Lê Lợi; 120,20ha diện tích tự nhiên và 3.370 nhân khẩu của xã Hng

Đông Phờng Quán Bàu mới thành lập sẽ có 231,40ha diện tích tự nhiên và8.670 nhân khẩu Địa giới hành chính của phờng Quán Bàu sẽ đợc sắp xếp nhsau:

Phía Đông giáp phờng Hà Huy TậpPhía Tây giáp phờng Đông Vĩnh và xã Hng ĐôngPhía Nam giáp phờng Lê Lợi và phờng Hng BìnhPhía Bắc giáp xã Hng Đông và xã Nghi Phú [69]

Sau khi điều chỉnh địa giới thành lập phờng Quán Bàu thì phờng Lê Lợicòn lại 137,20ha diện tích tự nhiên và 12.700 nhân khẩu; xã Hng Đông còn lại64.296ha diện tích tự nhiên và 7.686 nhân khẩu

Nh vậy, tại thời điểm năm 2005 sau Nghị định 39/2005/NĐ/CP, toànthành phố Vinh có 20 phờng xã với diện tích tự nhiên là 67,51km2 Trong đó

có 15 phờng nội thành bao gồm: Phờng Đội Cung, Trung Đô, Quang Trung,Trờng Thi, Bến Thuỷ, Hồng Sơn, Lê Mao, Cửa Nam, Lê Lợi, Hng Bình, HàHuy Tập, Hng Dũng, Hng Phúc, Quán Bàu, Đông Vĩnh với tổng diện tích nộithành lên đến 30,16km2 chiếm 44,6%

Và 5 xã ngoại thành: Hng Đông, Hng Lộc, Vinh Tân, Hng Hoà, NghiPhú với diện tích ngoại thành lên tới 37,35km2 chiếm 55,4%

Trang 39

Đồng thời để tạo tiền đề cho việc phát triển Vinh thành trung tâm kinh

tế – văn hoá vùng Bắc Trung Bộ, ngày 30/9/2005 Thủ tớng Chính phủ raQuyết định số 239/2005/QĐ-TTg về việc quy hoạch định hớng phát triểnthành phố Vinh trong những năm tới

Đề án là động lực khích lệ nhân dân thành phố tiếp tục phấn đấu để đaVinh phát triển thêm một bớc nữa về mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, từ

đó góp phần đẩy nhanh quá trình đa thành phố trở thành đô thị loại I theo

đúng nh mong muốn của Đảng bộ và nhân dân thành phố Vinh

Diện tích tự nhiên Khối xóm phân theo ph ờng xã năm 2005

Trang 40

Thành phố Vinh đợc công nhận là đô thị loại II theo Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 13/8/1993 của Thủ tớng Chính phủ đến nay (2008) đã đợc 15năm Trong các đô thị loại II này cùng thời với thành phố Vinh có thành phố

Đà Nẵng, thành phố Huế và thành phố Cần Thơ thì đến nay hai thành phố đã

đợc công nhận là đô thị loại I bao gồm Đà Nẵng, Huế Ngày nay vị thế củathành phố Vinh đã đợc nâng lên, không những là trung tâm chính trị, kinh tế– văn hoá của tỉnh Nghệ An, và ở một số lĩnh vực đã khẳng định chức năng

là trung tâm vùng Bắc Trung Bộ nh: Giáo dục đào tạo, văn hoá thể thao, y tế,nghiên cứu khoa học – công nghệ, quốc phòng - an ninh Thành phố đang cótốc độ phát triển công nghiệp hoá nhanh, tiền đề phát triển nhiều ngành côngnghiệp của vùng Bắc Trung Bộ với các ngành bia, nớc giải khát, dệt may, chếbiến thuỷ hải sản, vật liệu xây dựng, cơ khí, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ,chế tác đá mỹ nghệ, đá trang trí, sản xuất bao bì, nhựa, giấy… đều có những thayChính vì vậy,thành phố Vinh có cơ sở để trở thành trung tâm thơng mại, dịch vụ, du lịch với

hệ thống các công trình chợ đầu mối bán buôn, bán lẻ, siêu thị, hệ thốngkhách sạn đa cấp, đầu mối các tour du lịch của tỉnh và của vùng Bắc TrungBộ

Nhằm tạo đà thúc đẩy hơn nữa sự phát triển kinh tế cho tỉnh Nghệ An

và vùng Bắc Trung Bộ, Thủ tớng Chính phủ đã có Quyết định số239/2005/QĐ-TTg ngày 30/9/2005 phê duyệt Đề án phát triển thành phố Vinhthành trung tâm kinh tế – văn hoá vùng Bắc Trung Bộ, trong đó xác địnhchức năng của thành phố Vinh nh sau:

- Là đầu tàu tăng trởng và giải quyết những nhiệm vụ trọng yếu về pháttriển kinh tế của tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ;

- Là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực và trọng điểm về khoa học côngnghệ, văn hoá - thể thao và y tế của vùng;

- Là trung tâm công nghiệp chung của vùng Bắc Trung Bộ;

- Là trung tâm thơng mại, du lịch và các dịch vụ khác có tác động mạnhtrên phạm vi vùng Bắc Trung Bộ;

- Là đầu mối giao thông, cửa ngõ vào – ra quan trọng của vùng BắcTrung Bộ và cả nớc;

Để đáp ứng chức năng nhiệm vụ đã đặt ra thì việc xác định một cấphành chính và cấp đô thị mới cao hơn có đủ điều kiện về quyền hạn quản lý,tiềm năng về không gian và vật chất, cơ chế chính sách phù hợp với sự phát

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê diện tích đất theo đơn vị hành chính của thành phố Vinh  n¨m 2008 - Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân cư của thành phố vinh (nghệ an) từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 10 năm 2008
Bảng th ống kê diện tích đất theo đơn vị hành chính của thành phố Vinh n¨m 2008 (Trang 51)
Bảng cơ cấu kinh tế thành phố Vinh so sánh với tỉnh Nghệ An,  vùng Bắc Trung Bộ năm 2006 - Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân cư của thành phố vinh (nghệ an) từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 10 năm 2008
Bảng c ơ cấu kinh tế thành phố Vinh so sánh với tỉnh Nghệ An, vùng Bắc Trung Bộ năm 2006 (Trang 69)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w