Những thay đổi địa giới hành chính của Thành phố Thanh Hóa trong thờigian qua kéo theo sự thay đổi về dân c và có ảnh hởng đến nhiều vấn đề quảnlý đất đai, bố trí lại các vùng dân c, phá
Trang 2Vinh - 2010
Trang 3Lời đầu tiên, cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành của mình tới Tiến sĩ Trần Văn Thức đã giúp đỡ, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn Tôi cũng xin đợc gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo trong Khoa đào tạo Sau đại học, Khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh, các Phòng, Ban chức năng cùng gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Do năng lực và nguồn t liệu có hạn nên luận văn của tôi chắc chắn
sẽ không tránh khỏi những sai lầm thiếu sót Tôi rất mong đợc sự góp ý của thầy cô, gia đình, bạn bè.
Trang 4Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 2
3 Đối tợng phạm vi nghiên cứu của đề tài: 6
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu: 6
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Cấu trúc luận văn 8
Nội dung 9
Chơng 1 Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân c ở Thị xã Thanh Hóa thời kỳ (1945 - 1994) 9
1.1 Sự thay đổi địa giới hành chính và dân c ở Thị xã Thanh Hóa thời kỳ (1945 -1975) 9
1.1.1 Bối cảnh lịch sử: 9
1.1.2 Sự thay đổi về địa giới hành chính Thị xã Thanh Hóa giai đoạn (1945 - 1975) 14
1.1.3 Sự thay đổi về dân c Thị xã Thanh Hóa trong những năm 1945-1975 23 1.2 Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân c của Thị xã Thanh Hóa thời kỳ (1975 - 1994) 29
1.2.1 Bối cảnh lịch sử: 29
1.2.2 Sự thay đổi về địa giới hành chính: 34
1.2.3 Sự thay đổi dân c Thị xã Thanh Hóa giai đoạn 1975 - 1994 44
Chơng 2 Sự thay đổi địa giới hành chính và dân c Thành phố Thanh Hóa giai đoạn (1994 - 2004) 50
2.1 Bối cảnh lịch sử 50
Trang 5Chơng 3 Tác động của sự thay đổi địa giới hành
chính và dân c đến quá trình phát triển
của Thành phố Thanh Hóa 67
3.1 Tác động đến sự phát triển kinh tế: 67
3.1.1 Những mặt tích cực của sự thay đổi địa giới hành chính và dân c của Thành phố Thanh Hóa đối với sự phát triển kinh tế: 67
3.1.2 Những mặt hạn chế của sự thay đổi địa giới hành chính đối với việc phát triển kinh tế của Thành phố 82
3.2 Tác động đến tình hình chính trị - xã hội 85
3.2.1 Tình hình chính trị - xã hội 85
3.2.2 Tình hình văn hoá - giáo dục - y tế 88
Kết luận 105
Tài liệu tham khảo 110 Phụ lục
Trang 6Từ trớc tới nay, việc nghiên cứu về sự thay đổi địa giới hành chính, dân c
ở nớc ta nói chung và Thành phố Thanh Hóa nói riêng cha đợc quan tâm đúngmức Và hầu hết địa giới hành chính, dân c ở một vùng, một tỉnh, thị xã,huyện đều có những thay đổi biến động, ít có sự ổn định bền vững Nhữngthay đổi về địa giới hành chính diễn ra vì nhiều lý do khác nhau, Thành phốThanh Hóa cũng nằm trong bối cảnh chung đó Quá trình thay đổi địa giớihành chính có ảnh hởng không nhỏ đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của
c dân c trú trên phạm vi địa giới hành chính cũ cũng nh ở phạm vi mới vừathay đổi Trên thực tế đã thành lập thêm nhiều xã, phờng mới, cắt nhập địagiới hành chính các huyện, thị, xã, phờng Nhng những thay đổi đó cha đợcnghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống Đề tài hy vọng sẽ giải quyết đợcyêu cầu trên trong nghiên cứu lịch sử Thành phố Thanh Hóa và góp phần vàoviệc nghiên cứu thay đổi địa giới hành chính trên phạm vi cả nớc Cũng thôngqua việc tìm hiểu những thay đổi địa giới hành chính và dân c của một vùng,miền là một trong những đề tài tơng đối mới nhng có giá trị to lớn cho việcnghiên cứu lịch sử dân tộc nói chung Đề tài này tuy mang tính chất địa phơngnhng nhằm góp phần nhỏ bé vào mục đích chung đó
1.2 Về mặt thực tiễn
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến 2004, Thành phố Thanh Hóa đãtrải qua nhiều thăng trầm Công cuộc tiêu thổ kháng chiến (1946 - 1947),chiến tranh phá hoại của Đế Quốc Mỹ (1965 - 1973), công cuộc xây dựng quyhoạch Thành phố Thanh Hóa sau năm 1975, đến khi Thanh Hóa trở thành đôthị loại 2 (4 - 2004) Những biến động thay đổi dồn dập đó của lịch sử Thànhphố gắn liền với lịch sử dân tộc Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu mộtcách có hệ thống toàn diện những thay đổi về địa giới hành chính, dân c ởThành phố Thanh Hóa nhằm góp phần làm lấp một khoảng trống trong nghiêncứu lịch sử địa phơng lâu nay
Trang 7Những thay đổi địa giới hành chính của Thành phố Thanh Hóa trong thờigian qua kéo theo sự thay đổi về dân c và có ảnh hởng đến nhiều vấn đề quản
lý đất đai, bố trí lại các vùng dân c, phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế,
bố trí lại cán bộ quản lý Do đó đề tài không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứunhững thay đổi về địa giới hành chính, dân c mà phạm vi nội dung của đề tàicòn đợc mở rộng sâu hơn nhằm gợi mở nghiên cứu đánh giá, về vùng đất địalinh nhân kiệt đầy nắng gió nhng hết sức anh hùng
Bên cạnh những nét chung của hệ thống các thành phố, đô thị ở nớc tatrong quá trình hình thành và phát triển kể từ nửa sau thế kỷ XX đến nay, thìThanh Hóa còn có những nét riêng trong quá trình phát triển từ 1945 đến
2004 Do đó nghiên cứu về những thay đổi địa giới hành chính, dân c ở Thànhphố Thanh Hóa là góp phần vào việc nghiên cứu về hệ thống đô thị ở nớc ta
Đây là vấn đề đang đợc giới sử học đặc biệt quan tâm
Với những lý do nh trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: Sự thay đổi“
địa giới hành chính và dân c ở Thành phố Thanh Hóa từ năm 1945 đến năm 2004” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu về Thành phố Thanh Hóa trớc cách mạng tháng 8 - 1945
Qua khảo sát bớc đầu của chúng tôi về nguồn tài liệu có liên quan đếnThành phố Thanh Hóa, hiện còn lu giữ tại các th viện ở Hà Nội, Thanh Hóa,
có thể khẳng định trớc Cách mạng tháng 8 - 1945, cha có một công trìnhnghiên cứu nào của các tác giả trong nớc cũng nh ngoài nớc nghiên cứu về sựthay đổi địa giới hành chính và dân c của Thành phố Thanh Hóa từ thế kỷ XIX
đến đầu thế kỷ XX
Dới thời nhà Nguyễn một số bộ sách đợc biên soạn nh: “Đại Nam nhấtthống chí”; “Đại Nam thực lục chính biên”, “Khâm định Đại Nam hội điển sựlệ” có một số ghi chép về các kỳ thi hơng diễn ra tại trấn Thanh Hóa, nhữngchuyến bắc tuần của các hoàng đế thời Nguyễn, các vị tổng đốc, tổng trấn ởThanh Hóa có thể cho biết ít nhiều về quá trình xây dựng, tu sửa HạcThành (thành Thanh Hóa khi mới xây dựng tại làng Thọ Hạc thuộc tỉnhThanh Hóa) Mà không cho biết hoạt động kinh tế cũng nh tình hình dân c,những sinh hoạt văn hoá trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa Đây là nhữngtài liệu đáng tin cậy, song việc ghi chép cha đầy đủ về địa giới hành chính
Trang 8cũng nh là dân c trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa suốt thế kỷ XIX là mộttrở ngại lớn trong quá trình khảo sát, nghiên cứu đề tài Đặc biệt các bộ sách
đó rất ít chú ý tới điều kiện thổ nhỡng, khí hậu, thời tiết, tình hình tăng trởngkinh tế, phát triển dân c, văn hoá trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa
Ngoài ra còn có một số bài viết ngắn đăng trên các tờ báo nh: “ThanhNghệ Tĩnh tân văn”, “Nam phong tạp chí” có ít nhiều nguồn t liệu liên quan
đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa
Đến nay nguồn t liệu ít ỏi đó đã thất thoát phần nhiều gây không ít khó khăntrong quá trình nghiên cứu về Thành phố Thanh Hóa
2.2 Tình hình nghiên cứu Thành phố Thanh Hóa từ 1945 đến nay
Từ năm 1945 trở lại đây những tài liệu nghiên cứu về Thành phố ThanhHóa tuy cha đợc nghiên cứu toàn diện về các mặt, nhng cũng đã nhiều hơn sovới trớc năm 1945
Trong tác phẩm “Giai cấp công nhân Việt Nam” công bố năm 1957 củagiáo s Trần Văn Giàu, cũng đã đề cập đến tình hình giai cấp công nhân ThanhHóa, tình cảnh của công nhân ở đây và ý thức giác ngộ giai cấp của họ trongcuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
Tác giả Phạm Đình Tân trong cuốn: “Chủ nghĩa đế quốc Pháp và tìnhhình công nghiệp ở Việt Nam dới thời Pháp thuộc” do Nhà xuất bản sự thậtphát hành năm 1959, đã có đề cập đến tình hình phát triển công nghiệp ở nớc
ta nói chung và tình hình phát triển công nghiệp ở Thành phố Thanh Hóa nóiriêng dới thời Pháp thuộc
Năm 1980, Nhà xuất bản Thanh Hóa cho ra đời cuốn: “Những sự kiệnlịch sử Đảng bộ Thị xã Thanh Hóa”(từ những năm đầu thế kỷ XIX đến trớccách mạng tháng 8 năm 1945)
Năm 1990, Nhà xuất bản Thanh Hóa cho ra đời cuốn “Thành phố ThanhHóa” (tập 1), nhng chủ yếu nói về phong trào cách mạng của nhân dân ThanhHóa trong lịch sử mà nói rất ít về tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội diễn ratrên địa bàn Thành Phố
Năm 1991, Nhà xuất bản Thanh Hóa cho ra đời cuốn: “Văn - sử - địaThanh Hóa” nhng cũng chỉ đề cập đến lịch sử Thành phố Thanh Hóa từ khi
đảng ra đời lãnh đạo nhân dân Thành Phố cũng nh nhân dân cả tỉnh đấu tranhcách mạng
Trang 9Năm 1993, Nhà xuất bản Thanh Hóa cho ra đời cuốn: “Địa lý tỉnh ThanhHóa”, trong đó có nói đến Thành phố Thanh Hóa nhng chỉ nói về vị trí địa lý,
điều kiện tự nhiên, đơn vị hành chính của Thành phố Thanh Hóa
Năm 1993, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã xuất bản cuốn: “Thành cổViệt Nam”, của tác giả Đỗ Văn Ninh - sách đợc in trên khổ giấy 12 x 19, dày
175 trang Trừ phần đầu sách gồm 4 chơng với những nội dung chủ yếu là môtả, tái tạo lại các loại thành đã từng đợc ngời Việt xây dựng từ thời An DơngVơng nh Cổ Loa Thành, cho đến các thành đợc xây dựng dới thời nhàNguyễn, trong đó có thành Thanh Hoa (lúc đó gọi là Hạc Thành)
Trang 10Năm 1994, Nhà xuất bản Thanh Hóa đã cho ra đời cuốn “Thành phốThanh Hóa” (tập 2) (1947 - 1994), cũng chủ yếu nói về phong trào cách mạngcủa Thành phố Thanh Hóa từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 Cũng vàonăm 1994, Nhà xuát bản Thanh Hóa lại tiếp tục cho ra đời cuốn “Lịch sửThành phố Thanh Hóa” (tập 1), có nói về Thành phố Thanh Hóa nhng chỉ nói
về phong trào đấu tranh của nhân dân Thành Phố cũng nh nhân dân cả tỉnh từ
đầu công nguyên đến thế kỷ XV
Năm 1995, Uỷ ban nhân dân Thành phố Thanh Hóa kết hợp với Uỷ bannhân dân tỉnh và Sở Văn hoá Thông tin Thanh Hóa chủ trơng tiến hành xâydựng cuốn “Địa chí Thanh Hóa”, đến năm 2000 cuốn “Địa chí Thanh Hóa”(tập 1) và (tập 2) đã ra mắt bạn đọc
Năm 2003, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp với Công ty cổphần thông tin kinh tế đối ngoại xuất bản cuốn sách: “Thanh Hóa thế và lựcmới trong thế kỷ XXI” Với cách trình bày ngắn gọn, có hệ thống, cuốn sáchkhông chỉ cung cấp những thông tin cơ bản, mà còn cho ta thấy đợc bức tranhtoàn cảnh trong sự phát triển kinh tế, xã hội, từ đó hình dung rõ hơn về hớng
đi tới của Thành phố trong tơng lai
Bên cạnh đó còn có các Nghị quyết, Quyết định của chính phủ nh: Quyết
định số 10/1998/QĐ - TTg ngày 02/01/1998 của Thủ tớng chính phủ phêduyệt định hớng quy hoạch tổng thể đô thị Việt Nam đến năm 2020 Nghịquyết số 72/2001/NQ - CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ về việc phân loại
đô thị và cấp quản lý đô thị Nghị định số 85/1995/NĐ - CP ngày 6/12/1995
về việc điều chỉnh địa giới Thành phố Thanh Hóa, sáp nhập xã Đông Cơngthuộc huyện Đông Sơn, xã Quảng Thành, Quảng Hng và 1 phần đất của xãQuảng Thịnh thuộc Quảng Xơng vào Thành phố Thanh Hóa Theo Quyết định
số 72/2004/QĐ - TTg ngày 29 tháng 4 năm 2004, Thành phố Thanh Hóa đợcThủ tớng chính phủ công nhận là đô thị loại 2 Nghị quyết số 84 ngày16/1/2009 của Thủ tớng chính phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xâydựng Thành phố Thanh Hóa đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2035
Nhìn chung các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đây đã làm sáng
tỏ một số vấn đề của Thành Phố nói chung và vấn đề địa giới hành chính, dân
c của Thành Phố nói riêng Tuy nhiên, nếu xét một cách khách quan thì cho
đến nay vẫn cha có công trình nào nghiên cứu một cách hoàn chỉnh và có hệthống về những thay đổi địa giới hành chính, dân c của Thành phố Thanh Hóa
Trang 11từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến ngày Thanh Hóa đợc công nhận là đôthị loại 2 Vì vậy với đề tài này tác giả mong muốn có thể tập trung nghiêncứu một cách hệ thống những thay đổi về địa giới hành chính và dân c ởThành phố Thanh Hóa từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 4 năm 2004.
3 Đối tợng phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu chính của đề tài đợc xác định là: Toàn bộ nhữngthay đổi về địa giới hành chính và dân c của Thành phố Thanh Hóa từ tháng 9năm 1945 đến tháng 4 năm 2004 và tác động của vấn đề đến đời sống kinh tếxã hội của Thành phố Thanh Hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian Thành phốThanh Hóa, từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến khi Thanh Hóa đợc côngnhận là đô thị loại 2 (4 - 2004), cũng nh tác động của vấn đề đến quá trìnhphát triển của Thành phố Thanh Hóa
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t liệu
Chúng tôi đã tiến hành thu thập, su tầm tài liệu, các Nghị quyết của chínhphủ, các Đề án xây dựng của tỉnh Thanh Hóa cũng nh của Uỷ ban Thành phốThanh Hóa có ở phòng thống kê, phòng lu trữ, đặc biệt là những tài liệu ởphòng địa chí của Trung tâm th viện tỉnh Thanh Hóa, th viện trờng Đại họcHồng Đức, các bảo tàng
Luận văn còn sử dụng một số bản đồ, tranh ảnh, bảng biểu thống kê vềtình hình kinh tế, văn hoá, xã hội Ngoài ra để giải quyết nhiệm vụ mà đề tài
đặt ra chúng tôi còn tham khảo các tạp chí, sách báo ở trung ơng và địa phơng
có liên quan đến đề tài
Đây là nguồn tài liệu chính đợc chúng tôi khai thác triệt để trong quátrình hoàn thành luận văn
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở các nguồn t liệu đã đợc su tầm, chọn lọc và xác minh trongquá trình nghiên cứu của đề tài, chúng tôi dựa trên quan điểm của chủ nghĩaMác - LêNin, vận dụng phơng pháp luận sử học Mácxit kết hợp với các phơngpháp bộ môn, chủ yếu là phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgic, và một số
Trang 12phơng pháp cần thiết khác có liên quan đến đề tài (phơng pháp so sánh, khảosát, điền dã, lập các bảng biểu ) Sau cùng là tổng hợp, khái quát để đa ranhững đánh giá chung nhất.
5 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tơng đối toàn diện, có hệthống về những thay đổi địa giới hành chính, dân c ở Thành phố Thanh Hóa từtháng 9 năm 1945 đến tháng 4 năm 2004
Luận văn đã hệ thống đợc những t liệu liên quan đến đề tài những tác giảkhác có thể tham khảo khi nghiên cứu về Thành phố Thanh Hóa, lịch sửThanh Hóa
Thông qua hệ thống t liệu khá phong phú, bớc đầu luận văn đánh giánhững tác động do thay đổi địa giới hành chính, tên gọi đến đời sống kinh tế,văn hoá, tình hình chính trị xã hội cũng nh một số hạn chế do tác động của
sự thay đổi địa giới hành chính trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa qua cácgiai đoạn lịch sử
Luận văn cũng góp phần cung cấp tài liệu để giảng dạy lịch sử địa phơng,góp phần giáo dục lòng yêu nớc cho thế hệ trẻ
Chơng 2: Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân c ở Thành Phố
Thanh Hóa giai đoạn (1994 - 2004)
Chơng 3: Tác động của sự thay đổi địa giới hành chính và dân c đến quá
trình phát triển của Thành phố Thanh Hóa
Trang 13
Nội dung Chơng 1
Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân c
ở Thị xã Thanh Hóa thời kỳ (1945 - 1994)
1.1 Sự thay đổi địa giới hành chính và dân c ở Thị xã Thanh Hóa thời kỳ (1945 -1975)
1.1.1 Bối cảnh lịch sử
Thắng lợi cách mạng tháng 8 đánh dấu bớc nhảy vọt của cách mạngViệt Nam, mở đầu kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc - kỷ nguyên nhân dânlao động nắm chính quyền, làm chủ đất nớc làm chủ vận mệnh dân tộc, kỷnguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng nhân dânlao động Sau thắng lợi, cách mạng nớc ta có thêm những điều kiện để tiến lênhoàn thành giải phóng dân tộc Cũng vì lẽ đó mà ngày 2 tháng 9 năm 1945 tạiquảng trờng Ba Đình - Hà Nội, Hồ chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lậpkhai sinh ra nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuyên bố với Thế giới nền độclập của dân tộc Việt Nam Đó là thắng lợi của quá trình chuẩn bị lâu dài, kỹ l-ỡng của đảng và của toàn thể dân tộc trong suốt mời lăm năm qua Tuy nhiênvừa mới ra đời thì chính quyền đó phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thửthách Trong nớc sau khi chính quyền cách mạng vừa mới ra đời cha đợc baolâu, quân đội đồng minh kéo vào giải giáp quân đội Nhật Từ vĩ tuyến 16 trở
ra Bắc, 20 vạn quân Tởng Giới Thạch tràn vào, đóng giữ hầu hết các ThànhPhố, Thị xã, Thị trấn Lợi dụng danh nghĩa đồng minh Đông Dơng, quân Tởngthực hiện âm mu tiêu diệt Đảng cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chínhquyền nhân dân, lập ra chính quyền tay sai Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân
đội Anh (dới danh nghĩa đồng minh) đã che chở và giúp đỡ quân đội Pháp trởlại xâm lợc Ngày 23 tháng 9 năm 1945 đợc sự hỗ trợ của quân đội Anh, quânPháp đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lợc trở lạinớc ta Theo gót quân đội Tởng có các tổ chức chính trị, đảng phái phản động:Việt Nam quốc dân đảng (Việt quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội(Việt cách) Chúng gây ra những vụ giết ngời cớp của, tống tiền, chống pháchính quyền cách mạng, lập ra chính quyền phản động ở một số địa phơngthuộc các tỉnh Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái Lợi dụng tình hình quân Phápquay trở lại, các tổ chức chính trị đảng phái thân Pháp, thân Nhật, bọn phản
Trang 14động trong các giáo phái ngóc đầu dậy làm tay sai cho Pháp Trong khi đóchính quyền cách mạng vừa mới thành lập, cha đợc củng cố, lực lợng vũ trangcủa ta còn non yếu Nền kinh tế nông nghiệp nớc ta vốn lạc hậu, lại bị chiếntranh tàn phá nặng nề, đang ở trong tình trạng đình đốn Nạn đói đầu năm
1945 vừa cớp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào ta, nay tiếp tục đe doạnhiều ngời khác Nạn lụt lớn ở 9 tỉnh miền Bắc, tiếp đó là hạn hán kéo dài làmcho hơn nửa tổng số ruộng đất không cày cấy đợc Hàng vạn công nhân không
có việc làm Hàng hoá khan hiếm giá cả tăng vọt Tài chính tiền tệ của chínhquyền cách mạng hầu nh trống rỗng, kho bạc nhà nớc chỉ có 1,2 triệu đồng.Trong tình thế vô cùng khó khăn đó, ngày 11 tháng 11 năm 1945 Đảng tatuyên bố tự giải tán nhng thực chất là rút vào hoạt động bí mật nhằm phá tan
âm mu “tiêu diệt Đảng cộng sản Đông Dơng” của bọn quân phiệt Tởng GiớiThạch
ở Thanh Hóa, sau ngày cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, để
đáp ứng yêu cầu cấp bách của cách mạng nhằm bảo vệ chính quyền vừagiành đợc, trên cơ sở tổ chức cơ sở Đảng vừa mới hình thành, Tỉnh ủy quyết
định thành lập Thị uỷ lâm thời Ngày 15 tháng 11 năm 1945, tại Nhà máy
Đèn thị xã, đồng chí Bùi Đạt, đại diện tỉnh uỷ đã triệu tập Hội nghị công bốQuyết định của tỉnh uỷ thành lập thị uỷ lâm thời do đồng chí Trần Tiến Quânlàm bí th Trớc âm mu xâm lợc của thực dân Pháp, ngày 25 tháng 11 năm
1945 trung ơng Đảng ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” cho cả nớc Tỉnh uỷ
và uỷ ban cách mạng lâm thời tỉnh chủ trơng cho lập “Đoàn tự vệ thành” vớinhiệm vụ học tập chính trị, huấn luyện quân sự, trang bị vũ khí đấu tranh bảovệ
Cho đến khi mọi khả năng hoà hoãn đã hết, sự nhân nhợng giữa ta vàPháp đã kết thúc thúc thì ngày 19 tháng 12 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ra lời “Kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, phát động cuộc chiến tranh nhândân trên phạm vi cả nớc để bảo vệ độc lập tự do của dân tộc Hởng ứng lời kêugọi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh thì mọi hoạt động của thị xã đều tập trungphục vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái chiếm xâm lợc Côngtác chuẩn bị diễn ra sôi nổi, nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực và đợc đông
đảo quần chúng nhân dân hởng ứng Để ngăn chặn bớc tiến của giặc Pháp,ngày 2 tháng 6 năm 1947, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Tiêu thổ kháng chiến”.Ngời nói “Ta vì nớc mà chịu khổ một chút, đến ngày kháng chiến thắng lợi ta
Trang 15sẽ cùng nhau kiến thiết và sửa sang lại có khó gì Các chiến sĩ ngoài mặt trận
hy sinh xơng máu cho tổ quốc họ không tiếc, không lẽ ta tiếc một đoạn đờng,một cái cống hay một ngôi nhà để cho Pháp lợi dụng đánh tổ quốc ta”
Thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ, nhân dân thị xã Thanh Hóa đã tiến hànhtriệt để vờn không nhà trống, ban tản c đợc thành lập dể tổ chức cho nhân dân
đi sơ tán, các cơ quan hành chính cấp tỉnh lần lợt rời khỏi thị xã về vùng bánsơn địa, nông thôn hẻo lánh, các cơ quan kháng chiến có nhiệm vụ bám trụdời đến các chùa chiền, miếu phủ để đóng nh: Uỷ ban kháng chiến tỉnh đóng
ở hội phật học, Uỷ ban kháng chiến thị xã đóng ở chùa Quảng Thọ Tuy khókhăn gian khổ nhng nhân dân vẫn chấp hành triệt để, thanh niên trai tráng ởquê sản xuất, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ ra chiến trờng giết giặc
để bảo vệ đất nớc
Điều đó chứng tỏ trong mọi hoàn cảnh, thị xã Thanh Hóa đều có nhữngthay đổi cho phù hợp với yêu cầu mới của tình hình lịch sử đặt ra Cũng xuấtphát điểm từ những yêu cầu của công cụôc xây dựng bộ máy chính quyền saucách mạng tháng 8 và việc thực hiện tiêu lệnh “Tản c, tiêu thổ kháng chiến”
mà nó đã dẫn tới những thay đổi về địa giới hành chính và dân c trên địa bànthị xã trong những năm tháng trờng kỳ kháng chiến
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Giơnevơ về Đông D ơng đợc kýkết, nó đã kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tr ờng kỳ với thắnglợi về nhân dân Việt Nam, hoà bình đợc lập lại trên bán đảo Đông Dơng nh-
ng Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyếnquân sự tạm thời, sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất n ớc.Nhng trên thực tế đế quốc Mỹ và tay sai đã không thi hành nghiêm chỉnhhiệp định này mà chúng âm mu biến Miền Nam Việt Nam thành quốc giariêng biệt phụ thuộc vào Mỹ Do đó cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc,thống nhất nớc nhà còn phải trải qua nhiều chặng đờng gian khổ, hy sinh ácliệt
Sau ngày hoà bình lập lại ở Miền Bắc, nhân dân Thị xã đã trở về quê xâydựng cuộc sống của mình Ngày 27 tháng 7 năm 1954, Thủ tớng chính phủ raChỉ thị 236/TTg hớng dẫn phục hồi các thị xã, thành phố trớc đây đã tiêu thổkháng chiến Thực hiện nội dung của chỉ thị trên Tỉnh uỷ, Uỷ ban kháng chiếnhành chính tỉnh Thanh Hóa quyết định phục hồi thị xã trong một thời gianngắn nhất để nhân dân hồi c làm ăn, buôn bán và các cơ quan đoàn thể cấptỉnh trở về đóng trụ sở thuận tiện, tiếp xúc với nhân dân Uỷ ban kháng chiến
Trang 16hành chính tỉnh đã thành lập ban nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện cụ thể các điềunh: ổn định tinh thần cho nhân dân trớc khi về thị xã, lên kế hoạch để nhândân trở về làm nhà và xây dựng các trụ sở, công sở làm việc, nghiên cứu vấn
đề đất đai làm nhà cửa, vấn đề trật tự vệ sinh, giao thông đờng sá, tỉnh đã huy
động 2000 dân công, mở rộng các con đờng Vờn hoa, Phố lớn, Cao thắng, Phốchợ và các Phố ngang
Mặt khác theo tinh thần của công cuộc cải cách ruộng đất, Thị xã ThanhHóa đã sáp nhập một số xã lân cận vào địa bàn của thị xã để rồi từ đó gópphần làm thay đổi địa giới hành chính của thị xã Khi địa giới hành chính củathị xã thay đổi cộng với sự hồi c của nhân dân trở về quê cũ đã góp phần làmcho dân c của thị xã thay đổi cả về quy mô và cơ cấu so với thời kỳ trớc.reBên cạnh đó phong trào Đồng Khởi là bớc nhảy vọt của cách mạng MiềnNam, nó đa phong trào từ thế giữ gìn lực lợng sang thế tiến công chiến lợc.Nhờ có tinh thần yêu nớc, khát vọng độc lập tự do, thống nhất dân tộc, cộng
sự chi viện kịp thời của Miền Bắc và quân dân Miền Nam đã liên tiếp đập tan
kế hoạch Xtalay - Taylo, Giônxơn - Mac Namara làm cho chiến lợc “Chiếntranh đặc biệt” bị phá sản, thay vào đó là chiến lợc “Chiến tranh cục bộ”, trựctiếp đa lính Mỹ vào tham chiến ở miền Nam Việt Nam với tham vọng trongvòng 18 tháng có thể giành lại quyền chủ động trên chiến trờng, đánh tanquân chủ lực của ta
Hởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không cógì quý hơn độc lập tự do” và “Quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâmlợc” quân và dân trong tỉnh càng nêu cao ý chí chiến đấu liên tiếp giành nhiềuthắng lợi, góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân vàhải quân của Mỹ đối với Miền Bắc lần thứ nhất, đóng góp to lớn ngời và củacho Miền Nam tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân (1968)
đánh bại chiến lợc chiến tranh cục bộ của Mỹ ở Miền Nam buộc địch phảixuống thang chiến tranh và chấp nhận đàm phán hoà bình ở Pari Miền Bắcnói chung và Thanh Hóa nói riêng có điều kiện tơng đối hoà bình để khôiphục củng cố hậu phơng về mọi mặt, tăng cờng tiềm lực chiến tranh để đánhthắng chiến tranh của Mỹ ở Miền Nam
Tranh thủ điều kiện hoà bình ở Miền Bắc, quân dân tỉnh ta cùng với cả
n-ớc ra sức khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, tiếp tục công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc vì sự nghiệp giải phóng hoàn toànMiền Nam, thống nhất tổ quốc Trong chiến cuộc Đông Xuân 1974 - 1975
Trang 17một lần nữa Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa phát huy truyền thống “Điệnbiên phủ” 20 năm về trớc, động viên nhân tài vật lực dốc sức chi viện choMiền Nam, thống nhất tổ quốc mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch
sử Trong hàng loạt những vấn đề đợc đặt ra sau chiến thắng thì vấn đề xâydựng lại thị xã quê hơng đợc các cấp chính quyền quan tâm Chính từ nhữngyêu cầu cấp bách đó đã dẫn đến sự thay đổi địa giới hành chính cho phù hợpvới yêu cầu của thực tiễn đặt ra Đồng thời sự thay đổi về địa giới hành chính
sẽ kéo theo những thay đổi về dân c là điều không thể tránh khỏi Điều đó lýgiải vì sao có sự thay đổi địa giới hành chính và dân c của thị xã trong nhữngnăm tháng qua
1.1.2 Sự thay đổi về địa giới hành chính Thị xã Thanh Hóa giai đoạn (1945 - 1975)
Kể từ những năm đầu thế kỷ XIX, khi dời về Thọ Hạc, tỉnh lỵ Thanh Hóa
đợc quen gọi với cái tên Hạc Thành - thành của chim Hạc Đến nay vẫn khôngthấy tài liệu nào ghi chép rõ ràng tại sao tỉnh lỵ Thanh Hóa có tên đẹp đó Phảichăng ngời xa tin thuyết phong thuỷ cho rằng địa thế của Thanh Hóa có hìnhchim Hạc - Hạc đây chỉ giống cò trắng rất phổ biến tại vùng lu vực sông Mã
và sông Chu Sải cách tung bay Sự thật cũng có cơ sở để tin rằng trớc khi tỉnh
lỵ dời về nơi đây thì Thọ Hạc và các vùng lân cận chắc còn vắng vẻ, dân c thathớt, lại là vùng ven sông lầy lội, cây cối um tùm, nên chim cò a về làm tổ, tạothành một nét độc đáo của cảnh quan trong vùng Đến nay liền kề làng ThọHạc còn có thôn Hạc Oa (tổ chim Hạc) cũng gợi nhớ tới cảnh xa về việc chọnThọ Hạc làm nơi đặt tỉnh lỵ, phải nhận rằng đó là một quyết định đúng đắn.Thành phố Thanh Hóa nằm trên phần đất giáp ranh của hai huyện ĐôngSơn và Quảng Xơng đợc cắt ra khi trấn thành Thanh Hóa từ Dơng Xá rời vềlàng Thọ Hạc (Gia Long nguyên niên - 1802) Năm 1804, Thành Phố ThanhHóa đợc triều đình nhà Nguyễn thành lập với tên gọi “Trấn lỵ Thanh Hóa”
Để thành lập khu trấn lỵ, nhà Nguyễn đã cắt đất thôn Thọ Hạc, làng Phủ Cốc,làng Mật Sơn để chia thành hai giáp cho thuộc vào trấn lỵ, mỗi giáp lại chiathành các ấp Hai giáp có tên là: Giáp Đông Phố và Giáp Nam Phố nằm xungquanh thành Thanh Hóa
+ Giáp Đông Phố: Có 10 ấp, ấp Văn Trờng, Đông Trờng, Tiền Nghĩa, HậuThành, Đông Lâm, Đông Lạc, Tả Biên, Phúc Mỹ, Hữu Biên, Bắc Biên
Trang 18+ Giáp Nam Phố: Có 7 ấp, Tây Lý, Hữu Môn, Tiền Môn, Nhân Lý, Đông Lý,Nam Lý, Đông Thành.
Sau khi dời tỉnh lỵ về địa điểm mới, năm Gia Long thứ ba (1804) triềuNguyễn đã huy động quân dân tỉnh gấp rút xây dựng một toà thành mới Chu
vi dài 630 trợng (gần 2,6km), cao 1 trợng (4 mét), có hào bao quanh Thành
mở 4 cửa: Cửa Tiền phía Nam, cửa Hậu phía Bắc, cửa Tả phía Đông, cửa Hữuphía Tây Riêng cửa Tiền phía Nam ít khi mở, chỉ khi nào vua ra mới mở saukhi các quan tỉnh đã làm lễ cáo yết trời đất, do đó trong dân gian có câu:
“Thanh vô Tiền, Nghệ vô Hậu” Các cơ quan triều đình của Tỉnh đóng trongthành, Tổng đốc, Bố chánh, án sát là 3 vị quan lớn đứng đầu tỉnh Trongthành tỉnh còn có hành cung là nơi để nhà vua dừng chân tạm trú khi ngangqua tỉnh trớc mặt có cột cờ cao vòi vọi, bên phải có kho chứa lúa gạo và thuốc
đạn, bên trái có dinh thự ba quân đầu tỉnh, sau lng có trại lính và nhà giam.Tuy nhiên Thanh Hóa chỉ thực sự hình thành với ý nghĩa đầy đủ đô thị khithực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam Ngời Pháp đã sớm nhận ra vị trí đắc lựccủa Thanh Hóa nên đã cho tiến hành xây dựng, cải tạo hệ thống giao thông từ
đờng bộ, đờng sắt và đờng thuỷ Vì vậy cuối những năm 20 đầu những năm 30của thế kỷ XX, Thanh Hóa đợc biết đến nh một đô thị với những nhà máy, xínghiệp, bến cảng, hàng buôn, nhà hàng Thị xã Thanh Hóa cũng là cái nôicủa phong trào yêu nớc và cách mạng
Sự phát triển của các cơ sở dịch vụ kéo theo sự hình thành các khu vựcdân c mang tính đô thị, lúc này đòi hỏi phải có sự quản lý hành chính, xã hội
và bộ máy quản lý đô thị, do đó đô thị Thanh Hóa lần lợt đợc hình thành quacác mốc thời gian Tuy nhiên lúc này yếu tố “Thành” đang lấn át yếu tố “thị”Thanh Hóa còn chìm ngập trong vành đai làng xã
Lúc này yêu cầu thành lập một đơn vị hành chính để thống nhất việcquản lý tỉnh lỵ một cách toàn diện, ngày 12 tháng 7 năm 1899 thực dân Phápthông qua Khâm sứ trung kỳ buộc vua Thành Thái ký đạo dụ thành lập Thị xãThanh Hóa Bao gồm đất 7 làng: Thọ Hạc, Đông Phố Nam Phố (thuộc tổngThọ Hạc), Đức Thọ, Cẩm Bào Nội, Cốc Hạ, Phủ Cốc (thuộc tổng Bố Đức).Năm 1918 thành lập 10 phờng thuộc Thị xã Thanh Hóa là: Phờng TảMôn (cửa Tả), Phờng Bắc Môn (cửa Hậu), Phờng Nam Môn (cửa Tiền), Phờng
Đông Môn, Phờng Thành Thi, Phờng Nam Lý, Phờng Phủ Cốc, Phờng VânTrờng, Phờng Bào Giang, Phờng Đức Thọ
Trang 19Ngày 31 tháng 5 năm 1929, toàn quyền Đông Dơng đã ký Nghị địnhnâng cấp Thị xã Thanh Hóa lên Thành Phố Thanh Hóa Đứng đầu Thành phố
là đốc lý và một hội đồng t vấn của Thành phố (gồm đốc lý và tổng đốc) đạidiện cho Nam triều, 2 đại biểu ngời pháp và 2 đại biểu ngời Việt
Ngày 11 tháng 9 năm 1929, đốc lý Thành phố điều chỉnh lại địa giớiThành phố: Phía Bắc giáp làng Thọ Hạc, phía Nam giáp làng Mật Sơn, phía
Đông giáp sông Bến Ngự, phía Tây giáp phủ Đông Sơn (lấy đờng sắt làm ranhgiới) Cũng theo nghị định trên, kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1930, Thành phốThanh Hóa chia 6 phờng, phân bố nh sau:
+ Phờng Đệ nhất: gồm các phố Cửa Tiền
+ Phờng Đệ nhị: gồm Phố Lớn
+ Phờng Đệ tam: gồm làng Phú Cốc và chợ trâu bò
+ Phờng Đệ tứ: gồm các phố Pôn - be (Paul Berl) và phố Hàng Đồng.+ Phờng Đệ ngũ: gồm phố Thợ Thêu và phố Bái Thợng
+ Phờng Đệ lục: gồm khu vực Lò Chum và phố Bến Thuỷ
Chúng tôi nhận thấy cách đặt tên này cũng giống với cách đặt tên các khuphố ở Thành phố Huế, Thành phố Vinh - Bến Thuỷ trớc cách mạng tháng 8.Nhng khác với Thành phố Hà Nội, các khu phố đợc gọi theo tên mặt hàng nh:Phố Hàng Mã, Hàng Bông, Hàng Thiếc Trên thực tế cho đến khi Thành phốThanh Hóa đợc thành lập vẫn cha có các “phố thị” có bề dày truyền thống,chuyên sản xuất các loại hàng hoá và buôn bán các mặt hàng phổ biến nh ở
Hà Nội, Sài Gòn Hàng hoá buôn bán trao đổi chỉ tập trung ở chợ tỉnh vẫn làchủ yếu Từ sau cáchmạng tháng 8 năm 1945, do điều kiện chống Pháp, chống Mỹ, Thành phốThanh Hóa phải tiêu thổ kháng chiến, song vẫn đợc coi là một đơn vị hànhchính cấp thị xã trực thuộc tỉnh Thanh Hóa “Theo sắc lệnh số 11, ngày 24tháng 1 năm 1946 của Chủ Tịch Hồ Chí Minh ký, quy định cho đến khi có sắclệnh mới các Thành phố Nam Định, Vinh - Bến Thuỷ, Huế, Đà Nẵng đều tạmcoi là thị xã, Thành phố Thanh Hóa - Thành phố cấp 3 thời thuộc Pháp mặcnhiên cũng trở thành thị xã” [31, 172] Tháng 4 năm 1946, lần đầu tiên cử trithị xã đã tham gia bầu cử cơ quan quyền lực địa phơng là Hội đồng nhân dântheo số lợng quy định tại Sắc lệnh số 77 Sau khi đợc Uỷ ban hành chính tỉnhcông nhận tính hợp lệ của cuộc bầu cử, Hội đồng nhân dân đã bầu ra Uỷ banhành chính thị xã do ông Phạm Văn Sáu làm chủ tịch, ông Lê Trọng Tân phóchủ tịch, ông Vũ Thức uỷ viên th ký Từ đây Uỷ ban hành chính thị xã thay
Trang 20thế Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Sau cách mạng tháng tám thị xã đợcchia làm 10 khu phố Căn cứ vào sắc lệnh trên, Hội đồng nhân dân thị xã điềuchỉnh từ 10 khu phố thành 4 khu phố Khu phố 1: Ông Dơng Danh Nh-ợng - Chủ tịch Khu phố 2: Ông Trơng Khâm - Chủtịch Khu phố 3: Ông Trần Ngọc Oánh - Phó chủtịch, ông Nguyễn Văn Nhơng - Th ký.
Khu phố 4: Ông Nguyễn Văn Khang - Chủ tịch, ÔngNguyễn Văn Khiêm - Phó chủ tịch
Với quyết định này từ 10 khu phố từ thời thuộc Pháp, thị xã Thanh Hóachỉ còn lại 4 khu phố Điều này xuất phát từ điều kiện lịch sử đòi hỏi chínhquyền cách mạng phải thay đổi địa giới hành chính của thị xã Thanh Hóa chophù hợp với yêu cầu quản lý trong điều kiện mới chứ không phải do yêu cầuphát triển kinh tế xã hội
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ Thị xã Thanh Hóa thực hiện tiêu thổkháng chiến, tình hình chung của thị xã có nhiều thay đổi mà trớc hết là về tổchức đơn vị hành chính Cấp hành chính thị xã tỉnh giải thể, việc quản lý đất
đai thị xã Thanh Hóa cũ bàn giao cho huyện Đông Sơn Trong thực tế 3 xã đợcphân vùng trách nhiệm quản lý về mặt lãnh thổ nh sau:
+ Xã Đông Thọ, phía Bắc và phía Tây thị xã, ranh giới là các đờng phốPhan Chu Trinh, Hàng Đồng, gồm phần đất phờng Điện Biên và phần lớn ph-ờng Phú Sơn hiện nay
+ Xã Đông Vệ: Phía Nam thị xã, ranh giới là đờng Nguyễn Trãi, gồmphần đất hai phờng: Ba Đình và Ngọc Trạo hiện nay
Đồn công an Thị xã Thanh Hóa đợc dời lên rừng thông vẫn đợc giữnguyên tên cũ Chợ tỉnh lúc ban đầu dời về Mật Sơn, song vì nơi đây “địa thếchật chội, dễ bị oanh tạc, nên lại dời về rừng thông, nơi có đông ngời tản c”
Điều này cho thấy đã có một sự thay về đổi địa giới hành chính trên địa bànThị xã Thanh Hóa Nhng đến thời điểm này, phần lớn dân c trên địa bàn đãtản c về vùng nông thôn cho nên sự thay đổi này chỉ có ý nghĩa cho việc tổchức lực lợng quân đội Sẵn sàng đối phó nếu nh Pháp liều lĩnh đánh vào địaphận Thị xã Thanh Hóa
Tháng 4 năm 1949 tổ chức đơn vị hành chính cấp khu phố trớc đây vẫn tồntại thờng gọi là các khu vực Ngày 8 tháng 8 năm 1952, Uỷ ban kháng chiếnhành chính tỉnh báo cáo về Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu 4 về quátrình nghiên cứu Thị trấn và đề nghị tổ chức lại “thành 1 đơn vị duy nhất là Thị
Trang 21trấn” Vì tính chất đặc biệt của Thị trấn nên Uỷ ban kháng chiến hànhchính Thị trấn đặt dới sự lãnh đạo trực tiếp của Uỷ ban kháng chiến hành chínhtỉnh: “Vì cần di chuyển chợ Rừng Thông cấp bách để đảm bảo tài sản và tínhmạng cho đồng bào tránh sự oanh tạc của phi cơ địch, vì cần xúc tiến việc xâydựng lại Thị trấn, chúng tôi xin phép quý Uỷ ban cho tạm chỉ định một Uỷ banlâm thời Thị trấn để xúc tiến mọi công tác ở đó” [8,32].
Ngày 20 tháng 8 năm 1952, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh ra quyết
định số 625 TC/CB thành lập Thị trấn đặc biệt Thanh Hóa là một đơn vị cơ sởchính quyền dân chủ nhân dân, đặt dới sự lãnh đạo trực tiếp củaUỷ ban khángchiến hành chính Tỉnh, gồm 7 khu phố sau:
+ Khu phố 1: Gồm các địa điểm Núi Kết, Rừng Thông, Núi Mật, Câù Cáo.+ Khu phố 2: Gồm các địa điểm: Cầu Trầu, Phố Nhồi, Phố Nấp
+ Khu phố 3: Gồm có Ngã Ba Voi, Chợ Voi
+ Khu phố 4: Gồm các địa điểm Dốc Ga, Phố Phan Chu Trinh cũ, Quán Giò.+ Khu phố 5: Gồm các địa điểm từ Trờng Sơ đến phố Đinh Công Tráng
cũ, phố Nguyến Du cũ, Cầu Sâng, Lò Chum
+ Khu phố 6: Gồm các địa điểm từ trờng Lê Bảo Tinh đến vờn hoa độclập xuống Phố Cốc
+ Khu phố 7: Gồm địa điểm phố Tân An, quán Mật, ngã ba Mật, chùaHội Đồng, phố Nhà Giòng
Xuất phát từ đặc điểm cơ sở phần lớn số cán bộ chính quyền cấp khu phốtham gia chủ nhiệm hoặc thành viên Ban quản trị các hợp tác xã thủ côngnghiệp, tiểu thơng Chính phủ chủ trơng từ quý IV năm 1960 chia khu phốthành các tiểu khu hành chính, 7 khu phố của thị xã đợc chia thành 18 tiểukhu hành chính Lúc đầu lập ban đại diện hành chính tiểu khu, về sau lại đổi
là Ban hành chính tiểu khu vừa làm chức năng đại diện cho nhân dân trongtiểu khu đề bạt lên chính quyền thị xã, vừa làm chức năng đại diện Uỷ banhành chính thị xã triển khai các mặt công tác đến nhân dân khi đã đợc chínhquyền thị xã quyết định Uỷ ban hành chính thị xã trở thành cấp chính quyềncơ sở do hội đồng nhân dân thị xã bầu ra và giám sát
Do xác định vị trí - chức năng - nhiệm vụ Ban hành chính tiểu khu làgiúp việc cho Uỷ ban hành chính thị xã nên tổ chức của ban này biến động tuỳtheo yêu cầu nhiệm vụ từng thời gian Ví nh đầu năm 1962 do địa bàn nôngnghiệp của tiểu khu Minh Khai rộng nên tách thành một tiểu khu mới lấy tên
Trang 22là Công Nông Đầu 1963 lại hợp nhất các tiểu khu nhỏ lại thành 10 tiểu khu:Hàm Rồng, Ba Đình, Hoàng Hoa Thám, Lê Hồng Phong, Điện Biên, MinhKhai (có làng Nam Ngạn), mối tiểu khu có 7 cán bộ, Phan Bội Châu, HoàBình mỗi tiểu khu có 3 cán bộ Về sau hợp nhất Hoà Bình vào Minh Khai,Phan Bội Châu vào Trần Phú và đổi thành Phú Sơn, Lê Hồng Phong chia mộtphần về Hoàng Hoa Thám, một phần về Ba Đình thành 7 tiểu khu: Hàm Rồng,Minh Khai, Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Quang Trung, Điện Biên, Phú Sơn.
Nh vậy từ tháng 9 năm 1945 khi chính quyền về tay nhân dân đến tháng
7 năm 1954 khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, địa giới hànhchính của Thị xã Thanh Hóa có nhiều thay đổi Các cơ sở hạ tầng gần nh bịtriệt phá hoàn toàn Những thay đổi của chính phủ, Uỷ ban hành chính khángchiến Thanh Hóa về địa giới hành chính trên địa bàn thị xã không xuất phát từyêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế mà chủ yếu là để đáp ứng yêu cầu bứcthiết của công cuộc kháng chiến chống Pháp về mặt an ninh, quốc phòng.Trên thực tế, từ năm 1946 đến 1954 trên địa bàn Thị xã Thanh Hóa hoàn toànkhông còn một nhà máy xí nghiệp nào hoạt động Một diện tích lớn đất đainông nghiệp bị bỏ hoang, hệ thống cầu cống bị đánh sập Đó là hậu quả màthực dân Pháp để lại cho nhân dân thị xã, điều đó đã gây không ít khó khăncho việc xây dựng và phát triển thị xã trong những năm tiếp theo
Trong phiên họp ngày 21 tháng 3 năm 1959, Uỷ ban hành chính tỉnh đãbàn tới việc kiến thiết xây dựng đô thị tỉnh lỵ thành Thành phố xã hội chủnghĩa với thành phần nhân khẩu cơ bản (công nhân sản xuất phục vụ cho toàntỉnh, toàn quốc, cán bộ công nhân viên ở tỉnh, công an bảo vệ thành phố, họcsinh chuyên nghiệp) chiếm 25%, nhân khẩu phục vụ hay nhân khẩu lệ thuộc
là 75% Tiêu chuẩn đất bình quân diện tích mỗi ngời 80 - 150m2 đất làm nhà.Vờn hoa tính theo nhân khẩu cơ bản mỗi ngời 1,5m2 Các đờng sá đều tậptrung vào khu trung tâm Những công trình đẹp phải để ở khu trung tâm Thịxã Thanh Hóa 351 ha, công nghiệp chiếm 30 ha
Ngày 19 tháng 4 năm 1963, Thủ tớng chính phủ ra chỉ thị số 26/TTg, vềviệc phân vạch địa giới của thành phố - thị xã - thị trấn Cũng trong năm 1963chính phủ Quyết định sáp nhập xã Đông Giang (gồm 3 làng: Nghĩa Phơng,
Đông Sơn và Nam Ngạn) thuộc huyện Đông Sơn, và xóm núi xã Hoàng Longhuyện Hoàng Hoá vào thị xã Thanh Hóa Sau quyết định này đã nâng diện tíchcủa thị xã lên 26km2
Trang 23Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, cũng nh các miền đất khác của nớc ta,
Đông Sơn có nhiều thay đổi về tên gọi và địa giới hành chính “Từ thời thuộcHán đến thời Tấn, miền đất này thuộc huyện T Phố và một phần huyện CPhong Thời Tuỳ Đờng là miền đất thuộc huyện Cửu Chân Theo “Di Biên”của vua Cao Biền, vùng đất này có tên gọi là huyện Đông Dơng, thời Đinh,Tiền Lê, Lý gọi là Đông Cơng (tức là Đông Sơn) sau này)” [26,18] Thời
Đinh, Tiền Lê miền đất này thuộc huyện Cửu Chân, thời Trần đã đặt tên làhuyện Đông Sơn Thời Lê Quang Thuận huyện Đông Sơn lệ thuộc vào phủThiệu Thiên Sau này thời Gia Long đổi phủ Thiệu Thiên thành phủ ThiệuHoá Tên huyện Đông Sơn tồn tại cho đến ngày nay Vào đầu thế kỷ XIX,huyện Đông Sơn gồm 6 tổng, 145 xã thôn, trang, vạn, giáp, sở, phờng, 6 tổnggồm: Thọ Hạc, Thạch Khê, Đại Bối, Vân Quy, Quang Chiếu và Lê Nguyễn
Đến năm 1929, huyện Đông Sơn đợc đổi thành phủ, bao gồm 7 tổng: KimKhê, Tuyên Hoá, Thạch Khê, Quang Chiếu, Bố Đức, Viễn Chiếu và Thọ Hạcvới 115 làng và 5794 dân đinh Sau ngày cách mạng tháng 8 thành công,chính quyền cách mạng đã chia 7 tổng cũ của Đông Sơn thành 22 xã Tiếp đóvào năm 1948, đơn vị hành chính của huyện đợc tổ chức lại gồm 13 xã baogồm: Đông Hoà, Đông Khê, Đông Ninh, Đông Yên, Đông Anh, Đông Tiến,
Đông Lĩnh, Đông Thọ, Đông Hơng, Đông Phú, Đông Hng, Đông Vệ và ĐôngQuang Năm 1953, Đông Sơn đã tách 13 xã thành 22 xã Đến cuối 1954 ĐôngSơn đợc chia tách thành 25 xã: Đông Khê, Đông Hoàng, Đông Ninh, ĐôngMinh,, Đông Hoà, Đông Anh, Đông Thịnh, Đông Xuân, Đông Quang, ĐôngVinh, Đông Vệ, Đông Hơng, Đông Hải, Đông Yên, Đông Văn, Đông Phú,
Đông Nam, Đông Lĩnh, Đông Cơng, Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Hng,
Đông Tân, Đông Thọ, Đông Giang (Đông Trấn chuyển về thị xã Thanh Hóa)
Để chuẩn bị xây dựng lại thị xã, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân dânquay trở về địa phơng sinh sống và xây dựng phát triển quê hơng, ngày 28tháng 8 năm 1971 Thủ tớng chính phủ ra Nghị quyết số 226 TTg sáp nhập cácxã Đông Thọ, Đông Vệ, Đông Hơng, Đông Hải của huyện Đông Sơn và xãQuảng Thắng của huyện Quảng Xơng vào Thị xã Thanh Hóa
Hiện nay xã Quảng Thắng có 3 làng: Vệ Yên, Yên Biên, và Phù Lu Trớccách mạng 3 làng này thuộc tổng Lu Vệ huyện Quảng Xơng, sau Cách mạng,
ba làng thuộc xã Hoàng Ngũ Phúc, từ (1947 - 1953) ba làng thuộc về xã QuảngThắng Năm 1953, xã Quảng Thắng chia làm hai xã: Quảng Thắng và Quảng
Trang 24Thịnh Ba làng thuộc xã Quảng Thắng cho đến ngày nay Sau khi sáp nhập vàothị xã Thanh Hóa địa giới hành chính của xã Quảng Thắng nh sau:
+ Phía Bắc giáp phờng Đông Vệ
+ Phía Nam giáp xã Đông Vinh (huyện Đông Sơn) và xã Quảng Thịnh(Quảng Xơng)
+ Phía Đông giáp phờng Đông Vệ
+ Phía Tây giáp xã Đông Hng (Đông Sơn)
Diện tích tự nhiên là 361 ha, dân số: 6112 ngời
Nh vậy Thị xã Thanh Hóa sau khi sáp nhập thêm 3 xã của huyện ĐôngSơn và một xã của huyện Quảng Xơng thì diện tích đợc nâng lên 32km2
Cũng nh mọi miền quê trên đất Bắc ngời Thị xã Thanh Hóa hồi c xâydựng lại đô thị thân yêu của mình sau những năm tháng dồn sức đánh thắngchiến tranh phá hoại do Đế quốc Mỹ gây ra Ngày 30/12/1972, hội đồng chínhphủ đã quyết định: “Các thành phố, thị xã, khu công nghiệp và các vùng nôngthôn vừa qua bị địch đánh phá cần nhanh chóng phục hồi sản xuất, tích cựcgiúp đỡ nhân dân giải quyết các khó khăn trớc mắt để ổn định đời sống”[10,165] Ngày 14/1/1973, Chủ tịch uỷ ban hành chính tỉnh, ban hành quy
định hớng dẫn việc hồi c xây dựng lại Thị xã Thanh Hóa sau chiến tranh trongtrật tự tuân theo quy hoạch, đảm bảo mỹ quan khắc phục việc phá đi làm lạitốn kém tiền của, công sức của nhân dân, của nhà nớc Liên tiếp các ngày27/1/1973, 19/2/1973, Uỷ ban hành chính Tỉnh lại có văn bản hớng dẫn tiếnhành mọi mặt khôi phục, xây dựng lại thị xã Xuất phát từ yêu cầu chỉ đạothực hiện các mặt công tác, Uỷ ban hành chính Tỉnh quyết định 36 cơ quancấp tỉnh đợc trở về thị xã trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1973, cáccơ quan còn lại sẽ trở về từ tháng 7
Từ nhu cầu trên Ban quy hoạch tỉnh thống nhất với Uỷ ban hành chính thịxã hình thành 3 khu dân c mới: Tân An, Hoàng Văn Thụ, Cửa Tiền với tổngdiện tích trên 3.000m2 để bố trí cho hơn 200 hộ dân Ngoài ra còn quy hoạch
đất cho 4 hợp tác xã vận tải thuyền, đất cho thôn Nghĩa Phơng trở về và gần
200 hộ công nhân viên chức cha có nhà ở
Những thành quả trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Thị xãThanh Hóa cùng với những điều kiện cơ sở vật chất đã và đang xây dựng củathị xã sẽ là những chuẩn bị tạo bớc đi vững chắc cho giai đoạn sau Điều đángchú ý là trong mọi hoàn cảnh thị xã đều nhận đợc sự quan tâm thu hút của các
Trang 25cấp chính quyền về mọi mặt, trong đó đặc biệt chú ý đến việc mở mang xâydựng cho thị xã ngày càng giàu đẹp hơn.
1.1.3 Sự thay đổi về dân c Thị xã Thanh Hóa trong những năm 1975
1945-Năm 1803 nhà Nguyễn xây dựng thành Hạc đến trớc năm 1885, nămThực Dân Pháp cha đặt ách thống trị lên đất Thanh Hóa Trong giai đoạn nàyngoài sự phát triển dân số theo quy luật tự nhiên, dân bản địa sinh sôi nảy nở,còn có sự phát triển cơ học, đó là các quan lại lớn nhỏ và binh lính do triều
đình quản lý cùng với cha mẹ vợ con của họ đi theo Nhng rất tiếc giai đoạnnày không có một tài liệu nào ghi chép lại
Ngày 26/5/1886 cho đến tháng 8/1945, ngày tên quan cai trị hành chính
đầu tiên của Thực dân Pháp Ha-mơ-lanh đợc cử giữ chức công sứ thay choRanh-gơ-van, một sĩ quan trong quân đội Pháp Trong giai đoạn này ngoài dânbản địa, quan lại Nam triều còn có cả một số ngời nớc ngoài “dân số năm 1915toàn Thành Phố có 7.749 ngời, trong đó có 794 ngời là ngời nớc ngoài, số ngờinớc ngoài đã chiếm gần 10% dân số toàn Thành Phố, trong đó có cả viên chức
và thơng gia ngời Pháp, ngời ấn Độ, Trung Hoa” [74,43]
Sau cách mạng tháng 8/1945, theo số liệu của Ban điều tra đô thị thì dân
số thị xã lúc đó có 11.500 ngời Nhng khi cả nớc bớc vào cuộc kháng chiếntoàn quốc, để chống địch đổ bộ vào các Thành Phố, đô thị tấn công ta từ nhiềuhớng, thì ngày 6/2/1947 Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Tiêu thổkháng chiến” Thực hiện chủ trơng của Ngời, các cấp chính quyền ở thị xãThanh Hóa phải khắc phục hàng loạt những vấn đề đợc đặt ra nh: việc tháo dỡ,phá bỏ toàn bộ nhà máy, hệ thống đờng giao thông, cơ sở vật chất trên địa bànthị xã đòi hỏi phải huy động một lực lợng lớn thanh niên tham gia Đó là chatính đến hàng trăm ngôi nhà kiên cố hai, ba tầng, khách sạn cùng hàng vạn tấnmáy móc thiết bị cần di chuyển khỏi địa bàn thị xã về nông thôn trong mộtkhoảng thời gian ngắn Trong khi đó công việc tháo dỡ, phá bỏ, di chuyểnmáy móc đều thực hiện chủ yếu bằng sức ngời với công cụ thô sơ, không cóphơng tiện máy móc hỗ trợ Bên cạnh đó một số cán bộ Đảng viên và nhândân muốn ở lại thị xã để quyết tâm bảo vệ thị xã đến cùng mà không muốntháo dỡ, phá bỏ toàn bộ nhà cửa cũng nh cơ sở vật chất trên địa bàn thị xã
Trên cơ sở đó Tỉnh
uỷ đã đề ra một số công tác trọng tâm nh: Sơ tán toàn bộ công nhân và gia
đình họ về vùng nông thôn, trung du, miền núi sớm ổn đinh đời sống cho nhân
Trang 26dân để họ bắt tay vào sản xuất vũ khí, hàng hoá phục vụ kháng chiến Đồngthời giáo dục cho công nhân, nhân dân hiểu rõ mục đích yêu cầu cuả côngcuộc tiêu thổ kháng chiến để công nhân di chuyển toàn bộ máy móc thiết bị
về nông thôn Đảng bộ và nhân dânThanh Hóa cùng các cấp chính quyền còn tổ chức công tác tản c cho nhândân thị xã về các huyện Đông Sơn, Triệu Sơn, Quảng Xơng, Hoằng Hoá,Thạch Thành sớm ổn định nơi ăn chốn ở cho nhân dân tản c Điều này đãtác động đến số lợng dân c sống trên địa bàn thị xã, theo thống kê thì “trongthời gian này dân c sống trên địa bàn thị xã chỉ còn lại khoảng 5.000 đến6.000 ngời [74,44] Dân số ít nên trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến,tình hình trật tự xã hội trên địa bàn thị xã tơng đối ổn định
Sau một thời gian tản c, do thị xã không có chiến tranh nên một số ngờidân trên địa bàn đã trở về quê làm ăn sinh sống Cũng từ đó làm cho dân c trên
địa bàn thay đổi, có đủ thành phần dân c nh: Phú nông, trung nông, bần nông,
địa chủ, phong kiến và các tầng lớp t sản, tiểu t sản, tiểu chủ Số ngời Hoa ctrú trên địa bàn thị xã cũng tăng lên khoảng gần 200 ngời
Năm 1954, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi hoà bình lậplại, “dân c của thị xã tăng lên thành 12.415 ngời (Theo số liệu báo cáo tìnhhình hồi c của Uỷ ban hành chính Thị xã Thanh Hóa)” [74,43] Điều đó chothấy trong giai đoạn đầu đến khi cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp kếtthúc, tình hình dân c thị xã đã có sự thay đổi theo chiều hớng tăng dần Nócũng tác động không nhỏ đến các mặt đời sống xã hội của Thị xã Thanh Hóalúc bấy giờ Khi thị xã tiến hành tản c những khu công sở kiên cố nh Toà sứ,
Sở đoan, Kho bạc, nhà dây thép, Khách sạn Raynô, rạp chiếu bóng Gô mông, cũng nh dinh thự của các quan lại bộ máy chính quyền cũ trong thành,
-và cả toà thành cổ kính nối tiếp nhau bị phá bỏ Tại các nhà máy: Nhà máydiêm, nhà máy đèn, nhà in máy móc đợc tháo gỡ để chuyển về vùng nôngthôn hoặc rừng núi, nhà cửa trong Thành phố cũng triệt hạ hết Hoạt độngkinh tế chủ yếu của Thành phố là sản xuất nông nghiệp Trong giai đoạn tản c
do thiếu nhân lực, nên sản xuất nông nghiệp bị đình đốn, đến đầu 1954 dân ctăng lên, cùng với những chính sách khuyến khích, hỗ trợ của tỉnh làm chohoạt động sản xuất nông nghiệp đạt kết quả đáng khích lệ, cụ thể đồng bào ởkhu phố Cầu Bố đã tham gia vận động ủng hộ bộ đội địa phơng đợc: “Lúa9.150kg, Tiền 307.724 đồng (tiền tài chính), đóng góp quỹ đảm phụ quốcphòng đợc: Lúa 911 kg, tiền 200 đồng, mua công trái quốc gia đợc: Tiền
Trang 27455.080 đồng, lúa 20.690, góp tiền mua lúa cho Bác Hồ khao quân đợc 19.914kg” [27, 114 - 115].
Bên cạnh các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thị xã vẫn duy trì cácnghành nghề tiểu thủ công nghiệp và thơng nghiệp dù cho quy mô của cácnghành này còn rất hạn chế Các nghành kỹ thuật lớn không còn, các nghànhnhỏ cũng chỉ duy trì hoạt động trong một thời gian ngắn Ban đầu có nghề làmchiếu, làm hơng, dệt vải nhng về sau các nghành nghề này không thể duy trì
đợc nữa, một phần do chính sách có nhiều khó khăn, mặt khác do kỹ thuậtchuyên môn hạn chế, sản phẩm không đáp ứng đợc nhu cấu nên đa số cácnghành nghề nêu trên dần dần mất hẳn, chỉ còn lại một số nghành nghề khôngcần dùng nhiều kỹ thuật nh: làm gốm, nung gạch, nung vôi
Hoạt động giao lu buôn bán cũng tha thớt, một phần vì đời sống của nhândân còn nhiều khó khăn, nhng phần khác vì phải thờng xuyên tránh máy bay
địch nên chợ búa ít họp hơn, vả lại cũng không cần những chợ lớn nh chợ VờnHoa ngày trớc, lẻ tẻ có một vài chợ nhỏ xung quanh các khu vực tiếp giápvùng nội thị và ven đô Hoạt động giao thông vận tải giữa Thanh Hóa và cácvùng trong tỉnh gặp nhiều khó khăn do hệ thống đờng bộ đã dỡ bỏ để thựchiện tiêu thổ kháng chiến
Công tác giáo dục, y tế an ninh, quốc phòng cũng đợc các cấp chínhquyền quan tâm Tuy nhiên do tình hình chung của thị xã còn nhiều khó khănnên kết quả thu đợc vẫn còn hạn chế
Việc mở rộng địa giới hành chính của thị xã kéo theo sự thay đổi dân
c của thị xã trong giai đoạn 1954 - 1975 Mặt khác do chủ tr ơng hồi c, kêugọi những ngời tản c trong kháng chiến quay trở về quê cũ làm ăn sinhsống Sau nhiều năm xa quê tản c kháng chiến, đóng góp sức ngời, sức củacho chiến trờng cùng cả nớc đánh bại hai cuộc kháng chiến chống Pháp vàchống Mỹ xâm lợc Nay hoà bình lập lại, đa số nhân dân trở về thị xã xâydựng lại quê hơng Theo sự chỉ đạo của Ban phục hồi thị xã thì nhân dân tựsắp xếp, ổn định cuộc sống, nơi ăn chốn ở cho mình, tr ớc kia ở đâu thì nay
ở đó Từ đó cuộc sống của nhân dân đã đi vào ổn định, nhân dân tự giác sắpxếp cuộc sống cho mình, chấp hành mọi chỉ đạo của chính quyền và các cơquan có nhiệm vụ Đồng thời phát động quần chúng tham gia phòng ngừa
đấu tranh chống tội phạm, gìn giữ bảo đảm trật tự an ninh xã hội, bài trừcác tệ nạn xã hội Nhìn chung cuộc sống của nhân dân đã dần dần ổn định
Trang 28Số dân thị xã Thanh Hóa từ (1945 - 1975)
1945 11.500 Số liệu của Ban điều tra đô thị và đất xây dựngTỉnh Thanh Hóa
11 - 1954 12.415 Báo cáo tình hình hồi c của UB hành chính Thị xã Thanh Hóa
3 - 1957 22.733 Báo cáo 10/3/1957 của UB hành chính Tỉnh Thanh Hóa
3 - 1960 31.860 Theo điều tra dân số 1/1960
10 - 1962 35.950 Trong số đó có 10.659 là cán bộ công nhân viên Nhà nớc (Báocáo 10/1962 của UB hành chính tỉnh)
12 - 1963 51.524 Số liệu của Ban điều tra đô thị và đất xây dựngTỉnh Thanh Hóa
1 - 1965 56.000 Số liệu của Ban điều tra đô thị và đất xây dựngTỉnh Thanh Hóa
1973 79.908 Số liệu của Ban điều tra đô thị và đất xây dựngTỉnh Thanh Hóa
1975 81.753 Báo cáo của UBND Tỉnh Thanh Hóa
[ 10, 98 ]Theo thống kê từ sau cách mạng tháng 8 đến 1954 dân số Thành phốThanh Hóa tăng 1.915 ngời, nếu tháng 11 năm 1954 dân c thị xã mới chỉ có12.415 ngời, thì đến năm 1963 là 51.524 ngời Trong khoảng 10 năm ấy dân
số tăng 49.000 ngời kể cả các giai đoạn trớc đó và của giai đoạn tiếp theo Sở
dĩ có sự đột biến ấy vì sau khi hoà bình lập lại các cơ quan, đoàn thể cấp tỉnh,thị xã, các xí nghiệp, cơ quan thơng nghiệp, các trờng chuyên nghiệp, phổthông đều về thị xã Ngoài các cán bộ công nhân viên chức theo cơ quan xínghiệp về còn một số đáng kể là bộ đội phục viên có cha mẹ vợ hoặc chồng làcông nhân viên ở thị xã nên chuyển khẩu về theo Chỉ cán bộ công nhân viênchức ăn lơng do nhà nớc quản lý năm 1962 đã lên tới gần 11.000 ngời Trongkhi dân số có 35.950 ngời (toàn thị xã)
Năm 1973 dân số toàn thị xã là 79.908 ngời, so với năm 1963 dân số Thịxã Thanh Hóa tăng 18.383 ngời Ngoài ra thị xã còn tập trung một bộ phậnngời Hoa, ngời Thái sinh sống Hai năm 1961, 1962 thị xã đã đón tiếp 63 gia
đình Việt kiều từ Thái Lan về nớc góp phần công sức xây dựng đất nớc Uỷban hành chính thị xã giành khu đất thuộc tiểu khu Hoàng Hoa Thám để xâydựng nhà ở cho bà con, lập nên xóm Việt kiều Vốn sẵn có truyền thống yêunớc bà con Việt kiều nhanh chóng hoà nhập với cuộc sống của đồng bào thị
Trang 29xã, hăng hái tham gia sản xuất, xây dựng hợp tác xã, xây dựng cơ quan xínghiệp Con em đồng bào đều đợc cắp sách đi học, ngời già cô đơn đợc giúp
đỡ
Nh vậy trải qua hai cuộc klháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa giớihành chính của Thị xã Thanh Hóa có nhiều thay đổi kéo theo sự gia tăng vềdân số sống trên địa bàn, để rồi từ đó tác động đến mọi mặt của đời sống nhândân Thị xã đã thành lập đợc nhiều các nhà máy, xí nghiệp nh: Xí nghiệp gạch
Đông Tác, nhà máy ca Mật Sơn, nhà máy xay Hàm Rồng, nhà máy điệnThanh Hóa, nhà máy phốt phát Nam Phát, công ty ô tô, công ty kiến trúc Hệthống giáo dục, y tế đợc tu sửa khang trang hơn Giao thông đờng sắt đợc nốiliền Thanh Hóa - Hà Nội, đờng bộ đi Hà Nội
Cùng với những thay đổi địa giới hành chính thì tình hình dân c của Thịxã Thanh Hóa cũng không ngừng có những chuyển biến Sau cách mạng tháng
8 theo lời kêu gọi của Hồ Chí Minh về việc triển khai công tác “Tiêu thổkháng chiến” thị xã đã nghiêm chỉnh chấp hành triệt để đa nhân dân về vùng
an toàn, số ngời ở lại bảo vệ thị xã tham gia chiến đấu, sản xuất chỉ dao động
từ 5.000 - 6.000 ngời Khi cuộc kháng chiến chống Pháp đi vào giai đoạn kếtthúc thì dân số của thị xã lại tăng lên 12.415 ngời, đến năm 1963 theo yêu cầucủa việc hồi c, nhân dân sơ tán nay đợc trở về quê cũ làm ăn, ngời dân thị xã
từ khắp các huyện đã lần lợt trở về quê hơng, do đó mà dân số thị xã thời điểm
đó lên đến 51.520 ngời Đến năm 1975 thì dân số đạt 80.753 ngời Dân c tăngthờng kéo theo nhiều vấn đề xã hội phức tạp, đã tác động không nhỏ đến đờisống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của thị xã trong những năm qua và cảnhững năm sắp tới, nhng những thay đổi đó là điều kiện đa thị xã tiếp tục vơnmình sau chiến tranh, đồng thời là cơ sở để thị xã bớc vào thời kỳ hội nhậpxứng đáng là trung tâm của tỉnh Thanh Hóa
1.2 Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân c của Thị xã Thanh Hóa thời kỳ (1975 - 1994)
1.2.1 Bối cảnh lịch sử
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 đã kết thúc bằngchiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, đa cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nớc kéo dài gần một phần t thế kỷ của nhân dân ta
đến thắng lợi hoàn toàn, tổ quốc thống nhất, giang sơn thu về một mối, BắcNam sum họp một nhà Cách mạng nớc ta chuyển sang giai đoạn mới: giai
Trang 30đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Trong niềm vui chiến thắng, nhân dân hai miền Nam Bắc đợc sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam, phấn khởi, hăng hái tham gia khôi phục và xâydựng đất nớc Nhng chiến tranh mới đi qua, hậu quả sau gần 30 năm chiếntranh ở cả hai miền đã để lại muôn vàn khó khăn thử thách chồng chất ởMiền Nam bị địch tàn phá, nhiều vùng đất bị bỏ hoang, nhà của dân bị sanbằng nhất là vùng nông thôn, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt, hàng triệunguỵ quân, nguỵ quyền tan rã, cha ổn định cuộc sống, chính quyền cách mạngmới thiết lập, kinh tế ngừng phát triển, đời sống nhân dân khó khăn ở MiềnBắc sau khi ký hiệp định Pari 1973, một số vùng, một số mặt kinh tế, văn hoá
đã đợc khôi phục nhng “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, dốc toànlực cho chiến trờng, nền kinh tế tăng trởng chậm, năng suất lao động thấp.Nhà nớc đang thực hiện chế độ bao cấp Trong khi đó tình hình Thế giới diễn
ra phức tạp, các nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, sự viện trợ của LiênXô cũ và các nớc cho Việt Nam không còn, các thế lực phản động và Đế quốc
Mỹ dùng mọi thủ đoạn hòng phá hoại công cuộc xây dựng đất nớc ta Nhữngkhó khăn đó không thể một sớm một chiều có thể khắc phục đợc mà nó đòihỏi phải có thời gian và đờng lối chính sách đúng đắn của Đảng, nhà nớc đểlãnh đạo nhân dân từng bớc vợt qua những khó khăn nêu trên Thanh Hóa làmột trong những tâm điểm của chiến tranh nên hậu quả của cuộc chiến tranh
để lại cũng không kém phần nặng nề “Tại thị xã Thanh Hóa tổng kết lại năm
1972 địch đã đánh 82 trận (có 9 trận ban đêm), với 27 chiếc máy bay B52,1.308 lần chiếc may phản lực các loại, trong đó ó 6.599 bom phá, có 68 hốbom trúng vào đờng đòi hỏi khối lợng san lấp gấp 2 lần thời 4 năm trớc, 53tên lửa, 96 quả bom từ trờng, nhiều bom bi và rốc két, chúng tổ chức 7 lầnpháo kích với hơn 7000 quả pháo cỡ 122 đến 175 ly Không có khu phố, xã,hợp tác xã, cơ quan nào mà không bị tàn phá, kể cả nhà Chung Thanh Hóa, tr-ờng Tiểu chung viện cũng bị trúng bom, 249 ngời hy sinh, 436 ngời bị thơng,1.731 ngôi nhà (trong đó có 351 nhà ngói) bị sập” [10, 158] Hậu quả nặng nề
do đế quốc Mỹ gây ra đối với nhân dân Thanh Hóa là hết sức to lớn Hệ thốngtrờng học bệnh viện, giao thông vận tải đều xuống cấp trầm trọng, đòi hỏi phải
có sự quan tâm đầu t xây dựng, nâng cấp lại để phù hợp với tình hình mới củathời kỳ quá độ Những thách thức đó đang đòi hỏi sự nỗ lực cao nhất của tất cả
Trang 31các cán bộ, Đảng viên, nhân dân toàn Thành phố phải cố gắng để khắc phụcnhững khó khăn nêu trên.
Với tinh thần đoàn kết không quản ngại gian khổ hy sinh từ đổ nát hoangtàn do chiến tranh để lại, Đảng bộ và nhân dân thị xã lại bắt tay xây dựng lạithị xã đàng hoàng hơn, to đẹp hơn
Để đáp ứng yêu cầu trên từ ngày 19 đến ngày 28/5/1975 Đại hội đạibiểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ VIII đã khai mạc Đại hội đã đề ranhiệm vụ của tỉnh trong 2 năm 1975 - 1976 và những năm tiếp theo là: “Pháthuy mọi khả năng của cả 4 vùng: Đồng bằng, trung du, miền biển, miền núi,
đi sâu vào tổ chức lại sản xuất, tổ chức một bớc công tác quản lý từ cơ sở,tiếp tục xây dựng các điều kiện vật chất cấp thiết, đa tốc độ khôi phục vàphát triển nhanh hơn, có hiệu quả kinh tế cao hơn, giải quyết vững chắc vấn
đề lơng thực, tăng nhanh thực phẩm và hàng tiêu dùng, tăng nhanh hàng xuấtkhẩu, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa,cải thiện một bớc đời sống nhân dân trong tỉnh Đồng thời tích cực chuẩn bịcho việc phát triển kinh tế mạnh mẽ trong kế hoạch dài hạn 1976 - 1980.Tăng cờng công tác quân sự địa phơng và trật tự trị an Tiếp tục làm trònnghĩa vụ đối với Miền Nam, làm tốt nhiệm vụ quốc tế đối với tỉnh bạn trongtình hình mới ” [62, 14]
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ IX, Đại hội Đảng bộTỉnh lần thứ XIII tháng 10 - 1975 Ban chấp hành Đảng bộ thị xã đã ra nghịquyết về các mặt công tác: “Phải tập trung cao độ, nêu cao tinh thần chủ động,
tự lực, tự cờng, đoàn kết tơng trợ nhằm nhanh chóng khắc phục hậu quả bãolụt, quyết tâm phấn đấu hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch, đồng thờiphải tích cực chuẩn bị t tởng, tổ chức, phơng án cụ thể về nguyên liệu, cơ sởvật chất kỹ thuật cho năm 1976 với tinh thần quyết giành thắng lợi tháng đầu,tạo tiền đề cho việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần 2(1976 - 1980) [63,4]
Với tinh thần khẩn trơng nghiêm túc và quyết tâm hoàn thành những mụctiêu kinh tế, xã hội đã đề ra, ngày 21/6/1976 Ban chấp hành Đảng bộ thị xã đã
ra Nghị quyết số 01/VP/TU về phơng hớng nhiệm vụ năm 1976 là: “Ra sứcphát huy thế mạnh, kiên quyết khắc phục nhợc điểm còn tồn tại, tập trung đẩymạnh việc tổ chức lại sản xuất, tổ chức lại lao động xã hội, chấn chỉnh cácmặt quản lý, trọng tâm là cơ sở sản xuất kinh tế nhằm đẩy mạnh kinh tế vănhoá phát triển, hoàn thành kế hoạch nhà nớc năm 1976, giải quyết tốt đời sống
Trang 32và đa việc tổ chức quản lý thị xã có chuyển biến tiến bộ về nếp sống mới, vớikhẩu hiệu năm 1976 là: “Thị xã giàu về kinh tế, giỏi về trật tự, đẹp về nếpsống” Đồng thời Đại hội đã thảo luận, xây dựng phơng hớng nhiệm vụ chocông tác mặt trận cho năm sắp tới là: Phát huy truyền thống cách mạng, tăngcờng mở rộng các tổ chức, đoàn thể quần chúng, động viên kịp thời cán bộ,
Đảng viên, nhân dân tham gia lao động sáng tạo với tinh thần làm chủ tập thể,nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh phát triển kinh tế,chính trị, văn hoá đa thị xã thực sự trở thành đầu tàu trên tất cả các phơngdiện Từ năm 1975 trở đi, với sự quan tâm của trung ơng Đảng, thị xã ThanhHóa đợc quy hoạch lại, phố phờng tiếp tục mọc lên, các cơ quan trung ơng
Đảng, tỉnh Thành phố, phờng xã gấp rút đợc xây dựng trong không khí chungcủa công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong thời kỳ kế hoạch 5 năm 1981 - 1985 đất nớc ta nói chung, Thị xãThanh Hóa nói riêng không thực hiện đợc mục tiêu cơ bản đã đề ra là ổn định
đời sống nhân dân Tổng điều chỉnh giá lơng tiền cuối năm 1985 đã đa nềnkinh tế đất nớc đến những khó khăn mới Nền kinh tế xã hội đã lâm vào khủnghoảng trầm trọng Đợc sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, từ ngày 6 đến ngày11/10/1986 tại hội trờng Thị uỷ đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ thị xãThanh Hóa lần thứ VIII Đại hội giao cho ban chấp hành khoá VIII thực hiệncác nhiệm vụ đề ra trong báo cáo mà trọng tâm là:
1 Xuất phát từ phơng hớng cơ bản của tỉnh “từ lơng thực, xuất khẩu vàsản xuất hàng hoá phong phú đa dạng mà đi lên”, ổn định và tiếp tục pháttriển mạnh sản xuất, trọng tâm là sản xuất tiểu, thủ công nghiệp, phát triểngiao thông vận tải, mở rộng dịch vụ đời sống Phát triển nông nghiệp toàndiện, tập trung thâm canh năng suất, hình thành vành đai thực phẩm Mọi ngời
có việc làm và đời sống ổn định
2 Xây dựng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao chất lợng giáo dục, y
tế, văn hoá, truyền thanh, thể dục, thể thao làm tốt công tác nhà đất, từng
b-ớc xây dựng đô thị theo quy hoạch để đổi mới bộ mặt của thị xã
3 Tiếp tục củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới phù hợp với tínhchất và trình độ của lực lợng sản xuất Tăng cờng kinh tế quốc doanh, củng cốphát triển kinh tế tập thể, khuyến khích kinh tế giai đoạn phát triển đúng hớng
4 Xây dựng Đảng bộ thị xã vững mạnh, hệ thống chính quyền có đủnăng lực quản lý hành chính nhà nớc, quản lý kinh tế xã hội, an ninh quốcphòng, các đoàn thể quần chúng vững mạnh
Trang 33Nh vậy năm 1986 theo tinh thần chung của Đảng, nhà nớc, về việc đa cả
n-ớc bn-ớc vào thời kỳ mới, mở cửa để hội nhập với thế giới và khu vực Tiếp thunhanh chóng và nhạy bén với tình hình mới, Đảng bộ nhân dân Thanh Hóa nóichung, Thị xã Thanh Hóa nói riêng đã nghiêm chỉnh chấp hành đờng lối của
Đảng đề ra, bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc thì Thanh Hóa cũng vấp phảinhững sai lầm thiếu sót Tuy nhiên với tinh thần tự giác vơn lên, Đảng bộ vànhân dân thị xã đã nhanh chóng sửa sai, khắc phục những sai lầm, thiếu sót đểtiếp tục đa thị xã phát triển vững mạnh hơn, hoàn thành xuất sắc hơn các kếhoạch 5 năm và đa thị xã phát triển vững mạnh về mọi mặt
Những kết quả to lớn đó là điều kiện cần thiết không thể thiếu đợc đểngày 14/8/1993, Bộ trởng bộ xây dựng ra Quyết định công nhận Thị xã ThanhHóa thuộc tỉnh Thanh Hóa là đô thị loại III Tiếp đó ngày 1/5/1994, Thủ tớngchính phủ Võ Văn Kiệt ký Nghị định số 37/CP thành lập Thành phố ThanhHóa thuộc tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở Thị xã Thanh Hóa
Chính những yêu cầu thiết thực của việc xây dựng đổi mới đã dẫn đếnthay đổi về địa giới hành chính của Thành phố Thanh Hóa trong giai đoạnnày, từ đó kéo theo những thay đổi về dân c trên địa bàn Thành phố trongkhoảng thời gian (1975 - 1994)
1.2.2 Sự thay đổi về địa giới hành chính
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài, anhdũng và vô cùng gian khổ của dân tộc ta Đất nớc thống nhất non sông thu vềmột mối Tháng 9 năm 1975 hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành trung ơng
Đảng đề ra nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn này: Từ chiến tranh chuyểnsang hoà bình, từ một nửa nớc bị chủ nghĩa thực dân mới chia cắt và thống trị,sang cả nớc độc lập thống nhất, từ hai nhiệm vụ chiến lợc là cách mạng dântộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa sang một nhiệm vụ chiến lợc làlàm cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tháng 2 năm 1981, Ban chấp hành trung ơng Đảng họp hội nghị lần thứ
IX (khoá IV) ra Nghị quyết về phơng hớng nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 1982
và ra lời kêu gọi: “Mỗi ngời hãy lao động và công tác hết sức mình với tinhthần yêu nớc và yêu chủ nghĩa xã hội nồng nàn, khắc phục những khó khăn tr-
ớc mắt và chuẩn bị cho một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của đất
n-ớc ”[24,318] Hội nghị chủ trơng phải sửa chữa các khuyết điểm trong quản
lý kinh tế, quản lý xã hội nhất là phải đổi mới công tác kế hoạch hoá và cải
Trang 34thiện một cách cơ bản chính sách kinh tế làm cho sản xuất bung ra” theo hớng
kế hoạch hoá của nhà nớc
Để chuẩn bị xây dựng lại và mở rộng Thành phố khi hoà bình lặp lạinhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân dân quay trở về địa phơng sinhsống cũng nh việc chuẩn bị cơ sở vật chất hạ tầng cho việc xây dựng phát triểnquê hơng Ngày 3/1/1981 hội đồng chính phủ quyết định thống nhất các đơn
vị hành chính ở cơ sở nội thành, nội thị của các Thành phố thuộc tỉnh, thị xã
và quận gọi là phờng Phờng có hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân Căn
cứ vào quyết định của chính phủ, theo đề nghị của uỷ ban nhân dân thị xã,ngày 3/7/1981 uỷ ban nhân dân tỉnh ra Quyết định số 511/TC/UBHT chia lạicác tiểu khu, chuyển thành cấp phờng và đặt tên các phờng nh sau:
[ 24, 332 ]Sau Quyết định này thì Thị xã Thanh Hóa bao gồm 12 đơn vị hành chínhtrong đó có 8 phờng và 4 xã, với diện tích nh sau:
biểu tổng hợp chỉ tiêu diện tích các phờng xã
Trang 35và tên gọi khác nhau qua từng thời kỳ lịch sử “Dới triều Nguyễn (1804) đểthành lập khu trấn lỵ, nhà Nguyễn đã cắt đất làng Thọ Hạc, làng Phú Cốc,làng Mật Sơn (phủ Đông Sơn) để chia thành 2 giáp Đông Phố và Nam Phố, d-
ới các giáp là đơn vị ấp Thời điểm này mảnh đất của phờng Ngọc trạo nằmtrên cách đồng của làng Mật Sơn Cuối thế kỷ XIX vua Thành Thái ký đạo dụthành lập Thị xã Thanh Hóa bao gồm 7 làng, phờng Ngọc Trạo nằm ở vị trítrung tâm của thị xã Năm 1929 sau khi điều chỉnh địa giới hành chính củaThành Phố Thanh Hóa thì phờng Ngọc Trạo nằm trong khu vực quản lý hànhchính của phờng Đệ nhất Ngày 10/4/1945 Uỷ ban hành chính tỉnh Thanh Hóaquyết định bỏ đơn vị cấp tổng, phủ, phờng Ngọc Trạo thuộc địa phận khu phố
3 Từ khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12/1946) đến mùa hè 1947,cán bộ và nhân dân khu phố 3 vâng theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ ChíMinh kính yêu đã thực hiện triệt để “Tiêu thổ kháng chiến”, phá nhà cửa cầucống đờng sá tản c về các vùng nông thôn Từ đây cấp chính quyền khu phốgiải thể Tháng 7/1954 hoà bình lập lại trên Miền bắc, nhân dân Thị xã ThanhHóa hồi c về mảnh đất thân thơng của mình Chủ trơng của uỷ ban hành chínhtỉnh chỉ rõ, nhân dân ở khu phố nào trở về khu phố đó Thời gian này nhân dânNgọc Trạo thuộc khu phố 3 gồm các phố: Quang Trung I, II và xóm Tân An(xóm Tân An năm 1953 - 1954 trực thuộc xã Đông Trấn) Năm 1963, Uỷ banhành chính thị xã điều chỉnh lại địa giới các tiểu khu, quyết định nhập 3 khudân c (Quang Trung I, II và xóm Tân An) của khu phố 3 cũ thành tiểu khuQuang Trung Tháng 8/1966, uỷ ban hành chính thị xã quyết định sáp nhậptiểu khu Quang Trung vào tiểu khu Ba Đình Sau ngày Miền Nam hoàn toàngiải phóng (1975) lực lợng bộ đội, cán bộ, nhân dân ở các chiến trờng và nơisơ tán trở về làm gia tăng dân số của thị xã Trớc yêu cầu phát triển kinh tế xã
Trang 36hội, quốc phòng, anh ninh và quy hoạch đô thị, uỷ ban nhân dân thị xã đã tiếptục điều chỉnh lại địa giới hành chính các tiểu khu, tháng 10/1977 chia táchtiểu khu Ba Đình thành 2 tiểu khu: Ba Đình và Quang Trung Theo Quyết định
số 511/QĐ/TC-UBTH của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, tháng 8/1981 các
đơn vị hành chính tiểu khu trong thị xã đều chuyển thành phờng, tiểu khuQuang Trung đợc đổi thành phờng Ngọc Trạo với diện tích 53 ha, gồm cácphố: Quang Trung A, B, Hoàng Văn Thụ, Tân An, Tân Bình với số dân lúcnày là 5.859 ngời Trải qua một phần t thế kỷ với sự phát triển toàn diện vềkinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh Đến năm 2006, phờng Ngọc Trạo nằm ởphía nam trung tâm Thành phố Thanh Hóa Phía Bắc giáp phờng Ba Đình vàphờng Lam Sơn, phía Đông, phía Nam và một phần phía Tây giáp phờng
Đông Vệ và phờng Phú Sơn, dân số trên 11.000 ngời Phờng có 18 phố nằmtrên 3 khu vực (khu Quang Trung, khu phía Tây và phía Đông)
Phờng Hàm Rồng: Làng Đông Sơn là một làng Việt cổ có vị trí rất lớn
-đại diện cho cả một giai đoạn lịch sử văn minh Đông Sơn - trống đồng ĐôngSơn Trớc cách mạng làng này thuộc xã Đông Sơn tổng Thọ Hạc, huyện ĐôngSơn Sau cách mạng tháng 8/1945 thuộc xã Nam Sơn Thọ, huyện Đông Sơn.Sau cải cách ruộng đất cùng với làng Nam Ngạn có tên là xã Đông Gianghuyện Đông Sơn Ngày 16/3/1963, theo Quyết đinh số 30/CP của hội đồngchính phủ sáp nhập xã Đông Giang và xóm núi Hoàng Long (Hoàng Hoá) vàothị xã Thanh Hóa Năm 1964 thành lập tiểu khu Hàm Rồng (trực thuộc thị xãThanh Hóa) Từ tháng 1/1981 tách khỏi phờng Nam Ngạn thành lập phờngHàm Rồng Phờng Hàm Rồng nằm ở phía bắc Thành phố Thanh Hóa, phíaBắc giáp xã Thiệu Dơng (huyện Thiệu Hoá) và xã Đông Cơng (thuộc thànhphố Thanh Hóa), phía Nam giáp phờng Nam Ngạn, phía Đông giáp sông Mã(xã Hoàng long - Hoàng Hoá), phía Tây giáp phờng Đông Thọ Diện tích tựnhiên 457 ha, dân số 6.911 ngời
Phờng Lam Sơn là một trong 4 phờng trung tâm của Thành phố ThanhHóa, diện tích tự nhiên là 86 ha, dân số 12.676 ngời Phờng Lam Sơn đợcthành lập từ năm 1981 Xa xa nơi đây là làng Phú Cốc (hay làng Cốc Thợng)thuộc tổng Bố Đức Từ ngày có Thành Hạc, triều đình nhà Nguyễn cắt đấtnhập vào lỵ sở, thì phần đất Phú Cốc chia thành năm phần lớn ở 2 ấp Phú Mỹ
và Hữu Biên Năm 1899 khi lỵ sở Thanh Hóa đợc nâng lên thị xã, giải tán các
ấp thì phần đất này thành phờng Phú Cốc Năm 1929, Thị xã Thanh Hóa nâng
Trang 37lên Thành phố Thanh Hóa, chính quyền đô hộ phải giải tán các phờng cũ,thành lập các phờng mới và lấy các con số đặt tên cho phờng thì phần đất PhúCốc thành phố Đệ tam Năm 1960 theo chủ trơng của Uỷ ban nhân dân tỉnhchia Thị xã Thanh Hóa thành 10 tiểu khu thì tiểu khu Hoàng Hoa Thám nhậnthêm một phần đất của tiểu khu Lê Hồng Phong Đến năm 1981 các tiểu khu
đợc giải thể để thành lập phờng thì phần đất này thuộc phờng Lam Sơn
Phờng Phú Sơn mới đợc thànhlập từ năm 1981 Xa xa khi nhà Nguyễn xây Thành Hạc, mở rộng tỉnh lỵ thìphần đất Phú Sơn ngày nay, phía Nam thuộc làng Mật Sơn, phía Bắc thuộc đấtThọ Hạc, khi thành lập 2 giáp chia ấp thì ấp Phú Sơn thuộc giáp Tây phố Năm
1931 chính quyền đô hộ lập phờng Trờng Thi, đất này thuộc phờng Nam Lý.Sau cách mạng 1954 có tên là xóm Trần Phú, sau đó nhập với xóm Lam Sơnthành tiểu khu Phú Sơn Tiểu khu Phú Sơn có ga Thanh Hóa nằm ở trung tâmnên trong 2 cuộc kháng chiến nhất là kháng chiến chống Mỹ là trung tâm trútbom đạn của kẻ thù Năm 1968 Đế quốc Mỹ tuyên bố hạn chế ném bom Miềnbắc, dân đi sơ tán trở về, địa bàn đợc mở rộng nh ngày nay nhng vẫ giữ têntiểu khu Phú Sơn Theo Quyết định của chính phủ ký ngày 3/1/1981 đơn vị cơ
sở nội thành nội thị của Thành phố thuộc tỉnh gọi là phờng, thì tiểu khu PhúSơn thành phờng Phú Sơn từ ngày ấy Phờng Phú Sơn nằm ở phía Tây namThành phố Phía Bắc giáp phờng Đông Vệ và xã Đông Lĩnh (Đông Sơn) PhíaNam giáp phờng Đông Vệ và xã Đông Hng (Đông Sơn), phía Tây giáp ĐôngTân, phía Đông giáp phờng Ba Đình và phờng Điện Biên Diện tích tự nhiên
279 ha, dân số 16.178 ngời
Phờng Đông Sơn: Trớc cách mạng tháng 8 vùng đất này thuộc làng LaiThành, tổng Bố Đức huyện Đông Sơn Năm 1943 Nhật chiếm đất mở rộng sânbay (gọi là sân bay Lai Thành) Cách mạng tháng 8 thành công đất này thuộcxã Đông Hải Sau hoà bình lập lại có một số gia đình tản c trở về, phá đất làmnhà 2 bên tỉnh lộ 8 Vào khoảng năm 1956 tỉnh xây dựng trờng Bổ túc văn hoácho cán bộ cấp tỉnh, dân c dần dần tụ tập đông Vào năm 1960 khu vực này trởthành một xóm nhỏ và trực thuộc thị xã Đến 1981 có tên là Phờng Đông Sơncho đến ngày nay Ngoài các con đờng bộ trên địa bàn phờng còn có 2 consông Phía Tây Nam có sông nhà Lê, phía Tây bắc có con sông Cầu cốc hợp lutại cửa đền Thuỷ tinh công chúa rồi nhảy vào sông tiêu thuỷ Quảng Châu.Trên sông này có một cây cầu vĩnh cửu gọi là cầu Lai Thành Phờng ĐôngSơn nằm ở phía Đông Nam Thành Phố Thanh Hóa Phía Bắc giáp xã Đông H-
Trang 38ơng và Đông Hải, phía Nam giáp xã Quảng Thành, phía Đông giáp xã QuảngHng, phía Tây giáp phờng Đông Vệ và phờng Lam Sơn Diện tích tự nhiên 84
ha, dân số 9.622 ngời Để xây dựng Thanh Hóatheo quy hoạch đô thị đợc Đại hội lần thứ VII đặt ra là một trong những nhiệm
vụ chính của thị xã Qua 3 năm (1983 - 1985) Thị xã đã đợc trung ơng và tỉnh
đầu t mở rộng đờng 1A, nối nền đờng Lê Lợi với đờng Lam Sơn, mở một số ờng liên hơng ở các xã: Đông Vệ, Đông Thọ, Đông Hải Xây hệ thống cốngrãnh thoát nớc, cải tạo xây dựng mạng lới điện, hoàn thành xây dựng nghĩatrang liệt sỹ Đặc biệt đến cuối 1985, thị xã đã san lấp 1,6 ha đất hình thành 2khu dân c mới là Nam cầu Sâng thuộc phờng Nam Ngạn và Nam Cầu Bốthuộc phờng Đông Vệ, chia 731 lô đất cho cán bộ và nhân dân, xây dựng một
đ-số cơ sở kinh tế mới nh: Công ty vật t và xí nghiệp than tổ ong, tiến hành látvỉa hè phờng Ba Đình, Điện Biên, Ngọc Trạo
Để xứng đáng là trung tâm văn hoá của tỉnh nhà, trong công cuộc đổimới thị xã đã không ngừng cố gắng vơn lên về mọi mặt, cùng với những thay
đổi quan trọng của cả tỉnh thị xã đã có những bơc tiến đáng kể, nhất là trongviệc thay đổi địa giới hành chính của địa phơng
Ngày 5/5/1991 Hội đồng bộ trởng ra Quyết định số 132/HĐBT về phânloại đô thị, Thị xã Thanh Hóa đợc xếp vào đô thị loại 4 Tổng kết năm 1991,
Uỷ ban nhân dân tỉnh tặng nhân dân và cán bộ thị xã cờ: Đơn vị thi đua đổimới xuất sắc năm 1991 Năm 1992, Ban thờng vụ Tỉnh uỷ ra thông báo số 24/TB-TU về công tác quản lý đô thị và phát triển Thị xã Thanh Hóa Thông báochỉ rõ một số việc cần làm tốt là: “Từ quy hoạch tổng thể, lãnh đạo thị xã cầnnhanh chóng triển khai các quy hoạch chi tiết từng hạng mục, thiết kế chi tiếttừng tiểu khu, bảo đảm việc xây dựng thị xã phải theo đúng quy hoạch tổngthể đã đợc duyệt Cùng với việc quan tâm đúng mức đến các công trình sảnxuất kinh doanh tạo ra công ăn việc làm cho nhân dân, phải coi trọng các côngtrình phúc lợi công cộng vui chơi giải trí Trớc hết cần chú ý các công trình:Chợ trung tâm, nhà văn hoá thiếu niên, hồ thành, hệ thống cấp thoát nớc dândụng, đèn chiếu sáng Xây dựng theo phơng châm làm đến đâu chắc và đẹp
đến đó Khẩn trơng khảo sát tính toán, phân loại cụ thể quỹ đất để xác địnhgiá trị, mức thu lệ phí cho thuê khi đợc sử dụng đất Nguồn thu lệ phí đợc đầu
t trở lại xây dựng các công trình trên địa bàn thị xã, nhằm xây dựng Thị xãThanh Hóa ngày càng đẹp, sầm uất và văn minh, xứng đáng là trung tâmchính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh nhà” [10, 223]
Trang 39Hội nghị trao đổi kinh nghiệm về công tác quản lý và các biện pháp xâydựng ngân sách đô thị của 15 Thành phố, Thị xã trực thuộc tỉnh phía Bắc từHuế trở ra (12/11/1992) đã thống nhất nhận thấy “nhờ đờng lối đổi mới của
Đảng, các đô thị Việt Nam trong những năm qua có nhiều thay đổi nhanhchóng, ngày càng khẳng định vai trò trung tâm của các đô thị không chỉ làchính trị, văn hoá mà còn là vai trò trung tâm kinh tế Càng có ý nghĩa thúc
đẩy nhanh nền kinh tề hàng hoá nhiều thành phần, và là địa bàn tốt nhất phục
vụ cho kinh tế đối ngoại”; Song băn khoăn nhất của hội nghị là cơ sở hạ tầngthấp kém, vì vậy đã kiến nghị lên chính phủ: “Giúp đỡ các thành phố, thị xãlập quy hoạch tổng thể, những nơi đã có quy hoạch tổng thể và đã đợc duyệt,
có đủ điều kiện đô thị loại nào thì nâng cấp loại đó; Giữ nguyên các thành phốthị xã trực thuộc tỉnh là 1 cấp kế hoạch - ngân sách để có đủ điều kiện khaithác nguồn thu, thu hút vốn đầu t mới nớc ngoài cho phát triển đô thị”
Cũng theo tinh thần đó, ngày 28/7/1993 kỳ họp thứ XV Hội đồng nhândân tỉnh Thanh Hóa khoá XII Quyết định nhất trí với tờ trình của Uỷ ban nhândân tỉnh về việc đề nghị chuyển Thị xã Thanh Hóa thành Thành phố ThanhHóa Ngày 14/8/1993, Bộ trởng bộ xây dựng ra Quyết định công nhận Thị xãThanh Hóa thuộc tỉnh Thanh Hóa là đô thị loại 3 Tiếp đó ngày 5/10/1993, Uỷban nhân dân tỉnh Thanh Hóa lập tờ trình và luận chứng về việc đề nghịchuyển Thị xã Thanh Hóa thành Thành phố Thanh Hóa kính gửi lên Thủ tớngchính phủ Năm 1993 sau 8 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng bộ vànhân dân thị xã đã nỗ lực phấn đấu và đạt kết quả bớc đầu rất quan trọng Nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần đang thích nghi và phát huy tác dụng đápứng nhu cầu của nhân dân, một số cơ sở kinh tế quốc doanh, tập thể vợt quakhó khăn thích nghi dần với cơ chế mới Kinh tế t nhân, kinh tế hộ gia đìnhphát triển khá, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ổn định và đợc cảithiện Cơ sở vật chất kỹ thuật đợc nâng cấp, bộ mặt đô thị có sự thay đổi lớn,
sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao tiến bộ, tình hình chính trị
an ninh đợc giữ vững, Căn cứ vào những bớc phát triển của Thị xã Thanh Hóathì ngày 1/5/1994 Thủ tớng chính phủ Võ Văn Kiệt ký Nghị định số 37/CPthành lập Thành phố Thanh Hóa trực thuộc tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở Thị xãThanh Hóa
Cũng theo tinh thần đó, sau khi đợc nâng cấp lên Thành phố Thanh Hóa
để mở rộng địa giới hành chính ngày 28/6/1994 Thủ tớng chính phủ ký Nghị
Trang 40định số 55/CP về việc thành lập phờng Đông Thọ, phờng Đông Vệ và chia ờng Nam Ngạn thành 2 phờng: Phờng Nam Ngạn và phờng Trờng Thi thuộcThành phố Thanh Hóa.
Ph-Phờng Đông Thọ hình thành bởi làng cổ Thọ Hạc, Quán Dò và ĐôngTác Làng Thọ Hạc trớc cách mạng thuộc xã Thọ Hạc, tổng Thọ Hạc, huyện
Đông Sơn Sau cách mạng từ 1945 đến 1947 vẫn là xã Thọ Hạc Từ 1947
-1971 thuộc xã Đông Thọ, huyện Đông Sơn Từ -1971 xã Đông Thọ đợc chuyển
về Thị xã Thanh Hóa (nay là Thành phố Thanh Hóa) Năm 1994 theo chủ
tr-ơng của chính phủ các xã thuộc nội thành đổi thành Phờng nên xã Đông Thọ
đợc mang tên là phờng Đông Thọ Sau khi đợc thành lập phờng Đông Thọ có
địa giới hành chính nh sau:
* Phía Bắc giáp với phờng Hàm rồng và xã Đông Cơng
* Phía Nam giáp với phờng Điện Biên và phờng Trờng Thi
* Phía Đông giáp với phờng Nam Ngạn
* Phía Tây giáp với xã Đông Cơng, phía tây nam giáp với phờng Phú Sơn.Phờng Đông Thọ nằm ở phía tây bắc Thành phố Thanh Hóa, với “diệntích 364 ha, dân số 1.214 ngời, mật độ dân số 343 ngời/km2” [80,609]
Phờng Đông Vệ: Bố Vệ là một đơn vị địa danh đã hình thành từ lâu đờitrên đất Thanh Hóa và hoà chung vào các cộng đồng dân c của tổ quốc ViệtNam yêu quý Trong các bộ sử cổ của nớc ta địa danh Bố Vệ đã đợc ghi chépvới các tên gọi khác nhau nh: Hơng Bố Vệ, Xã Bố Vệ, Cầu Bố và Kênh Bố
Vệ Lúc đầu Bố Vệ là đơn vị hành chính, xã Bố Vệ ra đời từ triều Lý thế kỷ
XI Đến thời Lê Sơ thế kỷ XV xã Bố Vệ đợc đổi thành hơng Bố Vệ Bố Vệ lúcnày có thêm thôn Mật Sơn Cuối thời Lê Sơ hình thành thêm 3 thôn: QuảngXá, Tạnh Xá và Yên Biên Năm 1829 đời Minh Mệnh (triều Nguyễn) 2 làng
Vệ Yên và Yên Biên chuyển về tổng Quảng Trạch huyện Quảng Xơng, xã Bố
Vệ còn lại 4 làng: Kiều Đại, Mật Sơn, Tạnh Xá và Quảng Xá thuộc Tổng Bố
Đức huyện Đông Sơn Và cũng thời kỳ này đơn vị xã không phải là đơn vịhành chính mà chỉ là danh nghĩa để thờ cúng các vua thời Hậu Lê Năm 1946.nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà giải thể Tổng Bố Đức, xã Bố Vệ lậpthành đơn vị hành chính Đầu năm 1951, xã Bố Vệ đợc đổi tên thành xã Đông
Vệ gồm 4 làng với 20 xóm thuộc huyện Đông Sơn Sau khi đợc thành lập ờng Đông vệ có diện tích 54 ha, dân số 15 136 ngời Phờng Đông Vệ nằm ởphía nam trung tâm Thành phố Thanh Hóa: