1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thâm nhập giữa truyện và thơ từ truyện thơ trung đại đến truyện có chất thơ hiện đại qua hai hiện tượng tiêu biểu truyện kiều của nguyễn du và truyện trữ tình của thạch lam

93 780 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự thâm nhập giữa truyện và thơ từ truyện thơ trung đại đến truyện có chất thơ hiện đại qua hai hiện tượng tiêu biểu truyện kiều của Nguyễn Du và truyện trữ tình của Thạch Lam
Tác giả Tô Thị Vân Anh
Người hướng dẫn Thầy giáo Lê Văn Tựng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 468,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNĐể hoàn thành khoá luận với đề tài Sự thâm nhập giữa truyện và thơ từ truyện thơ trung đại đến truyện có chất thơ hiện đại Qua hai hiện tượng tiêu biểu Truyện Kiều của Nguyễn D

Trang 1

Trờng Đại học Vinh

Khoa ngữ văn

====*****====

Tô thị vân anh

Sự thâm nhập giữa truyện và thơ

từ truyện thơ trung đại đến truyện

có chất thơ hiện đại (qua hai hiện tợng tiêu biểu truyện kiều của nguyễn du và

truyện trữ tình của thạch lam)

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: văn học việt nam ii

Vinh – 2010 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khoá luận với đề tài Sự thâm nhập giữa truyện và thơ từ truyện thơ trung đại đến truyện có chất thơ hiện đại (Qua hai hiện tượng tiêu biểu Truyện Kiều của Nguyễn Du và truyện trữ tình của Thạch Lam) chúng tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Lê Văn Tùng – Người đã dành nhiều thời gian và tâm

huyết để hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.

Nhân dịp này chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Ngữ văn trường Đại học Vinh

đã tạo mọi điều kiện cho chúng tôi hoàn thành khoá luận này.

Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tư liệu và khả năng nghiên cứu của bản thân nên khó luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu xót Kính mong sự chỉ dẫn và góp ý của quý thầy cô, bạn bè để khoá luận được hoàn chỉnh hơn.

Vinh, tháng 5 năm2010 Sinh viên

Tô Thị Vân Anh

Trang 3

MỤC LỤC

Lời nói đầu

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục khóa luận 4

Nội dung 6

Chương 1: Sự thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại trong lịch sử văn học 6

1.1 Khái quát về sự thâm nhập lẫn nhau trong lịch sử văn học 6

1.2 Về đặc trưng thể loại của thơ, chất thơ và truyện 11

1.3 Sự thâm nhập lẫn nhau giữa truyện và thơ 19

Chương 2: Truyện với thơ trong Truyện Kiều và truyện ngắn của Thạch Lam 26

2.1 Chất thơ trong Truyện Kiều 26

2.2 Chất thơ trong truyện trữ tình Thạch Lam 43

Chương 3: Sự tương đồng và khác biệt của hiện tưọng thâm nhập thơ -truyện giữa Truyện Kiều và -truyện Thạch Lam 69

3.1 Sự tương đồng, gặp gỡ giữa Truyện Kiều và truyện trữ tình Thạch Lam 69

3.2 Sự khác biệt dẫn đến tính độc đáo của việc thể hiện chất thơ trong tác phẩm của Nguyễn Du và Thạch Lam 72

Kết luận 87

Tài liệu tham khảo 89

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Trong lịch sử văn học không phải nhất thiết một tác phẩm này thìphải thiên hoàn toàn vào thể loại nấy Do nhiều nguyên nhân khác nhau, hiệntượng, tính chất, đặc điểm, hình thức thể loại này lại tồn tại trong tác phẩmthuộc thể loại khác là hiện tượng thời nào, trong văn học dân tộc nào cũng có.Hiện tượng đó góp phần mở rộng biên giới hoạt động của các thể loại, tăngkhả năng nghệ thuật của từng thể loại, tạo ra giá trị độc đáo trong sáng tác củanhà văn Trong lịch sử văn học Việt Nam cũng có nhiều hiện tượng như vậy

cả văn học trung đại và văn học hiện đại Có trường hợp sự thâm nhập mạnhđến mức tạo ra một thể loại thứ ba và để lại những giá trị nghệ thuật xuất sắc.Chẳng hạn, trong văn học trung đại đã để lại truyện thơ Nôm và văn học hiệnđại là truyện trữ tình Chúng tôi làm khoá luận muốn tìm hiểu hiện tượng này

qua Truyện Kiều của Nguyễn Du và truyện trữ tình của Thạch Lam được coi

là hiện tượng tiêu biểu cho hiện tượng đó Tìm hiểu đề tài này vừa để hiểuthêm một hiện tượng phổ biến trong văn học dân tộc vừa để có điều kiện nhậnthức sâu hơn giá trị nghệ thuật của hai nhà văn

2 Hiện tượng thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại trong sáng tác củacác nhà văn khác thời đại chắc chắn sẽ có những sự khác nhau ngoài những

sự gặp gỡ, tương đồng nào đó Hiện tượng đó đến tác phẩm mỗi nhà văn lại

còn có sự độc đáo hơn nữa Tìm hiểu hiện tượng đó từ Truyện Kiều của

Nguyễn Du đến truyện trữ tình của Thạch Lam ngoài việc muốn nêu nênnhững sự gặp gỡ giữa chúng mà còn muốn chứng minh tính độc đáo sáng tạocủa mỗi tác giả

3 Tác phẩm của Nguyễn Du và Thạch Lam được giảng dạy rất nhiều ởtrường phổ thông Việc tìm hiểu đề tài này có thể giúp ích nhiều cho côngviệc giảng dạy sau này của chúng tôi Có nhiều truyện ngắn của Thạch Lam

Trang 5

không thể giảng như giảng một truyện tự sự thông thường bởi chất trữ tình đã

thành một phần hồn của truyện Giảng Truyện Kiều cũng không thể chỉ dùng phương pháp giảng truyện Có đoạn trích Truyện Kiều nặng về chất truyện

(Thuý Kiều báo ân báo oán) lại có những đoạn thấm nhuần chất thơ (ThúcSinh từ biệt Thuý Kiều) Ở các đoạn đó, người giảng không hiểu rõ ảnh

hưởng qua lại giữa đặc trưng của truyện và thơ trong Truyện Kiều, chắc chắn

sẽ khó khăn

2 Lịch sử vấn đề

Truyện Kiều từ khi ra đời và tồn tại cho đến ngày nay đã hơn 200 năm.

Trong suốt khoảng thời gian đó đã có biết bao công trình nghiên cứu về tất cảmọi phương diện của tác phẩm Mỗi công trình đều có một hướng khai thácriêng và đều có những phát hiện mới mẻ, riêng, độc đáo và đáng ghi nhận.Không chỉ có giới phê bình nghiên cứu văn học trong nước mà còn có nhữngđộc giả nước ngoài yêu thích Việt Nam, yêu nền văn hoá văn nghệ và say mê

Truyện Kiều đã để lại nhiều công sức và thời gian tìm hiểu về nó.

Về phương diện nghệ thuật của Truyện Kiều tất cả các tác giả và các

công trình nghiên cứu của họ đều đánh giá cao

1979, Đặng Thanh Lê với công trình “Truyện Kiều và thể loại truyện

thơ Nôm” cũng đã khẳng định Nguyễn Du đã tiếp nhận nền văn hoá dân gian

của quê hương ông, tiếp nhận văn hoá - câu ca - giai điệu mượt mà của làngquê Kinh Bắc và mảnh đất “ngàn năm văn vật” Thăng Long để sáng tác nên

thi phẩm bất hủ Truyện Kiều.

1985, trong cuốn “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện

Kiều” giáo sư Phan Ngọc đã tiến hành phân tích so sánh đối chiếu với tác

phẩm “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân để nêu nên những nét

độc đáo của Nguyễn Du trong phương pháp tự sự Trong bài viết của mìnhPhan Ngọc đã bổ xung nhiều khiếm khuyết của các bài nghiên cứu về nghệ

Trang 6

thuật tự sự của Nguyễn Du trước đây Đây là một công trình nghiên cứu rấtthành công của giáo sư Phan Ngọc.

Còn với Thạch Lam là nhà văn đã tạo cho mình được một phong cáchnghệ thuật độc đáo không lẫn với bất cứ ai trong dòng văn học lãng mạn 1930

- 1945 Tuy nhiên, việc tìm hiểu và nghiên cứu về phong cách truyện ngắnThạch Lam là một lĩnh vực ít được đề cập tới

Qua việc khảo sát những bài viết về Thạch Lam, thì thấy hầu hết cáctác giả đều đã chú ý khai thác thế giới nghệ thuật của nhà văn tuy nhiên họ

mới chỉ dừng lại ở những nhận xét lẻ tẻ Trong cuốn “Thạch Lam - Văn

chương và cái đẹp”, Vũ Tuấn Anh đã tập hợp tất cả các bài viết của nhiều tác

giả về Thạch Lam nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất của Thạch Lam Bàiviết đầu tiên: “Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn” của giáo sư Phong Lê đãnêu lên ấn tượng chung về thế giới nghệ thuật Thạch Lam, đó là “Cảnh ngộ

và số phận con người trong rất nhiều lo âu vì nghèo đói vì bất công oan trái,

vì trăm thứ tai họa dồn lên kiếp sống mong manh, không nơi bấu víu nươngtựa” Ông lại nhận định ở thế giới nghệ thuật của Thạch Lam, tất cả đều hiuhiu, đạm đạm, không chói gắt, không có những vang động mạnh, nhưng lạigợi bao ám ảnh về số phận con người, về sự tối tăm của các cảnh đời”

Tác giả Trần Ngọc Dung với bài “Phong cách truyện ngắn Thạch

Lam” đã nêu lên được thế giới nhân vật của Thạch Lam, không gian, giọng

điệu nhưng chỉ dừng lại ở mức điểm qua chứ chưa phân tích cụ thể

Cũng trong cuốn “Thạch Lam - Văn chương và cái đẹp”, còn có bài viết “Thế giới nhân vật của Thạch Lam” của tác giả Hà Văn Đức, “Truyện

ngắn Thạch Lam - đặc điểm không gian nghệ thuật” của Hồ Thế Hà Những

bài viết này nhìn chung chỉ nghiên cứu thế giới nghệ thuật của Thạch Lam ởmột khía cạnh nhỏ lẻ

Trang 7

Nhìn chung từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đồng

thời cả Truyện Kiều của Nguyễn Du và truyện trữ tình của Thạch Lam Đây là

một yêu cầu đặt ra đối với người nghiên cứu và độc giả

3 Đối tượng nghiên cứu

Tìm hiểu sự thâm nhập ảnh hưởng qua lại giữa đặc trưng thơ và đặc trưng truyện từ truyện thơ trung đại đến truyện có chất thơ hiện đại”

Nghiên cứu về truyện thơ trung đại qua đại diện là Truyện Kiều đếntruyện có chất thơ hiện đại qua truyện ngắn trữ tình của Thạch Lam để thấyđược những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai thời đại văn học qua hiệntượng truyện – thơ có mặt trong nhau

1.2 Về đặc trưng thể loại của thơ, chất thơ và truyện

1.3 Sự thâm nhập lẫn nhau giữa truyện và thơ

Chương 2: Truyện với thơ trong Truyện Kiều và truyện ngắn của

Thạch Lam2.1 Chất thơ trong Truyện Kiều

2.2 Chất thơ trong truyện trữ tình Thạch Lam

Trang 8

Chương 3: Sự tương đồng và khác biệt của hiện tượng thâm nhập thơ

- truyện giữa Truyện Kiều và truyện Thạch Lam3.1 Sự tương đồng, gặp gỡ giữa Truyện Kiều và truyện trữ tình Thạch

Lam

3.2 Sự khác biệt dẫn đến tính độc đáo của việc thể hiện chất thơ trong

tác phẩm của Nguyễn Du và Thạch Lam

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

SỰ THÂM NHẬP LẪN NHAU GIỮA CÁC THỂ LOẠI

TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC

1.1 Khái quát chung về sự thâm nhập lẫn nhau trong lịch sử văn học

1.1.1 Khái niệm thể loại văn học

Thể loại là một trong những quan niệm quen thuộc và ổn định của líluận, cũng như trong thực tiễn sáng tạo, là các dạng thức tổ chức tác phẩm,quy tụ những hình thức nhìn nhận và phản ánh đời sống

Chúng ta đều biết rằng tác phẩm văn học là sự thống nhất trọn vẹn củacác yếu tố đề tài, chủ đề, nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn Nhưng sựthống nhất ấy lại được thực hiện theo những quy luật nhất định Thể loại củatác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm trong đóứng với một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm hình thức tồn tạichỉnh thể

Thể loại của tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quy địnhlẫn nhau của các loại đề tài, chủ đề, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thứckết cấu và hình thức lời văn Chẳng hạn, nhân vật kịch, kết cấu kịch, hànhđộng kịch với lời văn kịch, nhân vật trữ tình, kết cấu thơ tình và lời thơ, luậtthơ Sự thống nhất này lại do những phương thức chiếm lĩnh đời sống khácnhau quy định, thể hiện những quan niệm thẩm mỹ khác nhau đối với hiệnthực, mang những khả năng khác nhau trong tái hiện đời sống Bởi vì cácphương thức ấy ứng với các hình thức hoạt động nhận thức của con ngườihoặc trầm tư, hoặc chiêm nghiệm, hoặc qua các biến cố liên tục, hoặc quaxung đột, mâu thuẫn, hoặc qua các sự thật sinh động Đến lượt mình các thểloại tạo cho nó một kênh giao tiếp với người đọc Giao tiếp thơ khác giao tiếpkịch, giao tiếp bằng tiểu thuyết khác với giao tiếp bằng các thể loại ký Mỗi

Trang 10

kiểu giao tiếp như vậy lại đòi hỏi những ngôn ngữ và phương tiện riêng,truyền thống và kinh nghiệm riêng Chính vì vậy mà thông tin về thể loại củatác phẩm là rất cần thiết đối với sáng tác và tiếp nhận văn học Không phảingẫu nhiên mà sau nhan đề tác phẩm người ta thường thông báo ngay tên thể

loại tác phẩm: “Rut - xlan và Liutmila” - trường ca, “Vườn anh đào” - kịch,

“Epghênhi ônêghin” - tiểu thuyết bằng thơ, “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” - truyện ngắn, “Tháng ba ở Tây Nguyên” - ký sự Hay xa hơn, ở

thời trung đại tên thể loại không tách rời tên tác phẩm: “Bình Ngô đại cáo”,

“Hịch tướng sĩ”, “Truyền kỳ mạn lục”, “Văn tế Trương Quỳnh Như” Ở

đây, nói thể loại là nói tới một cách tổ chức tác phẩm, một kiểu tái hiện đờisống và một kiểu giao tiếp nghệ thuật

Thể loại văn học là một hiện tượng loại hình của sáng tác và giao tiếpvăn học, hình thành trên cơ sở sự lặp lại có quy luật của các yếu tố tác phẩm

Đó cũng là cơ sở để người ta tiến hành phân loại tác phẩm Nhưng thể loạitác phẩm không giản đơn là loại hình và lặp lại Bản chất của sáng tạo nghệthuật là tính độc đáo không lặp lại Sự vận động của cuộc sống luôn luôn sảnsinh và làm biến động, đổi mới các kênh giao tiếp tạo nên sự đan bện vàonhau trong các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc Vì vậy, đối với từng tác phẩmvăn học cụ thể có tầm cỡ, thể loại là toàn bộ các phương thức tổ chức, phảnánh và giao tiếp độc đáo của nó như một hệ thống chỉnh thể Sự phân loại làmột yêu cầu không thể thiếu để nhận thức các hiện tượng phức tạp, muôn vẻcủa thế giới và của cả văn học Sự phân loại thể loại, phân loại đề tài, chủ đềcảm hứng, nhân vật, phân loại kết cấu, phân loại lời văn, dù có quan trọngđến đâu cũng chỉ là vấn đề thứ hai, có tính ước lệ, nhằm hệ thống hoá các sựvật bề bộn

Vấn đề có tính thứ nhất ở đây là hình thức tồn tại chỉnh thể của tácphẩm Một hình thức như vậy trên thực tế đa dạng hơn bất cứ hệ thống phânloại nào Người sáng tác, khi xây dựng tác phẩm không giản đơn là làm cho

Trang 11

tác phẩm của mình giống với mẫu mực có trước Rõ ràng, muốn nhận thứcđặc điểm thể loại của một tác phẩm có giá trị, người ta phải có tri thức về cácquy luật lặp lại của thể loại lại vừa phải biết nhận ra tính độc đáo trong sự vậndụng, sáng tạo thể loại của tác giả.

Thể loại văn học là “dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành

và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thểhiện sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các hiệntượng đời sống được miêu tả và tính chất của mối quan hệ của nhà văn cáchiện tượng đời sống ấy” [11, 245]

Thể loại văn học trong bản chất phản ánh đúng khuynh hướng pháttriển vĩnh hằng của văn học và các thể loại văn học tồn tại là để giữ gìn đổimới thường xuyên các khuynh hướng ấy Do đó mà thể loại văn học vừa mới,vừa cũ, vừa biến đổi, vừa ổn định Vì vậy, khi tiếp cận cần tính đến thời đạilịch sử của văn học và những biến đổi, thay thế của chúng

1.1.2 Nhìn chung về sự thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại trong lịch sử văn học

Thế giới hiện thực là thế giới luôn luôn vận động và biến đổi cho dùmỗi thời đại, tính chất và cường độ của sự vận động đó khác nhau (ví dụ thờitrung đại với thời hiện đại) nhưng sự vận động luôn là bản chất của thế giới

Do đó, thế giới tâm trạng tình cảm, ý thức của con người trước hiện thực cũngkhông bao giờ bất biến Nó hình thành những kiểu tâm lý, tính cách, nhâncách vô cùng đa dạng phức tạp, mặc dù ở mỗi thời kỳ sự phức tạp này cũngkhác nhau Sự phức tạp này biểu hiện ngay trong thế giới ý thức của một cáthể người và một nhóm người, một đẳng cấp lại còn phức tạp hơn nữa Do đó,cùng một lúc trong một con người có thể tồn tại nhiều khát vọng, nhiều nhucầu tinh thần để góp phần giải đáp những ẩn số phức tạp của đời sống Mỗithể loại văn học đơn phương cô lập nhiều khi không giải đáp được những ẩn

số đó cho con người, vì vậy con người cần đến cùng một lúc, trên một tác

Trang 12

phẩm sự có mặt của đặc trưng nhiều thể loại Từ đó lịch sử văn học mới xuấthiện hiện tượng những tác phẩm được viết không thuần tuý đơn nhất Một thểloại nào mà có sự đan xen, pha trộn những nét đặc trưng của các thể loại khácnhau (khi thì hai hoặc hơn hai thể loại).

Hiện tượng thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại là do nhu cầu của conngười, người viết và người đọc - trong quá trình nhận thức và diễn đạt thếgiới Tuy vậy, ở mỗi thời đại văn học sự thâm nhập giữa các thể loại vẫn cónhững tính chất khác nhau Ở những thời đại mà hệ thống thể loại chưa pháttriển đa dạng phong phú, người ta có thể dùng một hình thức thể loại đã có đểdiễn đạt những nội dung hiện thực vốn lẽ ra phải sử dụng một phương thứcthể loại khác Chẳng hạn thời cổ đại trong văn học Hy Lạp La Mã tất cả cáctác phẩm thuộc các thể loại khác nhau đều viết bằng thơ: sử thi, anh hùng ca,

bi kịch Bi kịch viết bằng thơ còn tồn tại đến thời phục hưng Ở ta, sân khấudân gian (kịch dân gian) như tuồng, chèo, cải lương đều được diễn đạt bởihình thức thơ hoặc lời ca có vần điệu của thơ

Lịch sử văn học càng phát triển, thể loại càng đa dạng phong phú vàquan trọng hơn là đặc trưng thể loại càng được định hình rõ hơn Nhưng sựthâm nhập giữa các thể loại không vì vậy mà chấm dứt, ngược lại càng có cơhội và môi trường văn hoá để phát triển tinh vi, năng động và hiệu quả hơn,

có thể kể đến rất nhiều hiện tượng với nhiều mức độ thâm nhập khác nhau:truyện có chứa nhiều câu thơ (của tác giả của nhân vật) Ví dụ tiểu thuyết cổđiển Trung Quốc, truyện thơ (truyện thơ Nôm), ngâm khúc song thất lục bát,tác phẩm theo thể hành chức có chất thơ (cáo, hịch ), kịch thơ, truyện có chấtkịch, truyện ngắn có chất thơ (truyện trữ tình), thơ có chất văn xuôi, thơ vănxuôi, tiểu thuyết phóng sự, phóng sự có chất tiểu thuyết, ký có chất thơ

Nếu cần thiết có sự phân loại các phương thức thâm nhập lẫn nhau giữacác thể loại: có thể bước đầu nêu ra hai phương thức

Trang 13

Phương thức thâm nhập không tạo thể ghép: một vài yếu tố nghệ thuậtvấn thuộc đặc trưng thể loại khác nay có mặt trong tác phẩm, viết theo thểloại này nó tạo thêm đặc sắc nghệ thuật cho tác phẩm nhưng không làm thayđổi bản chất thể loại của tác phẩm (ví dụ yếu tố kịch tính trong truyện ngắn

“Vi hành” hay “Những trò lố hay là Va Ren và Phan Bội Châu”(Hồ ChíMinh), “Sống chết mặc bay”(Phạm Duy Tốn), “Ván Bi - a”(A.F Đôđê) hay

là yếu tố tự sự trong tập thơ “Từ ấy” (Tố Hữu) hoặc “Chùa Hương” (NguyễnNhược Pháp) Đây là phương thức phổ biến nhất có thể tìm thấy trên rấtnhiều tác phẩm của văn học Phương thức này không tạo ra thể ghép, thể thứ

ba hay là thể trung gian

Phương thức thâm nhập để tạo thể loại mới có tính chất thể ghép, thểtrung gian Ở phương thức này sự thâm nhập giữa các thể loại diễn ra mạnhhơn, toàn diện hơn, làm biến đổi về chất các thể loại đã tham ra vào quá trìnhthâm nhập và tạo ra một thể mới: thể ghép Tác phẩm ở thể ghép mang đặctrưng nghệ thuật của các thể đã tìm đến thâm nhập với nhau nhưng vẫn có thểtìm thấy “gien” trội ở một trong các thể đó qua tên gọi các thể mới gồm haiyếu tố mà yếu tố đứng trước thuộc “gien” trội hơn Như ngâm khúc song thấtlục bát, truyện thơ Nôm, truyện ngắn trữ tình, kịch thơ, thơ văn xuôi

Tuy vậy, ở phương thức này vẫn có thể phân biệt hai dạng thâm nhậpkhác nhau từ góc độ sinh thành tác phẩm

Bước đầu có thể nêu hai dạng đó là:

Dạng ký sinh thể loại: vì nhiều lý do, nhà văn muốn viết một tác phẩmtheo thể loại A, nhưng rồi lại tìm đến một hình thức thể loại B để “trao thângửi phận” Như ngâm khúc là thể loại có nguồn gốc Trung Quốc nhưng khôngviết bằng song thất lục bát Sang Việt Nam, không phải ngâm khúc nào cũng

viết bằng song thất lục bát, như bản nguyên tác chữ Hán “Chinh phụ ngâm”

của Đặng Trần Côn Ngược lại không phải hễ là song thất lục bát thì đều là

ngâm khúc cả Như bản dịch “Hải ngoại huyết thư” của Phan Bội Châu (Lê

Trang 14

Đại dịch) hay “Ba mươi năm đời ta có Đảng” (Tố Hữu) không phải là ngâm

khúc Như vậy, song thất lục bát và ngâm khúc là hai thể loại khác nhau (mộtthể nội sinh, một thể ngoại nhập) Ngâm khúc - thể ngoại nhập, cuối cùng tìmđược hình thức song thất lục bát như một hình thức ưu việt để trao gửi đặctrưng của mình và thể ghép ngâm khúc song thất lục bát ra đời

Hay như, truyện thơ Nôm (gọi tắt là truyện Nôm) là thể ghép do hai thểthâm nhập lẫn nhau mà thành: cốt truyện tự sự tìm đến “trao gửi thân phận

của mình trong hình thức thơ, như Truyện Kiều là truyện được viết ra (sinh

thành) bằng hình thức thơ

Nếu xét từ góc độ sinh thành một số thể ghép hiện đại cũng được sinh

ra từ dạng ký sinh: như kịch thơ, thơ văn xuôi

Dạng thứ hai cộng sinh thể loại: Hai thể loại có nhu cầu tự thân kết hợpvới nhau để thành thể thứ ba: ví dụ truyện ngắn trữ tình, tiểu thuyết phóng sự,truyện ký

Việc chia hai dạng thức như trên là chỉ tương đối và chỉ nhìn từ góc độsinh thành của tác phẩm, còn khi xét tác phẩm đã ra đời đến với người đọc thì

dù ký sinh hay cộng sinh vẫn tạo ra những cộng hưởng nghệ thuật độc đáogóp phần làm nên giá trị đặc biệt của tác phẩm

1.2 Về đặc trưng thể loại của thơ, chất thơ và truyện

1.2.1 Về đặc trưng thể loại của thơ

* Khái niệm

Thơ là hình thái văn học đầu tiên của loài người Ở nhiều dân tộc trongmột thời gian tương đối dài, các tác phẩm văn học đều được viết bằng thơ Vìthế trong lịch sử văn học của nhiều dân tộc từ thế kỷ XVII trở về trước nóiđến thơ ca tức là nói đến văn học

Theo “Từ điển tiếng Việt” định nghĩa “Thơ là nghệ thuật sáng tác văn

có vần theo những quy tắc nhất định để biểu thị hoặc gợi mở tình cảm bằngnhịp điệu, âm thanh, hình tượng” [11, 274]

Trang 15

Còn nhà thơ Sóng Hồng khi bàn về thơ đã viết: “Thơ là một hình tháinghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện

sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm, lí trí kết hợp một cách nhuầnnhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng nhữnghình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khácthường.” [1, 310]

* Đặc trưng của thơ

Thơ là một thể loại văn học nảy sinh rất sớm trong đời sống con người,

nó có từ thời cổ đại và tồn tại cho đến ngày nay Đó là một thể loại văn học cóphạm vi phổ biến rộng và sâu Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánhcuộc sống, thể hiện những tâm trạng, cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàmxúc giàu hình ảnh và nhất là có nhạc điệu, thể hiện trực tiếp những tư tưởng,tình cảm của con người thông qua trí tưởng tượng, liên tưởng phong phú Nếunhư hình thức dùng lời thoại trực tiếp là một thế mạnh trong đặc trưng củatruyện thì đối với thơ thế mạnh ấy là độc thoại nội tâm Hơn nữa, khi tiếp xúcvới một tác phẩm truyện ta nắm bắt được một câu chuyện với những sự kiện,xung đột và hệ thống nhân vật, còn đối với thơ là một bản “tự thuật tâmtrạng” Thế giới chủ quan của con người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ đượctrình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của thơ

Nói đến thơ là nói đến sự sáng tạo và cảm xúc của nhà thơ Có cảm xúcmới có thơ Nhà thơ phải có sức sáng tạo khái quát xã hội thông qua nhữnghình ảnh thơ chứa đựng đầy cảm xúc mãnh liệt và sức tưởng tượng dồi dàophong phú Nhà thơ tự do bộc lộ mọi tâm tình của mình, tự do theo đuổi ýtưởng của mình: “những ý tưởng đó dẫn nhà thơ đến chỗ gắn mình vào conđường tiến triển của loài người” Thơ thuộc phương thức trữ tình nên thơ lấyđiểm tựa bộc lộ tâm tình của nhà thơ trước cuộc đời, khác với các ngành khoahọc khác thơ thể hiện cuộc sống thông qua cảm xúc Trong thơ trữ tình thiên

về tình cảm Đây là đặc trưng riêng biệt của thơ trữ tình Tình cảm trong thơ

Trang 16

nảy sinh từ những rung động trực tiếp của nhà thơ, có rung động mới có cảmxúc để sáng tạo Rung động là tiền đề cơ sở để nảy sinh và phát triển tìnhcảm, cảm xúc trong thơ Như vậy, thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc côđọng ngôn ngữ có nhịp điệu là những đặc trưng cơ bản của thơ Tuỳ theo yêucầu nghiên cứu có thể chia thơ theo nhiều tiêu chí khác nhau Dựa vàophương thức phản ánh có thể chia thơ thành hai loại: thơ tự sự và thơ trữ tình.Dựa vào thể luật có thể chia thơ thành hai loại: thơ cách luật và thơ tự do Xét

về luật gieo vần chia thơ có vần và thơ không vần Cũng có thể người ta phânloại theo thời đại như thơ Đường, thơ Tống, thơ Lý- Trần Ngoài ra người tacòn phân loại thơ theo nội dung như thơ tình yêu, thơ triết lý, thơ chính trị,thơ đời thường

1.2.2 Về đặc trưng của chất thơ

Xác định chất thơ là một vấn đề khó, rất khó Đúng như nhà vănNguyễn Tuân nhận xét: “định nghĩa về chất thơ cho thật chính xác và toànthập tôi thấy nó cũng khó như định nghĩa cho chất Uy mua (kermous)”

“nhưng khi chúng ta đã quan niệm thơ không phải là một cái gì thần bí, siêuviệt, thơ gắn liền với cuộc sống, với tâm hồn con người và năng lực sáng tạoqua người nghệ sỹ thì việc tìm hiểu chất thơ lại là cần thiết và có thể tiến hànhđược trên những nét lớn dễ chấp nhận” (Hà Minh Đức)

Đỗ Minh Tuấn từng viết: “chất thơ của bài thơ nằm trong một cái đíchrất mơ hồ nhưng lại rất cụ thể, nó mơ hồ ở chỗ nó tan biến vào từng câu thơ,

nó chảy ra bàng bạc trong từng tác phẩm, nó cụ thể ở chỗ nó tụ lại ở một

“điểm ngời sáng nào đó” làm cho cái bàng bạc trải rộng kia lấp lánh lên

“điểm ngời sáng” đó là nơi gặp gỡ của tất cả các câu thơ, ý thơ, là nơi ngã ba,ngã bảy toả đi các câu thơ, đối với người làm thơ là nơi cảm xúc gặp gỡ, đốivới người đọc thơ là nơi cảm xúc toả đi Người làm thơ mà không bắt nối cáccảm xúc tinh tế và trải rộng đi nhiều hướng của mình khi tụ lại một điểm thì

Trang 17

người đọc thơ cứ phải đuổi bắt chất thơ bàng bạc chập chờn và phải sốngtrong trạng thái chờ đợi, vô vọng, phải chịu đựng một bước hẫng thi ca”.

Hà Minh Đức lại quan niệm: “Chất thơ là một phẩm chất tổng hợpđược tạo nên từ nhiều nhân tố Những nhân tố này cũng có thể có trong nộidung cấu tạo của các thể loại khác, nhưng ở thơ biểu hiện tập trung hơn vàđược hoà hợp, liên kết một cách vững chắc để tạo nên những phẩm chất mới”.Ông cũng quan niệm: “Chất thơ gắn liền với sự rung động và cảm xúc trựctiếp, thơ là ở tấm lòng, nhưng cũng chính là cuộc sống, thơ gắn liền với trítưởng tượng và chất thơ cũng gắn liền với cái đẹp”

Qua hai quan niệm của Đỗ Minh Tuấn và Hà Minh Đức cùng vớithực tế đời sống văn thơ chúng ta có thể định nghĩa về chất thơ trên nhiềuphương diện

Ở phương diện loại hình thì thơ gắn liền với những phương thức biểuhiện trữ tình, nó dành ưu thế cho cảm xúc của cái tôi trữ tình Đối với chất thơtrong truyện ngắn cũng vậy Chất thơ, đó chính là thái độ, tâm tình, là phảnứng của tác giả Như vậy có nghĩa là, có những đối tượng cái nên thơ khôngbộc lộ ra ở bên ngoài, nếu miêu tả nó theo cách sao chép và mô phỏng tựnhiên thì khó có thể tạo nên chất thơ Nhưng nếu phát hiện được một nét nào

đó ẩn sâu trong bản chất của đối tượng và cung cấp cho nó một hiện tượngđẹp, một sự giải thích, một sự tô điểm giàu ý nghĩa thẩm mĩ và ý nghĩa xã hộithì chất thơ sẽ xuất hiện và bao trùm lấy hình tượng

Trên phương diện mĩ học thơ được xem là cái đẹp của tâm hồn, củacuộc sống và cao hơn nó còn nói về cuộc sống với một lý tưởng đẹp Ngaykhi thơ nói đến cái hùng, cái bi, cái cao cả, cái tầm thường của cuộc sống(phạm trù thẩm mĩ) thì cũng nhìn những cái đó dưới cái đẹp thì mới là chấtthơ Nếu nói ý thức và thiên hướng của mọi hoạt động sáng tạo của con ngườitheo quy luật của cái đẹp như Mac nói thì với thơ, ý thơ và cảm hứng sángtạo biểu hiện rõ rệt đặc tính này Etagapô cho rằng: “Cái đẹp là địa hạt hợp

Trang 18

pháp của thơ ca” Bôđơle xem thơ là: “Ước mong của con người vươn tớimột cái đẹp cao thượng” Seli nhấn mạnh đến cái đẹp và năng lực tạo nêncái đẹp ở trong thơ: “Thơ ca biến mọi vật thành đẹp, nó làm tăng vẻ đẹp củanhững cái gì đẹp nhất, nó đem lại vẻ đẹp cho những cái gì xấu xí nhất” mặc

dù quan niệm đó của Seli có hơi quá, song thực tế thơ là đẹp, là sự phản ánhcái đẹp làm đẹp lòng người, tâm hồn con người và đó hẳn là một điều hiểnnhiên của thơ

Xét trên phương diện cảm hứng, chất thơ gắn liền với cảm hứng baybổng lãng mạng như M Medestach nói: “Khó lòng nói hẳn thế nào khôngphải là thơ nếu muốn hiểu thơ là gì, cần nhớ lại những xúc cảm trước mộtmiền có phong cảnh đẹp hay khi nghe một bản nhạc du dương khi nhìn mộtvật yêu dấu và hơn hết ở một niềm tin cho ta nhận thấy trong thâm tâm sựhiện diện của thần linh” và “Năng khiếu bày tỏ bằng những gì cảm thấy ở đáylòng rất hiếm có, song chất thơ vẫn có ở các tâm hồn biết yêu thương mạnh

mẽ, sâu xa” Như vậy, chất thơ đối lập với cái hiện thực đầy phức tạp

Ở phương diện ngôn ngữ, thơ có tính nhạc, ngay cả trong dòng phongcách “Truyện ngắn trữ tình” thì ngôn ngữ cũng giàu tính nhạc, vì bản thân nórất giàu chất thơ Chất thơ trong thơ gắn với nhạc điệu, trong truyện ngắn đặcbiệt - tức truyện ngắn trữ tình - tính nhạc dẫu không rõ ràng lắm nhưng chính

âm hưởng, tiếng vang của nó lan toả trong lòng người đọc lại chính là tiếngđậm đà, dịu dàng, nhẹ nhàng và cũng lại đầy ấn tượng

Như vậy, chất thơ là một phẩm chất nghệ thuật chỉ những sáng tác vănhọc (bằng văn vần hoặc văn xuôi) giàu cảm xúc, nội dung cô đọng, ngôn ngữgiàu hình ảnh và nhịp điệu Lí tưởng và khát vọng của đông đảo nhân dân,chủ nghĩa nhân đạo với những biểu hiện lịch sử của nó là tiêu chuẩn kháchquan cho chất thơ chân chính ở mỗi thời đại Chất thơ là điều kiện cơ bản củathơ, không có chất thơ thì nhất quyết không thể có thơ hay Đã là thơ thì phải

có chất thơ như thuộc tính tất yếu nhưng chất thơ lại không chỉ tồn tại trong

Trang 19

thể loại “thơ” mà còn có thể xuất hiện ở các tác phẩm thuộc thể loại khác.

“Thơ” là loại, chất thơ là tính, ở đây nếu xét trên địa bàn hoạt động của tínhtrước tức là của chất thơ thì chất thơ có địa bàn hoạt động rộng hơn, vươn rangoài thể loại thơ

1.2.3 Về truyện và đặc trưng của truyện

Theo cách hiểu truyền thống “Truyện” là một khái niệm dùng để chỉmọi loại tác phẩm tự sự có cốt truyện nói chung (bao gồm truyện ký, tiểuthuyết) Truyện là loại tác phẩm có nét đặc thù là vai trò tổ chức của trần thuật(gồm thành phần lời của tác giả, của người trần thuật, người kể chuyện, tức làtoàn bộ văn bản tác phẩm tự sự ngoại trừ các lời nói trực tiếp của nhân vật)(Lại Nguyên Ân, tr 338) Trần thuật là phương thức chủ yếu để cấu tạo tácphẩm tự sự

Người ta có thể hiểu khái niệm truyện gần gũi với khái niệm tiểuthuyết Sự phân biệt này không dễ nhưng có thể khẳng định phạm vi của

“Truyện” rộng hơn “Tiểu thuyết” “Từ điển tiếng việt” đã đưa ra một địnhnghĩa: “Truyện là tác phẩm văn học miêu tả tính cách nhân vật và diễn biếncủa sự kiện thông qua lời kể của nhà văn” [11, 509]

Truyện thuộc loại hình tự sự Vì vậy để hiểu được đặc trưng thể loạicủa truyện, chúng ta đi tìm hiểu đặc trưng của tác phẩm tự sự

Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực qua cảm xúc, tâm trạng, ýnghĩ của con người, được thể hiện trực tiếp qua những lời lẽ bộc bạch, thì tácphẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong tính khách quan của nó qua con người,hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó Tác phẩm tự sựphản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian,thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời của con người Trongtác phẩm tự sự nhà văn cũng thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình Nhưng

ở đây, tư tưởng và tình cảm của nhà văn thâm nhập sâu sắc vào sự kiện vàhành động bên ngoài của con người tới mức giữa chúng không có sự phân

Trang 20

biệt nào cả Nhà văn kể lại, tả lại những gì sảy ra bên ngoài mình, khiến chongười đọc có cảm giác rằng thực hiện được phản ánh trong tác phẩm tự sự làmột thế giới tạo hình xác định đang tự phát triển, tồn tại bên ngoài nhà văn,không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của nhà văn.

Phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vicủa con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay

về một cái gì đó Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắn liềnvới cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc hoạ đầy đủ nhiều mặt hơnhẳn nhân vật trữ tình và kịch Trong tác phẩm tự sự, cốt truyện được triểnkhai, nhân vật được khắc hoạ nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú

đa dạng, bao gồm chi tiết sự kiện, xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại cảnhphong tục, đời sống văn hoá, lịch sử, lại còn có cả những chi tiết liên tưởng,tưởng tượng, hoang đường mà không nghệ thuật nào tái hiện được

Những đặc trưng nói trên làm cho tác phẩm tự sự trở thành loại văn học

có năng lượng nghệ thuật quan trọng nhất trong đời sống tinh thần của conngười hiện đại

Nguyên tắc phản ánh hiện thực trong tính khách quan đã đặt trần thuậtvào vị trí của nhân tố tổ chức ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm tự sự, đòihỏi nhà văn phải sáng tạo ra hình tượng người trần thuật Tác giả xuất hiệndưới hình thức người trần thuật để phân tích nghiên cứu, kêu gọi, bình luận,làm sáng tỏ mọi quan hệ phức tạp giữa nhân vật và hoàn cảnh Trong tácphẩm tự sự còn xuất hiện lời nói của nhân vật Lời nói của nhân vật ở đây chủyếu là đối thoại

Như vậy, với việc đi tìm hiểu đặc trưng của tác phẩm tự sự chúng ta cóthể hiểu được đặc trưng của truyện khác với các thể loại thơ, thơ được xemnhư một bản “tự thuật tâm trạng” nhưng với truyện thì hoàn toàn khác.Truyện đề cao tính khách quan của hiện thực đời sống, truyện phản ánh đờisống trong tính khách quan của nó, qua con người, hành vi, sự kiện được

Trang 21

miêu tả và kể lại bởi một người kể chuyện nào đó Ở đây cốt truyện với mộtchuỗi các tình tiết, sự kiện biến cố sảy ra liên tiếp tạo nên sự vận động củahiện thực được phản ánh, góp phần khắc họa rõ nét tính cách nhân vật, sốphận từng cá nhân Nhân vật trong các tác phẩm truyện khác xa so với nhânvật trữ tình trong thơ Nhân vật được khắc họa đầy đặn nhiều mặt với sốlượng đông Nhân vật được miêu tả chi tiết và sinh động trong mối quan hệchặt chẽ với hoàn cảnh, với môi trường xung quanh Do hạn chế không gian

và thời gian nên nhân vật trong thơ thường bộc lộ nhiều tính ước lệ, tỉnh lược.Còn truyện không bị gò bó về không gian, thời gian, có thể đi sâu vào tâm

trạng con người, những cảnh đời cụ thể “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, “Chí

Phèo” của Nam Cao hay tái hiện những bức tranh đời sống toàn cảnh rộng

lớn như “Tấn trò đời” của Ban-dắc, “Chiến tranh và hoà bình” của

L.Tôn-xtôi Nhân vật trong truyện có thể được miêu tả cả bên trong lẫn bên ngoài, cảđiều nói ra và không nói ra, cả ý nghĩ và cái nhìn, cả tình cảm, cảm xúc, ýthức và vô thức cả quá khứ, hiện tại, tương lai Gắn với đặc điểm sự kiện vànhân vật, hệ thống chi tiết nghệ thuật của thể loại truyện khá phong phú và đadạng Nếu như chi tiết ở thể loại thơ thường gắn với chất thơ thì chi tiết trongtác phẩm truyện thường mang chất văn xuôi, xương xẩu nhất và mặt khác lạinhiều loại nhất Ta bắt gặp các chi tiết về chân dung ngoại hình, tâm lý, sinh

lý, phong cảnh, phong tục, về đồ vật, binh khí, lịch sử, xứ lạ về đời sống vănhoá, sản xuất Bao gồm cả những chi tiết tưởng tượng, hoang đường, liêntưởng mà không nghệ thuật nào trình diễn được Mang đặc trưng của tácphẩm tự sự, thể loại truyện còn xuất hiện hình tượng người trần thuật (kểchuyện) và lời đối thoại của nhân vật

Truyện sử dụng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau Ngoài ngôn ngữngười kể chuyện, còn có ngôn ngữ nhân vật bên cạnh lời đối đáp lại có lờiđộc thoại nội tâm Lời kể khi thì ở bên ngoài khi thì lại nhập vào lời nhân vật.Ngôn ngữ truyện gần với ngôn ngữ đời sống

Trang 22

1.3 Sự thâm nhập lẫn nhau của truyện và thơ

Mỗi thể loại có con đường phát triển riêng với yêu cầu định hình đặctrưng và mở rộng khả năng nghệ thuật của thể loại, nhưng cũng thấy rõ sựcộng sinh giữa chúng: các thể loại này thường xuyên có sự thâm nhập trongtiến trình văn học

Mỗi thể loại tự phong phú lên và gia tăng sự phát triển trong quá trìnhthâm nhập, tiếp nhận và chuyển hoá này - sự ảnh hưởng thâm nhập lẫn nhautạo ra khu trung gian về thể loại tạo ra cả những “thể ghép” làm phong phú rấtnhiều cho mặt bằng thể loại Nói cách khác hoạt động tích cực này tạo ra khảnăng bội số công năng thể loại Mỗi thể loại không chỉ là nó mà rộng hơn,giàu hơn bản thân nó

Chẳng hạn, như sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa truyện và thơ Sự thâmnhập của truyện vào thơ tạo ra thể truyện thơ, một loại hình kết hợp còn tiếp

tục sự sống như một thể độc lập trong nhiều thập kỷ sau như: “Truyện Kiều” của Nguyễn Du; “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu Ở đây chất truyện

không làm mờ đi chất thơ mà còn làm “lạ hoá” phong phú thêm thế giới thơ

Ở một chiều ngược lại, thơ cũng ảnh hưởng đến truyện có thể nhận thấy

khá rõ chất thơ trong nhiều truyện ngắn của Thạch Lam như “Hai đứa trẻ”,

“Dưới bóng hoàng lan”, “Gió lạnh đầu mùa”, và nhiều truyện ngắn của

Thanh Tịnh man mác chất thơ như “Tình thư”, “Bến nứa” Sự ảnh hưởng

của thơ đến truyện như vậy người ta gọi là dòng phong cách “truyện ngắn trữtình” hay như Vũ Ngọc Phan gọi là “truyện tình cảm” Dòng phong cách nàytạo nên một vệt sáng tác trong văn học Việt Nam

Sự pha trộn thơ và kịch tạo nên “kịch thơ” có sự sống độc lập và có sốphận thăng trầm riêng sau này Đó là thành tựu tổng hợp của sự lai ghép “thơmới” và kịch nói Độ đậm nhạt trong sự phối hợp thơ - kịch này cũng khá

biến hoá Nếu có vở kịch thơ vẫn lấy tính kịch và xung đột làm trọng tâm “Lý

Chiêu Hoàng” (Phan Khắc Khoan), “Quán Thăng Long”(Lưu Quang

Trang 23

Thuận) thì cũng có những vở kịch chỉ giữ một tuyến kịch mờ nhạt mà chútrọng đến không khí thơ, chất thơ trong lời thoại, có những đoạn thơ có thể

đứng riêng như một bài thơ trữ tình - chẳng hạn vở “Bóng giai nhân” của

Nguyễn Bính và Yến Lan

Như vậy, các thể loại văn học như truyện, thơ, kịch có sự ảnh hưởngthâm nhập lẫn nhau khá mạnh mẽ Trong luận văn này chúng tôi chỉ đi sâukhảo sát hiện tượng thâm nhập lẫn nhau giữa truyện và thơ qua hai trườnghợp tiêu biểu của văn học trung đại và văn học hiện đại: Truyện Kiều(Nguyễn Du) và truyện trữ tình (Thạch Lam) Thoạt nhìn tưởng chừng hai tácphẩm này không cùng loại và không thể đặt ra để so sánh (vì một bên là thơ,

một bên là truyện) nhưng dù là thơ, Truyện Kiều vẫn là truyện thậm chí có

người gọi là tiểu thuyết, còn truyện trữ tình Thạch Lam đương nhiên thuộcloại truyện rồi dù cho nó có thấm đẫm chất thơ

1.3.1 Truyện ở trong thơ

Thơ ca vốn là một thể loại luôn được đánh giá cao, phục vụ đời sốngtinh thần của con người Thể loại thơ ca mang những đặc trưng riêng nhưngtrong quá trình vận động không ngừng của thời gian, thể loại này đã có sựbiến đổi ngày càng phong phú hơn đặc biệt là sự giao thoa với truyện

Sự có mặt của truyện trong thơ phải kể đến thể loại “Truyện Nôm” haycòn thống nhất gọi là truyện thơ Nôm

Truyện thơ nằm trong hệ thống tác phẩm phản ánh cuộc sống bằngphương thức tự sự, có nghĩa là phản ánh cuộc sống xã hội thông qua sự trìnhbày, miêu tả có tính chất hoàn chỉnh vận mệnh một nhân vật và trên cơ sở ấy

sự phát triển có tính chất hoàn chỉnh một tính cách nhân vật (trong mối quan

hệ với nhiều nhân vật, nhiều tính cách nhân vật)

Phản ánh cuộc sống bằng phương thức tự sự, truyện thơ Nôm có kếtcấu khác biệt với tác phẩm trữ tình vốn trong đó chỉ có diễn biến của tâmtrạng nhân vật trữ tình Trên cơ sở một cốt truyện bao gồm một hệ thống sự

Trang 24

kiện và tình tiết kể lại cuộc đời nhân vật chính trong mối quan hệ với nhiềunhân vật khác, tính cách nhân vật được bộc lộ trên cả hai phương thức tồn tạicủa con người - con người cảm nghĩ (đời sống bên trong) và con người hànhđộng, ngôn ngữ cử chỉ (đời sống bên ngoài).

Bằng phương thức tự sự tác phẩm có khả năng to lớn trong trong sự

phản ánh khá hoàn chỉnh và sinh động cuộc sống Với “Truyện Kiều” của

Nguyễn Du, truyện thơ Nôm đánh dấu sự trưởng thành với bút pháp tự sự, vì

nó là sản phẩm sáng tạo kết hợp cốt truyện có sẵn với khả năng tự sự của lụcbát Ở truyện thơ Nôm, tác giả phải “sáng tạo lời kể cố định”, lời thoại chonhân vật, lời than, lời bình cho mình Nhân vật được khắc hoạ như nhữngchủ thể biểu hiện qua tỉ lệ lời thoại rất cao từ 30% - 50% tổng số lời văn củatác phẩm Truyện thơ Nôm đã tạo điều kiện cho nhân vật được nói nhiềuhơn, tự biểu hiện được nhiều hơn Nhưng đối với truyện thơ Nôm lấy đề tài

từ các tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc như “Truyện Hoa Tiên”, “Truyện

Kiều” vốn đầy rẫy chi tiết, tình tiết thì tác giả truyện thơ Nôm lại tước bỏ

các chi tiết rườm rà vụn vặt để làm mờ nhạt đi màu sắc Trung Quốc, mà tônlên những tính chất chung về con người, hoặc thay vào đó các chi tiết, cảnhvật gợi nhớ đến làng quê hoặc chốn kinh kỳ của Việt Nam Các nhà nghiên

cứu như Hoàng Xuân Hãn đã nói tới phong cảnh Hà Nội trong truyện “Song

Tinh”, còn Phan Ngọc nói tới thao tác “lược bỏ chi tiết một cách tàn nhẫn”

trong Truyện Kiều.

Theo giáo sư Trần Đình Sử: “truyện Nôm có một phạm vi tự sự, mộtmức độ cụ thể trong miêu tả sự việc, con người Đó là chú ý miêu tả lời nói,

ý chí tâm trạng nhân vật Dù chất lượng nghệ thuật cao thấp khác nhau,nhưng các yếu tố này không bao giờ thiếu Điều này làm cho truyện Nômđúng là tiểu thuyết với ý nghĩa là thế giới của nhiều tiếng nói như M.Bakhtin đã nói [16, 347]

Trang 25

Theo “Từ điển tiếng Việt” định nghĩa: “Truyện Nôm là truyện dài viếtbằng chữ Nôm, thường theo thể lục bát” rất tiểu biểu cho văn học cổ điển ViệtNam, nở rộ vào thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX Truyện Nôm có tác phẩm viết

bằng thơ đường luật như “Vương Tường”, “Tô Công phụng sứ” nhưng phổ biến nhất là viết bằng thể lục bát như “Truyện Kiều”, “Lục Vân Tiên” nhắc

đến “truyện” tức là phải có cốt truyện, truyện Nôm có hai loại: truyện Nôm

bình dân viết trên cơ sở truyện kể dân gian như: “Phạm Tải Ngọc Hoa”,

“Tống Trân Cúc Hoa”, “Thạch Sanh”, truyện Nôm bác học có loại viết trên

cơ sở cốt truyện có sẵn của văn học Trung Quốc như: “Phan Trần”, “Hoa

Tiên”, “Sơ kính tân trang”, “Lục Vân Tiên” Trong tác phẩm truyện Nôm gắn

liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ nhiều mặt

Truyện Kiều là hiện tượng tập đại thành không chỉ của thể loại truyện

thơ lục bát mà của toàn bộ văn thơ trung đại Việt Nam Cốt truyện của tác

phẩm này được vay mượn từ tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh

Tâm Tài Nhân, do đó nó chịu ảnh hưởng trực tiếp nghệ thuật dựng truyện củatiểu thuyết cổ điển Trung Quốc “Truyện Kiều được cấu tạo như mọi tiểuthuyết chương hồi nói chung, mặc dù đã bỏ hết sự phân hồi, hồi mục bằngmột chuỗi chuyện lớn nhỏ Trong mỗi truyện có gần như đầy đủ các thànhphần của cốt truyện, có giới thiệu, thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút, kết

thúc Ta có thể xem Truyện Kiều bao gồm một chuỗi các truyện sau:

1 Chuyện du xuân gặp Đạm Tiên, Kim Trọng, tối về bâng khuâng

2 Chuyện Kim- Kiều gặp nhau và thề hẹn chung tình

3 Chuyện Kiều bán mình cứu cha và em trai

4 Chuyện Kiều bị ép phải tiếp khách

5 Chuyện Kiều, Thúc Sinh dan díu và thành gia thất

6 Chuyện Hoạn Thư cho người bắt cóc Kiều về làm đầy tớ

7 Chuyện Hoạn Thư đánh ghen

8 Chuyện Kiều chạy trốn và bị Bạc Bà lừa

Trang 26

9 Chuyện Kiều lấy Từ Hải, báo ân báo oán và chết theo Từ Hải.

10 Chuyện Giác Duyên với Kiều

11 Chuyện Kim Trọng trở về lấy Thuý Vân

12 Chuyện Kim Trọng tìm Kiều và đón nàng về

13 Chuyện Kim - Kiều tái hợp

Cách phân chia trên đây có thể là chưa hoàn toàn đầy đủ nhưng nó cho

ta thấy “Truyện Kiều” là một chuỗi chuyện và trong mỗi chuyện nhỏ trên lại

có thể bao gồm nhiều chuyện nhỏ hơn nữa

Không những thế “Truyện Kiều” bao gồm một hệ thống các nhân vật

khá đa dạng và phong phú Hệ thống nhân vật có thể phân làm hai tuyến:

“tuyến nhân vật phản diện và tuyến nhân vật chính diện Nhiều sự kiện, tìnhtiết khá ly kỳ, gay cấn, cùng với những đoạn đối thoại giữa các nhân vật

Toàn bộ các bình diện của phương thức truyện - tức là phương thức tự

sự lại không được biểu diễn qua hình thức văn xuôi - vốn là hình thức của nó

mà lại tìm đến trao gửi vào một hình thức thơ dân tộc: lục bát Truyện ở trongthơ trước hết chính là việc truyện được chuyển tải bằng thơ Nhưng thơ ở đâykhông chỉ là cái vỏ ngôn từ có vần và được lặp lại đều đặn máy móc (một khổhai câu: sáu - tám) Mà thơ ở đây lại thật sự là thơ đích thực, nghĩa là nó cóđầy đủ chất thơ của nó Truyện trong thơ như vậy không chỉ là truyện đượcviết bằng thơ đơn giản, mà là truyện tồn tại và trở thành một giá trị độc đáocòn bởi chất thơ, truyện “Sống” trong môi trường văn hoá thi ca Thi ca ủmen cho truyện, tạo cho truyện những năng lượng mới, những khả năng mới

để trở thành những giá trị một đi không trở lại

1.3.2 Thơ trong truyện

Dấu hiệu cộng sinh giữa thơ và truyện tạo nên thể ghép đó chính làtruyện ngắn trữ tình hiện đại Truyện ngắn trữ tình, một dòng chảy lặng lẽ màsâu lắng, nằm giữa các dòng văn xuôi nghệ thuật Nó vừa như một sự dunghoà, lại vừa tồn tại với những nét phong cách riêng Truyện ngắn trữ tình làmột hiện tượng dung dị, với những con người nhỏ bé, bình thường, có phải vìthế mà nó gần gũi hơn với đời sống con người, với một sự bình tâm, thanh

Trang 27

thản gần như một sự ân phước, một cứu rỗi Nhờ có truyện ngắn trữ tình màcác dòng văn xuôi nghệ thuật có điểm găp gỡ, giao lưu với nhau để rồi tất cảhoà chung vào mạch văn dân tộc để cùng hoàn tất quá trình hiện đại hoá.

Có thể nói rằng, thông qua bút pháp trữ tình và cảm xúc trữ tình củanhà văn, truyện ngắn trữ tình đã đưa vào văn xuôi nghệ thuật Việt Nam mộtchất thơ man mác, bàng bạc rất riêng Chất thơ ấy thể hiện qua việc cái “tôi”trữ tình bày tỏ nỗi buồn và sự cô đơn trong cuộc đời, niềm hoài nhớ dĩ vãngđược bộc lộ qua hồi tưởng, trân trọng và nâng niu cái đẹp đã đánh mất, pháthiện ra thế giới đa diện và ẩn sâu của nội tâm con người Đồng thời, chất thơnày còn được thể hiện qua cách kết cấu truyện gần với cấu tứ của một bàithơ trữ tình, qua việc sử dụng ngôn ngữ truyện với ngôn từ thơ, và tạo ra mộtkhông gian - thời gian trữ tình có sức ám ảnh và khơi gợi sâu sắc Do đó,truyện ngắn trữ tình mang lại cho văn xuôi nghệ thuật giai đoạn này một sựsâu lắng đầy ý nghĩa, một cảm giác nhẹ nhàng, tĩnh tâm, giúp con ngườikhám phá chính bản thân mình, nghiêng về cuộc sống bên trong, lắng nghedòng cảm giác chảy trôi trong tâm hồn và chìm vào một thế giới đầy bí ẩncủa tâm linh

Vì thế, truyện ngắn trữ tình đã tạo lên một cách cảm nhận tác phẩm

không cần qua cốt truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam thể hiện rất rõ điều

này Tuy là một truyện ngắn nhưng chúng ta không thể hình dung ra một câuchuyện mà dường như đó là một bài thơ Chất thơ ở đây là sự kết tinh hoànhảo vẻ đẹp của ngòi bút Thạch Lam và tâm hồn nhân vật, sự hoà quyện giữacảm xúc dạt dào của nhà văn và tình người ấm nồng trên trang sách Chất thơ

ở đây còn là “cái nhụy của cuộc sống” nghèo nàn quanh quẩn nơi phố chợ đìuhiu, là những phút giây của Liên khi nghĩ về Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực

và huyên náo Thạch Lam đã tìm tòi, chắt lọc được những tính cách của cuộcsống, tạo nên chất thơ tinh tế, nhẹ nhàng

Thạch Lam một cây bút tiêu biểu của dòng truyện ngắn trữ tình không chỉ thể hiện chất thơ trong tác phẩm văn xuôi khác của nhà văn Trong

-“Gió lạnh đầu mùa” hành động cho áo của chị em Sơn cũng cho ta nhiều suy

Trang 28

nghĩ và cảm phục Những đứa trẻ cũng nhiều xúc cảm, hết lòng vì bạn Tìnhcảm ấm áp dần xoá đi cái lạnh đầu mùa, giá buốt của mùa đông Cái đẹp giàu

chất thơ “Dưới bóng hoàng lan”, với những mảnh trời xanh quen thuộc, giàn

thiên lý pha xanh lên tà áo của Nga, hương thơm ngan ngát của cây hoàng lannhư gợi lại trong ta nhiều kỷ niệm êm mát ngọt ngào đến lịm người đi khi trở

về vườn quê xưa Thạch Lam là cây bút đầu tiên có ý thức khai thác chất thơtrong đời sống bình dị thường nhật Nhà văn thường đi sâu vào khai thác nộitâm, thế giới cảm giác trong sáng tác thường trong lành, giàu cảm xúc hướngngười đọc gắn liền với cái chân, thiện, mỹ Văn của ông nhẹ nhàng như mộtbài thơ không có kịch tính xung đột, dễ đi vào lòng người một cách nhẹnhàng, thấm thía Nhận xét về đặc điểm truyện ngắn của Thạch Lam, nhà vănNguyễn Tuân cho rằng: “Nhiều truyện ngắn của Thạch Lam không có chuyện

mà man mác như một bài thơ đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm,thơm lành mát dịu”[2, 409]

Như vậy, thơ trong truyện tức là thơ không được thể hiện qua hình thứcnhư một bài thơ mà lại tìm đến trao gửi sống nhờ vào một hình thức khác đóchính là truyện - truyện trữ tình Thơ ở trong truyện trước hết là việc thơ đượcchuyển tải thông qua lời lẽ câu văn của truyện Bằng bút pháp miêu tả và cảmxúc của nhà văn mà ta nhận thấy được chất thơ trong truyện Thơ “sống”trong môi trường của truyện để tạo nên những giá trị nghệ thuật mới mẻ, độcđáo, trường tồn cùng thời gian

Thạch Lam đã tạo dựng được cho tác phẩm của mình có được một kếtcấu và cốt truyện chặt chẽ, lối kể chuyện hấp dẫn, duyên dáng, ngôn ngữtrong sáng, gợi cảm và giàu chất thơ, những miêu tả tâm lý tinh tế có khảnăng đi sâu vào thế giới nội tâm của con người Chính vì vậy có thể nóitruyện trữ tình của Thạch Lam thấm đẫm chất thơ

Trang 29

Chương 2 TRUYỆN VỚI THƠ TRONG TRUYỆN KIỀU VÀ TRUYỆN NGẮN

CỦA THẠCH LAM

2.1 Chất thơ trong truyện Kiều

Điều kiện lịch sử của xã hội Việt Nam thời kỳ trung đại đưa đến sựvắng mặt của văn xuôi dân tộc trong một thời gian khá dài Tiếp thu cốttruyện, đề tài và nội dung có quy mô rộng rãi của cuốn tiểu thuyết TrungQuốc, Nguyễn Du đã sử dụng thể thơ lục bát vào yêu cầu tự sự trường thiên.Nguyễn Du đã kế thừa di sản quý báu của ca dao cũng như kinh nghiệm sáng

tác truyện thơ Nôm của nhiều người đi trước Nhưng giữa Truyện Kiều và ca dao, giữa Truyện Kiều với một lượng khá lớn truyện Nôm vẫn có những

đường nét, những màu sắc, những âm hưởng khác biệt

Trải qua nhiều năm tháng cuộc đời, số phận lịch sử của Truyện Kiều cũng thăng trầm như cuộc đời nhân vật trong truyện Nhưng Truyện Kiều luôn

luôn là một sinh mệnh nghệ thuật “siêu thời gian” và “siêu không gian”.Truyện thơ ngày nay có thể không còn tồn tại trong sáng tác hiện đại, thế kỷ

XX không phải là không gian lịch sử cho sự ra đời của Truyện Kiều nữa

nhưng từ ngữ, câu thơ, tâm tư, cảm xúc, tính cách, người và mảnh đời trong

Truyện Kiều vẫn đi sâu vào mọi tâm hồn Việt Nam Truyện Kiều đạt được

giá trị phổ quát ấy qua âm thanh, hình ảnh của ngôn ngữ, hình tượng và bằng

chiều sâu của cả cảm xúc lẫn tư duy Và “chất thơ” của Truyện Kiều chính là

một trong những yếu tố quyết định giá trị trường cửu của tác phẩm

Khái niệm thơ và chất thơ còn có những vấn đề, chưa xác định hoànchỉnh, toàn diện nhưng một số nhận xét, một số kết luận đã được nhất trí xungquanh vấn đề “thơ” cũng cho phép chúng ta phân tích hiện tượng này qua

Truyện Kiều Mặt khác, kiệt tác văn học cũng là một “hình mẫu” có khả năng

bổ sung, làm sáng tỏ quan niệm về thơ và “chất thơ”.

Trang 30

Truyện Kiều là một tác phẩm tự sự giàu chất thơ hay như nhiều nhà

nghiên cứu nhận xét, Truyện Kiều có thể được coi là một cuốn tiểu thuyết

bằng thơ

Truyện Kiều không những có nội dung sâu sắc, mà nghệ thuật của nó

cũng đạt đến một thành tựu rực rỡ Nói đến thành công trong nghệ thuật

Truyện Kiều trước hết người ta thường nói đến thành công của nhà thơ trong

việc vận dụng tiếng Việt và thể thơ lục bát của dân tộc Trong Truyện Kiều có

sự kết hợp hết sức nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình

dân Truyện Kiều có không ít từ Hán Việt và điển cố lấy trong sách vở với lối

diễn đạt đài các, quý phái nhưng tất cả đều được sử dụng có liều lượng, đúng

nơi, đúng lúc, nên đều hợp lý Mặt khác trong Truyện Kiều lại có nhiều lời ăn

tiếng nói hằng ngày, ca dao tục ngữ nhưng tất cả cũng được sử dụng có chọnlọc tinh vi, khéo léo, kết hợp hài hoà với ngôn ngữ bác học Thể thơ lục bát

trong Truyện Kiều được nhà thơ khai thác triệt để khả năng biểu hiện của nó,

tinh tế, giản dị mà có âm vang, có thể diễn đạt được nhiều sắc thái của cuộcsống và những nét tinh vi, tế nhị trong tình cảm của con người

Đặc điểm đầu tiên dễ dàng nhận thấy là sự khác biệt giữa Truyện Kiều với một số truyện Nôm bình dân: Phạm Công Cúc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa,

Thạch Sanh đã dành mội vị trí quan trọng cho yếu tố “tự sự” trong đó bao

gồm tường thuật sự kiện, tình tiết, miêu tả hành động của nhân vật Truyện

Kiều cũng như một số truyện Nôm vẫn được gọi là “bác học”, ngược lại, chú

trọng đến việc miêu tả tính cách qua những hình thái ngôn ngữ nghệ thuật nhưngôn ngữ nhân vật - trong đó có đối thoại và độc thoại, tả cảnh ngụ tình, tả

tình Truyện Kiều với số lượng câu thơ là ngôn ngữ đối thoại khá lớn khoảng

1200 câu, chiếm tỉ lệ 1/3 số lượng câu thơ Cả truyện được cấu tạo bởi 1627khổ thơ đều đặn Ngôn ngữ đối thoại, ngoài ý nghĩa bộc lộ, thông báo cảmxúc, tư duy của nhân vật, còn đóng vai trò quan trọng trong chức năng “tựsự”: trình bày bước phát triển của sự kiện, tình tiết đóng vai trò quan trọng

Trang 31

trong việc dẫn dắt tình tiết sự kiện, là một thành phần khá căn bảo trong kếtcấu của truyện Nôm Bút pháp khái quát sơ lược trong việc trình bày sự kiệntình tiết cũng như trong miêu tả hành động nhân vật là nét khác biệt giữatruyện kể và truyện thơ.

2.1.1 Nghệ thuật sử dụng cốt truyện của tiểu thuyết chương hồi

Tiểu thuyết chương hồi có nguồn gốc từ Trung Quốc Đặc điểm cơ bảnnhất về hình thức là truyện được chia thành các chương, các hồi Nội dungcủa câu chuyện được dàn trải qua các chương, các hồi Nhưng mỗi chương làmột câu chuyện có tính độc lập tương đối về mặt nội dung

Cốt truyện của tiểu thuyết chương hồi “Kim Vân Kiều truyện” của

Thanh Tâm Tài Nhân là chất liệu để Nguyễn Du sáng tạo nên tuyệt tác củamình Nguyễn Du sử dụng lại toàn bộ những sự kiện chính, gạt bỏ hoàntoàn những chi tiết vụn vặt vốn có ý nghĩa lới đối với thể loại tiểu thuyếtchương hồi

Trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân cốt truyện là chuyện tình yêu giai nhân tài tử đến Truyện Kiều tuy cốt truyện đã chuyển

hướng sâu rộng hơn nhưng vẫn trên cơ sở chuyện tình giai nhân tài tử Lựachọn cốt truyện này rất thuận lợi cho chất thơ biểu hiện vì xưa nay chuyệntình yêu bao giờ cũng là một môi trường văn hoá cho chất thơ của đời sốngnảy nở và tươi tốt

Truyện Kiều của Nguyễn Du gần như giữ nguyên cốt truyện của Thanh

Tâm Tài Nhân, nhưng cốt truyện đó chỉ là cái xác để Nguyễn Du thổi vào đóphần hồn ấm nóng tình đời bao la khắc khoải và những sáng tạo độc đáo vềphương diện thể loại Nguyễn Du đã giữ nguyên những sự kiện chính trong

tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, Truyện Kiều được ông đan dệt bởi một

chuỗi các truyện lớn nhỏ, trong mỗi truyện có gần đầy đủ các thành phần củacốt truyện Chuyện chị em Thuý Kiều đi du xuân được bắt đầu bằng cảnh:

Trang 32

Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Đỉnh cao của chuyện này là giấc mơ của Kiều về Đạm Tiên sau khinghe kể về nàng và gặp gỡ với Kim Trọng Kết thúc chuyện là nỗi băn khoăncủa Kiều về tương lai, số phận của mình:

Hiên tà gác bóng chênh chênh Nỗi riêng, riêng chạnh tấc riêng một mình.

Chuyện Kiều bị lừa ép phải tiếp khách làng chơi được mở đầu bằngcuộc gặp gỡ với Sở Khanh hình dung chải chuốt, qua lời lừa phỉnh của hắn:

Thuyền quyên ví biết anh hùng

Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi.

Kết thúc là việc Kiều phải chấp nhận cuộc sống ô nhục đau đớn:

Thân lươn bao quản lấm đầu Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.

Đọc truyện Kiều người đọc dễ hình dung hình thức bố cục của cốt

truyện gần giống truyện Nôm bình dân như: Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải

Ngọc Hoa bởi nó có đủ các phần Hội ngộ - Tai biến - Đoàn viên Nhưng ở

chiều sâu của bố cục cốt truyện truyền thống là sáng tạo độc đáo “Mở đầutruyện Kiều không đơn giản là gặp gỡ, mà là giằng co giữa hạnh phúc và địnhmệnh Phần ly tán cũng không hẳn là ly tán, mà là lưu lạc khổ đau, nhục nhã

mà cao trào là việc Kiều tự tử ở sông Tiền Đường Truyện lẽ ra dừng ở đónhưng tự sự vẫn tiếp bước và Nguyễn Du đã cho các nhân vật chính trongcuốn tiểu thuyết của mình gặp lại trong màn đoàn viên theo cách của riêngông Phần đoàn viên cũng không phải là đoàn viên thật Bố cục bên trong của

nó là sự báo hiệu của định mệnh, sự thực hiện của định mệnh và dấu ấn củađịnh mệnh Định mệnh là vũ trụ quan và nhân sinh quan mà người xưa dung

để giải thích cuộc đời Kết thúc đoàn viên ở Truyện Kiều không xoá bỏ được

Trang 33

dấu ấn của định mệnh” Với cốt truyện này, Truyện Kiều đã tiến gần tới vị trí

là một cuốn tiểu thuyết thực sự chứ không đơn thuần là một truyên thơ Nôm

2.1.2 Nghệ thuật miêu tả chân dung và khắc họa tâm trạng nhân vật

Thế giới nhân vật trong Truyện Kiều khá đa dạng, bao gồm nhiều loại

người, nhiều tầng lớp khác nhau Có những người thiếu nữ bình dị, gia giáonhư chị em Thuý Kiều; có những chàng trai phong lưu cốt cách như KimTrọng, Vương Quan; có những bọn buôn thịt bán người như Mã Giám Sinh,

Tú Bà, Bạc Bà, Bạc Hạnh; có những bọn ăn trên ngồi trốc mà quỷ quyệt tinhmanh như Hoạn Thư; có cả bọn quan lớn quan nhỏ như tổng đốc Hồ TônHiến, quan phủ; lại có những con người trọc trời khuấy nước, không chịutrong vòng cương toả nào như chàng Từ Hải Mỗi nhân vật xuất hiện trong tácphẩm đều có chân dung và tính cách riêng không dễ lẫn Nhìn chung trongnghệ thuật xây dựng nhân vật Nguyễn Du còn chịu ảnh hưởng nghệ thuật củatruyện cổ tích, truyện Nôm Có thể dễ nhận thấy thế giới nhân vật trong

Truyện Kiều được Nguyễn Du miêu tả theo hai tuyến nhân vật với bút pháp

nghệ thuật khác nhau

Nhân vật chính diện “là nhân vật thể hiện những giá trị tinh thần,những phẩm chất đẹp đẽ, những hành vi cao cả của con người được nhà vănmiêu tả, khẳng định, đề cao trong tác phẩm theo một quan điểm tư tưởng, một

lý tưởng xã hội - thẩm mĩ nhất định” Trong Truyện Kiều có các nhân vật

chính: Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải hiện lên sáng ngời đến mức lý tưởng

Hình tượng chị em Thuý Kiều xuất hiện từ đầu tác phẩm tài sắc vẹntoàn làm sáng cả trang văn

Đầu lòng hai ả Tố Nga Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.

Trang 34

Miêu tả vẻ đẹp hai chị em Thuý Kiều, tác giả dùng những hình ảnhthiên nhiên: khuôn trăng, nét ngài, hoa, liễu, mây, tuyết, làn thu thuỷ, nét xuânsơn để điểm tô lên khuôn mặt, nụ cười, vóc dáng Ở đây vẻ đẹp của con ngườinhư lấn át cả thiên nhiên Vẻ đẹp hoàn hảo của chị em Thuý Kiều hiện lênlung linh qua những tính từ đặc tả: cốt cách, tinh thần,trang trọng, đầy đặn, nởnang, đoan trang, sắc sảo mặn mà Vẻ đẹp ấy do tạo hoá ban tặng hay chínhngòi bút của Nguyễn Du nâng niu, ca ngợi Có lẽ là cả hai Nhưng qua bútpháp miêu tả này ta dễ dàng nhận ra dụng ý nghệ thuật của tác giả Tác giả đã

sử dụng các từ ngữ được mỹ lệ hoá, những từ ngữ thường dùng trong ngônngữ thi ca để miêu tả vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều Đây cũng là một biểu

hiện của chất thơ trong Truyện Kiều Miêu tả Thuý Vân để làm nền cho sự nổi

bật tài sắc vẹn toàn của Thuý Kiều, đồng thời dự báo cho một điều gì đó chocuộc đời và số phận của nhân vật Như vậy, Nguyễn Du đã miêu tả vẻ đẹp bênngoài để thể hiện tâm hồn, đời sống nội tâm bên trong của nhân vật

Còn với chàng Kim Trọng, vẻ đẹp của một văn nhân được Nguyễn Duđậm tô ngòi bút:

Tuyết in sắc ngựa câu dòn,

Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời Nẻo xa mới tỏ mặt người, Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.

Hài văn lần bước dặm xanh, Một vùng như thể cây quỳnh cành giao.

Vẻ đẹp của chàng Kim cũng hoà với thiên nhiên, toả rạng cùng bước

“hài văn” Nguyễn Du đã dùng những từ ngữ đẹp nhất để khắc hoạ diện mạo

và tài năng của Kim Trọng Chàng là con nhà trâm anh, là người “vào trong

phong nhã, ra ngoài hào hoa” tài danh tuyệt đỉnh Ở đây chàng Kim lại rất ân

cần tinh tế trong cách cư xử: “Nẻo xa mới tỏ mặt người, Khách đà xuống

ngựa tới nơi tự tình” chứ không như chàng Kim trong Kim Vân Kiều truyện

Trang 35

có phần hơi bất nhã: “Kim Trọng không đợi trả lời, cũng theo xát ngay VươngQuan, thành ra các cô không kịp tránh, đành phải đứng lại để Kim Trọng cúi

đầu thi lễ” Chàng Kim với nàng Kiều của Nguyễn Du quả là những “người

quốc sắc kẻ thiên tài” lung linh ngời sáng dưới ngòi bút hết sức ngợi ca và

chân trọng của Nguyễn Du

Tác giả còn dành sự ưu ái cho người anh hùng Từ Hải:

Lầu thâu gió mát trăng thanh, Bỗng đâu có khác bên đình sang chơi.

Râu hùm, hàm én, mày ngài.

Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.

Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.

Họ Từ, tên Hải, vốn người Việt Đông.

Giang hồ quen thói vẫy vùng, Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo.

Nguyễn Du để Từ Hải xuất hiện bất ngờ với mội diện mạo và tư thế siêuphàm Đó không phải là vẻ đẹp của một văn nhân nho nhã, mà là vẻ đẹp của

người anh hùng lừng danh thời đó: “Râu hùm, hàm én, mày ngài Vai năm tấc

rộng thân mười thước cao”, với một tài năng phi thường “Đường đường một đấng anh hào Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài” Sức mạnh của Từ Hải

là sức mạnh sánh ngang đất trời: “Đội trời đạp đất ở đời Gươm đàn nửa gánh

non sông một chèo” Nhân vật Từ Hải là sự gửi gắm ước mong và khát vọng

của Nguyễn Du về giá trị cuộc sống và sự đổi thay Từ Hải xuất hiện trong đời

Kiều khi Kiều ở lầu xanh “Ngậm đắng nuốt cay” sống cuộc sống ô nhục Cuộc

gặp gỡ tuy ngắn ngủi nhưng đã giúp người đọc hiểu được thế nào là hạnh phúcthực sự ở trên đời Từ Hải đã chuộc Kiều ra khỏi chốn lầu xanh:

Trai anh hùng gái thuyền quyên, Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.

Trang 36

Chân dung các nhân vật chính diện trong Truyện Kiều dưới ngòi bút và

tài năng bậc thầy của Nguyễn Du thật sáng ngời Tác giả đã sử dụng bút phápnghệ thuật tượng trưng ước lệ, dung nhiều hình ảnh thiên nhiên để khắc hoạnhân vật Mỗi nhân vật là một niềm gửi gắm niềm chân trọng, ngợi ca về cuộcsống, về tình yêu, về lý tưởng

Đối với nhân vật phản diện như Hoạn Thư, Mã Giám Sinh, Sở Khanh,

Hồ Tôn Hiến,Tú Bà đây là những kẻ đã gây nên bao tội ác cho gia đìnhnàng Kiều và đầy đoạ nàng vào cảnh bùn nhơ Những kẻ đã vu oan giá hoạ, lũtham quan, lũ tay sai Ưng Khuyển, những kẻ buôn thịt bán người Dưới ngòibút của Nguyễn Du chúng đã bộc lộ rõ chân tướng Với chúng tiền và quyền

là chỗ dựa để tác oai tác quái

Sự xuất hiện của Mã Giám Sinh khi đến gia đình Kiều với tư cách làmột “chàng rể” nhưng:

Gần miền có một mụ nào Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.

Hỏi tên, rằng “Mã Giám Sinh”

Hỏi quê, rằng “huyện Lâm Thanh cũng gần”

Quá niên trạc ngoại tứ tuần.

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao,

Trước thầy sau tớ lao sao, Nhà băng đưa mối, rước vào lầu trang.

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

Người khách viễn phương có cái tên không thật là tên, hắn lấy cái danh

là sinh viên trường Quốc Tử Giám Diện mạo của hắn dưới ngòi bút củaNguyễn Du thật lịch sự “áo quần bảnh bao”, nhưng cái nhẵn nhịu mày râu củatuổi ngoại tứ tuần ở hắn làm cho ta phải nghi ngờ Các lời đáp của Mã GiámSinh “rằng”, thêm vào đó hắn đi cùng với đám người “sau tớ lao sao” thì bảnchất vô học, lưu manh và mờ ám của con người này đã được bộc lộ Hành

Trang 37

động “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng” của hắn đã nói lên hắn là một tên con buôn

vô lễ, lỗ mãng

Mã Giám Sinh cùng với Tú Bà là một phường “Mạt cưa mướp đắng”.

Mã Giám Sinh vốn là “một đứa phong tình đã quen” cùng với Tú Bà mở hàng “Buôn phấn bán hương”

Còn Hồ Tôn Hiến một tên tổng đốc, một tên quan tham thì:

trong đoạn miêu tả Mã Giám Sinh: nhẵn nhụi, bảnh bao, lao xao, sỗ sàng.

Khi miêu tả về các nhân vật phản diện Nguyễn Du không viết dài màchủ yếu bằng vài nét khắc hoạ để người đọc tự liên tưởng Ta không hề thấy

sự xuất hiện của thiên nhiên hay các hình ảnh ước lệ tượng trưng mà là một

sự thật trần trụi ngay trước mắt

Với Nguyễn Du, miêu tả nội tâm nhân vật, trình bày trạng thái tâm hồnsâu xa, chân thực của con người trở thành một yếu tố đặc biệt quan trọng đểxây dựng tính các con người Đồng thời, đây là một trong những thành tựu

xuất sắc của thi pháp Truyện Kiều Sức hấp dẫn của Truyện Kiều không phải

ở cốt truyện, ở các sự kiện tình tiết, hành động bên ngoài ở thế giới nội tâm,tâm trạng của con người được thể hiện qua các nhân vật Nội tâm con người

là một thế giới phong phú, đa dạng, phức tạp, đầy mâu thuẫn và nhiều phát

Trang 38

triển bất ngờ - một thế giới đang vận động, nói như ngôn ngữ hiện đại, đó là

“biện chứng tâm hồn” Chính vì vậy Truyện Kiều đã từ lâu trở thành “cuốn

bách khoa toàn thư của ngàn tâm trạng” Ở Truyện Kiều, Nguyễn Du đã biểu

hiện thế giới nội tâm sâu kín chân thực, sinh động cụ thể và đa dạng phức tạpcủa nhiều loại người và của con người Dường như chính ở lĩnh vực “ai đocho tường” này, “ngòi bút tài hoa tuyệt diệu” của nhà thơ lại phát huy rực rỡ

hơn bất cứ ở phương diện nào khác trong Truyện Kiều.

Bằng những lời miêu tả trực tiếp của tác giả, bằng nghệ thuật “tả cảnhngụ tình” và đặc biệt bằng ngôn ngữ độc thoại, Nguyễn Du đưa người đọc đivào tâm hồn tha thiết đằm thắm và cao thượng của Kim Trọng, vào khát vọng

tự do và niềm tin mãnh liệt của Từ Hải, và vào tâm địa đen tối gian ngoan của

Tú Bà, vào bề trong “nham hiểm giết người không dao” độc địa ghê gớm của

Hoạn Thư Đặc biệt, Nguyễn Du dành một phần quan trọng cho việc miêu tảnội tâm nhân vật chính

Trong Truyện Kiều, ta luôn bắt gặp một cô Kiều cảm xúc và trầm tư,

một con người không hành động ứng xử một cách máy móc trực tiếp từnhững xô đẩy của tình huống khách quan, từ những thế lực bên ngoài trực tiếpchịu sự tác động của cảm nghĩ bên trong Là một thiếu nữ mới bước vào đời

nhưng tấm lòng đa cảm khiến cho ánh sáng bừng lên từ hình bóng “tài mạo

tuyệt vời” trên dặm cỏ xanh tươi của Kim Trọng, bừng lên từ mối tình đầu

giữa “người quốc sắc kẻ thiên tài”, không xua tan được những cảm xúc của

một cuộc đời, một con người tài hoa bạc mệnh:

Người mà đến thế thì thôi, Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi.

Những dằn vặt đau đớn của một con người bị xô đẩy vào một hoàncảnh đối lập hoàn toàn với bản chất tâm hồn và với cuộc sống trong sạchtrước đây:

Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.

Trang 39

Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!

Thuý Kiều rung động trước hình bóng của một văn nhân, một đoá hảiđường hay một ánh trăng xanh, xúc động trước cảnh ngộ thương tâm của “conngười đời xưa” hay của gia đình trong cơn hoạn nạn Đó là nàng Kiều đa sầu

đa cảm và đa tình - một hình tượng thơ

Nhưng Nguyễn Du không chỉ diễn đạt con người và tâm hồn Việt Namqua hình tượng trực quan, xúc động và tình cảm, với nét tính cách “thôngminh vốn sẵn tính trời”, với tâm hồn đằm thắm nhưng sắc sảo, Thuý Kiều còn

là con người của trí tuệ bởi cái “vương quốc vô hạn của đời sống tinh thần”con người còn là những dòng tư duy, ở cấp độ cao, là khả năng khái quát hoá,trừu tượng hoá vượt lên trên những cái cụ thể sinh động Mặc cảm số phậncủa Thuý Kiều:

Anh hoa phát tiết ra ngoài Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

Trông người lại ngẫm đến ta, Một dày một mỏng biết là có nên !

Không phải là những quan niệm được tác giả cố “lắp ghép” cho nhân

vật như kiểu tâm trạng nhân vật trữ tình khi chưa là cung phi trong “Cung

oán ngâm khúc” Đó là sự phát triển của một lôgic tính cách trên cơ sở một

lôgic hoàn cảnh dưới ngòi bút miêu tả của nhà thơ thiên tài

Ý nghĩa hiện thân cho nhan sắc, tài hoa, trí tuệ Tâm hồn, tình cảm củanhân vật Thuý Kiều, tính chất thiên về lý tưởng của nhân vật Kim Trọng cũng

như nhân vật Từ Hải đã đưa đến “chất thơ” trong thế giới hình tượng nhân vật Truyện Kiều Đó là những hình tượng giàu chất thơ đem đến niềm tin đẹp

đẽ vào phẩm các cũng như quan hệ giữa con người với con người, đem đếnnhững ước mơ lãng mạn cao cả, khi con người đối diện với hiện thực cayđắng, phũ phàng Hồn thơ dân tộc - trước hết là hình bóng cuộc sống và tâm

Trang 40

hồn Việt Nam đã khiến mỗi con người có thể cảm nhận bằng cả trái tim vàkhối óc về đất nước và bản thân qua những bức tranh thiên nhiên, hình tượngcon người mang bản sắc trữ tình.

2.1.3 Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên

Trong truyện thơ Nôm truyền thống và Kim Vân Kiều truyện thiên nhiên thường ít xuất hiện Còn trong Truyện Kiều thiên nhiên trở thành yếu tố

cơ bản gắn với cốt truyện và thế giới nội tâm nhân vật Thiên nhiên ở đây gắnvới cuộc đời và sự biến đổi số phận nhân vật, góp phần tạo nên chất trữ tình

và không gian, thời gian nghệ thuật trong truyện Hay nói cách khác khi miêu

tả, tạo dựng thiên nhiên trong tác phẩm là một phần của nghệ thuật viết

Truyện Kiều của Nguyễn Du Bằng những từ ngữ miêu tả thiên nhiên sắc

nhọn đã góp phần tạo nên chất thơ trong Truyện Kiều Rất nhiều chỗ bề ngoài

thuần tuý là tả cảnh, nhưng đặt trong hệ thống tình tiết và diễn biến của sốphận nhân vật ta mới cảm thấy được giá trị nghệ thuật của chúng

Thiên nhiên trong Truyện Kiều có một điều đặc biệt luôn gắn với một hoàn cảnh, một tâm trạng Vì vậy thiên nhiên trong Truyện Kiều không bao giờ là thiên nhiên thuần tuý Nó không chỉ là: “Người buồn cảnh có vui đâu

bao giờ”, mà nó chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa.

Trong Truyện Kiều tiếng nói của thiên nhiên là tiếng nói góp phần quan trọng vào việc bộc lộ nội tâm nhân vật Thiên nhiên trong Truyện Kiều là một

phương tiên để miêu tả nội tâm, phản ánh tâm trạng Đó là khi nhân vật khónói, thiên nhiên xuất hiện để bộc lộ tâm trạng nhân vật Chúng ta có thể thấyNguyễn Du chú trọng đến khung cảnh thiên nhiên hơn môi trường xã hội.Nguyễn Du sử dụng hình tượng thiên nhiên làm nền cho sự hoạt động và sựphát triển của tính cách nhân vật Nhìn lại văn học cổ Việt Nam ta thấy hìnhtượng thiên nhiên chủ yếu gắn bó với tác phẩm trữ tình hơn tác phẩm tự sự

Ca dao, thơ Đường luật, khúc ngâm song thất lục bát, khác với truyện kể dângian và truyện văn xuôi tự sự chữ Hán miêu tả thiên nhiên khá nhiều Bản

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1].Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 1999
[2].Nhóm tác giả Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu … “Văn học Việt Nam 1900 - 1945” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn học Việt Nam 1900 - 1945
[3].Nhiều tác giả (1994), Thạch Lam văn chương và cái đẹp, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam văn chương và cái đẹp
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1994
[4].Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
[5].Viện văn học (2002), Nhìn lại văn học Việy Nam thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại văn học Việy Nam thế kỷ XX
Tác giả: Viện văn học
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
[6].Nguyễn Hoành Khung (1981), Thạch Lam từ điển văn học (tập 2), Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam từ điển văn học
Tác giả: Nguyễn Hoành Khung
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1981
[7].Đặng Thanh Lê (1984), (Giới thiệu và chú thích), Truyện Kiều, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều
Tác giả: Đặng Thanh Lê
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
[8].Đặng Thanh Lê (1979), Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm
Tác giả: Đặng Thanh Lê
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1979
[9].Phong Lê (1998), Lời giới thiệu tuyển tập Thạch Lam, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời giới thiệu tuyển tập Thạch Lam
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1998
[10].Tập truyện ngắn Thạch Lam (1988), Nxb văn học Hà Nội (do Trần Mạnh Thường tuyển chọn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập truyện ngắn Thạch Lam
Tác giả: Tập truyện ngắn Thạch Lam
Nhà XB: Nxb văn học Hà Nội (do Trần Mạnh Thường tuyển chọn)
Năm: 1988
[12].Phan Ngọc (2001), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2001
[13].Vũ Ngọc Phan (1945), Thạch Lam nhà văn hiện đại, (Quyển 1), Nxb Tân Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam nhà văn hiện đại
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Tân Dân
Năm: 1945
[14].Trần Đình Sử (1987), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1987
[15].Trần Đình Sử (1995), Thi pháp học hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học hiện đại
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
[16].Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[17].Nguyễn Thành Thi,(1988), Đặc trưng truyện ngắn Thạch Lam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng truyện ngắn Thạch Lam
Tác giả: Nguyễn Thành Thi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1988
[11].Nxb Thanh Niên (2002), Từ điển Tiếng Việt Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w