1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phục hồi và phát triển kinh tế xã hội thái lan từ sau cuộc khủng hoảng 1997 đến năm 2006

109 705 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội thái lan từ sau cuộc khủng hoảng 1997 đến năm 2006
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Công Khanh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn "Thái Lan cuộc hành trình tới câu lạc bộ các nớc công nghiệp mới",Nguyễn Thu Mỹ và Đặng Bích Hà, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1992, đã trình bày mộtcách khái quát về tình hình phát triển và

Trang 1

Lời cảm ơn

Trớc tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn CôngKhanh đã trực tiếp, tận tình hớng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luậnvăn

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo khoa Lịch

sử, khoa Sau Đại học - Trờng Đại học Vinh, Viện nghiên cứu Đông Nam á,Viện nghiên cứu kinh tế, Trung tâm Thông tấn xã Việt Nam, Th viện Quốcgia, Th viện Trờng Đại học Vinh, khoa Lịch sử Trờng Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn, Th viện Trờng Đại học Quốc gia Hà Nội, và tôi cũng xin bày

tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những ngời thân trong gia đình, bạn bè đã động viên,tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn

Với thời gian và kiến thức có hạn nên quá trình hoàn thành luận văn củatôi còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận đợc sự góp ý của các thầy, cô giáocùng bạn đọc để luận văn của tôi đợc hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

bảng quy ớc những chữ viết tắt trong luận văn

ADB Ngân hàng phát triển châu á

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á

BAAC Ngân hàng Nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp Thái LanBOI Uỷ ban đầu t Thái Lan

BOT Ngân hàng Trung ơng Thái Lan

EAS Hội nghị thợng đỉnh Đông Nam á

FDI Đầu t trực tiếp nớc ngoài

Trang 2

FTA Hiệp định tự do hoá thơng mại

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

ICOR Tỷ lệ vốn đầu t trên tăng trởng GDP

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

NCCC Uỷ ban chống tham nhũng Thái Lan

SET Chỉ số thị trờng chứng khoán Thái Lan

TTXVN Thông tấn xã Việt Nam

5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 10

Nội dung

Chơng 1 Cuộc Khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997 và tác động của nó đối với tình hình kinh tế - xã hội Thái Lan

1.1 Một số nét khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997

Chơng 2 Chính sách phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội

Thái Lan từ sau khủng hoảng 1997 đến 2006

Trang 3

2.1 Chính sách phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội Thái Lan

trong kế hoạch 5 năm lần thứ 8 (1997 - 2001) 392.1.1 Những biện pháp giải quyết cuộc khủng hoảng

2.1.2 Chính sách khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội

của chính phủ Chuan Leekpai sau khủng hoảng 482.1.2.1 Tăng cờng phát triển thơng mại quốc tế, nâng cao khả năng

2.1.2.2 Tăng cờng thu hút đầu t trực tiếp từ nớc ngoài 52

2.1.2.5 Tăng cờng thâm nhập vào các nớc mới mở cửa 58

2.1.3 Sự phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội Thái Lan

kinh tế - xã hội ở Thái Lan và bài học kinh nghiệm

đối với Việt Nam

3.1 Nhận xét quá trình điều chỉnh chính sách kinh tế - xã hội

Trang 4

3.3 Một số kinh nghiệm có thể học hỏi đối với Việt Nam 107

1.1 Thái Lan vốn là một nớc nông nghiệp truyền thống Từ những năm

60, thế kỷ XX, Thái Lan bắt đầu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hộilần thứ nhất (10/1961 - 9/1966), và cho đến nay là kế hoạch phát triển lần thứ 10(2006 - 2011) Những năm 60 thế kỷ XX, cho đến trớc cuộc khủng hoảng tài

chính - tiền tệ (1997), Thái Lan thực hiện chính sách "Công nghiệp hoá hớng ra xuất khẩu" với ASEAN, Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu là những thị trờng xuất khẩu

chính Ngành công nghiệp và dịch vụ dần dần đóng vai trò quan trọng trong nềnkinh tế, ngợc lại vai trò của nông nghiệp giảm dần Bằng những chính sách pháttriển kinh tế đúng đắn, nền kinh tế Thái Lan trong ba thập kỷ cuối của thế kỷ XX

không ngừng phát triển, đợc đánh giá là "thời kì vàng" với mức tăng trởng kinh

tế thuộc loại cao nhất thế giới, trung bình 8% mỗi năm Đặc biệt là trong khoảngthời gian từ 1986 - 1996, GDP bình quân đầu ngời tăng nhanh từ 1200 USD năm

1989 lên tới 2600 USD vào năm 1996, đứng hàng thứ 4 trong các nớc ASEAN(sau Brunei Xingapo và Malaixia) [43, tr.2] Tuy nhiên, sự tăng trởng kinh tếnhanh nhng thiếu bền vững đã làm cho sức ép lên việc duy trì tỷ giá đồng Bạt tạiThái Lan tăng lên, dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997 Điều nàycũng có nghĩa là, sau nhiều năm đạt đợc tốc độ phát triển cao, nền kinh tế TháiLan chính thức bớc vào giai đoạn khủng hoảng nh một quy luật Từ lĩnh vực tàichính - tiền tệ, cuộc khủng hoảng lan sang toàn bộ nền kinh tế và tác động sâu

sắc đến tình hình chính trị - xã hội, trở thành cuộc khủng hoảng "kép" trên cả hai

lĩnh vực kinh tế và chính trị

Trang 5

Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khởi phát tại Thái Lan ngày

2/7/1997, đã làm cho nền kinh tế nớc này "thụt lùi về tăng trởng trong mấy năm vừa qua" [36, tr.62] Cái giá mà Thái Lan phải trả là dự trữ ngoại tệ bị giảm sút

nghiêm trọng: từ 36 tỷ USD trớc tháng 7/1997 xuống chỉ còn 26 tỷ USD trongvòng một tháng sau khi nổ ra khủng hoảng; giá trị của đồng Bạt bị suy giảm đếnmức kỷ lục từ 24,5 Bạt ăn 1 USD vào tháng 5/1997 lên tới 53,7 Bạt ăn 1 USD vàotháng 1/1998; có tới 56 công ty tài chính bị đóng cửa hoàn toàn; nợ nớc ngoàităng đến mức chóng mặt, tới 87 tỷ USD vào cuối năm 1998; nhiều công ty và cánhân bị mất sạch tài sản; hàng triệu ngời lâm vào cảnh không có công ăn việclàm v.v… [31, tr.1] [31, tr.1]

Có thể nói, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ đã làm cho Thái Lan lâmvào một tình trạng khó khăn kinh tế và bất ổn chính trị cha từng có trong lịch sửhàng thập kỷ phát triển của mình Đứng trớc những khó khăn, thách thức to lớn

đó, việc đa ra những biện pháp, chính sách phục hồi và phát triển kinh tế, ổn địnhchính trị, xã hội là điều có ý nghĩa sống còn đối với Thái Lan

1.2 Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá ngày càng phát triển nhanh chóng vàmạnh mẽ, không một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triểnlại có thể sống tách biệt với thế giới, mà ngợc lại, mỗi quốc gia dân tộc đều làthành viên không thể tách rời của cộng đồng quốc tế Vì vậy, trong quá trình hộinhập quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng, mỗi quốc gia phải nhận thức đầy đủ

về thế giới, khu vực và vị thế của mình, từ đó mới có thể xác định phơng hớngphát triển đúng đắn cho mình

Tháng 7/1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam á (ASEAN) Đây là mốc rất quan trọng trong quan hệ ViệtNam - ASEAN, đánh dấu sự hội nhập của Việt Nam vào khu vực và thế giới Đại

hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996) nêu rõ "nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trờng hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để

đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc" [24, tr.120], trong đó cần phải "ra sức tăng cờng quan hệ với các nớc láng giềng và các nớc trong tổ chức ASEAN" [24, tr.12] Rõ ràng, đờng lối ngoại giao của

Đảng và nhà nớc ta đối với thế giới nói chung và đối với khu vực Đông Nam ánói riêng là nhằm giữ vững hoà bình, tạo môi trờng thuận lợi cho công cuộc đổimới và phát triển toàn diện của đất nớc Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về mỗithành viên của ASEAN nói chung và Thái Lan nối riêng là rất cần thiết Điều nàykhông chỉ giúp chúng ta hiểu rõ về ngời bạn láng giềng mà còn góp phần làmsáng tỏ đờng lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và nhà nớc ta

Trang 6

1.3 Hiện nay, nớc ta đang trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, hớng tới mục tiêu "dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Để hoàn thành mục tiêu này, toàn Đảng, toàn

dân ta đang ra sức phấn đấu, phát huy cao độ trí tuệ và khả năng sáng tạo, đồngthời không ngừng nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của các nớc trên thế giới,nhất là các nớc Đông Nam á có những điểm gần gũi về lịch sử, văn hoá Bêncạnh đó, thế giới ngày nay đang đứng trớc những nguy cơ, những thách thứcmang tính toàn cầu nh vấn đề năng lợng, lơng thực thực phẩm, tiền tệ.v.v… [31, tr.1] vànguy cơ có thể dẫn tới các cuộc khủng hoảng về những vấn đề trên đang diễn ra

từng ngày từng giờ nh những "mầm bệnh" đã đợc ủ sẵn Do vậy, việc nghiên cứu

để hiểu sâu về tình hình kinh tế, chính trị của Thái Lan những năm đầu thế kỷXXI là rất cần thiết Những bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình điều chỉnhchính sách phục hồi và phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội ở Thái Lan từsau khủng hoảng tài chính - tiền tệ đến nay là bài học có giá trị tham khảo bổ íchvới Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là trong bối cảnhViệt Nam vừa gia nhập Tổ chức Thơng mại thế giới WTO không lâu Đó lànhững bài học về tính phức tạp, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong bốicảnh toàn cầu hoá, bài học về sự phát triển và bền vững, về mô hình quản lý kinh

tế, tài chính của quốc gia trong quá trình hội nhập và phát triển… [31, tr.1]

Với những lí do trên, chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: "Sự phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội Thái Lan từ sau cuộc khủng hoảng năm

1997 đến năm 2006" làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình Việc tìm hiểu,

nghiên cứu về chính sách phục hồi và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội TháiLan từ sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ đến nay sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn

về tình hình Thái Lan hiện nay, nhằm tăng cờng khả năng hợp tác và liên kếtgiữa hai nớc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thái Lan là một quốc gia nằm ở trung tâm Đông Nam á, với một nềnkinh tế tăng trởng năng động nhng tình hình chính trị - xã hội thì luôn trong tìnhtrạng bất ổn Vì vậy, trong khoảng hơn 15 năm trở lại đây, đặc biệt là khi ViệtNam trở thành thành viên chính thức của ASEAN thì Thái Lan đã thu hút đợc sựchú ý của các nhà nghiên cứu Việt Nam

2.1 Có thể khái quát quá trình nghiên cứu về tình hình kinh tế - chính trịThái Lan trớc và sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997 qua một số nguồn tliệu mà chúng tôi đã tiếp cận đợc nh sau:

Trang 7

Cuốn "Thái Lan cuộc hành trình tới câu lạc bộ các nớc công nghiệp mới",

Nguyễn Thu Mỹ và Đặng Bích Hà, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1992, đã trình bày mộtcách khái quát về tình hình phát triển và những bớc thăng trầm của nền kinh tếThái Lan giai đoạn trớc khủng hoảng tài chính - tiền tệ

Cuốn "Kinh tế các nớc Đông Nam á: thực trạng và triển vọng", Phạm

Đức Thành và Trơng Duy Hoà, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, gồm 3 phầnchính: Phần thứ nhất, khái quát về tình hình kinh tế các nớc Đông Nam á trongnhững năm qua; phần thứ hai, nêu lên xu hớng phát triển kinh tế khu vực ĐôngNam á và phần thứ ba là phân tích thực trạng và triển vọng phát triển kinh tế củatừng thành viên trong khu vực Đông Nam á Trong đó, phần trình bày về TháiLan (từ trang 157 - 186) các tác giả đã cố gắng làm sáng tỏ thực trạng nền kinh

tế Thái Lan, nêu lên những chính sách và biện pháp phục hồi nền kinh tế saukhủng hoảng tài chính - tiền tệ, đồng thời cũng nêu lên những thách thức và triểnvọng phát triển của nền kinh tế Thái Lan

Cuốn "Chiến lợc phát triển của các nớc Đông Nam á" của tập thể nhiều

tác giả do Nguyễn Thu Mỹ chủ biên, khoa Đông Nam á học, Đại học mở báncông thành phố Hồ Chí Minh, 2002, đã trình bày những điều kiện tác động tới sựphát triển và khái quát chiến lợc phát triển kinh tế của Thái Lan trớc và saukhủng hoảng tiền tệ 1997

Công trình nghiên cứu "Chính sách công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu ở Thái Lan từ 1972 đến nay" (luận án tiến sĩ kinh tế), của tác giả Trơng Duy Hoà,

Viện kinh tế và chính trị thế giới, Hà Nội, 2005 Trong đó, nội dung chơng 2 vàchơng 3 của luận án đã trình bày, phân tích các quan điểm chung của Thái Lan

về chính sách công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu, làm nổi bật các chính sáchkinh tế, tiêu biểu nh: chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chính sách côngnghiệp hoá nông nghiệp, chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách phát triểnnguồn nhân lực và khoa học công nghệ, chính sách kinh tế đối ngoại và hội nhậpquốc tế… [31, tr.1] của Thái Lan Đồng thời tác giả cũng làm nổi bật những kết quả tíchcực của chính sách công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu nh: tốc độ tăng trởngGDP hàng năm, sự thay đổi cơ cấu kinh tế, đa ra những nhận định về sự tác độngcủa chính sách này, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Cuốn "Những vấn đề chính trị, kinh tế Đông Nam á thập niên đầu thế kỷ XXI", Trần Khánh (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006 Trong cuốn

này, tác giả đã nêu lên những yếu tố khách quan và chủ quan của thế giới và khuvực tác động đến tình hình kinh tế, chính trị ở khu vực Đông Nam á Đặc biệt,

Trang 8

trong công trình này tác giả đã khái quát nền kinh tế vĩ mô Đông Nam á cũng

nh tình hình cụ thể của một số nớc, trong đó có Thái Lan

Trong số các công trình nghiên cứu mà chúng tôi tiếp cận đợc, đặc biệt có

cuốn "Thái Lan những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI", Nguyễn Thị Quế (chủ

biên), Viện nghiên cứu Đông Nam á , Hà Nội, 2006 Trong cuốn này, tác giả đãphân tích những nhân tố khách quan tác động đến tình hình phát triển kinh tế,chính trị Thái Lan những năm đầu thế kỷ XXI, tác giả cũng đã trình bày nhữngchính sách phục hồi và phát triển kinh tế Thái Lan cũng nh thành tựu đạt đợctrong các kế hoach 5 năm lần thứ 8 (1997 -2001), lần thứ 9 (2001 - 2005) Tuynhiên, tác giả chỉ trình bày một cách chung nhất các chính sách phát triển chứkhông đi cụ thể vào từng lĩnh vc Mặc dù vậy, cuốn sách cũng đã phần nào chochúng ta cái nhìn toàn cảnh về các chính sách kinh tế vĩ mô của Thái Lan nhữngnăm đầu thế kỷ XXI

Cuốn "T liệu kinh tế các nớc thành viên ASEAN", Nxb Thống kê, Hà Nội,

2001 đến 2004, cung cấp cho chúng ta những số liệu đáng tin cậy về các vấn đềnh: tổng sản phẩm quốc gia, cân đối thu chi ngân sách, dữ trự quốc tế, nợ nớcngoài… [31, tr.1]

Cuốn "Điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Hàn Quốc, Malaixia và Thái Lan",

Hoàng Thị Thanh Nhàn (chủ biên), nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.Trong đó tác giả đã đề cập đến một số vấn đề chính nh: phân tích các áp lực bêntrong và bên ngoài tác động đến sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chơng trình điềuchỉnh cơ cấu kinh tế, đánh giá kết quả và dự báo triển vọng của chơng trình điềuchỉnh cơ cấu kinh tế, qua đó nêu lên một số bài học kinh nghiệm đối với ViệtNam Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này đề cập sự điều chỉnh cơ cấu kinh tếchung của ba nớc Hàn Quốc, Malaixia và Thái Lan chứ không phân tích cụ thể ởtừng nớc

Cuốn "Mô hình nền hành chính các nớc ASEAN", Lơng Trọng Yêm và

Bùi Thế Vĩnh (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia,Hà Nội, 1998, trong đó trìnhbày đến sự phát triển chính trị và hành chính Thái Lan

Bên cạnh những cuốn sách nêu trên, vấn đề nghiên cứu về tình hình kinh

tế, chính trị, xã hội Thái Lan giai đoạn sau khủng hoảng đến nay còn có nhiềubài viết đợc đăng trên các Báo, Tạp chí… [31, tr.1] Trong đó, có một số bài tiêu biểu nh:

Năm 1998, Viện thông tin khoa học xã hội xuất bản chuyên đề: "Khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á và những vấn đề đặt ra hiện nay" với một loạt

bài nghiên cứu về cuộc khủng hoảnh tài chính - tiền tệ ở Thái Lan Tiêu biểu nh:

"Khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan: nguyên nhân, hậu quả, giải pháp và triển vọng

Trang 9

phục hồi" của tác giả Nguyễn Hồng Sơn, trong đó tác giả đã trình bày đầy đủ về

cuộc Khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan

Trong bài "Khủng hoảng tài chính tại các nớc ASEAN và những vấn đề xã hội nảy sinh" của tác giả Phạm Ngọc Tân, đăng trên tuyển tập các công trình

nghiên cứu khoa học 1990 - 1999, Khoa lịch sử, trờng Đại học s phạm Vinh đãphân tích khá sâu sắc tác động của cuộc Khủng hoảng tài chính - tiền tệ đến tìnhhình kinh tế - xã hội các nớc Đông Nam á Tác giả đã đa ra những số liệu sinh

động về tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, về sự xuống cấp của chất lợng giáodục, y tế

Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 6/2000 có bài "Kinh tế Thái Lan: sự lựa chọn chính sách phục hồi và triển vọng phát triển" của tác giả Trơng Duy

Hoà Bài báo đã đề cập đến những vấn đề lựa chọn chính sách phục hồi và pháttriển kinh tế Thái Lan, qua đó nêu lên triển vọng phát triển trong những năm tới

Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 3/2007 có bài "Một số điều chỉnh chính sách kinh tế - xã hội của Thái Lan từ sau khủng hoảng đến nay" của tác

giả Nguyễn Ngọc Lan Tác giả bài báo đã nêu lên sự điều chỉnh chính sách trong

5 lĩnh vực gồm: điều chỉnh chính sách tài chính - tiền tệ, điều chỉnh chính sáchthơng mại, điều chỉnh chính sách kinh tế đối ngoại, điều chỉnh chính sách côngnghiệp, điều chỉnh chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn Tuy nhiên,tác giả bài báo đã không đi đến đánh giá kết quả của các chính sách ấy

Ngoài ra, còn phải kể đến hàng loạt tin, bài viết đăng trên tài liệu thamkhảo đặc biệt của TTXVN về vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội Thái Lan tronggiai đoạn từ sau khủng hoảng đến nay Tuy nhiên, những bài viết này thờng ngắn

và chỉ mang tính cập nhật thông tin thời sự

2.2 Nhìn chung, trong gần thập kỷ trở lại đây, những tiến triển mới trong

đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở Thái Lan đã thu hút đợc sự quan tâm nghiêncứu của nhiều học giả trong và ngoài nớc Một số công trình nghiên cứu và bàiviết mà chúng tôi nêu trên ít nhiều đều có liên quan tới những vấn đề nghiên cứucủa luận văn Tuy nhiên, hầu hết các công trình đó chủ yếu nghiên cứu Thái Lantrên phơng diễn chung của các nớc ASEAN và trong bối cảnh chung của khuvực Số ít công trình nghiên cứu về Thái Lan trong giai đoạn từ sau khủng hoảngtài chính - tiền tệ đến nay thì cũng chỉ tập trung chủ yếu vào vấn đề khắc phục vàphát triển kinh tế trên một số khía cạch nhất định, ít có công trình nghiên cứumột cách toàn diện đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Thái Lan cũng nh việc đa

ra những nhận định, đánh giá về quá trình phục hồi và phát triển kinh tế, ổn địnhchính trị, xã hội Thái Lan trong giai đoạn này Trong số các công trình nghiên

Trang 10

cứu về Thái Lan giai đoạn từ sau khủng hoảng đến nay, đáng chú ý nhất là công

trình "Thái Lan những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI" Tuy nhiên, công trình

này cũng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những chính sách kinh tế vĩ mô, chứkhông đi sâu nghiên cứu một cách cũ thể Trình bày các thành tựu về kinh tế nh-

ng không đánh giá các chính sách phát triển kinh tế đó Mặc dù vậy, những kếtquả nghiên cứu trên đây là nguồn t liệu quan trọng để chúng tôi tiếp tục nghiêncứu và có những kiến giải một cách tốt hơn, toàn diễn hơn về quá trình phục hồi

và phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội ở Thái Lan từ sau khủng hoảng tàichính - tiền tệ đến năm 2006

3 mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu đề tài: "Sự phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội Thái Lan từ sau cuộc khủng hoảng năm 1997 đến năm 2006", chúng tôi hớng đến làm rõ một

số vấn đề sau:

- Nhìn nhận và đánh giá những nhân tố tác động và ảnh hởng đến quátrình thc hiện chính sách phục hồi và phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hộiThái Lan sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ đến 2006

- Làm sáng rõ sự điều chỉnh chính sách phục hồi và phát triển kinh tế , ổn

định chính trị, xã hội ở Thái Lan từ sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997

đến 2006 qua hai nhiệm kỳ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của TháiLan (kế hoạch 5 năm lần thứ 8 và 9) một cách có hệ thống Từ đó, nêu lên nhữngthành tựu về kinh tế, đánh giá kết quả và làm rõ sự bất ổn chính trị ở Thái Lancũng nh ảnh hởng của nó tới quá trình phát triển kinh tế ở nớc này

- Nghiên cứu chính sách phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội Thái Lan từsau khủng hoảng tài chính - tiền tệ đến nay cũng nhằm mục đích giúp chúng tôi

có thêm những hiểu biết về tình hình đất nớc Thái Lan những năm đầu thế kỷXXI, từ đó cho chúng ta một cái nhìn mới, toàn diện hơn về đất nớc láng giềngtrong khu vực này

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ mà chúng tôi phải thực hiện đó là:trên cơ sở nguồn t liệu thu thập đợc tiến hành xác minh, phân loại, từ đó phântích một cách sâu sắc và có hệ thống về các chính sách phục hồi và phát triểnkinh tế, ổn định chính trị, xã hội ở Thái Lan

- Từ việc tìm hiểu quá trình phục hồi và phát triển kinh tế, ổn định chínhtrị - xã hội ở Thái Lan nêu lên những triển vọng cũng nh những thách thức đặt ra

đối với nền kinh tế, chính trị Thái Lan trong thời gian tới Đồng thời qua đó phải

Trang 11

rút ra đợc bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam nói riêng và các nớc đang pháttriển nói chung từ quá trình phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội ở TháiLan.

4 Giới hạn của đề tài

4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài đi sâu nghiên cứu về quá trình phục hồi và phát triển kinh tế, ổn

định chính trị - xã hội ở Thái Lan từ sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ đến

2006 Hai lĩnh vực kinh tế và chính trị - xã hội mặc dù tách biệt nhau nhng cómối quan hệ tơng tác biện chứng với nhau Chính sách phục hồi và phát triểnkinh tế sẽ góp phần làm ổn định tình hình chính trị - xã hội và ngợc lại những bất

ổn về chính trị - xã hội ở Thái Lan trong những năm gần đây đã ảnh hởng lớn

đến quá trình phát triển kinh tế của nớc này Trong một chừng mực cho phép,luận văn không thể trình bày các chính sách phát triển văn hoá, giáo dục, y tế… [31, tr.1].ởThái Lan trong giai đoạn này

4.2 Giới hạn về mặt thời gian

Nội dung luận văn đợc giới hạn trình bày trong khoảng thời gian từ saukhủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997 cho đến 2006 Lý do giới hạn thời gian trênlà: thứ nhất, chúng tôi lấy mốc sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ vì kể từ saukhủng hoảng thì chính sách phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội ở TháiLan so với giai đoạn trớc khủng hoảng có sự điều chỉnh rất lớn, chúng tôi muốnlấy mốc thời gian này để thấy đợc rõ hơn sự điều chỉnh đó, cũng nh thấy rõ sựphục hồi và phát triển mạnh mẽ của Thái Lan sau khủng hoảng Thứ hai, nộidung luận văn dừng lại ở thời điểm 2006, đây cũng chính là mốc thời gian kếtthúc nhiệm kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ 9 và sự sụp đổ của chính quyền Thủ tớngThaksin

5 nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

- Hệ thống tin, bài về chủ đề nghiên cứu đăng trên các báo chí nh Báo Đầu

t, Báo Thơng mại, Báo Ngoại thơng… [31, tr.1]

Trang 12

- Nguồn tài liệu tham khảo đặc biệt của TTXVN trong các năm từ 1997

đề tài tập trung nghiên cứu về vấn đề kinh tế, chính trị nên chúng tôi cũng chútrọng nhiều hơn đến các phơng pháp nghiên cứu chuyên ngành, liên ngành nh:thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp… [31, tr.1]

Từ các nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu trên, chúng tôi cố gắngkhai thác và xử lí các thông tin một cách khách quan và trung thực nhất

6 đóng góp của luận văn

6.1 Luận văn sẽ đa đến một cái nhìn tổng quan và sâu sắc hơn dới góc độ

sử học về sự phục hồi và phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội Thái Lan từsau khủng hoảng tài chính - tiền tệ đến 2006 trên cả hai phơng diễn chính sáchkinh tế và xã hội Từ đó góp thêm những hiểu biết cho ngời đọc về tình hình kinh

tế, chính trị - xã hội Thái Lan trong giai đoạn này

6.2 Trong bối cảnh thế giới và khu vực hiện nay đang đứng trớc nhữngnguy cơ, những thách thức mang tính toàn cầu nh vấn đề năng lợng, lơng thựcthực phẩm, tiền tệ… [31, tr.1] và nguy cơ có thể dẫn tới các cuộc khủng hoảng về nhữngvấn đề trên đang diễn ra từng ngày từng giờ, thì việc rút ra những bài học kinhnghiệm từ quá trình nghiên cứu đề tài này đối với Việt Nam có ý nghĩa to lớntrong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nớc ta hiện nay

6.3 Đợc tiếp cận từ góc độ sử học Do đó, đề tài có thể sử dụng làm tàiliệu tham khảo về lich sử Thái Lan những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI,trên cả hai phơng diễn kinh tế và chính trị

7 bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chơng:

Chơng 1 Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997 và tác động của nó

đối với tình hình kinh tế - xã hội Thái Lan

Chơng 2 Chính sách phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội Thái Lan từ

sau khủng hoảng 1997 đến 2006

Chơng 3 Nhận xét quá trình điều chỉnh chính sách kinh tế - xã hội ở Thái

Lan và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Trang 13

Nội dung

Chơng 1 Cuộc Khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997 và tác động của nó đối với tình hình kinh tế - xã hội Thái Lan

1.1 Một số nét khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ

1997 ở Thái Lan

1.1.1 Nguyên nhân cuộc khủng hoảng

Bớc vào thập niên 60, thế kỷ XX, Thái Lan bắt đầu tiến hành công cuộccông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc với chiến lợc công nghiệp hoá hớng raxuất khẩu Sau 30 năm thực hiện (1961 - 1991), Thái Lan đã đạt đợc tốc độtăng trởng cao (trung bình 8%/năm), trở thành một trong những đầu tàu kinh

tế của ASEAN Nhiều quốc gia ở châu á coi Thái Lan là mô hình phát triển lýtởng để học tập trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Cuối những năm 80,thế kỷ XX, Thái Lan đợc thừa nhận là một trong những nớc có tốc độ phát

triển kinh tế cao nhất thế giới, đợc xem là "sự thần kì" với tốc độ tăng trởng

đạt 13% năm 1988 và 12% năm 1989 Trớc khi diễn ra khủng hoảng, trongkhoảng thời gian từ 1991 - 1996, tốc độ tăng trởng GDP cũng đạt bình quân7,7%/năm Tổng sản phẩm nội địa theo đầu ngời tăng từ mức 440 USD năm

1955 lên 3.012 USD năm 1996 [50, tr.75]

Nh vậy, nếu chỉ căn cứ vào chỉ số tăng trởng GDP của Thái Lan trongsuốt hơn 3 thập kỷ qua thì có thể khẳng định đây là quốc gia có tốc độ pháttriển cao và tơng đối ổn định ở Thái Lan để đạt đợc tốc độ phát triển kinh tếcao và kéo dài nh vậy, Chính phủ đã phải chi phí rất lớn cho hoạt động đầu t:

"trong thời kì từ 1991 - 1996, đầu t của Thái Lan rất cao, hàng năm chiếm bình quân 40% GDP" [50, tr.76] Ngời ta tính rằng, trớc khi diễn ra cuộc

khủng hoảng, hệ số ICOR của Thái Lan là 5,22, tức là phải đầu t 5,22 Bạt thìGDP mới tăng trởng 1 Bạt Rõ ràng, chỉ xét trên lĩnh vực kinh tế, sự phát triểncủa Thái Lan đã tiềm ẩn nhiều yếu tố không bền vững, vì theo quy luật kinh tế

Trang 14

tăng trởng cao mà chi phí thấp mới bền vững, tăng trởng cao dựa trên hiệu quảkinh tế cao của sản xuất kinh doanh mới lâu bền Những yếu tố không bền

vững trong sự phát triển của Thái Lan nh một "mầm bệnh" đợc ủ sẵn và nó sẽ

bùng phát nh một quy luật tất yếu nếu nh không sớm phát hiện và chữa trị kịpthời

Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khá sâu sắc về cuộckhủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997 ở Thái Lan, trong đó các tác giả đều chỉ

ra các nguyên nhân, tác động và đề xớng giải pháp khắc phục hậu quả Cónhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến cuộc khủng hoảng, nhng

đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng, khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở TháiLan là hậu quả tất yếu của chính sách đánh giá quá cao đồng bản tệ (cố định

tỷ giá vào đồng Đô la Mỹ), sự yếu kém của công tác giám sát ngân hàng vàphi ngân hàng, sự đổ vào ồ ạt của các luồng vốn ngắn hạn có nguồn gốc từ n-

ớc ngoài, việc quản lý sai lầm dự trữ ngoại tệ, hiện tợng vay vốn bằng ngoại tệgiữa các ngân hàng quá nhiều và trình độ quản lý yếu kém của một số doanhnghiệp… [31, tr.1]

Trên thực tế, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bắt đầu tấn công vàoThái Lan từ tháng 2/1997, những tháng đầu tiên của kế hoạch 5 năm lần thứ 8.Sau khi việc các nhà đầu cơ tấn công vào đồng Bạt đã kéo theo tỷ giá các ngânhàng trong nớc lên và làm lu lợng tiền mặt khan hiếm hơn Các nhà đầu cơnhận thấy tiền mặt Thái Lan đã mất giá, và đây là những lý do để tin rằng tấncông đầu cơ sẽ đa đến giá trị đồng Bạt giảm sút

Vào đầu năm 1997, Công ty bất động sản ở Thái Lan là SomprasongLand đã vỡ nợ 80 triệu EURO, cũng trong đầu năm 1997, một công ty tàichính lớn nhất của Thái Lan là Finance One cũng bị phá sản Trong năm

1996, đã có nhà lãnh đạo của Ngân hàng Trung ơng Thái Lan phải từ chức vì

có những liên quan bê bối đến Ngân hàng Ngoại thơng Băng Cốc… [31, tr.1] Khi thâmhụt ngân sách tăng mạnh, Chính phủ tìm kiếm sự thay đổi thuế đặc biệt lên ắcquy và xe máy để tăng nguồn thu nhng Quốc hội không thông qua Cấu trúckinh tế, chính trị của Thái Lan đã bị ngăn cản bởi có nhiều thành viên trongquốc hội đã liên quan chặt chẽ đến kinh doanh

Ngay từ đầu năm 1997, Chính phủ Thái Lan đã tìm một số biện pháp đểcứu chữa tình hình, nhng vẫn công khai tuyên bố sẽ không bao giờ giảm giá

đồng Bạt Ngân hàng Thái Lan sẽ vẫn giữ nó ở tỷ giá hối đoái khoảng 25 Bạt/USD Do sự phụ thuộc quá nhiều vào nớc ngoài, Thái Lan đã không chú ý mộtcách thoả đáng tới việc huy động nguồn lực trong nớc làm động lực chính để

Trang 15

phát triển mà lại quá trông cậy vào các nguồn lực bên ngoài Vào năm 1996,

có tới 85,7 tỷ USD đợc các nhà đầu t nớc ngoài đổ vào Thái Lan, Chính phủThái Lan đã trông cậy vào các tổ chức Tài chính quốc tế, mà 25% trong cáckhoản nợ là nợ ngắn hạn, Thái Lan (cũng nh các nớc ASEAN khác bị khủnghoảng) lại không quan tâm thoả đáng việc sử dụng những khoản nợ trên, sốtiền trên phần lớn đợc đầu t vào thị trờng bất động sản, chiếm 20% số tiền chovay cha thanh toán của Ngân hàng Thái Lan Khi thị trờng bất động sản bắt

đầu suy yếu vào năm 1996, đồng tiền các nớc ASEAN nói chung sụt giá vàonăm 1997, các ngân hàng địa phơng lâm vào tình trạng lao đao do không cókhả năng thu hồi vốn Trớc tình hình đó các nhà đầu t tiền tệ quốc tế đã ồ ạtrút vốn khỏi thị trờng tiền tệ Đông Nam á nói chung và Thái Lan nói riêng,kết quả là đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng

Nh vậy, sự đổ vỡ kinh tế của Thái Lan năm 1997 là do quốc gia này đãphụ thuộc quá nhiều vào nguồn lực nớc ngoài mà không khai thác và xâydựng đợc một nguồn nội lực cần và đủ, đồng thời còn là do sự quản lý kémcủa ngân hàng Thái Lan nhất là khi bắt đầu quá trình tự do hoá thơng mại

Do vậy mà, tuy đạt đợc mức tăng trởng cao và ổn định trong vòng hơnmột thập kỷ, nhng nền kinh tế Thái Lan đã ngấm ngầm mất cân đối bên trong

và bên ngoài Biểu hiện của sự mất cân đối ấy là sự phát triển kinh tế quánhanh đã gây ra áp lực lên giá cả và hạ tầng cơ sở không theo kịp với tốc độphát triển công nghiệp (đặc biệt là giao thông vận tải và điện lực) Bên cạnh

đó là sự thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức báo động (năm 1995 thâm hụt8,1%, năm 1996 thâm hụt 8,2%), thâm hụt vãng lai đồng nghĩa với việc TháiLan chỉ tiêu thụ hàng hoá dịch vụ của nớc ngoài nhiều hơn là họ tự sản xuất

ra Năm 1996, Thái Lan đã vay nợ 70,2 tỷ USD từ các ngân hàng nhóm G10

và các nớc châu Âu khác, trong đó 65% đến hạn phải trả trong vòng một năm,

và chủ yếu đầu t vào bất động sản Đầu năm 1997, chỉ số thị trờng chứngkhoán Thái Lan (SET) liên tục giảm Lo sợ trớc khả năng trả nợ của các công

ty này, các nhà đầu t nớc ngoài đã rút ra khỏi các công ty Thái Lan 30,3 tỷ Bạt(tơng đơng 1,2 tỷ USD) chỉ trong vòng tháng 3 năm 1997

Từ sự phân tích trên, có thể khẳng định rằng, nguyên nhân sâu xa vàchủ yếu dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan năm 1997 đó

là do Chính phủ nớc này đã quá coi trọng mục tiêu tăng trởng nhanh, quá

"nóng vội" trong nỗ lực "vật lộn để hoá rồng" mà thiếu đi một chiến lợc phát

triển ổn định và bền vững Một chính sách đầu t bất hợp lí và sự lệ thuộc quálớn vào nguồn vốn của nớc ngoài đã khiến nền kinh tế Thái Lan thiếu đi sự

Trang 16

chủ động trong hội nhập, đất nớc phát triển không cân đối, thêm vào đó là tìnhhình chính trị - xã hội luôn trong tình trạng không ổn định, đã gây nhiều khókhăn cho phát triển bền vững.

Tuy nhiên, nếu xem xét nguyên nhân trực tiếp đa đến cuộc khủnghoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng,ngay từ năm 1996, nền kinh tế Thái Lan đã bắt đầu xuất hiện và bộc lộ nhiều

điểm yếu khó khắc phục mà đó chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự rốiloạn tiền tệ ở Thái Lan

Thứ nhất, hầu hết các quốc gia Đông Nam á, đặc biệt là Thái Lan đang

có xu hớng thâm hụt tài khoản vãng lai lớn do nền kinh tế tăng trởng nhanh,liên tục đã kéo theo nhập khẩu t bản rất lớn để tài trợ cho các cơ hội đầu t Do

nợ ngắn hạn tăng, nền kinh tế Thái Lan trở nên phát triển không bền vững.Theo tính toán của IMF, nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hơn 5%GDP thì điều đó cũng có nghĩa là nền kinh tế đó đang đứng trớc nguy cơkhủng hoảng Năm 1996, mức thâm hụt tài khoản vãng lai của Thái Lan đã là8,2% GDP, ngang với mức thâm hụt này của Mêhicô năm 1994 Điều khácbiệt là, nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai của Mêhicô đã mang lại mức tiêudùng tăng, giảm tiết kiệm và do đó, dễ khắc phục thì mức thâm hụt tài khoảnvãng lai ở Thái Lan đã mang lại mức đầu t cao, làm cho khả năng trả nợ sẽkhó hơn bội phần

Thứ hai, nền kinh tế Thái Lan tăng trởng chủ yếu dựa vào xuất khẩu,trong đó đặc biệt lệ thuộc vào tăng trởng xuất khẩu điện tử Kể từ cuối năm

1995, xuất khẩu của Thái Lan đã bắt đầu giảm sút mạnh Năm 1996, kimngạch xuất khẩu của Thái Lan chỉ còn đạt 7% so với mức tăng đều đặn từ25% - 28% của những năm trớc Theo đó, Thái Lan trở thành quốc gia cómức gia tăng thâm hụt cán cân thanh toán nhanh nhất thế giới Nguyên nhâncủa tình trạng này một mặt là sự giảm mạnh của xuất khẩu hàng điện tử do sự

ứ thừa hàng hoá và sự giảm sút nhu cầu hàng điện tử trên phạm vi toàn cầu,mặt khác Thái Lan đã áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái cố định, đánh giácao một cách không thực chất giá trị của đồng Bạt, làm giảm sút năng lựccạnh tranh xuất khẩu của Thái Lan Các nhà kinh tế nớc ngoài đã cảnh báo từ

đầu năm 1996 rằng, trong sự tăng giá của đồng USD so với đồng Yên Nhật

Bản, các đồng tiền châu á, trong đó có đồng Bạt "neo giá" vào đồng USD tuy

có tỷ giá chính thức tăng lên từ 5 - 8% Song, về thực chất, theo thuyết "đồng giá sức mua", các đồng tiền này đều giảm giá so với đồng USD Do đó, nếu

xét theo lí do này, đồng Bạt Thái Lan bị thả nổi là hiện tợng cần thiết để trả lại

Trang 17

giá trị đích thực cho nó, nếu không nền kinh tế dựa vào xuất khẩu của TháiLan sẽ rơi vào tình trạng không ổn định.

Thứ ba, đầu t trực tiếp nớc ngoài thuần tuý cộng với số d tài khoản vãnglai so với GDP ở Thái Lan đã thấp hơn cả mức thâm hụt của Mêhicô năm

1994 Mức này ở Mêhicô là - 5,6%, trong khi đó ở Thái Lan đã lên tới - 7,5%

Về nguyên tắc, con số này càng âm thì nền kinh tế của nớc đó càng bị lệ thuộcnặng nề vào các khoản tiền vay nóng Đó là cha kể đến các khoản vay này lại

đợc tập trung vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản - một lĩnh vực đang rấtbão hoà ở hầu hết các nớc châu á

Các ngân hàng lớn ở Thái Lan đã thực hành các khoản vay u đãi để chovay kinh doanh bất động sản kiếm lời, đến lợt đã làm trầm trọng thêm tìnhhình đọng nợ không có khả năng thanh toán Tính đến đầu năm 1997, tổng số

nợ quá hạn mà các ngân hàng và công ty tài chính Thái Lan đang gánh chịu đãlên đến khoảng trên 30 tỷ USD

Nh vậy, cùng với những nguyên nhân sâu xa và một số nguyên nhânkhách quan khác, thì những yếu tố trên chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến

đồng Bạt bị thả nổi Đây là những tác nhân góp phần đẩy nhanh và làm sâusắc thêm cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan

1.1.2 Khái quát diễn biến cuộc khủng hoảng

Trong khi xuất khẩu giảm các khoản nợ của Thái Lan lại tăng lên Vàonăm 1996, Thái Lan đã vay nợ tới 90 tỷ USD trong đó đại đa số là nợ ngắnhạn Trớc tình hình đó, từ tháng 11/1996 các làn sóng tấn công nhằm vào

đồng Bạt đã đợc tiến hành với mục đích buộc Ngân hàng Thái Lan phải phágiá đồng Bạt Ngân hàng Thái Lan đã cơng quyết chống lại những làn sóngtrên bằng cách dốc các khoản tiền dự trữ của mình để bảo vệ đồng Bạt Tuynhiên, đến cuối năm 1996, đầu năm 1997, nền kinh tế Thái Lan đã tích tụ đầy

đủ các nguy cơ khủng hoảng ở mức cao: đó là doanh nghiệp kinh doanh kémhiệu quả, ngân hàng và công ty tài chính đứng trớc nguy cơ phá sản, quốc gia

đứng trớc nguy cơ mất khả năng thanh toán,… [31, tr.1]

Khi các nguy cơ khủng hoảng xuất hiện, những ngời nắm đợc thông tin

về các nguy cơ này lo sợ các công ty tài chính sẽ phá sản Do đó từ đầu năm

1997, ngời dân Thái Lan đã đổ xô đến các ngân hàng rút tiền để mua USD Mỹ

vì lo sợ tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng Bạt sẽ mất giá Thực tế ở Thái Lan "từ

đầu năm 1997 đến tháng 3/1997, các nhà đầu t bắt đầu rút vốn ở dạng tiền mặt ra khỏi các ngân hàng và công ty tài chính, buộc Chính phủ phải tuyên

bố đóng cửa thị trờng chứng khoán một ngày (ngày 3/3/1997) và yêu cầu mọi

Trang 18

tổ chức tài chính phải tăng thêm dự trữ tiền mặt" [50 tr.84] Chỉ tính riêng

trong hai ngày 4 và 5/3/1997, sau khi Chính phủ công bố 10 công ty tài chính

đang ở trong tình trạng không bình thờng, thì đã có tới 21,4 tỷ Bạt (tơng đơng

820 triệu USD) đã đợc rút ra khỏi các ngân hàng và công ty tài chính Cũng

trong tháng 3/1997, "Thái Lan công bố mức thâm hụt thơng mại lên tới 373 tỷ Bạt, tơng đơng 8% GDP" [18, tr.35].

Một tháng sau, ngày 9/4/1997, đồng Bạt giảm tới mức thấp nhất trongvòng 7 năm (1991 - 1997) 26,08 Bạt/USD Lợi dụng điều này, giới đầu cơ tiền

tệ quốc tế tấn công mạnh mẽ vào đồng Bạt làm cho thị trờng tài chính chao

đảo, nguy cơ đồng Bạt buộc phải thả nổi ngày càng trở nên rõ rệt

Đến giữa tháng 5/1997, Ngân hàng Thái Lan đã bỏ ra 33,8 tỷ USD dựtrữ của mình để bảo vệ đồng Bạt, đến ngày 16/5/1997 đồng Bạt lại đợc phụchồi ở mức 25,85 Bạt/USD Nhng những khoản tiền trên vẫn không đủ sức ổn

định đồng Bạt, bởi vì những biện pháp mà Ngân hàng Trung ơng Thái Lan đãthực hiện đều không nhằm vào việc giải quyết nguyên nhân sâu xa của cuộckhủng hoảng, đó là sự mất cân đối bên trong và bên ngoài của nền kinh tế, chế

độ tỷ giá hối đoái không hợp lý… [31, tr.1]

Tháng 6/1997, bất lực trong việc duy trì sự ổn định của nền tài chính TháiLan cùng với những bất đồng trong quan điểm giải quyết cuộc khủng hoảng vớiThủ tớng Chalavit, Bộ trởng Tài chính Annuay Viravan từ chức Sự ra đi của ôngViravan cho thấy những bất ổn trong nội các Thái Lan, đó đợc coi là bớc khởi

đầu cho một cuộc khủng hoảng "kép" ở Thái Lan: khủng hoảng kinh tế - chính

trị Thay thế ông Viravan là ông Thanong Bidiađay, giám đốc Ngân hàng quân

sự Thái Lan, một ngời đợc coi là có quan điểm cứng rắn và khá thân thiết với

đơng kim Thủ tớng Chalavit

Những sự thay đổi trên chính trờng Thái Lan với mong muốn sẽ đem

đến một luồng sinh khí mới cho nền tài chính đất nớc vốn đang trong tìnhtrạng ảm đạm Tuy nhiên, những sự thay thế đó cũng không đem lại kết quảtốt cho nền tài chính đang đứng trớc bờ vực của sự khủng hoảng

Ngày 25/6/1997, sau một thời gian cảnh báo nguy cơ hoạt động khôngbình thờng, Chính phủ Thái Lan buộc phải ra lệnh đóng cửa 16 công ty tàichính Ngời dân và các nhà đầu t lại đổ xô đi rút tiền ở các ngân hàng và công

ty tài chính cha bị đóng cửa Để giữ tỷ giá hối đoái trong điều kiện số lợngngoại tệ đợc đặt mua tăng vọt, Chính phủ đã phải bán ngoại tệ, làm cho dự trữngoại tệ quốc gia suy kiệt, từ 38,78 tỷ USD tháng 6/1997 xuống còn 31,4 tỷUSD vào 30/10/1997

Trang 19

Việc sử dụng nguồn ngoại tệ dự trữ của quốc gia để duy trì tỷ giá hối

đoái là một biện pháp bất đắc dĩ của Chính phủ Thái Lan Nếu biện pháp nàykhông thể duy trì và vực dậy đợc nền tài chính đất nớc thì rất có thể đồng Bạt

sẽ bị thả nổi, khi đó mức độ khủng hoảng sẽ rất trầm trọng Có lẽ do thấy tr ớc

đợc nguy cơ này sớm muộn cũng xảy ra nên ngày 2/7/1997, Chính phủ TháiLan buộc phải tuyên bố thả nổi đồng Bạt sau gần 20 năm theo đuổi chính sách

tỷ giá hối đoái ổn định Ngay lập tức, đồng Bạt giảm giá tới mức thấp nhấttrong vòng 12 năm kể từ năm 1986

Sau khi Chính phủ tuyên bố thả nổi đồng Bạt, thì cơn lốc khủng hoảngtài chính dờng nh đã nhấn chìm toàn bộ nền kinh tế Thái Lan, hàng loạt cácngân hàng và công ty tài chính tiếp tục bị đình chỉ hoạt động Ngày28/7/1997, Thống đốc Ngân hàng Trung ơng Thái Lan từ chức Tính đến ngày5/8/1997, có tới 42 ngân hàng và các công ty tài chính buộc phải đình chỉ hoạt

động Thái Lan chấp thuận kế hoạch cứu vãn nền kinh tế do IMF đề nghị mặc

dù kéo theo đó là những ràng buộc kinh tế bất lợi cho đất nớc

Đến ngày 10/8/1997, 58 trong số 91 công ty tài chính và ngân hàng bị

đóng cửa tại Thái Lan, một số khác bị quốc hữu hoá do Chính phủ giám sát.Trớc tình hình đó, cộng đồng quốc tế đã nhóm họp tại Tôkyô (11/8/1997) baogồm đại diện của IMF và các nớc, các tổ chức có liên quan nhằm huy độngnguồn tài trợ cho các quốc gia bị khủng hoảng tài chính Tại Hội nghị này, cácbên có liên quan cam kết sẽ cho Thái Lan vay 17,2 tỷ USD để khắc phục hậuquả khủng hoảng và tái thiết nền kinh tế đất nớc Riêng Nhật Bản, đối tác kinh

tế lớn nhất của Thái Lan cam kết sẽ hỗ trợ trớc mắt 1 tỷ USD nhằm khắc phụccuộc khủng hoảng 9 ngày sau, IMF và các nớc, các tổ chức tham dự Hội nghị

tài trợ đã "phê chuẩn khoản tín dụng dự phòng 4 tỷ USD cho Thái Lan và giải ngân 1,6 tỷ USD" [16, tr.179].

Những nỗ lực của cộng đồng quốc tế và hàng loạt những biện pháp cấpbách của Chính phủ Thái Lan, trên thực tế không đủ sức để vực dậy đợc nềntài chính đất nớc vốn đang ngày càng lún sâu vào cuộc khủng hoảng Tháng10/1997, đồng Bạt mất giá từ 26 Bạt/USD vào tháng 6/1997 xuống còn 36,5Bạt/USD Giữa lúc cuộc khủng hoảng đang diễn ra trầm trọng, giá trị đồng Bạtliên tục giảm thì Bộ trởng Tài chính Thanong Bidiađay tuyên bố từ chức saucha đầy 4 tháng ngồi trên chiếc ghế Bộ trởng (từ 20/6 đến 19/10/1997) Tiếptheo sự ra đi của Bộ trởng Tài chính Bidiađay, hàng loạt các thành viên trongnội các của Thủ tớng Chalavit cũng đệ đơn xin từ chức Đặc biệt, ngày 3/11, 4tháng sau ngày đồng Bạt bị thả nổi, đến lợt ông Chalavit tuyên bố rời khỏi chiếcghế Thủ tớng Thay thế ông Chalavit là ông Chuan leekpai (20/11/1997) Liên

Trang 20

minh cầm quyền của ông Chuan leekpai lên lãnh đạo đất nớc trong bối cảnhnền kinh tế Thái Lan ngày càng rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng.Cuối năm 1997, đồng Bạt tụt xuống mức 48 Bạt/USD Sự kiện này đã khiếncho Bộ trởng Tài chính Thái Lan Tarin Nimmanahamiuda phải lên tiếng khẩn

thiết kêu gọi các nhà nhập khẩu, xuất khẩu và những ngời đầu cơ ngừng "đóng góp một cách vô tình hay cố ý" vào tình trạng khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan.

Ông Tarin phân tích rằng các đối tợng kinh doanh tiền tệ cần chấm dứt việc

tích trữ đồng USD vì nó tạo nên một "tác động tâm lý" mạnh mẽ, làm tụt giá

đồng Bạt, rằng tích trữ USD tởng nh có lợi trớc mắt nhng về lâu dài, tất cả mọingời đều bị thiệt hại

Những khuyến cáo của tân Bộ trởng Tài chính Thái Lan cũng khônglàm cho giới đầu cơ tiền tệ lo ngại, nạn đầu cơ vẫn tiếp tục công phá nền tàichính ốm yếu của đất nớc Đồng Bạt đã sụt giá đến mức kỷ lục 112% (54,1Bạt/USD) Kết thúc năm 1997, 15,8 tỷ USD bị rút ra khỏi Thái Lan, trong khi

đó, năm 1996 khoảng 20 tỷ USD đợc đầu t vào Tăng trởng kinh tế từ 6,4%năm 1996 tụt xuống còn - 0,4% năm 1997, Thái Lan trở thành nớc duy nhấttrong số các nớc bị khủng hoảng tăng trởng âm

Bớc sang năm 1998, Chính phủ Thái Lan đã liên tiếp đa ra dự định th vềcác biện pháp bổ sung dới sự phối hợp của IMF Dự định th bổ sung ngày24/2/1998 nhằm ổn định hoá nhanh chóng tỷ giá hối đoái, đồng thời hạn chếmức độ và tác động tiêu cực từ sự suy thoái kinh tế đa lại Ngày 4/3/1998, Hội

đồng quản trị IMF đã hoàn thành nhanh chóng tỷ giá hối đoái, hạn chế tối đamức độ và tác động tiêu cực từ sự suy thoái kinh tế đa lại, đồng thời IMF cũng

đã lên kế hoạch dự phòng và giải ngân 270 triệu USD cho Thái Lan Tuynhiên, những nỗ lực của cộng đồng quốc tế và Chính phủ Thái Lan vẫn cha đủsức vực dậy đợc nền kinh tế

Năm 1998 đợc coi là năm ảm đạm nhất trong lịch sử kinh tế Thái Lan

kể từ thập kỷ 60, thế kỷ XX Đồng Bạt có thời điểm mất giá trên sàn giao dịchquốc tế đến mức kỷ lục 54,1 Bạt/USD vào tháng 1 năm 1998, chỉ số giao dịchthị trờng chứng khoán tụt dốc từ 1.415 điểm vào ngày 14/2/1998 xuống còn

207 điểm vào ngày 4/9/1998 Lạm phát ở mức cao (8,1%), nợ nớc ngoài cũnglên tới trên 100 tỷ USD, dự trữ ngoại tệ giảm gần 10 tỷ USD so với năm 1996(từ 38,7 tỷ USD xuống còn 29,5 tỷ USD năm 1998) Cũng trong năm 1998,9,5 tỷ USD vốn vay đã chạy ra nớc ngoài, các ngân hàng do Chính phủ quản

lý gần nh chỉ để duy trì sự tồn tại hơn là để phát triển Nền kinh tế Thái Lankhủng hoảng trầm trọng trên tất cả mọi lĩnh vực, tốc độ tăng trởng kinh tế năm

1998 là - 8,3%, trong khi đó Malaixia là 2%, Philippin là - 0,5%, Hàn Quốc là

Trang 21

- 5,5% và Inđônêxia là - 13,7% [50, tr.18] Cha bao giờ ngân sách quốc giacủa Thái Lan lại bội chi đến mức kỷ lục - 128 tỷ Bạt nh năm 1998 và - 154 tỷBạt năm 1999.

Bớc sang năm 1999, với chính sách "thắt lng buộc bụng" và phong trào

"đồng cam cộng khổ" bằng việc cắt giảm chi tiêu ngân sách, cải tổ lại hệ

thống ngân hàng, đẩy mạnh xuất khẩu và đầu t phát triển du lịch, nền kinh tếThái Lan bắt đầu có dấu hiệu tăng trởng trở lại cho dù với tốc độ chậm Nhucầu tiêu dùng trong nớc tăng lên, nhập khẩu tăng 6% vào tháng 2/1999, đặcbiệt đồng Bạt đã dần dần ổn định trở lại ở mức 37 - 39 Bạt/USD Các nhà đầu

t tài chính bắt đầu trở lại thị trờng Thái Lan Hệ thống ngân hàng và công tytài chính cũng dần dần đợc khôi phục và hoạt động trở lại

1.2 Tác động của cuộc khủng hoảng

1.2.1 Đối với nền kinh tế

Trớc khi diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ, Thái Lan đợc coi

là một trong những đầu tàu kinh tế của ASEAN Trong suốt hơn 30 năm thựchiện công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, nền kinh tế Thái Lan đã

đạt đợc những thành tựu rất ấn tợng GDP trong nửa đầu thập kỉ 90 của thế kỷ

XX luôn đạt mức từ 85 tỷ đến 170 tỷ USD/năm, tốc độ tăng trởng kinh tế bìnhquân luôn ở mức cao khoảng 8%/năm, tăng trởng xuất khẩu đạt bình quân28%, tỷ trọng kinh tế nông nghiệp chỉ còn 10,4% (năm 1996), công nghiệp vàdịch vụ ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế Thái Lan trởthành môi trờng đầu t hấp dẫn ở châu á với số vốn đầu t của nớc ngoài chiếmtới 40% GDP (1991- 1996)

Bảng 1: Tốc độ tăng trởng GDP của các nớc châu á trớc và trong cuộc khủnghoảng

Mặc dù đạt đợc những thành tựu to lớn nh vậy nhng bản thân nền kinh

tế Thái Lan cũng bộc lộ những dấu hiệu bất ổn, sự phát triển của Thái Lan cha

đi đôi với sự ổn định và bền vững Chính vì vậy nên không ai bất ngờ khi TháiLan trở thành ngòi nổ của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á Cuộckhủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan một mặt phản ánh sự phát triển

Trang 22

thiếu ổn định của nền kinh tế, mặt khác nó cũng tác động sâu sắc đến các khuvực kinh tế của Thái Lan Cơn bão tài chính - tiền tệ châu á đã làm suy sụpnền kinh tế Thái Lan Tốc độ tăng trởng GDP từ 6,4% năm 1996 giảm xuống -0,4% năm 1997 và - 8,3% năm 1998, đồng Bạt mất giá đến mức kỷ lục 112%(54,1 Bạt/USD) vào tháng 1/1998 Tỷ lệ tích luỹ tiêu dùng so với GDP từ41,1% năm 1996 giảm xuống còn 33,3% vào năm 1997 và 20,3% năm 1998.Chỉ trong vòng một năm, suy thoái kinh tế đã làm Thái Lan kiệt quệ tới 10%GDP Năm 1996, GDP của Thái Lan đạt 183tỷ USD, năm 1997 giảm xuốngcòn 151 tỷ USD, năm 1998 giảm xuống còn 112 tỷ USD, mức thấp nhất trongvòng 6 năm kể từ năm 1992 Thu nhập quốc dân trên đầu ngời từ 3.012USD/ngời năm 1996 xuống còn 1.828 USD/ ngời vào năm 1998 Tất cả cáclĩnh vực kinh tế của Thái Lan đều chịu tác động nặng nề của cuộc khủnghoảng tài chính - tiền tệ.

- Đối với thơng mại:

Mặc dù nền kinh tế hớng ngoại dựa vào xuất khẩu đạt đợc tốc độ tăngtrởng xuất khẩu cao (1994 và năm 1995 là hơn 20%), tuy nhiên trong thời kì

1991 - 1996 về cơ bản Thái Lan vẫn là nớc nhập siêu Cán cân thơng mại 1995

là - 7,7 tỷ USD, năm 1996 là - 9,5 tỷ USD, cán cân tài khoản vãng lai tơng ứng

là - 13,55 tỷ USD và - 14,69 tỷ USD Một trong những nguyên nhân dẫn đếntình trạng này là do đồng Bạt bị kìm giữ tỷ giá quá lâu so với giá trị thực của

nó Chính vì vậy, đồng Bạt bị mất giá sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chếnhập khẩu Một mặt hàng hoá của Thái Lan trên thị trờng quốc tế sẽ có sứccạnh tranh hơn do chi phí bằng USD giảm Mặt khác, do điều kiện kinh tếkhủng hoảng nên ngời Thái cũng phải tiết kiệm hơn trong việc chi dùng nhữngthứ hàng hoá nhập ngoại Nếu nh năm 1996 xuất khẩu của Thái Lan đạt 54,4 tỷUSD, nhập khẩu đạt 63,9 tỷ USD thì đến năm 1997 chỉ số này lần lợt là 56,7 tỷUSD và 55,1 tỷ USD Đặc biệt, đến năm 1998, xuất khẩu đạt 52,9 tỷ USD,trong khi nhập khẩu chỉ có 40,6 tỷ USD, nh vậy cán cân thơng mại đạt 12,3 tỷUSD Dự trữ ngoại tệ năm 1998 tăng 2,5 tỷ USD so với năm 1997, tỷ giá hối

đoái bình quân của đồng Bạt so với đồng USD đạt 41,37 Bạt/USD

Với chính sách khuyến khích xuất khẩu nhằm vực dậy nền kinh tế,nhiều lĩnh vực kinh tế của Thái Lan đã đạt đợc tốc độ tăng trởng cao trong hainăm khủng hoảng Tiêu biểu là các sản phẩm nh gạo, tôm đông lạnh, hàng dệtmay, đá quý và kim hoàn… [31, tr.1] Về xuất khẩu gạo: Thái Lan tiếp tục là nớc đứng

đầu thế giới về xuất khẩu gạo, năm 1996 đạt 50,7 tỷ Bạt, năm 1997 tăng lên

65 tỷ Bạt và năm 1998 đạt giá trị kỷ lục 86,8 tỷ Bạt; Về xuất khẩu tôm đông

Trang 23

lạnh: năm 1996 đạt 43,4 tỷ Bạt, năm 1997 đạt 47,1 tỷ Bạt và năm 1999 đạt58,3 tỷ Bạt… [31, tr.1].

Bảng 2: Tình hình xuất nhập khẩu của một số nớc châu á từ 1996 - 1998

Năm

Nớc

Xuất khẩu (tỷ USD)

Nhập khẩu (tỷ USD)

Cán cân thơng mại

(tỷ USD)

1996 1997 1998 1996 1997 1998 1996 1997 1998

Thái Lan 54,7 57,6 52,9 70,8 61,3 40,6 -16,1 -4,6 12,3Malaixia 75,0 78,1 81,0 75,5 73,8 77,5 0,5 4,6 3,5Inđônêxia 51,0 53,3 60,7 48,0 41,5 40 3,0 11,8 20,4Philippin 20,5 25,2 31,8 32,3 35,9 39,8 -11,7 -10,7 -8,0Hàn

Quốc 129,8 138,7 150,0 150,2 148,6 140 -20,4 -9,9 10,0 (Nguồn: [18, tr.27])Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính -tiền tệ đối với hoạt động xuất nhập khẩu ở Thái Lan theo các chỉ số tăng trởngxuất khẩu và thặng d thơng mại thì không thể thấy hết đợc hậu quả trầm trọng

từ cuộc khủng hoảng này

Có thể thấy rõ rằng, xuất khẩu của Thái Lan tăng trởng là do đồng Bạt

bị thả nổi, một giải pháp bất đắc dĩ của Chính phủ Thái Lan, đó không phải là

sự điều tiết tỷ giá hối đoái một cách chủ động để kích thích tăng trởng xuấtkhẩu Nói cách khác, việc tăng trởng xuất khẩu quá nhanh trong thời kì khủnghoảng không nằm trong kế hoạch từ trớc của Chính phủ Thái Lan Điều nàykhẳng định rằng, tác động tích cực từ cuộc khủng hoảng đối với hoạt độngxuất nhập khẩu chỉ là một hệ quả nhất thời mà không mang tính bền vững.Những chỉ số về cán cân thơng mại và thặng d tài khoản vãng lai do đó cũngkhông thể tô điểm cho bức tranh kinh tế vô cùng ảm đạm của Thái Lan trongcác năm 1997 và 1998 Nợ nớc ngoài tiếp tục gia tăng với con số hàng trăm tỷUSD, tốc độ tăng trởng GDP suy giảm kỷ lục - 8,3% năm 1998, lạm phát tănglên 8,1%

Đối với hoạt động nhập khẩu, tác động của cuộc khủng hoảng là vôcùng nghiêm trọng Đồng Bạt mất giá đã làm cho chi phí nhập khẩu (tínhbằng USD) tăng lên Ngời ta tính rằng nếu đồng Bạt mất giá 10% thì chi phínhập khẩu sẽ tăng lên 4,2% Trong thời điểm đồng Bạt mất giá kỷ lục, tháng1/1998, 54,1 Bạt/USD ( mất giá 112%) thì chi phí nhập khẩu tăng lên 27,3%

Điều này làm cho các ngành nhập khẩu nguyên liệu từ nớc ngoài giặp khókhăn về chi phí và vốn quay vòng Tác động mạnh nhất là đối với nhữngngành sử dụng nhiều nhiên liệu vì Thái Lan là nớc nhập khẩu xăng và than đá

Trang 24

Trong các năm 1997 và 1998, chi phí nhập khẩu xăng dầu mỗi năm không dới

7 tỷ USD, sản lợng than đá nhập khẩu cũng giảm đáng kể do nhu cầu nhiênliệu phục vụ công nghiệp giảm sút: năm 1996 nhập khẩu 3,9 triệu tấn, năm

1998 giảm xuống còn 1,63 triệu tấn Đối với lĩnh vực nông nghiệp, việc nhậpkhẩu máy móc và thiết bị phục vụ cho chiến lợc xuất khẩu nông sản cũng gặpphải chi phí khổng lồ

Bên cạnh đó, do sức mua trong nớc giảm nên một số mặt hàng nhậpkhẩu truyền thống của Thái Lan giảm sút đáng kể, đặc biệt là các mặt hàng xa

xỉ phẩm phục vụ nhu cầu của c dân thành thị Điều này đã làm cho hàng hoácủa các đối tác kinh tế nớc ngoài giảm sút thị phần tại Thái Lan Giá trị nhậpkhẩu thấp cũng làm xấu đi môi trờng đầu t nớc ngoài, nhiều nhà đầu t đã tìmcách rời khỏi Thái Lan tìm thị trờng mới Tuy nhiên, việc giá trị nhập khẩu thấphơn giá trị xuất khẩu đã tạo nên nguồn thặng d thơng mại lớn, góp phần bổsung vào nguồn dự trữ quốc gia đang ngày càng thiếu hụt nghiêm trọng

Tất cả những dẫn chứng trên lí giải rằng tại sao Thái Lan đạt đợc thặng

d thơng mại kỷ lục (14,3 tỷ USD vào năm 1998) nhng tốc độ tăng trởng kinh

tế vẫn giảm, lạm phát vẫn ở mức báo động (8,1%)… [31, tr.1] Nền kinh tế Thái Lan saugần 2 năm khủng hoảng đến cuối năm 1998 vẫn cha cho thấy những dấu hiệuphục hồi

- Về đầu t:

Kinh tế Thái Lan là nền kinh tế hớng ngoại chủ yếu dựa vào nguồn vốn

đầu t của nớc ngoài Do đó, khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ nổ ra,lĩnh vực đầu t là một trong những khu vực kinh tế bị tổn thất nặng nề nhất

Đặc biệt, nguồn vốn nớc ngoài đầu t vào Thái Lan chủ yếu ở dạng tài chính vàtín dụng ngắn hạn (chiếm gần 90%), do đó khi nền kinh tế bộc lộ dấu hiệukhủng hoảng, các nhà đầu t nớc ngoài đã nhanh chóng rút nguồn vốn này rakhỏi hệ thống ngân hàng Nếu nh năm 1996, tổng số vốn đầu t thuần vào TháiLan là 19,5 tỷ USD thì năm 1997 số vốn thất thoát ra khỏi là 9,1 tỷ USD, năm

1998 rút tiếp 9,5 tỷ USD [50, tr.20] Sự ổn định của đồng Bạt trong một thời

gian dài khiến Thái Lan trở thành một trong những môi trờng đầu t hấp dẫnnhất châu á, nhng cũng chính sự mất giá của đồng Bạt đã làm cho môi trờng

đầu t của nớc này bị ảnh hởng nghiêm trọng Tính đến năm 1995, tổng số vốn

đầu t nớc ngoài vào Thái Lan đạt 70,7 tỷ USD, thì năm 1997 chỉ còn 50,3 tỷUSD và đến năm 1998, con số này thấp xuống mức kỷ lục 22,7 tỷ USD Nhiềunhà đầu t rời bỏ thị trờng Thái Lan, nhiều dự án đầu t đành phải bỏ giữa chừng

do không có vốn để hoạt động Sự trì trệ của hoạt động đầu t không chỉ gây

Trang 25

thiệt đối với ngời Thái mà còn gây thiệt hại nặng nề đối với nhiều tập đoànkinh tế lớn của nớc ngoài Hàng tỷ USD của các nhà đầu t nớc ngoài đã bị ứ

đọng trong các lĩnh vực đầu t nhà hàng, khách sạn, dịch vụ giải trí… [31, tr.1]

Sự sút giảm của hoạt động đầu t cũng đã làm cho số nợ nớc ngoài củaThái Lan gia tăng từ 89 tỷ USD năm 1996 lên 97 tỷ USD năm 1997 và 104 tỷUSD năm 1998, trong đó hơn 50% là nợ ngắn hạn Dự trữ ngoại tệ cũng giảmgần 10 tỷ USD từ 38,7 tỷ USD năm 1996 xuống còn 29,5 tỷ USD năm 1998.Chính phủ Thái Lan không có đủ dự trữ ngoại tệ để hỗ trợ cho sự thâm hụtnguồn vốn đầu t cũng nh cứu vãn sự phá giá của đồng Bạt Năm 1997, nguồn

dự trữ quốc gia của Thái Lan chỉ bằng 27,8% nợ nớc ngoài, áp lực tài chính

đè nặng lên các doanh nghiệp, hậu quả là phần lớn các doanh nghiệp có vốn

đầu t của nớc ngoài làm ăn thua lỗ và dẫn đến phá sản Chỉ tính riêng trong 5tháng đầu năm 1998, có tới 3.961 doanh nghiệp ngừng hoạt động, trong đó

có 582 doanh nghiệp tuyên bố phá sản Mặt khác, để chống đợc lạm phát, lãisuất trong nớc phải luôn duy trì ở mức cao và điều đó sẽ gây tác động tiêucực tới đầu t

Nh vậy, từ chỗ là môi trờng hấp dẫn đối với các nhà đầu t nớc ngoài,

đến khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bùng nổ, Thái Lan lại trở thànhnơi tháo chạy đầu tiên của họ Hoạt động đầu t vốn luôn sôi động trở nên trìtrệ, đình đốn trong không khí ảm đạm của nền tài chính đất nớc

- Đối với công nghiệp:

Chính sách u tiên phát triển công nghiệp của Thái Lan đã đem lạinguồn thu lớn cho đất nớc Tuy nhiên, việc quá thiên về các ngành côngnghiệp chế tạo đã làm cho cơ cấu nền công nghiệp bộc lộ những dấu hiệu bấthợp lý Chính vì vậy, khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bùng nổ, côngnghiệp là một trong những khu vực kinh tế chịu hậu quả nặng nề nhất

Do hầu hết các nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế tạo của TháiLan đều nhập từ nớc ngoài nên khi đồng USD lên giá so với đồng Bạt thì việcnhập nguyên liệu đã gặp nhiều khó khăn Chỉ tính riêng trong tháng 12/1997,chỉ số công nghiệp của Thái Lan đã giảm 12,3% so với cùng kỳ năm tr ớc[18, tr.78], trong đó một số nhóm ngành chính yếu nh: vật liệu xây dựnggiảm 14,4%; phơng tiện giao thông giảm 62,4%; thiếc giảm 32% Năm

1996, tốc độ tăng trởng công nghiệp là 7%, năm 1998 giảm xuống mức kỷlục là - 13,6% Ngời ta tính rằng chỉ trong vòng một tháng sau khi cuộckhủng hoảng tài chính - tiền tệ bùng nổ ở Thái Lan, các hãng bán xe hơi trảgóp đã thu hồi trở lại hơn 3000 xe và từ tháng 9/1997, các hãng sản xuất ô tô

Trang 26

Nhật Bản đã giảm 72% mức bán ra thị trờng Thái Lan Ngành sản xuất và lắpráp xe gắn máy cũng chỉ còn chạy 30% công suất, ngành đờng sắt ngng 4 dự

án liên quan đến 700km đờng mới… [31, tr.1] Ngoại trừ một số ngành công nghiệpphục vụ mục tiêu xuất khẩu nh chế biến gạo, chế biến hải sản, dệt may, khaithác và chế tác đá quý, kim hoàn đạt đợc giá trị tăng trởng cao, còn phần lớncác lĩnh vực công nghiệp khác đều bị giảm sút về sản lợng: sản lợng xi măngnăm 1997 đạt 37 triệu tấn, năm 1998 giảm xuống còn 22,7 triệu tấn; sản l -ợng đờng năm 1997 là 6,17 triệu tấn, năm 1998 giảm xuống còn 3,92 triệutấn; sản lợng đay năm 1996 đạt 61,6 nghìn tấn, năm 1997 giảm xuống còn39,2 nghìn tấn, năm 1998 là 18,5 nghìn tấn; sản lợng thiếc từ 238,6 nghìn tấnnăm 1997 giảm xuống còn 189,1 nghìn tấn vào năm 1998… [31, tr.1] Nguyên nhândẫn đến sự giảm sút về sản lợng công nghiệp chủ yếu là do đồng Bạt mất giádẫn đến giá nhập nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp tăng cao cùngvới nhu cầu trong nớc giảm hẳn sau khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệbùng nổ

- Đối với nông nghiệp:

Thái Lan đợc biết đến là một trong những quốc gia có nền nôngnghiệp hàng hoá phát triển ở châu á Mặc dù nông nghiệp ngày càng chiếm

tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế, tuy nhiên đây vẫn là lĩnh vực đ ợc Chính phủThái Lan rất quan tâm Nông nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọngphục vụ cho mục tiêu xuất khẩu Bớc vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX, TháiLan trở thành nớc xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới

Khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ nổ ra, Chính phủ Thái Lan đã

đặc biệt coi trọng đầu t phát triển nông nghiệp, coi đây là một trong nhữngbiện pháp để chống nạn thất nghiệp và đói nghèo đang ngày một gia tăng.Mặt khác, do nhu cầu xuất khẩu mạnh nên nhiều mặt hàng của nông nghiệp

nh gạo, cao su, bông đã đợc Chính phủ xếp vào nhóm hàng hoá u tiên giảmthuế để kích thích xuất khẩu Chính vì vậy, trong hai năm khủng hoảng, giátrị xuất khẩu gạo tăng lên đáng kể: nếu nh năm 1996 xuất khẩu gạo đạt 50,7

tỷ Bạt thì năm 1997 tăng lên 65 tỷ Bạt và năm 1998 là 86,8 tỷ Bạt, sản l ợnglơng thực từ 25,5 triệu tấn năm 1995 tăng lên 27,5 triệu tấn năm 1998, trong

đó sản lợng lúa vẫn đợc duy trì trên 23 triệu tấn/năm Các loại cây côngnghiệp nh cao su, bông cũng tăng lên cả về diện tích canh tác và sản lợng, trởthành những mặt hàng xuất khẩu có giá trị

Đối với ngành chăn nuôi: do nhu cầu xuất khẩu hàng thực phẩm tăngcao nên ngành chăn nuôi cũng đợc đầu t phát triển Số lợng gia súc tăng lên

Trang 27

rõ rệt theo từng năm: đàn trâu tăng từ 2,6 triệu con năm 1996 lên 3,5 triệucon vào năm 1999, đàn lợn tăng từ 4 triệu con năm 1996 lên 7 triệu con năm

1998 và 7,2 triệu con vào năm 1999

Nh vậy, trong bối cảnh khó khăn của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, sự ổn định và phát triển của nông nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng

-đối với sự phục hồi nền kinh tế Thái Lan Lĩnh vực nông nghiệp khôngnhững đem lại giá trị xuất khẩu cao mà còn giải quyết đợc việc làm cho một

số lợng lớn lao động thất nghiệp ở thành phố chuyển về Số lợng lao độngnông nghiệp ở Thái Lan đã tăng lên trong thời gian diễn ra khủng hoảng:năm 1996 tổng số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là 16,1 triệu ng ời,năm 1997 tăng lên 16,7 triệu ngời Có thể nói rằng, trong bức tranh ảm đạmcủa nền kinh tế Thái Lan những năm khủng hoảng, nông nghiệp cùng vớihoạt động xuất khẩu là hai điểm sáng duy nhất, trở thành chỗ dựa quan trọng

để ngời Thái vực dậy nền kinh tế đất nớc

- Thị trờng bất động sản:

Trớc khi diễn ra cuộc khủng hoảng, thị trờng bất động sản là một trongnhững khu vực kinh tế sôi động nhất Lợi dụng nguồn vốn vay rẻ của n ớcngoài cùng với tiềm năng du lịch của đất nớc, tâm lí của các nhà kinh doanhThái Lan là muốn đầu t vào ngành gì để sinh lợi nhanh nhất Vì thế họ đổ xô

đi vay vốn của các ngân hàng thơng mại và đầu t ồ ạt vào các ngành xâydựng nhà hàng khách sạn và kinh doanh bất động sản Chỉ trong vòng mộtthập kỷ (từ 1986 - 1995) ở các thành phố lớn nh Băng Cốc và Chiềng Mai, sốlợng khách sạn, nhà nghỉ và văn phòng cho thuê đã tăng lên gấp ba lần so với

25 năm trớc đó (1960 - 1985), giá cả nhà đất theo đó cũng tăng lên với tốc

độ chóng mặt Mặt khác thị trờng bất động sản còn bị bọn đầu cơ lũng đoạn,

do đó số vốn "chết" trong thị trờng bất động sản lên tới hàng chục tỷ USD

Sự bành trớng của giới kinh doanh vào lĩnh vực bất động sản đã dẫn đến tìnhtrạng khô đọng vốn Khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bùng nổ, đầu tgiảm mạnh thì thị trờng bất động sản trở nên nguội lạnh, cung lớn hơn cầu,

nhà hàng khách sạn ế ẩm, văn phòng không ngời thuê mớn "Chỉ tính riêng tại khu vực Băng Cốc, có tới 400.000 căn hộ văn phòng bị bỏ trống, hàng triệu m 2 diện tích không ngời thuê" [18, tr.35] Ngời ta tính rằng khi cuộc

khủng hoảng tài chính - tiền tệ bùng nổ, Thái Lan đã mang nợ 32 tỷ USD,chiếm 14% tổng số vốn lu động ở thị trờng bất động sản Các nhà kinh doanhbất động sản bằng nguồn vốn vay ngân hàng hoặc trái phiếu thì không thể trảnổi các khoản nợ, các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản lần l ợt tuyên bố

Trang 28

phá sản, khu vực kinh tế sôi động và hấp dẫn các nhà kinh doanh ở Thái Lan

đã rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng

- Đối với du lịch và dịch vụ:

Thái Lan là quốc gia có ngành du lịch phát triển nhất ở Đông Nam á

Ngành "công nghiệp không khói" đem về lợi nhuận mỗi năm từ 7 đến 8 tỷ

USD cho Thái Lan cũng bị ảnh hởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính

- tiền tệ Số lợng khách du lịch giảm 8,1% vào cuối năm 1997, tỷ lệ kínphòng ở các khách sạn hạng sang tại Băng Cốc chỉ đạt 62%, các dịch vụ chothuê văn phòng, cao ốc ế ẩm Doanh thu từ khách du lịch n ớc ngoài giảm từ8,66 tỷ USD năm 1996 xuống còn 7,04 tỷ USD vào năm 1997, nhng vẫn làmức doanh thu cao nhất Đông Nam á Cuộc khủng hoảng cũng làm cho chiphí du lịch nớc ngoài của ngời dân Thái Lan giảm đáng kể Trớc khi diễn rakhủng hoảng, ngời Thái tiêu tốn mỗi năm khoảng 3 đến 4 tỷ USD cho cácchuyến du lịch nớc ngoài và là nớc có chi phí du lịch nớc ngoài của ngời dâncao nhất Đông Nam á, nhng sau khi đồng Bạt bị mất giá, chi phí du lịch nớcngoài giảm hẳn Du lịch sa sút đã tác động mạnh mẽ đến vận tải hàng không,các chuyến bay nội địa bị cắt giảm do nhu cầu đi lại của ngời dân giảm, cácchuyến bay quốc tế tới Thái Lan cũng không còn sôi động nh trớc đó do các

đối tác kinh doanh nớc ngoài đến Thái Lan không còn nhiều nh thời gian

tr-ớc khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bùng nổ Thậm chí trên cácchuyến bay, ngời ta còn cắt giảm chất lợng bữa ăn và ngừng phục vụ rợu

Nhìn chung trong bối cảnh khủng hoảng tài chính - tiền tệ, hầu hết cácloại hình dịch vụ ở Thái Lan đều bị giảm sút doanh thu, duy chỉ có dịch vụ

đòi nợ thuê là phát triển nhng hiệu quả của nó là rất thấp, bởi lẽ hầu hết cácdoanh nghiệp đều trong tình trạng không thể trả nợ

1.2.2 Đối với tình hình chính trị - xã hội

- Về chính trị:

Đặc điểm lớn nhất của nền chính trị Thái Lan đó là sự chi phối củagiới quân sự trong đời sống chính trị đất nớc Trong suốt hơn 6 thập kỷ tồntại của nền quân chủ lập hiến (thành lập năm 1932), phần lớn những ng ờilãnh đạo đất nớc đều là những tớng lĩnh quân sự hoặc xuất thân từ quân đội

Sự chi phối của lực lợng quân sự, sự thiếu bóng dáng của một nền dân chủthực sự đã làm cho tình hình chính trị Thái Lan liên tục mất ổn định Và,cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ là một trong những tác nhân quan trọngdẫn đến sự khủng hoảng về chính trị ở Thái Lan

Trang 29

Ngời ta tính rằng trong hai năm diễn ra khủng hoảng, Thái Lan

đã thay 5 Bộ trởng Tài chính, một lần thay đổi Chính phủ, hàng chục

bộ trởng liên tục đệ đơn xin từ chức hoặc luôn bày tỏ thái độ bất đồngtrong quan điểm giải quyết cuộc khủng hoảng đối với Thủ t ớng

Trên thực tế, trớc khi Chính phủ Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Bạt(2/7/1997), ngay từ tháng 6/1997, khi ngời dân và các nhà đầu t đổ xô đi rúttiền ở các ngân hàng làm cho nền tài chính đất nớc đứng trớc nguy cơ khôngthể đứng vững, ông Annuay Viravan, Bộ trởng Tài chính Thái Lan đã chínhthức đệ đơn xin từ chức Sự ra đi của ông Annuay Viravan ngay trớc thềmcủa cuộc khủng hoảng đã làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của ng ờidân và các nhà đầu t về khả năng cứu vãn đợc nguy cơ bùng nổ cuộckhủng hoảng Đồng thời đó cũng là dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự bất đồng

về quan điểm giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong nội cáccủa Thủ tớng Chalavit Thay thế ông Viravan là giám đốc Ngân hàng quân

sự Thái Lan, ông Thanong Bidiaday Ngày 28/7/1997, ch a đầy một thángsau ngày đồng Bạt bị thả nổi, đến lợt Thống đốc Ngân hàng Trung ơngphải ra đi

Sự khủng hoảng của nền tài chính kéo theo những bất ổn trong giớilãnh đạo đất nớc đã đặt Chính phủ của Thủ tớng Chalavit trớc rất nhiềuthách thức

Cuộc khủng hoảng là dịp để các phe phái ra sức công kích Chính phủcủa thủ tớng đơng nhiệm Một lần nữa chính trờng Thái Lan lại nổi sóng.Trong suốt 3 tháng sau khi cuộc khủng hoảng chính thức bùng nổ, hàngtrăm cuộc biểu tình do các phe phái đối lập tổ chức đã diễn ra trên khắp

đất nớc Không có một ngày nào, trớc dinh Thủ tớng không có những ngời

đòi biểu tình Họ yêu cầu ông Chalavit phải từ chức vì điều hành kinh tếkém, Chính phủ Chalavit phải cải tổ nội các trớc cuộc bầu cử diễn ra vàotháng 5 năm 1998

Bên cạnh đó, báo giới và truyền thông của phe đối lập liên tiếp côngkích Chính phủ, các lực lợng Hồi giáo ở miền Nam đợc dịp đã nổi dậy đòi likhai với mức độ quyết liệt hơn Trong khi đó, làn sóng chống ng ời Hoa vốn

đã âm ỉ trong xã hội Thái Lan nay bị biến thành những vụ bạo động đổ máu.Ngời Hoa bị buộc tội đã nắm giữ và chi phối nhiều mạch máu kinh tế quantrọng ở Thái Lan, từ đó tích trữ và đầu cơ làm cho cuộc khủng hoảng tàichính trở nên trầm trọng hơn

Trang 30

Tất cả các vấn đề trên trở thành một sức ép chính trị nặng nề đè lênchiếc ghế Thủ tớng của ông Chalavit.

Trớc tình hình đó, tối ngày 21/10/1997, ông Chalavit đã triệu tập đợcmột cuộc họp với chỉ huy các lợng quân đội và cảnh sát, cùng lãnh đạo chủ

chốt của các đảng liên minh để "thảo luận những biện pháp an ninh nhằm

đối phó với những cuộc biểu tình" [10, tr.5] Tại cuộc họp này có ý kiến đề

nghị Chính phủ tuyên bố tình trạng khẩn cấp để trấn án làn sóng biểu tìnhcủa dân chúng Tuy nhiên, tớng Chétthanagiaro, t lệnh quân đội đã phản đốiquan điểm này, bởi theo ông, các cuộc biểu tình vẫn đang diễn ra hoà bìnhnên Chính phủ không nên đa ra những biện pháp cứng rắn không cần thiết

Đề nghị này đợc Thủ tớng Chalavit cùng đông đảo giới chức quân sự và cảnhsát đồng tình

Trớc đó, tối ngày 19/10/1997, trong một cuộc họp báo tại nhà riêng đ

-ợc truyền hình trực tiếp trên đài truyền hình quốc gia Bộ tr ởng Tài chínhThanong Bidiađay tuyên bố từ chức Trong bài phát biểu khi rời cơng vị củamình ông Thanong nói rằng sở dĩ ông rút lui vì muốn có một đội ngũ các nhàlãnh đạo kinh tế mới, trẻ trung, làm việc độc lập, đoàn kết và đ ợc sự ủng hộcủa công chúng

Sau khi ông Thanong Bidiađay tuyên bố từ chức, 48 thành viên trongnội các của ông Chalavit đồng loạt từ chức mở đờng cho Thủ tớng thực hiệnmột cuộc cải tổ toàn diện Ông Xatxai Xunhavăn, đồng minh chính trị lớnnhất của Thủ tớng Chalavit đã ra yêu sách đòi giao các bộ quan trọng nh : tàichính, thơng mại, viễn thông, công nghiệp, nông nghiệp cho ĐảngChapattana của ông Xatxai trong nội các mới đợc thành lập

Cũng trong tháng 10 năm 1997, Chính phủ Chalavit đã đệ trình lênQuốc hội Thái Lan bản Hiến pháp mới nhằm mở đờng cho các cải cách kinh

tế, tiến tới dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội đất nớc, trong đó u tiên hàng

đầu là đa Thái Lan nhanh chóng thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền

tệ Bản Hiến pháp mới cũng là một trong những động thái chính trị nhằm cứuvãn quyền lực của ông Chalavit và Đảng Nguyện vọng vốn đang bị chỉ tríchdữ dội Tuy nhiên, trong bối cảnh ngày càng một đen tối của nền kinh tế đấtnớc, vị trí chính trị của Thủ tớng Chalavit ngày càng bị lung lay nghiêmtrọng Không chỉ có các phe phái đối lập liên tiếp đấu tranh đòi ông Chalavitphải rời bỏ chiếc nghế Thủ tớng mà ngay trong liên minh cầm quyền do ônglãnh đạo, các đảng phái cũng nhân cơ hội này tìm cách làm suy yếu Đảng

Trang 31

Nguyện vọng mới của ông Chalavit để phân chia lại cơ cấu quyền lực trên vũ

đài chính trị Thái Lan

Trớc sức ép từ nhiều phía, sau 4 tháng tìm mọi cách để duy trì chiếcghế Thủ tớng của mình với mục tiêu sẽ vực dậy đợc nền tài chính - tiền tệcủa đất nớc, cuối cùng Thủ tớng Chalavit đã phải tuyên bố từ chức vào ngày3/11/1997 Cuộc khủng hoảng chính trị ở Thái Lan đã lên đến đỉnh điểm Sự

ra đi của ông Chalavit mặc dù hơi muộn nhng là một việc làm cần thiết nhằmxoa dịu bầu không khí chính trị ở Thái Lan, cũng nh sẽ mở đờng cho mộtChính phủ mới với những chính sách năng động, hợp lý nhằm nhanh chóng

đa đất nớc thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng

Đúng một tuần sau khi ông Chalavit rời khỏi cơng vị Thủ tớng, ngày9/11 Quốc vơng Thái Lan đã ký sắc lệnh bổ nhiệm cựu Thủ tớng ChuanLeekpai (ông Chuan Leekpai đã từng giữ chức vụ Thủ tớng vào năm 1992)làm Thủ tớng thứ 23 của Thái Lan Ngày 20/11/1997, lãnh tụ Đảng Dân chủChuan Leekpai chính thức nhậm chức cùng với một Chính phủ liên minhcầm quyền Trong bài diễn văn nhậm chức, Thủ tớng Chuan leekpai cho

rằng: "Ngời Thái đã quá hài lòng thoả mãn trong thời kì tăng trởng kinh tế nhanh và quên đi nhiều nhiệm vụ quan trọng để thích ứng với môi tr ờng toàn cầu đang thay đổi Mặc dù Thái Lan đã thu hút các dòng vốn với lãi suất thấp Nhng chúng ta đã không đợc đầu t đúng đắn với sự thận trọng cần thiết … Ng Ng ời Thái Lan đã sao nhãng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh Và điều quan trọng hơn là dù đã đạt đợc thành tựu kinh tế, Thái Lan

đã không kiểm tra nền tảng chính trị và quản lý nhà nớc của mình, đã không thành công trong việc tấn công về các vấn đề nh sự phối hợp hiệu quả của hệ thống chính quyền, thiếu minh bạch và thiếu trách nhiệm" [50, tr.89].

Lên nắm quyền trong bối cảnh nền kinh tế đất nớc đang trong giai

đoạn khủng hoảng trầm trọng, Chính phủ Thủ tớng Chuan Leekpai đã phải

đối mặt với hàng loạt những khó khăn từ hậu quả của cuộc khủng hoảng tàichính - tiền tệ đa lại.Yêu cầu về một cuộc cải cách toàn diện đợc đặt ra đốivới Thái Lan, trớc tiên là cải cách lĩnh vực tài chính - tiền tệ và sau đó là cáclĩnh vực kinh tế khác, nhằm phục hồi và phát triển kinh tế đất nớc

- Về xã hội:

Từ trớc khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bùng nổ, Thái Lan làquốc gia liên tục bất ổn về tình hình chính trị - xã hội Do đó khi cuộc khủnghoảng tài chính - tiền tệ xảy ra, cuộc khủng hoảng xã hội ở Thái Lan ngàycàng trở nên trầm trọng hơn

Trang 32

Năm 1996, tỷ lệ thất nghiệp ở Thái Lan chiếm khoảng 2% so với dân

số, tơng đơng 1,2 triệu ngời và là nớc có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất ĐôngNam á Đến khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ nổ ra tỷ lệ này đã giatăng: năm 1997 là 4%, năm 1998 là 6% [64, tr.227] Sự phá sản của hàngngàn doanh nghiệp đã làm cho số ngời bị mất việc làm tăng lên Chỉ tínhriêng năm 1998 đã có 670.000 ngời bị thất nghiệp, nâng tổng số ngời thấtnghiệp tính đến cuối năm 1998 lên hơn 3 triệu ng ời Trong khi đó, những ng-

ời may mắn không bị thất nghiệp thì phải chấp nhận lao động với đồng lơngchết đói, 77% trong số ngời lao động không đủ tiền gửi về cho gia đình ởnông thôn, khoảng 51,8% đang mang công mắc nợ và 50% không có khảnăng trả nợ Làn sóng đổ xô về Băng Cốc với hy vọng đ ợc hởng trợ cấp xãhội đã làm cho thủ đô Thái Lan nảy sinh thêm nhiều vấn đề xã hội nan giải.Nếu nh trớc đây quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Thái Lan đãbiến ngời nông dân thành công nhân thì nay dới tác động của cuộc khủnghoảng những ngời công nhân ấy lại quay về làm ruộng Số lợng nông nghiệptăng lên khoảng 600.000 ngời trong năm 1997, nông thôn trở thành nơi giảiquyết tình trạng thất nghiệp ở Thái Lan

Thất nghiệp cũng trở thành nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hộikhác Theo báo cáo của các tổ chức phi Chính phủ, phụ nữ là những ngời bịthiệt thòi và bị lạm dụng nhiều nhất trong cuộc khủng hoảng kinh tế Thunhập sa sút và giá cả sinh hoạt tăng cao đã gây nhiều khó khăn trong vấn đềtài chính của các hộ gia đình, nhiều phụ nữ và trẻ em gái bị rơi vào tay bọnbuôn ngời Nhiều ngời do chán chờng vì bị thất nghiệp đã lao vào con đờng

cờ bạc, ma tuý, trộm cắp, mại dâm, số lợng ngời già neo đơn và trẻ em langthang lên đến con số hàng triệu ngời, sức mua của ngời dân giảm 30% so vớitrớc khủng hoảng

Khủng hoảng tài chính đã đẩy hàng triệu hộ gia đình xuống mức thu

nhập thấp do giá tiêu dùng và giá lơng thực thực phẩm cao "Mặc dù Thái Lan là một nớc có nền nông nghiệp phát triển khá tốt, xuất khẩu gạo nhiều năm đứng đầu thế giới nhng tỷ lệ lạm phát giá lơng thực, thực phẩm năm

1998 là 11,1% so với năm 1997 chỉ là 7%" [64, tr.227] Giá cả leo thang,

trong khi đồng Bạt lại mất giá làm cho các khoản tiết kiệm bị tiêu tán trongkhoảng thời gian ngắn

Bảng 3: Tỷ lệ ngời nghèo ở Thái Lan và Inđônêxia năm 1998 (%)

Tỷ lệ ngời nghèo so với tổng số dân Inđônêxia Thái Lan

Số ngời nghèo mới trong thời kì khủng hoảng 4,8 2,3

Trang 33

Số ngời nghèo mới do thất nghiệp 6,4 9,3

(Nguồn: [64, tr.228])Cuộc khủng hoảng đã làm cho Thái Lan có thêm 2,3% dân số rơi vàotình trạng nghèo đói Theo số liệu của Ngân hàng phát triển châu á thì có tới40% hộ gia đình nông dân ở Thái Lan không còn một chút tiền tiết kiệm nào.Trong số 6 triệu ngời trên 60 tuổi ở Thái Lan, có tới trên 20% sống không cócon cái chăm sóc, 4% phải tự vật lộn với cuộc sống cô đơn Năm 1998, TháiLan có khoảng 2 triệu ngời sống trong các khu nhà ổ chuột, 58,5% trong số

đó sống ở Băng Cốc Cuộc khủng hoảng khiến 34% c dân trong các khu ổchuột bị sa thải, 21,2% bị cắt giảm lơng và 22,5% phải chấp nhận đồng lơngchết đói Thậm chí có những ngời còn phải bán khu nhà ổ chuột của mình để

mua lơng thực, thực phẩm và buộc phải sống trong cảnh "màn trời chiếu

đất" Ngời Thái buộc phải từ bỏ thói quen tiêu xài xa xỉ của mình khiến

nhiều dịch vụ xã hội phải ngừng hoạt động Lo âu và tuyệt vọng bao trùm lêntoàn bộ đời sống tâm lý của ngời lao động và tầng lớp doanh nhân, nhiều ng-

ời đã nhảy lầu tự tử vì khủng hoảng tinh thần Cuộc khủng hoảng rõ ràngkhông chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế

* Tiểu kết

Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ đã làm cho khát vọng "hoá rồng"

của Thái Lan vào đầu thế kỷ XXI cha thể trở thành hiện thực Sự nóng vội vàcả những sai lầm trong chiến lợc phát triển đất nớc đã làm cho nền kinh tếbộc lộ nhiều khuyết tật và dẫn tới khủng hoảng Sở dĩ cuộc khủng hoảng tàichính - tiền tệ bùng nổ đầu tiên ở Thái Lan bởi vì trong hệ thống kinh tế -chính trị của Thái Lan tồn tại nhiều mô hình phát triển cha phù hợp, nhữngkhuyết tật nảy sinh ngày càng nhiều và trở thành nguy cơ đe doạ tới sự pháttriển bền vững của đất nớc, những nguy cơ dẫn đến khủng hoảng đã đợctích tụ trong một thời gian dài Hơn nữa, trong suốt nửa đầu của năm

1997, Chính phủ Thái Lan đã dồn hết mọi nỗ lực để ngăn chặn cơn bãotài chính nhng cuối cùng đành phải bất lực và buộc phải tuyên bố thả nổi

đồng Bạt Điều bất ngờ và nằm ngoài dự đoán của các chuyên gia kinh tế

đó là phạm vi lan toả và tính chất khốc liệt của cuộc khủng hoảng tàichính - tiền tệ của Thái Lan

Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái gần nh cố định,Chính phủ Thái Lan đã buộc phải tuyên bố thả nổi đồng Bạt, mở đầu cho một

đợt khủng hoảng tài chính - tiền tệ kéo dài hơn hai năm Từ lĩnh vực tài

Trang 34

chính - tiền tệ, cuộc khủng hoảng đã tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sốngkinh tế - xã hội Thái Lan Hai năm vật lộn với cuộc khủng hoảng đã làm chonền kinh tế đất nớc suy kiệt, nền chính trị vốn đã bất ổn càng bất ổn trầmtrọng hơn, hàng loạt các vấn đề xã hội mới nảy sinh đã đa đất nớc Thái Lantrớc một thử thách hết sức lớn lao trớc thềm thiên niên kỷ mới, thời điểm màngời Thái dự định sẽ trở thành một nớc công nghiệp mới.

Có thể nói rằng, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ đã làm cho Thái

Lan "lỡ tàu" trong hành trình gia nhập vào câu lạc bộ những nớc công nghiệp

mới Tuy nhiên, chính cuộc khủng hoảng cũng là lúc để ngời Thái nhìn nhậnlại thực lực của mình để có những cải cách, điều chỉnh chính sách phù hợpnhằm đa đất nớc phát triển lên một tầm cao mới mang tính ổn định và bềnvững hơn

Chơng 2 Chính sách phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội

Thái Lan từ sau khủng hoảng 1997 đến 2006

2.1 Chính sách phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong kế hoạch 5 năm lần thứ 8 (1997 - 2001)

2.1.1 Những biện pháp giải quyết khủng hoảng của chính phủ Thái Lan.

2.1.1.1 Biện pháp về kinh tế

Ngay trớc khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ chính thức bùng nổvào ngày 2/7/1997, Chính phủ Thái Lan đã dồn mọi nỗ lực để cứu vãn đồng

Trang 35

Bạt Nhà nớc đã trấn an d luận bằng cách bảo đảm sẽ đứng ra thay thế cácngân hàng không có khả năng trả nợ, đồng thời đổ dự trữ ngoại tệ ra mua đồngBạt Chỉ tính riêng trong tháng 5/1997, Ngân hàng Trung ơng Thái Lan đãphải chi gần 5 tỷ USD để mua đồng Bạt, làm cho dự trữ ngoại tệ của quốc giagiảm xuống còn 33 tỷ USD Cuối tháng 6/1997, Chính phủ đã ra lệnh đóngcửa 16 ngân hàng và công ty tài chính đang bên lề phá sản Một loạt các biệnpháp nhằm chấn hng tài chính nh cho phép tăng mức cổ phần nớc ngoài nắmgiữ trong các ngân hàng Thái Lan, khuyến khích các ngân hàng đang khókhăn sáp nhập vào nhau và thiết lập luật lệ khắt khe hơn trong kiểm soát tàichính nhằm cứu vãn nguy cơ phá giá của đồng Bạt Giới ngân hàng hởng ứngbằng cách lập ra một quỹ tơng trợ 700 triệu USD để giữ giá cổ phần các công

ty trọng yếu của nền kinh tế

Các biện pháp trên tạm thời đã ngăn chặn đợc cuộc khủng hoảng, gópphần thuyết phục giới đầu t không bỏ rơi thị trờng chứng khoán Băng Cốc,tránh lặp lại bài học Mêhicô 1999

Tuy nhiên, những biện pháp nhằm cứu vãn đồng Bạt nêu trên rất tốnkém và chỉ mang tính nhất thời, chỉ là giải pháp tình thế Hơn nữa những biệnpháp ấy lẽ ra phải đợc thực hiện sớm hơn từ khi giá trị thực của đồng Bạt bịgiảm nh khuyến cáo của các chuyên gia kinh tế

Trớc tình trạng nợ nớc ngoài ngày một gia tăng vì các công ty Thái Lan

có xu hớng vay mới để trả nợ cũ, vay chỗ này để lấp vào chỗ khác, sau mấytháng cầm cự, cuối cùng Chính phủ Thái Lan phải chịu thua giới đầu t để thảnổi đồng Bạt

Ngay sau khi tuyên bố thả nổi đồng Bạt, Bộ trởng Tài chính Thái Lantìm cách trấn an d luận, nhất là giới đầu t bằng cách hứa không để cho đồngBạt tụt dốc qua mức 28 Bạt/USD, Thái Lan sẵn sàng tung dự trữ ngoại tệ ra đểgiữ giá đồng Bạt khi cần thiết Tuy nhiên, những cam kết của ông ThanongBidiaday, tân Bộ trởng Tài chính Thái Lan là rất khó có thể thực hiện đợc Vìthế, nguồn vốn trong nớc tiếp tục đợc rút ra nớc ngoài, giới đầu t tìm mọi cáchtháo chạy khỏi thị trờng Thái Lan, đồng Bạt liên tục bị mất giá Trong bốicảnh hết sức khó khăn ấy, Chính phủ Thái Lan đã thông qua kế hoạch kinh tếtổng thể bao gồm 9 điểm Đây không phải là kế hoạch do ngời Thái đa ra dựatrên thực trạng kinh tế của đất nớc mà thực chất là một bản cam kết với IMFnhằm đạt đợc những thoả thuận về tài trợ Nội dung bản kế hoạch này baogồm 9 điểm nh sau:

Trang 36

- Đóng cửa 42 công ty tài chính và cho các công ty này thời hạn 60ngày để đa ra kế hoạch cải tổ.

- Bảo lãnh cho các khoản tiền gửi và các khoản thanh toán nợ của cáccông ty tài chính này

- Lập một chơng trình tiền gửi ngân hàng

- Duy trì dự trữ ngoại tệ ở mức khoảng 25 tỷ USD, tơng đơng 3,5 thángtiền nhập khẩu

- Tăng thuế VAT từ 7%/năm lên 10%/năm

- Cắt giảm ngân sách năm 1998 xuống còn 50 - 70 tỷ Bạt (1,6 - 2,4 tỷ USD)

- Giảm thâm hụt tài khoản vãng lai từ mức 8% GDP/năm xuống còn 5%GDP/năm vào cuối năm 1997 và 3% GDP/năm vào năm 1998

- Lạm phát sẽ đợc duy trì ở mức từ 8- 9% trong năm 1997 xuống 5,9%năm 1998

- Tốc độ tăng trởng GDP đạt mức 3% và 4% cho hai năm 1997 và năm 1998.Bên cạnh kế hoạch tổng thể trên đây, Chính phủ và các bộ ngành có liênquan của Thái Lan cũng tìm ra những biện pháp cụ thể để khắc phục cuộckhủng hoảng

Đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng: Dới sức ép của IMF, tháng

12/1997, Chính phủ Thái Lan tuyên bố đóng cửa 56 công ty tài chính trong

n-ớc bị vỡ nợ Tiếp đó, Ngân hàng Trung ơng Thái Lan đã công bố sắc lệnh 3

điểm cho các ngân hàng thơng mại, gồm:

- Đạt đợc 8,3% tỷ lệ vốn tự có

- Nhấn mạnh khái niệm nợ khó đòi

- Khoản tiền ký quỹ khấu trừ tơng ứng với thời gian kéo dài Chấp nhậntrong 10 năm tới, tổ chức ngân hàng nớc ngoài đợc phép đầu t trên 80% vốnvào các ngân hàng nhằm thúc đẩy tăng vốn đầu t

Cũng đồng thời với các biện pháp cải tổ hoàn toàn hệ thống tài chínhcủa đất nớc, Chính phủ Thái Lan cũng đặc biệt chú trọng đến việc xử lý nợcủa các doanh nghiệp và các ngân hàng Theo đó, Ngân hàng Trung ơng TháiLan thành lập một uỷ ban xử lý nợ và yêu cầu các ngân hàng và các doanhnghiệp nhanh chóng hợp tác để giải quyết vấn đề nợ Tháng 3/1999, Quốc HộiThái Lan đã thông qua luật toà án giải quyết công ty phá sản, sửa đổi luật phásản và hoàn thiện các bộ luật khác có liên quan đến việc phá sản của doanhnghiệp Kể từ đó, công việc xử lý nợ - một công việc hết sức phức tạp, mớithực sự đi vào hoạt động

Trang 37

Chính phủ Thái Lan tiếp tục theo đuổi chính sách sáp nhập và mua bán

cổ phần trong các công ty tài chính, Ngân hàng Trung ơng Thái Lan tập trungxác định rõ quy chế, thời gian tiến hành điều chỉnh lại cơ cấu nợ và chủ trơng

để cho các ngân hàng quốc doanh giữ vai trò tiên phong trong việc tiến hành

các biện pháp hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu nợ Các biện pháp cụ thể là: ''Điều chỉnh lãi suất cho khách hàng tham gia thơng lợng nợ, giảm tỷ lệ lãi suất đối với toàn bộ hoặc một phần số nợ cha thanh toán; gia hạn tiền lãi còn tồn

đọng, linh động trong thanh toán nợ gốc, gia hạn thanh toán nợ đối với các hoạt động đến hạn, linh động cho lấy tiền thanh toán nợ để trừ vào nợ gốc tr- ớc; nhận chuyển nhợng tài sản để thanh toán nợ" [23, tr.70].

Song song với các biện pháp trên, Chính phủ Thái Lan còn thành lập cơquan sắp xếp lại tài chính do ông Thaoatchai Yôngkium, Th kí Hiệp hội cácnhà băng Thái Lan đứng đầu nhằm thổi một luồng sinh khí mới vào nền tàichính đang ốm yếu của đất nớc

Đối với lĩnh vực thơng mại: Sau khi đạt đợc giá trị xuất khẩu cao (1998

thặng d thơng mại đạt trên 12,3 tỷ USD ), bớc sang năm 1999 tình hình xuấtkhẩu của Thái Lan đã chững lại Trớc tình hình đó, Chính phủ Thái Lan đãgấp rút giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu xuống còn 0% nhất là đối với ngànhcông nghiệp có giá trị xuất khẩu cao, trợ giúp tài chính cho công nghiệp dệtmay, công nghiệp vừa và nhỏ Bên cạnh đó, Thái Lan đã thành lập Uỷ banquản lý tín dụng xuất khẩu nhằm kích thích các ngân hàng thơng mại cấp tíndụng cho xuất khẩu, đồng thời tìm cách tiếp cận với các thị trờng mới nhTrung Đông, Mỹ Latinh và Châu Phi

Đối với lĩnh vực đầu t: Sau cải cách Hiến Pháp 1997, Quốc hội Thái

Lan đã thông qua nhiều đạo luật sửa đổi nhằm thu hút đầu t của nớc ngoài nh

đạo luật phá sản, đạo luật tịch thu tài sản thế chấp, đạo luật thành lập toà ánphá sản… [31, tr.1]., đặc biệt là cải cách luật kinh doanh Chính phủ Thái Lan đã chủ tr-

ơng tự do hoá kinh doanh bằng việc sửa đổi đạo luật kinh doanh đợc ban hành

từ thập kỷ 60 của thế kỷ trớc cấm các công ty nớc ngoài và kiều dân khôngphải là ngời Thái Lan hoạt động kinh doanh trong một số ngành nghề có liênquan đến an ninh quốc gia Theo tinh thần của đạo luật cải cách, kiều dân nớcngoài đã đợc nới lỏng những quy định về hạn chế tự do kinh doanh Đây làmột bớc tiến của Chính phủ Thái Lan trong việc tự do hoá nền kinh tế nhằmthu hút đầu t của nớc ngoài

Nhìn chung, trong bối cảnh vô cùng khó khăn do tác động của cuộckhủng hoảng tài chính - tiền tệ, Chính phủ Thái Lan đã hết sức nỗ lực trong

Trang 38

việc tìm ra các biện pháp thích hợp nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng, mặc

dù có nhiều biện pháp cha thực sự phát huy tác dụng Tuy nhiên, về cơ bảncác chính sách kinh tế - tài chính mà Chính phủ Thái Lan đề ra đã góp phần

ổn định tình hình kinh tế đất nớc, nhiều lĩnh vực kinh tế đã đem lại nguồnngoại tệ lớn, từng bớc khắc phục đợc hậu quả của cuộc khủng hoảng Đếngiữa năm 1999, kinh tế Thái Lan đã tăng trởng trở lại sau hai năm đạt chỉ sốtăng trởng dới 0%

2.1.1.2 Biện pháp về chính trị - xã hội

Mặc dù đợc xây dựng theo mô hình chính trị phơng tây nhng trong cơcấu hệ thống chính trị ở Thái Lan vẫn còn tồn tại những yếu tố phi dân chủ.Các học giả và các nhà báo thích đề cập đến Thái Lan nh đất nớc ở Đông Nam

á có sự trải nghiệm lâu dài nhất về sự cai trị độc lập và dân chủ Tuy nhiên,lịch sử chính trị của Thái Lan đợc mô tả rõ hơn là sự dao động giữa những thờikì khác nhau của sự cai trị quân sự và dân sự Sự quá độ của Thái Lan sang sựcai trị dân chủ vào cuối những năm 1980 là mong manh Mặc dù hoạt độngchính trị bầu cử đợc mở rộng, nhng quân đội vẫn khá mạnh Lực lợng quân sựnhiều lần tuyên bố không can thiệp sâu vào tình hình kinh tế đất nớc nhng trênthực tế lực lợng này vẫn chiếm đa số trong Thợng nghị viện Thái Lan Quân

đội đã vận dụng ảnh hởng của mình thông qua cả các biện pháp đợc quy định

về pháp lý, nh các ghế của họ trong Hạ viện và trong Thợng nghị viện đợc chỉ

định, lẫn thông qua những phơng pháp ngoài hiến pháp nh nỗ lực đảo chính, để can thiệp sâu hơn vào tình hình chính trị Điều đặc biệt là Th

Thực tế cho thấy, ở Thái Lan các chính phủ đợc thành lập phần lớn đều

là liên minh cầm quyền của nhiều đảng, do đó những ngời lãnh đạo rất khótìm đợc tiếng nói chung trong việc điều hành kinh tế đất nớc

Trớc tình đó, yêu cầu về các biện pháp cải cách chính trị để góp phầngiải quyết cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ nói riêng và mở đờng cho việc

tự do hoá nền kinh tế nói chung trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết

đối với Thái Lan

Vào thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, thànhcông về kinh tế của Thái Lan là nổi tiếng Sự tăng trởng kinh tế đã tạo ra mộttầng lớp trung lu và doanh nhân đáng kể Giới tinh hoa kinh doanh đã đòi hỏinhiều hơn từ hệ thống chính trị Họ đã đem lại những khoản tiền lớn cho các

Trang 39

chiến dịch tranh cử và phát triển các mối liên hệ với những công chức trongcác Bộ gắn liền với ngành công nghiệp của họ.

Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bùng nổ, làn sóng biểu tình phản

đối Chính phủ điều hành kinh tế kém và đòi ông Chalavit phải từ chức, Chínhphủ Thái Lan đã đa ra các biện pháp mang tính ôn hoà và dân chủ Điều nàykhác hẳn với Inđônêxia, Chính phủ của ông Xuháctô đã ra lệnh cho cảnh sátbắn vào đoàn ngời biểu tình chống đối Ngay sau khi cuộc khủng hoảng bùng

nổ, các phe phái đối lập đã lợi dụng cơ hội này để công kích Chính phủ, tìnhhình chính trị Thái Lan luôn trong tình trạng căng thẳng Tuy nhiên, nhữngquan điểm về thiết lập tình trạng khẩn cấp đã bị giới lãnh đạo Thái Lan bác

bỏ, vì thế nên cuộc khủng hoảng chính trị ở Thái Lan đã không xẩy ra bạoloạn đổ máu

Ngày 15/08/1997, Thủ tớng Thái Lan Chavalit đã tiến hành cải tổ nộicác, thay đổi các chức vụ chủ chốt liên quan đến các lĩnh vực kinh tế - tàichính - tiền tệ, nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả kế hoạch phục hồi kinh

tế Theo đó, 6 Bộ trởng chính bị thay thế, trong đó có Bộ trởng Nội vụ ÔngPrachuab Chayyasarn giữ chức Ngoại trởng Trong cuộc cải tổ này, nhà tỷ phútrong ngành viễn thông Thaksin Shinawatra, cựu phó Thủ tớng và Bộ trởngNgoại giao, thủ lĩnh Đảng sức mạnh tinh thần đợc cử làm phó Thủ tớng đặctrách các dự án lớn

Chính phủ Thái Lan cũng đã đa ra chơng trình chống tham nhũng và

đầu cơ nhằm loại bỏ những phần tử lợi dụng cuộc khủng hoảng để thu lợi bấtchính ra khỏi bộ máy chính quyền, gây dựng lòng tin đối với ngời dân Cuốinăm 1999, Quốc hội Thái Lan đã bỏ phiếu bất tín nhiệm 3 Bộ trởng trongChính phủ của ông Chuan Leekpai

Tháng 5 năm 1998, sau rất nhiều nỗ lực, cuối cùng Hạ viện Thái Lan đãthông qua bản Hiến pháp mới đợc đề ra từ tháng 10 năm 1997 Đây đợc coi lànền tảng cho những cải cách về kinh tế, chính trị của Thái Lan nhằm đa đất n-

ớc thoát khỏi cuộc khủng hoảng D luận Thái Lan cũng coi đây là một Hiếnpháp tiến bộ, nhằm loại trừ tệ nạn tham nhũng, tình trạng mua phiếu cử tritrong các cuộc bầu cử đã tồn tại nhiều năm ở Thái Lan

Những yếu tố quan trọng nhất của Hiến pháp là các điều khoản đề cập

đến những cải cách về bầu cử và việc tạo ra những thể chế mới nhằm hạn chếnạn tham nhũng và những lạm dụng quá trình chính trị Việc bỏ phiếu bầu đãtrở thành nghĩa vụ, các Thợng nghị sĩ đợc bầu lên thay vì đợc chỉ định khôngcòn đợc phép đảm nhận vị trí Bộ trởng trong Chính phủ cũng nh không thể

Trang 40

chuyển sang các đảng khác trong vòng 90 ngày trớc một cuộc bầu cử Đây

đ-ợc xem là bớc tiến quan trọng trong tiến trình dân chủ hoá nền chính trị TháiLan, loại bỏ dần sự chi phối của giới quân sự vào tình hình kinh tế, chính trịcủa đất nớc Các mục tiêu đằng sau những thay đổi này là nhằm tách riêngquyền hành pháp và lập pháp và tăng cờng sự ổn định Bằng cách khiến việc

bỏ phiếu trở thành bắt buộc, các nhà cải cách đã hy vọng rằng việc mua láphiếu sẽ trở nên khó khăn và tốn kém hơn

Ba sự thay đổi về mặt thể chế quan trọng nhất bắt nguồn từ Hiến phápnăm 1997 là việc tạo ra các cơ quan mới để giám sát quá trình hoạt độngchính trị

Thứ nhất, một toà án Hiến pháp với 15 quan toà, đợc nhà vua chỉ địnhtheo sự cố vấn của Thợng nghị viện Toà án có tiếng nói cuối cùng về việc giảithích Hiến pháp

Thứ hai, một ủy ban bầu cử (do Thợng nghị viện lựa chọn) nhằm giámsát các cuộc bầu cử ủy ban này có thể loại các ứng cử viên và yêu cầu cáccuộc bầu cử mới

Thứ ba, một ủy ban chống tham nhũng quốc gia với quyền điều tranhững vấn đề tài chính của các chính trị gia và gia đình của họ Uỷ ban này cóthể khuyến nghị Thợng nghị viện cách chức những chính trị gia tham nhũng

Rõ ràng là, những thể chế trên đều nhằm mục đích hạn chế nạn thamnhũng và mua chuộc bầu cử

Cũng theo tinh thần của Hiến pháp mới, các diễn đàn dân chủ đã đợc

mở rộng trong nhân dân Hàng tháng các thành viên chính phủ phải trả lời qua

điện thoại về các vấn đề mà ngời dân thắc mắc

Cuối năm 1999 và đầu năm 2000, các cuộc bầu cử Thợng viện và Hạviện đã đợc tiến hành ở Thái Lan Tuy nhiên, hiện tợng mua bán phiếu bầu,gian lận trong bầu cử đã làm cho chính trờng Thái Lan nổi sóng Mâu thuẫngiữa các đảng phái ngày càng trầm trọng, niềm tin của ngời dân vào các nhàchính trị đã bị giảm sút Nếu so sánh với các biện pháp kinh tế thì các biệnpháp chính trị của Thái Lan vẫn cha đáp ứng đợc mong đợi của ngời dân

Đối với các vấn đề xã hội: Cuộc khủng hoảng năm 1997 đã có tác độnglớn đến vấn đề nghèo đói Nếu nh tốc độ tăng trởng cao đã làm tỷ lệ nghèo đóigiảm từ 32,6% năm 1988 xuống còn 11,4% năm 1996, thì cuộc khủng hoảngtài chính - tiền tệ đã làm xói mòn thành quả của quá trình này, khiến cho tỷ lệnghèo tăng từ 11,4% năm 1996 lên 15,9% năm 1999 [29, tr.13]

Bảng 4: Tỷ lệ nghèo đói từ năm 1998 đến năm 2002.

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Báo Matichon - Thái Lan (25/9/1999), "3 biện pháp cấp bách để phục hồi kinh tế Thái Lan", t liệu dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: 3 biện pháp cấp bách để phục hồi kinh tế Thái Lan
3. Báo Matichon - Thái Lan (21/2/1999), "Thái Lan: 6 phơng hớng giải quyết kinh tế", t liệu dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Lan: 6 phơng hớng giải quyết kinh tế
6. Báo Ngoại thơng (2006), "Tình hình và triển vọng nền kinh tế Thái Lan" , số 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình và triển vọng nền kinh tế Thái Lan
Tác giả: Báo Ngoại thơng
Năm: 2006
8. Báo Ngoại thơng (2007), "Kinh tế Thái Lan - những thành tựu", số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Thái Lan - những thành tựu
Tác giả: Báo Ngoại thơng
Năm: 2007
10. Báo Quân đội Nhân dân (25/10/1997), "Cuộc khủng hoảng "Kép" ở Thái Lan&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc khủng hoảng "Kép
15. Nguyễn Thị Bích (2000), "Phục hồi kinh tế ASEAN và những thách thức", Tạp chí Cộng sản, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi kinh tế ASEAN và những thách thức
Tác giả: Nguyễn Thị Bích
Năm: 2000
16. Bộ Thơng mại (1998), Khủng hoảng tài chính - tiền tệ: Nguyên nhân và bài học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tài chính - tiền tệ: Nguyên nhân và bài học
Tác giả: Bộ Thơng mại
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
17. Trần Thị Minh Châu (2005), "Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở một số nớc châu á và bài học rút ra cho Việt Nam", Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở một số nớc châu á và bài học rút ra cho Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Minh Châu
Năm: 2005
18. Hoàng Thị Chỉnh (1998), "Từ cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan đến biến động tiền tệ ở Đông Nam á, nguyên nhân và hậu quả", Tạp chí Phát triÓn kinh tÕ, sè 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan đến biến động tiền tệ ở Đông Nam á, nguyên nhân và hậu quả
Tác giả: Hoàng Thị Chỉnh
Năm: 1998
19. Nguyễn Anh Chơng (2004), "Chính sách đối ngoại của Thái Lan và quan hệ Thái Lan - Việt Nam từ 1991 đến 2003", Luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Thái Lan và quan hệ Thái Lan - Việt Nam từ 1991 đến 2003
Tác giả: Nguyễn Anh Chơng
Năm: 2004
20. Daniel Kinh (1995), "Thái Lan: Xã hội mở cửa, kinh tế năng động, một nền chính trị phức tạp", tài liệu dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Lan: Xã hội mở cửa, kinh tế năng động, một nền chính trị phức tạp
Tác giả: Daniel Kinh
Năm: 1995
21. Nguyễn Xuân Dũng (2002), Một số định hớng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số định hớng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
Tác giả: Nguyễn Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2002
22. Chu Đức Dũng, Bùi Trờng Giang (2001), "Tác động của sự kiện ngày 11/9 và cuộc tấn công trả đũa của Mỹ đến nền kinh tế thế giới" , Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của sự kiện ngày 11/9 và cuộc tấn công trả đũa của Mỹ đến nền kinh tế thế giới
Tác giả: Chu Đức Dũng, Bùi Trờng Giang
Năm: 2001
23. Nguyễn Quang Duy (2006), "Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan (1997 - 1999)", Luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan (1997 - 1999)
Tác giả: Nguyễn Quang Duy
Năm: 2006
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1986
25. Lê Thị Anh Đào (2004), "Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thái Lan - liên hệ với Việt Nam" , Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thái Lan - liên hệ với Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Anh Đào
Năm: 2004
26. Đỗ Đức Định, Nguyễn Duy Lợi (2003), "Chất lợng tăng trởng của Thái Lan", Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lợng tăng trởng của Thái Lan
Tác giả: Đỗ Đức Định, Nguyễn Duy Lợi
Năm: 2003
27. Võ Tá Hân, Trần Quốc Hùng, Vũ Quang Việt (2000), Châu á từ cuộc khủng hoảng nhìn về thế kỷ XXI, Nxb Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châu á từ cuộc khủng hoảng nhìn về thế kỷ XXI
Tác giả: Võ Tá Hân, Trần Quốc Hùng, Vũ Quang Việt
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2000
28. Nguyễn Thị Hiền (2000), "Một số vấn đề hội nhập kinh tế khu vực của Thái Lan trong thời gian qua", Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề hội nhập kinh tế khu vực của Thái Lan trong thời gian qua
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2000
29. Ngô Minh Hiền (2000), "Tăng trởng kinh tế và vấn đề nghèo ở Thái Lan", Viện nghiên cứu Đông Nam á, hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trởng kinh tế và vấn đề nghèo ở Thái Lan
Tác giả: Ngô Minh Hiền
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng quy ớc những chữ viết tắt trong luận văn - Sự phục hồi và phát triển kinh tế   xã hội thái lan từ sau cuộc khủng hoảng 1997 đến năm 2006
Bảng quy ớc những chữ viết tắt trong luận văn (Trang 2)
Bảng 2: Tình hình xuất nhập khẩu của một số nớc châu á từ 1996 - 1998. - Sự phục hồi và phát triển kinh tế   xã hội thái lan từ sau cuộc khủng hoảng 1997 đến năm 2006
Bảng 2 Tình hình xuất nhập khẩu của một số nớc châu á từ 1996 - 1998 (Trang 27)
Bảng 4: Tỷ lệ nghèo đói từ năm 1998 đến năm 2002. - Sự phục hồi và phát triển kinh tế   xã hội thái lan từ sau cuộc khủng hoảng 1997 đến năm 2006
Bảng 4 Tỷ lệ nghèo đói từ năm 1998 đến năm 2002 (Trang 49)
Bảng 5: Tốc độ tăng trởng GDP của Thái Lan  từ 1997 - 2001 - Sự phục hồi và phát triển kinh tế   xã hội thái lan từ sau cuộc khủng hoảng 1997 đến năm 2006
Bảng 5 Tốc độ tăng trởng GDP của Thái Lan từ 1997 - 2001 (Trang 63)
Bảng 6: Giá trị xuất khẩu của Thái Lan từ 1998 - 2001 (đơn vị tính: tỷ Bạt) - Sự phục hồi và phát triển kinh tế   xã hội thái lan từ sau cuộc khủng hoảng 1997 đến năm 2006
Bảng 6 Giá trị xuất khẩu của Thái Lan từ 1998 - 2001 (đơn vị tính: tỷ Bạt) (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w