phương Tây, đặc biệt là chịu ảnh hưởng sâu xa của phương pháp sáng táckhoa học phương Tây, nhưng tâm hồn vẫn đậm đà bản sắc dân tộc” [21, 381].Ở mục Đinh Gia Trinh trong cuốn Từ điển văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh
Trang 33 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát 10
Chương 1
ĐINH GIA TRINH TRONG ĐỜI SỐNG PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM
NỬA ĐẦU NHỮNG NĂM 40, THẾ KỈ XX
1.1 Phê bình văn học Việt Nam 1941-1945 trong đời sống văn học
1.1.1 Tiến trình hiện đại hóa phê bình văn học Việt Nam nửa đầu
1.1.1.2 Cơ sở xã hội, văn hóa, văn học của việc hiện đại hóa phê bình
1.1.2 Thời điểm 1941 - 1945 với những tành tựu nổi bật của phê bình
1.2 Đinh Gia Trinh - một gương mặt phê bình văn học 1941-1945 311.2.1 Đinh Gia Trinh - Vài nét về tiểu sử 31 1.2.2 Đinh Gia Trinh với nhóm Thanh nghị 32
Trang 41.2.2.1 Vài nét về nhóm Thanh nghị và Tạp chí Thanh nghị 321.2.2.2 Đinh Gia Trinh, một cây bút phê bình văn học sáng giá trên
Chương 2
NHỮNG ĐỐI TƯỢNG VÀ VẤN ĐỀ NỔI BẬT TRONG LĨNH VỰC
PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA ĐINH GIA TRINH
2.1 Sự đa dạng trong đối tượng phê bình văn học của Đinh Gia Trinh 422.2 Đinh Gia Trinh và mối quan tâm thường trực tới sự phát triển
2.2.1 Khẳng định sự giao lưu với phương Tây như một xu thế tất yếu
trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc 472.2.2 Vấn đề bản sắc Việt Nam của văn học trong bối cảnh giao lưu,
2.2.3 Mối quan hệ biện chứng giữa giao lưu, hội nhập với việc xây dựngbản sắc Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa văn học 622.2.4 Gợi mở xây dựng một nền văn chương chân chính 662.2.4.1 Đặc điểm của nền văn chương truyền thống Việt Nam 662.2.4.2 Tiêu chí một nền văn chương chân chính theo quan niệm của
Chương 3
PHƯƠNG PHÁP PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA ĐINH GIA TRINH
3.1 Phê bình theo phương pháp khoa học 78
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Đinh Gia Trinh là một trong số không nhiều những nhà phê bình vănhọc hiện đại có chuyên môn cao ở Việt Nam vào những năm trước Cáchmạng tháng Tám 1945 Tuy là một luật sư nhưng vào giai đoạn trước năm
1945 của thế kỷ XX, với tư cách cách là người phụ trách mảng văn học, xã
hội trên Tạp chí Thanh nghị, ông đã có rất nhiều bài phê bình văn học có giá
trị Đinh Gia Trinh là người có ý thức rất rõ về vai trò của công tác lý luậnphê bình trong đời sống văn học Những vấn đề văn học mà Đinh Gia Trinhđặt ra tuy đã cách xa chúng ta hơn nửa thế kỉ nhưng những giá trị của nó vẫncòn nguyên tính thời sự
1.2 Nghiên cứu về Đinh Gia Trinh với tư cách là một nhà phê bình vănhọc không chỉ giúp ta hiểu thêm về sự nghiệp phê bình của tác giả mà còngóp phần hiểu hơn quá trình phát triển tư tưởng phê bình của văn học ViệtNam thế kỉ XX Bởi xét về mặt tổng quan, sự nghiệp phê bình văn học củaĐinh Gia Trinh là một mắt xích quan trọng trong diễn trình của tư tưởng phêbình văn học Việt Nam thế kỉ XX Trong thời kì 1941-1945 hội tụ hầu như tất
cả những tinh hoa của nghệ thuật phê bình, Đinh Gia Trinh cùng những trangphê bình văn học của mình vẫn có được chỗ đứng vững chắc và mang mộtmàu sắc độc đáo Điều này khẳng định được tài năng, cá tính và những đónggóp lớn của Đinh Gia Trinh đối với lĩnh vực phê bình văn học Nó không chỉđịnh vị một góc nhìn phê bình của một tác giả mà còn giúp ta hình dung đượcdiện mạo của phê bình văn học Việt Nam những năm đầu của thập niên 40,thế kỉ XX
1.3 Trên thực tế, mảng phê bình văn học đã được đưa vào giảng dạy trongnhà trường Tác phẩm phê bình văn học của Đinh Gia Trinh đã được đưa vào
Trang 7chương trình sách Ngữ văn đổi mới (sách Ngữ văn 11, tập 1, Ban Cơ bản) Vìthế, nghiên cứu về sự nghiệp phê bình của Đinh Gia Trinh sẽ giúp tôi rấtnhiều trong việc dạy học văn học nói chung và dạy học mảng lý luận, phêbình văn học nói riêng
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Đinh Gia Trình đã có ngót trăm bài viết về lĩnh vực văn học trên Tạp chí
Thanh nghị trong khoảng từ 1941 đến 1945, thời gian mà tạp chí này hoạt
động Tuy vậy, những đóng góp của nhà phê bình này chưa được các học giảđương thời nghiên cứu nhiều Hầu hết các bài viết hay các công trình nghiêncứu về Đinh Gia Trinh cũng chủ yếu là của các tác giả hậu thế
Tác giả Phạm Thế Ngũ, trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên ( Nhà xuất bản Tùng Thư, Sài Gòn, 1961), đã có những nhận xét khá thú
vị về Đinh Gia Trinh khi đặt ông trong Tạp chí Thanh nghị Theo Phạm Thế Ngũ, Đinh Gia Trinh là ngòi bút khả ái nhất ở Thanh nghị Tác giả Phạm Thế
Ngũ không chỉ trân trọng những kiến giải sâu sắc của Đinh Gia Trinh đối vớiđời sống văn chương mà còn ấn tượng tốt về toàn bộ con người Đinh GiaTrinh toát ra qua các trang viết Đinh Gia Trinh đã thể hiện được sự sắc bén,công minh, đúng và hay trong những bài phê bình, khảo luận Phạm Thế Ngũcòn thấy Đinh Gia Trinh ở “những bài tùy bút chứng tỏ ông là một tâm hồn cónhiều nhiệt thành, ham mê cái đẹp, ưa thú suy tưởng và góp nhặt cảm giác.Người ta thấy ở ông ảnh hưởng của Tự lực văn đoàn, từ nàng mỹ thuật Thế
Lữ, người trí thức băn khoăn của Nhất Linh, đến đường lối hướng nội và duycảm của Thạch Lam, Xuân Diệu” Phạm Thế Ngũ đặt Đinh Gia Trinh vào cáimạch tìm tòi của hàng loạt trí thức đương thời để một mặt thấy ông không lẻloi nhưng mặt khác cũng chính là sự thừa nhận Đinh Gia Trinh là một mắtxích quan trọng của phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Trang 8Lê Đạt trong Lời mở cuốn Hoài vọng của lí trí (Nxb Văn học, 1996) đã
dành cho Đinh Gia Trinh những đánh giá riêng biệt so với các thành viên trong
nhóm trí thức Thanh nghị Lê Đạt khẳng định, Đinh Gia Trinh khác với cái
“hùng hồn lôi cuốn của Phan Anh”, khác “cái uyên bác của Hoàng Xuân Hãn,cái lập luận sắc sảo của Vũ Đình Hòe” Theo Lê Đạt, Đinh Gia Trinh là mộtngười “trầm ngâm” thường im lặng suy nghĩ Với Lê Đạt, những bài viết vềvăn học của Đinh Gia Trinh có vẻ khiêm tốn như chính con người ông nhưng
đã báo hiệu cho “mùa xuân”, báo hiệu cho “tiếng hót của một con chim lành”.Nhưng cũng theo Lê Đạt, mặc dù là người yêu sự mộng mơ nhưng trong nhữnggiờ phút quyết định, Đinh Gia Trinh là “một người dám lựa chọn”
Trong cuốn Văn học Việt Nam (1900 - 1945), Phan Cự Đệ cũng đã đề cập đến Thanh nghị và Đinh Gia Trinh Phan Cự Đệ nhận xét: “Thanh nghị là
tạp chí của một nhóm tri thức cấp tiến như Phan Anh, Nguyễn Xiển, NguyễnXuân Yêm, Vũ Đình Hòe, Đỗ Đức Dục, Đinh Gia Trinh, Lê Huy Vân…
Thanh nghị có hàng loạt bài nói đến tư tưởng Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên,
cách mạng Tân Hợi, đến kinh tế học và xã hội học tư sản, đến các chính thể
tổng thống, đại nghị Nhìn chung, Thanh nghị có khuynh hướng dân tộc tư
sản nhưng trên tờ tạp chí này cũng có nhiều màu sắc khác nhau” Phan Cự Đệ
đã đặt nhóm Thanh nghị trong sự so sánh với nhóm Tri tân, Xuân Thu nhã tập, Hàn Thuyên để đánh giá những đặc điểm riêng của Thanh nghị.
Vương Trí Nhàn có bài viết: Khuôn mặt tinh thần của một trí thức: Trường hợp Đinh Gia Trinh, trong cuốn Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa (Nxb Văn hóa Thông tin, 1999) Tác giả khẳng định, Đinh Gia Trinh trong Tạp chí Thanh nghị có một vai trò riêng biệt Đinh Gia Trinh quan tâm
nhiều nhất đến văn chương nghệ thuật Tác giả đánh giá, Đinh Gia Trinh đã
có đóng góp cho nghiên cứu phê bình văn học với nhiều bài viết khái quátđược những vấn đề văn chương: Phê bình nghiên cứu về từng tác phẩm, đánh
Trang 9giá kết quả tình hình văn chương qua từng năm, danh văn ngoại quốc, tùyhứng, tiểu luận văn học - văn chương Vương Trí Nhàn cho rằng, Đinh GiaTrinh là một nhà phê bình văn học mang tư duy, phương pháp khoa học, dựatrên nền tảng của lí trí.
Phong Lê dành một bài viết về Đinh Gia Trinh: Đinh Gia Trinh trong đời sống văn chương - học thuật hồi 1941 - 1945, trong cuốn Vẫn chuyện văn và người (Nxb Văn hóa Thông tin, 1999) Tác giả bài viết đánh giá “Đinh Gia
Trinh còn là và hơn thế, quả là một cây bút phê bình và tiểu luận rất đáng trântrọng” Tác giả nhận xét rằng, Đinh Gia Trinh là gương mặt nổi bật trong phêbình văn học của nền văn học Việt Nam chặng cuối của con đường hiện đại hóa
Là một đồng nghiệp, Vũ Đình Hòe đã từng làm việc, từngtiếp xúc với Đinh Gia Trinh rất nhiều Đó là khoảng thời gian mà hai người
cùng làm việc trong Tạp chí Thanh nghị Sau này, khi cho ra đời cuốn hồi kí mang tên mình - Hồi kí Vũ Đình Hòe, tác giả đã dành cho Đinh Gia Trinh
những đánh giá rất cao Rất nhiều trang viết trong cuốn hồi kí, Vũ Đình Hòe
đề cập đến Đinh Gia Trinh Vũ Đình Hòe đặc biệt quan tâm tới Đinh GiaTrinh về tinh thần khoa học, phương pháp nhận thức, ánh sáng của việc tiếpnhận tri thức văn học phương Tây Khi nói về sự ảnh hưởng của học thuyếtBergson ở nước ta, Vũ Đình Hòe khẳng định: “Nhìn về nước ta, tôi nhận thấycác thế hệ thanh niên trí thức trực tiếp hay gián tiếp, đón nhận học thuyếtBergson rất hào hứng Chính vì nó thích hợp với tâm hồn người Việt Nam,tâm hồn người Á Đông Học thuyết Bergson kết hợp nhuần nhuyễn tinh thầnkhoa học quy củ của lí trí sáng suốt với sự tinh nhuệ, nhạy cảm của tâm hồnthiên biến vạn hóa, là thức ăn mà họ đang đòi hỏi; đồng thời cũng là nhu cầu
tự nhiên của tư tưởng Á Đông và Việt Nam đã được nhào nặn lâu đời trongtriết lí sống của ba đạo giáo Có thể coi Đinh Gia Trinh như một nhân vật điểnhình của sự nhào nặn ấy: một thanh niên trí thức say mê các tác phẩm văn học
Trang 10phương Tây, đặc biệt là chịu ảnh hưởng sâu xa của phương pháp sáng táckhoa học phương Tây, nhưng tâm hồn vẫn đậm đà bản sắc dân tộc” [21, 381].
Ở mục Đinh Gia Trinh trong cuốn Từ điển văn học, bộ mới (Đỗ Đức
Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (Chủ biên, Nxb Thếgiới, 2004), tác giả Trần Hải Yến nhấn mạnh những đóng góp đặc biệt củaĐinh Gia Trinh đối với đời sống văn chương Việt Nam giai đoạn 1941 - 1945
gắn liền với Tạp chí Thanh nghị Theo Trần Hải Yến, Đinh Gia Trinh trong các bài viết của mình trên Tạp chí Thanh nghị đã “chạm đến mọi ngóc ngách
của đời sống văn chương: Sáng tác, dịch thuật, phê bình” Đối tượng có khi
chỉ là một sáng tác: Đọc tập kịch Mơ hoa của Đoàn Phú Tứ (Tạp chí Thanh nghị, số 8, năm 1942), Đọc Xuân Thu nhã tập (Tạp chí Thanh nghị, số 22, năm 1942) Một cuốn sách nghiên cứu phê bình: Nói chuyện thơ nhân quyển Thi nhân Việt nam 1932 - 1941… Tác giả Trần Hải Yến nhận thấy, xuyên
suốt các bài viết của Đinh Gia Trinh là mối quan tâm của ông đến quá trình
Âu hóa trong sinh hoạt văn chương Việt Nam Tác giả đánh giá rất cao khốikiến thức mà Đinh Gia Trinh sử dụng Đó là khối kiến thức đồ sộ cùng vớimột thái độ tỉnh táo, chứng mực, khách quan Đinh Gia Trinh luôn có chủkiến trong các bài viết của mình Gần 100 bài viết của ông đăng trên Tạp chí
Thanh nghị trong khoảng 5 năm đã được những người thân trong gia đình ông sưu tầm, biên soạn trong cuốn sách lấy tên Hoài vọng của lý trí Với tác giả
Trần Hải Yến, sự nghiệp phê bình văn học của Đinh Gia Trinh đã định vị mộtgóc nhìn, một lối phê bình riêng
Phạm Vĩnh Cư trong bài Đinh Gia Trinh và nhóm Thanh nghị: Một quan niệm nghệ thuật đăng trên Nghiên cứu Văn học, số 2, 2009, đã có những nhận
xét về Đinh Gia Trinh Theo tác giả, hoạt động văn học của Đinh Gia Trinh
không tách rời với số phận Tạp chí Thanh nghị “Không nghiên cứu hoạt động của Thanh nghị, không thể hiểu biết đầy đủ về nền phê bình văn học ở
Trang 11Việt Nam thế kỉ XX” Trong nhóm Thanh nghị, Phạm Vĩnh Cư chú ý nhất
đến cây bút phê bình văn học Đinh Gia Trinh Đinh Gia Trinh được công luậntrong và ngoài nước nhất trí xem làm cây bút phê bình văn học “sáng giá
nhất” của tờ báo Đinh Gia Trinh cùng với nhiều trí thức của nhóm Thanh nghị không có chân trong các tổ chức văn hóa, văn nghệ của chính quyền nên
có đủ “đất” để tạo cho mình “một thế đứng độc lập”, có cái nhìn của “ngườiđứng ngoài”, vì thế ý kiến trở nên công tâm, không thiên vị về những vấn đềvăn chương nghệ thuật nước nhà Theo Phạm Vĩnh Cư, Đinh Gia Trinh đã âmthầm thể hiện quan niệm văn chương - nghệ thuật của mình thông qua các bàiviết Nó khác hẳn với các cuộc công khai tranh luận nảy lửa, dai dẳng trênvăn đàn mà nhiều khi hiệu quả đem lại không nhiều “Phụng sự một nền nghệ
thuật chân chính” là tôn chỉ của Tạp chí Thanh nghị cũng như của cá nhân
Đinh Gia Trinh Tôn chỉ ấy toát ra từ toàn bộ hoạt động văn nghệ của ông trêntạp chí Phạm Vĩnh Cư nhận xét: “Đinh Gia Trinh nhạy cảm đặc biệt vớinhững yêu cầu, đòi hỏi trong lĩnh vực văn hóa của thời đại mới” Với một tầmvăn hóa, văn học sâu rộng, Đinh Gia Trinh đã dùng văn học nước ngoài (củanhững nước có nền văn học lớn và phát triển) làm thước đo, định giá các hiệntượng văn học nước nhà Ông làm điều đó với tất cả bầu nhiệt huyết, thái độkhoa học khách quan cùng mong muốn cháy bỏng có một nền văn học nướcnhà phát triển theo kịp thời đại
Đỗ Lai Thúy cũng có bài viết: Đinh Gia Trinh và tinh thần khoa học trong Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy (Nxb Hội Nhà văn , 2010) Ngay ở
nhan đề của bài viết, Đỗ Lai Thúy đã hé mở cho người đọc được một nhận xétkhái quát về Đinh Gia Trinh Bằng việc phân tích một số bài viết của Đinh
Gia Trinh đăng trên Tạp chí Thanh nghị, Đỗ Lai Thúy đã chứng minh được
phong cách phê bình văn học của Đinh Gia Trinh mang tính khoa học cao
Đặc điểm này được thể hiện ở những bài như: Đọc cuốn Việt Nam văn phạm
Trang 12của ông Trần Trọng Kim, Nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều, Óc khoa học của một vài người Qua các bài viết ấy, Đỗ Lai Thúy còn thấy Đinh
Gia Trinh có quan niệm phê bình của thuyết trực giác Bergson, kết hợp nhuầnnhuyễn với tinh thần khoa học Trong những bài phê bình văn học của ĐinhGia Trinh, có sự hài hòa giữa tình cảm và lí trí Đỗ Lai Thúy nhận thấy rằng,Đinh Gia Trinh có một tầm văn hóa sâu rộng vì thế ông “nhìn văn chương vớimột khoảng cách của một người ngoài cuộc: Bình tĩnh, mực thước, sáng suốt
và dung hòa” [55, 352]
Nhìn chung, sự nghiệp phê bình văn học của Đinh Gia Trinh ngày càngnhận được sự quan tâm và đánh giá cao của giới nghiên cứu
Lấy sự nghiệp phê bình văn học của Đinh Gia Trinh làm đối tượngnghiên cứu, luận văn quan tâm khảo sát các tư liệu sau đây:
- Tạp chí Thanh nghị (1941 - 1945)
- Hồi kí Thanh nghị , Nxb Văn học, 1997 (Tái bản năm 2005)
- Hồi kí Vũ Đình Hòe, Nxb Hội Nhà văn, 2000
- Cuốn sách phê bình văn học và tùy bút của Đinh Gia Trinh nhan đề
Hoài vọng của lý trí, Nxb Văn học 1996 (Tái bản có bổ sung, 2005, Nxb Hội
Nhà văn)
- Ngoài ra luận văn còn tham khảo một số tạp chí trước và song hành
cùng Tạp chí Thanh nghị như: Tao đàn (1939 - 1941), Tri tân (1941 - 1946)
để đối chiếu, so sánh
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Luận văn nhằm tìm hiểu:
4.1.Vị trí của Đinh Gia Trinh trong đời sống văn chương học thuậttrước 1945
Trang 134.2 Những đối tượng chính và vấn đề nổi bật trong lĩnh vực phê bìnhvăn học của Đinh Gia Trinh.
4.3 Phương pháp phê bình văn học của Đinh Gia Trinh
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Tương ứng với nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1 Đinh Gia Trinh trong đời sống phê bình văn học Việt Namnửa đầu những năm 40, thế kỉ XX
Chương 2 Những đối tượng chính và vấn đề nổi bật trong lĩnh vực phêbình văn học của Đinh Gia Trinh
Chương 3 Phương pháp phê bình văn học của Đinh Gia Trinh
Trang 14Trong Từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 1997, phê bình
văn học được xem là “bộ môn nghiên cứu chuyên phân tích các tác phẩm vănhọc nhằm mục đích hướng dẫn việc sáng tác”
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, phê bình văn học được hiểu là “sự
phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thờikèm theo việc phán đoán, bình phẩm, giải thích, đánh giá những hiện tượngđời sống mà tác phẩm nói tới Phê bình văn học được xem như một hoạt độngtác động trong đời sống văn học và quá trình văn học, như một loại sáng tácvăn học, đồng thời còn được coi như một bộ môn thuộc nghiên cứu văn học.Khác với văn học sử, phê bình văn học ưu tiên soi rọi những quá trình, nhữngchuyển động đang xảy ra trong văn học hiện thời, khảo sát sản phẩm xuất bản
và báo chí, phản xạ với các hiện tượng văn học, với sự cảm thụ văn học củacông chúng Ngay khi bàn về di sản văn học quá khứ, nhà phê bình cũng chủyếu xuất phát từ các nhiệm vụ xã hội và thẩm mĩ của hiện tại
Trong phê bình nghệ thuật nói chung (gồm phê bình âm nhạc, phê bìnhsân khấu, phê bình điện ảnh, phê bình mĩ thuật, v.v…), nếu các loại phê bìnhnói trên không thể “ trở thành” đối tượng của nó (ví dụ phê bình âm nhạckhông thể “thành” âm nhạc, v.v…), thì phê bình văn học (và các loại phê bìnhnghệ thuật nói trên, ở những mức nhất định) có thể trở thành văn học, tức làthuộc nghệ thuật ngôn từ Có khả năng này là do chỗ phê bình văn học (và các
Trang 15dạng phê bình nghệ thuật) cũng sử dụng chất liệu ngôn từ (ngôn ngữ tự nhiên,tức là ngôn ngữ dân tộc) như mọi sáng tác văn học; tuy vậy không phải mọidạng “viết lách” thuộc phạm vi phê bình nghệ thuật đều được coi là văn học;chỉ một số tương đối ít trang viết đạt tới tính nghệ thuật cao về ngôn từ thẩm
mĩ, bộc lộ một cách độc đáo, một cách nhìn có chủ kiến - là có thể trở thànhvăn học
Những phán đoán phê bình hầu như xuất hiện đồng thời với sự xuấthiện của văn học, ban đầu với tư cách là những ý kiến của các độc giả quantrọng, hiểu biết nhất; không ít trường hợp các độc giả này cũng là người sángtác văn học Ngay khi đã được tách ra thành một loại công việc văn học, phêbình văn học trong suốt nhiều thời đại vẫn chỉ giữ một vai trò “ứng dụng”khiêm nhường - vai trò của sự đánh giá khái quát về tác phẩm, giới thiệu tácphẩm với bạn đọc, khích lệ hoặc chỉ trích tác giả Chỉ với sự phát triển củavăn học, mục tiêu, tính chất của phê bình văn học mới trở nên phức tạp đòihỏi chính phê bình phải được phân nhánh, đa dạng
Như vậy, sự xác định lý thuyết về phê bình cần tính đến phương diệntiến triển lịch sử Nói chung, khi các nền văn học còn tồn tại như là tổng sốgiản đơn những tác phẩm riêng lẻ, thì ứng dụng với kiểu văn học ấy chính làkiểu phê bình chỉ cần biết đến văn bản, và khi phân tích văn bản, ngoài việcchú trọng ý nghĩa luân lý (phương diện này nhiều khi thu hút gần như toàn bộ
nỗ lực của nhà phê bình), người ta chỉ cần lưu ý tới một số yếu tố được xem làquan trọng nhất, tập trung nhất của tính nghệ thuật và xuất phát điểm để xemxét các yếu tố ấy thường là các chuẩn mực, quy phạm nghiêm ngặt của thể tài
Ở phương Tây, từ thế kỷ XVII, nhất là từ thế kỷ XVIII, văn học trởthành một lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù; tương ứng với nó là sự hìnhthành những thiết chế xã hội của văn học (báo chí, xuất bản, công chúng, dưluận), là sự hình thành đời sống văn học với tư cách là một lĩnh vực đặc thù
Trang 16trong toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội Phê bình văn học kiểu mới đượcphát triển trong bối cảnh đó của đời sống xã hội, với tư cách là một dạng thức
và một bộ phận của dư luận xã hội Quan hệ của nó với văn học, với đời sống
xã hội, với công chúng văn nghệ ngày càng phức tạp hóa, đa dạng Chẳnghạn, tương ứng với hình thức tồn tại và phát triển của văn học như nhóm phái,trào lưu, khuynh hướng, ở phê bình văn học cũng có các nhóm phái, trào lưu,khuynh hướng của mình Hoạt động và ngôn luận của nhóm phái, trào lưu,khuynh hướng này tác động vào đời sống văn học, đưa tới những thay đổitrong xu hướng phát triển văn học Do vậy, có thể coi phê bình văn học nhưmột bộ phận lập pháp về lý thuyết cho sáng tác; nó trở thành nhân tố tổ chứcquá trình văn học Phê bình văn học hiện đại không chỉ tìm kiếm “nhãn tự”,
“thần cú”, không chỉ phê bình, phẩm bình; nó còn nghiên cứu mọi mặt liên hệbên trong và bên ngoài của sáng tác nghệ thuật với đời sống xã hội; nó khôngchỉ là một bộ phận của dư luận xã hội mà còn tác động vào dư luận, tác độngđến xã hội
Ở phê bình hiện đại, những thể tài thường dùng là: Bài báo, bài điểmsách, bài tổng quan văn học, tiểu luận, chân dung văn học, đối thoại phê bìnhvăn học, bút chiến, v.v… Tùy theo thể tài và mục đích, phê bình bộc lộ nhữngkhả năng và đặc tính của mình bắt đầu từ một thông tin đơn giản của mộtngười đọc về một tác phẩm mới ra mắt và kết thúc là việc đặt ra các vấn đềvăn học và xã hội Nói chung, nhà phê bình ở thời hiện đại kết hợp trongmình những năng lực của nhà mĩ học và người nghệ sỹ với năng lực ít nhiềucủa nhà đạo đức học, nhà tâm lý học, nhà chính luận Tuy vậy, việc đạt tới sựkết hợp hoàn hảo này thường rất hiếm hoi, trong khi những sự thiếu hụt tốithiểu lại thường khá phổ biến” [6, 250 - 253]
Phê bình văn học là một lĩnh vực mang dấu ấn chủ quan khá đậm nétnhưng cũng là một hoạt động mang tính khoa học cao Phê bình văn học thực
Trang 17chất là một thao tác của tư duy Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do
Nhà xuất bản Giáo dục phát hành, mục phê bình văn học được đề cập khá đầy
đủ và chi tiết: “Phê bình văn học là sự phán đoán, phẩm bình, đánh giá và giảithích tác phẩm văn học Phê bình văn học vừa là một hoạt động, vừa là một
bộ môn khoa học về văn học Phê bình văn học vừa tác động tới sự phát triểncủa văn học, vừa tác động tới độc giả, góp phần hình thành thị hiếu thẩm mĩcho quảng đại quần chúng Là một môn khoa học, phê bình văn học nhận thứccác khuynh hướng vận động của văn học đương đại, tìm kiếm chỗ làm bànđạp cho văn học đi tới, khám phá những nhân tố nghệ thuật có khả năng mởrộng ra một quá trình văn học mới và chỉ ra được nhược điểm trong các sángtác so với nhu cầu của thời đại và của bản thân văn học
Xét từ góc độ lịch sử, phê bình văn học là một sự tự ý thức về văn học
Do đó diện mạo của phê bình văn học không ngừng biến đổi cùng với sự biếnđổi và phát triển của văn học
Cả văn học lẫn phê bình văn học đều xuất hiện từ thời xa xưa trong lịch
sử văn hóa của nhân loại Nhưng trước thế kỷ XVII, trên phạm vi toàn thếgiới, phê bình văn học chưa trở thành lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù.Nghiên cứu nghệ thuật ngôn từ lúc bấy giờ được xem như công việc của hai
bộ môn ngữ văn - triết học bất phân Từ ngữ văn và triết học, những mầmmống đầu tiên của phê bình văn học xuất hiện hàng loạt những công trìnhmang dáng dấp của một “thể loại” đặc biệt, trong đó tác giả tập trung phântích tác phẩm văn học như những văn bản cụ thể, nhằm chỉ ra cho nghệ sĩcách thức viết văn Ở đây, nhà phê bình chỉ cần biết tới văn bản; và khi phântích văn bản, ngoài ý nghĩa luân lí, người ta chỉ cần biết tới “thần cú”, “nhãntự” với những luật lệ nghiêm ngặt của thể văn Phê bình văn học, vì thế,thường tập trung đánh giá, bình phẩm, hơn là phân tích, nghiên cứu toàn bộnhững mối liên hệ bên trong và bên ngoài hết sức phức tạp của sáng tác nghệ
Trang 18thuật Đó là lối phê bình văn học kiểu cổ tương ứng với hình thức tồn tại nhưtổng số giản đơn của những tác phẩm riêng lẻ.
Đến thế kỷ XVII, đặc biệt từ thế kỷ XVIII, phê bình văn học trở thànhlĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù Quan hệ giữa phê bình văn học với văn học
và công chúng nghệ thuật ngày càng trở nên phức tạp Văn học phát triểntrong mối tương quan hệ tương tác vô cùng phức tạp giữa các khuynh hướng,trào lưu, trường phái Tương ứng với hình thức tồn tại và phát triển của vănhọc, phê bình văn học thường xuyên tiến hành các cuộc đấu tranh văn học, tổchức các trào lưu, khuynh hướng nghệ thuật, truyên bố sự mở đầu hay kếtthúc một giai đoạn văn học Điều đó chứng tỏ, phê bình văn học hiện đại làmột bộ phận lập pháp về phương diện lí luận cho sáng tác, là nhân tố tổ chứccủa quá trình văn học Nó tác động tới đời sống văn học qua vai trò tổ chứccủa mình Nó giải thích tác phẩm văn học, kêu gọi nhà văn sáng tạo ra nhữnggiá trị nghệ thuật mới theo hệ thống quan điểm xã hội - thẩm mĩ do nó thiếtlập Với ý nghĩa ấy, Biêlinxki gọi phê bình văn học là “mĩ học vận động”.Khác với phê bình văn học kiểu cổ, phê bình văn học hiện đại không chỉ kiếm
ý đẹp, lời hay trong tác phẩm văn học mà còn nghiên cứu một cách toàn diệnnhững mối liên hệ bên trong và bên ngoài hết sức phức tạp của sáng tác nghệthuật để nhận thức sâu sắc hiện thực đời sống được tác phẩm phản ánh Vìthế, Biêlinxlki còn gọi phê bình văn học là “sự tự nhận thức của thời đại” ”[17, 210 - 211]
Nhà phê bình nổi tiếng Hoài Thanh đã từng khẳng định: “Tìm cái đẹptrong tự nhiên là nghệ thuật; tìm cái đẹp trong nghệ thuật là phê bình” [47,140] Hoài Thanh cho rằng: “Một bài thơ, một quyển truyện có thể lợi dụngđến cả những cái vô hình, vô thanh, vô sắc mà cảm người Song cũng vì thế
mà cái hay trong văn nghệ khó nhận hơn, khó thưởng thức hơn, văn nghệ tựavào phê bình nhiều hơn.” [47, 141] Với quan điểm này, Hoài Thanh đã chú
Trang 19trọng việc phê bình văn học phải đi sâu vào việc tìm cái đẹp, cái hay trongvăn chương Công việc phê bình có vai trò rất lớn đối với cảm thụ cái hay, cáiđẹp trong văn chương
Trong bài Nghệ thuật phê bình đăng trên Tạp chí Thanh nghị, số 18,
năm 1942, Đinh Gia Trinh lại có một cách định nghĩa hết sức hình ảnh về phêbình văn học, về vai trò của nhà phê bình: “Kẻ có tài dùng chiếc đũa thầnkhơi nguồn cảm xúc của độc giả thông với nguồn cảm xúc của tác giả, ấy lànhà phê bình” [57, 156]
Còn Đỗ Lai Thúy trong cuốn Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy
cho rằng câu hỏi: “Phê bình văn học là gì?” thuộc loại bản thể luận Ông chorằng: “Phê bình văn học có thể hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa thông tục củangôn ngữ thường nhật hay nghĩa hẹp, nghĩa chuyên môn của khoa học vănhọc Theo nghĩa thứ nhất, phê bình chỉ bất kì một sự khen chê, bình phẩm,đánh giá nào về một tác phẩm, một sự kiện văn học, một tác giả, từ vi mô mộtnhãn tự, một câu văn, một dòng thơ đến vĩ mô một sự nghiệp sáng tạo, mộtnền văn học dân tộc Nó có thể chỉ là một lời nhận xét thông thường thoát ra
từ cái miệng bình dân của con nhà khó, nhưng cũng có thể là những phươngchâm, những nguyên lí chỉ đạo văn chương từ một ý thức hệ triết học hoặcthẩm mỹ nào đó dội xuống những lời gang thép thánh truyền như lời Khổng
Tử về Kinh thi, lời Aristote trong Thi pháp học Phê bình văn học ở nghĩa này
là kẻ song sinh với sáng tác, có sáng tác là có phê bình Và sáng tác thì khócòn phê bình thì dễ Phê bình theo nghĩa rộng thường chỉ biết đến tác phẩm.Một thứ tác phẩm không có liên lạc gì đến tác giả và người đọc Và phê bìnhvăn học đứng ngoài hệ thống văn học (tác giả - tác phẩm - người đọc) này.Hơn nữa khi nhận xét tác phẩm, người phê bình thường cũng chỉ coi đó là cái
cớ để phát biểu những ý kiến chủ quan của mình, thoảng hoặc nếu có chiếu cốđến tác phẩm thì cũng chỉ để so sánh nó với những nguyên lí đã được định
Trang 20trước, những lời chỉ dạy của thánh hiền, những khuôn vàng thước ngọc của cốnhân Bởi vậy, thứ phê bình này rất chú trọng đến ý nghĩa đạo đức của tácphẩm văn học… Phê bình văn học hiểu theo nghĩa là một hoạt động chuyênmôn thì mãi đến đầu thế kỷ XIX, khi nhân loại đã bước vào Thời đại Mới,mới xuất hiện ở châu Âu Đó là một loại hình sinh hoạt văn học gắn liền vớivăn hóa đô thị Phê bình này ra đời trên cơ sở báo chí và xuất bản Chính báochí đã biến sách vở với tư cách là sản phẩm văn hóa từ một thứ văn hóa quàtặng thành văn hóa hàng hóa” [55, 18 -19] Quan điểm của Đỗ Lai Thúy nhấnmạnh vai trò của công chúng - dư luận trong việc thúc đẩy, hình thành phêbình văn học Hay nói cách khác, tư tưởng dân chủ là nền tảng tinh thần củaphê bình văn học Nó thừa nhận mọi người đều có quyền thẩm định vănchương theo ý của riêng mình, tức là thừa nhận phê bình văn học là một sinhhoạt tri thức lành mạnh biểu thị cho ý thức cá nhân.
1.1.1.2 Cơ sở xã hội, văn hóa, văn học cuả việc hiện đại hóa phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX
Dấu hiệu của phê bình văn học trong văn học Việt Nam đã xuất hiện từrất sớm Tuy phê bình văn học chưa tồn tại và phát triển với tư cách là mộthoạt động chuyên môn mang tính đặc thù nhưng sự hiện diện của phê bìnhtrong văn học là điều rất dễ nhận thấy Ngay từ thời trung đại, phê bình vănhọc đã ẩn chứa trong các bài tựa, lời bạt, lời bình khi đánh giá văn thơ… Bởicác bài này, dù tồn tại dưới bất cứ hình thức nào, vẫn hàm chứa ý nghĩa củamột nhận định, một đánh giá nào đó về văn chương Nghĩa là nó đã mangtrong mình một sắc thái phê bình, thẩm định văn chương
Tuy nhiên, để trở thành một lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp, trởthành một bộ môn khoa học độc lập mang tính đặc thù trong tổng thể đời sốngvăn chương, nhất thiết phê bình văn học phải trải qua quá trình hiện đại hóa.Sang thế kỉ XX, phê bình văn học Việt Nam bước vào lộ trình hiện đại hóa
Trang 21So với các nền văn học lớn trên thế giới, đặc biệt là nền văn học của các nướcphương Tây, thì quá trình hiện đại hóa của phê bình văn học Việt Nam diễn ramuộn hơn rất nhiều Quá trình hiện đại hóa của phê bình văn học Việt Namnửa đầu thế kỉ XX là chặng đường phức tạp và diễn ra qua nhiều thời kỳ khácnhau Và quá trình ấy diễn ra dựa trên những cơ sở xã hội, văn hóa, văn họchết sức rõ ràng.
Về mặt xã hội, bước vào thế kỉ XX, Việt Nam đã có nhiều thay đổi trênnhiều khía cạnh So với xã hội trước (thời trung đại), xã hội Việt Nam lúc này
đã xuất hiện những yếu tố mới mang tính thời đại Năm 1858, giặc Pháp nổsúng vào Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta Từ 1858 đến hết thế kỉXIX, thực dân Pháp chủ yếu hoạt động về mặt quân sự Đến đầu thế kỉ XX,chúng mới thực sự tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và lầnthứ hai Điều ấy làm cho xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc Từ Namchí Bắc, nhiều đô thị, những trung tâm chính trị, văn hóa, hành chính đượcmọc lên Trong lòng xã hội Việt Nam xuất hiện những tầng lớp, giai cấp mới:
Tư sản, tiểu tư sản, công nhân… Họ có những nhu cầu văn hóa, thẩm mĩ mới,khác xa với thời trung đại Do có mối quan hệ đặc biệt với thực dân Pháp nên
xã hội Việt Nam thời kì này xuất hiện đông đảo tầng lớp trí thức Tây học.Chính họ là lực lượng chủ đạo trong việc thúc đẩy nền văn học nước nhà pháttriển theo hướng hiện đại hóa Bởi ở tầng lớp trí thức Tây học, sự ảnh hưởngcủa các trào lưu tư tưởng, văn hóa, văn học từ phương Tây là rất lớn và có hệthống Xã hội Việt Nam bước sang thế kỉ XX, với sự xâm lược của thực dânPháp không còn là một xã hội vận hành theo “kiểu xã hội phong kiến độctôn” Xã hội Việt Nam lúc này đã có sự pha trộn nhất định những kiểu sinhhoạt chính trị, văn hóa mới Điều đó có thể được kết tinh trong khái niệm về
xã hội Việt Nam trong giai đoạn này: Xã hội thực dân phong kiến
Trang 22Những thay đổi về mặt xã hội được xem như là một trong nhữngnguyên nhân chủ yếu chi phối mọi yếu tố còn lại như văn hóa, văn học… Haynói cách khác, sự thay đổi về mặt xã hội đã kéo theo những thay đổi về mặtvăn hóa, tác động không nhỏ đến sự phát triển của văn học Việt Nam nóichung và phê bình văn học Việt Nam nói riêng Xét về mặt văn hóa, bước vàothế kỉ XX, xã hội Việt Nam đã có những biến động lớn Sự giao lưu và tiếpxúc với văn hóa phương Tây, chủ yếu là văn hóa Pháp là một trong nhữngđiểm mấu chốt làm cho đời sống văn hóa Việt Nam đã không còn như xưa.Văn hóa Việt Nam lúc này không chỉ bó buộc ở “kiểu văn hóa làng xã” Mộttrong những dấu ấn lớn của đời sống văn hóa, tư tưởng ở Việt Nam giai đoạnnày là sự bùng nổ của báo chí và các phương tiện in ấn Tính đến năm 1945,trên cả ba kì, Việt Nam đã có trên 100 tờ báo, trong đó có nhiều tờ báo vănchương Chính báo chí và sự xuất hiện đông đảo của tầng lớp trí thức Tây học
đã làm cho đời sống phê bình văn học Việt Nam trở nên nhộn nhịp và khẩntrương hơn Tầng lớp trí thức Tây học với những kiến thức văn hóa, văn họcđược tiếp thu, ảnh hưởng từ phương Tây đã thể hiện được vai trò “siêu độcgiả” của mình Họ là chiếc cầu nối quan trọng giữa tác giả - tác phẩm với độcgiả Còn báo chí, với những thế mạnh riêng của mình, có điều kiện đăng tải,truyền bá một cách nhanh chóng, rộng rãi và có hiệu quả các tác phẩm cũngnhư định hướng dư luận độc giả Nhờ báo chí mà khoảng cách giữa tác giả và
dư luận độc giả được rút ngắn một cách đáng kể Hầu hết các tác giả phê bìnhvăn học Việt Nam giai đoạn này hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đã có sự tiếpthu, ảnh hưởng từ những kiến thức văn học phương Tây Các công trìnhnghiên cứu phê bình văn học của họ đều đã được thử bút và khẳng định têntuổi qua các tờ báo, tạp chí rất có uy tín lúc bấy giờ Ví dụ: Hoài Thanh gắn
với tờ Tao đàn, Tràng an, Tiểu thuyết thứ bảy; Thạch Lam gắn với tờ Phong
Trang 23hóa, Ngày nay; Trương Tửu gắn với tờ báo Loa; Hải Triều, Đặng Thai Mai gắn với tờ Đời mới, Dân tiến; Đinh Gia Trinh gắn với tờ Thanh nghị…
Sự thay đổi trong đời sống và kết cấu xã hội cùng với những biến đổitrong sinh hoạt văn hóa, tư tưởng của nước ta giai đoạn nửa đầu thế kỉ XXđược xem như là những cơ sở khách quan dẫn đến sự thay đổi của phê bìnhvăn học Việt Nam trong giai đoạn này Tuy nhiên, động lực chính của quátrình hiện đại hóa phê bình văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX là
ở quy luật phát triển nội tại của bản thân văn học Giữa văn học và đời sốngvăn hóa xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng Một khi đời sống văn hóa, xãhội đã có những thay đổi, tất yếu nhu cầu thẩm mĩ nói chung và nhu cầuthưởng thức văn học nói riêng cũng sẽ thay đổi Vì thế, văn học thay đổi theohướng hiện đại hóa là điều tất yếu Bước vào thế kỉ XX, nền văn học ViệtNam phát triển nhanh, liên tục theo hướng hiện đại hóa, đòi hỏi phê bình vănhọc cũng phải phát triển để trở thành một hoạt động chuyên sâu và kịp thờithích ứng Xét trong nội bộ bản thân văn học, khi văn học được hiện đại hóathì cũng đồng nghĩa với phê bình văn học được hiện đại hóa Còn với tư cách
là một lĩnh vực có tính độc lập tương đối cao so với các lĩnh vực khác trongtổng thể đời sống văn học thì chính sự phát triển của văn học đã đề ra yêu cầucấp bách của hiện đại hóa phê bình văn học Công chúng văn học được mởrộng, nghề viết mang tính chuyên nghiệp hơn, tác phẩm văn học đã trở thànhhàng hóa, nhà văn có thể kiếm sống bằng nghề viết văn, đó là những lí do cănbản đòi hỏi phê bình văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX đứngtrước yêu cầu hiện đại hóa Có như vậy phê bình văn học mới đảm trách đượcvai trò triết học của văn học, nâng cao chất lượng sáng tác cũng như cảm thụvăn chương Sự thay đổi ấy của phê bình văn học Việt Nam trở thành nhu cầutất yếu và mang dấu ấn của thời đại Điều đó kết hợp truyền thống văn họccủa cha ông từ xưa, càng làm cho việc hiện đại hóa phê bình văn học Việt
Trang 24Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX có thêm cơ sở vững chắc hơn Truyềnthống đọc sách, bình văn của cha ông và ảnh hưởng của lí luận phê bìnhphương Tây cũng là một trong những cơ sở quan trọng thức đẩy việc hiện đạihóa phê bình văn học Việt Nam giai đoạn này Những lời tựa, lời bạt, lời bìnhtrong các cuốn sách của cha ông vốn đã có dấu hiệu của yếu tố phê bình vănchương Điểm mạnh của đặc điểm phê bình truyền thống thể hiện ở chỗ nó có
sự tinh tế, nhạy cảm trong thưởng thức văn chương Trong các cây bút phêbình hiện đại, người ta thấy sự kế thừa của truyền thống này Với họ, nhữngtrang phê bình có giá trị là những trang phê bình kết hợp nhuần nhuyễn giữalối phê bình truyền thống với phương pháp phê bình hiện đại có nguồn gốcảnh hưởng từ văn học phương Tây Tuy nhiên, trong lĩnh vực phê bình vănhọc phải khẳng định ảnh hưởng từ phương Tây mang ý nghĩa quyết định.Thậm chí đó là một sự ảnh hưởng mang tính chất hệ thống Từ kiến thức vănhọc, phê bình trên ghế nhà trường cho đến khi trở thành nhà phê bình họ đềutiếp thu, chịu ảnh hưởng của phương Tây Vì thế, cũng dễ để nhận ra trongcác công trình phê bình văn học nổi tiếng của các tác giả có tên tuổi thời kỳnày như Phạm Quỳnh, Hoài Thanh, Trương Tửu, Vũ Ngọc Phan, Đặng ThaiMai, Đinh Gia Trinh…những ảnh hưởng khác nhau của phê bình phương Tâyhiện đại Ngay vào tháng 7, năm 1917, Phạm Quỳnh với tư cách là chủ bút
của Nam phong tạp chí đã viết: “Gây lấy một nền học mới để thay vào cái
Nho học cũ, cũng đề xướng một cái tư trào mới hợp với thời thế cùng trình độdân ta Cái tính cách học vấn mới cùng cái tư trào mới ấy là tổ thuật cái họcvấn tư tưởng Thái Tây, nhất là của nước đại Pháp, mà không quên cái quốc
túy trong nước” (Nam phong tạp chí, số 1, tháng 7, năm 1917) Ở một bài viết khác, khi phê bình Truyện Kiều, Phạm Quỳnh cũng đã có ý phải học tập nhiều
ở Thái Tây để làm phong phú hơn nữa phê bình văn học nước nhà Phê bìnhphương Tây sẽ đem đến cho phê bình văn học Việt Nam những chất mới, dấu
Trang 25hiệu mới Phạm Quỳnh luôn có chủ trương và là người có ý thức vận dụngphương pháp văn học của phương Tây vào việc nghiên cứu văn học ViệtNam Còn Đỗ Lai Thúy khi nhìn nhận về văn học Việt Nam giai đoạn nửađầu thế kỉ XX (trong đó có phê bình văn học) đã có những phát hiện đáng chú
ý Theo cách chia của ông trong cuốn Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy,
thì diễn trình hiện đại hóa văn học Việt Nam có thể hình dung trong 3 chặnglớn: Từ 1913 - 1932; từ 1932 - 1940; từ 1940 - 1945 Theo tác giả Đỗ LaiThúy: “Từ 1913 đến 1932 là thời kì dung hòa Đông - Tây Đây cũng là tư
tưởng chủ đạo của Đông Dương tạp chí (1913 - 1916) và Nam phong tạp chí
(1917 - 1935), những tiếng nói có ảnh hưởng nhất lúc bấy giờ; Từ 1932 đến
1940 là thời kì đoạn tuyệt với văn hóa phương Đông, gắn liền với báo Phong hóa (1932 - 1935) và Ngày nay (1935 - 1940) và nhà xuất bản Đời nay của nhóm Tự lực Văn đoàn; Từ 1940 đến 1945 trở lại dung hòa văn hóa Đông -
Tây, nhưng lần này trên một cơ sở mới, sâu sắc hơn Đại diện cho tư tưởng
này là các tạp chí Thanh nghị (1941 - 1945), Tri tân (1941 - 1946) và nhà
xuất bản Hàn thuyên” [55, 335]
Như vậy, ta có thể thấy những bước khởi động đã có từ hơn hai thập kỷđầu của thể kỷ XX Tất nhiên, để phê bình văn học Việt Nam thực sự bướcvào con đường hiện đ¹i hoá tất nhiên phải hội tụ được những điều kiện và thời
cơ thuận lợi Đầu thế kỷ XX, cuộc tiếp xúc với văn hoá, văn học phương Tây
mà ở đây chủ yếu từ Pháp thực sự đã mang đến một cơ hội lớn cho văn họcViệt Nam Cũng từ đây, văn học Việt Nam nói chung và phê bình văn họcViệt Nam nói riêng đã đi vào quỹ đạo của hiện đại hoá Đầu thế kỷ XX, xãhội Việt Nam đã có những biến đổi to lớn vì sự xâm lược của thực dân Pháp
và chính sách khai thác thuộc địa của chúng Điều đó tác động mạnh đến thếgiới quan và nhân sinh quan của giới phê bình Hơn nữa, giai đoạn này xuấthiện một tầng lớp trí thức Tây học đã đem lại những nhận thức mới, kiểu đánh
Trang 26giá mới đối với văn học Văn hoá, văn học dân tộc tiếp biến và hội nhập vớivăn hoá, văn học khu vực và thế giới chứ không bó hẹp trong sự ảnh hưởng từTrung Hoa Lý luận phê bình đã có những dấu hiệu của sự hiện đại hoá Theo
Mã Giang Lân trong cuốn Quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam 1900
-1945 thì đó chính là sự “tăng cường chất tư duy phân tích lý luận, sử dụng
một số khái niệm mang tính công cụ để tiếp cận đối tượng, văn học được coinhư một đối tượng khoa học được nhìn nhận đánh giá từ nhiều góc độ” [24,345] Điều này khác hẳn với quan niệm văn học như một thú vui giải trí của
thời Trung đại Trong cuốn Văn minh tân học sách (1904) đã chứa đựng một
cương lĩnh cứu nước của các nhà Nho yêu nước tiếp thu ảnh hưởng của cáchmạng dân tộc tư sản và nêu lên nguyên nhân làm cho nước mất nhà tan Đó là
ta chỉ biết có ta, khinh cái bên ngoài; coi trọng quá mức giáo điều, không chịuhọc khoa học nước ngoài; coi trọng quá mức cái xưa, khinh bỏ cái hiện nay;trọng quan, khinh dân Từ đó họ chủ trương phải đổi mới theo các bước:Dùng văn tự nước nhà; hiệu đính sách vở; sửa đổi phép thi; chấn hứng côngnghệ; mở tòa báo Hoạt động ấy đã thể hiện những biến đổi sâu sắc về tưtưởng và văn chương học thuật Cũng từ đó quá trình hiện đại hóa phê bình
văn học dần xuất hiện rõ trên các tạp chí lúc bấy giờ như Đông Dương tạp chí, Nam phong tạp chí, … Những tạp chí này thường xuyên giới thiệu sách
mới, phân tích, đánh giá văn học Pháp, khảo cứu về văn minh học thuật ĐôngTây của các tác giả như Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh,Nguyễn Đỗ Mục, …
Nhưng dù sao trong quá trình chuyển đổi từ phương thức tư duy, đánhgiá văn học theo cách bình điểm phương Đông sang phương thức tư duy phântích mang tính chất phương Tây của giới phê bình văn học Việt Nam trong bathập kỷ đầu vẫn còn là những bước khởi động Nói đó là chặng khởi động vìmột thực tế đội ngũ phê bình vẫn còn ít, chất phê bình trong những tác phẩm
Trang 27phê bình còn chưa thật rõ ràng, chuyên sâu Các tri thức lý luận nhiều khi cònlẫn vào phê bình hoặc ẩn vào các công trình nghiên cứu, khảo cứu, biên soạn.
Và trong các công trình nghiên cứu, phê bình nhiều khi cũng lóe lên nhữngvấn đề lý luận Chưa có các nhà phê bình chuyên nghiệp và chưa có nhữngcông trình phê bình theo đúng nghĩa là phê bình
Quá trình hiện đại hóa phê bình văn học trong 3 thập kỷ đầu của thế kỷ
XX còn là quá trình đưa đến cho lĩnh vực này dần chuyển tới tính chuyên sâunhư khảo cứu, phê bình, lý luận Sự chuyên sâu này là một bước quan trọng
để phê bình văn học dần bước tới tính chuyên nghiệp Cũng nhờ vào sựchuyên sâu mà các nhà phê bình văn học mới có thể phát huy được những thếmạnh của mình ở những thể loại văn học nhất định Bước vào thế kỷ XX, vớimột loạt biến cố thời đại đ· tác động không nhỏ đến văn học nói chung và phêbình văn học nói riêng Đời sống văn học không còn như xưa, nhu cầu thưởngthức khác trước, quan niệm văn học cũng như nghề văn đã thay đổi Trước đóvăn học dân tộc chưa từng xuất hiện các cuộc tranh luận nghệ thuật còn lúcnày nó là một hoạt động thường xuyên và mang tầm quan trọng không nhỏtrong việc thể hiện tư tưởng, quan điểm phê bình…
Trong quá trình hiện đại hóa phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX, các thời kỳ lại có những đặc trưng khác nhau Ba thập kỷ đầu, như đãkhẳng định, chỉ là thời kỳ khởi động vào guồng Phê bình văn học Việt Namchỉ thực sự định hình rõ ràng vào thời kỳ từ 1932 trở về sau Từ năm 1932 lýluận phê bình văn học đã thực sự đóng một vai trò quan trọng trong đời sốngvăn học nước nhà: Đội ngũ đông hẳn lên, cùng với phê bình bút chiến còn có
lý luận với chức năng hướng dẫn, định hướng Chưa bao giờ hoạt động lýluận, phê bình sôi động như những năm này Người ta có đầy đủ sân chơi đểbày tỏ quan điểm, thể hiện thái độ, lập trường… Điều này đã tạo ra một môitrường văn học cần thiết để phê bình văn học tự đổi mới mình đồng thời có
Trang 28những tác động mạnh mẽ, tích cực đến các thể loại văn học khác như tiểuthuyết, thơ, kịch… Từ 1932 trở về sau, các thời kì phát triển và hiện đại hóacủa phê bình văn học Việt Nam tỏ ra liên tục hơn và ngày càng có nhiều cây
bút phê bình văn học sáng giá Năm 1933, Thiếu Sơn cho ra đời cuốn Phê bình và cảo luận đã thể hiện rõ lối viết phê bình văn học truyền thống kết hợp
với cách phân tích tổng hợp, khái quát của văn chính luận phương Tây Ôngđược xem là một trong những người mở đầu cho phê bình văn học Việt Nambằng chữ Quốc ngữ
Chúng ta có thể khẳng định quá trình hiện đại hóa phê bình văn họcViệt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX là một quá trình rất phức tạp Nó diễn
ra trong những hoàn lịch sử tương đối khác nhau vì thế có thể chia thànhnhiều thời kì khác nhau Nhưng trên những nét khái quát nhất của lĩnh vựcphê bình văn học, ta có thể hình dung ở ba thời kì lớn như chúng tôi đã trìnhbày Và cũng trên nền tảng phát triển ấy, chúng ta có thể hình dung được diệnmạo của phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX theo như những đánh
giá của tác giả Mã Giang Lân trong cuốn Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 - 1945: “1 Từ những bước khởi động đầu thế kỉ, nghiên cứu phê
bình lí luận văn học liên tục phát triển, nhanh chóng, phong phú, ngày càngsôi động tạo nên môi trường , không khí tranh luận học thuật rộng rãi và cónhiều thành tựu lớn: Hiện đại hóa bản thân thể loại và góp phần hiện đại hóacác thể loại khác như thơ, tiểu thuyết, kịch nói…Phong trào có bề rộng đồngthời tạo được đỉnh cao về tác giả, tác phẩm Nhiều tác giả, tác phẩm nghị luậnvăn học đến nay ta vẫn còn chiêm ngưỡng mà chưa vượt qua được cả về tríthức, phương pháp bút lực
2 Nghiên cứu phê bình lí luận văn học giai đoạn này bộc lộ rõ tính dânchủ và vai trò, ý thức cá nhân của tác giả Mọi người điều bình đẳng, diễnthuyết, viết bài, in bài, in báo, tranh luận (tất nhiên có cả những động cơ
Trang 29không thiện chí, tranh giành ảnh hưởng cá nhân hoặc cho nhóm, cho báo chímình, đả kích nhau, nói xấu nhau) Nhiều chính kiến, nhiều xu hướng, nhiềugiọng nói, nhiều ảnh hưởng khác nhau cùng tồn tại Ảnh hưởng truyền thống:
Kế thừa phát huy tri thức, tư duy, phương pháp của cha ông Ảnh hưởng lýluận văn học trong di sản cổ điển Trung Quốc Đặc biệt ảnh hưởng củaphương Tây, chủ yếu là văn học Pháp đã để lại dấu ấn khá rõ nét trong cáccông trình Trong sáng tác của các nhà văn khẳng định cái tôi cá nhân, trongvăn nghị luận vai trò cá nhân, ý thức cá nhân, chủ quan cũng được thể hiệnđậm nét, ngay từ văn phong: “Chạy đi đâu cũng không thoát khỏi cái tôi thìtôi là tôi vậy” (Hoài Thanh) Và rất nhiều điệp ngữ: Tôi muốn… Tôi thấy…Tôi viết… Tôi trích… Tôi cho rằng… Các ý kiến ở đây là của cá nhân, thểhiện tư thế cá nhân, nhân danh cá nhân để đối thoại bình đẳng
3 Mặc dầu những vấn đề lí luận chưa thật hệ thống và hoàn chỉnhnhưng hoạt động của văn chính luận những năm này luôn luôn năng động, tìmtòi, đề xuất những vấn đề đáp ứng kịp thời sự đòi hỏi của thời sự và thực tiễnsôi nổi của văn học Đồng thời thể hiện rõ những nét cơ bản của nghiên cứuphê bình lí luận hiện đại Hiện đại hóa ở đây xuyên suốt mọi cấp độ từ tinhthần, quan điểm đến phương pháp kĩ thuật và ngôn ngữ… Hiện đại hóa màkhông xa truyền thống Các tác giả nghiên cứu phê bình lý luận văn học từngôi nhà của mình ra tiếp thu, học tập phương Tây và tạo ra những trang viếtmang tính dân tộc sâu sắc” [24, 374 - 375 - 376]
Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, con đường hiện đại hoá phê bình vănhọc đầu thế kỷ XX là một chặng đường dài, phức tạp và rất nhiều thách thức.Trên con đường hoàn thiện quá trình hiện đại hoá phê bình văn học, đây chỉmới là những bước nhảy đầu tiên
1.1.2 Thời điểm 1941 - 1945 với những thành tựu nổi bật của phê bình văn học Việt Nam trước 1945
Trang 30Ba thập kỷ đầu của thế kỷ XX, phê bình văn học Việt Nam đã bước vàocon đường hiện đại hóa Tuy nhiên, với nhiều sự chi phối khác nhau mà giaiđoạn này phê bình văn học Việt Nam chưa có thật nhiều thành tựu nổi bật,chưa có những công trình đạt tới đỉnh cao Nhưng những bước tiến của phêbình văn học Việt Nam trong 3 thập kỷ đầu là điều đáng ghi nhận Nó đã tạonhững bước đệm vững chắc cho sự nhảy vọt của phê bình văn học thời kỳ
1941 - 1945 Nói cách khác, phê bình văn học Việt Nam thời kỳ 1941 - 1945
có được những thành tựu nổi bật là nhờ một phần vào những bước khởi độngcủa các thời kỳ trước Và trên thực tế có thể thấy rằng, phải đến thời kỳ 1941-
1945 phê bình văn học Việt Nam mới hội tụ được những thành tựu nổi bật với
cả thời kỳ trước 1945 Chỉ trong khoảng 5 năm, phê bình văn học Việt Namkhông chỉ định hình mà còn khẳng định được diện mạo phê bình văn học cho
cả gần nửa thế kỷ Phê bình văn học thời kỳ 1941 - 1945 thực sự đã đạt đượcnhững thành tựu nổi bật trên nhiều phương diện từ tác giả, tác phẩm đến sốlượng cũng như chất lượng Đây là thời kỳ phê bình văn học Việt Nam cónhững thay đổi sâu sắc từ trong bản chất Bên cạnh những cây bút phê bình đãtạo được chỗ đứng và gây được tiếng vang ở thời kỳ trước như Thiếu Sơn,Dương Quảng Hàm, Phạm Quỳnh, … thì thời kỳ này đã xuất hiện hàng loạtnhững nhà phê bình nổi tiếng với những công trình gây được tiếng vang lớn
như: Thi nhân Việt Nam (1941) của Hoài Thanh, Hoài Chân; Hàn Mặc Tử (1941) của Trần Thanh Mại; Theo giòng (1941) của Thạch Lam; Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan; Việt Nam cổ văn học sử (1942) của Nguyễn Đổng Chi; Việt Nam văn học sử yếu (1942) của Dương Quảng Hàm;
Ba mươi năm văn học (1942) của Mộc Khuê; Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942) của Trương Tửu; Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (1943) của Kiều Thanh Quế; Cuốn sổ văn học (1944) của Lê Thanh; Văn học khái luận (1944)
của Đặng Thai Mai… Bên cạnh đó còn có vô số các bài viết của các tác giả
Trang 31phê bình văn học được đăng tải trên các tạp chí có uy tín như Tạp chí Thanh nghị, Tạp chí Tri tân, Tạp chí Tao đàn… Chỉ trong khoảng 5 năm, giới phê
bình văn học đã hội tụ gần như đầy đủ các gương mặt anh tài của làng phêbình văn học Việt Nam trước năm 1945 Có thể kể đến những tên tuổi: ThiếuSơn, Trương Chính, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Lan Khai, Đào Duy Anh,Đặng Thai Mai, Hải Triều, Trương Tửu, Đinh Gia Trinh… Với Thiếu Sơn thì
đã có những chỗ đứng từ thời kỳ trước Ở thời kỳ này, ta phải kể đến bốn tácgiả lớn, họ có sức tác động lớn đến diện mạo, môi trường phê bình văn họclúc bấy giờ Trên thực tế, tên tuổi của họ cùng với các công trình nghiên cứuphê bình của mình đã có sức lôi cuốn và được xem là những đỉnh cao về phêbình văn học cho cả giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Hoài Thanh người đã gây
được tiếng vang lớn khi cho ra đời cuốn Thi nhân Việt Nam Tác phẩm không
chỉ là một công trình tổng kết lại cả một quá trình của phong trào Thơ mới màcòn thể hiện khả năng phê bình thơ hết sức lôi cuốn dưới ánh sáng của
phương pháp phê bình phương Tây Đặc biệt là bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca có giá trị lý luận rất lớn Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại với phương pháp khoa học của mình đã phê bình và tổng kết hầu như đầy
đủ những nhà văn gây được tiếng vang lúc bấy giờ Còn Đặng Thai Mai, HảiTriều lại là hai trong những đại diện ưu tú cho khuynh hướng phê bình vănhọc macxít
Đây cũng là thời kỳ mà văn học nước nhà đi vào con đường chuyênnghiệp hóa thực sự Nó hoàn tất một cách xuất sắc nhiệm vụ hiện đại hóa đặt
ra cho cả giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Với đóng góp của các nhà phê bình,văn học Việt Nam dù đi theo trào lưu, khuynh hướng nào cũng có quan điểmvững chắc, rõ ràng hơn Các công trình nghiên cứu hoặc bài viết của họ khôngchỉ đề cập đến những vấn đề văn học đương thời mà còn lùi lại xem xét
Trang 32những vấn đề văn học trong quá khứ Qua đó đặt vấn đề, tiên đoán hướng đicho văn học dân tộc sắp tới.
Thành tựu của lĩnh vực phê bình văn học thời kì 1941 - 1945 còn thểhiện ở chỗ thời kì này hội tụ nhiều trường phái phê bình văn học khác nhau.Đây chính là chất xúc tác làm cho lĩnh vực phê bình văn học thời kì này trởnên sôi động hơn bao giờ hết
Các nhà phê bình theo quan điểm macxít có hai đại diện tiêu biểu làĐặng Thai Mai, Hải Triều Họ có công rất lớn trong việc tiếp thu và truyền bá
tư tưởng văn nghệ macxít, hệ thống luận điểm, khái niệm mới nhưng cónhững điểm gặp gỡ với tri thức lý luận, phê bình truyền thống Việt Nam: Coivăn học là vũ khí, là công cụ phục vụ cho đất nước, văn học phải bám vàocuộc sống, cải tạo cuộc sống, giáo dục con người Các nhà phê bình theo quanđiểm macxít đã gây được ấn tượng mạnh và có sức thuyết phục cao, tập hợpđược một số nhà văn tài năng Họ gắn văn học và cuộc sống
Trường phái phê bình ấn tượng với đại diện ưu tú nhất là Hoài Thanh.Trường phái phê bình khách quan, khoa học có Đào Duy Anh, Dương QuảngHàm, Đinh Gia Trinh, Trương Tửu, Vũ Ngọc Phan… Các trường phái phêbình này có một điểm gần gũi đều chịu ảnh hưởng với cách tiếp cận củaphương pháp phê bình văn học phương Tây Họ chịu ảnh hưởng lớn và tiếpthu có nhiều chọn lọc những tinh hoa từ phê bình văn học phương Tây Điều
đó kết hợp với những tinh túy của phê bình truyền thống và tâm hồn Á Đông
đã tạo nên những trang phê bình văn học rất có giá trị
Giáo sư Phong Lê trong cuốn Vẫn chuyện văn và người, ở bài Đinh Gia Trinh trong đời sống văn chương - học thuật hồi 1941 - 1945 khẳng định: Đây
là thời kỳ ra đời dồn dập những tác phẩm tiêu biểu, có ý nghĩa tổng kết các giaiđoạn lớn - nhỏ của sự phát triển dân tộc, một sự dồn tụ chưa thấy có trước đây,vào những năm 20 và 30 Giáo sư Phong Lê cũng có chung quan điểm với rất
Trang 33nhiều tác giả khác khi đánh giá rất cao các công trình như Việt Nam văn học sử của Dương Quảng Hàm, Thơ văn bình chú của Ngô Tất Tố, Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, Văn học khái luận của Đặng Thai
Mai… bên cạnh đó còn là các công trình phê bình - nghiên cứu của: Đào DuyAnh, Nguyễn Sỹ Đạo, Kiều Thanh Quế, Phan Trần Chúc, …
Vậy là sau một khoảng lùi lịch sử, chúng ta lại thấy được những giá trị
to lớn mà phê bình văn học giai đoạn này tạo ra Nó giúp ta định hình đượcphê bình văn học của chính giai đoạn này đồng thời đây cũng là cơ sở đểchúng ta đánh giá những giá trị và đóng góp trong sự nghiệp phê bình văn họccủa Đinh Gia Trinh - đối tượng được luận văn đề cập tới
1.2 Đinh Gia Trinh - một gương mặt phê bình văn học 1941 - 1945
1.2.1 Đinh Gia Trinh - Vài nét về tiểu sử
Đinh Gia Trinh (1915 - 1974) sinh trưởng trong một gia đình nhà nhonghèo tại làng Kim Quan Thượng, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh nay thuộcngoại thành Hà Nội Ngoài tên thật Đinh Gia Trinh, ông còn có các bút danhnhư Diệu Anh, Thế Thụy Mẹ mất sớm, năm 1928, người cha đưa cả gia đìnhvào Hà Nội để kiếm sống Năm 1932, Đinh Gia Trinh vào học trường Bưởi.Năm 1963, ông nhận bằng tú tài Năm 1938, Đinh Gia Trinh thi vào trườngLuật Năm 1941, ông đỗ cử nhân Luật rồi đi làm tri huyện tư pháp ở Từ Sơn,Bắc Ninh Trong thời gian học Luật, Đinh Gia Trinh có tham gia dạy học tưtại trường Gia Long và hàng ngày vẫn nghiên cứu thêm văn học Pháp Theohọc rồi hành nghề Luật nhưng với tình yêu văn chương mang sẵn trong mìnhnên ông đã dành khá nhiều thời gian cho việc nghiên cứu văn học Ông là
thành viên phụ trách báo Thanh nghị, biên tập viên chuyên về văn học
phương Tây, phê bình tác phẩm thơ, văn mới Việt Nam
Trang 34Trong khoảng 5 năm làm việc và cộng tác với Tạp chí Thanh nghị,
Đinh Gia Trinh có ngót 100 bài viết được đăng tải trên tạp chí này Trướcngày Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, Đinh Gia Trinh đã bắt liên lạc và hoànhập ngay với nhóm thanh niên trí thức yêu nước Hà Nội Cách mạng thángTám 1945 thành công, ông tham gia vào bộ máy Chính phủ nước Việt Namdân chủ cộng hoà và giữ chức Đổng lí văn phòng Bộ Tư pháp Ông là đại biểuQuốc hội khoá I; phó Tổng Thư ký Hội Luật gia Việt Nam; uỷ viên Ban Đấutranh chống tội ác xâm lược của đế quốc Mỹ tại Việt Nam, uỷ viên Ban Biên
tập Tạp chí Luật học
1.2.2 Đinh Gia Trinh với nhóm Thanh nghị
1.2.2.1 Vài nét về nhóm Thanh nghị và Tạp chí Thanh nghị
Trong cuốn Hồi ký Vũ Đình Hoè (Nguyên Chủ nhiệm Tạp chí Thanh nghị
1941 - 1945) đã dành rất nhiều trang sách giới thiệu về xuất xứ của Thanh nghị Nhóm Thanh nghị được tạo thành trước khi Tạp chí Thanh nghị ra đời Nhưng cái mà người ta vẫn gọi là nhóm Thanh nghị ấy không phải là một tổ
chức chặt chẽ kiểu như một tổ chức chính trị hay tổ chức xã hội với điều lệ,
nội qui rõ ràng Thậm chí nhóm Thanh nghị cũng chẳng có nổi một giao ước
ngầm, một ủy thác kín đáo Đó là cuộc gặp gỡ của “dăm ba bạn bè” vốn họccùng trường lớp Trong thời điểm đất nước có nhiều biến động to lớn về mặtchính trị, xã hội họ nảy sinh ý định làm báo Nghĩa là ý định làm báo ấy của
họ lúc đầu cũng hết sức bâng quơ mà như Vũ Đình Hoè thừa nhận là “tầmphào”, không chủ đích rõ ràng bởi một lý do hết sức đơn giản nhưng lại vôcùng hệ trọng: “Có ai chuyên nghiệp báo đâu!” Nhưng với suy nghĩ, nhiệthuyết và lòng yêu nước của những trí thức còn trẻ, họ muốn làm một việc gì
đó để phục vụ đất nước đang trong cảnh nô lệ Thế rồi họ viết Họ viết vớinhững gì của cuộc sống đặt ra, viết bằng vốn học của từng người Yêu cầu
Trang 35chung ấy làm nảy sinh ở họ ý muốn là có một tờ báo cho riêng mình để được
chủ động Và thế là tờ Thanh nghị được ra đời.
Mới đầu thành lập, nhóm Thanh nghị chỉ có ba người gồm Vũ Đình
Hoè, Vũ Văn Hiền, Phan Anh Cả ba con người này đều học luật, cùng hoạtđộng cho tổng hội sinh viên Ba người này như đã nói, họ vốn là bạn từ lâu
Sau đó nhóm Thanh nghị có thêm Hoàng Phú Tấn và Lê Huy Vân Năm
con người này theo như Vũ Đình Hoè nói đó là “năm bạn nối khố” chính là
những thành viên trong nhóm Thanh nghị và sáng lập nên Tạp chí Thanh nghị Như vậy, nhóm Thanh nghị và Tạp chí Thanh nghị có liên quan mật
thiết với nhau Ngay trong cách đặt tên của nhóm và của tạp chí cũng thấyđược mối liên hệ sâu xa bên trong của nó Vũ Đình Hoè hình dung đó là một
quá trình được hiểu như sau: “Báo Thanh nghị và nhóm Thanh nghị hai hoà nhập thành một, mà tôi gọi một cách tổng hợp: Thanh nghị” [21, 19].
Ở Việt Nam thời kỳ chiến tranh thế giới thứ II có rất nhiều tờ báo xuấthiện Trong số các tạp chí xuất bản về các vấn đề chính trị, văn hoá, xã hội có
Tạp chí Thanh nghị được khá nhiều người biết đến Báo Thanh nghị đăng đàn vào tháng 5, năm 1941 Lúc đầu báo Thanh nghị có hai dạng, đó là Thanh nghị trẻ em và Thanh nghị chuyên đề Nghị luận văn chương - khảo cứu Đối tượng mà đề tài đang đề cập và khảo xét là Thanh nghị thuộc loại Nghị luận - văn chương - khảo cứu Tạp chí Thanh nghị là phương tiện thực hiện phương
thức hoạt động của một số trí thức yêu nước còn trẻ tuổi Sau khi nhóm
Thanh nghị quyết định làm báo Thanh nghị, tờ báo này đã đề ra tôn chỉ, mục đích hoạt động rất rõ ràng Mục đích của báo Thanh nghị là tập hợp tri thức
có cùng suy nghĩ là phụng sự Tổ quốc trong giai đoạn nước sôi lửa bỏng,thông qua những bài báo của mình Để rồi từ các bài báo ấy gây ra một dưluận xã hội cần thiết để thông cảm, ủng hộ cho những suy nghĩ của nhóm Vàtrên thực tế 5 năm hoạt động của tờ báo này đã có rất nhiều độc giả đồng
Trang 36thanh hưởng ứng với nhóm Thanh nghị Đó là nguồn cổ vũ động viên lớn lao cho nhóm Thanh nghị Xin trích một vài đoạn thư của độc giả gửi cho báo Thanh nghị được Vũ Đình Hoè trích dẫn trong cuốn hồi ký của ông:
Nhờ những tài liệu rất dồi dào và bài vở soạn rất công phu mà chúng tôi
có thể biết thêm được một số ít kinh nghiệm ở đời
Tôi đã đọc kỹ và nay tôi không ngần ngại mà mua Thanh nghị dài hạn.Tôi mong rằng tờ Thanh nghị sẽ sống vẻ vang và mãi mãi với thời gian Nay kính thư
Hồ Thường
No 98 Rue Magnanerie à Thị Nghè, Gia §ịnhTái bút: Một số ít chị em bạn gái của tôi mong rằng tờ Thanh nghị sẽ trởthành một tờ báo chung cho cả nam nữ nghĩa là có nhiều bài nói về phụ nữ.Vậy tôi mong ông để tâm cho” [21, 74]
Một ví dụ khác nữa “ Nhật báo Sài gòn - chủ nhiệm: Bùi Thế Mỹ, số rangày 5 Novembre 1941 đăng hẳn một bài của toà soạn mình, mang tiêu đềnhư sau: (Trang báo giới quốc văn):
Một sự cố gắng của các bạn Tân học
(Nhân đọc báo Thanh nghị)
Trang 37Lược bỏ đoạn đầu rồi nhật báo Sài Gòn nhận xét về báo Thanh nghị: Báo Thanh nghị chia làm hai phần khác nhau: Một phần chuyên đề về khảo cứu,
văn chương với nghị luận, ra mỗi tháng một số, với một phần nữa là “Thanhnghị - trẻ con” chuyên đề giáo dục nhi đồng (….)
“Một số Thanh nghị mà chúng tôi đã xem qua đều có vẻ đúng đắn đángkhen Bài vở phần nhiều có công phu khảo cứu, có giá trị về tư tưởng mà lạiviết bằng một ngòi bút chắc chắn chứng tỏ sự chịu khó luyện tập của cácthanh niên Tây học này đối với Quốc văn
Giữa lúc nghề làm báo đương sống trong một cảnh chật vật, khó khăn
mà lại có một nhóm người tân học đứng ra xuất bản một tờ báo hữu ích nhưThanh nghị, kể cũng là một sự cố gắng đáng cho người chú ý lắm vậy
Vì thế chúng tôi rất vui lòng viết mấy dòng này để khuyến khích các bạnthanh niên chủ trương Thanh nghị và giới thiệu tạp chí ấy với độc giả của bảnbáo” [21, 75-76]
Nguyên tắc tập hợp tri thức của nhóm Thanh nghị là “Đồng thanh tương ứng” và “độc lập tư tưởng” Để phục vụ cho mục đích trên, báo Thanh nghị đã
đề ra tôn chỉ của mình Nó được xác định trong bốn khẩu hiệu đề ra khi tờ báohoạt động và cũng được xem là bốn phương châm hướng dẫn việc viết bài:
1 - Thông hiểu sự vật và tư tưởng
2 - Thu nhặt tài liệu để góp vào việc giải quyết những vấn đề quan hệđến đời sống của dân tộc Việt Nam
3 - Phụng sự một nền nghệ thuật chân chính
4 - Phổ thông mà không làm giảm giá
Tạp chí Thanh nghị lúc đầu như đã giới thiệu do năm người bạn thành
lập và phụ trách Nhưng rồi sự kết nối của nó dần phát triển để có được mộtđội ngũ biên tập và cộng tác viên đông đảo và trải dài khắp Bắc chí Nam Cứnhư vậy mối liên hệ giữa họ với biên tập viên và cộng tác viên càng trở nên
Trang 38mật thiết và mở rộng Họ gắn bó với nhau ruột thịt, tất cả gắn bó với tờ báocàng ngày càng sâu sắc, bằng cả khối óc và trái tim.
Toà soạn của Tạp chí Thanh nghị được tổ chức, phân công khá chuyên
nghiệp về các mảng đề cập của tờ báo:
Phan Anh phụ trách về các vấn đề chính trị, hiến pháp, công pháp; VũVăn Hiền phụ trách về kinh tế, công thương nghiệp, tài chính; Vũ Đình Hoèphụ trách giáo dục, xã hội, tiểu công nghiệp, đời sống trong nước; Ngôy NhưKonTum phụ trách về khoa học, kỹ thuật; Đinh Gia Trinh phụ trách về vănhọc nghệ thuật; Lê Huy V©n phụ trách phê bình văn học; Nguyễn Trọng Phấnphụ trách về lịch sử Việt Nam cận đại; Đỗ Đức Dục phụ trách thời sự, chínhtrị quốc tế
Về đường lối chính trị, Thanh nghị chấp nhận và không phân biệt xu
hướng nào, tả hay hữu, miễn rằng chân thành yêu nước và hăng hái phục vụ
dân chúng Hoạt động của Thanh nghị trong khoảng 5 năm tồn tại, được chia
thành nhiều thời kỳ khác nhau Ở mỗi thời kỳ như thế do hoàn cảnh lịch sử,
chính trị, xã hội khác nhau, trọng tâm trị sự của Tạp chí Thanh nghị cũng có
những thay đổi Cụ thể:
Thời kỳ 1941 - 1942, là thời kỳ đầu, họ “không tỏ rõ thái độ chính trị
gì” Vì thế Thanh nghị được ví như một “bộ mặt hiền khô”.
Thời kỳ từ 1942 1943, Thanh nghị công khai thái độ rõ ràng: “Mạnh
-Đồng tâm để phụng sự” Sở dĩ có những thay đổi như thế bởi do hoàn cảnh đãkhác trước cả về khách quan lẫn chủ quan Đất nước ta có những dấu hiệu của
thời cơ được giải phóng, vì thế, Thanh nghị phải thấy được mình có trách
nhiệm như thế nào? Tín ngưỡng ra sao? Họ cũng quan tâm đến vấn đề chínhtrị và đặc biệt quan tâm tới việc xóa bỏ chế độ thực dân trên đất nước
Bước sang thời kỳ 1943 - 1944, Thanh nghị chủ trương “Sống làm
cường liệt sinh tồn lực của giống nòi” Họ như thấy thời cuộc đang khẩn
Trang 39trương hơn bao giờ hết Vì thế, họ tích cực nhập thế hơn Thanh nghị chủ
trương: Sống thật mạnh để dân tộc sống mạnh hơn và mãi mãi
Đến thời kỳ 1944 - 1945, Vũ Đình Hòe gọi đó là sự “giải thoát trongđau khổ”
Năm 1945 là thời gian cuối cùng để rồi trước “đêm hội dân tộc”, nhóm
Thanh nghị và Tạp chí Thanh nghị đôi ngả chia tay.
Từ số đầu tiên (tháng 6, năm 1941) đến số cuối cùng (tháng 5, năm
1945), Tạp chí Thanh nghị cho ra đời được 120 số với khoảng 3000 bản mỗi
kỳ Mười một số đầu tiên xuất bản hàng tháng Từ số 12 (ngày 1, tháng 5,năm 1942) cho đến số 23, xuất bản hai tuần một số Trong năm 1944, báo
Thanh nghị xuất bản hàng tuần Trong khoảng 5 năm tồn tại, Tạp chí Thanh nghị đã có những đóng góp không nhỏ cho đời sống, xã hội nước nhà Tờ báo
đã chạm đến mọi ngóc ngách của cuộc sống từ khảo cứu chính trị, khảo cứukinh tế đến khảo cứu về nghề nông, từ khảo cứu về giáo dục đến khảo cứu vềlịch sử, văn hóa, nghệ thuật
Có thể nói rằng, Thanh nghị là tấm gương phản chiếu đời sống văn hoá, tư
tưởng của giai đoạn này Thanh nghị trở thành phương tiện để diễn tả những bănkhoăn, khát vọng, thiết tha của đa số tri thức, đồng thời cũng là trường học cho
những thanh niên, học sinh Tạp chí Thanh nghị đã kịp thời phản ánh đời sống,
lịch sử, xã hội, văn hóa, văn chương của đất nước trong giai đoạn mà văn học đãđạt được những thành tựu to lớn của công cuộc hiện đại hóa
1.2.2.2 Đinh Gia Trinh, một cây bút phê bình văn học sáng giá trên Tạp chí Thanh nghị
Dẫu không phải là tổng biên tập hay chủ bút của Tạp chí Thanh nghị,
song vai trò của Đinh Gia Trinh là đặc biệt quan trọng Tác giả Vương Trí
Nhµn trong cuốn Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa đã nhận xét:
“Đinh Gia Trinh trong Tạp chí Thanh nghị có một vai trò riêng biệt” Sự riêng
Trang 40biệt ấy trước hết thể hiện ở mảng mà Đinh Gia Trinh phụ trách trên tạp chí Đó
là mảng về hoạt động văn chương Hầu hết các số ra của Tạp chí Thanh nghị,
Đinh Gia Trinh đều có các bài viết của mình, đặc biệt là giai đoạn sau của tạp
chí Khảo sát Tạp chí Thanh nghị trong khoảng 5 năm hoạt động, Đinh Gia
Trinh đã có gần 100 bài viết được đăng tải Đó là một con số không hề nhỏ nếu
ta biết rằng văn học không phải là nghề của ông Những bài phê bình văn họccủa «ng đã đi sâu vào nhiều vấn đề có ý nghĩa trọng đại đối với văn chươngnước nhà Đó có thể là một vấn đề văn chương có tầm khái quát cao về tư
tưởng như Tính cách văn chương Việt Nam trước thời kỳ Âu hoá (Tạp chí Thanh nghị, số 2 - 3, năm 1941), Trách nhiệm của các văn nghệ sỹ (Tạp chí Thanh nghị, số 5 - 6, năm 1941) Đó cũng có thể là một vấn đề cụ thể nhưng đang rất thời sự: Đọc cuốn Việt Nam văn phạm của «ng Trần Trọng Kim (Tạp chí Thanh nghị, số 2, năm 1941) hay Đọc Xuân Thu nh· tập (Tạp chí Thanh nghị, số 2, năm 1942) Thời kỳ 1941 - 1945, chính là thời kỳ hội tụ những
thành tựu rực rỡ nhất của phê bình văn học Việt Nam trước 1945 Việc ĐinhGia Trinh có được chỗ đứng vững chắc trong giới phê bình văn học lúc bấy giờ
đã là một thành công lớn xét về góc độ chuyên môn Hơn thế, sự nghiệp phêbình văn học của Đinh Gia Trinh được xem là một mắt xích quan trọng trongdiễn trình hiện đại hóa phê bình văn học Việt Nam, giai đoạn nửa đầu thế kỷ
XX Bên cạnh những tên tuổi sáng giá của làng phê bình văn học Việt Namnửa đầu thế kỷ XX như Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, DươngQuảng Hàm, Hoài Thanh, Đặng Thái Mai, Hải Triều… chúng ta luôn thấy têncủa Đinh Gia Trinh Đó là một sự thừa nhận cho tài năng và tầm ảnh hưởngcủa Đinh Gia Trinh Việc một tạp chí có uy tín bậc nhất lúc bấy giờ về lĩnh vực
văn hóa nghệ thuật như Tạp chí Thanh nghị giao cho Đinh Gia Trinh phụ trách
một mảng lớn về văn chương học thuật đã chứng tỏ tài năng của ông