1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự kết hợp truyền thống và hiện đại trong thơ rabindrannath tagore

54 662 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự kết hợp truyền thống và hiện đại trong thơ Rabindranath Tagore
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 167,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở một cái nhìnvừa khái quát, vừa cụ thể hơn, Chelisép - nhà ấn Độ học nổi tiếng ngờiNga đã viết: "Sự nghiệp vĩ đại và toàn diện của R.Tagore là một tổng hợphài hoà của Kaliđasa, của nhân

Trang 1

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1.Rabindranath Tagore (1861-1941) đợc xem là ngôi sao sángcủa thời kỳ phục hng văn hoá ấn Độ Ông là một cây bút tài hoa, một tàinăng toàn diện ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật Tám mơi năm miệt mài lao

động, nếm trải đầy đủ hạnh phúc và cay đắng của một đời văn, một đờingời, ông để lại cho đời một trớc tác đồ sộ: 42 vở kịch, 12 cuốn tiểuthuyết, hàng trăm truyện ngắn đợc đánh giá ngang hàng với các bậc thầytruyện ngắn Môpatxăng, Sê khốp Ông còn là một nhạc sĩ tài ba, ngời

đã sáng tạo 2006 ca khúc, trong đó có quốc ca ấn Độ Hàng ngàn tácphẩm hội hoạ đặc sắc của ông đợc công chúng đón nhận nồng nhiệt

Ông là một tổng hợp kỳ diệu của văn học ấn Độ Tuy nhiên, nơi kết tinhtài năng siêu việt nhất của ông là thơ ca Với 52 tập thơ, trong đó có "ThơDâng" đợc giải Nobel năm 1913 R.Tagore đợc xem là một phát hiện củathơ ca thế kỷ XX, là " kì công thứ hai của tạo hoá sau Kalidasa" trongtruyền thống thơ ca ấn Độ Thế giới biết đến ông với t cách ngời Châu á

đầu tiên đạt đợc giải Nobel - đoạt tấm vé đi vào cõi bất tử (Phạm XuânNguyên) Điều đó đã làm thay đổi cách nghĩ của ngời Phơng Tây về ấn

Độ- xứ sở mà trớc đó chỉ biết đến với tôn giáo huyền bí và cổ tích thần

kỳ Điều này đã thôi thúc chúng tôi bớc vào tìm hiểu sáng tác củaR.Tagore, một mảnh đất hứa hẹn nhiều sự thú vị và độc đáo, mà nói nhNguyễn Minh Châu "mặc dù đợc cày xới đến đâu vẫn còn những mỏquặng quý tận sâu trong lòng đất"

1.2 Nếu nh Kaoabata sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản, Raxungamzatốp

là "đặc sản "của vùng Đaghetxtan hoang dã phóng khoáng mà ân tình, thìTagore đợc "chng cất " nên bởi sự trầm t mặc tởng, sự an nhiên minh triếtcủa nền văn hoá, văn học ấn Độ "Con ngời của thầy là thuộc về vĩnhcữu Ngời trò chuyện với những bậc hiền nhân đã đánh dấu buổi bìnhminh của nền văn hoá ấn Độ, nhng cũng kiên quyết đi vào giai đoạn hiện

đại Ngời biết dung hoà cái muôn đời với cái khoảnh khắc, cái phổ biến

và cái riêng lẻ" (Indra Gandhi) Chúng tôi nhận thấy mặt quan trọng, nổibật làm nên giá trị lớn của tác phẩm R.Tagore chính là vấn đề kết hợptruyền thống với hiện đại Vì vậy đi vào tìm hiểu một vấn đề trong sángtạo thơ ca của R.Tagore không chỉ để hiểu một tài năng xuất chúng mà

Trang 2

còn để hiểu bản chất của nền văn hoá, văn học ấn Độ và sự lu chuyển,phát triển của nó từ truyền thống đến hiện đại

1.3 Vấn đề kết hợp truyền thống và hiện đại không chỉ có ý nghĩatrong sáng tác R Tagore hay nền văn học ấn Độ, mà là vấn đề có tínhthời sự, luôn đặt ra cho quá trình phát triển của thơ ca hiện đại, trong đó

có thơ ca Việt Nam Hay nói khác đi, đó là yêu cầu của mọi sáng tạo đểthơ ca còn mãi với thời gian Tìm hiểu sự kết hợp giữa truyền thống vàhiện đại trong thơ R.Tagore, vì vậy, không chỉ để hiểu một hiện tợng thơ

ca cụ thể mà hơn thế, nó còn gợi mở nhiều vấn đề lí luận về mối quan hệgiữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại trong sáng tạo vănhọc

1.4 Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trớc, thơ R Tagore đã đợc đavào giảng dạy, học tập trong hệ thống nhà trờng ở nớc ta, từ phổ thông

đến đại học Tuy nhiên, cho đến nay, việc giảng dạy thơ ông đang gặp rấtnhiều khó khăn, cả về t liệu và phơng pháp tiếp cận Trong hoàn cảnh đó,tìm hiểu sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong thơ ông là một h-ớng đi có nhiều ý nghĩa, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đang đặt ra.Chúng tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài này vì nó vừa có ý nghĩa lýluận, vừa có ý nghĩa thực tiễn "không chỉ là ném cái nhìn mơ mộng vềphơng trời viễn xứ mà tìm một lối đi ngay dới chân mình" [2,15]

2.Mục đích, nhiệm vụ

2.1 Mục đích

Mục đích của chúng tôi là nghiên cứu sự kết hợp giữa truyền thống

và hiện đại trong thơ R.Tagore - một phơng diện làm nên giá trị vĩ đại,tầm vóc của thơ R.Tagore trong nền thơ ca ấn Độ

2.2.Nhiệm vụ

Với mục đích đẫ đề ra, đề tài có các nhiệm vụ sau :

Chỉ ra đợc những tiền đề lịch sử và t tởng cho sự kết hợp truyềnthống và hiện đại

Chỉ ra đợc sự kết hợp truyền thống -hiện đại trên phơng diện nộidung và hình thức

3.Phạm vi và đối tợng.

3.1 Nghiên cứu sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong thơ

là một vấn đề tiềm ẩn nhiều khó khăn phức tạp, đặc biệt là ở một nhà thơ

vĩ đại nh R.Tagor Xuất phát từ nhận thức đó, trong khuôn khổ một luận

Trang 3

văn tốt nghiệp, chúng tôi giới hạn vấn đề trên một số phơng diện cơ bảnnh: đề tài, chủ đề, các hình thức tổ chức nghệ thuật cơ bản.

3.2 Sau hơn 70 năm sáng tạo, R.Tagore để lại cho đời một di sảnkhổng lồ với 52 tập thơ Tuy nhiên, do hạn chế về mặt t liệu và khả năngngoại ngữ, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi khảo sát của đề tài qua một sốtập thơ tiêu biểu đã đợc dịch và xuất bản ở Việt Nam, nh:

- Thơ R.Tagore, Đào Xuân Quý tuyển dịch và giới thiệu, NxbVHTT, H 2000

5 Lịch sử vấn đề

Rabinđranath Tagore là một nhà văn lớn của ấn Độ, là biểu tợngcho năng lực sáng tạo của con ngời trên trái đất Vì thế những công trìnhnghiên cứu về tác phẩm của ông rất đồ sộ Tuy nhiên do hạn chế về khảnăng ngoại ngữ nên trong một chừng mực nào đó, chúng tôi chỉ có thểtiếp cận những bài nghiên cứu về R.Tagore bằng tiếng Việt

5.1 R.Tagore đã trở thành một hiện tợng của thơ ca thế kỷ XX, đặcbiệt từ sau 1913, khi ông đợc trao tặng giải Nobel văn học ở Bengal, R.Tagore đợc xem nh một vị thánh, niềm tự hào kiêu hãnh của ngời dân,mỗi khi nói về ông: "Bạn nớc ngoài nhắc đến R Tagore là làm êm taichúng tôi" M Gandhi và J Nehru xem ông là "Ngôi sao sáng nhất trongnền văn hoá phục hng ấn Độ" Trong số những học giả ấn Độ nghiêncứu về R Tagore phải kể đến tên tuổi của những ngời nh KrixulaKripaliri với R.Tagore, Radhkrisnhan với Bàn về triết học Tagore, Nêrulavới Rừng thơ

Năm 1912, W.B Yeat nhà thơ Ai Len, trong lời giới thiệu tập ThơDâng xuất bản lần đầu ở Anh đã dẫn lời một bác sĩ Bengal am tờng vănhọc: "R Tagore là vị thánh đầu tiên của chúng tôi đã không chịu từ bỏcuộc đời mà còn nói đến chính bản thân cuộc đời nữa, nên chúng tôi yêu

ông ta" Cũng chính ông, trong năm đó đã viết những lời nhận xét thậttinh tế về Thơ Dâng: "Một tập thơ ở nguyên bản về nhịp điệu rất du d-

Trang 4

ơng, về màu sắc rất tế nhị, không sao dịch đợc, về âm luật đầy nhữngkhám phá mới mẻ" (chuyển dẫn Lời dâng Nxb ĐN, 1)

5.2 ở Việt Nam, tên tuổi R Tagore đợc biết đến có phần muộn hơn

so với nhiều nớc trên thế giới Lần đâu tiên, ngời Việt Nam biết đến R.Tagore là vào năm 1924, qua những bài viết ngắn của Thợng Chi trên báoNam Phong Năm 1961 trở thành cái mốc quan trọng trong lịch sửnghiên cứu giới thiệu R.Tagore ở Việt Nam Cuốn R.Tagore của CaoHuy Đỉnh có thể xem là công trình có tính quy mô đầu tiên trong việcnghiên cứu giới thiệu R.Tagore ở nớc ta Cuốn sách tập hợp những bảndịch về thơ, kịch R Tagore, đặc biệt là một bài tiểu luận dài 48 trang vềcuộc đời, t tởng nghệ thuật và những giá trị đặc sắc trong sáng tác R.Tagore của Cao Huy Đỉnh Nhiều ý kiến của Cao Huy Đỉnh đã có ýnghĩa gợi mở, mang tính phơng pháp luận cho những nghiên cứu R.Tagore về sau Cũng trong năm đó, Xuân Diệu, Yến Lan, Nguyễn ĐìnhThi, Chế Lan Viên đã xuất bản thơ R Tagore đợc tuyển dịch từ tiếngPháp Kể từ đây, tác phẩm R Tagore, đặc biệt là thơ đã lần lợt đợc xuấtbản ở Việt Nam, ví nh: Lời dâng, Ngời làm vờn (Đỗ Khánh Hoan dịch),Trăng non (Phạm Hồng Dung, Đỗ Bích Thuý dịch), Tuyển thơ R Tagore(Đào Xuân Quý tuyển dich, giới thiệu) Năm 1984, giáo s Lu Đức Trungcho ra đời cuốn giáo trình văn học ấn Độ từ khởi thuỷ đến năm 1950,trong đó thơ Tagore đợc xem là một trọng tâm Từ đây tác phẩm củaR.Tagore chính thức đợc đa vào giảng dạy ở bậc phổ thông và đại học

Điều này đã có một ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy quá trình nghiêncứu, giới thiệu sáng tác R Tagore ở nớc ta những năm gần đây Nhiềubài nghiên cứu về thơ R Tagore đã lần lợt xuất hiện trên các tạp chínghiên cứu Trong đó, tiêu biểu là những bài nh: R Tagore - nhà triết họcnhà thơ nhân đạo chủ nghĩa, Nguyễn Tấn Khanh, (Tạp chí văn học số 2 -1986); R Tagore nhà thơ trí tuệ muôn màu, (Đào Xuân Quý, báo vănnghệ số 20/1986); Chất trí tuệ điểm sáng thẩm mỹ trong thơ R.Tagore,(Nguyễn Thị Bích Thuỷ, Tạp chí văn học số 14-1998); Thiên nhiên trongthơ Dâng (Nguyễn Văn Hạnh, Tạp chí văn học số 9/2000); Cái tôi trừtính triết lí trong Thơ Dâng, (Nguyễn Văn Hạnh , Tạp chí nghiên cứu

Đông Nam á, số 4/2000)

5.3.Trong các công trình nghiên cứu nói trên, các tác giả đã bớc đầu

đi vào nghiên cứu, giới thiệu R Tagore theo hớng thi pháp học Nhiềuvấn đề nổi bật trong thơ R Tagore đã ít nhiều đợc đề cập Trong đó, dù

Trang 5

trực tiếp hay gián tiếp, mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trongthơ R Tagore đã đợc nhìn nhận nh một đặc điểm nổi bật Ngay từ năm

1912 W.B.Yeats, khi cảm nhận sự hồn nhiên giản dị của tâm hồnR.Tagore nh tâm hồn trẻ thơ trớc vẻ đẹp của thiên nhiên đã nhận xétrằng: " Nhiều lúc tôi tự hỏi phải chăng thi sỹ đã tìm thấy sự hồn nhiên vànét giản đơn này ở văn chơng Bengal hoặc tôn giáo Nhiều lúc khác, nhớlại những con chim đã sà xuống đậu trên tay anh thi sỹ, tôi thấy vui sớngkhi nghĩ rằng sự hồn nhiên đó, nét đơn giản đó mang tính cách truyềnthống, mang trong mình sự huyền bí đã phát triển qua nhiều thế kỷ"(chuyển dẫn lời giới thiệu tập Thơ Dâng, Đỗ Khánh Hoan dịch, Nxb ĐàNẵng, 1997) Năm 1954, Nêrula trong Rừng thơ đã có nhận xét tinh tế,khi ông cho rằng, "R.Tagore hoà hợp với ngôn ngữ và tâm hồn Băng Gan

nh hoa sen nở thơm ngát trong ánh bình minh" [87, 3] ở một cái nhìnvừa khái quát, vừa cụ thể hơn, Chelisép - nhà ấn Độ học nổi tiếng ngờiNga đã viết: "Sự nghiệp vĩ đại và toàn diện của R.Tagore là một tổng hợphài hoà của Kaliđasa, của nhân đạo chủ nghĩa ở các thi sĩ trung cổ ấn nhTulxidax và cả triết lí Phật gắn với tinh thần đoàn kết yêu nớc của nhândân ấn Độ" [chuyển dẫn 15, 3] Còn các nhà văn ấn Độ lại nhận thấy

"Thơ R.Tagore lu lại trong tâm hồn ngời đọc cái dấu ấn ngọt ngào, mê li

và đậm chất ấn Độ" Từ góc độ một nhà t tởng, Indra Gandhi đã nhạnthấy một sự kết hợp hài hoà sâu sắc giữa minh triết ấn Độ và cái mới mẻ,phóng khoáng trong t tởng R Tagore Bà viết: "Ngời (R Tagore) tròchuyện với những bậc hiền nhân đã đánh dấu buổi bình minh của nềnvăn minh ấn Độ, nhng ngời cũng kiên quyết đi vào giai đoạn hiện đại".Dới một góc nhìn khác trong khi nghiên cứu Thơ dâng của R.Tagore,Nguyễn Văn Hạnh đã nhận thấy sự kết hợp truyền thống và hiện đạitrong thơ của thi sỹ gắn liền với một ý thức dân tộc sâu sắc "Những hình

ảnh thiên nhiên đợc R.Tagore sử dụng trong Thơ Dâng đều có nguồn gốc

ấn Độ, tuyệt nhiên không hề có sự vay mợn những hình ảnh ngoại lai"[10] Báo cáo trớc Hội đồng giải thởng Nobel Hoàng gia Thuỵ Điển, viện

sĩ Pir Honfrom đã khẳng định: "Chắc chắn từ năm 1932 khi Gớt qua đời,cha có một nhà thơ nào ở châu âu có thể sánh với R Tagore trong tinhthần nhân đạo cao cả, trong tầm vĩ đại hồn nhiên và trọng sự trầm lặng cổ

điển" [chuyển dẫn 7,165]

Đây đợc xem là một trong những lý do cơ bản để trao tặng cho R.Tagore giải thởng cao quý này

Trang 6

5.4 Điểm lại một số công trình nghiên cứu về R.Tagore, có thểthấy, một trong những vẫn đề nổi bật đợc nhiều ngời nói đến là sự kếthợp giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại Tuy nhiên, cho

đến nay, cha có một công trình nghiên cứu nào khảo sát một cách đầy

đủ, toàn diện về vấn đề này Luận văn của chúng tôi, vì vậy, là sự tiếp nốihớng tìm tòi đã đợc khai mở từ những ngời đi trớc với một cái nhìn hệthống hơn

6.Cấu trúc luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chơng:

Chơng 1: Những tiền đề cho việc kết hợp truyền thống và hiện đạitrong thơ R.Tagore

Chơng 2: Nhận thức lại những vấn đề truyền thống dới nhãn quancủa thời đại mới

Chơng 3: Sử dụng những thủ pháp nghệ thuật thơ ca truyền thống

Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo

Chơng 1 Những tiền đề cho việc kết hợp truyền thống và hiện đại trong thơ R.Tagore

1.1.Tiếp xúc Đông Tây và sự thức tỉnh của ấn Độ

Từ thế kỷ XV, ngời phơng Tây đã đặt chân đến ấn Độ Đầu tiên làngời Bồ Đào Nha, tiếp đó là các nớc thực dân Hà Lan, Pháp, Anh Và

đến nửa sau thế kỷ XIX, ấn Độ chính thức trở thành thuộc địa của Anh.Trong cái nhìn của các nớc thực dân phơng Tây, ấn Độ là biểu tợng củaphơng Đông huyền bí và quyến rũ Đó là xứ sở của Himalaya, "Bông sentrắng vĩ đại", "Ngôi nhà thiêng của thế giới", xứ sở của Sông Hằng, dòngsông mẹ linh thiêng có sức thanh lọc mọi uế tạp tội lỗi, là xứ sở củanhững huyền thoại, thần linh và truyền thuyết, nơi đó có vũ điệu ápxara

đầy mê hoặc , thuật múa rắn kỳ bí, có sự hấp dẫn trái ngợc của "Vũ nữ và

Trang 7

thầy tu" ấn Độ cổ đại trong mắt ngời phơng Tây là một miền đất hứavới nguồn hơng liệu và gia vị vô giá Lịch sử ấn Độ cổ đại gắn liền với

"con ngời tơ lụa" và "con đờng hồ tiêu" huyền thoại Từ sau cuộc tiếpxúc với văn hoá phơng Tây, ngời châu Âu đã có một cách nhìn mới mẻhơn về ấn Độ

Từ nửa sau thế kỷ XIX, ấn Độ chuyển dần sang chế độ thực dânphong kiến, dới sự cai trị của nữ hoàng Anh, mở đầu cho một thời kỳ lịch

sử tồi tệ trong lịch sử: "Bị phụ thuộc về chính trị, bị bóc lột về kinh tế,tình trạng tôi mọi về tinh thần" (M.Gandhi) Khi thực dân Anh đặt chânlên đất nớc ấn Độ thì cũng là lúc "những cánh đồng trắng xoá đài bông

đã ngả sang màu trắng của xơng khô những ngời thợ dệt" [37,11] Đó làmột giai đoạn đau thơng trong lịch sử ấn Độ đồng thời cũng là một giai

đoạn chứng kiến sự trôỉ dậy mạnh mẽ của tinh thần ấn Độ, "sự thức tỉnhcủa con s tử á Châu" Bản nhạc dạo đầu cho phong trào phục hng ấn Độ

là trào lu phục hng văn hoá và tôn giáo, mà cốt lõi của nó là tinh thần đạoHindu Khởi xớng phong trào này là Ram Mô han Roy (1772-1833), ng-

ời đợc mệnh danh là "ngời cha tinh thần của đất nớc ấn Độ mới" RamMô han Roy là một học giả uyên bác, thông hiểu chữ Phạn và chữ Anh,làm việc tại công ty Đông ấn Ông đã truyền bá t tởng tự do, cổ động chonhững cải cách xã hội nh chống lại tục lệ Sati (tục vợ tự thiêu khi chồngchết), chống lại chế độ kiểm duyệt của nhà cầm quyền thực dân Anh

Ông đã làm việc không mệt mỏi để dung hợp những tinh tuý của hai nềnvăn hoá Đông- Tây Sự ra đời tổ chức tôn giáo mang tên Brahmo Samaj(Hiệp hội thần Brahma) do ông sáng lập là nhằm cụ thể hoá t tởng đó.Trong những năm nửa sau thế kỷ XIX, đây thực sự là một tổ chức vănhoá xã hội có một ảnh hởng sâu rộng đến sự thức tỉnh tinh thần ấn Độ,trớc hết là trong tầng lớp sinh viên trí thức ở các thành phố lớn nhCalcutta Cùng với sự phát triển của phong trào cải cách tôn giáo, phongtrào đấu tranh đòi dân chủ do G Tilắk (1855-1920) cầm đầu cũng ngàycàng phát triển mạnh mẽ Ông đã khởi đầu phong trào bằng việc dùngdiễn đàn của hai tờ báo Kêrasi (s tử) và Marattha để thức tỉnh tinh thầndân chủ, tuyên truyền t tởng cách mạng Cơ sở lý luận của G Tilak dựavào Bhagavadgita, kêu gọi con ngời phải nỗ lực hành động theo bổn phậnchính nghĩa J Nehru đã gọi G Tilak là "ngời cha của phong trào cáchmạng ấn Độ" Song song với hai phong trào đó là phong trào cải cáchvăn học ở Bengal do nhà văn Bakim Chandra khởi xớng Bakim Chandra

Trang 8

(1838 - 1894) đợc xem là "cha đẻ của tiểu thuyết hiện đại" Năm mờilăm tuổi, Bakim Chandra theo học ở Calcutta Ông chịu ảnh hởng sâu sắc

văn học Anh, đặc biệt là nhà văn W.Scot Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Tu viện đạo hạnh của ông miêu tả quá trình nổi dậy của những ngời theo

đạo Hindu chống thực dân Anh và Đạo Hồi vào cuối thế kỷ XVIII Bài

thơ Kính chào mẹ hiền tổ quốc của ông đợc R.Tagore phổ nhạc đã nhanh

chóng trở thành ca khúc đợc quần chúng yêu thích Bakim Chandra lànhà viết tiểu thuyết chuyên về đề tài lịch sử và xã hội Tác phẩm của ôngluôn lên tiếng chống lại những tục lệ hủ lậu của tôn giáo và đẳng cấp.Nhiều nhà văn thế hệ sau đã chịu ảnh hởng t tởng và nghệ thuật của ôngtrong đó có R.Tagore Sự phục hng văn hoá đã thổi một luồng sinh khímới vào ấn Độ, thức tỉnh ý thức về con ngời cá nhân cá tính Văn học ấn

Độ bắt đầu đa dạng hoá đề tài, chuyển dần từ việc khai thác các đề tàitrong thần thoại lịch sử, sinh hoạt cung đình và kinh kệ giáo huấn sangviệc biểu hiện những con ngời bình thờng trong đời sống thực tại của đấtnớc Cái nhìn của nhà văn hớng nhiều đến cuộc sống trần thế, quan tâmnhiều đến số phận con ngời trong cuộc đời thực tại Nội dung chủ yếucủa văn học là tinh thần phản kháng chế độ đẳng cấp và lễ giáo hà khắc

hủ bại của xã hội nô lệ và phong kiến, của tôn giáo Blamôn, tiếng kêugào của những ngời cùng đinh nô lệ và những ngời phụ nữ đòi hỏi đợc h-ởng hạnh phúc trần thế, nguyện vọng đoàn kết dân tộc ấn Độ thành một

đại gia đình, sự ca ngợi thiên nhiên đất nớc giàu có và tơi sáng

Những cải cách này đã tái sinh những nguồn mạch chính của ấn

Độ truyền thống kết hợp với những tinh hoa văn hoá của phơng Tây hiện

đại Văn học ấn Độ tập trung thể hiện những nội dung thời đại, đồng thờivẫn mang những cảm hứng, cách thể hiện truyền thống của một nền vănhoá thâm trầm tôn trọng đạo đức và tâm linh Cùng với nghề in xuất bản

và báo chí, các thể loại văn học trở nên phong phú Thơ và truyện kểngày xa không đủ để biểu hiện sinh hoạt xã hội và đời sống tâm linhphức tạp của con ngời nữa Sự đổi mới cảm xúc kéo theo sự xuất hiện củanhững thể loại mới: tiểu thuyết phân tích tâm lý xã hội, chính kịch, thơ tự

do, phê bình văn học Ngôn ngữ văn học trở nên dân chủ và phong phúhơn Ngôn ngữ Băng gan đi tiên phong rồi đến các ngôn ngữ khác trongtoàn ấn ngày càng đợc hiện đại hoá làm cho văn học thêm sáng sủa tếnhị Ngôn ngữ văn học dân chủ và phong phú hơn Nếu nh trớc đó chỉ sửdụng ngôn ngữ Săngcơrit và Ba t thì giờ đây văn học ấn đợc viết bằng

Trang 9

nhiều thứ tiếng trong đó cả tiếng Anh Văn học và ngôn ngữ nhanh chóng

đợc hiện đại hoá Có thể nói, các phong trào này đã khuấy động mặt nớc

ao tù trì trệ của xã hội ấn Độ bấy giờ, đa lịch sử ấn Độ bớc vào thời kỳphục hng dân tộc Sự phục hng văn hoá ấn Độ đã làm hồi sinh đất nớcrộng lớn này, đồng thời làm cho phơng Tây nhận ra một khuôn mặt mớicủa ấn Độ, đằng sau tấm màn che mặt huyền bí Con ngời cá nhân, cátính, đã dần dần đợc nói đến nh một phạm trù trung tâm trong đời sốngxã hội Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong việc kích thích sự tìm tòi sángtạo, đổi mới văn học theo hớng hiện đại hoá, dân chủ hoá

Xuất hiện trong hoàn cảnh đó, R.Tagore dần dần nổi lên nh mộtngôi sao sáng Ông cổ vũ cho tinh thần hoà hợp Đông - Tây, phản đốikịch liệt t tởng Kiplin khi ông ta cho rằng, "Đông là Đông, Tây là Tây,

Đông Tây không bao giờ gặp nhau đợc" Trong thời kì phục hng ấn Độ,

có hai quan điểm trái ngợc nhau: một bên cho rằng cần phải loại bỏ mọi

ảnh hởng văn hoá phơng Tây, quay về với truyền thống văn hoá dân tộc,phái đối lập cho rằng phải vất bỏ truyền thông dân tộc, tiếp nhận ảnh h-ởng của văn hoá phơng Tây, xem đó là hình mẫu để xây dựng văn hoá ấn

Độ Điều này đã đợc J.Nehru nói một cách hình ảnh: "Một số ngời nghĩ

đến hoa và lá trên cành mà quên mất rằng chúng chỉ nẩy nở nhờ đợccung cấp dinh dỡng từ một bộ rễ chắc bền Những ngời khác lại nghĩ quánhiều đến gốc rễ, đến mức chẳng còn hoa lá cành nào nữa hết, chỉ cònmột thân cây to đứng đó Vấn đề ở đây là làm thế nào để có đợc sự cânbằng" [6] R.Tagore đã dung hoà hai quan điểm đó, ông coi văn học nhmột cây đời mãi mãi xanh tơi cắm rễ sâu vào mạch nguồn dân tộc và mởrộng cành lá đón gió bốn phơng Ông quan niệm sứ mệnh nguời nghệ sĩ

là phải sửa soạn những cánh đồng bao la cho một cuộc hôn phối của mọinền văn hoá, nơi đó mỗi dân tộc đều có phần cho đi và lấy lại Trong quátrình phục hng và hiện đại hoá văn học, cội nguồn truyền thống ấn Độluôn đợc bảo lu vững chắc trong thơ R Tagore Ông cho rằng, phải đi

đến tận cùng chiều sâu mới gặp vô biên của chiều rộng Muốn đi từ chântròi của một ngời đến chân trời tất cả không phải bằng cách tự xoá mình

đi, mà trớc hết phải bằng cách khẳng định bản sắc của chính mình Nhvậy, cuộc tiếp xúc với văn hoá phơng Tây làm ấn Độ thức tỉnh sau mộtgiấc ngủ triền miên Và qua cuộc tiếp xúc này, ngời ấn không chỉ tiếpthu có chọn lọc văn hoá Phơng Tây mà còn có ý thức sâu sắc hơn về bản

Trang 10

sắc văn hoá ngàn đời của dân tộc mình, giúp văn học ấn bắt kịp vớidòng chảy của văn học hiện đại Phơng Tây.

1.2 Sự xuất hiện con ngời cá nhân cá tính

Vấn đề con ngời cá nhân cá tính là một vấn đề quan trọng, từ lâu đã

là đối tợng khảo sát và ngày càng thu hút mối quan tâm của các nhànghiên cứu xã hội học, văn học trên thế giới Các Mác và Ăng ghen lànhững ngời quan tâm rất lớn đến sự xuất hiện con ngời cá nhân trong

lịch sử Trong Hệ t tởng Đức, C Mác đã từng viết: "Con ngời trong các

xã hội trớc t bản chủ nghĩa đều quan niệm các đặc điểm của đẳng cấp,tầng lớp nh là đặc điểm của cá nhân họ" Trong văn học điều này có một

ý nghĩa đặc biệt Bởi lẽ, không có một lĩnh vực hoạt động nào lại mang

đậm tính cá nhân, cá thể nh sáng tạo văn học Nghiên cứu quan hệ "tiểuthuyết và phong cách" A.VMikhailốp đã cho rằng, ngay từ thời trung đại

đã có những biểu hiện mang tính chất cá nhân chống lại các quan niệmchung Quan niệm của tác giả cho rằng, con ngời cá nhân cá tính nảysinh từ quan niệm cổ đại về nhân cách nh là cá thể nguyên tử luận, nghĩa

là đơn vị nhỏ nhất của nhân loại" [chuyển dẫn 4,21] Tuy nhiên con ngờicá nhân cá thể với t cách là một khối riêng biệt độc lập, có gu thẩm mỹ,phông văn hoá riêng, tự ý thức đợc bản thân mình chỉ xuất hiện ở thờikỳT bản chủ nghĩa, đặc biệt trong xã hội Phơng Tây Có thể xem, đây làmột đóng góp của phơng Tây cho quá trình phát triển của nhân loại.Nếu nh ở phơng Tây, con ngời đợc ý thức là con ngời cá nhân cá thểthì phơng Đông, đó lại là con ngời cộng đồng, con ngời của các mối quan

hệ, đặc biệt là ở những nớc nh ấn Độ Trong suốt một lịch sử hàng ngànnăm trớc đó, ở ấn Độ khái niệm con ngời cá nhân, cá tính dờng nh cha

hề đợc biết đến Con ngời đợc nhìn nhận nh là một mắt xích nhỏ bé trongmối quan hệ với toàn thế giới Tính cộng đồng đợc xác lập ngay trongquan hệ gia đình- ngời ấn thờng sống trong một gia đình nhiều thế hệ vànói nh J.Nehru " ở ấn Độ ngời ta không chú ý đến lợi ích và tham vọngcủa cá nhân và là của cả nhóm, tức là của gia đình Việc lớn lên và sốngtrong gia đình lớn đã làm giảm thiểu thái độ coi mình là trung tâm của

đứa trẻ mà phát triển khuynh hớng xã hội hoá ở nó [7, 268] Bên cạnh

đó, chế độ đẳng cấp khắc nghiệt làm cho mỗi con ngời coi các đặc điểmcủa đẳng cấp là đặc điểm của mình Nếu họ tôn trọng một cá nhân nào

đó nh vua chẳng hạn, thì chỉ vì đó là đại diện tiêu biểu của cộng đồng.Mặt khác, ấn Độ là một đất nớc tôn giáo, mà mục đích của tôn giáo là

Trang 11

giải thoát, triệt tiêu cái ngã để đạt đến trạng thái vô ngã, siêu thoát Ngoài

ra chế độ công xã ở ấn Độ cũng gia tăng thêm tính vững chắc của cộng

đồng Bên cạnh tính cộng đồng chặt chẽ, con ngời, cá nhân, cá tính còn

bị hãm bởi một lý do khác nữa, đó là đặc điểm t duy ấn Độ Ngời ấn Độchủ trơng sống hoà hợp với thiên nhiên, coi trọng cái phổ quát, tuyệt đối,coi nhẹ cái cá biệt Chính vì thế trong văn học ấn Độ truyền thống, dờng

nh không có chỗ cho sự xuất hiện của con ngời cá nhân cá tính Nó hoàtan trong gia đình, trong công đồng nh giọt nớc trong biển cả

Cuộc tiếp xúc với văn hoá thơng Tây làm thức tỉnh con ngời cá nhântrong văn học ấn Văn học thời kỳ này miêu tả con ngời đa diện với đờisống tinh thần phong phú nhiều chiều Chính sự phát triển của cái tôi cánhân đã sản sinh ra những thể loại văn học mới: Tiểu thuyết phân tíchtâm lý, thơ lãng mạn, phê bình văn học, tự truyện… những thể loại văn những thể loại vănhọc lấy thế giới nội tâm đa dạng, phức tạp của con ngời làm đối tợng.Các nhà văn thời kỳ này đã tìm cho mình một tiếng nói riêng Trong đónổi bật là ba chủ soái của ba trờng phái: văn học hiện thực (Premchand),văn học lãng mạn (Bakim Chandra), văn học yêu nớc và cách mạng(M.Găng đi) Con ngời cá nhân, cá tính xuất hiện làm cho văn học ấn

Độ bớc sang một trang mới Yếu tố thời đại, văn hoá ảnh hởng mạnh

mẽ đến t tởng quan điểm và thực tiễn sáng tác của các nhà văn trong đó

có R.Tagore Điều này đã góp phần giải thích sự xuất hiện của cái tôi cánhân cá thể trong thơ R Tagore

1.3 Kết hợp truyền thống và hiện đại - một biểu hiện của triết

lý hoà hợp trong t tởng ấn Độ

Trong lịch sử tồn tại phát triển của văn hoá ấn Độ hàng ngàn nămqua, t tởng hoà hợp luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Nó không chỉtạo nên bản sắc riêng cho văn hoá ấn Độ trong dòng chảy của văn hoánhân loại, mà còn góp phần tạo nên sự thống nhất hài hoà giữa dân tộc vànhân loại; truyền thống và hiện đại Nh chúng ta đã biết, ấn Độ là mộtquốc gia rộng lớn và hết sức phức tạp, cả về chủng tộc tôn giáo, ngônngữ Điều này thực sự trở thành một khó khăn cho quá trình thống nhấtvăn hoá ấn Độ trong thời hiện đại Theo cách nói của R C Majunidar -nhà sử học ấn Độ, "Những khác biệt bên trong một nớc ấn Độ còn lớnhơn tự khác biệt giữa các nớc Châu Âu" [Chuyển dẫn 3,4] Trong hoàncảnh đó, triết lý hoà hợp trong tinh thần ấn Độ đã đóng vai trò đặc biệtquan trong trong việc thống nhất, dung hoà tất cả các yếu tố dị biệt ấy

Trang 12

ở ấn Độ từ rất sớm đã có sự tồn tại song song của hai tôn giáo:

"Tôn giáo hởng lạc cảm quan và tôn giáo khổ hạnh tự dày vò thân thể:Tôn giáo của vũ nữ và thầy tu" (Mác) Đặc điểm t duy mĩ học ấn rất kỳlạ: Ngời ấn xem đau khổ cũng đẹp nh hạnh phúc, cái chết cũng đángquí nh sự sống Sở dĩ nh vậy, bởi triết học ấn Độ xem toàn thể vũ trụ cóchung một nguồn gốc, có muôn vàn mối liên hệ tế vi giữa những sự vậthiện tợng, những sự tơng đồng giữa chúng Một sự vật trên thế giới đều

là một thể thống nhất, đều là những biểu hiện khác nhau của tinh thầntuyệt đối Brahman "Từ đó đa đến kết quả là ở ngời ấn có t tởng về tínhduy nhất của những cặp đối lập" [19, 234]

Trong văn học ấn, t tởng trên đợc bộc lộ rất rõ Thần thoại ấnmiêu tả sự ra đời của thần tình yêu Kama cùng lúc với thần chết Yama,nghĩa là họ có ý thức dung hợp đợc hai vấn đề đối lập: Sống - chết.Trong bản tụng ca về các thần, thần mặt trời Suria có bốn vợ, trong đó cóhai vợ là thần ánh sáng và bóng tối, có nhiều con trong đó có thần chếtYama và thuỷ tổ loài ngời Manu Những phạm trù đối lập nh ánh sáng vàbóng tối, sự sinh tồn và huỷ diệt đợc nhìn nhận trong mối quan hệ gắn

bó với nhau, cùng song song tồn tại Quan niệm này đợc bộc lộ rõ trongcâu chuyện dí dỏm mở đầu "Hai mơi đêm hỏi đáp": Thợng Đế tạo nênngời phụ nữ bởi những yếu tố trái ngợc: "hình nhuần nhuyễn của cặpchim Yểng - chất cứng rắn của ngọc kim cơng, vị ngon ngọt của đừơngmật - lòng tàn nhẫn của hùm beo, sức nóng bỏng của lửa, khí lạnh lẻocủa băng tuyết, nét dối trá của cò vạc - đức trung trinh của chim Uyên

Ương" [19, 300] Câu chuyện này ngoài việc thể hiện một cách nhìn dídỏm, lí thú về bản chất phụ nữ, còn bộc lộ quan niệm về sự hoà hợp giãtất cả các mặt đối lập nhau trong thế giới Nh vậy, có thể thấy, sự dunghợp giữa truyền thống và hiện đại, khoảnh khắc và muôn đời cũng chỉ làmột biểu hiện trong triết lý hoà hợp đó

Lẽ dĩ nhiên, không một nền văn học nào hoàn toàn cắt đứt với vănmạch truyền thống dân tộc Sáng tạo của các nhà văn phải bắt nguồn,hoài thai, sinh thành từ những trầm tích của văn hoá dân tộc Bàn về mốiquan hệ giữa dân tộc và nhân loại trong tiến trình văn hoá, J Nehru viết:

"Một cá nhân con ngời, một chủng tộc hay một dân tộc tất yếu phải cómột chiều sâu lịch sử nhất định và một cội rễ nhất định Họ đợc đánh giácao bởi có một nguồn gốc trong quá khứ Nếu không ngời ta chỉ là bảnsao nhợt nhạt của một cái gì đó không có ý nghĩa tiêu biểu cho một cá

Trang 13

nhân hay một nhóm Mặt khác, ngời ta không thể sống với một mình cội

rễ Cội rễ sẽ khô héo nếu nó không vơn ra đợc mặt trời và không khí tự

do Chỉ khi đó cội rễ mới mang dinh dỡng đến cho anh, khi đó cuộc sốngmới đơm cành nở hoa" [6] Văn học dân tộc nào cũng mang trong mình

nó những yếu tố của quá khứ - Sự tích luỹ những kinh nghiệm, sự khônngoan qua các thế hệ và những yếu tố của thời đại Điều này góp phầntạo nên sức sống cho văn học

Sự vận động và phát triển của văn học ấn Độ nhìn chung luôn đạt

đ-ợc một sự thống nhất hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, tạo cho vănhoá, văn học ấn Độ thành một dòng chảy liên tục tự nhiên Đây là mộtnền văn hoá cổ xa và lâu đời, nhng lại trờng tồn qua những thăng trầmlịch sử và cha bao giờ bị chết đi Cho đến hôm nay, bên trong cái dáng

vẻ hiện đại, ngời ta vẫn dễ dàng nhận ra đợc cái cốt lõi, cái tâm hồn củahàng chục ngàn năm quá khứ trên đất nớc rộng lớn này Những cuộc xâmlăng và những thế kỷ thống trị của các tộc ngời Hi Lạp, Hồi giáo hoặcthực dân phơng Tây sau này cùng những ảnh hởng văn hoá đem theo đãkhông huỷ diệt đợc, mà trái lại đã bị hoà tan vào dòng chảy mênh môngcủa truyền thống ấn Độ ấn Độ hiện đại - một đất nớc vừa là kinh đô

điện ảnh thứ hai thế giới, là trung tâm của các ngành khoa học mũi nhọn

nh công nghệ phần mềm, nguyên tử lại vừa là đất nớc quyến rũ của các

điệu múa ápxara, thuật múa rắn kỳ bí "đất nớc ấn Độ của Đức PhậtThích ca, của Hoàng đế Axôca vẫn còn in lại những dấu vết đậm néttrên đất nớc ấn Độ của R Tagore và Găngđi" [3,11] Cố Thủ tớngJ.Nehru đã đa ra hình ảnh về dòng sông Hằng nh một biểu tợng đầy ýnghĩa của nền văn học ấn Độ Dòng sông Hằng chính là hình ảnh tợngtrng của nền văn hoá và triết học ấn lâu đời Luôn luôn thay đổi, luônluôn trôi chảy nhng trớc sau vẫn là dòng sông Hằng ấy Nguyễn Thừa Hỉnhận xét: "Đặc trng của nền văn học ấn Độ là tính gắn bó với truyềnthống Theo tinh thần ấn Độ, cuộc sống của một con ngời, xét rộng ra làcủa cả một cộng đồng dân tộc là một dòng chảy liên tục và bất tận Quákhứ trổ hoa kết trái thành hiện tại, đến lợt nó, hiện tại sẽ đâm chồi nẩylộc trong tơng lai" [20, 239] Vẫn còn đó bóng dáng một ấn Độ uynghiêm với nền triết học phơng Đông sâu thẳm cùng những bộ kinhVêđa và Upanishad trong những tác phẩm đời sau Trong những sáng táccủa J Nehru, của T.S Pillai vẫn còn dấu ấn của một ấn Độ hùng trángnhng đầy nhân từ của những bộ sử thi vĩ đại Mahabharata, Ramayana;

Trang 14

một ấn Độ thấm đợm tình ngời trong những vần thơ của Kaliđasa thuở

x-a vẫn chảy trong những tác phẩm củx-a R Tx-agore Các tác phẩm văn học

ấn Độ thờng có hình thức mợn đề tài từ trong truyền thống Hai bộ sử thiMahabrasata, Ramayana mợn đề tài từ trong thần thoại Ngoài ra tronghai tác phẩm đó còn chứa vô số những châm ngôn xử thế, ẩn dụ triết họccủa văn học dân gian Đến lợt mình, hai bộ sử thi vĩ đại ấy lại là đề tài

của tác phẩm đời sau Hồ truyền kỳ Rama của Tulsidas, trờng ca Dòng dõi Ragu của Kaliđasa đều lấy đề tài từ Ramayana Tác phẩm Sự ra đời của thần chiến tranh Kumara của Kaliđasa lấy đề tài từ thần thoại cổ

diển nói về sự tích thần khổ hạnh Siva đã bị mũi tên thần tình yêu Kamabắn trúng nh thế nào, và vị thần khổ hạnh đó đã rạo rực yêu đơng và lấynàng Paravati làm vợ ra sao Quả thực nền văn hoá, văn học ấn Độ theo

sự ví von của J.Nehru chính là tấm da cừu mà ngời đi sau khi viết lên tấm

da cừu ấy không làm nhoè mực những gì tiền nhân đã viết

Kể từ khi những ngời Bồ Đào Nha đặt chân đến ấn Độ (1498) cho

đến khi R Tagore xuất hiện, cuộc tiếp xúc văn hoá Đông - Tây đã diễn

ra hơn ba thế kỷ Trong khoảng thời gian đó, vợt lên bao thăng trầm, vănhoá, văn học ấn Độ vẫn tồn tại, phát triển Và hơn thế, nó vẫn bảo lu đợcnhững giá trị truyền thống, và ngày càng trở nên phong phú sâu sắc hơnnhờ mở rộng bản sắc của mình Các nhà văn ấn Độ hiện đại trong đó có

R Tagore đã đợc nuôi dỡng trong không khí của thời đại và bầu sữa ngọtngào của văn hoá truyền thống Đến lợt mình, họ đã góp phần cho quátrình hội nhập, làm sâu sắc thêm bản sắc văn hoá dân tộc và tiến vữngchắc vào quá trình hiện đại hoá Có thể nói, không có thời đại ấy, sẽkhông có những con ngời xuất chúng nh Bakim Chandra, Vivekananda,Premchand, và đặc biệt là R Tagore Những mặt khác, chính những conngời ấy, con ngời mà Indra Gandhi gọi là ấn Độ nhất, đã góp sức mìnhcho quá trình phục hng dân tộc Sự kết hợp truyền thống và hiện đại trongthơ R Tgaore, vì vậy, vừa là sản phẩm của thời đại, vừa là đóng góp của

R Tagore cho văn hoá, văn học ấn Độ, đa văn hoá ấn Độ hội nhập vàothế giới

Trang 15

Chơng 2 Nhận thức lại những vấn đề truyền thống dới

nhãn quan của thời đại mới

R Tagore sống và sáng tạo trong một giai đoạn bớc ngoặt của lịch

sử ấn Độ Sự thức tỉnh mạnh mẽ của ý thức dân tộc và cùng với nó là quátrình ảnh hởng ngày càng rộng lớn của t tởng dân chủ t sản phơng Tây đãgóp phần mang đến cho thơ ca ấn Độ một hơi thở mới Nhiều vấn đề củatruyền thống đã đợc kế thừa và nhận thức lại trên một tinh thần mới, cáchnhìn mới Nó trở thành một cảm hứng, một nội dung cốt lõi trong quátrình phục hng văn học ấn Độ, tạo cho thơ ca ấn Độ một dòng chảy tựnhiên, liên tục không bị đứt đoạn giữa quá khứ và hiện tại Là ngời đi tiênphong trong quá trình phục hng văn học dân tộc, thơ R Tagore đã thểhiện một tinh thần thời đại trên nền tảng của truyền thống dân tộc Bảnchất, ý nghĩa cuộc sống; tự do và con đờng giải thoát; sự sống và cáichết đó là những vấn đề của thơ ca, tôn giáo, triết học ấn Độ truyềnthống đã trở thành cảm xúc mãnh liệt trong cảm hứng sáng tạo của R.Tagore, làm nên nội dung cốt lõi trong thơ triết luận R Tagore

2.1 Bản chất và ý nghĩa cuộc sống

Bản chất ý nghĩa cuộc sống luôn là vấn đề ám ảnh trong đời sốngtinh thần ấn Độ Từ thuở hồng hoang những điệu nhảy hồn nhiên quanh

đống lửa hay những hình vẽ đơn sơ trên vách đá của ngời nguyên thuỷcũng đã chứa đựng trong nó những quan điểm mộc mạc về lẽ nhân sinh.Thần thoại ra đời cũng chỉ để nhằm giải thích thế giới- sự giải thích ngâythơ của con ngời về vũ trụ Câu hỏi đầu tiên mà các trờng phái triết họccần phải giải đáp chính là bản chất cuộc đời và ý nghĩa cuộc sống conngời Các nghệ sỹ hơn ai hết lại luôn tìm kiếm khuôn mặt thật của cuộcsống Ngời ấn Độ với sự trầm t mặc tởng, luôn đắm mình trong t duychiêm nghiệm đã có ý thức rất sớm về bản chất ý nghĩa cuộc sống TừVêđa, Upanishad, Phật giáo, Hinđu giáo đến sáng tác của Kabir ngời

ấn luôn tìm cách lý giải ý nghĩa và bản chất cuộc sống, xem đó nh làmột vấn đề trung tâm cốt lõi Nguyễn Thừa Hỉ đã rất sâu sắc khi chorằng, "Đặc trng của tinh thần ấn Độ là sự trân trọng những giá trị tâmlinh Từ những thế kỷ xa xa, trong cái vô tận của một thiên nhiên hoangsơ, đầy hăm doạ và luôn luôn biến động Con ngời ấn Độ đã suy ngẫmsâu sắc về cuộc sống và bản chất của mình, để rút ra kết luận này chỉ

Trang 16

bằng tinh thần, t tởng, những sinh linh nhỏ bé và yếu ớt nh con ngời mới

có thể thành mạnh mẽ và vĩ đại " [20, 238] Nhìn chung, các tôn giáo,triết học ấn Độ đều có xu hớng phủ nhận cuộc đời trần thế, xem cuộc đờinày là bể khổ ở đó, nớc mắt chúng sinh nhiều hơn bốn bể Con ngờisinh ra trên đời không thoát khỏi vòng quay nghiệt ngã của sinh - lão -bệnh - tử, chốn trần gian chỉ là còi tạm bợ, phù du h ảo, và con ngời chỉ

là lữ khách ở trên trần thế Trong Mahabharata rải rác huyền thoại, ngônngữ, ẩn dụ, trong đó ngời ta thờng nhắc đến một câu chuyện ẩn dụ nổitiếng về hình ảnh đời ngời Có một ngời Balamôn đi trong rừng rậm sẩychân rơi xuống lng chừng một cái giếng sâu, đầu lộn ngợc, may mắn đợccác dây leo giữ lại bị treo lơ lửng nh một trái cây chín nẫu sắp rụng Đáygiếng là loài qủi đang há miệng chờ mồi, bên thành giếng là đàn chuột

đang gặm nhấm dần những cây leo mỏng mảnh Con ngời ấy vẫn cốgắng hứng lấy những giọt mật thơm tho từ một tổ ong mật bên thànhgiếng Cái giếng ấy, nh mọi ngời đều biết, chính là cuộc đời , con quáivật là cái chết chờ đón, đàn chuột gậm nhấm là thời gian, giọt mật làhạnh phúc trần thế hiếm hoi, và nạn nhân là con ngời đáng thơng chúngta" [20,144) Câu chuyện nói lên niềm hy vọng và ớc mơ hạnh phúc củacon ngời, nhng phần nhiều vẽ ra cảnh phù du h ảo và những tai ơng bấttrắc của cuộc sống trần thế Hình tợng Rama và Sita trong tử thi

"Ramayana sinh ra từ h vô, cuối cùng lại trở về h vô nh một minh chứngcho t tởng: Thân cát bụi lại trở về cát bụi Các bậc thức giả, đạo sĩ(rishis) của ấn Độ luôn coi cuộc đời đầy bất trắc, ngẫu nhiên, không cógì thờng hằng bất biến

Đợc nuôi dỡng trong bầu sữa văn mạch dân tộc, t tởng của R.Tagore

là một dòng chảy tiếp tục không hề đứt đoạn với văn học truyền thống.Tuy nhiên, trong hoàn cảnh mới, khi văn hoá ấn Độ đang có cuộc tiếpxúc mạnh mẽ với văn hoá t sản phơng Tây, nhiều vấn đề của truyềnthống tỏ ra không còn phù hợp với quan điểm, điệu sống của con ngờihiện đại Xuất phát từ nhận thức đó, R Tagore đã có sự nhận thức lạinhiều vấn đề của truyền thống và nghệ thuật hoá trong sáng tạo thơ ca.Trong đó, vấn đề bản chất và ý nghĩa cuộc sống nổi lên nh một vấn đềcốt lõi Một mặt, ông thừa nhận cuộc sống ngắn ngủi, đợc giới hạn bởihai đầu sinh tử Ông không chối bỏ mặt đau thơng trong cuộc sống con

ngời Ngay mở đầu tập Thơ Dâng và Ngời làm vờn đã có ba bài thơ đợc

R Tagore viết từ sự ý thức về sự ngắn ngủi của đời ngời (46, 27 , 68

Trang 17

-Ngời làm vờn; 70, 6 -Thơ dâng): "Nhng than ôi số phận hẩm hiu và thời gian ngắn ngủi, tuổi trẻ mỗi năm một tàn, ngày xuân không bền bỉ Những đoá hoa mỏng manh cũng dễ dàng rơi rụng, và kẻ khôn ngoan vẫn bảo anh rằng cuộc đời chỉ là giọt sơng trên chiếc lá sen" (46-Ngời

làm vờn)

"Sự vật chảy trôi không ngừng, không quay đầu nhìn lại đằng sau,

sự vật chảy trôi không ngừng, không quyền năng nào ngăn cản đợc"

R.Tagore bắt gặp t tởng Bunhin trong câu chuyện đầy d vị triết học về

đời ngời Quả thật cảm thức thời gian là cảm thức mang tính nhân loại.Nhng với Tagore, ý thức về đời ngời ngắn ngủi, không phải để chối bỏcuộc đời, để xem nó là tạm bợ, phù du h ảo mà ngợc lại là để thể hiệnlòng yêu đời, ham sống Ông sợ thời gian cớp mất hạnh phúc đợc hiến

dâng cuộc sống của ông : "Tôi lo rằng ngày sẽ tàn/ trớc khi tôi hay biết/

và giờ phút hiến dâng rồi sẽ trôi qua" (6-Thơ Dâng).

Tagore không phủ nhận cuộc đời ngắn ngủi đợc giới hạn bởi hai

đầu sinh tử Nhng ông không vì thế mà chối bỏ cuộc đời, ngợc lại đểchọn lấy một thái độ sống phù hợp:

"Ta vội vã hái hoa vì sợ gió lớt qua tàn phá Máu ta rạo rực Mắt

ta sáng ngời khi đón nhận những nụ hôn âu yếm, những nụ hôn sẽ tàn phai nếu ta chậm trễ Đời ta hăm hở, ớc vọng thiết tha vì thời gian sẽ

điểm giờ vĩnh biệt" (68 Ngời làm vờn) Chỉ có gia tăng cờng độ sống,

sống toàn tâm toàn trí sống toàn hồn mới có thể chiến thắng đợc thờigian

Tagore cũng không phủ nhận trong cuộc đời bên cạnh niềm vui cónỗi buồn, bởi lẽ con ngời, thứ sinh vật thiêng liêng vốn dĩ buồn nhiềuhơn vui, dễ bất hạnh hơn hạnh phúc Trong thơ ông, thảng hoặc ta bắt

gặp con ngời hiện lên "qua nớc mắt ngập ngừng, qua nụ cời tủi hổ, qua

đau thơng thấm lịm, qua tủi hổ lặng thầm" (24, Ngời làm vờn) hay

"chân rã rời tim nặng trĩu u buồn nên tôi đứng lặng thinh dới bóng mát tàn cây" (25, Ngời làm vờn) Nhng ý thức về sự ngắn ngủi và u buồn của

đời ngời chỉ để làm cho con ngời trân trọng nâng niu thêm hạnh phúc mà

Trang 18

mình có đợc Ngời ấn quan niệm đau khổ cũng đẹp nh hạnh phúc vàchúng là hai anh em.

Nhng âm điệu cơ bản trong thơ Tagore vẫn chính là lòng yêu say

mê cuộc sống, xem cuộc sống là một bài ca hoan lạc và ý nghĩa đời

ng-ời, không gì hơn là dâng hiến cho cuộc đng-ời, hoà hợp với cuộc đời trong

sự toàn mỹ của nó

2.1.1 Cuộc sống là bài ca hoan lạc

Cuộc sống đối với Tagore là ánh sáng, là nguồn vui, là lộc trời vôtận dốc mãi vẫn cứ đầy ở trong tim

Nh trên đã nói, trong thơ Tagore không chối bỏ nỗi buồn Nhng ông

biết chuyển hoá nỗi buồn thành niềm vui: "Khổ mênh mông đi vào tình yêu, ớc muốn, vui sớng, đớn đau trong gia đình nhân thế, và qua tâm hồn tôi thi sĩ, buồn sầu đã hoà tan, tuôn chảy thành những bài ca" (84, Thơ Dâng) "Tôi đã biến đau xót thành niềm vui và mang nó đến dâng cho ngời", cuộc đời với nguồn vui bất tận đã làm cho tôi "lau khô lệ ớt rời

đổi điệu bài ca" (46- Ngời làm vờn) điệu mới tơi vui hoà nhịp với cuộc

đời rộn rã

Đối với Tagore, cuộc đời là một chiếc li tràn trề niềm vui bất tận,

mong muốn mình là "thuyền nhỏ" để chúa Đời tát cạn rồi đổ đầy cuộc sống mát tơi mãi mãi, là "cây sáo nhỏ để chúa đời phả nhiều giai điệu mới mẻ đời đời" (1,Thơ Dâng), là "con xạ hơu chạy trong bóng tối rừng cây say vui vì hơng thơm ngào ngạt của chính mình" (15, Ngời làm vờn) Cuộc sống đợc mở ra nh một kinh đô tràn ngập ánh sáng: "ánh sáng nhảy múa giữa lòng cuộc đời anh đang sống", ánh sáng trong lòng mỗi ngời "đang gãy khúc nhạc tình trong tim anh", ánh sáng tràn trề khắp lối: "Trái đất ngập tiếng cời, nguồn vui trải trên lá cây hết phiến này đến phiến kia, một niềm khoái cảm khôn lờng" (57, Thơ Dâng) Tất cả đều

rạng rỡ và đầy phấn khích, đầy nồng nhiệt say mê

Để nói về sự toàn bích của cuộc đời, Tagore mợn câu chuyện cổtích kể về việc vũ trụ bị lạc mất một vì sao, cái thần linh không ngừng

tiếc nuối sầu thơng và coi đó là vì sao đẹp nhất, mất nó "thế giới mất đi nguồn vui duy nhất " Nhng đó là sự ngộ nhận về tính toàn vẹn của vũ trụ: "sao trời mỉm cời thì thầm với nhau: "Toàn bích truyện với ở khắp nơi nơi" Tác phẩm của Tagore nói lên những khát vọng thánh thiện,

lòng tin yêu nơi con ngời và cuộc sống, một niềm tin rực rỡ nh ánh mặt

Trang 19

trời chỉ có thể bị mây che chứ không bao giờ tắt, một tình yêu đắm say

đối với cuộc đời " dù có nhiều sầu muộn nhng vẫn không gì hơn nổi".

Khẳng định cuộc đời trần thế là nguồn vui tràn trề bất tận, trong thơ

Tagore luôn bộc lộ niềm biết ơn đối với cuộc đời: "Tôi đã đợc mời dự

đại hội trần gian, đời tôi thật có ân phúc diễm kiều" (16 Thơ Dâng)

"Tôi đã nếm hơng mật trong lòng bông sen đang xoè cánh trên đại dơng

ánh sáng, và nh thế tôi hạnh phúc lắm rồi"(96,Thơ Dâng) Chịu ơn cuộc

đời, ông đến với cuộc đời bằng một niềm say mê , cảm giác hân hoan

sung sớng, hạnh phúc tuyệt đỉnh: "Khi ngời ban lệnh cất lời ca, tôi thấy tim mình nh rạn nứt, hãnh diện khuôn cùng, ngớc nhìn Ngời, mắt tôi ứa lệ" (2, Thơ Dâng) "Tôi đã nếm hơng mật trong lòng bông sen đang xoè cánh trên đại dơng ánh sáng, và nh thế tôi hạnh phúc lắm rồi" (96,TD) Cảm giác "tim rạn nứt" "mắt ứa lệ" là cảm giác hạnh phúc

đắm say pha lẫn sự nồng nàn thành kính đối với cuộc đời này Ông đãkéo tất cả hạnh phúc ở chốn bồng lai tiên giới về giữa cõi trần lấm bụi.Lời cầu xin của ông đối với đức chúa không phải là đợc thoát lên cõi trời

xa xôi, mà là "xin dẫn dắt chúng tôi từ h vô về thực tại" Những hình

ảnh Chúa, Thợng Đế, Thầy, Ngời tràn ngập trong thơ R.Tagore chính làhình ảnh cuộc đời đợc linh hoá Trong một tác phẩm của mình ông viết:

"biết ngời trong đời sống này là chân thật, không biết ngời trong đờisống này là nỗi chết chết thê lơng [26,38] Ông đã trân trọng nâng niunhững biểu hiện nhỏ bé của đời sống cũng chính là đang trân trọng Th-ợng Đế, Thợng Đế hoà lẫn trong cỏ cây mây nớc "Tôi vẫn phủ phục trớcmặt Thợng Đế, Ngời ở trong lửa trong nớc, Ngời thấm nhuần khắp cả thếgiới, ở trong lửa và trong nớc ở trong những mùa gặt nắng nôi ngoài đồngcũng nh trong những bóng cây râm mát" [26, 34] Hình ảnh ngời lữkhách đi trên đờng, ngời yêu âm thầm chờ đợi trong đêm, ngời ca sĩ ngồihát một mình, kẻ ăn mày tình thơng đứng tần ngần trớc cổng, ngời congái trong căn phòng u tịch đang nhặt tìm từng cánh hoa vơng vãi trên gi-ờng, ngời ngồi con thuyền lơ lững trên sông đang nắn phím dạo đàn tấtcả đều là hiện thân của Thợng Đế vậy R Tagore có nói đến những t tởngthần bí, đến tôn giáo, đến Thợng Đế tâm linh nh các môn phái triết học

ấn Độ truyền thống, nhng đó là một tôn giáo nhân bản, là "tôn giáo conngời" Theo cách nói của Nadim Hitmet, cái có nhiều nhất trong thơ R.Tagore, là "lòng yêu cuộc sống, lòng tin cuộc đời"

Trang 20

Đối với R.Tagore, hạnh phúc chính là ở mặt đất trần gian này.Trong cuộc đấu tranh giữa đời và đạo, giữa thoát li và hoà nhập, thì cuộc

đời với sự quyến rũ mê hoặc của nó đã chiến thắng Câu chuyện thầy tukhổ hạnh hành xác trong rừng để chờ ngày lên niết bàn hởng hạnh phúctrờng cửu, nhng cuối cùng hạnh phúc cao nhất mà thầy tu mong muốnchính là cuộc sống trần gian trong hạnh phúc bình dị với cô gái hái củi(Ngời thoáng hiện , 33) Trong một câu chuyện khác, R Tagore phêphán, vạch rõ sự u mê tăm tối của con ngời bỏ nhà ra đi tìm Chúa ở mộtcõi xa xăm, mà không ý thức đợc rằng Chúa - niềm hạnh phúc tuyệt đỉnh

đang ngự trị trong tổ ấm thân thơng với hình ảnh vợ hiền và con thơ đangngủ (Ngời làm vờn, 75) Đối với R.Tagore, không gì đáng trân trọngbằng đợc sống giữa cuộc đời, niềm vinh quang lớn nhất là tay chân mình

đợc cõi đời chạm tới, dòng máu mình đang nhảy múa những nhịp đời củabao thời đại (69, Thơ Dâng) Mọi hoan lạc ở trên thiên giới chỉ là phù

du, ảo mộng Câu chuyện trong bài thơ "Từ biệt trời" đã chuyển tải mộtcách sâu sắc, xúc động t tởng triết lý đó của nhà thơ Con ngời sống mộttrăm năm trên trời hởng mọi khoái lạc, một hôm nhận ra tất cả sự vônghĩa, nhạt nhẽo ở đó "vòng hoa trời ban đã úa tàn trong lòng tôi ánhhào quang đã mờ nhạt trên đôi mày tôi, phúc trời ban cho tôi cũng vừahết", và trời chỉ là một xứ sở "lạnh lùng không tim" Không có hạnh phúcnào viên mãn hơn đợc sống trong cuộc đời đất bụi này

Câu hỏi thiên đờng ở đâu đã đợc trả lời bằng sự minh triết của mộttrí nhân bằng tình yêu của một tình nhân: hạnh phúc ở ngay trên mặt đấtbình dị, trong chất bụi dồi dào phong phú của trần gian Và nó đã đợcchuyển tải bằng những bài thơ nồng nàn, tha thiết Ông đã yêu cuộc đờibằng tình yêu của một tín đồ yêu chúa Khác chăng là ở chỗ, với ông đó

là Chúa đời

2.1.2 Khát khao dâng hiến cho cuộc sống

Nếu nh trong tôn giáo triết học ấn Độ, mục đích ý nghĩa đời ngời là

tu luyện để giải thoát sang thế giới bên kia, thì đối với R.Tagore cuộcsống chỉ có ý nghĩa khi đợc dâng hiến, hoà hợp với cuộc đời Ông luôn

mở rộng cõi lòng để cho "muôn vàn thế giới ùa vào niềm nở chào nhau"

Khát khao lớn nhất của ông là "đợc làm một ngời lữ hành dạo bớc giữa muôn ngời/đem trái tim tình ái hát ca/ dới ánh mặt trời rực rỡ với muôn sắc hoa" (sắc nhọn và mòn tù) Sự sùng bái, ngỡng mộ, yêu thơng đối

với con ngời, với cuộc đời đợc thể hiện bằng những bài ca triền miên bất

Trang 21

tận của một ca công vĩ đại, suốt đời tâm niệm: "Suốt đời tôi ca hát để tìm ngời" Khát vọng hoà hợp với Thợng đế - cuộc đời, luôn là khát vọng

mãnh liệt và thờng trực đi về trong tâm trí tác giả, thể hiện thành lời cầu

xin tha thiết: "Xin ngời rộng lợng phút giây cho tôi đến ngồi bên cạnh " (5, Thơ Dâng), ý nghĩa cuộc sống chính là "sống để hi vọng đợc gặp mặt ngời ấy" (13,Thơ Dâng) Ông luôn dành cho Chúa đời một tình yêu

thành kính Trong thơ, nó đợc hình tợng hoá bằng hình tợng ngời đi tìmThợng đế, với một niềm khát khao đợc giao cảm hoà hợp với cuộc đời

"Con ngời ấy ra đi khi bình minh vừa hé rạng" (Thơ Dâng ,12), hay đi trong "bóng tối thâm sâu tháng bảy sập sùi" (Thơ Dâng, 22) Dù là ngày

mùa xuân, đêm mùa hạ hay trong dông bão mùa thu, con ngời ấy vẫnlặng lẽ mãi miết trên đờng dài vô tận với một nỗi niềm khát khao đợc gặpNgời, đợc hát hầu Ngời" [8] Cuộc kiếm tìm không mệt mỏi ấy chính làcuộc kiếm tìm giá trị cuộc sống, là khát khao đến đợc với cuộc đời trong

sự hoàn thiện toàn mỹ của nó

Vì khát khao hoà hợp cới cuộc đời, nên ông đến với cuộc đời toàn

tâm toàn ý, yêu cuộc đời bằng tình yêu bao dung và độ lợng: "Cõi đời hôn lên hồn tôi với nỗi đau thơng và đòi hỏi tôi đáp lại bằng lời ca tiếng hát" (167-Những con chim bay lạc) Tận hiến cho cuộc đời mà không hề

đòi hỏi lại, đó là biểu hiện của một tình yêu bao la đến quên mình T ởng ấy sau này ta bắt gặp ở Xuân Diệu - nhà thơ lãng mạn Việt Nam -Uớc muốn tình yêu của mình với đời nh phấn thông vàng không đi cóchỗ có nơi mà khởi hành một cuộc viễn du vô hạn "nếu gió đa vào lòng

t-ấm áp hoa cái, thì nhuỵ sẽ thành quả vĩnh viễn đời đời, nếu gió đa vàochốn trống rỗng hay bùn lầy, cái ấy tuỳ lòng của gió" (Xuân diệu - Phấnthông vàng) Cũng vậy, R Tagore dâng hiến cho đời ngay cả khi đờichấp nhận hoặc từ chối T tởng ấy đợc thể hiện qua hình ảnh chàng traiquăng chài lới tìm hiểu những vật phẩm xinh đẹp " có vật rạng rỡ nh nụ

cời, có vật long lanh nh giọt lệ, có vật ửng hồng nh má cô dâu "để tặng ngời yêu nhng nàng thờ ơ từ chối, chàng ném ra đờng để những ngời khách lạ mang về phơng xa" (3, Ngời làm vờn) T tởng dâng hiến vô điều

kiện ấy còn đợc thể hiện trong một bài thơ khác: hình ảnh cô gái mongngóng hoàng tử qua ngõ, quăng dới chân chàng vật quí nhất - chuỗi ngọctrên cổ - dẫu biết hòang tử sẽ không bao giờ chú ý, thậm chí "xe Hoàng

tử sẽ nghiền nát để lại trên đờng những vật đất bụi" (7, Ngời làm vờn).Những vật phẩm xinh đẹp mà chàng trai phải lặn lội tìm kiếm dới đáy

Trang 22

biển , chuỗi ngọc trên cổ cô gái chính là hoá thân của tấm lòng, trái tim

R Tagore đối với cuộc đời này Niềm khát khao dâng hiến, hoà hợp vớicuộc đời trong thơ R Tagore mãnh liệt đến nỗi ông yêu mến tất cả mọibiểu hiện trái ngợc của cuộc đời Nếu nh sau này Xuân Diệu muốn biếnthành cây kim mà mọi vật đều là đá nam châm để hút vào thiên hạ, toàn

bộ cuộc sống với tất cả hỉ, nộ, ái, ố của nó, thì cách Xuân Diệu mộtkhoảng không gian và thời gian lớn, R Tagore cũng đã có t tởng nh thế

Ông muốn mình trở thành ngời hành khất khiêm nhờng, muốn xin tất cảnhững gì ngời đời hằng có, tất cả khổ đau cũng nh hoan lạc làm nên đời

sống này; "xin một bông hoa để cài hoa lên tim, và nếu hoa có gai cũng xin sẵn sàng chịu đựng, xin cả ánh mắt em trìu mến giúp hồn tôi vợt ra ngoài cõi chết lẫn cả những tia nhìn hung giữ xuyên thủng tim tôi" (26,

Ngời làm vờn)

Bản chất cuộc đời là một bài ca hoan lạc, và con ngời sống có ýnghĩa nhất khi hoà hợp , dâng hiến cho cuộc đời, để cảm thấy hạnh phúcnhất là ở cõi đời lầm bụi Đó là quan niệm đầy chất nhân văn làm chothơ R Tagore có sức sống mãnh liệt

2.2 Tự do và con đờng giải thoát

Tự do và giải thoát (moska) là một trong bốn mục đích mà đời ngờicần đạt tới, và đó là mục đích cuối cùng, mục đích tối thợng trong tôngiáo, triết học ấn Độ Triết học và tôn giáo ấn Độ ra đời nhằm mục đích

đa con ngời thoát khỏi cuộc đời phàm tục, chằng chịt những mối quan

hệ, những thất tình lục dục để hớng tới một cõi siêu nhiên thanh tịnh.Triết học ấn Độ đợc xem là triết học giải thoát "Điều quan tâm chủ yếu

đối với một con ngời theo t tởng ấn Độ chính là đời sống tâm linh, khátvọng hớng tới một sự giác ngộ và siêu thoát vĩnh viễn chứ không phải là

đời sống vật chất phù phiếm của hình hài và những mãn nguyện khoảnhkhắc của hình hài" [11,238] Sở dĩ giải thoát là mục đích của tôn giáotriết học ấn Độ bởi theo họ giải thoát là cỡi bỏ mọi trói buộc của nhữngcái hữu hạn, tạm bợ để đạt đến cái vô hạn, toàn phúc và bất tử Theo cácbậc thánh s trong Upanishad, con ngời có thể đạt đến sự toàn phúc và bất

tử bằng cách hoà nhập linh hồn cá thể (Atman) vào linh hồn vũ trụ(Brahman), cũng nh các dòng sông quên mình để trút vào biển cả vậy.Trong tâm thức ấn Độ, vũ trụ này là một thể thống nhất bất phân, "là mộtkhối đại toàn duy nhất", trong mỗi tiểu ngã đã in dấu đậm nét đại ngã, vàtrong đại ngã qui tụ toàn bộ tiểu ngã Vì vậy, ớc mơ đợc giải thoát cũng

Trang 23

chính là ớc mơ đợc trở về nguồn cội vĩnh hằng, bất biến Coi trọng đờisống tâm linh, đắm chìm trong suy tởng, ngời ấn Độ ít chú ý đến đờisống xã hội Khác với phơng Tây, họ không đi tìm tự do về mặt xã hội,giải phóng con ngời bởi những áp bức xã hội, mà quay trở về lòng mìnhtìm một thứ tự do tuyệt đối trong tinh thần, trong t tởng Đây là một quanniệm mang tính trừu tợng siêu hình, đậm màu sắc duy tâm Lối sốngnhẫn nhục, cam chịu của ngời ấn có một phần không nhỏ bắt nguồn từ

đó

Kế thừa truyền thống văn hoá ấn Độ, R Tagore cũng cho rằng tự do

là mục đích vơn tới của đời ngời, và ông cũng đi tìm một thứ tự do trongtinh thần, t tởng Nhng với R Tagore, con ngời đạt đợc tự do tuyệt đốikhông phải chờ đợi đến khi đạt đợc sự hoà đồng cái Atman vào đại thểBrahman, mà ngay trong cuộc sống này khi trở về với bản tính thiện, gộtsửa đợc lớp bụi của lòng háo danh, ích kỷ, tiền tài, quyền lực, sắc dục.Theo Cao Huy Đỉnh, "Tự do trong quan điểm của Tagore là một thứ tự

do về tâm hồn, lý tởng Nó đòi hỏi việc rèn luyện ý chí, mở mang trí tuệ

và việc tu thiện để hoà hợp đợc với ý niệm tinh thần tuyệt đối theo kiểuTonxtôi Theo R Tagore, muốn đợc tự do trớc hết phải giải phóng bảnthân, giải phóng ý niệm thiện bên trong mình và lấy ý niệm đó mà tiêudiệt tất cả những kẻ thù của chân thiện [3, 115] Nh vậy có thể thấy, quan

điểm về tự do giải thoát của R Tagore không còn bó hẹp trong số ít các

đạo sĩ, thức giả mà mở ngõ cho tất cả mọi ngời, không phải tìm cách chối

bỏ đời sống mà làm cho đời sống thêm toàn mĩ Trong thơ R.Tagore, tự

do và con đờng giải thoát, một vấn đề xa cũ của hàng ngàn năm trớc, vẫn

là niềm trăn trở lớn của ông Nó đã không còn là vấn đề trừu tợng, siêuhình, mà đã trở nên gần gũi, chứa đựng một ý nghĩa nhân văn sâu sắc

Trong bài thơ Bản hợp đồng cuối cùng (Trăng non) ông đã tái hiện một câu chuyện thú vị về một kẻ bán mình, vừa đi vừa rao: "Nào ai thuê tôi thì đến thuê" Nhà vua thuê anh bằng quyền lực, gã triệu phú thuê anh

bằng tiền bạc, cô gái thuê anh bằng nụ cời… những thể loại văn Tất cả những cái đó anh

đều khớc từ để cuối cùng kí hợp đồng với những đứa bé ngồi chơi vớidăm vỏ sò vỏ ốc chỉ có hai bàn tay trắng để thuê anh Điều thú vị, bấtngờ, là "khi bản hợp đồng đợc kí kết, tôi thành ngời tự do" Bài thơkhông chỉ ngợi ca sự hồn nhiên vô t của con trẻ, mà còn chứa đựng một ttởng triết lý thâm trầm về tự do Với R Tagore, tự do chỉ có đợc khi conngời biết vợt thoát sự cám dỗ, chi phối của đời sống vật dục T tởng triết

Trang 24

lý đó còn đợc ông thể hiện ở hình ảnh vị pháp s vĩ đại ngời Xích ném haichiếc vòng vàng của đồ đệ xuống sông Giunna cuộn sóng, để nhờ nớcthánh dòng sông tẩy rửa hết mọi cám dỗ của vật chất tầm thờng Chỉ khi

đó con ngời mới có thể giải thoát đợc (Hái quả, bài 12) Chính sự ràngbuộc của vật chất bó buộc tự do của con ngời Trong một bài thơ của

mình ông viết: Vật trang sức sẽ làm hại tình thân giữa đôi ta, sẽ ngăn cách ngời với tôi, và khi va chạm thành tiếng xủng xẻng sẽ át đi cả tiếng ngời thì thầm (7, Thơ Dâng).

Thoát ra khỏi cám dỗ của đời sống vật chất đã là công việc khókhăn đối với ngời đời Nhng khó khăn hơn là thoát ra khỏi ảo giác, huyễntởng về chính bản thân mình Trong tự do con ngời mới bộc lộ đợc cáitôi, cá tính của chính mình Đôi khi con ngời tự giam chính mình bởi cốxây nên một hào quang danh vọng vô thực Bài thơ số 29 trong tập ThơDâng đã nghệ thuật hoá t tởng triết lý này của ông:

Tên của tôi là một nhà tù, nơi ngời tôi giam trong đó đang than khóc Mải mê xây tờng bao quanh và dần dần trong bóng tối âm u, tôi không còn nhìn thấy con ngời thực của chính mình nữa (29, Thơ dâng)

Với cái nhìn thâm trầm, R Tagore đã phát hiện ra rằng, chính bảnthân con ngời chứ không phải một thế lực nào khác đã tớc đi tự do củamình, con ngời trở thành tù nhân của chính mình, trong một "cái tôikhông phải tôi":

Tôi rẽ sang bên tránh mặt ngời ấy nhng không bao giờ thoát đợc, dáng h trơng phách tấu, ngời ấy hất tung bụi đờng và nói to hơn những lời tôi nói Ngời ấy là cái tôi đáng thơng của tôi Con ngời không còn là chính mình nữa mà phải gồng mình lên để gánh trên vai cái danh tiếng quá nặng "muốn lấy hai vai mang lấy thân mình" (30,Thơ dâng).

Với một trí tuệ sắc sảo, một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế R Tagorecòn phát hiện ra đợc những nghịch lý của tự do Sự trói buộc của tiền tài,danh vọng làm ta mất tự do, nhng đôi khi chính tình yêu thơng cũng tớc

đi tự do của con ngời, cái mà Assagioli, nhà tâm lý học nổi tiếng, gọi làmột "thứ tình cảm cứng nhắc" Bài thơ số 8 trong Thơ Dâng là một ví dụ

điển hình cho t tởng triết lý ấy Bài thơ kể lại câu chuyện về một ngời mẹyêu con, mặc cho con áo Hoàng tử, đeo ngọc quanh cổ những tởng làmcon hạnh phúc Nhng ngợc lại con sẽ mất hứng thú chơi đùa, áo sẽ vớngbớc chân đi, con sợ áo rách rồi đất bụi dính và, tách mình ra khỏi nhân

Trang 25

sinh cuộc thế Chính tình yêu đôi khi kìm hãm, trói buộc tự do con ngời,

là cái "chuồng bằng vàng" kìm hãm tự do

Nếu nh trong tôn giáo triết học ấn Độ, giải thoát chính là cắt đứtmọi ràng rịt với trần gian để tìm đến một cõi toàn phúc và bất tử, thì với

R Tagore, giải thoát là để gắn bó hơn với cuộc đời trần thế Nếu trongtriết học ấn Độ giải thoát là vô ngã, thì với R Tagore giải thoát để nhằmbộc lộ cái tôi của mình trong cuộc sống, tình yêu:

Giải thoát với tôi không là vô ngã, tôi thấy tự do trong muôn vàn dây khoái cảm quấn lấy chân mình (73,ThơDâng).

Nếu cõi vô sinh vô diệt trong quan niệm của các tôn giáo là thiên ờng, niết bàn, chốn cực lac, thì với R Tagore, nó ở trong tình yêu, trongkhát vọng hớng tới sự tận thiện tận mỹ:

đ-Xin cha đừng nói đời là h vô, vì hai đứa chúng con chỉ một lần cầu hoà cùng thần chết và chỉ đợc thành bất tử trong vài giờ ngắn ngủi ngát hơng Tình yêu bất tử hóa cõi đời, và đó chính là cõi vô biên chân chính: Nếu khát vọng tôi muốn lu danh bất tử sau khi lìa đời đến nay đã tan thành từng mảnh, em hãy làm cho tôi bất tử ngay trên thế gian này (38,

Ngời làm vờn)

Có thể nói, bằng sáng tạo thơ ca, qua hệ thống hình tợng nghệ thuật

độc đáo, R Tagore đã cụ thể hoá những triết lý trừu tợng về tự do giảithoát trong tôn giáo triết học truyền thống và mang đến cho nó một ýnghĩa mới mẻ trong cái nhìn của con ngời thời đại Bởi thế, đó là những

t tởng chứa đựng ý nghĩa nhân văn sâu sắc, góp phần đa con ngời thoát rakhỏi sơng mù tôn giáo siêu hình

2.3 Sự sống và cái chết

Trong cõi đời vô lợng, lẽ tử sinh là một trăn trở lớn nhất của con

ng-ời Sinh và tử là hai sự khởi đầu và kết thúc mà không một ai trong chốntrần ai không phải trải qua Đó là một vấn đề mà tôn giáo, triết học xanay đều quan tâm lý giải, ám ảnh trong tâm thức con ngời, khiến các nhàthơ day dứt, bận lòng:

Sống chết - Sống chết

Hai tiếng ấy nh thoi reo, lục dệt Không có phía bên này, không có phía bên kia

(Chế Lan Viên)Câu hỏi của Hămlet về vấn đề sống hay không sống, sống chịu đựngnhững viên đá mũi dao của số phận hay ngẩng cao đầu kiêu hãnh chống

Trang 26

lại chúng, đằng nào quí hơn vẫn là câu hỏi muôn đời Lẽ tử sinh vốn dĩbình thờng, nhng chỉ các bậc cao nhân mới nhìn cái chết nhẹ nhàngthanh thản Trang Tử xoạc chân gõ chậu hát khi vợ qua đời, Đức Phật khisắp nhập niết bàn chỉ im lặng cầm cành hoa giơ lên Đối với các bậcthánh nhân, nhẹ nhàng thay chuyện đi ở, sống chết Nhng ngời đời chằngchịt trong những quan hệ rối rắm lại xem đó là bi kịch của kiếp ngời.

ở ấn Độ, từ thời cổ xa các bậc tri giác thấu thị (Rishis) đã nghiềnngẫm về sự sống và cái chết trong những cánh rừng già u tịch, nơi thuỷtận sơn cùng Trong thần thoại Vêđa, cùng với sự xuất hiện của thần tìnhyêu Kama là thần chết Yama Đó là cái nhìn đầy an nhiên minh triết củangời ấn Độ cổ xa về lẽ tử sinh Tình yêu là sự sống, nhng khi sự sống ra

đời thì cái chết cũng đến cùng Nói khác đi cái chết dờng nh xuất hiệncùng thời với sự sống Đặc biệt với sự xuất hiện của bộ ba thần tợng "tam

vị nhất thể" (Brahma - Vishnu - Shiva) vào cuối thời Vêđa đợc xem làmột cách lý giải biện chứng về lẽ tồn tại biến dịch của vạn vật trong vũtrụ, trong đó có cả con ngời Con ngời thời kỳ này xem cái chết nhẹnhàng thanh thản Lúc bấy giờ có tục chôn ngời chết trong vò Chôn ngờichết trong vò thể hiện quan niệm trở về bụng mẹ sau khi chết của thời kỳ

đó Nhng rồi cùng với quá trình tôn giáo hoá, con ngời sợ hãi thần linh,cái chết trở thành một ám ảnh nặng nề Bên cạnh đó tồn tại quan niệmcoi cái chết nh một sự giải thoát khỏi cuộc đời đau khổ, linh hồn tự dothoát khỏi sự kìm hãm của thân xác phàm tục "Cũng giống nh ngời tatrút bỏ bộ quần áo cũ, mặc vào mình bộ quần áo mới, linh hồn rời bỏthân xác đã bị huỷ hoại và bớc vào một thân xác mới" (Sử thiMahabharata) Quan niệm đó mong chờ cái chết nh một sự cứu rỗi linhhồn Hoặc ngời ta luôn tin rằng, con ngời trong vòng luân hồi lu chuyển

sẽ mãi mãi tái sinh trong nhiều kiếp đời khác: "Một ngời chết chín dần

nh hạt bắp rồi nh hạt bắp anh ta lại nẩy mầm" [Kinh Upanishad, Chuyểndẫn 13, 36] Hai quan niệm trên, một bên ám ảnh nặng nề về cái chết,một bên lại mong chờ nó nh một sự cứu rỗi tâm hồn thoát khỏi sự cầm tùcủa thân xác phàm trần

Với R Tagore, những vần thơ viết về cái chết của ông lại là nhữngdòng chảy thao thiết về phía cuộc đời Bởi lẽ "nếu chúng ta cứ mãi đểtâm quan sát chăm chú vĩnh viễn vào sự kiện là cái chết thôi, thì vũ trụ

đối với chúng ta dờng nh là một nấm mộ hãi hùng" [26,71] Cái nhìn củaTagore trớc cái chết là cái nhìn mang tính chiêm nghiệm của một triết

Trang 27

gia Nỗi đau của ông trớc cái chết mòn của nền văn hoá ấn Độ khi bịthực dân Anh xâm lợc, trớc cái chết của những ngời thân không còn cuộnlên thành dông bão, mà đã lắng sâu dới đáy thành những tầng trầm tích.

Ông coi sự sống và cái chết chỉ là sự tiếp nối cần thiết, là sự lu chuyểnbình thờng của dòng đời, và cả hai đều đẹp:

Hãy để cuộc đời nh mùa hạ

và cái chết về nh lá mùa thu

(82, Những con chim bay lạc)Nếu R Tagore từng coi đau khổ cũng đẹp nh một vòng hoa, thì giờ

đây ông coi cái chết cũng đẹp nh sự sống Nó là một phần tất yếu, là cáibến cuối cùng mà chuyến tàu đời mỗi ngời phải cập bến Đối với ông,sống và chết nh hai bờ của một dòng sông, nh chiếc nôi đa đẩy, nh hai

bầu vú trên ngực của bà mẹ mà "đứa trẻ khóc thét lên khi bị giật ra khỏi bầu vú bên này sẽ dễ dàng tìm đợc nguồn an ủi ở bên kia" Không phủ

nhận trốn tránh cái chết, ý thức đợc sự ngắn ngủi của đời ngời R Tagorenói đến cái chết bằng một cái nhìn điềm tĩnh, thanh thản, tự tại an nhiêncủa một nhà hiền triết và bằng trái tim nồng nàn của một nhà thơ Quanniệm cái chết thân thuộc gần gũi đợc thể hiện qua một loạt hình tợng độc

đáo Cái chết ẩn trong dáng vẻ của một ngời lữ hành bắt đầu những dặm

đờng lữ thứ, chào mọi ngời một cách nhẹ nhàng thanh thản, xin lời chúcphúc từ ngời thân, sẵn sàng trao chìa khoá của căn nhà cuộc sống cho

những ngời ở lại với một thái độ ân cần: "này đây chìa khoá tôi gửi lại anh em, và cả căn nhà cũng trao trọn anh em" (93-Thơ dâng) Có khi

thần chết đợc xem nh ngời bạn tâm giao tri kỉ từ buổi ấu thời, một ngày

kia "vui vẻ gọi tim tôi về với anh ta" (89,Thơ Dâng), là "ngời bạn chí tình

đánh thức tôi dậy rồi dẫn tôi lang thang hết đờng rừng này qua đờng rừng khác" (97, Thơ dâng) Coi cái chết nh một ngời bạn đã là hiện tợng

độc đáo Và càng độc đáo hơn, khi ông xem cái chết nh một ngời tình,một vị hôn phu, thì quả thực cha từng gặp bao giờ trong thơ ca Nếu R.Tagore đến với cuộc đời này để làm một ngời tình thì ông cũng là ngời

tình của cả sự sống và cái chết Bởi lẽ, với ông, "bởi tôi yêu cuộc đời này nên tôi cũng yêu cái chết" (Thơ Dâng) Hình ảnh thần chết hiện lên trong

thơ ông không mang khuôn mặt hãi hùng, ghê sợ, mà là một ngời bạn

hiền từ, một tân nơng đứng đợi trong không gian thơ mộng: "khi loài hoa khép cánh, mục súc về chuồng, quyến rũ ta bằng nụ hôn giá lạnh trong trang phục cô dâu với vòng hoa kết lên mái tóc hung hung cuốn thành

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w