Đến nay, đã có một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học về văn kiện lịch sử trọng đại này, trong đóphải kể đến các bài viết đề cập trực tiếp đến vấn đề quyền con ngời vàquyền
Trang 1Lời cảm ơn
Tìm hiểu, nghiên cứu "Tuyên ngôn Độc lập" của Chủ tịch Hồ Chí Minh
là một vấn đề không mới nhng rất khó, đặc biệt là khó khăn về xử lý t liệu vàlựa chọn phơng pháp nghiên cứu Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tàinày bên cạnh niềm đam mê học tập nghiên cứu, chúng tôi đã nhận đợc nhiềunguồn động viên, giúp đỡ quý báu
Trớc tiên chúng tôi muốn đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ TrầnVăn Thức đã tận tình hớng dẫn và có nhiều hớng gợi mở mới mẻ, độc đáo giúpchúng tôi phát huy khả năng sáng tạo trong công trình nghiên cứu này Đâycũng là công trình khoa học quan trọng nhất trong toàn bộ khoá học của mình, làkết quả bớc đầu của bản thân Qua đây, cho phép chúng tôi đợc nói lời cảm ơn tớitập thể các thầy cô giáo Khoa Lịch sử - những ngời đã luôn quan tâm, giúp đỡ,dạy bảo ân cần thế hệ chúng tôi cho đến hôm nay và cả ngày mai
Chúng tôi cũng chân thành gửi lời cảm ơn tới các cơ quan, đơn vị đã giúp
đỡ chúng tôi về mặt t liệu: Th viện Khoa lịch sử, Th viện Trờng Đại học Vinh,
Th viện Tỉnh Nghệ An,Th viện Quốc gia, Viện sử học, Th viện Học viện CTQG
Hồ Chí Minh, Th viện Trờng Đại Học KHXH và NV - Đại học QGHN,…
Bên cạnh các nguồn động viên giúp đỡ trên, tác giả khoá luận còn nhận
đợc sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè, những ngời luôn ở bên cạnhchúng tôi trong những lúc khó khăn nhất Chúng tôi trân trọng cảm ơn nhữngtình cảm tốt đẹp ấy!
Cuối cùng chúng tôi chờ đợi những ý kiến đóng góp của quý thầy cô vàcác bạn để khoá luận hoàn thiện hơn nữa!
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
A - Mở đầu
Trang 21.Lý do chọn đề tài.
Nh chúng ta đều biết, "Tuyên ngôn Độc lập" 1945 của Chủ tịch
Hồ Chí Minh ra đời trong không khí sôi động, hào hùng của những ngàyTháng Tám năm 1945 lịch sử Đối với nhân dân Việt Nam,"Tuyên ngôn
Độc lập" 1945 là một áng văn lập quốc vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu
kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội
ở nớc ta Với bản "Tuyên ngôn Độc lập", Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặtChính phủ lâm thời đã trịnh trọng tuyên bố trớc toàn thể quốc dân và thếgiới sự ra đời của nớc Việt nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nớc công nông
đầu tiên ở Đông Nam á
"Tuyên ngôn Độc lập" là văn kiện có giá trị về nhiều mặt: Chính trị,Pháp lý, T tởng…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị caođồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao
về ngôn ngữ và văn học, xứng đáng là áng “thiên cổ hùng văn” của dântộc Đó là “kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hysinh của những ngời con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trạitập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trờng
Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin
tởng của hơn hai mơi triệu ngời dân Việt Nam” [34,116] Vợt lên trên tấtcả, nó chứa đựng những tình cảm sâu sắc, những t tởng vĩ đại của Chủ tịch
Hồ Chí Minh nhằm khẳng định quyền con ngời và quyền dân tộc của nhândân Việt Nam Trong "Tuyên ngôn Độc lập", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kếthừa một cách tinh tế và sáng tạo những t tởng về quyền con ngời và quyềndân tộc đã đợc khẳng định trong lịch sử Đó là sự kết hợp một cách tài tìnhnhững giá trị nhân văn cao đẹp của nhân loại với những tinh hoa của dântộc Đó là sự thể hiện nội dung sâu sắc của chủ nghĩa nhân văn chân chínhnhất; là sự thống nhất biện chứng giữa quyền con ngời và quyền dân tộc;giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại Quan trọng hơn cả, nó thể hiện
t tởng độc lập sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền con ngời vàquyền dân tộc
Đã 60 năm trôi qua kể từ ngày bản "Tuyên ngôn Độc lập" của nớcViệt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời nhng giá trị, ý nghĩa của nó vẫn cònmang hơi thở, sức mạnh của thời đại Do đó, tiếp tục nghiên cứu văn kiệnlịch sử bất hủ này không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thựctiễn to lớn
Trang 3Đợc sự giúp đỡ và hớng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Văn Thức,
tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Sự kế thừa và phát triển t tởng quyền con ngời, quyền dân tộc trong Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ” làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Đối với dân tộc và nhân dân Việt nam , "Tuyên ngôn Độc lập" làvăn kiện lịch sử bất hủ, là tài sản tinh thần vô giá Kể từ ngày ra đời cho
đến nay, "Tuyên ngôn Độc lập" đã đợc nhiều ngành khoa học quan tâmnghiên cứu đặc biệt là sử học Đến nay, đã có một số bài nghiên cứu
đăng trên các tạp chí khoa học về văn kiện lịch sử trọng đại này, trong đóphải kể đến các bài viết đề cập trực tiếp đến vấn đề quyền con ngời vàquyền dân tộc nh: “Tuyên ngôn Độc lập và vấn đề quyền con ngời” củaNghiêm Đình Vỳ và Lê Kim Hải trên Tạp chí Thông tin lý luận số 9 năm1993; “T tởng Hồ Chí Minh về quyền con ngời trong Tuyên ngôn Độclập” của Hoàng Văn Hảo và Hoàng Văn Nghĩa đăng trên Tạp chí Nghiêncứu Lý luận số 8 năm 1993; “Tuyên ngôn Độc lập 1945 - đạo luật mớikhẳng định quyền tự do, độc lập bất khả xâm phạm của các dân tộc” củaLong Thành đăng trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân số 8-9 năm 1995; “HồChí Minh với bản yêu sách của nhân dân An Nam và Tuyên ngôn Độc lậpcủa nớc Việt nam mới” của Vũ Văn Châu đăng trên Tạp chí nghiên cứu Lýluận số 8 năm 1997; “Nhân quyền với vấn đề độc lập dân tộc và chủ nghĩaxã hội” của Nguyễn Duy Sơn đăng trên Tạp chí Khoa học chính trị, số 3năm 1999; “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề dân tộc và con ngời” đăngtrên Tạp chí Thông tin lý luận, số 5 năm 2000…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao
Nhìn chung, các bài viết trên đây đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập
đến vấn đề mà chúng tôi quan tâm lựa chọn nghiên cứu Tuy nhiên, cha
có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống vấn đề
“Sự kế thừa và phát triển t tởng quyền con ngời, quyền dân tộc trong Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ” Cho đến nay, chúng
tôi mới chỉ tiếp cận đợc một công trình do Viện Nghiên cứu Pháp lý biênsoạn và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành, đó là cuốn: “Tuyênngôn Độc lập năm 1945 - những giá trị và ý nghĩa thời đại” Tuy nhiên,công trình này cũng chỉ có tính chất nghiên cứu tổng quan về "Tuyênngôn Độc lập" 1945 , là sự tập hợp các bài viết đăng trên các tạp chí chứ
Trang 4cha phải là một chuyên khảo về vấn đề “quyền con ngời và quyền dântộc” trong "Tuyên ngôn Độc lập" Hầu hết các bài viết trong cuốn này
đều tập trung đi sâu vào giá trị pháp lý của bản tuyên ngôn
Nh vậy, việc nghiên cứu t tởng quyền con ngời và quyền dân tộc trong
"Tuyên ngôn Độc lập" 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới chỉ dừng lại ở một
số bài nghiên cứu có dung lợng nhỏ, cha có những công trình nghiên cứu vấn đềnày một cách hệ thống, toàn diện và chuyên sâu Mặc dù vậy, những công trình
đề cập trên đây sẽ là nguồn t liệu để chúng tôi tham khảo trong quá trình thựchiện khoá luận tốt nghiệp của mình
3.Đối tợng nghiên cứu của đề tài.
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là bản "Tuyên ngôn Độc lập" củaChủ tịch Hồ Chí Minh Cụ thể hơn là tập trung làm sáng rõ sự kế thừa vàphát triển t tởng quyền con ngời và quyền dân tộc trong "Tuyên ngôn
Độc lập" 1945 Do đó, chúng tôi chủ yếu đi sâu tìm hiểu, phân tích cácvấn đề có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đối tợng đã xác định trên
4 Phơng pháp nghiên cứu.
Xuất phát từ đặc trng của đề tài, từ nhiệm vụ, mục tiêu nghiên cứu,chúng tôi chủ yếu sử dụng phơng pháp lôgic và phơng pháp lịch sử kếthợp với phân tích, so sánh để đi đến một số kết luận Bên cạnh đó, chúngtôi còn sử dụng phơng pháp liên ngành với một số ngành nh: Văn học,Ngôn ngữ học, khoa học Chính trị, khoa học Pháp lý…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao, đặc biệt là trongcông tác su tầm, chọn lọc, xác minh, phê phán t liệu
5.Bố cục của khoá luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dungcủa khoá luận đợc trình bày ở 3 chơng nh sau:
Chơng 1 Khái lợc về t tởng quyền con ngời và quyền dân tộc
trong lịch sử nhân loại.
Chơng 2 T tởng Hồ Chí Minh về quyền con ngời và quyền dân tộc
trớc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Trang 5Ch¬ng 3 Sù thõa kÕ vµ ph¸t triÓn t tëng quyÒn con ngêi, quyÒn
d©n téc trong Tuyªn ng«n §éc lËp cña Chñ tÞch Hå ChÝ Minh.
Trang 6B - nội dung
Chơng 1:
Khái lợc về t tởng quyền con ngời và
quyền dân tộc trong lịch sử nhân loại.
1.1 Quyền con ngời và quyền dân tộc là gì?
Theo cuốn “Từ điển xã hội học” do Nguyễn Khắc Viện chủ biêncủa Nhà xuất bản Thế thế giới (1994) thì quyền con ngời “đó là nhữngquyền mà con ngời có đợc chỉ vì là con ngời” [39,239] “Quyền con ng-ời” là một thuật ngữ đợc hình thành từ rất sớm ở châu Âu thời cổ đại HyLạp và La Mã Tuy nhiên, thuật ngữ “quyền con ngời” mới chỉ đợc sửdụng rộng rãi từ thế kỷ XVIII - trong các bản tuyên ngôn của cách mạng
t sản Năm 1848, bản “Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền” đợcLiên hiệp quốc thông qua Sau đó, trong nhiều văn bản quốc tế khác, cácquyền con ngời còn đợc khẳng định và cụ thể hoá hơn nữa gồm các ph-
ơng diện sau: quyền đợc sống; quyền tự do; quyền bình đẳng; quyền có
sở hữu; quyền công dân; quyền buộc các chính phủ tôn trọng luật pháp,hiến pháp, công lý; quyền đợc hởng phúc lợi về kinh tế, xã hội, vănhoá…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao
Quyền con ngời là một giá trị thiêng liêng của nhân loại Nó ra đờicùng với sự xuất hiện xã hội loài ngời “Trong xã hội chiếm hữu nô lệ vàxã hội phong kiến”, những giai cấp thống trị quan niệm là dĩ nhiên có “sựbất bình đẳng tự nhiên” [21,386] Sau đó, giai cấp t sản đơng lên lại cóquan niệm đối lập: “Mọi ngời phải có quyền bình đẳng do tự nhiên màcó” [21,386] và giai cấp t sản đa ra khẩu hiệu đấu tranh cho “tự do, bình
đẳng, bác ái”, đòi những quyền con ngời chung cho nhân loại Nhng giaicấp t sản vẫn “bảo vệ quyền sở hữu tự nhiên đối với t liệu sản xuất”[21,386] Mặc dù còn nhiều hạn chế nhng những quyền con ngời do giaicấp t sản đòi hỏi đã có tác dụng đa xã hội tiến lên
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã kế thừa t tởng quyền con ngời của giaicấp t sản và bổ sung thêm hai nét: “Đảm bảo (quyền) chính trị” [21,387]nh: chính quyền của ngời lao động, tổ chức hoạt động của Nhà nớc theonguyên tắc tập trung dân chủ với sự tham gia rộng rãi của công dân vàoviệc quản lý Nhà nớc và xã hội Và, “Đảm bảo (quyền) kinh tế” [21,387]
Trang 7mà biểu hiện cụ thể là: Không ai có quyền bóc lột ai; nền kinh tế quốcdân dựa vào chế độ sở hữu xã hội đối với t liệu sản xuất nhằm thoả mãn
đầy đủ nhất những nhu cầu vật chất và văn hoá ngày càng tăng của mọingời
Mặc dù quyền dân tộc là một trong những biểu hiện của quyền conngời và đấu tranh cho quyền dân tộc luôn luôn gắn với đấu tranh choquyền con ngời Tuy nhiên, ở các quốc gia Phơng Đông thì quyền dântộc đợc đặt ra sớm hơn Còn ở Phơng Tây t tởng quyền dân tộc mới chỉthực sự đặt ra gay gắt từ thời cách mạng t sản và sau đó bị chính giai cấp
t sản dẫm đạp lên Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, t tởng quyền dântộc đợc đặt ra gay gắt với sự vơn lên giành độc lập dân tộc của các dântộc thuộc địa Đến nay, quyền dân tộc đợc thể hiện trên các phơng diệncơ bản nh sau: độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quyền dân tộc tựquyết
1.2 Khái lợc về t tởng quyền con ngời và quyền dân tộc trong lịch sử nhân loại.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật, "quyền con ngời", "quyềndân tộc" là những phạm trù lịch sử tức có quá trình hình thành, phát triển,phản ánh những quy luật vận động khách quan của xã hội Nó khôngphải là sản phẩm chủ quan của con ngời mà là thành quả của quá trình
đấu tranh giai cấp, dân tộc lâu dài trong lịch sử Mỗi thời đại, nhân dânlao động và các dân tộc đều phải trải qua sự đấu tranh, hi sinh cũng vìquyền con ngời, quyền dân tộc
Trong xã hội nguyên thuỷ, "nguyên tắc vàng" luôn đợc đặt lênhàng đầu Trong đó, con ngời sống với nhau hoàn toàn bình đẳng Kéotheo, các dân tộc (theo nghĩa hẹp là thị tộc, bộ lạc) cũng tồn tại mối quan
hệ bình đẳng Mà ở đó, trong mỗi thị tộc, bộ lạc mọi ngời đều có quyềnngang nhau Họ cùng sống, cùng lao động và cùng thừa hởng mọi thànhquả lao động
Tuy nhiên, tất cả sự bình đẳng đó đều dựa trên cơ sở đời sống vậtchất và tinh thần thô sơ, lạc hậu, thấp kém Do đó, cuộc đấu tranh để duytrì, bảo vệ sự tồn tại của con ngời và của các dân tộc lúc bấy giờ là cuộc
"vật lộn với thiên nhiên để sinh tồn"
Trang 8Cùng với sự phát triển của lịch sử, loài ngời đã tạo ra nhiều cáchthức để đấu tranh với thiên nhiên và chinh phục nó Điều này dẫn đến hệquả tất yếu là sức sản xuất ngày càng phát triển đồng nghĩa với của cảilàm ra ngày càng nhiều, d thừa và t hữu dần dần xuất hiện T hữu xuấthiện kéo theo sự ra đời của xã hội có giai cấp và nhà nớc Theo đó, những
"nguyên tắc vàng" của xã hội nguyên thuỷ bi xé ra thành từng mảng
Nh vậy, bớc sang thời cổ đại, sự bình đẳng giữa ngời với ngời, giữa
bộ lạc (dân tộc) này với bộ lạc (dân tộc) khác đã bị xoá nhoà và thay vào
đó là sự bất bình đẳng
ở Phơng Đông cổ đại, giai cấp thống trị, bóc lột chủ yếu là vua,quý tộc, quan lại, tăng lữ Còn giai cấp bị bóc lột chủ yếu là nông dâncông xã với một số ít là nô lệ Song song với sự bất bình đẳng giữa ng ờivới ngời thì sự bất bình đẳng giữa dân tộc "hạ đẳng" và dân tộc "thợng
đẳng" cũng diễn ra qua sự phát triển của "phong trào thực dân"
Một trong những biểu hiện rõ nhất của sự bất bình đẳng là chế độphân biệt chủng tính Vácna Đây là chế độ phân biệt đẳng cấp đầy bất công,tội ác, nghiêm ngặt, hà khắc trong xã hội ấn Độ cổ đại Bên cạnh đó, nócòn thể hiện sự bất bình đẳng giữa tộc ngời Arian và tộc ngời Đravitđa bản
địa Còn ở Trung Quốc cổ đại, cũng chia xã hội thành hai hạng ngời: "quântử" và "tiểu nhân" Và, mặc dù không điển hình nh ở Phơng Tây nhng cácnớc Phơng Đông cổ đại cũng xuất hiện tầng lớp nô lệ không có đặc quyền,
đặc lợi và đợc coi nh là tài sản của quý tộc
Mâu thuẫn giai cấp, dân tộc xuất hiện tất yếu nó sẽ nảy sinh nhữngcuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc Từ trong các phong trào đấu tranh đó
đã bớc đầu xuất hình thành những quan điểm tiến bộ về quyền con ngời vàquyền dân tộc trong xã hội cổ đại Phơng Đông Biểu hiện cho những quanniệm đó là sự ra đời của Phật giáo, Nho giáo hay những t tởng của Lão Tử,Mặc Tử…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao Tất cả đều mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp, không có
áp bức giai cấp, dân tộc, đó là một thế giới "đại đồng"
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực tiến bộ về quyền con ngời
và quyền dân tộc ở các quốc gia cổ đại Phơng Đông, chúng ta thấy cónhiều điểm hạn chế do điều kiện lịch sử - xã hội mang lại Trớc hết, quyềncon ngời chỉ dành cho tầng lớp giàu có, có học thức, địa vị Đó là tầng lớpquý tộc, quan lại, tăng lữ…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao Còn đại đa số nông dân công xã, nô lệ lạikhông đợc hởng điều đó Mặt khác, những quan điểm trên đều phủ nhận
Trang 9đấu tranh giai cấp, đề cao t tởng cam chịu, an phận, "vô vi" Tức chủ trơng
đi tìm sự bình đẳng ở thế giới bên kia - "Tây phơng cực lạc" hay cõi "Niếtbàn"…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao Ngoài ra, họ coi sự áp bức, bóc lột giai cấp, dân tộc và nguồn gốccủa mọi sự khổ đau là do "thiên ý" - tức mệnh trời
Có thể nói, quan điểm, t tởng về quyền con ngời và quyền dân tộc
ở các quốc gia cổ đại Phơng Đông là những quan điểm đầu tiên tronglịch sử nhân loại Mặc dù còn sơ khai và còn nhiều hạn chế nhng cũng đãlàm cho quần chúng bị áp bức, bóc lột phần nào đợc xoa dịu, tìm thấytiếng nói của mình Và, chính những t tởng sơ khai này đã có ảnh hởngrất lớn đến t tởng chính trị của các quốc gia chiếm hữu nô lệ điển hình ở
Hy Lạp và La Mã
Nếu nh các quốc gia cổ đại Phơng Đông là xã hội có giai cấp vànhà nớc đầu tiên thì ở các quốc gia cổ đại Phơng Tây là xã hội chiếm hữunô lệ điển hình Trong đó, xã hội có hai giai cấp chủ yếu là chủ nô và nô
lệ Do đó, mâu thuẫn giai cấp chủ yếu là mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô.Bởi vì nô lệ là lực lợng chính sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội nhng
họ lại bị coi nh súc vật và hàng hoá có thể trao đổi, buôn bán Còn giớichủ nô lại nắm trong tay mọi đặc quyền đặc lợi
Giai cấp nô lệ đứng lên chống lại sự áp bức nghiệt ngã và sự xâmphạm thô bạo đến phẩm giá con ngời của họ Sự uất hận của giai cấp nô
lệ nhiều lúc đã bùng lên thành những cuộc khởi nghĩa Một trong nhữngcuộc khởi nghĩa tiêu biểu diễn vào năm 74 - 71 TCN do Xpáctacút lãnh
đạo đòi xoá bỏ áp bức và nô dịch Song, những ngời lãnh đạo khởi nghĩa
đã không đề ra đợc cơng lĩnh, không tuyên bố mục đích, đoàn kết lực ợng, không vợt qua đợc hạn chế giai cấp nên rút cục đều bị đàn áp dãman Tuy nhiên, phong trào của họ đã có ảnh hởng to lớn tới sự phát triển
l-t l-tởng và học l-thuyếl-t chính l-trị về quyền con ngời, quyền dân l-tộc l-trong lịch
sử nhân loại
Bên cạnh đó, trong các quốc gia chiếm hữu nô lệ Phơng Tây còntồn tại mâu thuẫn giữa phái dân chủ và giới quý tộc trong tầng lớp dân tự
do Khẩu hiệu chung của phái dân chủ là đập tan chế độ chuyên chế và
độc đoán của tầng lớp qúy tộc, giải phóng khỏi mọi sự nô dịch, dân chủhoá chính quyền và bộ máy nhà nớc
Tuy nhiên, quyền đợc bình đẳng, quyền dân chủ, quyền tham gia
bộ máy nhà nớc…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao mà phái dân chủ đòi hỏi chỉ dành riêng cho những ng
Trang 10-ời dân tự do chứ không đả động gì đến giai cấp nô lệ Và, quan điểm, lậptrờng của phái dân chủ và phái quý tộc có khác biệt nh thế nào đi nữa thìquan niệm về những vấn đề chính lại trùng hợp nhau nh: Sự thừa nhận sởhữu cá nhân là không thay đổi, chế độ nô lệ đợc coi là tự nhiên phải có
và về cơ bản việc loại trừ nô lệ ra khỏi thành phần công dân là điềukhông phải bàn cãi Nhiều ý kiến cho rằng, bất công xã hội là hiện tợngtất yếu và tự nhiên phải có Còn nhà nớc là thiết chế của ngời tự do và chỉdành cho ngời tự do
Sự bất lực của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh với bọnbóc lột đã dẫn tới sự gia tăng tâm lý tín ngỡng của, họ tìm kiếm "niềm
an ủi tinh thần" trong tôn giáo Vào thế kỷ I, từ sự xáo trộn tín ng ỡng cổ
xa với triết học Hy Lạp đợc thị dân hoá đã xuất hiện Thiên chúa giáo
Nh Ph.Ănghen nhận xét rằng, "Thiên chúa giáo nh một phong trào củaquần chúng bị áp bức: ban đầu nó nh là tôn giáo của ngời nô lệ và ngời đ-
ợc trả tự do, nghèo khổ và các dân tộc không có quyền, bị chinh phụchoặc ở rải rác khắp La Mã" [15,32]
Trong các tác phẩm sơ khai của giáo lý Thiên chúa giáo đã nói lên
sự căm hờn lũ "hoàng đế thú vật" bọn quan chức nhà giàu, thơng nhân.Những tín đồ Thiên chúa giáo buổi bình minh đã mơ ớc tiêu diệt đế chế
La Mã chủ nô và thiết lập "vơng quốc ngàn năm" Và, trong khi chờ đợi
"sứ giả giáng trần" các tín đồ đã hớng tới "sự cam chịu" Dần dần, Thiênchúa giáo đã bị giai cấp thống trị lợi dụng và biến thành công cụ cai trịtinh thần đối với quần chúng nhân dân
Nh vậy, trong xã hội cổ đại, t tởng quyền con ngời và quyền dântộc đã bớc đầu đợc hình thành Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cựcthì nó còn mang nhiều nét hạn chế bởi vì dờng nh nó chỉ dành cho tầnglớp thống trị, có tài sản trong xã hội, còn lại đa số quần chúng lao khổkhông đợc hởng Tuy nhiên, nó là tiền đề quan trọng không thể thiếu cho
t tởng quyền con ngời, quyền dân tộc trong những giai đoạn sau của lịch
sử nhân loại
Và, nếu nh t tởng về quyền con ngời và quyền dân tộc đợc phôithai trong xã hội cổ đại thì bớc sang thời trung đại nó lại bị chế độ phongkiến kìm hãm, vùi dập Trong các quốc gia phong kiến Phơng Đông đãhình thành chế độ phong kiến chuyên chế trung ơng tập quyền cao độ,
mà điển hình là Trung Hoa Các triều đại phong kiến Trung Hoa đã tìm
Trang 11thấy những điểm có thể lợi dụng trong học thuyết Nho giáo nh: thuyết
"thiên mệnh"…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao Theo đó, vua đợc coi là "thiên tử" tức con trời và thaytrời trị dân ở các quốc gia phong kiến Phơng Đông, vua là ngời kết hợpgiữa vơng quyền và thần quyền nên có quyền lực cao độ tức ý vua là ýtrời
Trong các quốc gia phong kiến thì mâu thuẫn giai cấp chủ yếu làmâu thuẫn giữa đông đảo quần chúng nhân dân mà nhất là nông dân với
địa chủ phong kiến Do đó, xuất hiện nhiều cuộc đấu tranh của nông dân,
và có những lúc trở thành khởi nghĩa nông dân Từ trong những phongtrào đó cũng đã xuất hiện nhiều t tởng tiến bộ về quyền con ngời Tuynhiên, tất cả các cuộc khởi nghĩa nông dân dới chế độ phong kiến đềukhông thể vợt qua đợc hạn chế giai cấp Khi khởi nghĩa thành công,những ngời lãnh đạo lại thiết lập một trật tự xã hội cũ - xã hội phong kiến
và đi vào phản động, ăn chơi sa đoạ, bóc lột nhân dân
Bên cạnh áp bức giai cấp, chà đạp lên quyền con ngời thì chế độphong kiến còn tồn tại hiện tợng áp bức dân tộc của các nớc lớn đa quânxâm lợc và nô dịch các dân tộc nhợc tiểu Do đó, ý thức dân tộc và quyềndân tộc cũng trổi dậy mạnh mẽ
Một trong những quốc gia tiêu biểu cho những cuộc đấu tranh đó
là quốc gia phong kiến Đại Việt Trải qua các triều đại, họ đã đấu tranhkhông mệt mỏi để khẳng định quyền con ngời và quyền dân tộc Dân tộcViệt Nam từ thời Văn Lang - Âu Lạc cho đến thế kỷ XX, gần nh khôngthế kỷ nào là không vang lên tiếng va chạm của binh đao chống xâm lợc
Kẻ thù càng hùng mạnh bao nhiêu thì ý thức độc lập dân tộc, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ càng trỗi dậy mạnh mẽ bấy nhiêu Để rồi truyềnthống ý thức dân tộc ngày càng đợc hun đúc và trở thành một chất menkhông thể thiếu trong quá trình hình thành và phát triển của cộng đồngquốc gia dân tộc Việt Trong phong trào đấu tranh đó của quốc gia phongkiến Đại Việt đã xuất hiện những nhà t tởng vĩ đại về quyền con ngời vàquyền dân tộc với những bản "hùng ca lập quốc vĩ đại" nh Lý Thờng Kiệtvới "Nam quốc sơn hà…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao" hay Nguyễn Trãi với "Bình Ngô đại cáo"…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao
Còn ở Phơng Tây thời trung đại, sau khi chế độ chiếm hữu nô lệtan rã cũng bớc sang hình thái kinh tế xã hội phong kiến với tất cả biểuhiện của sự bảo thủ, trì trệ, lạc hậu và bất bình đẳng Trong đó, vua là ng-
ời kết hợp cao độ giữa vơng quyền và thần quyền Còn nhà thờ đóng vai
Trang 12trò thống soái trong hệ t tởng của xã hội phong kiến Nh vậy, giáo hộiThiên chúa giáo bao bọc chế độ phong kiến bằng vầng hào quang thánhthần và bảo vệ nó qua những quy định về đặc quyền, đặc lợi của các lãnhchúa Theo đó, sự bất công xã hội và áp bức nông nô là do "ý chúa".Những lời kêu gọi "phục tùng chính quyền" và "nô lệ cam chịu các ôngchủ của mình" mà từ thời chiếm hữu nô lệ giai cấp thống trị đã áp dụngthì giờ đây nó lại đợc nhà thờ Thiên chúa giáo sử dụng nhằm duy trì vàbiện minh cho sự tồn tại của trật tự phong kiến - trật tự bất bình đẳng Bởivậy, khi nhận định về hệ t tởng trung cổ, Ph.Ănghen viết: "Trong tay bọngiáo sĩ, chính trị và luật học, cũng nh tất cả các ngành khoa học khác,vẫn chỉ là những ngành thần học…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị caoNhững giáo lý của giáo hội đồng thờicũng là những định lý chính trị Còn những đoạn kinh thánh cũng có hiệulực lớn hơn toà án nh là pháp luật (Do vậy) để có thể đả kích vào nhữngquan hệ xã hội hiện tồn thì cần phải tớc bỏ cái hào quang thiêng liêngcủa chúng" [15,132].
Do Thiên chúa giáo có vai trò và vị trí to lớn nh trên nên sự phảnkháng của quần chúng lao động chống lại chế độ phong kiến để đòiquyền bình đẳng đợc biểu hiện dới hình thức các phong trào "tà giáo" Tà
đạo thời trung cổ theo Ph.Ănghen là "sự đối lập có tính chất cách mạngchống chế dộ phong kiến" Họ - quần chúng bị áp bức đã sử dụng những
t tởng cách mạng, dân chủ của Thiên chúa giáo sơ khai vào việc phê phánchế dộ phong kiến nhng đồng thời lại tiến xa hơn Thiên chúa giáo sơkhai Tiêu biểu là các phong trào đấu tranh ở Bắc ý và Pháp vào các thế
kỷ X - XIV Còn khác với “tà giáo” của thị dân thì tà giáo của nông dânhầu nh lúc nào cũng kết hợp với khởi nghĩa nông dân Nh Ph.Ănghennói: “Nó đòi tái lập sự bình đẳng của đạo Cơ đốc nguyên thuỷ giữanhững thành viên trong công xã tôn giáo cũng nh công nhận sự bình đẳng
đó nh là một tiêu chuẩn cho các quan hệ dân sự Từ sự bình đẳng của cáccông dân, và …đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao phần nào cũng đã rút ra cả sự bình đẳng về tài sản"[15,143]
Vào thế kỷ XVI, chế độ phong kiến và hệ t tởng phong kiến bị một
đòn tấn công mới nặng nề từ các trào lu t tởng và xã hội nảy sinh ở Tây
Âu cùng với sự bắt đầu tan rã của chế độ phong kiến và sự hình thànhquan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa Thời đại cách mạng xã hội và chính trịlàm lay chuyển chế độ phong kiến bắt đầu ở thành thị, những ngời làm
Trang 13thuê, thợ thủ công và dân nghèo không có công ăn việc làm, bị bóc lộtnặng nề đã đứng lên đấu tranh đòi quyền bình đẳng Còn giai cấp t sản bịquá trình phân quyên phong kiến và những trở ngại về đẳng cấp xã hộikìm hãm sự phát triển cũng tham gia vào phong trào chống phong kiến
đòi quyền lợi kinh tế và chính trị Tuy nhiên, do công cụ thống trị giaicấp chủ yếu lúc bấy giờ là hệ t tởng cho nên đòn tấn công đầu tiên màgiai cấp t sản phải sử dụng là “ngọn cờ t tởng" với những sắc thái khácnhau để khẳng định hệ t tởng của giai cấp t sản Đó là phong trào Vănhoá Phục hng, cải cách tôn giáo với những tên tuổi vĩ đại nhLêônađvanhxi, Sêchxpia…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao Trong phong trào đấu tranh đó đã có nhiềuquan điểm, t tởng tiến bộ về quyền con ngời và quyền dân tộc vốn bị giaicấp phong kiến vùi dập đợc khơi dậy, khẳng định và phát triển
Các nhà t tởng đại diện cho giai cấp mới - giai cấp t sản non trẻ đãchia sẻ sự bất bình sâu sắc của quần chúng nhân dân đối với giáo hội Họ
đứng ra đấu tranh để bảo vệ quyền và nhân cách con ngời, chống lại hành
vi bạo ngợc và t tởng “từ bỏ hạnh phúc trần gian” của Thiên chúa giáo.Ngoài ra, họ còn đấu tranh đòi tự do tín ngỡng, giải phóng con ngời khỏimọi sự ràng buộc của nhà thờ, đòi dân chủ hoá giáo hội Chính nhữngphong trào này đã làm cho “giàn hoả thiêu của toà án giáo hội đành bấtlực” và không thể chống lại sự bất bình đó Đúng nh Ph.Ănghen nhậnxét, phong trào Văn hoá Phục hng là bớc ngoặt vĩ đại nhất, cuộc cáchmạng vĩ đại nhất trong các cuộc cách mạng mà thế giới đã trải qua
Từ Italia, phong trào Văn hoá Phục hng nhanh chóng lan rộng sangcác nớc Tây Âu Đặc biệt là ở Pháp mà những đại diện đầu tiên phải kể
đến đó là La Bôexi (1530-1563), Giăng Bôđen (1530-1596)…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao Họ khôngchỉ thể hiện sự phản kháng cuồng nhiệt mà còn ca ngợi “tự do tự nhiên”của con ngời Theo họ, về mặt tự nhiên, con ngời là tự do trong đó tự dochính trị là quan trọng nhất; và tự do với bình đẳng là hai nguyên tắcchính trị Hay, “con ngời vốn sinh ra không chỉ có quyền tự do, mà còn
có khuynh hớng bảo vệ nó” [15,227] Với những đóng góp của họ, chúng
ta có thể gọi hai ông là những sứ giả của tự do và bình đẳng trong quyềncon ngời Và, các t tởng ấy đã trở thành ngọn cờ tập hợp lực lợng củacách mạng Pháp vĩ đại
Tuy nhiên, những học thuyết tiến bộ về quyền con ngời và quyềndân tộc của những nhà Văn hoá Phục hng mặc dù có nhiều điểm tiến bộ
Trang 14cũng không tránh đợc những hạn chế Hạn chế lớn nhất trong t tởng của
“giai cấp mới đang lên” là thiếu sự tin tởng và nhiều khi hoảng sợ trớcquần chúng nhân dân cách mạng
Những t tởng đề cao quyền dân tộc và đặc biệt là quyền con ngời
đã trở thành phong trào đấu tranh rầm rộ từ thời Phục hng (thế kỷ XV) Sau đó nó đợc sự “tiếp sức” bởi các nhà Duy lý (thế kỷ XVII) vàphát triển mạnh mẽ ở thế kỷ XVIII mà lịch sử vẫn thờng gọi là “thế kỷ
XIV-ánh sáng” hay “Triết học XIV-ánh sáng” để rồi đợc khẳng định trong cácbản tuyên ngôn của cách mạng t sản
“Khai sáng” là một trong những trào lu chính của hệ t tởng chínhtrị Pháp thế kỷ XVIII Nó thể hiện mong muốn của đẳng cấp thứ ba trongxã hội Pháp Đại diện tiêu biểu cho “thế kỷ ánh sáng” ở Pháp là Vônte(1694-1778), Môngtexkiơ (1689-1775) và Rútxô (1712-1778) Về mặtkhách quan, “khai sáng” đợc thể hiện nh là hệ t tởng của giai cấp t sản.Bởi lẽ, thực hiện “chơng trình khai sáng” sẽ dẫn tới thiết lập chế độ t sản.Song, về mặt chủ quan, “khai sáng” là hệ t tởng của toàn bộ đẳng cấp thứ
ba trong xã hội Pháp tiền cách mạng Nhiều nhà khai sáng là những nhà
t tởng của quần chúng nhân dân bị áp bức đã đứng lên nhân danh toàn xãhội đòi quyền con ngời Họ đã phê phán chế độ chuyên chế, đặc quyền
đẳng cấp, ngu muội tăm tối của nhà thờ phong kiến
Theo Vônte, “tự do” - đó là quyền tự nhiên quan trọng nhất củacon ngời Tự do luôn gắn với việc bãi bỏ những đặc quyền phong kiến và
ông chủ trơng tự do tín ngỡng, tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do sởhữu Với những đóng góp to lớn của Vônte, các nhà cách mạng Pháp đãcho rằng, ông đã chuẩn bị cho nhân dân đi tới tự do Do vậy, tên tuổi củaVônte ngay cả ngày nay cũng làm cho các thế lực phản động cũng phảirun sợ vì ông tích cực đấu tranh cho quyền con ngời và kiên quyết chốngcác cuộc chiến tranh phi nghĩa, cớp bóc, nô dịch Ông nói: Những cuộcchiến tranh còn “kinh khủng hơn cả bệnh dịch hay điên dại” [15,311]
Còn theo Môngtexkiơ, chế độ “chuyên chế” không thể dung hoàvới “tự do” Từ đó, ông rút ra kết luận: để có tự do phải tiêu diệt chuyênchế Bên cạnh đó, Môngtexkiơ hết sức chú trọng đến các quy luật tựnhiên mà theo ông nó tồn tại trớc khi xã hội ra đời, đó là bình đẳng, hoàbình Chính sự ra khỏi tình trạng tự nhiên, con ngời đã làm mất đi bình
Trang 15đẳng và giữa họ bắt đầu có chiến tranh Ông luôn kêu gọi từ bỏ bạo lực
và sự nô dịch lẫn nhau tức tôn trọng quyền con ngời và quyền dân tộc
Và, Rútxô xuất phát từ giả thiết về trạng thái tự nhiên mà trong đómọi ngời đều bình đẳng, trạng thái đó đợc ông gọi là “thế kỷ hoàngkim” ở đó, t hữu và bất công xã hội cha có mà ngự trị sự tự do và bình
đẳng Sở dĩ có bất công xã hội bởi vì có t hữu sau đó tăng lên thành bấtcông chính trị Trên cơ sở đó Rútxô cố gắng tìm những biện pháp để hạnchế bất công xã hội bằng cách xây dựng nền cộng hoà pháp quyền.Trong xã hội đó, không có sự phân chia giàu nghèo quá mức và do nhândân lao động làm chủ Mặc dù đây chỉ là lý tởng mang tính chất không t-ởng song nó thể hiện nguyện vọng và mơ ớc của quần chúng nhân dân vềmột chế độ công bằng
Sự hng thịnh hệ t tởng chính trị tiến bộ thế kỷ XVIII về quyền conngời và quyền dân tộc không chỉ có ở châu Âu mà nó còn đợc truyềnsang các thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ với những tên tuổi nh ĐơGiephecxơn, Pênơ…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao Các nhà t tởng này đã chuẩn bị cho những cuộckhởi nghĩa sau đó bùng lên thành cuộc chiến tranh giành độc lập của 13bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (1775-1783) mà nh Lênin nhận xét, đó là
“cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại để chống lại bọn Anh áp bức” Từ đó,
đã sản sinh ra bản “Tuyên ngôn Độc lập” 1776 nổi tiếng của 13 bangthuộc địa Anh ở Bắc Mỹ mà Mác gọi là bản “Tuyên ngôn về quyền conngời đầu tiên”
Trong “Tuyên ngôn Độc lập” 1776 của Mỹ thì bình đẳng, tự do vàquyền khởi nghĩa đợc thừa nhận là những quyền tự nhiên không thể bị t-
ớc đoạt của nhân dân Đơ Giephecxơn cho rằng, “mọi thứ trên thế giới
đều thay đổi ngoài những quyền tự nhiên của con ngời” Nh một chân lý,Tuyên ngôn viết: “Chúng tôi cho rằng những sự thật sau đây là hiểnnhiên, rằng tất cả mọi ngời sinh ra đều bình đẳng, rằng Tạo hoá cho họnhững quyền không ai có thể xâm phạm đợc; trong những quyền ấy cóquyền đợc sống, quyền tự do và quyền mu cầu hạnh phúc” [10, 96]
ý nghĩa lịch sử của “Tuyên ngôn Độc lập” nớc Mỹ là ở chỗ, đó làvăn bản nhà nớc đầu tiên trong lịch sử nhân loại tuyên bố chủ quyềnnhân dân là cơ sở của nhà nớc Từ “chủ quyền nhân dân” phát sinh quyềnkhởi nghĩa của nhân dân, quyền thiết lập nhà nớc có lợi cho họ: “Để đảmbảo cho các quyền này, con ngời thiết lập ra các chính phủ và chính sức
Trang 16mạnh của các chính phủ này là xuất phát từ sự ng thuận của nhân dân Vàkhi một hình thức chính phủ nào đó trở nên đối nghịch với các mục đíchtrên thì nhân dân có quyền thay đổi hay phế bỏ chính phủ đó, và thiết lậpmột chính phủ mới” [10,96] Nổi lên trong “Tuyên ngôn Độc lập” 1776của Mỹ đó là xác định nhiệm vụ đầu tiên của Nhà nớc nói chung, tứcphải đảm bảo tự do và hạnh phúc của mọi ngời Bởi vậy: "khi một loạtdài các hành vi lạm quyền và cớp đoạt quyền lực cùng thay đổi một mụctiêu là muốn cỡng bách mọi ngời sống dới một chế độ chuyên chế tuyệt
đối, thì lúc đó mọi ngời có quyền và có bổn phận phải phế bỏ một chínhphủ nh vậy và đa lên những ngời bảo vệ mới cho an ninh tơng lai củamình” [10,98]
Bên cạnh những t tởng về quyền con ngời thì “Tuyên ngôn Độclập” của nớc Mỹ còn có ý nghĩa để khẳng định quyền dân tộc của 13bang thuộc địa Bắc Mỹ với “mẫu quốc” - thực dân Anh Trớc hết, Tuyênngôn phê phán ách cai trị, sự bất công và bóc lột của nhà vua đối vớithuộc địa Anh ở Bắc Mỹ về kinh tế, chính trị, xã hội,…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao Để đòi quyền
độc lập, tự do và bình đẳng dân tộc, nhân dân 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ
đã nhiều lần “thỉnh cầu Nhà vua sửa đổi bằng những lời lẽ khiêm nhờngnhất” và đáp lại, họ chỉ nhận đợc những “sự xúc phạm” Từ đó, Tuyênngôn phê phán và tuyên bố với thực dân Anh rằng, “họ không thèm nghetiếng gọi của công lý và tình máu mủ Do vậy, chúng ta phải thấy rõ sựcần thiết phải tuyên bố li khai” [10,106] Và “nhân danh nhân dân, cũng
nh thừa lệnh nhân dân lơng thiện của các thuộc địa này, chúng tôi trịnhtrọng công bố và tuyên bố rằng các thuộc địa hợp nhất này đã và cóquyền là các quốc gia Tự do và Độc lập; rằng các thuộc địa này khôngcòn phải có một sự cam kết nào với quốc vơng nớc Anh; rằng mọi mốiliên hệ chính trị giữa các thuộc địa này với Quốc gia Anh đáng đợc vàphải đợc hoàn toàn chấm dứt; rằng, với t cách các Quốc gia Tự do và Độclập, các thuộc địa này có Toàn quyền phát động chiến tranh, ký kết hoàbình, lập ra các liên minh, thiết lập sự buôn bán, Nghĩ và Làm tất cảnhững điều mà các quốc gia Độc lập có quyền làm” [10,108]
Trở lại với nớc Pháp cách mạng - quê hơng của những t tởng dânchủ, tiến bộ nhất châu Âu thời bấy giờ Nơi mà những lý tởng, khát vọngcủa Vônte, Môngtexkiơ, Rútxô đợc kết tinh trong “Tuyên ngôn Nhânquyền và Dân quyền” 1789 Đúng nh tên gọi của nó là đã đa ra đợc
Trang 17những quan điểm tiến bộ về quyền con ngời Ngay lời nói đầu của Tuyênngôn đã khẳng định: Con ngời có những “quyền tự nhiên, không thể tớc
đoạt và thiêng liêng” Tiếp đó, Điều 1 khẳng định: “Mọi ngời sinh rasống tự do và bình đẳng về các quyền” Các quyền đó là “quyền tự do,quyền sở hữu, quyền đợc an toàn và chống áp bức” [10,112]
"Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền" của cách mạng Pháp còn
đa ra những quan niệm về “tự do”, “bình đẳng” và “chủ quyền quốc gia”hết sức tiến bộ Theo đó, “Tự do” có nghĩa là “có thể làm mọi điều khônggây hại cho ngời khác” (Điều 4) [10,112]; “Luật pháp chỉ có quyền cấm
đoán những hành vi có hại cho xã hội” (Điều 5) [10,112] “Tự do” còn cónghĩa là “tự do trao đổi về t tởng và ý kiến là một trong những quyền quýnhất của con ngời; mọi công dân có thể phát ngôn” (Điều 11) [10,114],
“viết hay tiến hành in ấn một cách tự do” nhng phải “đợc pháp luật quy
Trên một danh nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói, thế giới t bản tuymàu sắc có thể khác nhau nhng về đại thể đến nay cha tìm ra đợc nhữngnguyên tắc nào màu nhiệm hơn các nguyên tắc đã đợc nêu ra từ Tuyênngôn 1789 của cách mạng Pháp
Chính những t tởng tích cực, tiến bộ này đã ảnh hởng không nhỏ
đến châu á thời cận đại Từ Nhật Bản, Trung Quốc những t tởng nói trên
đợc truyền bá rộng khắp, trong đó có Việt Nam Để rồi, tạo nên một trào
lu “châu á thức tỉnh” “Thức tỉnh” trớc hết để đòi lại quyền con ngời,quyền dân tộc vốn bị chủ nghĩa thực dân Phơng Tây cỡng đoạt, chà đạp.Tuy nhiên, gần nh tất cả đều không giành đợc thắng lợi chỉ trừ Nhật Bản
Trang 18- “một sự trỗi dậy thần kỳ”, còn Vơng quốc Xiêm cũng chỉ tồn tại trêndanh nghĩa và hình thức Còn lại đa số các nớc châu á mặc dù cố gắngvùng dậy để thoát khỏi sự kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân Phơng Tâynhng rút cục đều rơi vào thất bại, bế tắc
Nh vậy, giai cấp t sản trong cuộc chiến chống chế độ phong kiến đã
“làm đợc những gì có thể” để khẳng định quyền con ngời và quyền dântộc - điều này đợc kết tinh trong "Tuyên ngôn Độc lập" 1776 của Mỹ và
"Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền" của Cách mạng Pháp 1789 Rõràng, những cống hiến của giai cấp t sản là rất lớn, không thể phủ nhận.Tuy nhiên, t tởng quyền con ngời và quyền dân tộc theo quan niệm củagiai cấp t sản cũng không tránh khỏi những hạn chế
Trong t duy của giai cấp t sản, quyền con ngời mà trớc hết làquyền công dân chỉ đợc dành cho thiểu số những “công dân tích cực” -
có tài sản, địa vị và nam giới từ 18 tuổi trở lên; Mặc dù giai cấp t sảnluôn rao giảng t tởng “quyền bình đẳng” nhng rút cục sự bình đẳng đóchỉ là hình thức Vì bên cạnh "lý tởng cao đẹp" đó còn tồn tại “quyền thữu” là quyền “bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có thể tớcbỏ” [10,116]; Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chủ nghĩa t bảnchuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa đã làm nổi lên hai mâu thuẫn:mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với t sản và mâu thuẫn dân tộc Nh vậy,chính giai cấp t sản đã đa ra những “nguyên lý bất hủ” cho quyền con ng-
ời và quyền dân tộc nhng nó cũng là kẻ đã chà đạp lên những “nguyên lýbất hủ” ấy
Vì thế, cuộc đấu tranh để giành và khẳng định quyền con ngời vàquyền dân tộc đợc chuyển dần và chuyển hẳn sang tay giai cấp vô sản - giaicấp tiến bộ nhất, cách mạng nhất và triệt để nhất trong lịch sử Trong quátrình đấu tranh đó, trớc hết giai cấp vô sản đã chứng minh cho lịch sử nhânloại thấy đợc những t tởng tiến bộ về quyền con ngời, quyền dân tộc
Những phát súng đầu tiên báo hiệu một thời đại mới thuộc về cácnhà chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ XIX nh Xanhximông, Phuriê, Ôoen…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao Mặc
dù đa số họ thuộc lớp trên của xã hội nhng họ lại xuất phát từ lợi ích củangời lao động, đấu tranh cho quyền con ngời, quyền dân tộc Các nhàchủ nghĩa xã hội thời bấy giờ đã vạch trần chế độ xã hội t bản và khắckhoải tìm kiếm những con đờng khác nhau để cải tạo xã hội Song, cácmâu thuẫn xã hội thời bấy giờ cha đủ độ chín muồi đã làm cho họ không
Trang 19nhận thấy sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân “là ngời đào mồ chônchủ nghĩa t bản” Với họ, “giai cấp vô sản chỉ là giai cấp khổ đau cần đợccứu vớt” Từ đó, các nhà chủ nghĩa xã hội thế kỷ XIX đi đến “ảo tởng” là
có thể cải tạo xã hội trên cơ sở “lý trí” và “tình cảm”…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao Họ cho rằng, cóthể thuyết phục những ngời giàu có thấy đợc tính vô đạo đức, bất hợp lýcủa xã hội t sản Hơn nữa, họ phủ nhận đấu tranh của quần chúng và chorằng, sự ngu dốt của quần chúng sẽ dẫn tới những thảm hoạ Bởi lẽ, họtin vào khả năng thực hiện “xã hội lý tởng” của mình trên cơ sở hợp tácgiàu nghèo mà không thấy đợc bản chất của xã hội t bản và quy luật vận
động của xã hội loài ngời Chính các quan điểm chính trị mà đặc biệt là
sự phủ nhận hành động cách mạng - đấu tranh giai cấp là điểm yếu nhấttrong học thuyết của các nhà chủ nghĩa xã hội không tởng thế kỷ XIX
Do đó, các học thuyết tiến bộ về quyền con ngời, quyền dân tộc củaXanhximông, Phuriê, Ôoen đều nằm lại trên giấy tờ và trở thành không t-ởng
Tuy vậy, với những lý tởng cao đẹp về một xã hội không có ápbức, t hữu và đề cao quyền con ngời, quyền dân tộc của chủ nghĩa xã hộikhông tởng rất đáng đợc trân trọng Và, chính những t tởng này lại là mộttrong những nguồn gốc của Chủ nghĩa Mác - Ph.Ănghen C.Mác và Ph
Ănghen mặc dù xuất thân từ hai gia đình có địa vị khác nhau nhng hai
ông lại có một lý tởng chung đó là giải phóng giai cấp vô sản và toànnhân loại thoát khỏi áp bức, bóc lột Điều đó đợc thể hiện rất rõ trong
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” năm 1848 do C.Mác và Ph.Ănghenviết Có thể nói, đây là luận điểm cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học
và nh Lênin đã nhận xét rằng: “Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng bộsách”
Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ănghen có
đề cập đến t tởng về quyền con ngời và quyền dân tộc theo cách nhìn củachủ nghĩa duy vật lịch sử Trớc hết, Tuyên ngôn nêu rõ: “Xã hội t bảnhiện đại…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao không xỏa bỏ đợc những đối kháng giai cấp Nó chỉ đemnhững giai cấp mới thay thế cho những giai cấp, những điều kiện áp bức,những hình thức đấu tranh cũ mà thôi” Do đó, để xoá bỏ sự bất bình
đẳng, đòi hỏi phải xoá bỏ áp bức giai cấp, xoá bỏ t hữu Từ đó, C.Mác Ph.Ănghen khẳng định đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xãhội có giai cấp; khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là ng-
Trang 20-ời “giải phóng mình đồng th-ời giải phóng toàn nhân loại” Để thực hiện
sứ mệnh lịch sử đó, đòi hỏi giai cấp vô sản mỗi nớc trớc hết phải giànhlấy chính quyền, "phải tự vơn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trởthành dân tộc”[5,62]
Sở dĩ C.Mác và Ănghen khẳng định nh vậy là bởi vì, giai cấp vô sản
có điều kiện khách quan và năng lực chủ quan để nắm ngọn cờ dân tộc.Lợi ích của giai cấp vô sản thống nhất với ích của dân tộc bởi lẽ lý tởngcủa giai cấp vô sản là lý tởng về một xã hội mà trong đó không còn ápbức, bóc lột và nó hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử,với tiến bộ xã hội, với lợi ích của quần chúng nhân dân Khi giai cấp vôsản trở thành “giai cấp dân tộc”, với bộ máy nhà nớc vô sản, giai cấp vôsản sẽ từng bớc xoá bỏ chế độ sở hữu t hữu t sản - nguồn gốc của nạn ng-
ời bóc lột ngời và nạn dân tộc này áp bức, nô dịch dân tộc khác: “Hãyxoá bỏ tình trạng ngời bóc lột ngời thì tình trạng dân tộc này bóc lột dântộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ” Nh vậy, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
đã khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa áp bức giai cấp và áp bức dântộc, giữa giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc Tiếp theo sự nghiệp
vĩ đại của C.Mác và Ph.Ănghen là Lênin ở thời đại của mình, Lênincũng đã đấu tranh không mệt mỏi để giành lại quyền con ngời và quyềndân tộc cho nhân loại Ngoài những luận điểm về đấu tranh giai cấp đểgiành lại quyền con ngời, Lênin đã vận dụng và phát triển sáng tạo những
t tởng của C.Mác và Ph.Ănghen về vấn đề quyền dân tộc trong thời đạimới - thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản - thời đại mà vấn
đề dân tộc và thuộc địa nổi lên gay gắt Lênin đa ra Cơng lĩnh dân tộctrong “Tuyên ngôn về các quyền” với nội dung chủ yếu là: thực hiệnquyền dân tộc tự quyết, độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, quyềnbình đẳng giữa các dân tộc và chính sách đại đoàn kết dân tộc
Từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, hàng loạt các quốc giathuộc địa và phụ thuộc đã đứng dậy để giành quyền con ngời và quyềndân tộc Với sự ra đời của "Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền"năm 1948 đã có nhiều quan niệm mới mẻ hơn về quyền con ngời vàquyền dân tộc Để rồi, nhân quyền và quyền dân tộc đã trở thành "ngônngữ chung của nhân loại" và là một "vấn đề u tiên đối với cộng đồngquốc tế" [10,18] trong giai đoạn hiện nay
Trang 21Chúng ta có thể khẳng định, quyền con ngời và quyền dân tộc lànhững giá trị thiêng liêng của nhân loại Do đó, đấu tranh để giành vàkhẳng định quyền con ngời và quyền dân tộc luôn luôn chiếm một mảngquan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài ngời Nó đợcphôi thai từ thời cổ đại; bị vùi dập, che đậy trong bức màn tăm tối của
đêm trờng trung cổ; bớc sang thời cận đại, nó lại đợc "giai cấp t sản vớinhững gì có thể đóng góp cho lịch sử" khơi dậy, tiếp thêm sức sống; đểrồi đến thời hiện đại nó lại đợc tiếp tục hoàn thiện thêm, đợc khẳng địnhmạnh mẽ và đề cao hơn bao giờ hết
Trang 22đặt ra từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Vào thời cận đại, châu á bảo thủ, đóng cửa trong đó có Việt Nam
đã trở thành nguyên nhân cho sự lạc hậu và cuối cùng bị nô dịch Từngày thực dân Pháp nổ súng xâm lợc cho đến khi về cơ bản bình địnhxong nớc ta, thực dân Pháp đã thi hành nhiều chính sách nhằm vơ vét,bóc lột và trói buộc nhân dân ta dới ách nô lệ Do đó, xã hội Việt Namcuối thé kỷ XIX, đầu thế kỷ XX không chỉ quyền con ngời mà quyền dântộc cũng bị tớc đoạt và bị chà đạp thô bạo
Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ lầm than, nổi lên hai mâu thuẫn cơbản đó là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Namvới thực dân Pháp xâm lợc và mâu thuẫn giai cấp gay gắt Do vậy, cácphong trào yêu nớc chống Pháp từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trớchết đều nhằm mục đích đánh đổ thực dân Pháp xâm lợc và bè lũ tay saigiành lại quyền dân tộc và quyền con ngời cho dân tộc Việt Nam, ngờidân Việt Nam
Sinh ra và lớn lên trong cảnh nớc mất nhà tan, nhân dân ta dới áchcai trị của thực dân phong kiến không có quyền con ngời dù là ở mức tốithiểu, đất nớc ta không có quyền dân tộc với những biểu hiện cơ bản của
nó Bởi vậy, ngay từ rất sớm, trong suy nghĩ và hành động của cậu béNguyễn Sinh Cung mà sau này là Nguyễn Tất Thành đã nung nấu trongmình ham muốn "cứu dân, cứu nớc"
Tuy nhiên, bằng đầu óc độc lập, tự chủ, sáng tạo của mình nênchàng thanh niên Nguyễn Tất Thành dù rất khâm phục tinh thần yêu nớc
và cách mạng của các bậc tiền bối nhng đã nhìn thấy sự bế tắc của họ.Nguyễn ái Quốc cho rằng, Phan Bội Châu dựa vào Nhật để đánh Phápkhác nào "đa hổ cửa trớc, rớc beo cửa sau"; còn Phan Châu Trinh dựa vào
Trang 23Pháp để chống phong kiến thì khác nào kêu gọi giặc rũ lòng thơng; còn
ông Hoàng Hoa Thám thì có vẻ thực tế hơn vì đã vũ trang để chống Phápnhng xem ra còn mang nặng cốt cách phong kiến…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao
Nh vậy, "bài toán" mà lịch sử Việt Nam đặt ra vẫn còn là một ẩn
số cha có lời giải đáp thật thoả đáng Và, để có một câu trả lời cho "bàitoán hóc búa" đó, Nguyễn ái Quốc đã lựa chọn con đờng, cách thức khácvới các nhà yêu nớc tiền bối đó là sang Phơng Tây - quê hơng đã sản sinh
ra quyền con ngời, quyền dân tộc nổi tiếng với những cụm từ " Tự do,Bình đẳng, Bác ái"
2.2 Khái quát nguồn gốc hình thành t tởng quyền con ngời và quyền dân tộc của Nguyễn ái Quốc -
Hồ Chí Minh.
T tởng Hồ Chí Minh nói chung và t tởng quyền con ngời, quyềndân tộc nói riêng "là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển Chủnghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nớc ta, đồng thời là sự kếttinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giảiphóng giai cấp và giải phóng con ngời" [5,19] Nh vậy, t tởng Hồ ChíMinh về quyền con ngời và quyền dân tộc là sản phẩm của sự kết hợpchủ nghĩa yêu nớc, truyền thống văn hoá, nhân nghĩa và thực tiễn cáchmạng Việt Nam với tinh hoa văn hoá nhân loại, đợc nâng lên tầm caomới dới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin qua lăng kính chủ quan củaNguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh
Truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại, Chủ nghĩa Mác
- Lênin và những yếu tố chủ quan thuộc về phẩm chất của Nguyễn áiQuốc là những nguồn gốc cơ bản hình thành nên t tởng Hồ Chí Minh nóichung và t tởng Hồ Chí Minh về quyền con ngời và quyền dân tộc nóiriêng Nội dung t tởng quyền con ngời, quyền dân tộc trong lịch sử dântộc, nhân loại và Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đợc trình bày ở Chơng 1 do
đó chúng ta không nhắc lại Mà ở Chơng này chỉ đi vào phân tích nó dớiphơng diện là nguồn gốc hình thành nên t tởng Hồ Chí Minh về quyềncon ngời và quyền dân tộc
2.2.1 Gia đình, quê hơng với việc hình thành t tởng Hồ Chí Minh về quyền con ngời và quyền dân tộc.
Trang 24Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong một gia
đình nhà Nho yêu nớc, gần gũi với nhân dân Cụ Phó bảng Nguyễn SinhSắc - thân phụ của Ngời là một nhà Nho cấp tiến có lòng yêu nớc, thơngdân sâu sắc Chính chủ trơng lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cáchchính trị - xã hội của cụ Phó bảng đã có ảnh hởng tích cực đối với việchình thành t tởng Hồ Chí Minh về con ngời, quyền con ngời và quyềndân tộc Sau này, cái chủ thuyết học đợc ở ngời cha cộng với sự bắt gặptrào lu t tởng mới của thời đại đã đợc Nguyễn ái Quốc nâng lên thành t t-ởng cốt lõi trong đờng lối chính trị của mình
Nghệ An, quê hơng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xứ sở giàu truyềnthống yêu nớc, chống ngoại xâm, nơi đây không lúc nào, không thế kỷnào là không vang lên tiếng va chạm của giáo gơm chống xâm lợc Ngaytrên mảnh đất Kim Liên cũng đã thấm máu của bao anh hùng, nghĩa sĩngã xuống Cả chị gái và anh trai của Ngời cũng đều tham gia tích cựctrong phong trào yêu nớc chống Pháp Bên cạnh đó, quê hơng của Ngờicòn có truyền thống nhân nghĩa, giàu lòng yêu thơng, đùm bọc con ngời,trân trọng và đề cao phẩm giá con ngời Do vậy, nh một lẽ tự nhiên ngay
từ nhỏ quê hơng và gia đình đã nuôi dỡng trong Nguyễn ái Quốc - HồChí Minh một lòng yêu thơng, trân trọng con ngời và tình yêu đối vớiquê hơng, đất nớc Chính quê hơng và gia đình là nơi đã chắp cánh choNguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh khát vọng giải phóng con ngời, giảiphóng dân tộc để giành lấy quyền thiêng liêng: quyền con ngời và quyềndân tộc
2.2.2 Truyền thống dân tộc với việc hình thành t tởng Hồ Chí Minh về quyền con ngời và quyền dân tộc.
Nếu nh quê hơng và gia đình là yếu tố đầu tiên đối với việc hìnhthành t tởng Hồ Chí Minh về quyền con ngời và quyền dân tộc thì truyềnthống, ý thức về quyền con ngời, quyền dân tộc trong lịch sử Việt Nam làmột điều kiện không thể thiếu tiếp theo Dân tộc Việt Nam trải qua nhiềuthời đại, suốt chiều dài lịch sử bất cứ ở đâu, vào thời điểm nào thì tinhthần khẳng định quyền dân tộc luôn luôn đợc đặt ra Bên cạnh đó, trongquá trình lâu dài của lịch sử, dân tộc ta cũng tạo cho mình một truyềnthống, một bản sắc và dấu ấn đó là t tởng đề cao quyền con ngời Nó bắtnguồn từ t tởng "dân chủ" trong cộng đồng làng xã
Trang 25Là một ngời có học vấn uyên thâm, đọc nhiều hiểu sâu, hơn bất cứ
ai, Hồ Chí Minh nắm rất rõ t tởng quyền con ngời, quyền dân tộc mà ôngcha đã hun đúc Chính những tinh hoa của lịch sử dân tộc đã đợc Ngời kếthừa triệt để để rồi khi bắt gặp Chủ nghĩa Mác - Lênin, Ngời đã kết hợp
nó và nâng lên tầm cao của thời đại mới: thời đại giải phóng dân tộc gắnliền với giải phóng con ngời, thời đại đề cao quyền con ngời, quyền dântộc
2.2.3 Tinh hoa văn hoá Phơng Đông với việc hình thành t tởng
Hồ Chí Minh về quyền con ngời và quyền dân tộc.
Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh trớc hết là một trí thức Nho học
do đó Ngời rất am tờng văn hoá Phơng Đông Ngoài học thuyết Nho giáothì những nội dung cốt lõi về lòng "từ bi hỉ xả" giàu tính nhân văn củaPhật giáo cũng đợc Ngời tiếp nhận Hơn thế nữa, những điểm mấu chốtcủa học thuyết Lão Tử , Mặc Tử…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị caocũng đợc Ngời quan tâm Và, nh đãtrình bày ở Chơng 1, chúng ta thấy rằng, trong văn hoá Phơng Đông, t t-ởng quyền con ngời, quyền dân tộc xuất hiện từ rất sớm Bớc sang thờicận đại, một lần nữa những t tởng đó lại đợc khẳng định đề cao mà tiêubiểu là Tôn Trung Sơn Trong trào lu "châu á thức tỉnh", Tôn Tung Sơn
đã tiếp nhận từ Phơng Tây t tởng quyền con ngời, quyền dân tộc và kháiquát thành khẩu hiệu đặc sắc: "dân tộc độc lập, dân sinh tự do và dânquyền hạnh phúc"
Hồ Chí Minh là ngời am hiểu và trân trọng văn hoá Phơng Đông
Do vậy, nh một lẽ tự nhiên, t tởng quyền con ngời, quyền dân tộc trongvăn hoá Phơng Đông cũng sớm ăn sâu vào máu thịt của Ngời và trở thànhmột trong những nguồn gốc quan trọng trong việc hình thành t tởng HồChí Minh về quyền con ngời, quyền dân tộc
2.2.4 Tinh hoa văn hoá Phơng Tây với việc hình thành t tởng
Hồ Chí Minh về quyền con ngời và quyền dân tộc.
Có thể nói, trong con ngời Hồ Chí Minh là sự tổng hoà, gặp gỡ củavăn hoá Phơng Đông và văn hoá Phơng Tây Vốn là một ngời đợc đàoluyện trong môi trờng Nho học từ thủơ ấu thơ nhng không nh các nhànho "thủ cựu", Ngời vẫn luôn đề cao văn hoá Phơng Tây và tiếp nhận nó
Ngay từ khi còn học ở trờng Tiểu học Đông Ba rồi sau đó là trờngQuốc học Huế, Ngời đã đợc tiếp xúc và làm quen với văn hoá Pháp, văn
Trang 26hoá Phơng Tây Đặc biệt, trong ba mơi năm hoạt động cách mạng ở nớcngoài (1911-1941), Ngời luôn luôn tìm hiểu và nghiên cứu kĩ về văn hoáPhơng Tây, trong đó có những vấn đề làm cho Ngời đặc biệt quan tâm đó
là t tởng về quyền con ngời và quyền dân tộc trong văn hoá Phơng Tâynói chung và trong các cuộc cách mạng t sản nói riêng Ngời khôngnhững đề cao những t tởng tiến bộ về nhân quyền và quyền dân tộc tiến
bộ trong lịch sử Phơng Tây mà còn tiếp thu nó rồi phát triển nó lên dới
ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin
2.2.5 Chủ nghĩa Mác - Lênin với việc hình thành t tởng Hồ Chí Minh về quyền con ngời và quyền dân tộc.
Trong cuộc hành trình cứu nớc cứu dân, Nguyễn ái Quốc - Hồ ChíMinh đã biết làm giàu vốn hiểu biết của mình bằng việc học tập, chiêmnghiệm không mệt mỏi văn hoá Phơng Đông, Phơng Tây và trí tuệ thời đại.Ngời vừa thâu hái vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại màsuy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển t tởngquyền con ngời và quyền dân tộc Chủ nghĩa Mác - Lênin là một trongnhững nguồn gốc có vai trò quan trọng to lớn đối với việc hình thành t tởng
Hồ Chí Minh về quyền con ngời và quyền dân tộc
Ngay từ khi đang còn là một chàng thanh niên, Ngời đã có hammuốn và là ham muốn tột bậc là cứu nớc, cứu dân Đây chính là động lựcthôi thúc Ngời bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm đờng đòi lại quyềncon ngời, quyền dân tộc cho nhân dân Việt Nam và dân tộc Việt Nam
Và, đây cũng là quá trình mà Ngời vừa tìm tòi, vừa khảo nghiệm, để rồikhi bắt gặp ánh sáng Chủ nghĩa Mác - Lênin, Ngời đã lựa chọn và quyết
định đi theo Bởi vì, hơn bất kỳ học thuyết nào, Chủ nghĩa Mác - Lêninmang trong nó một hệ thống quan điểm đầy đủ và toàn diện về giảiphóng con ngời, giải phóng xã hội, giải phóng dân tộc…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị caoNguyễn áiQuốc đã nhận thấy chỉ có đi theo Chủ nghĩa Mác - Lênin thì dân tộc ViệtNam, ngời dân Việt Nam mới có thể tự giải phóng thực sự và đích thực là
"tới nơi" Có thể nói, nguồn gốc Chủ nghĩa Mác - Lênin đã trang bị choNgời cơ sở thế giới quan và phơng pháp luận để giải phóng con ngời vàgiải phóng dân tộc mà Ngời đang khao khát tìm kiếm
Trang 272.2.6 Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với việc hình thành t tởng
Hồ Chí Minh về quyền con ngời và quyền dân tộc.
Có thể nói, những nguồn gốc kể trên chỉ là tiền đề mang yếu tốkhách quan trong việc hình thành t tởng quyền con ngời và quyền dân tộccủa Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh Yếu tố có vai trò quyết định nhấtphải kể đến đó là những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhânhiếm có của Ngời
Trớc hết, đó là t duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cộng với đầu óc phêphán tinh tờng, sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu t tởng quyềncon ngời và quyền dân tộc trong các cuộc cách mạng t sản Để rồi, Ngờikhông bị đánh lừa bởi cái hào nhoáng bên ngoài của những cụm từ " Tự
do, Bình đẳng, Bác ái"
Đó là sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú
về quyền con ngời và quyền dân tộc trong lịch sử dân tộc, nhân loại vàChủ nghĩa Mác - Lênin
Cuối cùng, đó là tâm hồn của "một nhà yêu nớc, một chiến sĩ Cộngsản nhiệt thành cách mạng", một trái tim yêu nớc thơng dân, thơng yêunhững ngời cùng khổ và sẵn sàng chịu đựng những hi sinh cao nhất vì
độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của con ngời
Chính những phẩm chất cá nhân hiếm có đó đã quyết định việcNguyễn ái Quốc tiếp nhận, chọn lọc, chuyển hoá, phát triển tinh hoa củadân tộc, nhân loại và thời đại thành t tởng đặc sắc của mình về quyền conngời, quyền dân tộc
2.3 Quá trình hình thành và biểu hiện của t tởng
Hồ Chí Minh về quyền con ngời và quyền dân tộc trớc Cách mạng Tháng Tám.
T tởng Hồ Chí Minh về quyền con ngời và quyền dân tộc là một hệthống quan điểm chiếm một vị trí quan trọng trong t tởng Hồ Chí Minhnói chung Tất nhiên, t tởng đó không thể hình thành ngay một lúc màphải trải qua một quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, xác lập, phát triển vàhoàn thiện Vậy, quá trình hình thành và biểu hiện của t tởng Hồ ChíMinh về quyền con ngời và quyền dân tộc trớc Cách mạng Tháng Támdiễn ra nh thế nào?
Trang 28Ngay từ rất sớm, Nguyễn ái Quốc đã tiếp cận những t tởng tiến bộ
về quyền con ngời và quyền dân tộc trong lịch sử nhân loại Ngời nói:
"Tôi sinh ra trong một gia đình nhà Nho An Nam Những gia đình nh thế
ở nớc chúng tôi không phải làm việc gì Thanh niên trong những gia đình
ấy thờng học Khổng giáo…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị caotrên cơ sở đó ngời ta đa ra khái niệm về (một)
"thế giới đại đồng" [18,477] Nh vậy, ngay từ khi còn nhỏ, Nguyễn áiQuốc đã đợc tiếp thu những t tởng tiến bộ về quyền con ngời và quyềndân tộc trong học thuyết Nho giáo Trong đó, học thuyết Nho giáo khôngnhững mong muốn xây dựng một "thế giới đại đồng" mà còn có t tởng
"dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" (có nghĩa là dân là trên hết, xãtắc thứ hai, vua thì coi nhẹ) hay quan niệm về chữ "nhân" là lòng thơngngời, là quan hệ giữa ngời với ngời…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị caoBên cạnh đó, những t tởng "từ bi hỉxả" giàu tính nhân văn, nhân ái của Phật giáo hay quan niệm "nhà hiềntriết không có trái tim riêng Trái tim của ông ta bao gồm những trái timcủa dân chúng" [15,56] Không những vậy, những quan điểm, t tởng vềquyền dân tộc, quyền con ngời, quyền công dân trong truyền thống lịch
sử dân tộc cũng đã đợc Nguyễn ái Quốc nắm bắt khi đang còn nhỏ
Nh vậy, ngay từ rất sớm, truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hoáPhơng Đông đã mang lại cho Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh nhữnghiểu biết, quan niệm thô sơ về quyền con ngời và quyền dân tộc Mặc dùcha đầy đủ và đang còn phiến diện, mang nhiều hạn chế nhng chínhnhững t tởng quyền con ngời, quyền dân tộc mà văn hoá Phơng Đôngmang lại chính là cơ sở để Ngời tiếp nhận t tởng đó trong văn hoá PhơngTây và Chủ nghĩa Mác - Lênin
Khi đang còn đi học ở trờng tiểu học rồi sau đó là trờng Quốc họcHuế, đợc tiếp xúc với những sách báo và những thầy giáo có t tởng tiến bộnên Ngời đã đợc làm quen dần với văn hoá và văn minh Phơng Tây Năm
1923, chính Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đã kể lại với nhà báo Liênxô
Ôxíp - Manđenxtan rằng: "Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi đợc nghe bachữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái" [18,477] Và, trong cuốn "Hồ ChíMinh - Biên niên tiểu sử" (tập 1) cũng xác định lại điều đó một cách cụ thểhơn về thời gian và không gian là: vào khoảng tháng 9 năm 1905 tại TrờngTiểu học Pháp - bản xứ Thành phố Vinh, "Nguyễn Tất Thành lần đầu tiêntiếp xúc với khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Bác ái"
Trang 29Ra đi tìm đờng cứu nớc từ năm 1911, trớc hết Ngời muốn tìm hiểuxem xem cái gì ẩn náu đằng sau những từ "Tự do, Bình đẳng, Bác ái" củangời Pháp mà Ngời đã đợc biết đến trên ghế nhà trờng và qua các thầygiáo, sách báo có t tởng tiến bộ Đến Pháp (nơi sinh ra bản "Tuyên ngônNhân quyền và Dân quyền" nổi tiếng), rồi Ngời qua Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, dừng chân lại những hải cảng của An-giê-ri, Tuy-ni-di, gô, Đa-hô-mây, Xê-nê-gan, Rê-uy-ni-ông…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao Ngời còn vuợt Đại Tây D-
Công-ơng đến nớc Mỹ - nơi sinh ra bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, nơi có ánhsáng của tợng Nữ thần Tự do…đồng thời là một tác phẩm chính luận lớn có giá trị cao, truớc hết cũng nhằm mục đích tìm hiểu,nghiên cứu thực tế quyền con ngời và quyền dân tộc rồi sau đó về giúp
đồng bào mình giải phóng dân tộc, giải phóng con ngời
Đi nhiều nơi, làm nhiều nghề cho nên anh Ba (bí danh lúc đó củaNguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh) đã chứng kiến nỗi thống khổ vì mấtquyền làm ngời của những ngời thuộc các màu da, mất quyền dân tộccủa các dân tộc bị thực dân nô dịch Sống và làm việc ở Mỹ, Anh và Pháp
- những tên đế quốc đầu sỏ lúc đó - anh Ba càng hiểu hơn nỗi thống khổcủa nhân dân lao động ở ngay tại các nớc đi áp bức các dân tộc khác
Khi đến thăm tợng Nữ thần Tự do, chính khách nào cũng chiêmngỡng ngôi sao toả sáng trên vòng nguyệt quế của bức tợng và họ đã cangợi hết lời Riêng Nguyễn Tất Thành là ngời đến tợng thần Tự do, nhìnxuống chân bức tợng nơi tập trung những xóm lao động nghèo và Ngời
đã ghi trong cuốn sổ lu niệm đặt tại tợng thần nh sau: "ánh sáng trên đầutợng thần Tự do toả sáng trời xanh, còn dới chân tợng thần Tự do này thìngời da đen đang bị chà đạp Bao giờ ngời da đen đợc bình đẳng với ng-
ời da trắng, bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc, bao giờ phụ nữ đợcbình đẳng với nam giới?"
Từ sự chiêm nghiệm lịch sử cộng với đầu óc phê phán tinh tờng đãgiúp Ngời hiểu đợc rằng, các cuộc cách mạng t sản Âu, Mỹ đã phá bỏgông xiềng của chế độ phong kiến, nêu cao t tởng "Tự do, Bình đẳng,Bác ái" Nhng giai cấp t sản đã độc chiếm thành quả của cuộc cáchmạng, tiếp tục nô dịch cả nhân dân lao động ở chính quốc và các dân tộcthuộc địa, chà đạp thô bạo lên quyền con ngời và quyền dân tộc Bởi vậy,Ngời cho rằng: "Cách mệnh Pháp cũng nh cách mệnh Mỹ, nghĩa là cáchmệnh t bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳthực trong thì nó tớc lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa"
Trang 30[19,274] Cho nên, ngời ta đã cách mệnh hàng trăm năm rồi thế mà dânchúng vẫn còn khổ cực, đang toan tính làm lại một cuộc cách mệnh khác.
Nh vậy, theo Nguyễn ái Quốc, để có quyền con ngời và quyền dân tộcthực sự thì phải làm một cuộc "cách mệnh tới nơi" nghĩa là một cuộccách mệnh vừa giải phóng giai cấp, con ngời, dân tộc và nhân loại Nhng
đó là cuộc cách mạng gì thì trớc và trong Chiến tranh thế giới thứ nhấtNgời cha biết đợc
Vào cuối năm 1917, khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất đang
b-ớc vào giai đoạn kết thúc, Nguyễn ái Quốc trở lại nb-ớc Pháp, tham giahoạt động trong phong trào cách mạng của giai cấp công nhân Pháp vốn
có truyền thống đấu tranh cho tự do, bình đẳng, bác ái Và, cũng chính từ
đây, Ngời bớc vào một thời kỳ hoạt động sôi nổi
Năm 1918, để lôi kéo các nớc vào cuộc chiến tranh thế giới, Tổngthống Mỹ lúc đó là V.Uyn-xơn đã đa ra "Chơng trình 14 điểm" với nộidung cơ bản là hứa sẽ trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa và phụthuộc sau khi quân Đồng minh thắng trận Chiến tranh kết thúc, trongcác ngày từ 18-1-1919 đến 21-1-1920, đại biểu các nớc tham chiến mởHội nghị hoà bình ở lâu đài Véc-xây mà lịch sử vẫn gọi là Hoà hội Véc-xây nhằm thảo ra Hoà ớc Véc-xây Mục đích của hội nghị là xác định sựthất bại của Đức và các nớc đồng minh của Đức là áo - Hung, Thổ Nhĩ
Kỳ và Bun-ga-ri; phân chia lại thị trờng thế giới cho các nớc thắng trận
mà chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp Thực chất, đây là Hội nghị "chia của" củacác nớc đế quốc thắng trận
Lúc bấy giờ, nhiều nớc thuộc địa, phụ thuộc nh ấn Độ, Triều Tiên,Ai-xơ-len, A Rập đã cử đoàn đại biểu của mình đến dự Hội nghị Véc-xâyvới hi vọng qua đó nớc mình sẽ đợc trao trả độc lập Ngày 18-6-1919,thay mặt nhóm những ngời yêu nớc An Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi
đến Hội nghị và tất cả các đoàn đại biểu Đồng minh và nhiều nghị sĩQuốc hội Pháp bản "Yêu sách của nhân dân An Nam" yêu cầu "các quýchính phủ trong Đồng minh nói chung" và "Chính phủ Pháp đáng kínhnói riêng" thực hiện các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân An Nam đợcghi trong tám điểm sau đây:
"1 - Tổng ân xá cho tất cả những ngời bản xứ bị án tù chính trị;
2 - Cải cách nền pháp lý ở Đông Dơng bằng cách cho ngời bản
xứ cũng đợc quyền hởng những đảm bảo về mặt pháp luật nh ngời Âu
Trang 31châu; xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng
bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;
3 - Tự do báo chí và tự do ngôn luận;
4 - Tự do lập hội và hội họp;
5 - Tự do c trú ở nớc ngoài và tự do xuất dơng;
6 - Tự do học tập, thành lập các trờng kỹ thuật và chuyên nghiệp
ở tất cả các tỉnh cho ngời bản xứ;
7 - Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;
8 - Đoàn đại biểu thờng trực của ngời bản xứ do ngời bản xứ bầu
ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện Pháp biết đợc nguyện vọngcủa nhân dân ngời bản xứ" [18,435]
Trong bản yêu sách của mình, những ngời yêu nớc An Nam cònnêu rõ đây là "những yêu sách khiêm tốn" mà nhân dân nớc An Nam đa
ra "trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lí tởng chuyểnvào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc
đợc thừa nhận thực sự"; "đa ra những yêu sách trên đây, nhân dân AnNam trông cậy vào chính nghĩa thế giới của tất cả các cờng quốc và đặcbiệt tin vào lòng rộng lợng của nhân dân Pháp cao cả, tức là của nhữngngời đang nắm vận mệnh của nhân dân An Nam, của những ngời, do chỗnớc Pháp là một nớc cộng hoà, nên đợc coi là những ngời bảo hộ chonhân dân An Nam Khi nhân dân An Nam nhắc đến sự "bảo hộ" củanhân dân Pháp, thì không lấy làm hổ nhục chút nào mà trái lại còn lấylàm vinh dự vì: nhân dân An Nam biết rằng nhân dân Pháp đại biểu cho
tự do và công lí và không bao giờ từ bỏ lí tởng cao cả của mình là tìnhbác ái toàn thế giới Vì thế, nghe theo tiếng nói của những ngời bị áp bức,
là nhân dân Pháp sẽ làm tròn nhiệm vụ của mình đối với nớc Pháp và đốivới nhân loại" [18,436]
Kèm theo bản yêu sách, Nguyễn ái Quốc còn gửi cho trởng đoàn
đại biểu các nớc Đồng minh một bức th yêu cầu họ ủng hộ nhân dân AnNam Trong th gửi Tổng thống Mỹ V Uyn-xơn (trởng đoàn đại biểuChính phủ Mỹ tại Hội nghị), Nguyễn ái Quốc có viết: " Tin tởng ở độ l-ợng cao cả của ngài, chúng tôi mong ngài ủng hộ bản yêu sách này hơnnhững ngời có thẩm quyền" [18,437]
Hầu hết các đoàn đại biểu của các nớc Đồng minh và nghị sĩ Pháp
đều có th trả lời Nguyễn ái Quốc Đoàn đại biểu Mỹ gửi hai bức th cho
Trang 32Ng-ời Cũng nh th của các đoàn đại biểu của các nớc Đồng minh khác, tronghai bức th này của đoàn đại biểu Mỹ không đả động gì đến việc ủng hộ bảnyêu sách của nhân dân An Nam Nh vậy, "những yêu sách khiêm tốn" vềquyền con ngời và quyền dân tộc đúng nh Hiến pháp nớc Pháp đó đã không
đợc đại biểu các nớc Đồng minh - đứng đầu là Mỹ, Anh và Chính phủ Pháp
điếm "xỉa đến", cũng nh họ đã không ngó ngàng gì đến nguyện vọng thốngnhất của các đoàn đại biểu của những nớc thuộc địa và phụ thuộc khác đến
dự Hội nghị Véc-xây Thậm chí, các nớc Đồng minh còn "trả ơn" TrungQuốc vì đã tham gia chiến tranh bằng cách chia sẻ đất nớc này thành cácvùng đất phụ thuộc của chúng
Tuy vậy, hành động gửi yêu sách của nhân dân An Nam đến Hộinghị Véc-xây tới nhiều Nghị sĩ Quốc hội Pháp của Nguyễn ái Quốc đợcngời Pháp coi là một vụ nổ "quả bom chính trị" giữa Pari, làm cho d luậnPháp hết sức chú ý và lần đầu tiên nhân dân Pháp nhận ra có một vấn đềViệt Nam mà trớc đó họ vẫn bị lừa dối; còn nhân dân An Nam coi đấy làphát pháo hiệu giục giã đấu tranh chống thực dân xâm lợc đòi độc lập, tự
do và bình đẳng; quan trọng hơn, "Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn liềntrong bản yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam vấn đề "độc lập dântộc" với vấn đề "các quyền tự do dân chủ của nhân dân" Ngay từ buổi
đầu đấu tranh này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vừa biết chiếm lĩnh đỉnh cao
về "quyền dân tộc và quyền tự do dân chủ", vừa biết kết hợp hai mặt tàitình tất yếu không thể tách rời đó: quyền sống và tự do của dân tộc vớiquyền sống và tự do của con ngời" [38,48]
Năm 1920 là một năm diễn ra nhiều sự kiện trọng đại đối vớiNguyễn ái Quốc nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung Sau khi bịChính phủ Pháp và các nớc lớn khớc từ những yêu sách về quyền con ng-
ời và quyền dân tộc, Nguyễn ái Quốc vẫn tiếp tục hoạt động không mệtmỏi vì độc lập tự do hạnh phúc cho dân tộc, con ngời và của nhân loại.Chính hình thức thử nghiệm đấu tranh bằng con đờng hoà bình không thu
đợc kết quả đã giúp Ngời nhận thấy rằng, "chỉ có thể trông cậy chính bảnthân mình" chứ không thể trông chờ bọn đế quốc rủ lòng thơng Giữa lúc
đó, Ngời bắt gặp bản "Sơ thảo lần thứ nhất Luận cơng về các vấn đề dântộc và thuộc địa" của Lênin đăng trên báo "Nhân đạo" số ra ngày 16 và
17 tháng 7 năm 1920 Tinh thần của Luận cơng đã làm cho Ngời phấnkhởi, sáng tỏ và tin tởng Là một ngời yêu nớc đang đi tìm con đờng cách