1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN trung quốc

169 424 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
Tác giả Lưu Thị Kim
Người hướng dẫn PGS. TS. Văn Ngọc Thành
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ACFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc AICO Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN AMBDC Khuôn khổ hợp tác ASEAN về phát triển lưu vực sông Mêkông APEC Diễn đàn hợp t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LƯU THỊ KIM

SỰ HÌNH THÀNH KHU MẬU DỊCH TỰ DO

ASEAN - TRUNG QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

VINH, 2010 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LƯU THỊ KIM

SỰ HÌNH THÀNH KHU MẬU DỊCH TỰ DO

ASEAN - TRUNG QUỐC

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ THẾ GIỚI MÃ SỐ: 60.22.50

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Văn Ngọc Thành

VINH, 2010

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới tất cả cácthầy, cô giáo trong Khoa Lịch sử - Đại học Vinh, nhữngngười đã truyền thụ và mở mang cho Tôi những kiến thứcquan trọng và quý báu trong suốt những năm của chặngđường cao học

Lời cảm ơn đặc biệt Tôi xin gửi tới thầy giáo,

PGS,TS Văn Ngọc Thành, người đã dành nhiều thời gian

tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho Tôi những định hướngquan trọng, cũng như giúp đỡ cho Tôi những tài liệurất cần thiết để Tôi có thể hoàn thành tốt luận vănnày

Tôi xin gửi lời cảm ơn và lòng biết ơn chân thànhnhất tới gia đình, người thân, lãnh đạo và các đồngnghiệp, những người đã chia sẻ, động viên và tạo điềukiện tốt nhất cho Tôi trong quá trình học tập và hoànthành luận văn này

Lưu Thị Kim

MỤC LỤC

Trang 4

Mục lục Trang Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng biểu

Mở đầu 1

Chương 1: Cơ sở hình thành Khu mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc 8

1.1 Những đặc điểm tương đồng giữa Trung Quốc và ASEAN 8

1.1.1 Về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội 8

1.1.2 Về kinh tế thương mại 8

1.1.3 Về chính trị ngoại giao và an ninh 10

1.2 Không gian địa lý 12

1.2.1 Vị trí của ASEAN trong nền kinh tế của Trung Quốc 12

1.2.2 Vị trí của Trung Quốc trong nền kinh tế của các nước ASEAN 14

1.3 Bối cảnh lịch sử 17

1.3.1 Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa và xu hướng hình thành các hiệp định thương mại tự do (FTA) trên thế giới 17

1.3.2 Khái quát quan hệ hợp tác kinh tế ASEAN - Trung Quốc từ sau chiến tranh lạnh kết thúc đến trước khi ký kết Hiệp định khung về hợp tác toàn diện ASEAN - Trung Quốc 28

1.4 Mục tiêu chính trị .31

Chương 2: Tiến trình đàm phán thành lập, nội dung và ý nghĩa của ACFTA 34

2 1 Tiến trình đàm phán thành lập ACFTA 34

2.1.1 Tiền đề trực tiếp cho sự ra đời Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc và quyết định thành lập ACFTA 34

2.1.2 Tiến trình đàm phán ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc và quyết định thành lập ACFTA 39

2.1.3 Nội dung Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc 55

2.1.4 Ý nghĩa Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc 64

Trang 5

2.2 Các hiệp định triển khai kế hoạch thành lập Khu mậu dịch tự do ASEAN -

Trung Quốc 65

2.2.1 Hiệp định Thương mại hàng hoá và dịch vụ đầu tư 65

2.2.2 Chương trình thu hoạch sớm 74

Chương 3: Tác động của ACFTA đối với sư phát triển kinh tế xã hội các nước thành viên 82

3.1 Tác động chung 82

3.1.1 Về kinh tế 82

3.1.2 Về chính trị 88

3.1.3 Về văn hoá - xã hội 89

3.2 Đối với Trung Quốc 91

3.2.1 Về kinh tế 91

3.2.2 Về chính trị 95

3.3 Đối với ASEAN 96

3.3.1 Tác động có lợi 97

3.3.2 Tác động bất lợi 102

3.4 Tác động đối với Việt Nam 104

3.4.1 Một số tác động tích cực 104

3.4.2 Thách thức 111

3.4.3 Một số giải pháp 113

Kết luận 115

Tài liệu tham khảo 118

Phụ lục 125

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

ACFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc

AICO Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN

AMBDC Khuôn khổ hợp tác ASEAN về phát triển lưu vực sông Mêkông

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế chấu Á - Thái Bình Dương

CAFTA Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN

CEPT/AFTA Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho Khu

vực mậu dịch tự do ASEAN

EAFTA Khu vực mậu dịch tự do Đông Á

EHP Chương trình thu hoạch sớm (chương trình cắt giảm thuế quan đặc biệt

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTAA Khu vực tự do thương mại toàn châu Mỹ

MERCOSUR Thị trường chung Nam Mỹ

MFN Mức thuế suất ưu đãi tối huệ quốc

OSCE Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu

ASEAN - 6 Các nước thành viên ASEAN cũ: Thái Lan, Xingapo, Inđônêxia,

Philípin, Brunây, Malaisia ASEAN - 4 Các nước thành viên ASEAN mới: Việt Nam, Lào, Myanma,

Campuchia

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TrangBảng 2.1.Mô hình cắt giảm và loại bỏ thuế quan đối với ASEAN

cũ và Trung Quốc 72Bảng 2.2.Mô hình cắt giảm thuế đối với Campuchia, Cộng hoà dân

chủ nhân dân Lào và Việt Nam 72Bảng 2.3 Phạm vi sản phẩm trong chương trình thu hoạch sớm 76Bảng 2.4 Thời gian giảm thuế quan đối với ASEAN - 6 và Trung Quốc 78Bảng 2.5 Lộ trình cam kết cắt giảm thuế của các nước thành viên

ASEAN - 4 trong Chương trình thu hoạch sớm 78

Mở Đầu

Trang 8

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục diễn ra mạnh mẽ,với những động thái, sắc thái mới, làn sóng tự do hóa thương mại diễn ra sôiđộng chưa từng thấy, trên thế giới xuất hiện một xu hướng nổi bật là liên kết,hợp tác khu vực Hiện nay, số khu vực mậu dịch tự do có đăng ký với Tổ chứcThương mại thế giới (WTO) và khu vực mậu dịch tự do được thành lập theo hiệpđịnh tự do mậu dịch song phương là hơn 160, có hơn 90% quốc gia thành viêncủa WTO đã tham gia vào một hoặc nhiều khu vực mậu dịch tự do trên các cấp

độ khác nhau [51;tr 14 - 24] Những hiệp định này đã góp phần thúc đẩy sự pháttriển của kinh tế khu vực cũng như toàn cầu ASEAN - Trung Quốc cũng nằmtrong xu hướng chung này, chỉ có hòa nhập mới có thể phát triển Với sự gần gũi

về địa lý, sự tương đồng về lịch sử văn hóa - xã hội, giao thương đã phát triển từxưa đến nay, quan hệ kinh tế, chính trị láng giềng hữu nghị tốt đẹp đã tạo cơ sởvững chắc để hai bên đi đến quyết định thành lập khu mậu dịch tự do

Năm 2001, Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đã đề ra ý tưởng thànhlập Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), đến ngày 4/11/2002tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Trung Quốc lần thứ 6, hai bên đã chính thức

ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện, mở đường cho việc thiết lậpKhu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) Đây là một sự kiện mới

mẻ, thể hiện quyết tâm chính trị của các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc,thể hiện bước phát triển mới của quan hệ giữa hai bên trong thế kỷ 21 Việcthành lập Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc đã làm dấy lên một cuộcchạy đua chuẩn bị ký kết hiệp định thương mại của nhiều đối tác với ASEANnhư Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Australia Đồng thời ACFTA ra đời còn thúcđẩy những nỗ lực tiến tới quá trình nhất thể hoá Đông Á Tình hình này đã tácđộng mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế cũng như đời sống kinh tế - xã hội của khuvực, trong đó có Việt Nam Mối quan hệ hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốccũng tạo ra những cơ hội phát triển rất lớn, đồng thời cũng đặt hai bên trước

Trang 9

những thách thức không nhỏ Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đầy đủ

về những thế mạnh, những thuận lợi cũng như những thách thức để có thể tậndụng được thời cơ, khắc phục được những hạn chế để phát triển Thông qua đóđiều chỉnh kết cấu ngành nghề cho phù hợp, từ đó nâng cao sức cạnh tranh củamình trên thị trường quốc tế, có lợi cho sự phát triển kinh tế đất nước và khuvực Vì vậy, đánh giá những tác động của quá trình hình thành ACFTA đối vớikhu vực, ASEAN, Trung Quốc và Việt Nam, nhằm tận dụng những lợi ích doACFTA mang lại, đồng thời tận dụng được lợi thế địa - chính trị, địa - chiếnlược, địa - kinh tế của nước ta để Việt Nam hội nhập khu vực và quốc tế mộtcách hiệu quả nhất, góp phần đắc lực vào tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước là một vấn đề hết sức có có ý nghĩa, cấp thiết đối với nước

ta hiện nay, xét trên cả phương diện lý luận cũng như cả về thực tiễn Xuất pháttừ cách tiếp cận này, đề tài “Sự hình thành khu mậu dịch tự do ASEAN - TrungQuốc” được lựa chọn phần nào đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của những vấn

đề nêu trên cho các ban, ngành quản lý nhà nước nói chung, các nhà quản lý kinhtế, doanh nghiệp nói riêng

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những năm 80 của thế kỷ 20, cùng với sự phát triển nhanh chóngtrong quan hệ hợp tác kinh tế, vấn đề quan hệ hợp tác kinh tế ASEAN - TrungQuốc được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, tuy nhiên, cáccông trình nghiên cứu trong thời gian này còn ít Đến những năm 90 của thế kỷ

20, khi quan hệ hợp tác giữa ASEAN - Trung Quốc bước vào giai đoạn pháttriển toàn diện, các công trình nghiên cứu cũng nhiều hơn về số lượng và đi sâuvào nhiều lĩnh vực Bước sang thế kỷ 21, ASEAN - Trung Quốc ký hiệp địnhthành lập Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc đã trở thành mối quan tâmrộng rãi của giới nghiên cứu Qua khảo sát các công trình nghiên cứu đi trước,chúng tôi xin tổng kết một số xu hướng nghiên cứu chủ yếu sau:

2.1 Quá trình đàm phán ACFTA

Trang 10

Sau khi ASEAN và Trung Quốc ký quyết định thành lập ACFTA, nhiều

nghiên cứu đã được công bố, tập trung đánh giá quá trình hình thành ACFTA và

ý nghĩa chiến lược cả về mặt kinh tế lẫn chính trị Tiêu biểu như “ Trung Quốc với việc thành lập Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN” của T.S Lê Văn

Mỹ, Viện Nghiên cứu Trung Quốc; "Khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) và triển vọng hợp tác ASEAN - Trung Quốc ” của PGS TS Nguyễn Xuân Thắng, Bùi Trường Giang; "Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc

- ASEAN - Quá trình hình thành, thực trạng và triển vọng” của tác giả Nguyễn Hồng Thu; “Một số ý kiến về Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc” của tác giả Võ Đại Lược, Nghiên cứu Trung Quốc số 6 (46) - 2002; “ Hiệp định khung Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN bước phát triển mới của mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN đầu thế kỷ 21” của tác giả Lê Văn Mỹ, Nghiên cứu Trung Quốc số 5 (57) - 2004; “Người Hoa trong quan hệ Trung Quốc – ASEAN” của

tác giả Trần Khánh, Nghiên cứu Trung Quốc, số 6 (58) - 2004… Bên cạnh đó,các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả nước ngoài có đề cập tới đề

tài này như “Hướng tới FTA - chiến lược và đối sách xây dựng Khu mậu dịch tự

do Trung Quốc - ASEAN” do tác giả Diệp Phổ Thanh chủ biên, cuốn sách “Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN và Quảng Tây" do Cổ Thiểu Tùng chủ

biên Nhìn chung, các tác giả đã khái quát bức tranh toàn cảnh về quá trình hìnhthành ACFTA, đồng thời nêu lên ý nghĩa chiến lược của việc hình thành Khumậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc với các nước thành viên Theo các tác giả,việc thành lập ACFTA có ý nghĩa kinh tế và chiến lược quan trọng, tạo ra hiệuquả thúc đẩy quan hệ quan hệ kinh tế, thương mại hai bên, thúc đẩy có hiệu quảquan hệ kinh tế, thương mại song phương phát triển

2.2 Tác động của ACFTA đối với các thành viên

Tháng 10 năm 2001, nhóm chuyên gia hợp tác kinh tế ASEAN - Trung

Quốc đã đưa ra báo cáo nghiên cứu với tiêu đề “Thắt chặt quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN trong thế kỷ 21 ”, đây là văn kiện mạng tính lịch sử có ý nghĩa

Trang 11

quan trọng và ảnh hưởng lớn tới quan hệ Trung Quốc - ASEAN trong thế kỷmới Báo cáo chia thành 2 phần, phần báo cáo chính và báo cáo từng nước thànhviên ASEAN, nghiên cứu về ảnh hưởng của việc Trung Quốc gia nhập WTO vàtính khả thi của việc xây dựng Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc Báocáo cho rằng, việc xây dựng Khu mậu dịch tự do là kết quả hai bên cùng thắng.

Cũng chủ đề này, cuốn sách “Lợi ích của Trung Quốc trong việc xây dựng Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc” của tác giả Thái Văn Long, Nghiên cứu Trung Quốc số 6 (58) - 2004; “Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc: Quá trình hình thành và triển vọng ” của TS Hồ Châu – TS Nguyễn

Hoàng Giáp – TS Nguyễn Thị Quế đồng chủ biên cũng trình bày khái quát sựhình thành, phát triển của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc, tácđộng của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc đến khu vực, đồng thời

đề cập tới lợi ích của ASEAN và Trung Quốc trong việc hình thành Khu mậudịch tự do ASEAN - Trung Quốc

Việc nghiên cứu, khảo sát sự hình thành và tác động của ACFTA cũng bắtđầu được đề cập trong một số công trình, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành

như "Một số ý kiến về ACFTA" của PGS TSKH Võ Đại Lược; “Bước đầu tìm hiểu về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc” (Nghiên cứu Trung Quốc, số 6/2002) của Đỗ Tiến Sâm; "Về ý tưởng liên kết kinh tế Đông Á" (đăng trên Tạp chí châu Á - Thái Bình Dương, số 39/2002) của PGS TS Lê Văn Sang; "Sự tiến triển trong quan hệ ASEAN - Trung Quốc" (Tạp chí Nghiên cứu châu Âu số 2/2004); của TSKH Trần Khánh Vân; "Sự phát triển quan hệ Trung Quốc - ASEAN tác động đến quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương"

(Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1- 2005) của Nguyễn Hoàng Giáp…Trong các tác phẩm này, tác giả nêu lên đánh giá bước đầu về tác động của Khuvực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc đối với các nước thành viên, tác giảcho rằng, sau khi ACFTA thành lập sẽ ảnh hưởng tới cả sự phát triển của TrungQuốc và Việt Nam, thậm chí toàn thế giới Tình hình nghiên cứu về quá trình

Trang 12

thành lập ACFTA và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội TrungQuốc, ASEAN và khu vực có thể rút ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề ACFTA, song, kết quả nghiên

cứu của các công trình của các tác giả đi trước chỉ gi ới thiệu khái quát về quátrình hình thành ACFTA, các bước phát triển, một số thành tựu bước đầu khithành lập đến nay

Thứ hai, một số công trình bước đầu đánh giá về tác động của việc thành

lập ACFTA đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Trung Quốc, ASEAN và khuvực, song đó chỉ mới là khía cạnh trong nhiều khía cạnh được đề cập tới trongcông trình, chưa có công trình nào nghiên cứu, hệ thống cơ sở hình thành, tiếntrình đàm phán và tác động của ACFTA đối với các nước thành viên như vấn đề

“Sự hình thành Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc” Bởi vậy, nghiên cứu

đề tài này, chúng tôi hy vọng có những đóng góp trên hai khía cạnh khoa học vàthực tiễn

3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Sự ra đời của Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc”, trong đó đi sâu nghiên cứu cơ sở hình thành, nội dung

Hiệp định khung về hợp tác toàn diện ASEAN - Trung Quốc và tác động của nóđối với sự phát triển kinh tế xã hội các nước thành viên

3.2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về sự hình thành Khu vực mậu dịch tự doASEAN - Trung Quốc và tác động của nó đối với sự phát triển toàn diện 2 bên.Cụ thể tìm hiểu về cơ sở hình thành Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc,cũng như thực chất tiến trình đàm phán và nội dung của ACFTA, đến quá trìnhtriển khai kế hoạch thiết lập khu mậu dịch tự do, chương trình thu hoạch sớm,phân tích các tác động của nó đối với sự phát triển hai bên và nêu ra một số giảipháp đối với Việt Nam

Trang 13

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Các nguồn tài liệu sử dụng trong luận văn chủ yếu gồm tài liệu gốc củacác hội nghị cấp cao ASEAN +1; các công trình của các tác giả đi trước như:sách đã xuất bản, các bài tạp chí tiếng Việt đăng trên các tạp chí N ghiên cứuTrung Quốc, Tạp chí Quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chíThương mại, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới; các kỷ yếu hội thảo liênquan, bản tin của Thông tấn xã Việt Nam, các bài viết, thông tin từ mạngInternet, từ trang Web của Ban thư ký ASEAN, các đề tài cấp bộ, cấp viện củaViện nghiên cứu Trung Quốc

Số liệu thống kê chủ yếu lấy từ số liệu thống kê của Ban thư ký ASEAN

về hợp tác thương mại, đầu tư Trung Quốc - ASEAN và một số nguồn thống kê

có liên quan khác

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp lịch

sử và logic Ngoài ra do yêu cầu của đề tài cần phải sưu tầm, chọn lọc và sửdụng các loại tư liệu khác nhau nên phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tíchvà so sánh cũng được sử dụng

5 Đóng góp của luận văn

- Cung cấp cho người đọc một cách có hệ thống về cơ sở hình thành Khumậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc

- Trình bày diễn biến quá trình đàm phán đi đến ký kết hiệp định thành lậpKhu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc, Nội dung, và các hợp tác triển khaikế hoạch ACFTA

- Phân tích những tác động tích cực, tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế

xã hội hai bên và một số giải pháp gi úp Việt Nam phát huy được tối đa yếu tốtích cực, hạn chế yếu tố tiêu cực

Trang 14

Bổ sung thêm nguồn tư liệu nghiên cứu về Khu mậu dịch tự do ASEAN Trung Quốc tại Việt Nam.

-6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần dẫn luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1: Cơ sở hình thành Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc

CHƯƠNG 2: Tiến trình đàm phán thành lập, nội dung và ý nghĩa của ACFTA CHƯƠNG 3: Tác động của ACFTA đối với sự phát triển kinh tế xã hội các nướcthành viên

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH KHU MẬU DỊCH TỰ DO

ASEAN - TRUNG QUỐC 1.1 Những điểm tương đồng giữa Trung Quốc và ASEAN

1.1.1 Về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội

ASEAN và Trung Quốc là những nước láng giềng có cùng đường biêngiới dài hàng ngàn km, có điều kiện địa lý rất thuận lợi Trung Quốc giáp với rấtnhiều nước ASEAN như Việt Nam, Lào, Myanma và rất gần với những nướcláng giềng còn lại như Brunây, Singapore, Philipin…, tỉnh Vân Nam TrungQuốc là tỉnh nối liền Trung Quốc và ASEAN, tỉnh Quảng Tây là cửa ngõ giữaTrung Quốc và nhiều nước ASEAN Vị trí địa lý gần kề là ưu thế thuận lợi chogiao thông, liên lạc, trao đổi hàng hóa giữa khu vực ASEAN và Trung Quốc.Đặc biệt, sau khi tuyến đường sắt xuyên Á Xingapo - Côn Minh (Trung Quốc)hình thành và đi vào hoạt động, sẽ góp phần giảm chi phí vận chuyển người và

Trang 15

hàng hóa, góp phần làm cho mối quan hệ buôn bán, đầu tư và du lịch giữa haibên sẽ ngày càng sôi động và tăng cường thêm.

Do là những nước láng giềng nên ASEAN và Trung Quốc có nhiều điểmtương đồng về tập quán, văn hóa xã hội Các nước này hầu hết đi lên từ nền vănminh nông nghiệp lúa nước, thuộc vùng văn hóa Nho giáo, vốn có mối quan hệảnh hưởng lẫn nhau từ lâu, có những tập quán thói quen giống nhau, từ đó sẽ dẫnđến một số điểm tương đồng về thói quen tiêu dùng và thị hiếu của người dân.Bên cạnh đó, quan hệ chính trị của hai bên cũng đã hình thành từ lâu, hai bên đãthiết lập được quan hệ bình đẳng, hợp tác tin tưởng lẫn nhau, đó là cơ sở thuậnlợi để hai bên phát triển hợp tác kinh tế

1.1.2 Về kinh tế thương mại

Hầu hết các nước ASEAN và Trung Quốc đều là những nước có nền kinhtế đang phát triển, đều đã và đang xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường,đều có mục tiêu coi trọng xây dựng kinh tế, cố gắng tránh những ảnh hưởng tiêucực của toàn cầu hóa kinh tế Nền kinh tế hai bên có nhiều điểm tương đồng, haibên đều có nhu cầu và lợi ích chung như ủng hộ lẫn nhau về phát triển kinh tếđộc lập, hợp tác phát triển cùng có lợi Mặt khác, hai bên cũng đang phải đối mặtvới những thời cơ và thách thức chung trước những biến đổi nhanh chóng củathế giới

Về cơ cấu kinh tế của hai bên đều phát triển chưa cân đối, một số ngànhkinh tế đều có sự phát triển tương đương nhau Những đặc điểm giống nhau củahai bên tuy không phải lúc nào cũng là yếu tố thuận lợi cho hợp tác kinh tế haibên song nền kinh tế ASEAN - Trung Quốc hiện có sự bổ sung cho nhau tươngđối rõ rệt như những lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, khai tháctài nguyên… ví dụ trong lĩnh vực nông nghiệp, Trung Quốc có lợi thế về một sốmặt hàng rau quả… trong khi các nước ASEAN lại có lợi thế về lúa gạo, ngũcốc; Trung Quốc có nhiều loại máy móc nông nghiệp hiện đại vốn đang rất thiếuở các nước ASEAN Về tài nguyên thiên nhiên, trong khi Trung Quốc đang ngày

Trang 16

càng khan hiếm tài nguyên sau một quá trình tăng trưởng kinh tế cao thì nhữngnước ASEAN vốn là những nước giàu tài nguyên Một số nước ASEAN chưa đủnăng lực tận dụng có hiệu quả những nguồn tài nguyên về thủy năng, mỏ khoángsản… thì Trung Quốc lại có đầy đủ máy móc công nghệ, kinh nghiệm khai tháctài nguyên Hay trong lĩnh vực công nghiệp, Trung Quốc có một cơ sở côngnghiệp hoàn chỉnh, thống nhất có thể bổ sung cho các nước ASEAN.

Về hợp tác quốc tế, Trung Quốc và ASEAN đều là thành viên của APEC,

do đó quan hệ hợp tác hai bên có nhiều điểm thuận lợi để phát triển hơn nữa vìhai bên có những điểm giống nhau về các vấn đề lớn như: mục tiêu, tính chất vàcách thức vận hành của APEC Trung Quốc và ASEAN đã hiệp thương điều hoàvới nhau về nhiều vấn đề để có lập trường thống nhất về những vấn đề quantrọng liên quan đến lợi ích chung của các nước đang phát triển trong chươngtrình tự do hoá mậu dịch đầu tư và hợp tác kinh tế APEC

Ngoài ra, Trung Quốc và một số nước ASEAN đều tham gia vào hợp táckinh tế phát triển Tiểu vùng sông Mêkông mở rộng và chương trình hợp tácASEAN phát triển lưu vực sông Mêkông nên nhờ đó không những các nướctrong Tiểu vùng có điều kiện thuận lợi để tăng khả năng giao thương, thu hút đầu

tư từ nước ngoài mà còn có thể hợp tác khai thác sử dụng tài nguyên của dòngsông một cách có hiệu quả nhất

Những đặc điểm tương đồng và bổ sung trên là nhân tố rất thuận lợi thúcđẩy hợp tác kinh tế giữa hai bên mà không phải một khu vực mậu dịch tự do nàocũng có được Thành lập một khu mậu dịch tự do chung sẽ mang lại cho cả haibên nhiều cơ hội tận dụng những nhân tố thuận lợi, không gian kinh tế lớn, cùng

bổ sung hợp tác với nhau để cùng phát triển

1.1.3 Về chính trị ngoại giao và an ninh

Các nước ASEAN và Trung Quốc vốn có truyền thống hữu nghị lâu đời,đặc biệt, chiến tranh lạnh kết thúc kéo theo sự thay đổi quan trọng không chỉtrong cục diện quan hệ quốc tế trên phạm vi toàn cầu mà ở cả các khu vực Đông

Trang 17

Nam Á vốn là khu vực bị chia rẽ giữa hai chiến tuyến theo ý thức hệ trong gầnsuốt thời kỳ chiến tranh lạnh, từ đầu những năm 1990 bắt đầu quá trình tái tạocục diện mới cùng với việc kết thúc cuộc chiến ở Campuchia, bình thường hóaquan hệ Việt - Mỹ, Việt - Trung và sự xích lại gần nhau giữa các nước ĐôngDương với 6 nước thành viên ASEAN cũ, đặc biệt là từ khi Việt Nam, Lào vàCampuchia lần lượt trở thành thành viên ASEAN Cũng kể từ đó, quan hệASEAN - Trung Quốc bước sang một chương mới, đặc trưng bởi sự phát triểnrất nhanh và khá toàn diện của các mối quan hệ hợp tác cả trên phương diện songphương (giữa từng nước thành viên ASEAN với Trung Quốc) lẫn trên phươngdiện đa phương (giữa khối ASEAN với Trung Quốc trong các khuôn khổ hợp tácASEAN và ASEAN với các đối tác bên ngoài) Từ đó góp phần mở đường hoặckhai thông cho quan hệ kinh tế và các quan hệ khác giữa hai bên phát triển toàndiện.

Đặc biệt, từ sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997 xuthế liên kết khu vực có phần phát triển Sau cuộc khủng hoảng này, quá trình tự

do hoá và toàn cầu hoá được đẩy lên một nấc mới Đã đến lúc thế giới chứngkiến một sự kiện kinh tế dù xẩy ra ở một nước đang phát triển cũng có thể ảnhhưởng đến những nền kinh tế phát triển khác và ngược lại

Đây là một cuộc khủng hoảng mang tính chất toàn khu vực, và hơn nữa nókhông chỉ dừng lại ở phạm vi trong khu vực mà còn mang tính chất toàn cầu Nó

đã cho thấy rằng sự ổn định và an toàn về kinh tế - xã hội đang và sẽ ngày càngtrở thành lợi ích chung của tất cả các nước trên thế giới Các nước cần phải có sựchuẩn bị thích đáng cho quá trình này, cần phải huy động, kết hợp sức mạnh củaquốc gia với sức mạnh quốc tế, cần có sự hợp lực, sự liên kết của nhiều quốc giachứ không thể giải quyết bằng nỗ lực của một quốc gia riêng lẻ nào

Cuộc khủng hoảng đã làm cho các nước, đặc biệt là các nước Đông Nam

Á và Đông Á, phải xem xét lại chính sách phát triển kinh tế của mình, từ đó phảiđiều chỉnh chiến lược kinh tế Từ bài học của khủng hoảng, cả Trung Quốc và

Trang 18

ASEAN đều nhận thấy tính cấp thiết hơn bao giờ hết sự quan trọng của sự hợptác để huy động sức mạnh của các nước trong khu vực cùng giải quyết nhữngvấn đề chung, bảo đảm ổn định và an toàn cho nền kinh tế các nước thành viênnói riêng và kinh tế khu vực nói chung.

Nhờ sự cố gắng của các nhà lãnh đạo 2 bên, quan hệ giữa ASEAN vàTrung Quốc sau cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á phát triển nhanh chóng, niềmtin chính trị song phương đươc nâng lên rõ rệt, sự giao lưu về kinh tế gia tăng tạođiều kiện cho các lĩnh vực hợp tác khác không ngừng được mở rộng, thúc đẩy sựthịnh vượng của các nước ASEAN và khu vực Đại Tây Nam Trung Quốc [23;tr

30 - 38] Cũng sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực 1997, ASEANcàng đánh giá cao vai trò của Trung Quốc (thể hiện qua các động thái “phối hợp”của Trung Quốc trước yêu cầu phục hồi kinh tế sau khủng hoảng của ASEAN)đối với triển vọng hợp tác và phát triển của mình

Tuy giữa một số nước ASEAN và Trung Quốc vẫn còn tồn tại một số bấtđồng về biên giới lãnh thổ, trong đó có vấn đề chủ quyền biển Đông, nhưng tạicuộc gặp gỡ ở Phnômpênh vào tháng 11 năm 2002, lãnh đạo cấp cao hai bên đã

ký tuyên bố về hành vi ứng xử của các bên ở biển Đông, nhằm tiến tới xây dựng

bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông, mở đường cho một giải pháp cơ bản, lâu dài đốivới các tranh chấp ở biển Đông Ngoài ra hai bên đã thông qua tuyên bố chungASEAN - Trung Quốc về hợp tác trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống.Những văn kiện trên đánh dấu sự tín nhiệm về chính trị - an ninh giữa ASEANvà Trung Quốc đã phát triển tới một nấc thang mới, tạo cơ sở và điều kiện đảmbảo quan trọng cho việc thành lập khu mậu dich tự do nói riêng và cho việc bảo

vệ hòa bình ổn định ở khu vực nói chung

1.2 Không gian địa lý

1.2.1 Vị trí của ASEAN trong nền kinh tế của Trung Quốc

ASEAN được thành lập năm 1967, lúc đầu mới chỉ 5 nước, đến nay gồm

10 nước trong khu vực Đông Nam Á Là một tổ chức các nước vừa và nhỏ ở khu

Trang 19

vực Đông Nam Á có vị trí địa lý gần gũi với Trung Quốc Đông Nam Á có vị tríhết sức quan trọng, trấn giữ vị trí huyết mạch trên tuyến đường vận chuyển biểncủa Trung Quốc với nước ngoài, cộng với nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùngphong phú, ASEAN có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế củaTrung Quốc.

Các nước ASEAN có vị trí chiến lược quan trọng nằm ở phía đông Namlục địa châu Á - Âu, tiếp giáp giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nằm trêncon đường hàng hải huyết mạnh nối liền châu Á với châu Âu bởi có eo biểnMalacca, do vậy, ASEAN giữ vai trò quan trọng trong quân sự và thương mạicũng như trong phát triển kinh tế, trao đổi và hợp tác thương mại với nhiều nước,đặc biệt với Trung Quốc Theo thống kê, 1/3 khối lượng hàng hóa và dầu thôtrên thế giới phải vận chuyển qua eo biển này Theo ước tính, có khoảng 60% sốtàu của Trung Quốc trong tổng số tàu đi qua eo biển Malacca một ngày [18; tr

26 - 35]

Mặt khác, ASEAN là nơi có nguồn năng lượng dồi dào, có thể đáp ứngđược nhu cầu của Trung Quốc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vàphát triển kinh tế Với tư cách là những nước láng giềng, có vị trí chiến lược, cácnước ASEAN là nơi cung cấp năng lượng quan trọng của Trung Quốc và lànhững đối tác hợp tác quan trọng trong thị trường năng lượng quốc tế nên nhữngnước này chiếm vị trí hết sức quan trọng trong chiến lược năng lượng của TrungQuốc Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu than lớn thứ 2 của Đông Nam Á,Inđônêxia là nước sản xuất than lớn nhất Đông Nam Á, cũng là nước xuất khẩuthan lớn thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và Ôxtrâylia, là nước sản xuất khí đốt tựnhiên thứ 6 thế giới và là nước xuất khẩu khí đốt hóa lỏng lớn nhất thế giới,Brunây là nước sản xuất khí đốt hóa lỏng lớn thứ tư thế giới Đông Nam Á cũnglà nguồn nhập khẩu dầu thô quan trọng của Trung Quốc, hiện Trung Quốc nhậpkhẩu 15% lượng dầu thô từ các nước Đông Nam Á, trước đây Trung Quốc nhậpkhẩu dầu thô lớn nhất từ Inđônêxia, và những năm gần đây, Việt Nam lại thành

Trang 20

nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất Đông Nam Á cho Trung Quốc và lớn thứ 6 thếgiới Ngoài dầu thô, Trung Quốc còn tăng cường nhập khẩu khí đốt tự nhiên vàthan đá của các nước Đông Nam Á Hiện nay, Việt Nam là thị trường nhập khẩuthan đá chủ yếu của Trung Quốc ở Đông Nam Á, năm 2005, Việt Nam đã xuấtkhẩu sang Trung Quốc 9 triệu tấn than, Inđônêxia cam kết trong vòng 25 năm tới

sẽ cung cấp cho Trung Quốc 2,6 triệu tấn khí đốt hóa lỏng mỗi năm [2; tr 3]

ASEAN là vùng đất nhiệt đới gió mùa, có vị trí chiến lược vô cùng quantrọng, đã từng là địa bàn giành giật ảnh hưởng giữa các cường quốc ASEAN làmột khu vực sản xuất và tiêu thụ lớn, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú,với nhiều thảm động, thực vật vô cùng phong phú đa dạng, nhiều mặt hàng vôcùng cần thiết cho việc cung cấp nguyên liệu thô cho Trung Quốc như: cao su,thiếc, đay, chè, gạo… Đặc biệt, trong điều kiện nguồn tài nguyên ngày càngkhan hiếm, đất trồng trọt bình quân theo đầu người thấp, chỉ bằng 50% của thếgiới, cộng thêm tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện nay, Trung Quốc cần rấtnhiều hàng hóa sơ cấp của ASEAN Vì vậy việc thắt chặt hơn nữa quan hệASEAN và Trung Quốc sẽ khiến cho nhiều quốc gia được hưởng lợi, trong đónhững nước được hưởng lợi nhiều nhất là những nước giàu tài nguyên thiênnhiên có thể giúp Trung Quốc giải quyết được vấn đề nguyên liệu cho công cuộcphát triển kinh tế Hiện nay, Trung Quốc là nước tiêu thụ hàng đầu dầu thực vậtcủa Malaysia, cao su của Thái Lan, gỗ tếch của Myanma, đồng của Philipin vàbột giấy của Inđônêxia [11; tr 7]

Vì vậy, việc xây dựng ACFTA có lợi cho việc Trung Quốc gia tăng cácquan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế mậu dịch với ASEAN, có lợi cho việc đadạng hóa thị trường nhập khẩu, mở rộng không gian phát triển kinh tế của TrungQuốc, đặc biệt thúc đẩy kinh tế các tỉnh phía Nam Trung Quốc phát triển Đồngthời, họ có điều kiện cải thiện môi trường chính trị, thúc đẩy giải quyết tranhchấp chủ quyền biển Đông, đối phó với hoạt động của chức tội phạm xuyên quốc

Trang 21

gia, đặc biệt là tổ chức buôn bán ma túy quốc tế, mở rộng ảnh hưởng của TrungQuốc trong khu vực.

1.2.2 Vị trí của Trung Quốc trong nền kinh tế các nước ASEAN.

Trung Quốc là một nước láng giềng khổng lồ nằm ở phía Bắc các nướcĐông Nam Á, từ lâu trong lịch sử các nước này đã có mối liên hệ qua lại thânthiết với nhau, giao thương giữa các nước Đông Nam Á và Trung Quốc đã diễn

ra rất sôi động từ xa xưa Tuy nhiên, chưa bao giờ Trung Quốc đặt các nước nàyvào vị trí ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mình Từ khi thực hiện chínhsách mở cửa năm 1978, Trung Quốc mới bắt đầu chủ động thiết lập mối quan hệvới các nước ASEAN, tuy chưa nhiều nhưng mối quan hệ hai bên đã trở nênnồng ấm hơn Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới có nhiều biến đổi sâusắc, chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, hòa bình và hợp tác là xu thế chủ đạo của thờiđại, các nước trên thế giới đều ưu tiên cho việc phát triển kinh tế và nâng cao sứcmạnh kinh tế của mình Trong bối cảnh đó Trung Quốc cũng điều chỉnh chiếnlược, tập trung vào phát triển kinh tế và đạt được những thành tựu rực rỡ Từcuối những năm 90 của thế kỷ 20, đặc biệt những năm đầu thế kỷ 21, TrungQuốc phát triển mạnh mẽ, thu hút sự chú ý của toàn thế giới, nhiều dự báo cho

rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của Trung Quốc, và Trung Quốc đã trở thành "công xưởng của thế giới” Để tập trung phát triển kinh tế, Trung Quốc đã điều chỉnh

chính sách đối ngoại, rất coi trọng môi trường xung quanh ổn định, do vậy rấtchú trọng chính sách đối ngoại với các nước ASEAN Ngoài ra, việc thắt chặtquan hệ với các nước ASEAN để dần đẩy lùi ảnh hưởng của Mỹ tới các nướcASEAN là một việc rất cần thiết để đập tan chính sách kiềm chế ngăn chặnTrung Quốc của Mỹ

Sự lớn mạnh nhanh chóng và sự phát triển như vũ bão của nền kinh tếTrung Quốc, cùng với thị trường khổng lồ hơn 1,3 tỷ người tiêu dùng, tạo ra sứchấp dẫn lớn đối với các nước ASEAN Có thể nói, Trung Quốc là thị trường xuấtkhẩu đầy tiềm năng đối với các nước ASEAN, nhất là sau khi nền kinh tế Mỹ,

Trang 22

Nhật - thị trường chính của ASEAN bị suy thoái thì Trung Quốc trở thành thịtrường đầy hứa hẹn Đặc biệt, nền kinh tế của các nước ASEAN chủ yếu dựa vàotài nguyên và xuất khẩu hàng hóa sơ cấp ASEAN đã xuất khẩu một khối lượnghàng hóa lớn vào thị trường Trung Quốc Hiện nay, khi nền kinh tế Trung Quốcphát triển nhanh chóng, nguồn tài nguyên tính theo đầu người thấp, ASEAN sẽxuất khẩu sang Trung Quốc một khối lượng hàng hóa lớn như cao su, đường, gỗ,dầu cọ, gạo, dầu thô, sợi , năm 2002 Trung Quốc nhập khẩu từ các nướcASEAN 18,708 tỷ USD, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2001, kim ngạch mậudịch 2 chiều Trung Quốc - ASEAN đã vượt hơn 4 tỷ USD của năm 2001, chiếm8% tổng ngoại thương của Trung Quốc [9; tr 30] Những năm gần đây, mặthàng điện tử của các nước ASEAN cũng đã thâm nhập được vào thị trườngTrung Quốc, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong xuất khẩu các mặt hàng điện

tử sang thị trường Trung Quốc Tuy nhiên những mặt hàng sơ chế vẫn là một ưuthế nổi trội của các nước ASEAN, chiếm 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu TrungQuốc là bạn hàng lớn thứ 6 của ASEAN, là nước xuất khẩu một lượng hàng hóađáng kể vào thị trường ASEAN, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của TrungQuốc sang ASEAN là máy móc, đồ chơi, dệt, hóa chất Song ASEAN đượcthiên nhiên ưu đãi cho nguồn tài nguyên phong phú và trữ lượng lớn, nên cácnước này có nhiều ưu thế hơn Trung Quốc Đặc biệt, các sản phẩm nhiệt đới củaASEAN được thị trường Trung Quốc ưa dùng, vì vậy khi thị trường Mỹ, Nhật có

xu hướng giảm sút thì Trung Quốc là thị trường mới nổi, giàu tiềm năng và gầngũi hơn với các nước ASEAN Trong quá trình công nghiệp hóa và phát triểnkinh tế, Trung Quốc là nguồn cung cấp các mặt hàng chế tạo giúp ASEAN thựchiện quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế Điều này góp phần ổn địnhkinh tế, xã hội các nước ASEAN

Trung Quốc là một quốc gia đông dân với tiềm năng thị trường to lớn sẽ lànơi để các nước ASEAN tiến hành mở rộng hợp tác đầu tư tìm kiếm lợi nhuận.Đặc biệt, sau khi đầu tư nước ngoài vào Đông Nam Á bị giảm sút do cuộc khủng

Trang 23

hoảng tiền tệ năm 1997 - 1998 Sự phát triển nền kinh tế Trung Quốc đã tạo cơhội kinh doanh và đầu tư cho nhiều nước, nhất là đối với những nước gần gũi vịtrí địa lý như ASEAN Nền kinh tế Trung Quốc luôn giữ nhịp độ tăng trưởng 8 -

9 % liên tục trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ 20, dẫn tới nhu cầu đầu tư sản xuấtvà tiêu dùng của cư dân tăng lên không ngừng, với những lợi thế về lao động giá

rẽ, Trung Quốc trở thành địa chỉ hấp dẫn của các nhà đầu tư quốc tế, trong đó cócác nhà đầu tư của các nước ASEAN Cùng với sự phát triển bền vững của nềnkinh tế, cuộc sống của hơn 1,3 tỷ dân này đang ngày càng thay đổi, được cảithiện về chất, cơ cấu tiêu dùng thay đổi theo hướng ngày càng tiên tiến, có thể dựđoán, Trung Quốc sẽ thành một thị trường tiềm năng to lớn, tạo cơ hội cho cácnước ASEAN tăng cường đầu tư vào thị trường này [18; tr 28]

Mặt khác, sự phát triển của nội lực bên trong của các nước ASEAN đòihỏi trao đổi thương mại gia tăng, phải mở rộng thị trường tiêu thụ Hợp tác vớiTrung Quốc hy vọng xuất khẩu nhiều vào thị trường Trung Quốc, do thị trườngnày vẫn tiếp tục phát triển nhanh, tiềm năng thâm nhập vào thị trường này cònrất lớn Thông qua quan hệ thương mại, đầu tư hai bên gia tăng để tận dụng cơhội thương mại gia tăng Hơn nữa, cuộc khủng hoảng tài chính 1997 - 1998 chothấy những điểm yếu trong cơ cấu của từng nước thành viên ASEAN cũng nhưnhững hạn chế của tổ chức ASEAN trong việc gìn giữ ổn định kinh tế trong khuvực Các nước ASEAN thấy rằng chỉ có hợp tác với Trung Quốc mới thoát khoảitình trạng khó khăn và duy trì được sự phát triển về sau [51;tr 14 - 24]

1.3 Bối cảnh lịch sử

1.3.1 Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa và xu hướng hình thành các hiệp định thương mại tự do (FTA) trên thế giới

1.3.1.1 Xu thế toàn cầu hóa

Xuất hiện như một tất yếu khách quan trong quá trình phát triển lực lượngsản xuất vật chất của xã hội loài người, toàn cầu hóa kinh tế là xu thế lịch sử, tácđộng toàn diện đến mọi mặt của sự phát triển xã hội Toàn cầu hóa dựa trên sự

Trang 24

bùng nổ các thành tựu khoa học, kỹ thuật - công nghệ mới không chỉ tiếp sứccho nền kinh tế nhiều nước phát triển nhanh chóng mà còn đẩy nhanh phân cônglao động quốc tế Tự do hóa kinh tế và phát triển kinh tế thị trường trên diễn raphổ biến trên toàn cầu, các nền kinh tế dựa dẫm vào nhau, phụ thuộc nhau giữacác nước gia tăng.

Toàn cầu hóa là mối quan hệ kinh tế vượt qua biên giới quốc gia, khu vực

để vươn tới quy mô toàn thế giới Nó bao hàm nhất thể hóa về thị trường, vốn,sức lao động, dịch vụ, công nghệ và các quy định pháp chế kinh tế giữa các nướctrên thế giới Toàn cầu hóa kinh tế là cơ sở và động lực thúc đẩy toàn cầu hóatrên nhiều lĩnh vực Là một xu thế khách quan, quá trình toàn cầu hóa hiện đanglôi kéo các nước tích cực tham gia với nhiều cấp độ và nội dung khác nhau nhưhội nhập khu vực và quốc tế, hội nhập kinh tế, hội nhập văn hóa…

Quá trình toàn cầu hóa hiện nay diễn ra với các đặc điểm cơ bản sau:

- Cách mạng khoa học công nghệ, cách mạng sinh học, cách mạng tin họclà động lực thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa kinh tế

- Kinh tế thị trường phát triển với nhiều hình thức dẫn đến sự tăng cườngtự do hóa kinh tế và xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh

- Quan hệ kinh tế không chỉ giới hạn trong từng lĩnh vực thương mại, xuấtkhẩu mà ngày càng mở rộng trên tất cả mọi lĩnh vực

Do vậy, xu thế toàn cầu hóa đang được thúc đẩy diễn ra mạnh mẽ, nó bịchi phối bởi:

Thứ nhất, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng trên

rất nhiều lĩnh vực như: công nghệ thông tin, sinh vật, kỹ thuật, năng lượng khôngngừng đạt được bước đột phá, đồng thời được áp dụng vào sản xuất Do sự phâncông hóa, lợi thế của các nước khác nhau, về mặt khách quan đòi hỏi tăng cườnghợp tác kinh tế, kỹ thuật trên phạm vi toàn cầu Mặt khác, sự tiến bộ của khoahọc công nghệ tạo tiền đề cho nền kinh tế tri thức, trong thế kỷ 21 nền kinh tế trithức đóng vai trò chủ đạo, chi phối sự phát triển của xã hội Ứng dụng thành tựu

Trang 25

khoa học công nghệ sẽ giảm chi phí sản xuất, vận chuyển hàng hóa, tạo điều kiệncho mạng lưới sản xuất, phân công và phân phối lao động trên toàn cầu, vốn lưuđộng và các công ty xuyên quốc gia hoạt động sôi nổi là xu thế tất yếu Toàn cầuhóa kinh tế đã thúc đẩy hợp tác hóa quốc tế và khu vực hóa Toàn cầu hóa kinhtế đem đến cơ hội thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của các khu vực, trên thếgiới dần dần hình thành các khu vực kinh tế, mở đầu là châu Âu với cộng đồngchung châu Âu, nay là Liên minh châu Âu (EU), tiếp theo là nhất thể hóa khuvực thương mại tự do Bắc Mỹ, thứ 3 là nhất thể hóa khu vực châu Á - Thái BìnhDương, với hạt nhân là tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương(APEC).

Thứ hai, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, những nhân tố gây trở ngại cho

hợp tác kinh tế giữa các nước không còn nữa Hơn nữa, các nước tư bản pháttriển hàng đầu như một số nước chủ chốt trong EU và Nhật Bản cũng đang thúcđẩy xu thế toàn cầu hoá vân động theo hướng tự do hoá tư bản

Thứ ba, do các nước như Trung Quốc, Liên Xô cũ, các nước Đông Âu và

rất nhiều nước đang phát triển đang tiến hành thúc đẩy nền kinh tế thị trường,các chướng ngại cản trở hợp tác kinh tế toàn cầu được dỡ bỏ

Thứ tư, nhiều vấn đề lớn xuất hiện, một nước riêng lẻ không thể giải

quyết mà nó đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế rộng rãi mới có thể giải quyếtđược Một lực lượng quan trọng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa đó là các công

ty xuyên quốc gia, các công ty này đã xâm nhập vào mọi ngành nghề ở mọi quốcgia và khu vực trên toàn thế giới thông qua các công ty con, các công ty nàykiểm soát một lượng hàng hóa, lượng đầu tư khổng lồ trên toàn cầu

Có thể nói rằng, toàn cầu hóa kinh tế thế giới đồng nghĩa với sự mở rộngcủa thương mại, đầu tư, dịch vụ, chuyển dịch lao động giữa các khu vực trên thếgiới Việc mở rộng thương mại bao gồm thương mại hàng hóa vô hình, dịch vụvà bản quyền Cùng với chúng là sự chuyển dịch lao động và cả các quan niệmgiá trị, lối sống đã tác động, làm biến đổi văn hóa của các dân tộc Do đó, nói tới

Trang 26

toàn cầu hóa phải nói tới sự chuyển biến của toàn cầu hóa kinh tế và hội nhậpquốc tế, sự hình thành các khu vực mậu dịch tự do.

Toàn cầu hoá luôn gắn liền với khu vực hoá kinh tế thế giới, khu vực hoálà một bộ phận tổ thành của toàn cầu hoá Xu hướng của khu vực hoá là từngbước phá vỡ tính hạn hẹp để vươn rộng hơn trong không gian toàn cầu Khu vựchoá biểu hiện ban đầu rõ nhất là sự hình thành thị trường tự do toàn khu vực vớimức thuế quan thống nhất, do vậy các nước thành viên vẫn có thể duy trì chế độbảo hộ tập thể đối với hàng hoá dịch vụ được cung ứng từ bên ngoài khu vựctrong một thời gian nhất định Đồng thời thông qua cạnh tranh nội bộ khu vực,các nước thành viên có thể xác định các điểm lợi thế và bất lợi cho nền kinh tếnước mình Để từ đó tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế theo hướng tối ưu hoá trongphân công nội bộ khu vực đang dựa trên việc phát huy lợi thế so sánh, tiến tớiviệc tự do hoá việc di chuyển vốn, lao động, chuyển dao công nghệ và sử dụngđồng tiền chung cho khu vực

Từ sự phân tích cho thấy, dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa kinh tế,

xu hướng hợp tác, liên kết kinh tế phát triển mạnh mẽ trên nhiều cấp độ, tạo điềukiện cho các nước, nhất là các nước đang phát triển có cơ hội để tiếp cận cácdòng vốn, công nghệ, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường Cácnền kinh tế đang phát triển và kinh tế chuyển đổi do đó sẽ có cơ hội để phát triểncác mô thức rút ngắn, nghĩa là thông qua hội nhập quốc tế để đi tắt đón đầu, tiếntới những bước phát triển cao hơn trên cơ sở thừa hưởng và tận dụng có hiệu quảcác nguồn lực bên ngoài và khai thông, kết nối nguồn lực bên trong

1.3.1.2.Khu vực hóa

Sự kết thúc của cuộc chiến tranh lạnh đã làm thay đổi cả cơ sở lợi ích vàtính chất cơ cấu của các mối quan hệ quốc tế, hòa bình và phát triển trở thànhchủ đề chính của thời đại, toàn cầu hóa và nhất thể hóa kinh tế khu vực đã trởthành hai trào lưu phát triển nổi bật của thế giới, các khu vực mậu dịch tự do,mang tính khu vực, liên khu vực, liên châu lục hay song phương, được coi là

Trang 27

công cụ chính sách kinh tế chủ đạo của ngày càng nhiều quốc gia nhằm điềuchỉnh và đối phó với sức ép cạnh tranh và hội nhập của môi trường toàn cầu hóakinh tế ngày nay Hiện nay, trên thế giới xuất hiện nhiều khu vực kinh tế điểnhình như: EU, Khu mậu dịch tự do ở bắc Mỹ, ở châu Á, Phi, châu Đại Dương,đồng thời có rất nhiều tổ chức nhất thể hóa kinh tế khu vực được thành lập Sự

đa dạng về cấp độ và mang tính thể chế ngày càng cao tiếp tục ra đời Sự đa dạng

về cấp độ phát triển, sự khác biệt về các đặc điểm địa - kinh tế, địa - chính trịcùng với những ảnh hưởng về các đặc điểm lịch sử, văn hóa đã và đang làm chocác hình thức liên kết kinh tế trở nên phong phú đa dạng

Sự phát triển nhanh chóng của các khu vực mậu dịch tự do trên thế giới làmột biểu hiện quan trọng nhất của quá trình nhất thể hóa kinh tế khu vực Khuvực mậu dịch tự do là hình thức thấp nhất của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Ở hình thức này, các nền kinh tế thành viên tiến hành giảm và loại bỏ dần hàngrào thuế quan, các hạn chế định lượng và các biện pháp phi thuế quan trongthương mại nội khối Tuy nhiên, họ vẫn độc lập thực hiện chính sách thuế quanđối với các đối tác ngoài khối Ví dụ về cấp độ này có thể kể đến như NAFTA,AFTA và cấp độ phát triển cao hơn được gọi là "Thị trường chung" - là hìnhthức liên kết thuế quan cộng thêm việc bãi bõ các hạn chế đối với việc lưuchuyển của các yếu tố sản xuất khác Trong khuôn khổ thị trường chung, khôngnhững hàng hoá dịch vụ mà hầu hết các nguồn lực khác như vốn, kỹ thuật, côngnghệ, nhân công đều được tự do lưu chuyển giữa các thành viên ví như Liênminh châu Âu (EU)

Việc thành lập các khu mậu dịch tự do dựa trên các hiệp định thương mạitự do được ký kết giữa các bên có liên quan, giữa hai nước hay nhiều nước thôngqua các biện pháp dỡ bỏ thuế quan và các biện pháp hạn chế về thương mại khácxuất hiện ngày càng nhiều Trong những năm gần đây, nội dung FTA có sự thayđổi, không chỉ bao gồm tự do hóa về thương mại hàng hóa mà còn cam kết hợptác trong nhiều lĩnh vực như dịch vụ, đầu tư… Hiện nay, trên thế giới có hơn 160

Trang 28

khu mậu dịch tự do, 90% thành viên Tổ chức thương mại thế giới WTO đềutham gia vào một hay nhiều khu vực mậu dịch tự do hoặc các thỏa thuận thương

mại [51;tr 14 - 24] Việc giảm thuế các loại hàng hóa giữa các nước, các khu

vực khiến thị trường thương mại, dịch vụ ngày càng sôi động, thị trường ngàycàng được mở rộng, môi trường đầu tư ngày càng thuận lợi

Hiện nay, trên thế giới các tổ chức kinh tế khu vực diễn ra dưới năm cấp

độ khác nhau:

Thứ nhất, sự liên kết khu vực để xây dựng khu mậu dịch tự do trên cơ sở

nhiều yếu tố đồng nhất, ví dụ: NAFTA gồm Mỹ, Canađa và Mêhicô, có hiệu lựctrong vòng 14 năm từ năm 1994 đến năm 2008 NAFTA nhằm xóa bỏ quan thuếvà giảm hàng rào phi quan thuế giữa ba nước có nhiều nét tương đồng này Từ

đó thúc đẩy thương mại hàng hoá dịch vụ tạo điều kiện cho đầu tư nước ngoài(FDI) và thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp có hiệu lực Đây là khu vực buônbán tự do vào loại lớn nhất thế giới Lợi ích mà NAFTA mang lại cho các nướcthành viên qua việc dỡ bỏ hàng rào phi quan thuế, tạo điều kiện cho các nướcthành viên thâm nhập, đi sâu hơn vào thị trường của nhóm, thúc đẩy quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nước theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụtrong cấu trúc GDP và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế, gia tăng phúc lợi xã hội; tại Nam Mỹ, sự liên kết khu vực được

thể hiện rõ nét thông qua Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) baogồm Braxin, Achentina, Urugoay và Paragoay, giống như khối liên kết kinh tếgiữa các nước đang phát triển khác trên thế giới, mục đích là để tạo ra một khônggian kinh tế rộng lớn ở Nam Mỹ thông qua việc ký kết một hiệp định về ưu đãithuế quan và một thoả thuận buôn bán tự do vào năm 2000 giữa khối này với

cộng đồng các nước Anđet; tại Đông Nam Á, các nước ASEAN thiết lập AFTA,

hiệp hội 10 nước trong khu vực Đông Nam Á nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong pháttriển kinh tế, tăng cường hợp tác khu vực, đưa Đông Nam Á trở thành một khu vựcphát triển năng động của thế giới

Trang 29

Thứ hai, hình thành liên minh kinh tế cho toàn khu vực như: Tổ chức

thống nhất châu Phi (OAU), gồm 53 thành viên trong khu vực châu Phi, KhốiLiên minh châu Âu (EU) Năm 1999 diễn ra Hội nghị cấp cao nhằm thiết lậpLiên minh châu Phi (AU) theo mô hình EU, ngoài ra các nhà lãnh đạo còn quyếtđịnh thành lập một ngân hàng chung, một loại tiền tệ duy nhất và một toà án chotoàn khu vực, với những bước đi này, các nhà lãnh đạo châu Phi mong muốn sẽxây dựng một châu Phi mạnh mẽ đoàn kết, sánh vai được với các châu lục khác

Thứ ba, mức độ liên kết kinh tế giữa các khu vực như sự sự ra đời của

Khu vực mậu dịch tự do Địa Trung Hải, gồm EU và các nước ven Địa TrungHải Còn tại châu Á Thái Bình Dương, APEC được thành lập năm 1989, sốthành viên ban đầu là 12 đến nay đã lên tới 23, với 2,5 tỷ dân sản xuất hơn 1/2GDP của toàn thế giới, chiếm 50% tổng mậu dịch thế giới và là một đối tác quantrọng trong thương mại toàn cầu [9; tr 12]

Thứ tư, mức độ liên kết kinh tế mang tính thể chế cao với phạm vi hoạt

động rộng lớn trên phạm vi toàn cầu như: WTO được thành lập 1/1/1995, với cơchế pháp lý điều chỉnh thương mại thế giới trong lĩnh vực dịch vụ, đầu tư và sởhữu trí tuệ, đồng thời đưa vào khuôn khổ thương mại đa phương hai lĩnh vực dệtmay và nông nghiệp Đến nay WTO đã có 150 nước thành viên, khối lượngthương mại giữa các thành viên chiếm 90% giao dịch thương mại toàn thế giới,mục tiêu là đạt đến môi trường buôn bán tự do trên phạm vi toàn cầu [9;tr 27]

Thứ năm, là sự hình thành các khu vực mậu dịch tự do song phương như

Khu mậu dịch tự do giữa EU và Mêhicô, giữa EU và Chilê, …

Như vậy, có thể nói rằng xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa tác độngmãnh mẽ tới hợp tác kinh tế ASEAN - Trung Quốc và sự ra đời của ACFTA.Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đa số các nước ASEAN và Trung Quốc đều là cácnước đang phát triển, đều đã và đang xây dựng, phát triển kinh tế thị trường, đều

có mục tiêu chung là tận dụng cao nhất nguồn ngoại lực để đẩy mạnh phát triểnkinh tế - xã hội, công nghiệp hóa - hiện đại hóa Tăng cường hợp tác ASEAN -

Trang 30

Trung Quốc nhằm đáp ứng lợi ích thiết thực cả hai bên Đối với ASEAN, mởrộng quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại với Trung Quốc, trong đó có việcthành lập khu mậu dịch tự do giữa hai bên sẽ giúp ASEAN mở rộng thêm thịtrường và phát huy được lợi thế so sánh của mình trong phân công lao động quốctế, xét từ góc độ ASEAN, mở rộng quan hệ hợp tác, liên kết với Trung Quốc sẽ

có lợi trong việc xây dựng quan hệ ổn định với nước láng giềng Trung Quốc.Đây cũng là cơ sở để Trung Quốc và ASEAN phối hợp giải quyết một loạt cácvấn đề chính trị, an ninh, tạo môi trường khu vực hòa bình, ổn định để phát triển.Đặc biệt, tạo điều kiện để hàng hóa ASEAN có cơ hội thâm nhập vào thị trườngrộng lớn với hơn 1,3 tỷ dân, tạo ra sự đa dạng cho sự lựa chọn các nhà đầu tư củaASEAN

Đối với Trung Quốc, xét về góc độ kinh tế, ASEAN là thị trường cho cácngành công nghiệp đang trỗi dậy của họ Trong khi Trung Quốc đang tiến hành

cơ cấu lại các ngành công nghiệp của mình, một số cơ sở công nghiệp có thểđược chuyển sang khu vực Đông Nam Á Một vấn đề mà Trung Quốc đang gặpkhó khăn trên con đường phát triển là nguồn nguyên, nhiên liệu Do đó hợp táckinh tế khu vực ASEAN - Trung Quốc là cơ hội để Trung Quốc tiếp cận đượccác nguồn nguyên liệu như dầu mỏ, gỗ, các sản phẩm nhiệt đới … vốn là thếmạnh của các nước ASEAN

Mặt khác, do yêu cầu phát triển nội tại của các nước, ASEAN cũng nhưTrung Quốc phải đẩy nhanh quá trình hội nhập khu vực và toàn cầu Hiện nay,ASEAN vẫn là một tổ chức của các quốc gia đang phát triển, do vậy tiềm lựcphát triển kinh tế, kỹ thuật vẫn còn thua kém các trung tâm kinh tế khác [9;tr.38] Bởi vậy, ASEAN phát triển quan hệ hợp tác, liên kết với Trung Quốc sẽ gópphần quan trọng vượt qua sức ép của quá trình khu vực hóa và toàn cầu hóa Hơnnữa, tốc độ tăng trưởng nhanh của kinh tế Trung Quốc trong tiến trình đi sâu cảicách, mở cửa và hiện đại hóa càng đặt ra yêu cầu bức bách, đòi hỏi nước này

Trang 31

phải mở rộng hơn nữa thị trường tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường nguyênliệu…

Tóm lại, quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa kinh tế với những tác độngnhiều mặt của nó trong điều kiện môi trường, an ninh - chính trị thế giới diễn ranhiều thay đổi mang tính bước ngoặt sau chiến tranh lạnh, đã và đang tạo thời cơthách thức lớn đối với tất cả các nước Động thái tăng cường hợp tác, liên kếtASEAN - Trung Quốc thời gian gần đây phản ánh nhận thức mới của hai bên đốivới việc khắc phục những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa kinh tế trong tiếntrình hội nhập khu vực và quốc tế Sự thành công của việc triển khai thực hiệnACFTA sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của haibên trong những thập niên đầu thế kỷ 21

1.3.1.3 Xu hướng hình thành các hiệp định thương mại tự do (FTA) trên thế giới

Từ cuối những năm 1950 của thế kỷ 20 trở đi, hàng loạt thoả thuận liênkết khu vực dựa trên nguyên tắc tự do hoá thương mại ra đời Đầu tiên ở châu

Âu với Liên minh thuế quan Benelux (1948), Cộng đồng than thép châu Âu(1950), Cộng đồng kinh tế châu Âu - EEC (1958), Hiệp hội Thương mại tự dochâu Âu EFTA (1960) Sau đó ở Mỹ - Latinh và châu Phi nhiều hiệp định mậudịch khu vực cũng được ra đời, như Hiệp định thiết lập thị trường chung Trung

Mỹ - CACM (1962), cộng đồng Caribê và Hiệp định CARICOM (1973, Hiệpđịnh khu vực mậu dịch tự do Mỹ La tinh - LAFTA, Hiệp định khu vực Mậu dịchtự do Mỹ - Canađa (1998), Cộng đồng kinh tế Tây Phi, Hiệp định thiết lập thịtrường chung Ảrập (1965) Đặc biệt sau thập kỷ 80 của thế kỷ 20, nhất là sau khiWTO được thành lập (1995), làn sóng thành lập các hiệp định khu vực mậu dịchtự do lại bùng nổ với nhiều biểu hiện và quy mô, mức độ khác nhau Tính đếntháng 1 năm 2005, thế giới có khoảng 312 hiệp định thương mại khu vực (RTA)được các nước thành viên thông báo tới GATA/WTO, ngoài ra vẫn còn khoảng

65 RTA được thực thi song chưa thông báo tới GATT/WTO, trung bình mỗinăm có 11 Hiệp định thương mại khu vực (RTA) được hình thành [15; tr 3 - 15]

Trang 32

Từ thực tế trên ta có thể thấy rằng những chuyển biến trong quan hệ quốc tế hiệnnay là xu hướng thành lập các hiệp định thương mại tự do (FTA) trên thế giới.

Khu vực Tây Âu được coi là khu vực tập trung nhiều nhất các thoả thuận

thương mại khu vực Liên minh châu Âu là nhóm nước tích cực nhất trong việctriển khai các FTA song phương và khu vực Trước khi mở rộng thành EU - 25,

EU - 15 đã ký kết 111 hiệp định song phương và khu vực với các nước Cụ thể,hiện nay EU đã ký và thực thi các FTA song phương với Tuynizi (1995); Isxraen(1995); Marốc (1996); Giócđani (1997); Paletxtin (1997); Angêri (2001); Hylạp(2001); Lybăng (2002) Nhìn chung các hiệp định thương mại tự do trong khuônkhổ EU là bộ phận của quá trình tăng cường nhất thể hoá châu Âu về mặt kinh tế vàchính trị

Tại Bắc Mỹ, các hiệp định thương mại tự do FTA khu vực và song phương

của Mỹ được đẩy mạnh dưới thời chính quyền Bush (2001 - 2004) Với quanđiểm cạnh tranh trong tự do hoá thương mại, chỉ trong 4 năm Mỹ đã ký kết 9FTA song phương với các nước và khối nước trên thế giới, cao hơn tổng số FTA

Mỹ đã ký trước đó, các đối tác FTA khu vực và song phương đáng chú ý của Mỹlà Chilê (2003), Xinhgapo (2003); Ốtxtrâylia (2004); Marốc (2004); 5 nướcTrung Mỹ (2004); Baranh (2004) Hiện nay Mỹ đang tiến hành đàm phán ký kếtFTA song phương tiểu khu vực với nhiều nước khác như: Pêru, Thái Lan,Ecuađo…

Ở khu vực Nam Mỹ, Mêhicô và Chilê là những thành viên tích cực đối với

FTA song phương Sau khi tham gia NAFTA, Mêhicô chuyển hướng ký kết vớihàng loạt nước Trung, Nam Mỹ và châu Âu như với Côtxta Rica (1995), Bôlivia(1995), EU (2000)… và gần đây nhất là Nhật Bản (2004) Chilê cũng tiến hànhchiến lược FTA rộng khắp của mình với việc ký hiệp định thương mại songphương với Canađa (1997), Pêru (1998), Mêhicô (1999), Trung Mỹ (2002), Mỹ(2003) EU (2003), Hàn Quốc (2004)

Trang 33

Tại khu vực châu Á, cùng với những kế hoạch hành động của diễn đàn

APEC, một loạt sáng kiến khu vực mậu dịch tự do được triển khai từ những năm

1990 và phát triển mạnh trong thời gian gần đây như Hiệp định thương mạiAFTA, Hiệp định thương mại tự do Ấn Độ - ASEAN (IAFTA); Hiệp địnhthương mại tự do Hàn Quốc - ASEAN (AKFTA)…

Đặc biệt, từ năm 1999 tại Đông Á bùng nổ các hiệp định FTA songphương, mở đầu là Xinhgapo, đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan…

Tại khu vực Trung Đông và châu Phi, Giócđani và Marốc là những nước

tích cực theo đuổi FTA song phương với bên ngoài, hiện cả hai quốc gia đều kýhiệp định thương mại song phương với Mỹ và EU

Có thể nói rằng, xu hướng hình thành các FTA là một biểu hiện của quan

hệ kinh tế quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa, các hiệp định thương mại đã mangtính chất toàn cầu, nó không bị chi phối bởi tính phạm vi địa lý mà đã mang tínhxuyên châu lục và liên khu vực, các hình thái, cấp độ tự do hoá rất đa dạng,phạm vi mở rộng và toàn diện hơn Để thích ứng với bối cảnh quốc tế, các quốcgia và khu vực kinh tế thế giới đang điều chỉnh chính sách đối ngoại của mìnhchuyển dần từ đa phương sang khu vực và song phương Hiệp định thương mạiđang trở thành công cụ trong chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia, đặc biệt làcác nước lớn nhằm đạt được một số lợi ích quốc gia căn bản của mình, nó trởthành công cụ thúc đẩy cải cách tại các quốc gia kém phát triển hơn

Như vậy, xu hướng hình thành các hiệp định thương mại song phương vàkhu vực hiện nay đã mang tính toàn cầu hoá và nổi trội trong quan hệ kinh tếquốc tế Các nước ASEAN và Trung Quốc cũng không thể đứng ngoài xu thếnày mà cần mở ra một chính sách mới trong kinh tế đối ngoại, trên cơ sở hợp tácvới nhau để cùng phát triển

1.3.2 Khái quát quan hệ hợp tác kinh tế ASEAN - Trung Quốc từ sau chiến tranh lạnh kết thúc đến trước khi ký kết Hiệp định khung về hợp tác toàn diện ASEAN - Trung Quốc

Trang 34

Cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 đã làm cho các nước châu Árơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng, sản xuất giảm sút, nhiềudoanh nghiệp bị phá sản Trong lúc Mỹ và phương Tây thờ ơ thì Trung Quốc đãgiúp đỡ các nước này bằng cách không nâng giá đồng Nhân dân tệ, ngoài ra cònviện trợ cho một số nước Đông Nam Á (Trung Quốc viện trợ cho Thái Lan hơn 1

tỷ USD) để khôi phục lại kinh tế, từ đó xóa dần sự nghi ngờ của các nước

ASEAN về “mối đe dọa của Trung Quốc” Trên cơ sở đó, quan hệ giữa Trung

Quốc và ASEAN đã có những tiến triển mang tính đột phá, trong những năm đầuthế kỷ 21, quan hệ ASEAN - Trung Quốc phát triển nhanh chóng toàn diện, đisâu hợp tác trong lĩnh vực kinh tế đã thúc đẩy niềm tin chính trị, tăng cường sựhợp tác Có học giả cho rằng, từ sau khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á năm

1997 đến những năm đầu thế kỷ 21, quan hệ ASEAN - Trung Quốc có nhữngbước cải thiện, phát triển toàn diện hơn và đi vào thực chất [20; tr 3 - 10]

Quan hệ thời kỳ này lấy kinh tế làm trọng điểm để thúc đẩy tăng cườngniềm tin chính trị, mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác Có thể nói, quan hệASEAN - Trung Quốc sau chiến tranh lạnh đã bước vào giai đoạn phát triểnhoàn toàn mới Với phương châm tăng cường hợp tác cùng có lợi, ASEAN muốntrở thành đối tác quan trọng và xâm nhập sâu vào thị trường 1,3 tỷ dân của TrungQuốc, còn Trung Quốc muốn mở rộng ảnh hưởng của mình ở khu vực ĐôngNam Á Do vậy, hai bên tiếp tục đẩy mạnh và phát huy những tiềm năng sẵn có.Năm 2004, ASEAN và Trung Quốc thành lập Ủy ban khoa học kỹ thuật Năm

2005, hai bên ký Điều lệ Ủy ban liên hợp kinh tế ASEAN - Trung Quốc Hộinghị lần thứ nhất của Ủy ban hợp tác hỗn hợp ASEAN - Trung Quốc (2/1997) đãđưa ra được những kế hoạch cụ thể để phát triển quan hệ kinh tế hai bên,ASEAN - Trung Quốc thỏa thuận tập trung và mở rộng sự hợp tác trong các lĩnhvực kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ, du lịch và các hoạt động khác.Hai bên cũng tiến hành thảo luận các vấn đề trao đổi chuyên gia giữa ASEAN và

Trang 35

Trung Quốc, hội thảo về hợp tác kinh tế, thương mại ASEAN - Trung Quốc, đẩynhanh việc thiết lập chính thức Hội đồng kinh doanh ASEAN - Trung Quốc.

Những kết quả đạt được rất đáng khích lệ, nhất là về mậu dịch giữa cácbên, năm 1993 xuất khẩu của ASEAN sang Trung Quốc là 4,5 nghìn USD, đếnnăm 1997 giá trị xuất khẩu của ASEAN sang Trung Quốc là 9,1 tỷ USD, tănggấp đôi so với năm 1993 (hơn 4,5 tỷ USD), giá trị nhập khẩu năm 1993 là 4,3 tỷ

USD, đến năm 1997 đạt gần 14 tỷ USD, tăng 8,7 tỷ USD [75;tr 29] Như vậy,

trong khi mậu dịch song phương của ASEAN với các nước lớn như Mỹ, NhậtBản, EU giảm mạnh cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20 thì quan hệ kinh tế thươngmại giữa ASEAN - Trung Quốc tăng từ 3,35 tỷ USD năm 1986 lên 45,56 tỷUSD năm 1998 Mậu dịch song phương giai đoạn 1993 - 1998 giữa ASEAN và

Mỹ tăng 54%, với EU tăng 28%, Nhật Bản tăng 2,7%, trong khi đó với Trung

Quốc tăng 137% [16;tr 29 - 34].

Đặc biệt, sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á, kinh tế cácnước ASEAN dần hồi phục Quan hệ kinh tế, thương mại giữa ASEAN - TrungQuốc càng phát triển mạnh mẽ Buôn bán hai chiều giữa ASEAN - Trung Quốctrong giai đoạn này cán cân thương mại nghiêng về các nước ASEAN, năm

2000, ASEAN xuất sang Trung Quốc một khối lượng hàng hoá hơn 35,03 tỷUSD, trong khi đó giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc chỉ hơn 26,48 tỷ USD Chỉriêng năm 2002 ASEAN mới nhập siêu từ Trung Quốc, năm 2004 kim ngạchthương mại hai chiều vượt ngưỡng 100 tỷ USD, ASEAN vượt lên trở thành đốitác thương mại thứ 4 của Trung Quốc Đến năm 2005, kim ngạch thương mại haichiều giữa ASEAN - Trung Quốc đạt 130,37 tỷ USD, chiếm 10,6% tổng kinhngạch thương mại của ASEAN, tăng 23,1% so với năm 2004 và tăng 16 lần sovới năm 1991 Trong đó Trung Quốc nhập khẩu đạt 75 tỷ USD tăng 19,1%, xuấtkhẩu đạt 55,37 tỷ USD, tăng 29,1% Ba quý đầu của năm 2006, kim ngạchthương mại hai chiều đạt 116.33 tỷ USD [48,tr 1 - 9] Hiện nay ASEAN và

Trang 36

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn của nhau ASEAN là thị trường xuất khẩulớn thứ 5 và là nguồn nhập khẩu lớn thứ 3 của Trung Quốc.

Về du lịch, cũng không ngừng tăng lên Năm 2000, tổng số du khách củanăm nước Malaysia, Singapo, philippin, Thái Lan, Inđônêxia đến Trung Quốc là1,225 triệu lượt khách, năm 2001đạt 1,814 triệu lượt khách Tỷ trọng trong sốkhách du lịch nhập cảnh Trung Quốc cũng tăng từ 1,77% của năm 1998 lên đến2,93% của năm 2001 [60; tr 18 - 28]

Nhìn chung, mậu dịch song phương giữa ASEAN và Trung Quốc ngàycàng mở rộng, Trung Quốc vẫn luôn trong tình trạng nhập siêu, quy mô nhậpsiêu liên tục mở rộng, tính chất là một thị trường tiêu thụ ngày càng rõ rệt Vớichiến lược "vươn ra bên ngoài", sẽ gia tăng mức đầu tư với ASEAN, không gianhợp tác và phát triển song phương ASEAN - Trung Quốc vẫn còn khá rộng vànhiều tiềm năng

1.4 Mục tiêu chính trị

Trong việc thành lập ACFTA, không phải Trung Quốc và ASEAN không

có những mục tiêu chính trị nằm sau hợp tác kinh tế và chính những mục tiêunày là nhân tố thúc đẩy hai khối này liên kết với nhau

Trước hết là các nước trên thế giới đều muốn chống lại việc đẩy mạnhbành trướng của Mỹ để ngăn chặn âm mưu thiết lập một thế giới đơn cực Muốnđẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, hợp tác chống thế giới đơn cực, các nước có

xu hướng thành lập những liên minh giữa những nước có nền chính trị khácnhau, lấy lợi ích kinh tế, quốc gia, quốc tế làm cơ sở cho sự liên minh đó TrungQuốc là một nước lớn, Trung Quốc cũng muốn khẳng định và củng cố vai tròtrên trường quốc tế, tăng cường tiếng nói của mình trong khu vực và toàn thếgiới

Còn về ASEAN, một mặt, những mối quan hệ chặt chẽ hơn với TrungQuốc có thể làm giảm áp lực mà một số nước ASEAN đang cảm nhận từ việcmở rộng cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ vào ASEAN Mặt khác, ASEAN

Trang 37

cũng muốn ngăn ngừa nguy cơ bành trướng quân sự của Trung Quốc đối với khuvực này và lôi kéo Trung Quốc vào hợp tác kinh tế là một cách để ASEAN ngănchặn sự bành trướng này.

Hơn nữa, trong tình hình chính trị thế giới diễn biến phức tạp như hiệnnay, chủ nghĩa khủng bố đang lan tràn và trở thành hiểm họa và đe dọa khôngloại trừ bất cứ nước nào, thời gian gần đây, chống chủ nghĩa khủng bố đang trởthành một trong những chủ đề quan trọng được nhắc đến trong mọi diễn đàn hợptác kinh tế của tất cả các khu vực Về phía Trung Quốc và ASEAN cũng muốnđẩy mạnh hợp tác với nhau để tạo thành một sức mạnh chung trong cuộc chiếnchống khủng bố của khu vực nói riêng và của toàn cầu nói chung

Nói tóm lại, giữa các nước ASEAN và Trung Quốc, ngoài những cơ sởthuận lợi về điều kiện địa lý, những đặc điểm tương đồng - bổ sung lẫn nhau, haibên còn thực sự có nhu cầu hợp tác để cùng phát triển Đó là những yếu tố quantrọng dẫn đến quyết định thành lập ACFTA, một khu mậu dịch tự do hứa hẹnnhiều triển vọng tốt đẹp đối với cả hai bên Trung Quốc muốn tăng cường quan

hệ với các nước ASEAN vì: Thứ nhất, tăng cường quan hệ với các nước ASEAN, thách thức ảnh hưởng của Nhật Bản và Mỹ ở Đông Nam Á; thứ 2, Trung Quốc muốn trấn an nhận thức về “mối đe dọa từ Trung Quốc” đối với các nước ASEAN; thứ 3, ASEAN có tầm quan trọng không chỉ là nơi nhập khẩu

hàng hóa của Trung Quốc mà còn là nơi cung cấp dầu mỏ và khí dốt cho TrungQuốc Còn các nước ASEAN lại hy vọng nhiều vào xuất khẩu sang thị trườngTrung Quốc Cạnh tranh với hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc là rất lớn, vì vậyđây là sự thách thức Nhưng thị trường Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng sẽ tạo rasức hút về xuất khẩu Trong bối cảnh muốn giảm bớt mức độ lệ thuộc quá nhiềuvào Mỹ, lại đang phải đối mặt với thị trường trì trệ của Nhật Bản, ASEAN quantâm nhiều hơn đến thị trường của Trung Quốc ASEAN còn chú ý tới lĩnh vựcđầu tư và du lịch từ Trung Quốc Việc đạt được thỏa thuận khung FTA là nhờ sự

Trang 38

nhất trí về lợi ích giữa hai bên cũng như thái độ tích cực của Trung Quốc hướngtới việc mở rộng thị trường hàng nông sản và phát triển kinh tế.

CHƯƠNG 2 TIẾN TRÌNH ĐÀM PHÁN THÀNH LẬP, NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA

CỦA ACFTA

2 1 Tiến trình đàm phán thành lập ACFTA

2.1.1 Tiền đề trực tiếp cho sự ra đời Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc và quyết định thành lập ACFTA

Quá trình đi đến ký kết Hiệp định khung ACFTA là cả một quá trình hợptác phát triển và hiểu biết lẫn nhau về kinh tế, chính trị, khoa học và kỹ thuậtcũng như nhiều lĩnh vực khác giữa các nước ASEAN và Trung Quốc Đặc biệt

kể từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình Đông Nam Á thay đổi, cácnước trong khu vực điều chỉnh quan hệ quốc tế, ASEAN mở cửa, thực hiện cácbiện pháp chiến lược như mở rộng hội viên, không ngừng tăng cường hợp táckhu vực, thiết lập khuôn khổ an ninh đa phương và điều chỉnh quan hệ với cácnước lớn, tạo cho ASEAN ngày càng có uy tín cao và trở thành một khu vựcđược sự quan tâm chú ý

Còn ở Trung Quốc, từ sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3khóa 11 Đảng Cộng sản Trung Quốc họp vào tháng 12 năm 1978, lịch sử nướcCộng hòa nhân dân Trung Hoa đã mở ra một trang mới, tiến hành cải cách, mởcửa nhằm xây dựng Trung Quốc thành một quốc gia hiện đại hóa XHCN, giàumạnh, dân chủ, văn minh

Chiến tranh lạnh kết thúc sau khi Liên bang CHXHCN Xô Viết tan rã năm

1991 không chỉ làm cục diện thế giới thay đổi mà còn làm thay đổi cả cơ sở lợiích và tính chất cơ cấu của các mối quan hệ quốc tế Cùng với tiến trình đa cực

Trang 39

hóa chính trị và toàn cầu hóa kinh tế, Trung Quốc cũng như các nước ASEANđều lần lượt điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình.

2.1.1.1 Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với các nước ASEAN sau chiến tranh lạnh

Trung Quốc đối với các nước ASEAN sau chiến tranh lạnh là: Không kết

thành đồng minh, không lấy ý thức hệ làm tiêu chuẩn xác định đối tượng hợptác, nhấn mạnh chung sống hòa bình, láng giềng thân thiện, tăng cường hợp tác,cùng nhau phát triển, hướng tới tương lai Ngược lại, các nước ASEAN cũngxem xét vấn đề địa kinh tế, địa chính trị nên nhu cầu phát triển quan hệ hợp hợptác hữu nghị, cùng phát triển với Trung Quốc là hết sức cần thiết

Một bước ngoặt quan trọng đánh dấu bước phát triển trong quan hệ giữacác nước ASEAN và Trung Quốc là việc Trung Quốc nối lại quan hệ ngoại giaovới Inđônêxia, thiết lập quan hệ ngoại giao với Singapo và bình thường hoá quan

hệ ngoại giao với Việt Nam vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20 Từ đóTrung Quốc thường xuyên trao đổi các chuyến thăm cấp cao với các nướcASEAN, không ngừng mở rộng quan hệ mậu dịch, kinh tế và văn hoá với cácnước ASEAN

Cuối năm 2004, Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đã tiến hànhchuyến thăm 4 nước ASEAN là Singapo, Malaixia, Inđônêxia và Việt Nam Mốiquan hệ láng giềng giữa Trung Quốc và 4 nước trên đã bước sang một giai đoạnmới, có ảnh hưởng rất quan trọng tới quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và cácnước Đông Nam Á cũng như đối với việc giữ gìn hoà bình, ổn định và phát triểnkhu vực, củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị hoà hợp láng giềng giữa TrungQuốc với các nước Đông Nam Á, tăng cường hợp tác cùng có lợi và xúc tiến sựphát triển chung Chủ tịch Giang Trạch Dân đã hội đàm với lãnh đạo 4 nước,trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế, tình hình khu vực cùng quan tâm cũng nhưquan hệ hợp tác song phương Chủ tịch Giang Trạch Dân khẳng định TrungQuốc trước sau như một sẽ cùng với các nước Đông Nam Á ủng hộ lẫn nhau

Trang 40

cùng phát triển Trung Quốc kiên định chủ trương công việc nội bộ của các nướcĐông Nam Á chỉ có thể do nhân dân các nước Đông Nam Á tự giải quyết Đốivới những vấn đề bất đồng, các nước nên xuất phát từ toàn cục là bảo vệ lợi íchchung của nhân dân các nước, phát triển kinh tế, ổn định trong khu vực, hướng

về tương lai, tìm những điểm đồng, gác lại những điểm bất đồng, mở rộng nhậnthức chung, giải quyết hoà bình bằng hiệp thương và đối thoại [25;tr 2 - 18]

Chính sách ngoại giao của Trung Quốc là không lấy hình thái ý thức hệlàm chính và chuyển sang ngoại giao lấy phục vụ lợi ích kinh tế làm xuất phátđiểm Tăng cường ngoại giao với các nước láng giềng, tích cực xây dựng mốiquan hệ đối tác gần gũi, tin tưởng lẫn nhau với các nước ASEAN Trong bài phátbiểu tại Học viện Ngoại giao Malaixia, ngày 11/11/1994 ông Giang Trạch Dân

nhấn mạnh: "Những năm gần đây, ASEAN đã phát huy vai trò càng quan trọng, thúc đẩy hợp tác khu vực và duy trì hoà bình ổn định của khu vực, trở thành một lực lượng sinh động trên vũ đài quốc tế Trung Quốc tôn trọng và ủng hộ chủ trương xây dựng khu vực hoà bình, tự do, trung lập và nguyện vọng xây dựng khu vực phi hạt nhân của ASEAN Chúng tôi hoan nghênh sự cố gắng tích cực của ASEAN về mặt thúc đẩy đối thoại hoà bình và an ninh khu vực, ủng hộ và tham dự các hoạt động của diễn đàn khu vực ASEAN (ARF)…

Tăng cường hữu nghị láng giềng với các nước xung quanh là mặt quan trọng của chính sách ngoại giao Trung Quốc, Trung Quốc hy vọng thấy một Đông Nam Á phồn vinh, ổn định, phát triển mạnh mẽ Đồng thời một nước Trung Quốc ổn định, phát triển nhanh chóng cũng phù hợp với lợi ích của các nước và nhân dân Đông Nam Á Chúng tôi đã thiết lập hoặc khôi phục quan hệ hoà bình với tất cả các nước Đông Nam Á Cùng với sự qua lại ngày càng nhiều và mật thiết, sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau đã tăng thêm tình hữu nghị ngày càng tăng cường, sự giao lưu và hợp tác kinh tế song phương phát triển nhanh chóng Điều quan trọng hơn nữa là mọi người đang ngày càng nhận thức được tiềm lực và tương lai hợp tác cùng có lợi trên lĩnh vực kinh tế giữa hai bên" [4]

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Mô hình cắt giảm và loại bỏ thuế quan đối với ASEAN cũ -  Trung Quốc - Sự hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN   trung quốc
Bảng 2.1 Mô hình cắt giảm và loại bỏ thuế quan đối với ASEAN cũ - Trung Quốc (Trang 73)
Bảng 2.2: Mô hình cắt giảm và loại bỏ thuế quan đối với Campuchia,  Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Myanma, Việt Nam - Trung Quốc - Sự hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN   trung quốc
Bảng 2.2 Mô hình cắt giảm và loại bỏ thuế quan đối với Campuchia, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Myanma, Việt Nam - Trung Quốc (Trang 74)
Bảng 2.5: Lộ trình cam kết cắt giảm thuế của các nước thành viên  ASEAN - 4 trong Chương trình thu hoạch sớm - Sự hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN   trung quốc
Bảng 2.5 Lộ trình cam kết cắt giảm thuế của các nước thành viên ASEAN - 4 trong Chương trình thu hoạch sớm (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w