1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường đào tạo cán bộ lê hồng phong thành phố hà nội

96 853 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Trường Đào Tạo Cán Bộ Lê Hồng Phong Thành Phố Hà Nội
Tác giả Đào Thị Hoàng Lan
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 580,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH __________ ĐÀO THỊ HOÀNG LAN MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐÀO THỊ HOÀNG LAN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ

GIÁO VIÊN TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ

HỒNG PHONG THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

VINH, 2010

Trang 2

-MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Cán bộ là khâu then chốt, là nhân tố quyết định sự thành công hay thấtbại của sự nghiệp cách mạng Đảng ta khẳng định cán bộ là nguyên nhân củamọi nguyên nhân, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ có vị trí, vai trò đặc biệtquan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị Mỗigiai đoạn cách mạng cần có đội ngũ cán bộ phù hợp, đáp ứng yêu cầu và đòihỏi của giai đoạn cách mạng ấy Vấn đề này phụ thuộc và quyết định bởi côngtác đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ Do vậy, trong sự nghiệp đổi mới toàndiện, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta rất quan tâm đến côngtác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Đi đôi với nâng cao dân trí, Đảng cũng hếtsức chú trọng đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ IX xác định tăng nhanh năng lực nộisinh về khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đàotạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tiêu chí con người ViệtNam trong giai đoạn mới là: Có bản lĩnh chính trị, có lý tưởng cách mạng, cókhả năng sáng tạo, làm chủ được tri thức hiện đại, quyết tâm xây dựng đấtnước phát triển sánh kịp các cường quốc trên thế giới Để đáp ứng được cáctiêu chí đó, giáo dục đào tạo phải thực sự đảm đương vai trò lớn lao mà cácnhà giáo và những nhà quản lý giáo dục là những người thực hiện [2]

Chỉ thị 40 - CT/TW của Ban Bí thư về việc xây dựng nâng cao chấtlượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cũng xác định phát triểngiáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng thúc đẩy sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huynguồn lực con người [10] Thời gian qua, chúng ta xây dựng đội ngũ nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, có phẩm chất đạo đức và ýthức chính trị tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng được nângcao Đội ngũ nhà giáo đã đáp ứng được cơ bản yêu cầu nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệpcách mạng Tuy nhiên, trước tình hình mới của sự phát triển đội ngũ nhà giáo,cán bộ quản lý giáo dục còn có những bất cập hạn chế, chất lượng chuyênmôn nghiệp vụ có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi phải tăng cườngxây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, một cách toàn diện

Trang 3

Trong quá trình hội nhập quốc tế, vừa hội nhập vừa bảo vệ độc lập chủquyền theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần phải thấm nhuần

tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ý nghĩa to lớn của sự nghiệp đào tạocác thế hệ cán bộ cho cách mạng Ngày nay, giáo dục đang chịu sự tác độngcủa cải cách giáo dục mang tính quốc tế, thể hiện trong tinh thần mang tínhkhuyến nghị của UNESCO, xây dựng nền giáo dục thế kỷ XXI với các mụctiêu: “Học để biết”, “Học để làm”, “Học để chung sống”, “Học để làmngười” Mọi người đều có cơ hội “học tập suốt đời” Trong mô hình xã hộihọc tập điều này tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đã chỉ rõ: “Sự học hỏi là

vô cùng, học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”, một người cách mạnghoạt động và học tập cho đến phút cuối cùng Mục tiêu, yêu cầu, nội dunggiáo dục đã có nhiều thay đổi, đòi hỏi phẩm chất đạo đức, tư tưởng lối sống,năng lực nghiệp vụ của nhà giáo rất cao

Trong giai đoạn đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, từ cơ chếtập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, đòi hỏi những cán bộ được đào tạo phải có bản lĩnh chính trị, phẩmchất đạo đức năng lực phù hợp với yêu cầu cách mạng, bước vào thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mục tiêu “Dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Trong bối cảnh quốc tế cónhững diễn biến phức tạp; thuận lợi và khó khăn; thời cơ và thách thức đanxen; tác động lẫn nhau đang đặt ra những yêu cầu và những đòi hỏi rất caocho công tác đào tạo cán bộ của Đảng và Nhà nước

Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội là mộttrường thuộc hệ thống các trường Chính trị tỉnh, thành phố Trong hệ thốnggiáo dục quốc dân, các trường Chính trị tỉnh, thành phố nói chung và TrườngĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội nói riêng là những cơ sở đào tạomang nhiều nét đặc thù, không hoàn toàn giống như các trường đại học, caođẳng hoặc bất cứ một cơ sở đào tạo nào khác trong cả nước Hơn nữa, do đặcthù của địa bàn Thủ đô, trình độ dân trí, trình độ của cán bộ, công chức nhìnchung cao hơn nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước; hoạt động của các cơquan Đảng, chính quyền, đoàn thể của Hà Nội cũng có nhiều điểm khác sovới các tỉnh, thành khác Vì vậy, yêu cầu về chất lượng của đội ngũ giáo viêncũng có nhiều điểm khác so với đội ngũ giáo viên của các trường Chính trịtỉnh, thành phố khác; các trường đại học, cao đẳng, các trường khác thuộc hệthống giáo dục quốc dân

Trang 4

Đội ngũ giáo viên Trường ĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội là

bộ phận cấu thành quan trọng trong nguồn nhân lực của Thành phố, thực hiệnnhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, có vai trò quan trọngtrong việc tạo ra, phát triển và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, côngchức của Thành phố Muốn nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao năng lựccho đội ngũ cán bộ, công chức của Thành phố, trước hết đòi hỏi phải nângcao chất lượng cho đội ngũ giáo viên Hiện nay, đội ngũ giáo viên của TrườngĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội còn nhiều bất cập như: cơ cấu, qui

mô đội ngũ giáo viên còn bất hợp lý, năng lực, trình độ chuyên môn về giảngdạy và nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế , nhìn chung chưa đáp ứngkịp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, yêu cầu của công cuộccông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Thủ đô trong giai đoạnhiện nay cũng như trong một tương lai gần ( từ 2010 - 2015 ) Điều đó làmảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức cho Thành phố

Từ thực tế trên, việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng caochất lượng cho đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức của Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hộinhập quốc tế là một việc làm cấp thiết

Với mục đích nâng cao chất lượng, xây dựng đội ngũ giáo viên củaTrường ĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội, đáp ứng kịp thời với yêucầu xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức của Thủ đô tronggiai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tôi lựa chọn đề tài

nghiên cứu: “ Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội ”.

2 Mục đích nghiên cứu:

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Trường ĐTCB Lê HồngPhong Thành phố Hà Nội

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

3.1 Khách thể nghiên cứu: Chất lượng đội ngũ giáo viên Trường

ĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên TrườngĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội

Trang 5

4 Giả thuyết khoa học:

Bằng việc đề xuất được các giải pháp quản lý có cơ sở khoa học và cótính khả thi thì sẽ nâng cao được chất lượng đội ngũ giáo viên Trường ĐTCB

Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề quản lý chất lượng đội ngũ giáoviên Trường ĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý chất lượng đội ngũ giáoviên Trường ĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáoviên Trường ĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội

- Khảo sát tính khả thi của các giải pháp đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu:

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu

- Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp điều tra

- Lấy ý kiến chuyên gia

6.3 Phương pháp thống kê toán học:

Sử dụng công thức toán học trung bình cộng

7 Những đóng góp chính của đề tài:

- Hệ thống cơ sở lý luận về chất lượng của đội ngũ giáo viên (đặc biệt làgiáo viên giảng dạy về lý luận chính trị và quản lý hành chính nhà nước) vớiđối tượng người học chủ yếu là cán bộ, công chức Từ đó có một cách nhìntổng quan hơn về quan điểm của Đảng về đội ngũ giáo viên

- Đánh giá thực trạng chất lượng của đội ngũ giáo viên Trường ĐTCB

Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội Từ đấy rút ra được những nguyên nhântồn tại về chất lượng của đội ngũ giáo viên Trường ĐTCB Lê Hồng PhongThành phố Hà Nội Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viêncủa Trường ĐTCB Lê Hồng Phong về giảng dạy và nghiên cứu khoa học

- Đề ra các giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viênTrường ĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đào tạo,bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, hiện đại cho

Trang 6

Thành phố Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpquốc tế.

- Vận dụng các giải pháp quản lý vào thực tiễn của Trường ĐTCB LêHồng Phong Thành phố Hà Nội

8 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, mục lục, danh mục các kýhiệu viết tắt, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu, luận văn có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài.

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu1.2 Một số khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu đề tài1.3 Chất lượng đội ngũ giáo viên

1.4 Tầm quan trọng của việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên

Chương 2 Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên Trường Đào tạo cán

bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội

2.1 Khái quát một số nét về đặc điểm tình hình kinh tế - xã hộiThành phố Hà Nội và yêu cầu về đội ngũ cán bộ chính trị của Thànhphố

2.2 Quá trình hình thành và phát triển Trường Đào tạo cán bộ LêHồng Phong Thành phố Hà Nội

2.3 Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên Trường Đào tạo cán bộ LêHồng Phong Thành phố Hà Nội

Chương 3 Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáoviên Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội

3.1 Những cơ sở pháp lý và quan điểm xây dựng các giải pháp3.2 Những mục tiêu cụ thể để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên

3.3 Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội

3.4 Tổ chức thực hiện các giải pháp3.5 Khảo sát ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Hệ thống các trường Chính trị tỉnh, thành phố là một hệ thống đào tạomang nhiều tính đặc thù Sự ra đời và nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống cáctrường này xuất phát từ yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chứccho hệ thống chính trị cấp cơ sở Hệ thống chính trị của Việt Nam có nhiềuđiểm khác biệt so với hệ thống chính trị của các quốc gia khác trên thế giới.Thêm vào đó, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có trình độ phát triểnthấp, điều kiện kinh tế - xã hội nghèo nàn, lạc hậu hơn nhiều các quốc giakhác trong khu vực và trên thế giới Tổ chức, hoạt động của bộ máy các cơquan, tổ chức của Nhà nước còn chưa theo kịp với sự phát triển của kinh tế -

xã hội Cơ cấu, qui mô, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức nóichung còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý các lĩnh vực củađời sống xã hội

Việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ, côngchức của nước ta cũng có nhiều vấn đề bất cập, lạc hậu hơn so với nhiều quốcgia khác trong khu vực và trên thế giới Điều đó dẫn đến, trong hệ thống các

cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, công tác xây dựng, phát triển độingũ giáo viên cũng có nhiều vấn đề bất cập, năng lực của đội ngũ giáo viênnhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, cho đến nay chưa có mộtcông trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về vấn đề nănglực và nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên các trường Chính trị tỉnh,thành phố nói chung và đội ngũ giáo viên của Trường Đào tạo cán bộ LêHồng Phong Thành phố Hà Nội nói riêng

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Hiện nay, để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhànước ta rất chú trọng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Coi phát triểnnguồn nhân lực là một trong những vấn đề mấu chốt mang tính quyết định đếnquá trình phát triển của quốc gia Một số cơ sở đào tạo, bộ, ngành, uỷ ban nhânnhân các cấp đã triển khai một số nghiên cứu về nâng cao chất lượng, năng lực

Trang 8

đội ngũ cán bộ, công chức nói chung hoặc đội ngũ cán bộ, công chức củangành mình, cấp mình Trong những năm gần đây, một số dự án nước ngoàiphối hợp với Bộ Nội vụ, Học viện Hành chính Quốc gia có thực hiện một sốchương trình về nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên giảng dạy về quản lýhành chính nhà nước (như Dự án SIDA Thuỵ Điển năm 2000, Dự án DANIDAcủa Chính phủ Đan Mạch năm 2005 ) Tuy nhiên, các chương trình này chủyếu dành cho các giảng viên của Học viện Hành chính Quốc gia, sự tham giacủa giáo viên các trường Chính trị tỉnh, thành phố rất hạn chế, hơn nữa cácchương trình này chủ yếu bước đầu thực hiện huấn luyện về phương phápgiảng dạy hành chính hiện đại mà không thực hiện nghiên cứu chuyên sâu, toàndiện về vấn đề năng lực và nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên nói chung,giáo viên của các trường Chính trị tỉnh, thành phố, Trường ĐTCB Lê HồngPhong Thành phố Hà Nội nói riêng

Trường ĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội là một cơ sở đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cho Thành phố, với 60 năm xây dựng vàtrưởng thành Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ được Thành phố giao, độingũ giáo viên của Nhà trường có nhiều điểm khác biệt so với đội ngũ cán bộ,công chức của các sở, ngành; của các trường đại học, cao đẳng và các cơ sởđào tạo khác trên địa bàn Thành phố (về qui mô, cơ cấu, lĩnh vực chuyên mônđào tạo mang tính chất đặc thù ) Điều đó dẫn đến vấn đề nâng cao chấtlượng cho đội ngũ giáo viên của Nhà trường tất yếu có nhiều điểm khác biệt

so với vấn đề nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ, công chức thuộc các

sở, ngành, uỷ ban nhân dân của Thành phố; của đội ngũ giảng viên các trườngđại học, cao đẳng, các cơ sở đào tạo khác Tuy vậy, cho đến nay Thành phố

Hà Nội cũng chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện,

có hệ thống về vấn đề này

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.2.1 Khái niệm về giáo viên

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: "Giáo viên được hiểu là những ngườidạy học ở các nhà trường, các cơ sở giáo dục hoặc tương đương" [45] để chỉnhững người dạy học ở các cấp, bậc học

Luật Giáo dục nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hànhnăm 1997 đã đưa ra định nghĩa về pháp lý đầy đủ về nhà giáo và những tiêuchuẩn của một nhà giáo [31] Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam ban

Trang 9

hành năm 2005 đã rất chú trọng đến vai trò, vị trí của nhà giáo Nhà giáo cónghĩa là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các nhà trường và cơ

sở giáo dục khác [32]

Để chỉ những người làm công tác dạy học ở các trường, các cơ sở giáodục ( gồm giáo viên, giảng viên ) Luật Giáo dục quy định gọi chung là Nhà giáo

“ Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:

+ Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt;

+ Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;

+ Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp;

+ Lý lịch bản thân rõ ràng ” [32]

Nhiệm vụ của nhà giáo:

- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy

đủ và có chất lượng chương trình giáo dục

- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của Pháp luật

và điều lệ của Nhà trường

- Giữ gìn phảm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; Tôn trọng nhân cáchcủa người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi íchchính đáng của người học

- Không ngừng học tập rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức trình

độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêugương tốt cho người học

- Các nhiệm vụ khác theo quy định của Pháp luật

1.2.2 Khái niệm về đội ngũ, đội ngũ giáo viên

1.2.2.1 Về đội ngũ

Từ điển Bách khoa Việt Nam đã định nghĩa: "Đội ngũ là khối đôngngười cùng chức năng hoặc nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành mộtlực lượng" [44]

"Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụhoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng trong hoạt động trong hệ thống (tổchức)" [5]

1.2.2.2.Về đội ngũ giáo viên

"Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họnắm vững tri thức, hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năngcống hiến sức lực, toàn bộ tài năng của họ đối với giáo dục" [16]

Trang 10

"Đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục là một tập thể người, bao gồm cán

bộ quản lý, giáo viên và nhân viên nếu chỉ để ý đến đặc điểm của ngành thì độingũ đó chủ yếu là đội ngũ giáo viên và đội ngũ quản lý giáo dục" [16]

Từ những quan niệm nêu trên của các tác giả, ta có thể hiểu đội ngũgiáo viên như sau:

Đội ngũ giáo viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học - giáodục, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ, có đầy đủcác tiêu chuẩn của một nhà giáo cùng thực hiện các nhiệm vụ và được định hướngcác quyền lợi theo Luật Giáo dục và các Luật khác được Nhà nước quy định

1.2.3 Khái niệm về quản lý, quản lý nguồn nhân lực, quản lý đội ngũ giáo viên

1.2.3.1 Khái niệm quản lý

Khái niệm quản lý xuất hiện đã từ lâu và ngày càng hoàn thiện cùngvới sự phát triển của lịch sử xã hội loài người Có nhiều quan niệm khác nhau

về quản lý, sau đây là một số quan niệm chủ yếu:

Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ) thì Quản lý là chức năngcủa những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹthuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động,thực hiện những chương trình mục đích hoạt động

Theo nhà giáo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là những tác động cóđịnh hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổchức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định" [40]

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lýtới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra

Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụngcác hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo ( lãnh đạo ) và kiểm tra

Ta có thể hiểu quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng cácquá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, phát triển phù hợp vớiquy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý

Như vậy quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng củachủ thể ( người hoặc tổ chức quản lý ) lên khách thể ( đối tượng quản lý ) vềcác mặt chính trị, kinh tế văn hoá, xã hội…bằng hệ thống các luật lệ, cácchính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằmtạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng

Trang 11

quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể

là con người cụ thể, sự vật cụ thể

1.2.3.2 Quản lý nguồn nhân lực

Quản lý nguồn nhân lực là một trong những chức năng quản lý củangười quản lý, thể hiện trong việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và pháttriển các thành viên của tổ chức Quản lý nguồn nhân lực là hoạt động điềuhành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm tạo ra nguồn lực con người theoyêu cầu phát triển của xã hội

1.2.3.3 Quản lý đội ngũ giáo viên

Trong giáo dục đào tạo quản lý nguồn nhân lực đồng nghĩa với quản lýđội ngũ giáo viên vì vậy việc xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên nhằm đápứng về chất lượng mà xã hội yêu cầu là nhiệm vụ trọng tâm của quản lýnguồn nhân lực

Quá trình quản lý nguồn nhân lực, quản lý đội ngũ giáo viên cũng phảithực hiện các nội dung như: Kế hoạch hóa đội ngũ giáo viên, tuyển dụng, lựachọn giáo viên, định hướng, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, đề bạt, thuyênchuyển…

Quản lý đội ngũ giáo viên chúng ta cần phải chú ý một số yêu cầuchính sau đây:

- Trước hết phải giúp cho đội ngũ giáo viên phát huy được vai trò chủđộng, sáng tạo, khai thác ở mức cao nhất năng lực, tiềm năng của đội ngũ để

họ có thể cống hiến được nhiều nhất cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục đàotạo đề ra

- Nhằm hướng giáo viên vào phục vụ những lợi ích của tổ chức, cộngđồng và xã hội Đồng thời phải đảm bảo thoả đáng lợi ích vật chất, tinh thầncho giáo viên

- Nhằm đáp ứng mục tiêu trước mắt và mục tiêu phát triển lâu dài của

tổ chức, đồng thời phải được thực hiện theo quy chế, quy định thống nhất trên

cơ sở luật pháp của nhà nước

1.2.4 Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại

Trong xu thế hội nhập hiện nay, với xu thế học suốt đời của mỗi mộtgiáo viên thì quá trình đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại có ý nghĩa rất quantrọng Với sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ thì kiến thứccủa con người phải được cập nhật thường xuyên Vì vậy công tác đào tạo, bồi

Trang 12

dưỡng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm cần phải tiến hành thường xuyên,liên tục.

1.2.4.1 Khái niệm đào tạo

Đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đólĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thốngnhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhậnmột sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hộiduy trì và phát triển nền văn minh loài người

"Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩnnhất định" [45] Đào tạo là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phươngpháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệpchuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết vàchuẩn bị toàn thể cho người học đi vào cuộc sống tự lập, góp phần xây dựng

và bảo vệ đất nước

Như vậy có thể hiểu đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năngnghề nghiệp, giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ cho người học để có thể trởthành người lao động có kỹ thuật, kỷ luật, có năng suất và hiệu quả Đào tạo

là chức năng quan trọng, thuộc quá trình cơ bản của giáo dục

1.2.4.2 Bồi dưỡng

UNESCO cho rằng bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp Quátrình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thứchoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu laođộng nghề nghiệp

Theo Từ điển Tiếng Việt "Bồi dưỡng là tăng thêm năng lực, hoặc phẩmchất" [45]

Theo GS.TS Nguyễn Minh Đường: "Bồi dưỡng có thể coi là quá trìnhcập nhật kiến thức hoặc kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học,bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ" [16]

Bồi dưỡng: Theo nghĩa rộng là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hìnhthành nhân cách và phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mụcđích đã chọn; theo đánh giá hẹp là: trang bị thêm những kiến thức, kỹ năngnhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực

cụ thể

Từ các khái niệm trên ta có thể hiểu bồi dưỡng giáo viên là quá trìnhtác động tới tập thể, cá nhân, giáo viên, tạo cơ hội cho giáo viên tham gia vào

Trang 13

các hoạt động dạy học, giáo dục, học tập trong và ngoài nhà trường, để họ cóthể cập nhật, bổ sung kiến thức kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nângcao phẩm chất và năng lực sư phạm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sựnghiệp giáo dục đào tạo.

1.2.4.3 Đào tạo lại

Khái niệm đào tạo lại mới được hình thành từ những năm cuối thế kỷ XX.Đào tạo lại là quá trình hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹnăng, kỹ xảo, thái độ mới làm cho người lao động có cơ hội để học tập mộtlĩnh vực chuyên môn mới, nhằm mục đích cung cấp tri thức mới hoặc thayđổi công việc, nghề nghiệp

1.3 CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

1.3.1 Quan niệm về chất lượng nói chung

- Khái niệm chất lượng đội ngũ là một khái niệm rộng Chất lượng là cáitạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc, hiện tượng

- Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đốitượng đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn

- Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật, làm cho sự vậtnày khác sự vật kia

Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Chất lượng là phạm trù triết học biểu thịnhững thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tươngđối của sự vật, phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quancủa sự vật, chất lượng biểu hiện ra bên ngoài, qua các thuộc tính Nó là cáiliên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổngthể bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Về căn bản chất lượngcủa sự vật bao giờ cũng gắn với tính quy định về số lượng của nó và khôngthể tồn tại ngoài tính quy định ấy Một sự vật là một thể thống nhất giữa sốlượng và chất lượng [47]

Không có sự vật nào lại không có tính quy định về chất lượng, không

có sự tồn tại nào lại thiếu tính quy định về chất lượng Mỗi vật thể, sự vậtkhác nhau đều có tính quy định chất lượng khác nhau

Chất lượng của các sự vật, hiện tượng được biểu hiện thông qua cácthuộc tính của nó Mỗi sự vật bao gồm nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính thamgia vào việc quy định chất lượng của sự vật không giống nhau Các thuộc tínhbản chất tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật, giữ vai trò quyết địnhcủa sự vật làm cho nó khác với cái khác, nếu thuộc tính cơ bản mất đi thì sự

Trang 14

vật không còn Các thuộc tính không bản chất không giữ vai trò như thế, đểthể hiện sự vật.

Như vậy, khái niệm chất lượng phản ánh mặt vô cùng quan trọng của

sự vật, hiện tượng và quá trình của thế giới khách quan

1.3.2 Vấn đề chất lượng đội ngũ giáo viên

1.3.2.1 Chất lượng đội ngũ giáo viên

Chất lượng đội ngũ giáo viên được bao hàm nhiều yếu tố: Trình độđược đào tạo của từng thành viên trong đội ngũ, thâm niên công tác trong tổchức, nhận thức chính trị, thái độ công dân…

Từ quan niệm về chất lượng đội ngũ đã nêu trên, ta thấy, chất lượng độingũ giáo viên là toàn bộ thuộc tính, những đặc điểm của đội ngũ giáo viên.Những thuộc tính, cấu trúc này gắn bó với nhau trong một tổng thể thống nhấttạo nên giá trị và sự tồn tại của đội ngũ, làm cho đội ngũ giáo viên khác vớiđội ngũ khác

Chất lượng đội ngũ giáo viên được thông qua các thuộc tính bản chất sau:

- Số lượng thành viên trong đội ngũ:

Số lượng đội ngũ giáo viên được xác định trên cơ sở lớp học, số họcsinh và định mức biên chế theo quy định của Nhà nước Số lượng giáo viên làmột yếu tố định hướng của đội ngũ nó rất quan trọng nhưng chưa nói lênđược điều gì ngoài vấn đề chất lượng, số lượng, còn phải xem xét thấu đáođến cơ cấu đội ngũ

- Cơ cấu đội ngũ gồm:

+ Cơ cấu theo môn dạy hay còn gọi là cơ cấu bộ môn

+ Cơ cấu theo trình độ đào tạo

+ Cơ cấu theo độ tuổi

+ Cơ cấu theo giới tính

- Năng lực của đội ngũ

Đó là khả năng để thực hiện một hoạt động nào đó, hoặc là phẩm chất,tâm lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó

Trang 15

Trên đây là 5 yếu tố cơ bản biểu hiện chất lượng của đội ngũ; có thểbiểu diễn theo sơ đồ:

Sơ đồ 1.1: Các yếu tố cơ bản biểu hiện chất lượng của đội ngũ

Phẩm chất

Trình độ Năng lực

Sở trường Cơ cấu

1.3.2.2 Nội dung các yếu tố của chất lượng đội ngũ giáo viên

- Số lượng thành viên của đội ngũ giáo viên:

Số lượng là tính quy định của vật thể, nó là khái niệm định tính, chỉnói lên đặc điểm của vật thể như dài - ngắn, to - nhỏ, nhiều - ít… Số lượngcũng là ranh giới của vật thể, vì thế nếu có sự thay đổi số lượng đến một mức

độ nào đó có thể làm bản chất của sự vật thay đổi

Đội ngũ giáo viên là biểu hiện tổ chức xã hội vì thế số lượng của độingũ giáo viên là biểu thị về mặt định lượng của đội ngũ, nó phản ánh quy môcủa đội ngũ

Số lượng đội ngũ giáo viên phụ thuộc vào sự phân chia của tổ chức.Hàng năm căn cứ kế hoạch phát triển số lớp học ta xác định số lượng giáoviên cần có cho một nhà trường Hoặc trên cơ sở số lượng giáo viên hiện có ta

có kế hoạch tuyển sinh cho năm học mới Đó là cơ sở cho việc lập kế hoạchđào tạo hàng năm

Số lượng giáo viên của một trường phụ thuộc vào nhu cầu đào tạo, quy

mô phát triển của nhà trường và các yếu tố khác như: chỉ tiêu biên chế, chế độchính sách

Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, người cán bộ quản lýphải đảm bảo cân bằng về số lượng của đội ngũ với nhu cầu đào tạo, quy môphát triển của nhà trường Nếu phá vỡ hoặc không đảm bảo sự cân bằng sẽ cóảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đội ngũ

- Phẩm chất của đội ngũ giáo viên:

Phẩm chất đội ngũ giáo viên là một trong những yếu tố quan trọng nhấtquyết định chất lượng đội ngũ giáo viên Bác Hồ đã dạy người cán bộ cáchmạng vừa phải có đức vừa phải có tài, có đức mà không có tài thì làm việc gì

Trang 16

cũng hỏng, có tài mà không có đức thì là người vô dụng; cán bộ "vừa hồng,vừa chuyên" Hồng là đức, là phẩm chất chính trị, chuyên là chuyên môn, lànăng lực.

Phẩm chất của đội ngũ giáo viên là cái tạo ra sức mạnh cho đội ngũ,trước hết phải thể hiện ở sự thống nhất, giác ngộ cách mạng, giác ngộ XHCNvới lý tưởng nghề nghiệp Người giáo viên phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm đường lối giáo dục cáchmạng của Đảng và của nhà nước Phải gắn niềm tin cách mạng với niềm tinnghề nghiệp, phải yêu nghề, gắn bó với nghề, gắn bó với sự nghiệp trồng người

Bên cạnh đó người giáo viên phải có tâm hồn trong sáng, tình cảm caothượng, có lối sống lành mạnh, giản dị, nhân văn Phải yêu thương học sinhnhư con của mình, thực hiện tốt khẩu hiệu " tất cả vì học sinh thân yêu "

Ngoài ra người giáo viên phải có phẩm chất đó là sự thống nhất giữatính mục đích và tính kế hoạch trong tổ chức các hoạt động sư phạm; giữatính tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm với tính tự chủ, tính nguyên tắc,sáng tạo, lòng vị tha

Qua đó ta nhận thấy phẩm chất của đội ngũ giáo viên là tổng hợp củanhiều yếu tố đó là thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan CSCN;phẩm chất về tư cách đạo đức, phẩm chất về ý chí tạo nên nhân cách của độingũ giáo viên

- Trình độ đội ngũ giáo viên:

Trình độ được hiểu là mức độ về sự hiểu bản chất, về kỹ năng được xácđịnh hoặc đánh giá theo một tiêu chuẩn nhất định vào đó Trình độ của độingũ giáo viên đó là những hệ thống kiến thức liên quan đến môn học màngười giáo viên đó đảm nhận giảng dạy Ngoài ra người giáo viên phải cónhững hiểu biết về ngoại ngữ, tin học, phương pháp nghiên cứu khoa học,những hiểu biết về xã hội Ngoài kiến thức chuyên môn, sự hiểu biết về xã hội vàcác kiến thức khác bổ trợ có ảnh hưởng tích cực rất lớn đối với người giáo viên

Luật Giáo dục 2005 nước CHXHCN Việt Nam quy định chuẩn trình độđào tạo của các nhà giáo nói chung là:

+ Có bằng tốt nghiệp Trung cấp Sư phạm đối với giáo viên mầm non,giáo viên tiểu học

+ Có bằng tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp Caođẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trunghọc cơ sở

Trang 17

+ Có bằng tốt nghiệp Đại học sư phạm hoặc bằng tốt nghiệp Đại học và

có chứng chỉ bồi đưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên THPT

+ Có bằng tốt nghiệp Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề hoặc nghệ nhân,công nhân kỹ thuật có tay nghề cao đối với giáo viên hướng dẫn thực hành ở

cơ sở dạy nghề

+ Có bằng tốt nghiệp ĐHSP hoặc bằng tốt nghiệp Đại học khác và cóchứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm hoặc đối với giáo viên Trung họcchuyên nghiệp

+ Có bằng tốt nghiệp Đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp

vụ sư phạm đối với nhà giáo giảng dạy cao đẳng, đại học, bằng thạc sỹ trở lênđối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận văn thạc sỹ, có bằngtiến sỹ đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận án tiến sỹ [32]

- Năng lực của đội ngũ giáo viên:

Năng lực được hiểu bao gồm các yếu tố chuyên môn, phẩm chất, tâm

lý, kỹ năng để tiến hành hoạt động sư phạm có hiệu quả Kỹ năng được hiểu

là khả năng vận dụng những kiến thức được học được tìm hiểu trong hoạtđộng sư phạm và biến nó thành kỹ xảo Kỹ xảo là khả năng đạt đến mứcthành thục

Hệ thống kỹ năng gồm có: kỹ năng nền tảng và kỹ năng chuyên biệt.+ Kỹ năng nền tảng bao gồm những nhóm sau:

Nhóm kỹ năng thiết kế.

Nhóm kỹ năng nhận thức

+ Kỹ năng chuyên biệt gồm:

Nhóm kỹ năng giảng dạy.

Nhóm kỹ năng giáo dục.

Nhóm kỹ năng nghiên cứu khoa học.

Nhóm kỹ năng hoạt động xã hội.

Nhóm kỹ năng tự học, tự nghiên cứu.

Qua đó ta thấy hệ thống trí thức và kỹ năng trong mỗi một giáo viên thểhiện năng lực sư phạm của người giáo viên đó cùng với tư cách đạo đức,phẩm chất hợp thành một thể hoàn chỉnh, giúp cho từng giáo viên và đội ngũgiáo viên có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình đáp ứng yêu cầu ngày càngcao của sự nghiệp giáo dục đào tạo

- Cơ cấu đội ngũ giáo viên:

Cơ cấu được hiểu: Là cách tổ chức các thành viên nhằm thực hiện chứcnăng của chỉnh thể Cơ cấu của đội ngũ giáo viên là cấu trúc bên trong của đội

Trang 18

ngũ, sẽ được nghiên cứu trên các tiêu chí có liên quan đến các giải pháp pháttriển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Các tiêu chí cơ bản là:

+ Cơ cấu chuyên môn (theo môn dạy) hay còn gọi là cơ cấu bộ môn:

Đó là tình hình về tỷ lệ giáo của các môn hiện có ở trường, sự thừa thiếu giáoviên ở mỗi môn học Cái này phải phù hợp với định mức quy định thì ta có cơcấu chuyên môn hợp lý Ngược lại thì phải có sự điều chỉnh, nếu không sẽảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả đào tạo

+ Cơ cấu theo trình độ đào tạo: là sự phân chia giáo viên theo tỷ lệ củacác trình độ đào tạo Đó là tỷ lệ giáo viên có trình độ tiến sỹ, thạc sỹ, đại học

ở các bộ môn Xác định cơ cấu trình độ hợp lý cũng là một giải pháp nhằmnâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Số giáo viên chưa đạt chuẩn phải đượcđào tạo để nâng chuẩn Tuỳ thuộc vào điều kiện hiện có cụ thể của từngtrường, các trường phải lực chọn phương án tối ưu trong công tác lựa chọnđào tạo, bồi dưỡng giáo viên

+ Cơ cấu độ tuổi:

Phân tích giáo viên theo độ tuổi, nhằm xác định cơ cấu đội ngũ theotừng nhóm tuổi, đảm bảo sự cân đối giữa các thế hệ: già, trẻ, trung niên củađội ngũ để có thể vừa phát huy được tính năng động, sáng tạo của tuổi trẻ,kinh nghiệm nghề nghiệp của tuổi già

+ Cơ cấu giới tính:

Cơ cấu giới tính mục đích đảm bảo tỷ lệ giữa giáo viên nam và giáoviên nữ Phù hợp với từng ngành nghề đào tạo Cơ cấu giới tính liên quan đếnchất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường Hiện nay chúng ta đang thựchiện bình đẳng giới, tuy nhiên trên thực tế các trường có tỷ lệ giáo viên nữcao thường có bị ảnh hưởng đến kế hoạch đào tạo của nhà trường vì theo chế

độ quy định, người phụ nữ được nghỉ, ngoài ốm đau ra còn chế độ nghỉ thaisản, con nhỏ; Thông thường số ngày nghỉ của phụ nữ trong năm cao hơn namgiới

Nghiên cứu cơ cấu giới tính trong đội ngũ giáo viên là để có tác độngcần thiết thông qua quản lý nhân sự để nâng cao chất lượng, hiệu suất côngtác của mỗi một cá nhân và toàn đội ngũ giáo viên

Tóm lại, chất lượng đội ngũ giáo viên phải hiểu bao gồm những yếu tốtrên, mỗi yếu tố đều có vị trí quan trọng và giữa các yếu tố đó có quan hệkhăng khít với nhau, có tác động qua lại lẫn nhau, nương tựa nhau hợp thànhmột hệ thống hoàn chỉnh làm cho đội ngũ giáo viên phát triển

Trang 19

1.3.3 Quan niệm về nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên

Tất cả các nước trên thế giới muốn phát triển giáo dục phải đầu tư xâydựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Giáo viên phải là chuyêngia trong một hoặc nhiều lĩnh vực, đòi hỏi trình độ đào tạo giáo viên ngàycàng cao Giáo viên phải thường xuyên cập nhật các kiến thức mới, phải tựhọc tập rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận và nghiệp

vụ sư phạm

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là làm cho chất lượng đội ngũgiáo viên ngày càng hoàn thiện hơn Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viênthực chất là quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ, làm cho đội ngũ trưởngthành ngang tầm với đòi hỏi của sự nghiệp giáo dục - đào tạo

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là con đường làm giàu kiếnthức, kỹ năng, thái độ để giáo viên vững vàng về nhân cách nghề nghiệp Xâydựng và phát triển đội ngũ có sự cân đối về lực lượng, chất lượng và cơ cấu sẽgóp phần thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ giáo dục - đào tạo trong giai đoạnhiện nay

1.4 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

1.4.1 Vai trò của giáo dục đào tạo nói chung, đào tạo cán bộ nói riêng trong sự phát triển kinh tế - xã hội

1.4.1.1 Vai trò của giáo dục trong phát triển kinh tế - xã hội

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, hiện tượng này được biểuhiện ở chỗ: thế hệ đi trước truyền lại kinh nghiệm xã hội cho thế hệ đi sau; thế

hệ sau lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội đó để tham gia đời sống xã hội,tham gia lao động sản xuất và các hoạt động xã hội khác Muốn duy trì vàphát triển xã hội nhất định phải thực hiện chức năng giáo dục của mình Đó làchức năng tất yếu, không thể thiếu của xã hội Sự tiến bộ của xã hội là thế hệ

đi sau phải lĩnh hội được tất cả những kinh nghiệm của xã hội mà các thế hệ

đi trước đã tích luỹ được và truyền lại Nhờ giáo dục các thế hệ đi sau tiếp tụcduy trì và đẩy mạnh hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác, hoànthiện và giữ vững các mối quan hệ xã hội tiếp tục truyền lại cho thế hệ sau kế tiếp.Không có họat động giáo dục thì không có sự tái sản xuất các hoạt động khác

Các nhà xã hội học giáo dục coi giáo dục là một quá trình xã hội hoáliên tục ở tất cả các phương thức sản xuất xã hội, trong các giai đoạn lịch sử

Trang 20

phát triển của xã hội loài người, không hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất, cơcấu của xã hội.

Ngày nay, giáo dục được coi là nền móng cho sự phát triển của khoahọc - công nghệ, là động lực của sự phát triển kinh tế Đảng và Nhà nước taluôn đánh giá cao vai trò của giáo dục Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIIIkhẳng định "giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế

xã hội của đất nước" [14] Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khoá VIII tiếp tục khẳng định "Muốn tiến hành công nghiệp hóa - hiệnđại hoá thắng lợi phải phát triển giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực conngười yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững"; Nghị quyết Hộinghị lần thứ 3, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII một lần nữa khẳngđịnh vai trò của giáo dục: "giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốcsách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản bảo đảm việc thựchiện các mục tiêu kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước; phải coi trọngđầu tư cho giáo dục là một hướng chính của đầu tư phát triển" [15]

Trước đây một số quan niệm cho rằng khi xét đến các nhân tố của sựphát triển, người ta quan tâm đến các nguồn lực như tài nguyên, vốn, thì ngàynay nhân tố con người được đặt lên hàng đầu Con người là nguồn lực quantrong nhất trong các nguồn lực của sự phát triển, con người là nguồn lực cơbản tạo ra mọi nguồn lực Con người được giáo dục, có khả năng giải quyếtmột cách đúng đắn, sáng tạo và hiệu quả những vấn đề của sự phát triển kinh

tế xã hội đặt ra

Con đường cơ bản tạo ra nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội đó chính là giáo dục - đào tạo Con người được giáo dụcvừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội

Chính vì vậy Đảng ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư chogiáo dục là đầu tư cho phát triển

1.4.1.2 Vai trò của đào tạo cán bộ chính trị trong sự phát triển kinh

tế - xã hội

Đào tạo nghề nghiệp, đào tạo cán bộ là một bộ phận quan trọng hệ thốnggiáo dục - đào tạo Mục tiêu của đào tạo nghề nghiệp được Luật Giáo dục năm

2005 xác định là đào tạo người lao động có kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp

ở các trình độ khác nhau, có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, có ý thức tổ chức

kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp, có đủ sức khoẻ, tạo cho người laođộng có việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội [32]

Trang 21

Đào tạo nghề nghiệp là một công việc không dễ dàng, đào tạo cán bộđặc biệt là cán bộ quản lý các cấp của Đảng và chính quyền càng khó khăn.Người cán bộ quản lý nói chung phải được đào tạo chuyên môn ở các nhàtrường, qua quá trình công tác được bồi dưỡng, tu dưỡng rèn luyện, có phẩmchất tham gia công tác quản lý mới được quy hoạch đào tạo Theo quan điểmcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ cách mạng không chỉ là cầu nối giữanhân dân với Đảng, với nhà nước, cán bộ vừa phải là người lãnh đạo, vừa làngười đầy tớ thật trung thành của nhân dân Phong trào cách mạng quầnchúng chỉ dành thắng lợi khi có đường lối đúng đắn, được tổ chức chặt chẽ,đặc biệt phải lựa chọn đào tạo ra những người lãnh đạo tương xứng Có cán

bộ tốt mới có phong trào tốt Bác đã từng căn dặn: " Huấn luyện cán bộ làcông việc của Đảng " [26] Do đó đào tạo đội ngũ cán bộ là yêu cầu quantrọng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đào tạo cán bộ trước hết cần tậptrung về những kiến thức về lý luận chính trị, lãnh đạo, quản lý khoa học xãhội và những kiến thức chuyên môn phù hợp với công việc được giao Giúpcho cán bộ có năng lực trình độ nhất định để phân tích, luận giải những vấn

đề về chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng viên cơ sở đó vận dụngsáng tạo vào thực tiễn của địa phương, của đơn vị, của lĩnh vực mà cá nhânđược phân công phụ trách Đồng thời thông qua đào tạo, bồi dưỡng giúp cán

bộ có khả năng phân tích, xử lý các tình huống, hình thành phương pháp luận,nhận thức khoa học và giải quyết các vấn đề nhanh nhạy và hiệu quả

Để thực hiện tốt công tác cán bộ phải rà soát, đánh giá trình độ cán bộcác cấp đặc biệt là cán bộ chủ chốt về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị,hình thành đào tạo, năng lực công tác để có kế hoạch đào tạo cho công tácquy hoạch cán bộ Việc đào tạo cán bộ phải cân đối giữa các vùng, các ngành,các lĩnh vực, phải có tầm nhìn để đón đầu giai đoạn phát triển của địaphương, đơn vị Phải đào tạo, đào tạo lại một số cán bộ đương nhiệm, đồngthời phải đào tạo số cán bộ diện quy hoạch

Vì vậy công tác đào tạo cán bộ có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệpphát triển kinh tế xã hội của đất nước

1.4.1.3 Vai trò của giáo viên trong công tác đào tạo cán bộ

Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục nước ta hiện nay là nâng cao dântrí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Đội ngũ giáo viên là nhân tố quantrọng và chủ yếu nhất quyết định chất lượng giáo dục - đào tạo vai trò chủ đạotrong quá trình giáo dục đào tạo ở các nhà trường, các sở giáo dục Điều 14

Trang 22

Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ : “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việcđảm bảo chất lượng giáo dục” [32]

Đội ngũ giáo viên là người trực tiếp thực hiện các mục tiêu chiến lượccủa các trường, các cơ sở đào tạo Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết địnhchất lượng giáo dục Đảng và Nhà nước ta coi trọng đội ngũ giáo viên và cán

bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp giáo dục, là chiến

sỹ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lýtưởng và đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân, tinh hoa văn hoá củadân tộc và nhân loại

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và

vẻ vang về nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục và Bác đã xác địnhnhiệm vụ của các thầy giáo và cô giáo rất vẻ vang [25]

Trong giai đoạn hiện nay, đất nước đang bước vào thời kỳ phát triểntheo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Mục tiêu đến năm 2020 nước ta

cơ bản trở thành một nước công nghiệp, ngành giáo dục đang đứng trướcnhững cơ hội và thách thức Đội ngũ giáo viên là nhân vật trung tâm, đóng vaitrò chủ đạo trong việc tổ chức, lãnh đạo quá trình hình thành nhân cách conngười Đảng khẳng định giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục

và được xã hội tôn vinh đồng thời xác định khâu then chốt để thực hiện chiếnlược phát triển giáo dục, đặc biệt phải chăm lo đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoáđội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục về chính trị, tư tưởng,đạo đức và năng lực chuyên môn nghiệp vụ Luật Giáo dục khẳng định vai tròcủa nhà giáo là: "nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chấtlượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện và nêu gươngtốt cho người học Nhà nước ta tổ chức bồi dưỡng nhà giáo, có chính sáchđảm bảo các điều kiện cần thiết về vật chất, tinh thần để nhà giáo thực hiệnnhiệm vụ của mình, giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tônvinh nghề dạy học".[32]

Đánh giá về vai trò của nhà giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Có gì vẻvang hơn là đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng Chủnghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng

là thầy giáo vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởnghuân chương song người thầy giáo tốt là người anh hùng vô danh" [25]

Trang 23

1.4.2 Tầm quan trọng của việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên

Chất lượng đội ngũ giáo viên tác động trực tiếp đến chất lượng giáodục đào tạo Trong sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo của đất nước, khâuthen chốt là đội ngũ giáo viên và các nhà quản lý giáo dục Muốn đào tạođược nhiều nhân tài cho đất nước thì phải có các nhà giáo giỏi Muốn trò giỏithì thầy phải giỏi Giáo viên tốt thì ảnh hưởng tốt, giáo viên xấu thì ảnh hưởngxấu vì vậy ngành giáo dục - đào tạo phải coi việc xây dựng và phát triển độingũ giáo viên giỏi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình đổimới và phát triển giáo dục

Trong quá trình phát triển giáo dục đào tạo của đất nước, đội ngũ giáoviên ở các cấp học, ngành học tuy ngày càng lớn mạnh cả về số lượng, chấtlượng, hình thức đào tạo được thay đổi theo phương thức đa dạng hoá; quy

mô đào tạo ngày càng được mở rộng Nhưng so với yêu cầu phát triển thì độingũ giáo viên ở hầu hết các bậc học, ngành học còn thiếu và đặc biệt là thiếugiáo viên có trình độ cao và các chuyên gia đầu ngành về giáo dục

Lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp số lượng giáo viên có tăng nhưng khôngđáng kể Hiện nay ở các trường trung cấp chuyên nghiệp, trường dạy nghềgiáo viên trình độ chuyên môn còn thấp; một số trường đại học mới thành lậpđội ngũ giáo viên có trình độ đang rất thiếu Hệ thống giáo viên các trườngĐảng mang tính đặc thù riêng, ngoài vấn đề được đào tạo về chuyên môn,nghiệp vụ phải được đào tạo qua Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia

Hồ Chí Minh, cho nên đội ngũ chuyên gia giỏi ở các trường này còn thiếunhiều Người giáo viên ở các trường Chính trị phải là người có trình độchuyên môn cao, am hiểu về xã hội, có kiến thức thực tiễn Bên cạnh giảngdạy phần lý luận cho học viên, giáo viên phải có kinh nghiệm thực tiễn để liên

hệ truyền thụ cho học viên, để học viên nên có những kinh nghiệm giải quyết,

xử lý những vấn đề xảy ra ở cơ sở

Ta thấy rằng, giáo viên có một vị trí hết sức quan trọng trong việc đàotạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, đưa đất nước phát triển ngang tầm các cường quốc trên thế giới Chúng

ta phải "đi tắt, đón đầu" để đuổi kịp các nước tiên tiến Một trong những biệnpháp để phát triển giáo dục - đào tạo là xây dựng các biện pháp quản lý đểnâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên hệ thống trườngChính trị nói riêng

Trang 24

Tóm lại, cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viênTrường ĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội phải dựa trên định hướngchiến lược phát triển giáo dục đào tạo 2001 - 2010 và những năm tiếp theo;Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng và nâng caochất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; Nghị quyết Trungương 3 khoá VII về chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphoá hiện đại hóa đất nước; Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội

Trên đây là cơ sở lý luận của việc tìm các giải pháp quản lý nhằm nângcao chất lượng đội ngũ giáo viên Những giải pháp cụ thể còn được xác địnhqua cơ sở nghiên cứu thực trạng đội ngũ giáo viên

Trang 25

2.1.1 Đặc điểm lịch sử, vị trớ kinh tế - xó hội của Thủ đụ ảnh hưởng đến sự hỡnh thành, phỏt triển nguồn nhõn lực và đội ngũ cán bộ, công chức

Ngày 29/5/2008, Quốc hội nước Cộng hũa Xó hội chủ nghĩa Việt Nam

đó thụng qua nghị quyết mở rộng địa giới hành chớnh Thủ đụ Hà Nội, hợpnhất Tỉnh Hà Tõy, 4 huyện của Tỉnh Hũa Bỡnh và huyện Mờ Linh của TỉnhVĩnh Phỳc về Hà Nội Theo kết quả Tổng điều tra dõn số ngày 01/4/2009, dõn

số Hà Nội là 6.448.837 người và rộng 3.344,47 km2 Thủ đụ Hà Nội đó trởthành một trong 17 Thủ đụ cú diện tớch lớn nhất thế giới Thành phố Hà Nội

cú 29 đơn vị hành chớnh, bao gồm: 11 quận và 18 huyện với 577 xó, phường,thị trấn

Hà Nội là trung tõm kinh tế - chớnh trị - văn húa - khoa học kỹ thuật, làđầu mối giao lưu kinh tế của cả nước, là nơi hội tụ cỏc cơ quan lónh đạo củaĐảng, Nhà nước, cỏc tổ chức nghiờn cứu khoa học và đào tạo đầu đàn Hiệnnay, ở Hà Nội cú 79 trường đại học và cao đẳng, 34 trường trung học chuyờnnghiệp, 41 trường dạy nghề, 112 viện nghiờn cứu chuyờn ngành, ngoài ra cũn

cú cỏc tổ chức quốc tế, cỏc cụng ty nước ngoài hoạt động trong cỏc ngànhcụng nghiệp tiờn tiến, mũi nhọn Đõy chớnh là yếu tố ảnh hưởng lớn và trựctiếp đến chất lượng nguồn lao động, đến việc phõn bổ, sử dụng lao động trờnđịa bàn Hà Nội, tạo điều kiện cho Hà Nội cú cơ hội hoà nhập vào quỏ trỡnhphỏt triển năng động của cỏc nước trong khu vực và trở thành động lực phỏttriển của cả nước

Với vị trớ là Thủ đụ của cả nước, Hà Nội cú điều kiện thuận lợi tronggiao lưu và hợp tỏc quốc tế, nhanh chúng được tiếp cận với những thành tựukhoa học kỹ thuật và tinh hoa văn hoỏ của thế giới, đõy là cơ hội lớn chongười lao động Thủ đụ tiếp thu và bắt kịp với trỡnh độ quản lý và sử dụng cỏccụng nghệ hiện đại của thế giới

Trang 26

Hà Nội là vựng đất “địa linh nhõn kiệt”, trung tõm của đồng bằng Bắc

Bộ, với lịch sử ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ và giao thoa cỏc giỏ trị truyềnthống của dõn tộc Người dõn Hà Nội thanh lịch, cú truyền thống văn hoỏ lõuđời, cú nhiều ngành nghề truyền thống, tiếp thu nhanh nhạy cỏi mới, cú thểtạo ra những giỏ trị kinh tế và văn hoỏ, tinh thần cao Điều này ảnh hưởng tớchcực đến chất lượng nguồn nhõn lực của Thủ đụ

Quy mụ và tốc độ tăng nguồn nhõn lực phụ thuộc vào quy mụ và tốc độtăng dõn số Trong thời gian qua, dõn số Hà Nội vẫn tăng lờn nhưng tăngchậm hơn mức tăng dõn số của cả nước Do mức sinh giảm, tỷ lệ số ngườitrong độ tuổi lao động so với tổng số dõn đang cú xu hướng tăng lờn

Tốc độ đụ thị hoỏ ngày càng tăng, từ 4 quận nội thành cũ nay đó phỏttriển thành 11 quận, yếu tố này đó làm ảnh hưởng đến cơ cấu ngành nghề laođộng ở Thủ đụ Nhịp độ tăng trưởng GDP trong thời kỳ 1991 - 1995 là12,5%; 1996 - 1998 là 11,6% GDP đầu người đạt 660 USD (1998), nhịp độtăng trưởng 5%/ năm Trong gần 10 năm qua ( từ năm 2000 -2008), cơ cấukinh tế của thành phố cú nhiều chuyển biến rừ rệt theo xu hướng tiến bộ,trong đú tỷ trọng cỏc ngành cụng nghiệp, cỏc ngành thương mại, dịch vụ tăngnhanh, cũn tỷ trọng nụng - lõm - ngư nghiệp thỡ giảm tương đối Vấn đề này

sẽ làm thay đổi nhiều về cơ cấu sử dụng nguồn nhõn lực của Thủ đụ

Việc mở rộng địa giới hành chớnh của Thành phố cũng cú tỏc độngkhụng nhỏ đến sự biến động về quy mụ và cơ cấu của nguồn nhõn lực, cơ cấu

đội ngũ cán bộ, công chức Hà Nội Toàn bộ tỉnh Hà Tõy và một số huyện, xócủa cỏc tỉnh Vĩnh Phỳc, Hoà Bỡnh được sỏp nhập vào Hà Nội đó làm tăngthờm quy mụ dõn số, nguồn nhõn lực cũng như làm thay đổi cơ cấu dõn số vànguồn nhõn lực Thủ đụ

Bờn cạnh những tỏc động tớch cực, sự phỏt triển nguồn nhõn lực của HàNội cũn gặp nhiều khú khăn do ảnh hưởng nặng nề của cơ chế cũ quan liờu,bao cấp kộo dài nhiều năm, do sự phỏt triển đụ thị khụng đồng bộ, nhất là cơ

sở hạ tầng, do cơ cấu kinh tế chưa thật hợp lý (nhất là cơ cấu trong nội bộngành và nhúm ngành, cơ cấu vựng và cơ cấu thành phần kinh tế), tớnh chất tựphỏt trong quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế thị trường, do quy mụ và tốc độ nguồnlao động tăng nhanh, lại thiếu những chớnh sỏch biện phỏp tổng thể cú tớnhchất chiến lược của Nhà nước trong việc sử dụng lao động ở Thủ đụ

Trước những thuận lợi và khú khăn đú, Thành phố Hà Nội quyết tõmphỏt huy những mặt tớch cực, khắc phục những khú khăn, hạn chế, đẩy mạnhcụng cuộc đổi mới, tiến hành cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ, phỏt triển Thủ đụ

Trang 27

toàn diện, vững chắc, góp phần cùng nhân dân cả nước phấn đấu xây dựng đấtnước đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp.

2.1.2 Mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2012

Pháp lệnh Thủ đô năm 2000 đã nêu rõ mục tiêu về xây dựng và phát

triển Thủ đô như sau: Xây dựng, phát triển Thủ đô xã hội chủ nghĩa giàu đẹp, văn minh, thanh lịch, hiện đại, tiêu biểu cho cả nước; Có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ, hiện đại, môi trường bền vững; Bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội: bảo vệ nhân dân

và bảo đảm tuyệt đối an toàn cho hoạt động của các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; Bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hoá truyền thống của Thủ đô ngàn năm văn hiến, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc: xây dựng con người Thủ đô văn minh, thanh lịch, tiêu biểu cho trí tuệ và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; thiết lập các cơ sở hàng đầu của đất nước về nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao; Phát triển kinh tế Thủ đô với tốc độ tăng trưởng cao, bền vững cơ cấu hợp lý; đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trong nước và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; Tập trung làm lành mạnh môi trường văn hoá - xã hội; ngăn chặn, đẩy lùi các tiêu cực và tệ nạn xã hội [29].

Trên cơ sở đó, Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XIV đã đưa

ra tầm nhìn của Thủ đô đến năm 2020 như sau: Năm 2020 Hà Nội phải trở thành một đô thị văn minh, hiện đại, thành phố du lịch hấp dẫn của khu vực; phát huy tốt vai trò là trung tâm lớn về văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước…Dịch vụ chất lượng cao và trình độ cao đóng vai trò trọng yếu trong nền kinh tế Thủ đô Hình thành mạng lưới công nghiệp áp dụng công nghệ cao và phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái GDP bình quân đầu người dự kiến trên 6000 USD, mức thu nhập của người dân tăng lên khoảng 3 lần so với hiện nay Hà Nội phấn đấu đi trước 5 năm, góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta

cơ bản trở thành nước công nghiệp [35].

Và Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XIV cũng đã xác địnhmục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2012

là: Thành phố phải chủ động, sáng tạo phát huy tiềm năng, nguồn lực đẩy

Trang 28

mạnh quỏ trỡnh cụng nghiệp húa, hiện đại húa, đụ thị húa và hội nhập kinh tế quốc tế; phỏt triển kinh tế - văn húa - xó hội toàn diện, bền vững; giữ vững an ninh chớnh trị, trật tự an toàn xó hội; đẩy nhanh tiến độ xõy dựng nền tảng vật chất và văn húa của Thủ đụ XHCN giàu đẹp, văn minh, hiện đại; nõng cao chất lượng cuộc sống của nhõn dõn; thực hiện vai trũ “đầu nóo chớnh trị

- hành chớnh quốc gia Trung tõm lớn về văn húa, khoa học, giỏo dục, kinh tế

và giỏo dục quốc tế của cả nước” [35].

2.1.3 Quan điểm về phỏt triển kinh tế của Thủ đụ Hà Nội

Đảm bảo kinh tế Thủ đụ cú nhịp độ tăng trưởng ổn định, vững chắctheo hướng ưu tiờn phỏt triển cỏc lĩnh vực sử dụng cụng nghệ cao, hiệu quảkinh tế lớn, ớt gõy ụ nhiễm mụi trường; giải quyết nhiều việc làm, giảm thấtnghiệp; đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại; nõng cao chất lượng hoạt độngdịch vụ: thương mại, tài chớnh, ngõn hàng, du lịch trở thành thế mạnh của nềnkinh tế Thủ đụ Phấn đấu đến năm 2012 tổng sản phẩm xó hội (GDP) của HàNội tăng 2,4 lần so với năm 2000, tốc độ tăng trưởng GDP bỡnh quõn hàngnăm là 11 - 12%

Phỏt triển mạnh lực lượng sản xuất, kết hợp chặt chẽ với xõy dựng quan

hệ sản xuất mới định hướng XHCN trờn cả ba mặt sở hữu, quản lý và phõnphối tạo ra sự phỏt triển đồng bộ, bền vững Đẩy mạnh cải cỏch khu vực kinh tếnhà nước Chỳ trọng đổi mới cơ cấu đầu tư Hỗ trợ đầu tư để hỡnh thành đồng

bộ cỏc loại thị trường: thị trường bất động sản, thị trường mua bỏn cụng nghệ,đặc biệt cụng nghệ phần mềm và cụng nghệ sinh học, Quan tõm đầu tư hạtầng kỹ thuật cho cỏc huyện ngoại thành, các vùng thuộc địa bàn mới sáp nhậpvào Hà Nội; phỏt triển cụng nghiệp, dịch vụ nụng thụn Đẩy mạnh thu hỳt đầu

tư nước ngoài; chủ động, tớch cực hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Trong những năm tới, Hà Nội cần phải cơ cấu lại nền kinh tế, đầu tưphỏt triển mạnh khoa học - cụng nghệ, giỏo dục; vỡ vậy trong khi tiếp tục duy

trỡ cơ cấu kinh tế Cụng nghiệp - Dịch vụ - Nụng nghiệp, chỳ trọng chuyển

dịch cơ cấu nội bộ ngành và cơ cấu sản phẩm, điều chỉnh, sắp xếp lại cụngnghiệp, nõng cao chất lượng dịch vụ (lĩnh vực dịch vụ hiện nay phõn tỏn,chưa đồng bộ, hiệu quả cũn thấp), tăng cường quan hệ chặt chẽ trong cơ cấuthống nhất của nền kinh tế, xõy dựng những ngành mũi nhọn, tạo tiền đề

chuyển dịch từng bước cơ cấu kinh tế theo hướng: Dịch vụ Cụng nghiệp Nụng nghiệp Đến năm 2012, phấn đấu cơ cấu kinh tế Thủ đụ sẽ là: Dịch vụ 56%, Cụng nghiệp 42%, Nụng nghiệp 2%.

Trang 29

-2.1.4 Chiến lược phỏt triển nguồn nhõn lực, phát triển đội ngũ cán

bộ, công chức của Thủ đô Hà Nội đến năm 2012.

2.1.4.1 Phỏt triển nguồn nhõn lực

Phỏt triển nguồn nhõn lực là tổng thể cỏc hỡnh thức, phương phỏp,chớnh sỏch và biện phỏp nhằm hoàn thiện và nõng cao chất lượng từng conngười lao động (trớ tuệ, thể chất và phẩm chất tõm lý - xó hội) đỏp ứng đũi hỏi

về nguồn nhõn lực cho sự phỏt triển kinh tế - xó hội trong từng giai đoạn phỏttriển

Cũng tương tự như trong cỏc thuật ngữ tăng trưởng và phỏt triển kinh

tế, phỏt triển nguồn nhõn lực gắn liền với sự hoàn thiện, nõng cao chất lượngnguồn nhõn lực, thể hiện ở việc nõng cao trỡnh độ giỏo dục quốc dõn, trỡnh độ

kỹ thuật, chuyờn mụn, sức khoẻ và thể lực cũng như ý thức hệ, đạo đức củangười lao động Cũn tăng trưởng nguồn nhõn lực gắn với việc tăng về sốlượng trong lực lượng lao động Phỏt triển nguồn nhõn lực cú vai trũ và ýnghĩa quyết định hơn so với sự tăng trưởng nguồn nhõn lực, nhất là trong bốicảnh dõn số, lao động và kinh tế như ở nước ta núi chung và Thủ đụ Hà Nộinúi riờng

Pháp lệnh Thủ đô năm 2000 đã chỉ rõ: “Phỏt triển đồng bộ hệ thống giỏo dục và đào tạo ở Thủ đụ với cơ sở vật chất hiện đại để Thủ đụ trở thành trung tõm đào tạo nhõn lực, bồi dưỡng nhõn tài cho đất nước, phấn đấu trở thành trung tõm đào tạo cú uy tớn ở khu vực và cú dõn trớ cao” [29] và Nhà

nước cú chớnh sỏch đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cỏn bộ quản lý, cỏn bộ khoahọc

Muốn phỏt triển nguồn nhõn lực đũi hỏi phải phỏt triển giỏo dục - đàotạo Về vấn đề này Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIV Đảng bộ Thành phố

Hà Nội cũng đó nờu rừ: “Giỏo dục - đào tạo phải đỏp ứng nhu cầu nguồn nhõnlực chất lượng cao cho phỏt triển kinh tế - xó hội Thủ đụ và cả nước, là nũngcốt để xõy dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, xõy dựng xó hội học tập

và tạo tiền đề phỏt triển kinh tế tri thức Tiếp tục đổi mới tư duy, nõng caonhận thức về giỏo dục - đào tạo, trước hết là đổi mới phương phỏp tổ chức,quản lý cỏc hoạt động giỏo dục - đào tạo, đổi mới phương thức dạy và học…Nõng cao chất lượng đội ngũ giỏo viờn, cỏn bộ quản lý giỏo dục…” [35]

Phỏt triển nguồn nhõn lực Thủ đụ đi đụi với hỡnh thành và phỏt triển thịtrường lao động phự hợp cơ chế thị trường, đỏp ứng được yờu cầu về mọi mặtcủa nền sản xuất dựa trờn kỹ thuật và cụng nghệ hiện đại Phõn bổ nguồn laođộng hợp lý theo lónh thổ, ngành nghề Núi cỏch khỏc, phỏt triển nguồn nhõn

Trang 30

lực phải đảm bảo kết hợp chặt chẽ với chương trình giải quyết việc làm để đạt

2 mục tiêu: nhân lực phục vụ cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa và giải quyếtviệc làm cho xã hội Tập trung các nguồn lực và khả năng giải quyết việc làmcho người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ thất nghiệp

2.1.4.2 Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức

Đi đôi với việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Đảng

bộ và nhân dân Thành phố Hà Nội cũng xác định phải tập trung xây dựngchính quyền trong sạch, vững mạnh Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng

hệ thống chính quyền các cấp, đặc biệt là chính quyền cấp cơ sở (xã, phường,thị trấn) Hiện đại hoá bộ máy hành chính, đổi mới công nghệ quản lý, tin họchoá quản lý nhà nước Phấn đấu đến năm 2012, Hà Nội là một trong nhữngđịa phương đi đầu trong xây dựng Chính phủ điện tử Xây dựng bộ máy chínhquyền các cấp thực sự của dân, do dân, vì dân Muốn vậy phải đẩy mạnh, tạođược chuyển biến mới về chất công tác cải cách hành chính, trong đó nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức được coi là vấn đề mấu chốt Đạihội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XIV xác định: tập trung xây dựng độingũ cán bộ, công chức theo hướng chuyên nghiệp, chính qui, đáp ứng yêu cầucủa quản lý nhà nước; đội ngũ cán bộ, công chức trọng dân, gần dân, hiểudân, học dân và có trách nhiệm với dân [35], với những nội dung chủ yếu sau:

- Xây dựng, hoàn thiện qui chế tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức:+ Rà soát xây dựng hệ thống chức danh, tiêu chuẩn cán bộ, công chứccác ngành, các cấp phù hợp với yêu cầu quản lý, sử dụng Trên cơ sở đó xâydựng qui hoạch, kế hoạch tuyền dụng, đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầuquản lý nhà nước trên địa bàn

+ Rà soát, xây dựng qui chế đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ,công chức bảo đảm quyền dân chủ của người được đánh giá, bổ nhiệm, miễnnhiệm; phát hiện, sử dụng, động viên những cán bộ, công chức thực sự cóđức, có tài tích cực làm việc và cống hiến

+ Tiếp tục rà soát, đưa ra khỏi bộ máy hành chính những cán bộ, côngchức không đủ trình độ, năng lực, yếu kém về phẩm chất đạo đức Đồng thờixây dựng cơ chế thu hút nhân tài, tài năng trẻ, chuyên gia giỏi bổ sung vào độingũ cán bộ, công chức, đặc biệt đối với những địa phương có nghiều khókhăn và cấp chính quyền cơ sở

+ Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp tục thực hiện thí điểmcông tác thanh tra công vụ; xây dựng qui chế xử lý người đứng đầu cơ quan,đơn vị và cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ

Trang 31

- Xây dựng nội dung và phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức:

+ Tiếp tục bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng làm việc, giao tiếp và kinhnghiệm ứng xử cho cán bộ, công chức chuyên trách tiếp nhận hồ sơ hànhchính

+ Rà soát, xây dựng, sửa đổi nội dung, chương trình bồi dưỡng đối vớicác đối tượng cán bộ, công chức thuộc Thành phố quản lý theo hướng tăngthời lượng đối với kiến thức pháp lý, chuyên môn, kỹ năng giao tiếp, ứng xử,đặc biệt là kỹ năng xử lý tình huống và thực thi công vụ

+ Tổ chức các chương trình nghiên cứu khảo sát thực tế, các diễn đàntrao đổi kinh nghiệm theo chuyên đề và theo từng đối tượng

+ Kết hợp việc cử cán bộ, công chức đi đào tạo cơ bản, tập trung, dàihạn ở nước ngoài theo qui chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục - Đào tạo với việcxây dựng các chương trình bồi dưỡng chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm ngắnngày tại một số nước cho công chức hành chính đang đảm nhận công tác thammưu cho các sở hoạch định chính sách cho Thành phố và các chức danhtrưởng, phó các phòng chuyên môn

+ Đổi mới phương pháp giảng dạy, lấy người học làm trung tâm, coitrọng xử lý tình huống

2.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.2.1 Đặc điểm Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố

Hà Nội

2.2.1.1 Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội

là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Thành uỷ và UBND Thành phố Hà Nội

Theo quy định hiện hành, Trường Chính trị Thành phố là đơn vị sựnghiệp trực thuộc Thành uỷ, UBND Thành phố, Trường Chính trị Thành phố

có vị trí như một Ban, ngành cấp Thành phố, thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ theo quy định và chịu sự chỉ đạo của các cơ quan Đảng, Nhà nước địaphương và Trung ương, Cụ thể là:

- Thành uỷ ra quyết định về tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ, giáo viên,các chế độ, chính sách đối với cán bộ, giáo viên và học viên của nhà trường,lãnh đạo, chỉ đạo nội dung, quy hoạch, kế hoạch đào tạo của nhà trường

- UBND Thành phố quản lý, hướng dẫn quy chế đào tạo, kế hoạch ngân

Trang 32

sách, kinh phí đào tạo hàng năm, kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết

bị và các nhu cầu khác của nhà trường

- Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì vàphối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng chươơng trình đào tạo, hướngdẫn, chỉ đạo, kiểm tra nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bồidưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên của nhà trường, hướng dẫn nội dung,phương pháp giảng dạy, quy chế đào tạo và công tác nghiên cứu khoa học củanhà trường

- Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Học việnChính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và các Ban ngành liên quanhướng dẫn về tổ chức bộ máy, biên chế, đối tượng đào tạo, kế hoạch đào tạo,bồi dưỡng cán bộ

2.2.1.2 Đặc điểm về đối tượng đào tạo ở Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội

Khác với các trường học trong hệ thống giáo dục quốc dân, TrườngChính trị là nơi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, các cơ quan Đảng và chochính quyền các cấp xã, phường, thị trấn; cán bộ, chuyên viên các phòng, bancấp quận, huyện, thị xã và cán bộ chuyên viên phòng, ban cấp thành phố Đặcđiểm nổi bật của đối tượng được đào tạo và bồi dưỡng tại Trường Chính trị lànhững người đã lớn tuổi, đang tham gia quản lý một lĩnh vực nhất định ở địaphương, có kinh nghiệm thực tế Nhiều cán bộ đã được đào tạo nghề nghiệpchuyên môn nhất định, nhất là đội ngũ cán bộ cấp quận, huyện, cấp thànhphố, họ là những người đang hàng ngày thực hiện các chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước, đơn vị, địa phương Tuy vậy, về mặt lý luận cơ bản,nhất là những vấn đề lý luận mới thì đội ngũ cán bộ này cần phải được tiếptục đào tạo, bồi dưỡng một cách có hệ thống hơn

2.2.1.3 Đặc điểm về tổ chức lớp học

Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội là Trungtâm đào tạo cán bộ lớn nhất của Thành phố Đối tượng học tập do Trường đàotạo có thể chia ra các loại hình tổ chức lớp như sau:

- Các lớp trung cấp lý luận chính trị tập trung: Đây là loại hình đào tạo

cơ bản nhất trong kế hoạch đào tạo hàng năm của nhà trường Bình quân mỗilớp học từ 40 đến 50 học viên Độ tuổi trung bình dưới 40 tuổi Trình độ vănhoá của học viên chủ yếu tốt nghiệp THPT Đại bộ phận học viên thuộc cáclớp này đang là cán bộ nguồn, hoặc giữ chức vụ cấp phó các ban ngành cấp

xã, phường như: Phó Bí thư Đoàn thanh niên, Phó Bí thư Chi bộ, Chủ tịch,

Trang 33

Phó Chủ tịch, Hội phụ nữ loại hình lớp tập trung được đào tạo trong thờigian 12 tháng Cuối khoá học học viên được viết tiểu luận tốt nghiệp So vớicác loại hình đào tạo khác, các lớp TCLLCT đào tạo tập trung có chất lượngtốt hơn, nguyên nhân là do: Học viên có chế độ ăn nghỉ tại trường trong suốtkhoá học, điều kiện cơ sở vật chất, tài liệu học tập đầy đủ Mỗi học viên đượctrợ cấp ăn trưa 25000 đồng / ngày Công tác kiểm tra quy trình giảng dạy vàhọc tập cũng được tiến hành thường xuyên theo quy định của nhà trường.Ngoài việc học tập chính khóa, học viên các lớp tập trung còn được tham giacác hoạt động khác do đoàn thể trong trường chủ trì như: Nghe thời sự trongnước, quốc tế, tham gia các cuộc thi tìm hiểu về chủ trương của Đảng, phápluật của Nhà nước,

- Các lớp trung cấp lý luận chính trị tại chức học tại trường: Loại hìnhnày thường chủ yếu mở cho các đối tượng là cán bộ cơ quan Ban ngành củaThành phố, các đơn vị lực lượng vũ trang trên địa bàn Đây là loại hình đàotạo tại chức, nhưng học viên không phải đóng học phí, kinh phí đào tạo nàyđược tính trong kế hoạch ngân sách cấp hàng năm cho nhà trươờng So vớicác đối tượng khác thì trình độ văn hóa của các lớp trung cấp lý luận chính trịtại chức cao hơn nhiều Số người có trình độ Cao đẳng, Đại học chiếm tỷ lệcao, thậm chí có người đạt đến trình độ Thạc sỹ, Tiến sĩ Học viên tham gialoại hình đào tạo này là những người có nghiệp vụ giỏi về quản lý Nhà nướctrên các lĩnh vực Do vậy việc giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho đối tượngnày đòi hỏi yêu cầu rất cao đối với ngơười dạy cả về tri thức, kinh nghiệm thuthập, xử lý thông tin phương pháp giảng dạy

- Các lớp TCLLCT tại chức mở tại các trung tâm bồi dưỡng chính trịcác quận, huyện, thị xã Do nhu cầu đào tạo cán bộ đáp ứng thực hiện thắnglợi các mục tiêu và nhiệm vụ của Thành phố trong nhiều năm qua, cùng vớicác lớp TCLLCT tập trung và tại chức nói trên, Trường đã phối hợp với cácquận, huyện, thị uỷ và TTBDCT cấp quận, huyện, thị xã mở các lớp đào tạotại chức theo hình thức liên kết Toàn bộ nội dung, chương trình, giáo viên vàquản lý đều do Trường chính trị đảm nhận Các TTBDCT chịu trách nhiệm về

cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, nơi ăn nghỉ cho giáo viên và tham gia quản

lý lớp học Hình thức học mỗi tháng 1 kỳ, 1 kỳ học 10 ngày Loại hình lớpnày chủ yếu mở cho các đối tượng cán bộ cơ sở trên 40 tuổi hoặc một sốtrường hợp đặc biệt không có điều kiện đi học tập trung Học viên vừa thamgia học tập vừa đảm nhận công việc của mình ở địa phương, tuy có thuận lợinhưng cũng có những khó khăn do "vừa học,vừa làm"

Trang 34

- Ngoài các loại hình đào tạo nói trên, Trường Đào tạo cán bộ Lê HồngPhong Thành phố Hà Nội còn đảm nhận chức năng bồi dưỡng kiến thức quản

lý nhà nước chương trình chuyên viên cho đội ngũ cán bộ, chuyên viên cácban ngành Thành phố và quận, huyện Thời gian học tại chức 6 tháng / 1 lớp.Mỗi năm mở 5 - 6 lớp

Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, hàng năm Trường Đào tạo cán bộ

Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội phối hợp với các tổ chức đoàn thể mở cáclớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ,Hội Cựu Chiến binh, Đoàn thanh niên, Mặt trận Tổ quốc các loại hình lớpnày thường tổ chức từ 5 - 7 ngày Chương trình chuyên môn do các đoàn thểphụ trách

Ngoài ra trường còn mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng ngoài các đối tượng

đã nêu trên theo chỉ đạo của Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân Thành phố

Có thể khẳng định rằng, Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thànhphố Hà Nội là một Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quan trọng nhất củaThành phố Trong những năm qua, nhà trường đã có sự cố gắng lớn trong việcđào tạo cán bộ, đóng góp vào sự phát triển chung của Thủ đô Tuy vậy, so vớiyêu cầu nhiệm vụ đề ra, đặc biệt là trong giai đoạn này đến năm 2020, phấnđấu Thủ đô Hà Nội phải trở thành một đô thị văn minh, hiện đại, thành phố dulịch hấp dẫn của khu vực; phát huy tốt vai trò là trung tâm lớn về văn hóa,khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, kinh tế và giao dịch quốc tế của cảnước…dịch vụ chất lượng cao và trình độ cao đóng vai trò trọng yếu trongnền kinh tế Thủ đô; hình thành mạng lưới công nghiệp áp dụng công nghệ cao

và phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái thì yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho nhàtrường là rất lớn Vì vậy, trường cần phải được phát triển về số lượng và chấtlượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị

2.2.2 Quá trình thành lập, cơ cấu tổ chức của Trường Đào tạo cán

bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội

2.2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Trung ương Đảng và Chủ tịch

Hồ Chí Minh, nhân dân Hà Nội cùng với nhân dân cả nước đã thực hiện thànhcông cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủcộng hoà

Song, nền độc lập non trẻ vừa mới giành được lại đứng trước mưu đồxâm lược nước ta một lần nữa của Thực dân Pháp Trước tình hình đó, nhiệm

Trang 35

vụ của Đảng bộ Hà Nội, Đảng bộ các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây rất to lớn vànặng nề: vừa lãnh đạo nhân dân đấu tranh bảo vệ Đảng, Chính phủ, củng cốchính quyền địa phương, đồng thời phải tranh thủ, gấp rút xây dựng lực lượng

về mọi mặt đề sẵn sàng đối phó với địch

Chấp hành chủ trương của Trung ương, Hội nghị cán bộ Đảng bộ HàNội họp từ 16/3 đến 19/3/1949 đã đề ra nhiệm vụ “Tích cực chuẩn bị chiếntrường, tiến lên giải phóng Thủ đô” Tiếp theo, Hội nghị Ban chấp hành Đảng

bộ Hà Nội họp ngày 01/6/1949; 28/8/1949 và từ 08/11 đến 13/11/1949 đã đề

ra kế hoạch và nhiệm vụ cụ thể chương trình Tổng phản công của toàn Thành

Trước thực tiễn cách mạng có lợi cho đất nước và Hà Nội, nhu cầu cầnphải có nhiều cán bộ đáp ứng công cuộc kháng chiến chống thực dân Phápxâm lược; bảo vệ đảng, chính quyền và sự quan tâm đặc biệt của Đảng bộThành phố đối với công tác huấn luyện cán bộ, ngày 12/11/1949, Ban chấphành Đảng bộ Hà Nội đã Quyết định thành lập Trường Huấn luyện cán bộ,lấy tên là Trường Lê Hồng Phong - Trường chính trị duy nhất của Đảng bộ

Hà Nội nhằm tổ chức, quản lý, xây dựng kế hoạch Huấn luyện cán bộ, thốngnhất trong toàn Đảng bộ

Cùng vào thời gian này, Đảng bộ tỉnh Hà Đông, Sơn Tây cũng có đặcđiểm tương tự như Đảng bộ Hà Nội về công tác huấn luyện cán bộ Đó là,trước khi thành lập Trường, công tác huấn luyện cán bộ được Đảng bộ giaocho tiểu Ban Huấn học thuộc Ban Tuyên huấn Song, từ 11/1948 thực dânPháp đánh chiếm Sơn Tây, cán bộ, đảng viên phải tập trung cho nhiệm vụchiến đấu, củng cố, khôi phục phong trào trong vùng địch bị chiếm đóng Vìvậy, từ cuối năm 1948 đến tháng 6/1949, tiểu Ban Huấn học gần như không

mở được lớp, vì thiếu học sinh, có lớp phải giải tán do số các đồng chí dự quá

ít, vì thiếu giáo viên, đi lại khó khăn, lớp luôn bị vỡ vì chiến sự; có thời giancán bộ huấn luyện được phân công về tăng cường cho cơ sở

Như vậy, vào thời điểm năm 1949, Trường Lê Hồng Phong thuộc Đảng

bộ Hà Nội, Ban Huấn luyện thuộc Đảng bộ tỉnh Sơn Tây cùng được thànhlập, đáp ứng nhu cầu huấn luyện cán bộ phục vụ cho cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp, tiến tới giải phóng Thủ đô và các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây Đó

là các tổ chức tiền thân của Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thànhphố Hà Nội hiện nay

Kể từ ngày thành lập đến nay, hoạt động của Nhà trường đã trải quachặng đường lịch sử hơn nửa thế kỷ với nhiều sự kiện quan trọng, vừa hàohùng, quyết liệt, vừa đầy cam go, thử thách Có thể nói, lịch sử Trường Đào

Trang 36

tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội vừa là sản phẩm, vừa là bướcsong hành cùng với sự trưởng thành và phát triển của Đảng bộ Hà Nội, Đảng

bộ tỉnh Hà Đông, Sơn Tây Trường là địa chỉ tin cậy để thực hiện một trongnhững nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng: Công tác huấnluyện đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ - Nguồn vốn quý báu cho sự nghiệpcách mạng của Đảng

Từ năm 1949 đến tháng 8/2008, Trường có nhiều thay đổi về tên gọicũng như địa điểm nơi Trường đóng

Thực hiện Nghị quyết 15/NQ/2008/QH12, kỳ họp thứ ba, Quốc hộikhoá XII về việc điều chỉnh địa giới hành chính Thành phố Hà Nội và một sốtỉnh có liên quan Ngày 02/8/2008, Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội đãban hành Quyết định số 48/QĐ-UBND về việc thành lập Trường Đào tạo cán

bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội trên cơ sở hợp nhất Trường Chính trịtỉnh Hà Tây và Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Hà Nội (cũ)

Ngày 24/9/2008, Ban Thường vụ Thành uỷ đã ban hành Quyết định184-QĐ/TU thành lập Đảng bộ Trường ĐTCB Lê Hồng Phong trực thuộcThành uỷ Hà Nội trên cơ sở hợp nhất Đảng bộ Trường ĐTCB Lê Hồng Phong

Hà Nội (cũ) và Đảng bộ Trường Chính trị Tỉnh Hà Tây

Căn cứ các quyết định trên, Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường đãnhanh chóng kiện toàn, ổn định bộ máy Đảng, chính quyền và các đoàn thể,quy định chức năng nhiệm vụ cho các khoa, phòng, trung tâm; bổ sung, xâydựng các quy chế mới để sớm đưa Trường mới vào hoạt động

Nhà trường đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thửthách để xây dựng và phát triển Ghi nhận công lao và thành tích của các thế

hệ cán bộ, viên chức Nhà trường, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng Huânchương độc lập Hạng ba, nhiều Bằng khen của Chính phủ, Thành uỷ, Uỷ bannhân dân thành phố và các danh hiệu cao quý khác tặng cho tập thể và cánhân Năm 2009, nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập, Nhà trường đượcChính phủ tặng Bằng khen, Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố tặng bứcTrướng mang dòng chữ: “Đoàn kết, thi đua giảng dạy, lao động, học tập, sángtạo hiệu quả vì sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô” Những phầnthưởng cao quý đó một lần nữa khẳng định sự kiên trì phấn đấu của tập thểcán bộ, viên chức Nhà trường để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; tựkhẳng định mình trong sự trưởng thành, phát triển đồng thời phản ánh nhữngthành tựu và đóng góp chính của Nhà trường là:

- Trong mọi hoàn cảnh và điều kiện, dù khó khăn hay thuận lợi, thời

Trang 37

chiến hay thời bình đến công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước và Thủ

đô, Nhà trường luôn luôn coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, giảngviên, viên chức trung thành với mục tiêu, lý tưởng và đường lối đổi mới doĐảng khởi xướng và lãnh đạo; thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, nâng cao,phẩm chất, năng lực và trình độ của người cán bộ Trường chính trị, yêungành, yêu nghề, chuyên tâm chăm lo cho công tác giảng dạy, phục vụ vàquản lý, thực hiện có hiệu quả mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Từnhững trường Huấn luyện đầu tiên của Đảng bộ Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tâyđến Trường ĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội ngày nay, đã mở được2.472 lớp với 217.419 lượt học viên Lớp lớp các thế hệ cán bộ, đảng viên saukhi được huấn luyện, đào tạo đã trở thành lực lượng lãnh đạo nòng cốt, toả đikhắp nơi cùng với nhân dân cả nước tổ chức thắng lợi cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược; khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá; đánhbại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ, xây dựng chủnghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, củng cố hệthống chính trị, giữ vững an ninh chính trị trên địa bàn, góp phần xứng đángvào sự nghiệp cách mạng của Thủ đô và cả nước

- Cùng với các cơ quan làm công tác tư tưởng, lý luận của Đảng bộThành phố, Đảng bộ tỉnh Hà Tây, Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong HàNội (cũ), Trường Chính trị Tỉnh Hà Tây đã trở thành một trong những trungtâm đào tạo, góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giáo dục Chủ nghĩaMác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trên địabàn Trước những diễn biến phức tạp của tình hình trên thế giới và trongnước, Nhà trường luôn là nơi chủ động giúp cán bộ, đảng viên có được địnhhướng tư tưởng đúng đắn, kịp thời chống lại những luận điệu tuyên truyền saitrái, góp phần quan trọng vào sự thống nhất tư tưởng và hành động, bảo vệ sựtrong sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Nhà trường đã góp phần quantrọng vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ trong hệ thốngchính trị ở cơ sở Trong nhiều năm qua, ngoài những chương trình do Họcviện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trungương ban hành Nhà trường đã tập trung nghiên cứu nhằm đổi mới nộidung, chương trình, xây dựng nhiều chương trình mới, như: chương trình Đàotạo giám đốc các doanh nghiệp; đào tạo Công chức nguồn; đào tạo cán bộ

Trang 38

nguồn Tuyên giáo; bồi dưỡng Kỹ năng quản lý nhà nước cho trưởng, phóphòng quận huyện, sở ngành; bồi dưỡng Kỹ năng cho đại biểu Hội đồng nhândân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã tham mưu cho Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân Thành phố kết hợp các chươngtrình đào tạo lý luận chính trị và chuyên môn cho Trưởng công an và Chỉ huytrưởng quân sự cấp xã đảm bảo cho người học tránh phải đào tạo bồi dưỡngnhiều lần và có điều kiện phấn đấu trưởng thành nhằm phù hợp với từng chứcdanh cán bộ, bám sát nhiệm vụ chính trị và thực tiễn của Thủ đô, khắc phục

sự trùng lặp, chồng chéo về nội dung Với phương châm “Học đi đôi vớihành”, “Lý luận gắn liền với thực tiễn”, “Làm gì, học nấy”, “Cần gì, họcnấy”, Nhà trường đã giúp cho học viên sau khi tốt nghiệp các khoá đào tạohoặc các lớp bồi dưỡng trở về địa phương, cơ sở phát huy được kiến thức đãhọc ở Trường, làm tốt công việc cụ thể của mình; biết xác định chức năng,nhiệm vụ của từng tổ chức, mối quan hệ giữa các tổ chức và của từng chứcdanh cán bộ trong hệ thống chính trị góp phần khắc phục tính bao biện, làmthay hoặc lúng túng trong lãnh đạo quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ lãnhđạo, quản lý ở địa phương, cơ sở

- Nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế luôn được xác định là nhiệm

vụ quan trọng trong hoạt động giảng dạy, học tập góp phần trực tiếp nâng caochất lượng giảng dạy, quản lý và phục vụ trong Nhà trường Do vậy, hàngnăm khi xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, Đảng uỷ, Ban giám hiệu đặcbiệt quan tâm, chỉ đạo, định hướng công tác nghiên cứu khoa học tập trunggiải quyết những vấn đề bức xúc của Thành phố và thực tiễn hoạt động giảngdạy, học tập trong Nhà trường Do xác định đúng hướng, nên kết quả nghiêncứu của các đề tài khoa học đã nhanh chóng được ứng dụng cụ thể vào thực tếgiảng dạy, phục vụ giảng dạy góp phần xây dựng những nội dung chươngtrình mới và định hướng những đề tài tiểu luận tốt nghiệp cho học viên cáckhoá đào tạo Nhiều đề tài khoa học đã giúp cho đội ngũ giảng viên có điềukiện thâm nhập thực tế sôi động ở cơ sở, qua đó hiểu được những thuận lợi vàkhó khăn, những thành công và những vướng mắc, những tình huống cần phảigiải quyết cụ thể, thấy được sự sáng tạo, năng động của cán bộ, đảng viên vànhân dân trong cuộc sống Chỉ tính riêng từ năm 2000 trở lại đây, Nhà trường

đã thực hiện 8 đề tài khoa học cấp Thành phố, 87 đề tài cấp trường và hàngchục các cuộc hội thảo, toạ đàm nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, quản

lý, phục vụ Nghiên cứu thực tế cấp trường, khoa, nghiên cứu thực tế biệt pháicủa giảng viên được Nhà trường quan tâm, tạo điều kiện để cán bộ, giảng viên

Trang 39

bám sát cơ sở, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, quản lý, xử lý các tình huống,các điểm nóng về chính trị - xã hội Chính kết quả của công tác nghiên cứukhoa học, nghiên cứu thực tế đã giúp cho đội ngũ giảng viên dù còn trẻ cả vềtuổi đời lẫn thâm niên công tác nhưng đã nhanh chóng trưởng thành, tự tin,chững trạc khi lên lớp do bài giảng đã gắn với hiện thực sinh động, có sứcthuyết phục đối với học viên.

- Cùng với quá trình đổi mới của Thủ đô, Nhà trường đã tích cực mởrộng công tác đối ngoại, tăng cường uy tín và quảng bá hình ảnh của mình,tạo điều kiện cho sự hiểu biết gắn bó giữa Trường với các cơ sở, các địaphương, giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ Trong nhiều năm, Nhà trườngkhông chỉ bó hẹp việc giảng dạy và phục vụ giảng dạy tại Trường mà đã mởrộng hợp tác đào tạo, bồi dưỡng với nhiều cơ sở đào tạo trên địa bàn Hà Nội,một số tỉnh, thành phố và tham gia kết nghĩa, hợp tác với Trường Chính trị -Hành chính Thủ đô Viêng Chăn (Nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào).Nhiều bộ, ban, ngành của Trung ương đã chủ động đến với Trường để phốihợp đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ của mình Nhiều quận, huyện,thị

xã, sở, ngành của Thành phố đã có quan hệ mở lớp với Trường trong nhiềunăm, trở thành đối tác tin cậy, cùng chung sức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ cơ sở Những năm gần đây, Thành phố quan tâm, tạo điều kiện cho cán bộNhà trường tham quan học hỏi, trao đổi với một số Trường, Học viện, tổ chứcđào tạo của một số nước bạn có nền hành chính, công vụ tiên tiến, đi trướcnhư Australia, Singapore, Malaysia, Trung Quốc qua đó giúp cán bộ Nhàtrường học hỏi thêm được những kinh nghiệm quản lý tiên tiến, kinh nghiệmxây dựng nội dung, chương trình để có thể áp dụng vào công việc cụ thể trướcmắt cũng như lâu dài

2.2.2.2 Cơ cấu tổ chức của nhà trường

Theo Quyết định số 88-QĐ/TW ngày 5/9/1994 của Ban Chấp hànhTrung ương Đảng về việc thành lập Trường Chính trị cấp tỉnh, thành phố trựcthuộc TW và Hướng dẫn số 07-TC/TW ngày 28/7/1995 của Ban Tổ chứcTrung ương Đảng về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định số 88-QĐ/TWngày 5/9/1994, Quyết định số 48/QĐ-UB ngày 02/8/2008 của UBND Thànhphố Hà Nội về việc thành lập Trường ĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố HàNội trên cơ sở hợp nhất Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong ( cũ ) vớiTrường chính trị Tỉnh Hà Tây, Trường ĐTCB Lê Hồng Phong Thành phố HàNội là đơn vị sự nghiệp, trực thuộc Thành uỷ và UBND Thành phố, có vị trí

Trang 40

như một ban ngành cấp Thành phố Tính đến ngày 30/4/2010, Trường đã có

cơ cấu tổ chức bộ máy như sau:

* Ban Giám hiệu: 05 người

- Có 01 hiệu trưởng phụ trách chung

- 01 phó hiệu trưởng phụ trách công tác đào tạo

- 01 phó hiệu trưởng phụ trách công tác bồi dưỡng

- 01 phó hiệu trưởng phụ trách công tác nghiên cứu khoa học

- 01 phó hiệu trưởng phụ trách công tác tổ chức - hành chính

* Trường thành lập 05 khoa, 3 phòng, 2 trung tâm:

- 5 Khoa gồm: + Khoa lý luận cơ sở

+ Khoa Công tác Đảng + Khoa Dân vận

+ Khoa Nhà nước - Pháp luật

+ Khoa Kinh tế

- 3 Phòng gồm: + Phòng Đào tạo

+ Phòng Tổ chức - Hành chính + Phòng Quản lý khoa học - Tư liệu thư viện

- 2 Trung tâm gồm: + Trung tâm ĐTBD Tin học - Ngoại ngữ

+ Trung tâm Tin học VIESPA

( Chi tiết xem tại Sơ đồ 2.1 - Trang 1 Phụ lục )

* Chức năng, nhiệm vụ của các khoa và trung tâm như sau:

- Khoa Lý luận cơ sở:

Chịu trách nhiệm giảng dạy các môn: Triết học Mác - Lênin, Chủ nghĩa

xã hội khoa học, Chính trị học, Văn hoá - Xã hội, Quản lý Nhà nước về Vănhoá - Xã hội, Y tế, Giáo dục

- Khoa Dân vận:

Chịu trách nhiệm giảng dạy các môn : Công tác dân vận, Tâm lý tronghoạt động lãnh đạo quản lý, Hà Nội học

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Dự kiến quy hoạch số lượng giáo viên được cử đi đào tạo - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường đào tạo cán bộ lê hồng phong thành phố hà nội
Bảng 3.1 Dự kiến quy hoạch số lượng giáo viên được cử đi đào tạo (Trang 64)
Sơ đồ 3.1: Các yếu tố để phân công giáo viên - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường đào tạo cán bộ lê hồng phong thành phố hà nội
Sơ đồ 3.1 Các yếu tố để phân công giáo viên (Trang 68)
Sơ đồ 3.2. Quy trình tuyển chọn giáo viên - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường đào tạo cán bộ lê hồng phong thành phố hà nội
Sơ đồ 3.2. Quy trình tuyển chọn giáo viên (Trang 70)
Sơ đồ 3.3. Nội dung đánh giá - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường đào tạo cán bộ lê hồng phong thành phố hà nội
Sơ đồ 3.3. Nội dung đánh giá (Trang 74)
Sơ đồ 3.4: Mối quan hệ giữa các giải pháp - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường đào tạo cán bộ lê hồng phong thành phố hà nội
Sơ đồ 3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp (Trang 83)
Bảng 3.2:  Kết quả hỏi ý kiến về tính cần thiết của các giải pháp - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường đào tạo cán bộ lê hồng phong thành phố hà nội
Bảng 3.2 Kết quả hỏi ý kiến về tính cần thiết của các giải pháp (Trang 89)
Bảng 3.3: Kết quả hỏi ý kiến về tính khả thi của các giải pháp - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường đào tạo cán bộ lê hồng phong thành phố hà nội
Bảng 3.3 Kết quả hỏi ý kiến về tính khả thi của các giải pháp (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w