để tìm ra những biện pháp quản lý hoạt động dạy học có hiệu quả luôn là mộtvấn đề cần thiết và được nhiều người quan tâm đặc biệt là những người làmcông tác quản lý giáo dục.Giáo dục Âm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN SINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN ÂM NHẠC Ở TRƯỜNG
CAO ĐẲNG SƯ PHẠM BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ : 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN XUÂN MAI
VINH - 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành của mình, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắctới Trường Đại học Vinh, Khoa sau Đại học của nhà trường và các Thầy, Côgiáo đã tham gia giảng dạy, tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, cung cấp những kiên thức,
kĩ năng cơ bản, giúp tác giả hoàn thành khoá học và luận văn tốt nghiệp
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường CĐSP Bắc Ninh,Trường CĐSP Bắc Giang , các cán bộ quản lý và cán bộ giảng dạy của nhàtrường, của khoa đã tạo điều kiện, giúp đỡ tận tình tác giả trong quá trình họctập và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Xuân Mai,người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, động viên tác giả hoànthành tốt luận văn khoa học này
Do điều kiện thời gian và phạm vi nghiên cứu có hạn, luận văn khôngtránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự chỉ dẫn , đóng góp của các Thầy, Côgiáo và các bạn đồng nghiệp
Vinh, tháng 10 năm 2010
Tác giả
Trang 3MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong mỗi thời kì lịch sử, nền giáo dục Việt Nam đã có những đóng góp
to lớn vào sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.Đảng và nhà nước ta đã xác định : Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Cùng với khoa học và công nghệ,giáo dục và đào tạo được coi là nền tảng, là động lực để thực hiện công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước Cho nên quan điểm mới về phát triển nguồn lực conngười trong đó có vấn đề giáo dục không phải là vấn đề xa lạ, mục tiêu chiếnlược phát triển đất nước là vì con người, vì hạnh phúc của tất cả mọi người
Đại hội lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêutổng quát của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001- 2010 là:
"Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đờisống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá Conđường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thờigian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bướcnhảy vọt…"
Để đạt được mục tiêu trên, giáo dục và khoa học - công nghệ có vai tròquyết định, nhu cầu phát triển giáo dục là rất bức thiết Sau 15 năm đổi mới,giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, với phương châm
đa dạng hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá, xây dựng một nền giáo dục thực tiễn vàhiệu quả, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, đưa nền giáo dục nước
ta theo kịp những nước phát triển trong khu vực, nâng cao dân trí, đào tạo nhânlực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục tiêu của chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 [7; 8]
Trang 4Đại hội lần thứ X của Đảng cũng vẫn đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực,
để thực hiện được nhiệm vụ này ngành giáo dục và đào tạo cần có sự nghiêncứu, tìm tòi thiết kế nội dung, chương trình đổi mới phương pháp, có quan điểmchỉ đạo cụ thể trong quá trình dạy học Hoạt động dạy học là hoạt động chính,chủ yếu trong nhà trường, quyết định trực tiếp tới nguồn nhân lực Chất lượnggiáo dục và đào tạo vừa là mục tiêu số một, vừa là động lực thúc đẩy sự nghiệpgiáo dục và đào tạo phát triển; đồng thời là điều kiện cơ bản bảo đảm cho nhữngcon người được đào tạo ra có đủ năng lực và phẩm chất thực hiện được nhữngnhiệm vụ xã hội, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển nền kinh tế - xãhội Vì vậy nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học là nhiệm vụthường xuyên, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình dạy học nói riêng và xuyênsuốt toàn bộ lịch sử phát triển của nhà trường và của hệ thống giáo dục nóichung
Trong nhà trường Cao đẳng và Đại học, đội ngũ giảng viên đóng vai tròquyết định chất lượng đào tạo Nếu không có đội ngũ giảng viên đủ về số lượng,mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu với trình độ chuyên môn cao, phẩm chấtđạo đức tốt, năng lực sư phạm giỏi thì không thể nâng cao chất lượng giáo dục,chất lượng dạy học
Đổi mới cách dạy, cách học, cách quản lí quá trình dạy học trong các nhàtrường là để nâng cao chất lượng dạy học, quản lý nhà trường trọng tâm vẫn làquản lý dạy học, hoạt động dạy học giữ vị trí quan trọng chi phối các hoạt độngkhác, mọi hoạt động trong nhà trường đều phải hỗ trợ đắc lực cho hoạt động dạyhọc Đây là hoạt động đặc trưng trong các nhà trường, bởi không có hoạt độngdạy học cũng đồng nghĩa là không có nhà trường và chất lượng của hoạt độngdạy học là thước đo về trình độ năng lực của người thầy nói chung và trình độnăng lực của người quản lý giáo dục nói riêng
Việc không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chấtđạo đức nghề nghiệp, đồng thời nắm bắt những thuận lợi, khó khăn của đơn vị
Trang 5để tìm ra những biện pháp quản lý hoạt động dạy học có hiệu quả luôn là mộtvấn đề cần thiết và được nhiều người quan tâm đặc biệt là những người làmcông tác quản lý giáo dục.
Giáo dục Âm nhạc là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đàotạo nhằm giúp con người phát triển cao về trí tuệ, trong sáng về đạo đức, phongphú về tinh thần , Giáo dục Âm nhạc trong nhà trường các cấp nhằm từng bướcnâng cao trình độ văn hoá âm nhạc của HS - SV góp phần phát triển sự nghiệpgiáo dục của đất nước, đáp ứng nhiệm vụ giao tiếp Âm nhạc của HS - SV ViệtNam và quốc tế Sự kết hợp giữa Âm nhạc với các mặt giáo dục khác "không chỉ
là một trong những phương tiện để nâng cao sản xuất xã hội mà còn là phươngthức duy nhất để đào tạo ra những con người phát triển toàn diện" (Mác và ĂngGhen tuyển tập 23; trang 495)
Trong những năm qua, công tác quản lý hoạt động dạy học nói chung vàcông tác quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP Bắc Ninh nóiriêng còn gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý đổi mới giáodục hiện nay Nhận thức rõ vấn đề này, là người quản lý trực tiếp hoạt động
chuyên môn của đơn vị thuộc khoa, tác giả chọn đề tài: “Một số giải pháp quản
lý nâng cao chất lượng dạy học môn Âm nhạc ở Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh " làm luận văn tốt nghiệp.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học môn Âm nhạc ở Trường Cao đẳngSư phạm Bắc Ninh
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động dạy học Âm nhạc ở Trường CĐSP Bắc Ninh
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 6Một số giải pháp quản lý dạy học môn Âm nhạc ở Trường CĐSP BắcNinh.
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Nếu các giải pháp quản lý dạy học môn Âm nhạc ở trường CĐSP BắcNinh do Tác giả đề xuất được đưa vào áp dụng trong nhà trường, sẽ góp phầnnâng cao chất lượng dạy học môn Âm nhạc trong điều kiện hiện nay
5 NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động bộ môn và quản lý dạy học môn Âmnhạc ở Trường cao đẳng sư phạm
5.1.2 Nghiên cứu thực trạng về hoạt động và quản lý dạy học môn Âmnhạc ở trường CĐSP Bắc Ninh
5.1.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý dạy học môn Âm nhạc ở trườngCĐSP Bắc Ninh
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học ở một trường sư phạm bao gồm nhiều bậc học,lĩnh vực đào tạo và hình thức đào tạo Song do thời gian nghiên cứu có hạn vàtrong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tiến hành tập trung nghiêncứu các giải pháp quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc của giảng viên ở trườngCĐSP Bắc Ninh
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài sử dụng các nhóm nghiên cứu chủ yếu sau:
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp điều tra viết
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
Trang 7- Phương pháp chuyên gia…
7 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN :
Đề tài “ Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giảng dạy môn Âm nhạc ở trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh ” đề xuất một số giải pháp khả thi
nhằm góp phần quản lý tốt hơn hoạt động dạy học Âm nhạc ở trường ,qua đónâng cao hiệu quả dạy học bộ môn của nhà trường nói riêng và công tác giáodục và đào tạo của nhà trường nói chung
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN :
Luận văn được cấu trúc như sau :
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Âm nhạc của trườngCĐSP Bắc Ninh
- Kết luận và kiến nghị
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Các phụ lục
Trang 8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Thực tế cho thấy hoạt động quản lý (QL) đã mang lại những lợi ích to lớntrong nhiều lĩnh vực của cuộc sống và làm cho xã hội phát triển Đã từ lâu nhiềunhà khoa học đã nghiên cứu về QL Từ phương Đông cho đến phương Tây đều
có những công trình nghiên cứu về QL Chẳng hạn như ở phương Đông cóKhổng Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử; Phương Tây có Xô-Crat, Platon v v
Theo Khổng Tử (551 - 479 TCN) thì “học nhi ưu tắc sỹ” tức học giỏi làmquan, nhưng việc học của ông là “để ứng dụng”, mà ứng dụng ở đây chủ yếu là
QL đất nước, QL quốc gia, điều này thể hiện rõ ở tư tưởng “chính sự” của ông
Do vậy Khổng Tử quan tâm và nghiên cứu việc QL quốc gia là lẽ tự nhiên.Trong tư tưởng QL của mình, Khổng Tử nhấn mạnh “đức trị”, nhấn mạnh “lấyluân lý đạo đức để giáo hoá nhân dân” Tư tưởng QL này về sau được nhiều nhàquản lý, lãnh đạo đất nước của nhiều thế hệ ứng dụng một cách có hiệu quả CònPlaton (427 - 347 tr.CN) thì cho rằng muốn cai trị nước phải biết đoàn kết dânlại, phải vì dân Ông cho rằng người đứng đầu một đất nước cần phải ham hiểubiết, thành thật, tự chủ, biết điều độ, ít tham vọng về vật chất và đặc biệt là cầnphải được giáo dục, đào tạo một cách kỹ lưỡng
Sau này nhiều công trình nghiên cứu với những tiếp cận khác nhau về QLgóp phần làm cho khoa học QL ngày càng hoàn thiện Ở Việt Nam, tư tưởng QLcũng đã xuất hiện từ lâu Các tư tưởng QL thay đổi theo từng thời kỳ Thời tiền
Lê tư tưởng QL hướng vào pháp trị; Thời nhà Lý hướng vào đức trị; Thời hậu
Lê hướng vào đức trị và pháp trị v v Đặc biệt sau ngày miền Nam hoàn toàngiải phóng, đất nước thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước Việt Nam cũng đã đưa ra và hoàn chỉnh một số văn bản luật về
Trang 9giáo dục như Luật Giáo dục 1998, Luật Giáo dục 2005, Chiến lược phát triểngiáo dục 2001 - 2010, v v nhằm đưa ra những đường lối, phương hướng chỉđạo, QL về giáo dục và phát triển giáo dục Trong đó đặc biệt là các chương,điều có nội dung liên quan đến QL giáo dục nước ta hiện nay: thời kỳ CNH, HĐHđất nước và hội nhập quốc tế
Vận dụng những thành tựu về khoa học QL nói chung, khoa học QL Giáodục cũng đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Gần đây ở Việt Nam đã cónhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, giảng viên của các học viện,các trường và khoa QL được viết dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, tài liệuphổ biến kinh nghiệm QL Các công trình nghiên cứu, giáo trình, bài giảng củamột số tác giả như: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Phạm Minh Hạc, VũNgọc Hải, Bùi Minh Hiền, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc,Nguyễn Cảnh Toàn v v đã nêu lên một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục(QLGD), kinh nghiệm QLGD từ thực tiễn giáo dục Việt Nam và quốc tế, đặc biệt
là những đổi mới giáo dục nước ta trong những năm đầu thế kỷ XXI
Quản lý hoạt động dạy học trong các nhà trường là một nội dung đượcnhiều người quan tâm, đặc biệt là các nhà quản lý giáo dục bởi đây là một nộidung trọng tâm của công tác quản lý trong nhà trường các cấp, và vì thế cũngđược rất nhiều nhà quản lý tiến hành nghiên cứu ở lĩnh vực này, song các hướngnghiên cứu chủ yếu của các đề tài là theo hướng quản lý hoạt động dạy học nóichung còn nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc trong nhàtrường CĐSP, đặc biệt là nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động dạy học Âmnhạc trong trường CĐSP Bắc Ninh thì chưa có tác giả nào đề cập tới
Việc quản lý hoạt động dạy học Âm nhạc trong nhà trường CĐSP ngoàinhững nét chung thì còn có một số nét riêng mang tính đặc thù; do vậy tác giảchọn đề tài nghiên cứu của mình theo hướng quản lý hoạt động dạy học bộ môn
Âm nhạc của giảng viên trường CĐSP Bắc Ninh, nhằm góp phần nâng cao chất
Trang 10lượng dạy học bộ môn, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương
và các vùng lân cận
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Trường học, trường CĐSP
Trường học: Theo từ điển Giáo dục học thì trường học được hiểu là "Cơ
sở tiến hành hoạt động giáo dục, đào tạo học sinh, sinh viên, người lớn tuổi về một hay nhiều lĩnh vực chuyên môn, khoa học " [440] Tùy theo nhiệm vụ cụ
thể, trình độ và phạm vi đào tạo, trường học được phân chia thành nhiều kiểu,nhiều loại và chỉ dùng một chữ TRƯỜNG kết hợp với các từ chỉ loại cụ thể như:trường phổ thông, trường đại học, trường bách khoa, trường sư phạm, trường bổtúc văn hóa v v Là một đơn vị giáo dục, mỗi trường học có Ban giám hiệu doHiệu trưởng đứng đầu, có các bộ phận hành chính, chuyên môn trực thuộc, có
cơ sở vật chất phục vụ và dạy học riêng, được đặt dưới sự quản lí của ngànhGiáo dục và Chính quyền nhân dân các cấp
Trường Cao đẳng: Theo từ điển Giáo dục học trường Cao đẳng là "Cơ
sở giáo dục thuộc bậc đại học đào tạo trình độ cao đẳng thực hiện trong 3 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp Sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo cao đẳng, thi tốt nghiệp đạt yêu cầu thì được hiệu trưởng cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng".
[436] Trường cao đẳng gồm có hai loại:
1 Cao đẳng đa ngành gồm các chuyên ngành trong một lĩnh vực như caođẳng sư phạm (toán, lí, hóa, sinh, văn, sử, địa vv), cao đẳng nghệ thuật (ca, múa,nhạc, họa, điêu khắc v v )
2 Cao đẳng chuyên ngành như cao đẳng y tế, cao đẳng maketing, caođẳng phòng cháy chữa cháy v v Trường Cao đẳng phải thực hiện đúng nhiệm
vụ và quyền hạn quy định trong Luật Giáo dục và Điều lệ nhà trường Trường
Trang 11Cao đẳng do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập, sáp nhập,chia, tách hoặc giải thể và đình chỉ hoạt động.
Trường Sư phạm: Theo từ điển Giáo dục học trường Cao đẳng là
"Trường sư phạm là cơ sở giáo dục, đào tạo giáo viên phổ thông cho các bậc tiểu học, trung học, giáo viên mẫu giáo cho các bậc học mầm non và giáo viên dạy nghề cho các trường kỹ thuật - nghề nghiệp "[442] Trường sư phạm có các
khoa đào tạo giáo viên từng môn như khoa Toán, khoa Lý, khoa Văn v v , hoặcliên môn như khoa toán-lí, khoa văn-sử, khoa hóa-sinh v v
Bên cạnh các môn học chung và các môn học chuyên ngành, sinh viên sưphạm đều được học các bộ môn nghiệp vụ sư phạm như tâm lý học, giáo dụchọc, phương pháp dạy- học bộ môn và có thời gian đi kiến tập, thực tập giảngdạy và các công tác chủ nhiệm tại các trường mẫu giáo, phổ thông và dạy nghềtương ứng Trường sư phạm rất chú trọng công tác giáo dục lòng yêu nghề, yêutrẻ cho sinh viên để về sau giáo sinh sẽ gắn bó suốt đời với sự nghiệp giáo dụcthế hệ trẻ Nhà nước ta coi giáo dục cùng khoa học – công nghệ là quốc sáchhàng đầu, nên đã tăng cường đầu tư hàng năm cho ngành sư phạm, đã cấp họcbổng toàn phần cho tất cả sinh viên sư phạm Sinh viên sư phạm phải cam kếtphục vụ trong ngành giáo dục một số năm quy định, nếu tự ý bỏ ngành bỏ nghềthì phải bồi hoàn kinh phí đào tạo cho Nhà nước
Như vậy, trường Cao đẳng Sư phạm được hiểu là: Cơ sở giáo dục, đàotạo giáo viên phổ thông trình độ cao đẳng cho các bậc tiểu học, trung học, giáoviên mẫu giáo cho các bậc học mầm non và giáo viên dạy nghề cho các trường
kỹ thuật - nghề nghiệp Thời gian đào tạo thực hiện trong 3 năm học đối vớingười có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung họcchuyên nghiệp Sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo cao đẳng, thi tốtnghiệp đạt yêu cầu thì được hiệu trưởng cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng
1.2.2 Dạy học
Trang 12Theo từ điển Giáo dục học [62 ] dạy học được hiểu là "một hoạt động diễn
ra trên hai tuyến song hành giữa người dạy và người học" Bởi vậy quá trình dạy
học chỉ đạt được hiểu quả cao khi có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa giáoviên và học sinh trên các khâu cơ bản nhất là mục tiêu, nội dung, phương pháp,hay nói một cách khác là khi có sự hợp tác ăn ý giữa người dạy và người học.Trong mối quan hệ này người dạy đóng vai trò định hướng, gợi mở, cung cấp,chỉ dẫn những điều cần thiết về mục tiêu, nội dung, phương pháp học tậpv.v phù hợp với người học, còn người học tự mình chủ động xá định, lựa chọnnhững điều được cung cấp sao cho phù hợp với năng lực, sở trường, điều kiệnriêng của mình để hoàn thành tốt nhất yêu cầu của chương trình qui định Dạyhọc còn là một quá trình hoạt động có điều khiển ít nhất ở hai cấp độ: Quản lý
và thực hiện Ở cấp độ quản lý có mối quan hệ điều khiển dọc giữa cấp trên (cơquan quản lý ) và cấp dưới (người thực hiện) dựa trên các tiêu chuẩn chất lượngcủa ngành Để đảm bảo dạy học đạt yêu cầu chất lượng thì người quản lý phảitạo đủ điều kiện cần thiết cho người thực hiện và phải theo dõi, kiểm tra, đánhgiá thường xuyên quá trình và kết quả việc dạy học Ở cấp độ thực hiện có mốiquan hệ điều khiển ngang giữa người dạy và người học trên cơ sở hợp tác bìnhđẳng cùng nhau đảm bảo chất lượng theo yêu cầu của ngành
1.2.3 Quản lý
1.2.2.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý là một nhân tố của sự phát triển xã hội Quản lý là hoạt động phổbiến diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người C.Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xãhội Ông viết: "Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay một lao động chung nàotiến hành trên một qui mô khá lớn đều yêu cầu có một sự chỉ đạo để điều hoàcác hoạt động cá nhân, sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức lànhững chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung cuả cơ thểsản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ
Trang 13thể sản xuất đó "Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dànnhạc thì cần phải có một nhạc trưởng" [20; 5]
Theo đại học bách khoa toàn thư Liên Xô, 1997, quản lý là chức năng củanhững hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kĩ thuật ) nóbảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động thực hiện nhữngchương trình, mục đích hoạt động [1; 5]
Theo tác giả Trần Kiểm, quản lý là những tác động của chủ thể quản lýtrong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối cácnguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực)một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [20;15]
Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn, quản lý là tác động có mục đích đến tổ chứcđến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quátrình lao động [33; 15]
Theo H.Kootz (người Mĩ), quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảmbảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổchức) mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người cóthể đạt được mục đích của nhóm với thời gian; tiền bạc, vật chất và sự bất mãn
cá nhân ít nhất [29; 12]
Có thể nói; khái niệm quản lý được định nghĩa bằng nhiều cách khácnhau, song đều có chung những dấu hiệu chủ yếu là: hoạt động quản lý đượctiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội, là những tác động có tínhhướng đích, phối hợp sự nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổchức
Tóm lại :Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.
Trang 14Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Quản lý mang tínhkhoa học vì các hoạt động của quản lý có tổ chức, có định hướng đều dựa trênnhững qui luật, những nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể, đồngthời quản lý mang tính nghệ thuật vì nó được vận dụng một cách linh hoạt vàsáng tạo vào những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt củacác yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội
1.2.2.2 Chức năng của quản lý
Có nhiều ý kiến khác nhau về chức năng của quản lý, song tựu trung lại
có 4 chức năng cơ bản của quản lý đó là: chức năng lập kế hoạch; chức năng tổchức; chức năng lãnh đạo và chức năng kiểm tra
- Chức năng lập kế hoạch: Là một chức năng, một khâu quan trọng nhất
trong hoạt động quản lý, lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêucần thiết cho sự phấn đấu của một tổ chức, chỉ ra các hoạt động, những biệnpháp cơ bản và các biện pháp cần thiết để thực hiện mục tiêu đó Kế hoạch lànền tảng của quản lý, là sự quyết định lựa chọn đường lối hành động của một tổchức và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổchức
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc
quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạtđược các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả ứng với những mục tiêu khácnhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau Nhờ tổ chức hiệu quả màngười quản lý có thể phối hợp điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồnlực khác Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được năng lực nội sinh
và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực
- Chức năng lãnh đạo: Là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của mình
tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấnđấu để đạt được mục tiêu của tổ chức Vai trò của người lãnh đạo là phải chuyển
Trang 15được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng mọi người trong
tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lý,
quản lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý Nhờ có hoạt độngkiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn, điều chỉnhkịp thời những hạn chế từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổchức, lãnh đạo
Sơ đồ 1.1 : Minh họa các chức năng quản lý
1.2.2.3 Quản lý giáo dục
Giáo dục và quản lý giáo dục là sự tồn tại song hành Nếu nói giáo dục làhiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nóinhư thế về quản lý giáo dục
Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm " quản lý giáo dục" có nhiều cấp độ ítnhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô
Đối vớí cấp vĩ mô
Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mụcđích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tất cả cácmóc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường)nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạothế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục
Kế hoạch
Chỉ đạo
Trang 16Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích củachủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sửdụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thốngđến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môitrường bên ngoài luôn luôn biến động.
Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thểquản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát… một cách cóhiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mụctiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Đối với cấp vi mô
Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức,
có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tậpthể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực
lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu
quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục thực chất là những tác động củachủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên vàhọc sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành vàphát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.[20; 37]
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động
dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hộichủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá giáo dục của Đảng vàbiến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước.[12; 9]
Như vậy dù theo tác giả nào thì khái niệm quản lý giáo dục cũng đều chứađựng các nhân tố đặc trưng bản chất như: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ởtầm vĩ mô là quản lý của nhà nước mà cơ quan quản lý trực tiếp là Bộ, Sở,
Trang 17Phòng giáo dục, còn ở tầm vi mô là quản lý của Hiệu trưởng nhà trường Phải có
hệ thống tác động quản lý theo nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từtrung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giaiđoạn cụ thể của xã hội, Phải có một lực lượng đông đảo của xã hội những ngườilàm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật tương ứng
Quản lý giáo dục có tính xã hội cao Bởi vậy, cần tập trung giải quyết tốtcác vấn đề xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng phục vụ chocông tác giáo dục Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của
quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lýquan trọng nhất
Vấn đề cơ bản của QLGD là quản lý nhà trường, nhà trường là một tổchức cơ sở giáo dục, trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ một cách toàndiện, tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Nó là tế bào của bất cứ hệ thống giáodục ở cấp nào
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: "Quản lý trường học là lao động của các
cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh vàcác lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục
để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường"[40;205]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý nhà trường là tập hợp nhữngtác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và những cán
bộ khác nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hộiđóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọihoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thựchiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạngthái mới"
Trang 18Bản chất của hoạt động quản lý trong nhà trường là quản lý hoạt động dạyhọc, tức là làm sao cho hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác đểdần dần tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo.
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quyluật chung của quản lý, đồng thời có những nét đặc thù riêng của nó Quản lýnhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chấthoạt động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáodục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủthể tự hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhâncách người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyệntheo yêu cầu của xã hội và được xã hội thưà nhận
Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và pháttriển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thànhcông hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới, nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhàtrường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường Vì vậy, muốn thựchiện có hiệu quả công tác giáo dục người quản lý phải xem xét đến những điềukiện đặc thù của nhà trường, phải chú trọng tới việc cải tiến công tác quản lýgiáo dục để quản lý có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường
Công tác quản lý trong nhà trường cao đẳng và đại học được thực hiệntheo 3 cấp độ quản lý đó là cấp trường, cấp khoa và cấp bộ môn (tương đươngvới cấp cao, cấp trung gian và cấp cơ sở)
Tóm lại: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh".[13; 61]
1.2.4 Chất lượng
Khái niệm về chất lượng hiện nay còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau.Thuật ngữ “chất lượng”phản ánh thuộc tính đặc trưng, giá trị, bản chất của sự
Trang 19vật và tạo nên sự khác biệt (về chất) giữa sự vật này và sự vật khác Theo quanđiểm triết học, chất lượng hay sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tíchluỹ về lượng (quá trình tích luỹ, biến đổi) tạo nên những bước nhảy vọt về chấtcủa sự vật và hiện tượng Trong lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, chất lượng sảnphẩm được đặc trưng bởi các yếu tố về nguyên vật liệu chế tạo, quy trình vàcông nghệ sản xuất, các đặc tính sử dụng kể cả về mẫu mã thị hiếu, mức độ đápứng nhu cầu người tiêu dung v.v… Các đặc tính chất lượng có thể được thể hiệntường minh qua các chỉ số kĩ thuật - mĩ thuật, mức tiêu thụ của sản phẩm trên thịtrường và có thể so sánh dễ dàng với các sản phẩm khác cùng loại có các giá trị,giá cả khác nhau.
Khái niệm về chất lượng được dung cho cả ý nghĩa chất lượng tương đối.Chất lượng tuyệt đối thường được dùng với ý nghĩa chất lượng hàng đầu, chấtlượng cao Chất lượng tuyệt đối dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta gáncho đồ vật, sản phẩm, dịch vụ …Theo quan niệm này thì một đồ vật, một sảnphẩm hay một dịch vụ… được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được nhữngthoả mãn của người tiêu thụ và các yêu cầu của người sản xuất đặt ra
- Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệtđối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản (Oxford PocketDictionary )
- Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bảncủa sự vật (sựviệc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác ( Từ điển Tiếng Việt thông dụng )
- Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãnnhu cầu người sử dụng ( Tiêu chuẩn Pháp NF X 50 – 109)
- Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đặc tính của một thực thể(đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu
đã nêu ra, hoặc nhu cầu tiềm ẩn ( Tiêu chuẩn Việt Nam ISO 8402)
Từ góc độ quản lí có thể quan niệm chất lượng là sự thực hiện được mục tiêu và thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
Trang 201.2.4.1 Chất lượng giáo dục
Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng với đặc trưng sản phẩm là “conngười lao động” có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình giáo dục và đượcthể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và gía trị sức lao động haynăng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu của từngngành đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân Với yêu cầu đáp ứng nhu cầunhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉdừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện bảođảm nhất định như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên v.v…, mà còn phải tínhđến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao độngnhư tỉ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc cụthể ở các doanh nghiệp, cơ quan, các tổ chức sản xuất - dịch vụ, khả năng pháttriển nghề nghiệp v.v…Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng chất lượng đào tạo trướchết phải là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghềnghiệp của người tốt nghiệp Quá trình thích ứng với thị trường lao động khôngchỉ phụ thuộc vào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác củathị trường như quan hệ cung - cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và
bố trícông việc của Nhà nước và người sử dụng lao động v.v…
Chất lượng nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng là những khái niệm cơ bản được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau.
Chất lượng giáo dục là sự phù hợpvới mục tiêu giáo dục, là chất lượngngười học được hình thành từ các hoạt động giáo dục theo những mục tiêu địnhtrước Sự phù hợp được thể hiện thông qua mục tiêu giáo dục, phù hợp với nhucầu người học với gia đinh, cộng đồng và với xã hội Chất lượng giáo dục đượcxác định theo:
* Chất lượng của môi trường học tập và đầu vào
- Chương trình, nội dung
- Giáo viên
Trang 21* Chất lượng của kết quả học tập
- Sự tiếp thu kiến thức
- Giá trị
- Thái độ
- Kĩ năng
1.2.4.2 Quản lý chất lượng GD
a Các mô hình quản lí chất lượng giáo dục.
- Lí thuyết khan hiếm: Chất lượng đồng nghĩa với sự khan hiếm, tinh hoa
và tuân theo quy luật hình chóp Chất lượng đào tạo chỉ có một số ít các cơ sở
đào tạo có uy tín, tuyển chọn khắt khe, có nguồn lực dồi dào; con phần lớn làkhông có chất lượng thực sự
- Lí thuyết giá trị gia tăng: (Austin 1985) Chất lượng được phản ánh
qua sự gia tăng ở người học kiến thức, kĩ năng và thái độ sau một quá trình đàotạo Các cơ sở đào tạo có chất lượng tập trung vào thực tiễn sự gia tăng này ởngười tốt nghiệp và được công chúng, xã hội thừa nhận.Các tiêu chí xác địnhđầu ra ( sản phẩm đào tạo) là những dấu hiệu quan trọng của chất lượng đào tạo
- Lí thuyết về sự phù hợp với sứ mệnh và mục tiêu: “Chất lượng là sự
phù hợp với những tuyên bố sứ mệnh và kết quả đạt được của mục tiêu trongphạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai” (Bogue và Saunder 1992).Theo lí thuyết này chất lượng không phải là sự khan hiếm mà có một phổ chấtlượng rộng rãi tương ứng với bối cảnh và điều kiện cụ thể của từng cơ sở đào
Trang 22tạo Chất lượng hiện hữu trong quá trình từng nhà trường xác đinh và tổ chứcthực hiện sử mệnh và mục tiêu của cơ sở đào tạo.
Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và đào tạo để đề ra hệ thống các tiêu chí đánhgiá và quản lí chất lượng Hiện nay trên thề giới tồn tại khá nhiều hệ thống cáctiêu chí kiểm soát, đánh giá và quản lí chất lượng giáo dục, với từng ngành nghề
cụ thể, hệ thống này thường gồm các tiêu chí sau:
- Phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp
- Trình độ kiến thức, kĩ năng chuyên môn
- Khả năng tương thích với thị trường lao động
- Năng lực hành nghề cả lí thuyết lẫn tay nghề
- Năng lực, sở truờng nghiên cứu và tiềm năng phát triển nghề nghiệp
- Sức khoẻ và tâm sinh lí
Căn cứ vào các tiêu chí chung về đánh giá chất lượng để có thể đưa ranhững mô hình tiêu chuẩn khác nhau cho từng ngành nghề hay từng cấp, bậchọc Theo tác giả Vương Nhất Bình ( chuyên gia giáo dục của UNESCO ) môhình về chuẩn chất lượng của sinh viên tốt nghiệp đại học gồm các thành tố sau:
- Đạo đức: trách nhiệm xã hội, các giá trị văn hoá - đạo đức như sự thôngcảm, sự khoan dung, tính trách nhiệm, ý thức công dân, ý thức xã hội v.v…
- Kiến thức: các cơ sở khoa học chung và chuyên ngành, tri thức côngnghệ và chuyên môn, các kiến thức lĩnh vực liên ngành v.v…
- Năng lực: khả năng thu nhập và đánh giá, lựa chọn và xử lí thông tin, giảiquyết vấn đề; năng lực phê phán và biện chứng; học thường xuyên, học suốt đờiv.v…
- Kĩ năng: sử dụng trang thiết bị đa năng, máy tính và các dụng cụ phươngtiệnđiện tử, lái xe v.v…
- Khả năng:về ngôn ngữ, giao tiệp, tư duy tích luỹ tri thứ, sự suy xét amhiểu các vấn đề liên ngành và toàn cầu v.v…
b Mô hình kiểm soát chất lượng giáo dục
Trang 23Đây là mô hình quản lí nhà nước truyền thống về chất lương giáo dục Nhànước với tư cách là tổ chức quyền lực – công cụ của giai cấp thống trị kiểm soátchất lượng giáo dục nhằm trước hết bảo đảm tính mục đích của các hoạt độnggiáo dục đáp ứng lợi ích của giai cấp thống trị, thể chế chính trị - xã hội,lợi íchquốc gia và của các tầng lớp xã hội đóng góp và hưởng thụ lợi ích của giáo dục.Mặt khác về khía cạnh đầu tư, nhà nước là người đầu tư lớn vào lĩnh vực giáodục Tỉ lệ đầu tư cho giáo dục từ ngân sách nhà nước ở các nước tuy khác nhaunhưng nhìn chung đều chiếm một tỉ lệ đáng kể trong ngân sách nhà nước Ngoài
ra còn có các nguồn đầu tư rất lớn từ các doanh nghiệp, người học qua học phí
và các khoảng đóng góp khác trong quá trình đào tạo ở các bậc học Dù ở góc độnào thì vai trò quản lí của Nhà nước mà mô hình kiểm soát chất lượng là chủyếu là rất quan trọng Trong kiểm soát chất lượng có hai loại hình hay kiều cơbản là:
- Mô hình kiểm soát đầu vào (input): thông qua chính sách phát triển giáodục đào tạo, hệ thống pháp luật, thanh tra giáo dục v.v… để kiểm soát đầu vào
từ quy mô đào tạo các bậc học qua các chỉ tiêu tuyển sinh, định mức kinh phíđào tạo; tỉ lệ chuyển cấp, chính sách phổ cập giáo dục v.v…cho đến các yêu cầu
về chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất v.v…Đây là mô hìnhđặc trưng của cơ chế quản lí tập trung, bao cấp của các nước XHCN cũ và một
số nước châu Âu hiện nay
- Mô hình kiểm soát đầu ra (Output) là mô hình hướng trọng tâm quản lí,kiểm soát vào kết quả đảo tạo thông qua chính sách sử dụng, đánh giá, kiểm soátchặt chẽ thi cử, tốt nghiệp, văn bằng chứng chỉ quốc gia Ví dụ như việc tổ chứccác kì thi quốc gia đánh giá chất lượng tốt nghiệp các cấp và khảo sát tình hình
về việc làm sau tốt nghiệp; sát hạch cấp bằng theo các quy định chặt chẽ về trình
độ kiến thức, kĩ năng; không quan tâm nhiều đến người học ở đâu và học khinào
- Mô hình quản lí chất lượng giáo dục theo ISO 9000 - 2000
Trang 24Những năm cuối của thế kỉ XX, các nhà quản lí giáo dục để tâm đến tiêu chuẩn
BS 5750 của nước Anh và tương đương với tiêu chuẩn này là ISO 9000
- Mô hình quản lí chất lượng giáo dục tổng thể (TQM)
Đây là mô hình quản lí toàn bộ quá trình đào tạo để bảo đảm chất lượng cáccấp từ đầu vào, quá trình và đầu ra, kết quả đào tạo và khả năng thích ứng về laođộng và việc làm Mô hình quản lí chất lượng tổng thể TQM được áp dụng trướchết ở các cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo với nhiều mô hình cụthể khác nhau như mô hình châu Âu về quản lí chất lượng tổng thể trong giáodục (EUTQM on ED); mô hình cấu trúc các thành phần của quá trình đào tạo(mô hình SEAMEO) Ở cấp độ vĩ mô ( Nhà nước) việc sát nhập một số cơ quanquản lí nhà nước về giáo dục với cơ quan quản lí nhà nước về lao động như ởHàn Quốc thành lập Bộ Giáo dục và Phát triển nhân lực; Úc và Anh thành lập
Bộ Giáo dục; Thanh niên và việc làm v.v thể hiện xu hướng này
1.3 VAI TRÒ , VỊ TRÍ, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA TỔ BỘ MÔN TRONG TRƯỜNG CĐSP
1.3.1 Vai trò, vị trí của Tổ bộ môn ở trường CĐSP
- Tổ bộ môn là một tổ chức cơ sở về chuyên môn trong cơ cấu tổ chức củakhoa (trừ Tổ bộ môn chung như: Chính trị, Ngoại ngữ, Tâm lý- Giáo dục, Thểdục - Quân sự, Nhạc , Hoạ, )
- Tổ bộ môn trong cơ cấu tổ chức của khoa chịu sự lãnh đạo của chủnhiệm khoa
- CácTổ bộ môn chung chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Hiệu trưởng (hoặcPhó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, tuỳ sự phân công )
- Tổ bộ môn có trách nhiệm xây dựng, quản lý và thực hiện kế hoạch, nộidung, chương trình, phương pháp giảng dạy do bộ môn phụ trách
- Quản lý và tiến hành việc nghiên cứu khoa học, theo các đề tài đã đượcgiao, đồng thời xây dựng bồi dưỡng cán bộ giảng dạy bộ môn của tổ
Trang 25-Tham gia xây dựng chương trình, giáo trình (hoặc một số chương mụctrong chương trình ) theo kế hoạch được giao.
- Chủ động đề xuất với khoa và nhà trường về các hoạt động chuyên mônnhư : Hội thảo khoa học , biên soạn giáo trình tài liệu tham khảo , nói chuyệnchuyên đề , ngoại khóa nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
- Xây dựng hệ thống ngân hành câu hỏi ,đề thi học phần do tổ giảng dạytheo đúng kế hoạch của nhà trường
- Tham mưu với khoa và nhà trường về các quy định,kế hoạch chuyênmôn
1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ trưởng bộ môn
- Tổ chức xây dựng và quản lý thực hiện kế hoạch giảng dạy, giáo dụchọc sinh, kế hoạch nghiên cứu các đề tài khoa học do tổ phụ trách
- Tổ chức và theo dõi giúp đỡ các cán bộ giảng dạy trong tổ hoàn thànhtốt nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh bao gồm các công việc: Tham giabiên soạn giáo trình, soạn giao án, chuẩn bị đồ dùng dạy học, lên lớp, giúp đỡkiểm tra học sinh học tập, lao đông, rèn luyện, tu dưỡng kiến thực tập sưphạm theo đúng chương trình, kế hoạch và các qui chế chuyên môn đã quiđịnh
- Tổ chức giúp đỡ các cán bộ giảng dạy trong tổ hoàn thành các đề tàinghiên cứu khoa học đã đăng kí, đồng thời giúp đỡ cho cán bộ giảng dạy thamgia nghiên cứu xây dựng và trao đổi sáng kiến kinh nghiệm, cải tiến nội dung vàphương pháp giảng dạy Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học và phổbiến khoa học trong học sinh – sinh viên
- Có kế hoạch cụ thể trong việc theo dõi giúp đỡ cán bộ giảng dạy, cán bộnhân viên phục vụ giảng dạy bồi dưỡng lên trình độ đại học và sau đại học, đềxuất việc bổ sung, xây dựng đội ngũ của tổ bộ môn theo qui hoạch chung củakhoa và của trường
Trang 26- Quản lý kế hoạch công tác, chế độ làm việc của từng cán bộ giảng dạy,cán bộ nhân viên phục vụ giảng dạy trong tổ, từng thời gian đánh giá kết quảgiảng dạy và công tác của cán bộ giảng dạy, cán bộ nhân viên phục vụ giảngdạy.
- Xem xét các giáo án, vở soạn bài, dự giờ giảng dạy, hướng dẫn học sinhthực hành của cán bộ giảng dạy và cán bộ nhân viên phục vụ giảng dạy trong tổ
- Tổ chức, xây dựng, quản lý cơ sở vật chất của tổ bộ môn như các phòngthí nghiệm, phòng đồ dùng dạy học, vườn trường do nhà trường giao
- Tổ chức động viên các cán bộ giảng dạy, cán bộ nhân viên phục vụ giảng dạy,tham gia phong trào thi đua 2 tốt của khoa và của nhà trường [31; 235]
Nhiệm vụ cụ thể của tổ môn Âm nhạc trong trường CĐSP đào tạo giáoviên chuyên Âm nhạc là:
- Dạy cho HS - SV nắm được các kiến thức cơ bản về Âm nhạc , hiểuđược tâm, sinh lí tuổi học sinh phổ thông đối với việc giáo dục Âm nhạc, bồidưỡng và rèn luyện cho HS - SV những kiến thức cơ bản của một số môn Âmnhạc như Nhạc lý cơ bản , Thanh nhạc , Nhạc cụ ,Xướng âm , Hát tập thể , Chỉhuy -Dàn dựng để các em có đủ kiến thức, kĩ năng đảm nhiệm toàn bộ côngtác GDÂN ở nhà trường phổ thông do Bộ ban hành
Yêu cầu tối thiểu đối với mỗi giáo sinh khi ra trường là: Phải có đủ kiếnthức về chuyên môn , năng lực sư phạm
- Góp phần giáo dục phẩm chất đạo đức người giáo viên tương lai, giáo dục
tính tổ chức kỉ luật, tinh thần tập thể
1.4 HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ BỘ MÔN ÂM NHẠC TRONG TRƯỜNG CĐSP
1.4.1.Hoạt động dạy học Âm nhạc ở trường CĐSP
Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt độnggiáo dục khác trong nhà trường Đó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất đểgiúp cho học sinh lĩnh hội được tri thức của xã hội loài người
Trang 27Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách
có hệ thống, cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động
và trong đời sống Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hìnhthành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, sinh viên,hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu nghề, yêu nước, yêuCNXH Hoạt động dạy học được nhìn nhận gồm 2 hoạt động chính, đó là hoạtđộng dạy của thầy và hoạt động học của trò
Để hình thành được cơ sở lý luận(CSLL) trong việc nâng cao chất lượngdạy học thông qua các giải pháp QL thì việc đầu tiên là cần phải xác định đượccác hoạt động trong dạy và học, thông qua đó xem xét các yếu tố tác động ảnhhưởng đến chất lượng của các hoạt động trên thông qua góc độ QL Nhưng vớikhuôn khổ của một Luận văn thạc sỹ và hạn chế về mặt thời gian nên việc phântích hoạt động dạy học để xác định các nhiệm vụ, công việc cụ thể của ngườidạy và người học ở tổ môn Âm nhạc trong trường Sư phạm là không thể thựchiện được, vì thế Tác giả thông qua tài liệu và thực tế hoạt động ở khối trường
Sư phạm để xác định những hoạt động chính đó, phục vụ cho việc nghiên cứucủa mình
1.4.1.1.Hoạt động dạy
Dạy (hay dạy học) là hoạt động của người GV, không chỉ là hoạt độngtruyền thụ cho người học những nội dung đáp ứng các mục tiêu đề ra, mà hơnthế nữa là hoạt động giúp đỡ, chỉ đạo và hướng dẫn người học trong quá trìnhlĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo Để hoạt động học đạt được kết quảnhư mong muốn, người GV cần nắm bắt được những điều kiện bên trong (hiểubiết, năng lực và hứng thú) của người học, trên cơ sở đó đưa ra những tác động
sư phạm phù hợp
Ngày nay, với xu thế dạy học “lấy người học làm trung tâm”, GV cần biếttạo cho người học một không khí học tập mang tính chủ động, linh hoạt và sángtạo Tức là dạy cho người học cách học, cách tư duy và tác động của người thầy làtác động bên ngoài, hướng dẫn, thúc đẩy và tạo điều kiện cho người học tự học
- Hoạt động dạy của thầy là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy học
Trang 28Hoạt động này bao gồm :
+ Thực hiện nội dung, chương trình dạy học;
+ Đổi mới phương pháp dạy học;
+ Đánh giá kết quả học tập của học sinh ;
1.4.1.2.Hoạt động học
Hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động song song tồn tại cùngvới hoạt động dạy của thầy giáo
- Hoạt động học tập của HS-S, bao gồm:
+ Xác định động cơ, phương pháp học tập choHS-SV;
+ Tạo dựng nề nếp, thái độ học tập đúng đắn cho HS-SV;
+ Hoạt động học tập, vui chơi, giải trí
- Một số thành tố chính trong việc đảm bảo chất lượng dạy học môn Âm nhạc.
+ Đội ngũ GV;
+ Cơ sở vật chất- Thiết bị- Đồ dùng dạy học
1.4.2 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ hoạtđộng dạy và học ở trên lớp, tập trung chủ yếu vào các nhiệm vụ sau đây :
1.4.2.1 Quản lý hoạt động dạy của thầy
Quản lý hoạt động dạy của thầy tập chung vào các công việc sau đây :
a - Quản lý việc thực hiện nội dung, chương trình.
Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu củanhà trường Nó là pháp lệnh của nhà nước trên cơ sở chương trình khung do BộGiáo dục - Đào tạo ban hành và chương trình chi tiết do nhà trường biên soạn
Kế hoạch dạy học cho từng năm, học kỳ là căn cứ pháp lý để các cấp quản lýtiến hành chỉ đạo, giám sát hoạt động dạy học trong nhà trường, đồng thời là căn
cứ pháp lý để lãnh đạo các cấp quản lý công tác giảng dạy của giáo viên Yêucầu đối với Hiệu trưởng là phải nắm vững chương trình, tổ chức cho giáo viêntuân thủ một cách nghiêm túc, không được tuỳ tiện thay đổi, thêm bớt làm sailệch chương trình dạy học Nắm vững chương trình dạy học là việc bảo đảm đểHiệu trưởng quản lý thực hiện tốt chương trình dạy học Bao gồm :
+ Nắm vững những nguyên tắc cấu tạo chương tình, nội dung và phạm vikiến thức của từng môn học, cấp học
Trang 29+ Nắm vững phương pháp dạy học đặc trưng của môn học và các hìnhthức dạy học của từng môn học.
+ Nắm vững kế hoạch dạy học của từng môn học, từng khối lớp trongcấp học
+ Phương pháp dạy đặc trưng của môn học, của bài học phải phù hợp vớitừng loại lớp học, từng loại bài của cấp học
+ Vận dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau, kết hợp giữa cáchình thức dạy học trên lớp, phòng thực hành, ngoài lớp, thực hành, tham quan một cách hợp lý
Để việc quản lý thực hiện chương tình dạy học đạt kết quả, bảo đảm thờigian cho việc thực hiện chương trình dạy học, lãnh đạo các cấp được phân côngphải chú ý quản lý thời khoá biểu, quản lý sổ ghi đầu bài, sổ dự giờ thăm lớpnhư là công cụ để theo dõi, điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chươngtrình dạy học, để thường xuyên, kịp thời điều chỉnh những lệch lạc trong quátrình thực hiện chương trình dạy học của giáo viên
b- Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp
Soạn bài là khâu quan trọng nhất trong việc chuẩn bị của giáo viên cho giờlên lớp Tuy nó chưa dự kiến hết các tình huống trong quá trình lên lớp, nhưngsoạn bài thực sự là lao động sáng tạo của từng giáo viên Nó thể hiện sự suynghĩ, lựa chọn, quyết định của giáo viên về nội dung, phương pháp giảng dạy,hình thức lên lớp phù hợp với đối tượng học sinh và đúng với yêu cầu củachương trình
Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp phải bảo đảm những yêu cầucần thiết đó là :
+ Bảo đảm tính tư tưởng, tính giáo dục của bài giảng
+ Bảo đảm về mục tiêu, yêu cầu ,kỹ năng , thái độ
+ Thực hiện soạn bài phải đúng quy chế, soạn bài chu đáo trước khi lênlớp, chống việc soạn bài để đối phó với việc kiểm tra
+ Bảo đảm nội dung, tri thức khoa học mang tính giáo dưỡng
+ Đưa việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp vào nền nếp, nghiêm túc và phảibảo đảm chất lượng
Trang 30+ Chỉ đạo không rập khuôn, máy móc, bảo đảm và khuyến khích tính tíchcực, tự giác và sáng tạo của giáo viên.
+ Yêu cầu tổ, nhóm chuyên môn thường xuyên trao đổi về mục đích yêucầu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức của các tiết học Đặc biệt là yêucầu đổi mới phương pháp dạy học Trao đổi thống nhất về mục đích, yêu cầu sửdụng phương tiện dạy học trong việc hỗ trợ giờ học
- Tiến hành kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất công tác soạn bài và chuẩn
bị giờ lên lớp của giáo viên Yêu cầu các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch tựkiểm tra thường xuyên Thông qua việc dự giờ thăm lớp để đánh giá kết quảviệc chuẩn bị bài giảng của giáo viên Qua mỗi lần kiểm tra cần tổ chức rút kinhnghiệm trong tổ chuyên môn để cải tiến việc soạn bài, thiết kế bài giảng pháthuy được sự sáng tạo trong hoc tập, nắm vững kiến thức bài học
c- Quản lý giờ lên lớp của giáo viên
Hoạt động dạy và học trong trường Sư phạm hiện nay được thực hiện chủyếu bằng hình thức dạy và học trên lớp, thực hành nghề nghiệp được tiến hành ởxưởng trường hoặc các phòng chuyên môn, với những nội dung lên lớp và hệ thốngbài hoc lý thuyết và thực hành cụ thể Nói cách khác, giờ lên lớp là hình thức tổchức cơ bản và chủ yếu nhất của quá trình dạy hoc trong nhà trường để thực hiệnmục tiêu cấp học
Chính vì vậy trong quá trình quản lý dạy và học của mình, Hiệu trưởngphải có những biện pháp tác động cụ thể, phong phú và linh hoạt đến các cấp
QL để nâng cao chất lượng giờ lên lớp của giáo viên
* Quản lý giờ lên lớp lý thuyết của giáo viên phải bảo đảm các yêu cầu sau:
+ Xây dựng được "chuẩn" giờ lên lớp để quản lý tốt giờ lên lớp của giáoviên Chuẩn này, ngoài những quy định chung của ngành như Thông tư 13/TTGiáo dục –Đào tạo ngày 12/9/1994, Thông tư 12/TTGD-ĐT tạo ngày 4/8/1997của Bộ Giáo dục - Đào tạo, cần thường xuyên được bổ sung, điều chỉnh để thựchiện được sự tiến độ chung của trường và của giáo viên trong trường
+ Phải xây dựng nề nếp giờ lên lớp cho thầy và trò nhằm bảo đảm tínhnghiêm túc trong mọi hoạt động hết sức nhịp nhàng của nhà trường, góp phầnnâng cao chất lượng dạy học
Trang 31+ Phải tác động đến giờ lên lớp một cách tích cực và càng trực tiếp càngtốt để mọi giờ lên lớp đều góp phần thực hiện mục tiêu.
+ Phải yêu cầu cụ thể từng đối tượng thực hiện đầy đủ, nghiêm túc những quyđịnh của nhà trường, thực hiện nghiêm túc quy chế có liên quan đến giờ lênlớp
Để bảo đảm được những yêu cầu quản lý giờ lên lớp, Hiệu trưởng cần xâydựng và quy định rõ chế độ thực hiện và kiểm tra sử dụng thời khoá biểu nhằmkiểm soát các giờ lên lớp, duy trì nền nếp dạy học, điều khiển nhịp điệu dạy học
và tạo nên bầu không khí sư phạm trong nhà trường
* Quản lý giờ lên lớp thực hành của giáo viên phải bảo đảm các yêu cầu sau :
+ Quản lý phải đảm bảo về chương trình đào tạo :
- Phải xây dựng chương trình đào tạo quy định những nội dung giảng dạy,quản lý việc giáo viên xây dựng đề cương bài giảng, kế hoạch dạy học , giáo án chotừng chương trình , lịch trình cho nội dung thực hành(Ngày , tuần, tháng , học kỳ )
- Đảm bảo về thực hiện tiến độ chương trình
- Đảm bảo về thực hiện các quy định , quy chế đào tạo và việc kiểm tra đánhgiá học sinh ( Điểm thường xuyên , điểm học phần)
- Đảm bảo về các phương pháp hướng dẫn SV trong giờ thực hành
+ Quản lý phải đảm bảo về các điều kiện thực hiện chương trình :
- Các điều kiện thực hiện chương trình ở đây là phòng học thực hành bộ môn,những trang thiết bị , phương tiện dạy học , SGK và tài liệu học tập
- Quản lý các điều kiện về đảm bảo vệ sinh an toàn trong giờ thực hành
d- Quản lý việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học
Nét đặc thù cơ bản làm cho quản lý trường học khác với các dạng quản lýkhác là trong quản lý trường học có hoạt động dự giờ và phân tích sư phạm bàihọc Đây chính là nhiệm vụ chính của bộ môn trong nhiệm vụ nâng cao chấtlượng các hoạt động dạy và học và là biện pháp quan trọng hàng đầu trong quản
Trang 32+ Nắm vững các bước trong việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học đểchỉ đạo tất cả giáo viên trong trường thực hiện.
+ Tổ chức tốt việc dự giờ trong tổ môn, có chế độ dự giờ rõ ràng, có kếhoạch cụ thể, đặc biệt phải có chuẩn đánh giá phù hợp, có đầy đủ hồ sơ dự giờ
và có thái độ cầu thị khách quan để đánh giá đúng tình hình giờ lên lớp cũngnhư đánh giá đúng chất lượng giờ lên lớp Trên cơ sở đó, tìm ra những biệnpháp thích hợp cho công tác quản lý giờ lên lớp của mình
Để nâng cao chất lượng dự giờ, phân tích sư phạm bài học, cần phải tổchức các chuyên đề về giờ lên lớp, như trao đổi về nội dung và phương phápgiảng dạy, xây dựng giờ dạy mẫu, tổ chức dạy thử, tổ chức kiến tập, thaogiảng nhằm giúp giáo viên nắm vững lý thuyết, rút kinh nghiệm về phươngpháp, giảng dạy, về các bước trong dự giờ và phân tích sư phạm bài học Trên
cơ sở đó khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên và đây cũng chính là hoạt độngđặc trưng cho nghề nghiệp của giáo viên Lãnh đạo nhà trường cần phải tổ chứctốt vấn đề này, để tạo điều kiện cho giáo viên phát huy khả năng của mình nhằmnâng cao chất lượng dạy học
e- Quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả việc học tập của học sinh
Kiểm tra - đánh giá là một bộ phận hợp thành, không thể thiếu được trongquá trình dạy học Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh được tồn tạiđồng thời với quá trình dạy học, đó là quá trình thu nhận và xử lý thông tin về
trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh Trên cơ sở đó đề
ra những biện pháp phù hợp, giúp học sinh học tập tiến bộ
Qua việc quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá học sinh của giáo viên,người quản lý sẽ nắm bắt được chất lượng dạy và học ở từng giáo viên một Nó
là cơ sở để đánh giá quá trình và hiệu quả của người dạy lẫn người hoc Nhất làtrong giai đoạn hiện nay khi tình trạng học thêm, dạy thêm tràn lan, khi trình độchuyên môn của một số giáo viên còn hạn chế thì việc quản lý hoạt động kiểmtra - đánh giá kết quả học tập của học sinh, SV là điều rất quan trọng Việc kiểmtra - đánh giá kết quả học tập của học sinh, SV là việc làm hết sức cần thiết củalãnh đạo các cấp nhằm tác động trực tiếp đến giáo viên thực hiện đầy đủ vàchính xác qúa trình kiểm tra - đánh giá, thúc đẩy quá trình nâng cao hiệu quả
Trang 33dạy học theo mục tiêu Quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tậpcủa học sinh phải đạt được những yêu cầu cơ bản sau đây :
+ Phải thực hiện nghiêm chỉnh quy chế chuyên môn trong nhà trường thôngqua điểm số; đánh giá được chất lượng học tập của học sinh và giảng dạy của giáoviên Từ đó rút ra được những vấn đề cần phải điều chỉnh, uốn nắn và bổ sung giúpcho người quản lý chỉ đạo hoạt động này một cách đầy đủ, chặt chẽ hơn
+ Phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các văn bản hướng dẫn về đánh giáxếp loại học sinh
+ Phải đánh giá, xếp loại học sinh một cách công bằng, chính xác, tránhnhững biểu hiện không đúng trong việc đánh giá xếp loại học sinh Trong qúatrình thực hiện, Hiệu trưởng cần phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đối tượngnhư hiệu phó chuyên môn, tổ trưởng và giáo viên, yêu cầu họ lập kế hoạch kiểmtra - đánh giá học tập một cách đầy đủ theo yêu cầu của chương trình Đồng thờiHiệu trưởng thường xuyên kiểm tra, xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của cácđối tượng để bảo đảm hiệu quả công việc đã đề ra, từng bước nâng cao chấtlượng toàn diện của quá trình dạy học
f - Quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên
Hồ sơ chuyên môn của giáo viên là phương tiện phản ánh quá trình quản lý
có tính khách quan và cụ thể, giúp Hiệu trưởng và lãnh đạo các cấp nắm chắchơn, cụ thể hơn tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên Có thểnói hồ sơ chuyên môn của giáo viên là một trong những cơ sở pháp lý để nói lênviệc thực hiện nền nếp chuyên môn, việc chuẩn bị, đầu tư cho công việc củagiáo viên Nhưng hồ sơ chuyên môn của giáo viên không thể xem đồng nghĩavới năng lực giảng dạy của giáo viên trên lớp
Hồ sơ của giáo viên phục vụ cho hoạt động dạy của GV, bao gồm các loại
hồ sơ sau :
+ Giáo án , đề cương bài giảng
+ Các loại sổ : Sổ dự giờ, sổ chủ nhiệm, sổ công tác, sổ kế hoạch
+ Các loại sách : Giáo trình, sách hướng dẫn, phân phối chương trình cáctài liệu tham khảo
Trong quá trình quản lý, Hiệu trưởng cần hướng dẫn cụ thể yêu cầu củatừng loại hồ sơ, cùng với hiệu phó chuyên môn và tổ trưởng chuyên môn thường
Trang 34xuyên kiểm tra bằng nhiều hình thức khác nhau để kịp thời điều chỉnh những sailệch trong hoạt động dạy và học.
- Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên quản lý việc sửdụng và bồi dưỡng giáo viên là một yêu cầu, một tiêu chuẩn không thể thiếuđược trong qúa trình quản lý nhà trường Nó thể hiện cụ thể ở hai nội dung sau: + Sử dụng đội ngũ giáo viên : Phân công hợp lý trong chuyên môn, phối hợpvới năng lực chuyên môn trên cơ sở chú ý đến điều kiện của từng giáo viêntrong trường
+ Bồi dưỡng đội ngũ : Bao gồm việc bồi dưỡng thường xuyên theo chươngtrình của Bộ Giáo dục – Đào tạo, theo hình thức bồi dưỡng tại trường hoặc thamgia các lớp bồi dưỡng do cấp trên mở, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhằm chuẩnhoá đội ngũ giáo viên, bồi dưỡng nâng chuẩn
Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có vai trò quantrọng Nó có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng giảng dạy và giáo dục củanhà trường Vì vậy, Hiệu trưởng phải có chương trình, kế hoạch, chủ động trongviệc bồi dưỡng giáo viên, nhằm từng bước nâng cao trình độ và năng lực sưphạm cho giáo viên
Tóm lại : Quản lý hoạt động dạy của thầy là quản lý cả quá trình hoạt động của người thầy trong giảng dạy học, đòi hỏi Hiệu trưởng nhà trường hoặc những người được hiệu trưởng phân công phải hiểu hết nội dung, yêu cầu cần quản lý để đưa ra những quyết định quản lý vừa mang tính nghiêm chỉnh, chính xác, nhưng lại vừa mềm dẻo, linh hoạt để đưa hoạt động dạy của thầy vào nền nếp, kỷ cương nhưng vẫn phát huy được khả năng sáng tạo khoa học của giáo viên trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.
Tuy nhiên hoạt động dạy của thầy sẽ hoàn thành trọn vẹn khi mà ngườithầy tổ chức tốt hoạt động học của trò Đó là sự liên tục của hoạt động dạy học,
là trách nhiệm cuả người thầy đối với "sản phẩm đào tạo" của mình
1.4.2.2 Quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên.
Việc quản lý hoạt động học tập của học sinh phải được thực hiện đầy đủ,toàn diện và mang tính giáo dục cao Nội dung cơ bản của nó bao gồm :
a- Quản lý việc giáo dục phương pháp học tập cho học sinh
Trang 35Phương pháp học tập là hệ thống các cách sử dụng hết sức quan trọng trongviệc nâng cao chất lượng học tập của học sinh Vì vậy, quản lý việc giáo dụcphương pháp học tập cho học sinh cần phải đạt được những yêu cầu chủ yếu là :
+ Làm cho học sinh nắm được kỹ năng chung của hoạt động học tập.+ Làm cho học sinh có kỹ năng học tập phù hợp với từng bộ môn
+ Giúp học sinh có phương pháp học tập ở lớp
+ Giúp cho học sinh có phương pháp học tập ở nhà
Để đạt được những yêu cầu trên, Hiệu trưởng phải tổ chức học tập nghiêncứu, bồi dưỡng để toàn thể giáo viên trong nhà trường nắm vững và thống nhấtcác phương pháp học tập và trách nhiệm của các đối tượng trong trường với việchướng dẫn phương pháp học tập cho học sinh Từ đó Hiệu trưởng vạch ra kếhoạch chỉ đạo thực hiện và thường xuyên kiểm tra đôn đốc, điều chỉnh, uốn nắnkịp thời những biểu hiện sai lệch nhằm thực hiện có hiệu quả việc giáo dụcphương pháp học tập cho học sinh
b- Quản lý nề nếp, thái độ học tập của học sinh
Nề nếp học tập, kỷ luật học tập của học sinh là những điều qui định cụ thể
về tinh thần, thái độ, hành vi ứng xử nhằm làm cho hoạt động học tập được hoạtđộng nhịp nhàng và có hiệu quả Nề nếp học tập sẽ quyết định nhiều đến hiệuquả học tập Vì vậy, cần phải xây dựng và hình thành được những nề nếp họctập sau đây :
+ Phải xây dựng cho học sinh có tinh thần, thái độ học tập tốt, chuyêncần, chăm chỉ, có nề nếp học bài và làm bài đầy đủ
+ Giúp học sinh có nền nếp tổ chức hoạt động ở trường cũng như ở nhà vànhững nơi sinh hoạt văn hoá
+ Nề nếp sử dụng, bảo quản và chuẩn bị đồ dùng học tập
+ Xây dựng được nền nếp về khen thưởng và kỷ luật, chấp hành nền nếp,nội quy học tập cho học sinh
Nề nếp học tập tốt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Vì vậy, Hiệutrưởng nhà trường cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra, nhận xét tình hình thựchiện nền nếp và phân công trách nhiệm cụ thể cho các đối tượng để phối hợpthực hiện, tạo ra bầu không khí thuận lợi cho sự giáo dục của nhà trường
c- Quản lý các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí.
Trang 36Đây là yêu cầu quan trọng đối với Hiệu trưởng trong việc quản lý các hoạtđộng học tập của học sinh Các hoạt động học tập, vui chơi giải trí phải được tổchức một cách hợp lý, phù hợp với tâm lý và sức khoẻ của học sinh Đòi hỏi Hiệutrưởng phải cân nhắc, tính toán, điều khiển sự cân đối các hoạt động hàng tháng,học kỳ và cả năm để tránh tình trạng lôi kéo học sinh vào những hoạt động, nhữngphong trào đề ra một cách tuỳ tiện, bất thường làm gián đoạn hoạt động học tập củahọc sinh, xáo trộn chương trình và kế hoạch hoạt động của nhà trường.
1.4.3 Quản lý cơ sở vật chất - thiết bị- Đồ dùng dạy học.
Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học của nhà trường là hệ thốngcác phương tiện vật chất - kỹ thuật được sử dụng để phục vụ cho việc dạy vàhọc của nhà trường
Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho dạy và học phải bảo đảmđược 3 yêu cầu liên quan mật thiết với nhau, đó là :
+ Bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học
+ Sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật trong việc dạy và học + Tổ chức quản lý tốt cơ sở vật chất - kỹ thuật trong nhà trường
Nội dung quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học trong nhà trường,bao gồm :
- Quản lý trường lớp, phòng học, bàn ghế, bảng
- Quản lý các trang thiết bị phục vụ dạy học, hoạt động của các phòng học
bộ môn, phòng chức năng
- Quản lý thư viện trường học với các sách báo, tài liệu
Tất cả các nội dung trên đều cần thiết, cơ sở vật chất và thiết bị ngày càng đượctrang bị hiện đại để phục vụ cho việc đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng đượcthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.5 VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠYHỌC
Hiệu quả giáo dục của nhà trường nói chung phụ thuộc chủ yếu vào cácyếu tố sau :
- Đội ngũ giáo viên và công nhân viên
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học
- Trình độ được giáo dục (đầu vào) của học sinh
- Tổ chức quản lý trường học, đứng đầu là Hiệu trưởng
Trang 37Khi xác định vai trò, vị trí của người Hiệu trưởng – người được giaoquyền hạn và nhiệm vụ lớn lao đối với hoạt động quản lý nhà trường, Luật Giáodục ban hành năm 1998 ở điều 49 mục 1 quy định “Hiệu trưởng là người chịutrách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan quản lý Nhà nước
có thẩm quyền bổ nhiệm và công nhận”
Nhà trường thực hiện được mục tiêu nhiệm vụ của mình hay không mộtphần quyết định là tuỳ thuộc vào những phẩm chất và năng lực của người Hiệutrưởng Trong những hoàn cảnh thực tiễn gần nhau, có trường với Hiệu trưởnggiỏi đã trở thành trường tiên tiến, đạt nhiều thành tích về dạy học và giáo dục,nhưng với Hiệu trưởng kém thì nhà trường không phát triển, chất lượng dạy học
và giáo dục thấp Vai trò tổ chức, quản lý của Hiệu trưởng có ý nghĩa vô cùng tolớn đối với mọi hoạt động của nhà trường
Người Hiệu trưởng không phải chỉ cần biết tổ chức dạy và học theo yêu cầu
xã hội mà điều quan trọng hơn là phải biến nhà trường thành một “công cụ củachuyên chính vô sản”(Lê Nin - Bàn về giáo dục) Vì vậy, người Hiệu trưởngphải có sự giác ngộ sâu sắc về chính trị Có những hiểu biết sâu về chủ nghĩaMác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối giáo dục xã hội chủ nghĩa,
có tinh thần cách mạng cao, có tinh thần đoàn kết, …
Người Hiệu trưởng tổ chức thực hiện những chủ trương chính sách, đườnglối giáo dục thông qua nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phùhợp Người Hiệu trưởng phải hiểu rõ mục tiêu giáo dục, am hiểu sâu sắc nộidung giáo dục, nắm chắc các phương pháp giáo dục, các nguyên tắc tổ chức giáodục xã hội chủ nghĩa Người Hiệu trưởng phải là nhà giáo dục xã hội chủ nghĩa
có kinh nghiệm, có năng lực, có uy tín về chuyên môn, là con chim đầu đàn củatập thể Người Hiệu trưởng có chức năng tổ chức mọi hoạt động giáo dục trongnhà trường làm sao cho các chủ trương, đường lối, các nội dung, phương phápgiáo dục được thực hiện một cách có hiệu quả Do vậy, năng lực tổ chức thựctiễn của người Hiệu trưởng quyết định hiệu quả của quản lý giáo dục Trongcông tác tổ chức thực tiễn, người Hiệu trưởng phải có tri thức cần thiết về khoahọc tổ chức, đặc biệt phải biết quản lý con người, có những kỹ năng cần thiếtlàm việc với con người Chính vì vậy, lao động quản lý của Hiệu trưởng vừamang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật
Trang 38Nhìn từ góc độ tâm lý học thì người Hiệu trưởng giỏi và người Hiệu trưởngkém giống nhau về mặt quyền lực pháp lý (nhà nước), nhưng khác nhau về mặtquyền lực tâm lý (còn gọi là quyền lực thực tế) Quyền lực tâm lý của ngườiHiệu trưởng chính là uy tín.)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Để nghiên cứu thực tiễn giải pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học , đềtài đã xác định các vấn đề lý luận cơ bản và sử dụng các khái niệm cơ bản sau:
- Các khái niệm về nhà trường , trường Cao đẳng, trường Sư phạm
- Các khái niệm về Quản lý , Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường Quản
lý bộ môn , các khái niệm về chất lượng , chất lượng giáo dục
- Đề tài cũng đã đề cập tới hoạt động dạy - học và quản lý việc dạy - họccủa thày (người dạy ) và của trò ( người học) trong nhà trường Cao đẳng cũngnhư đưa ra vai trò của quản lý trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
Trang 39
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRƯỜNG CĐSP BẮC NINH
2.1.1 Khái quát lịch sử nhà trường
Trường CĐSP Bắc Ninh được thành lập ngày 24/6/1998 trên cơ sở sápnhập Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục Bắc Ninh với phân hiệu CĐSPBắc Ninh sau khi tái lập tỉnh Trong những năm đầu xây dựng và phát triển,trường CĐSP Bắc Ninh đã có nhiều thuận lợi cơ bản song cũng gặp không ítnhững khó khăn Ngay sau khi thành lập, nhà trường đã được Bộ GD&ĐT, Tỉnh
ủy, UBND, Sở GD&ĐT Bắc Ninh quan tâm và tạo những điều kiện cơ bản về
cơ sở vật chất và một số thiết bị thiết yếu phục vụ cho công tác dạy và học.Tháng 10/1998, Ban giám hiệu đầu tiên của trường chính thức được kiện toàn.Tháng 01/1999 Ban chấp hành Đảng ủy lâm thời nhà trường được thành lập.Tháng 02/1999 công Đoàn trường đã tiến hành Đại hội khóa I Sự ra đời củaBGH, BCH Đảng ủy lâm thời, BCH công đoàn và BCH Đoàn thanh niên củanhà trường là một bước ngoặt trong việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo nhà trường,tạo ra động lực để đẩy mạnh mọi hoạt động và là điều kiện quan trọng để đưahoạt động của nhà trường vào nề nếp Ngay từ năm học đầu tiên, đội ngũ cán bộ
Trang 40giỏo viờn của trường đó được sắp xếp về cỏc phũng, khoa, tổ và đó tạo được sựhũa nhập, đoàn kết, thống nhất trong cỏc đơn vị
2.1.2 Cơ cấu tổ chức hành chớnh của nhà trường.
Ban Giỏm hiệu
2.1.3 Ngành nghề và quy mụ đào tạo :
+ Cỏc ngành, chuyờn ngành đào tạo
- Số mã ngành đợc phép đào tạo: 49 (trong đú 35 mó ngành của cao đẳng, 14 móngành của TCCN)
+Cỏc loại hỡnh đào tạo của nhà trường: Chớnh quy, tại chức, liờn kết đào
tạo trong nước, đào tạo liờn thụng