1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh bắc ninh luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

138 775 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh Bắc Ninh
Tác giả Nguyễn Nhân Chinh
Người hướng dẫn PGS.TS Thỏi Văn Thành
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 919 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ỞCÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1.2 Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 7 1.3.3 Giáo dục thường xuyên tro

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN NHÂN CHINH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

CẤP HUYỆN TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Thái Văn Thành

Trang 2

Nghệ An, tháng 11 năm 2011

Trang 3

Lêi c¶m ¬n

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Bangiám hiệu, tập thể các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, các thầy cô giáo của TrườngĐại học Vinh, Khoa Quản lý giáo dục, Khoa sau đại học đã tận tình giảng dạy, chỉdẫn và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư, Tiến sĩThái Văn Thành, thầy giáo đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trongquá trình hình thành đề tài, triển khai nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tốtnghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ quản lý, giáo viên đangcông tác tại Sở Giáo dục & Đào tạo Bắc Ninh, Trung tâm Giáo dục thườngxuyên các huyện tỉnh Bắc Ninh đã giúp đỡ, tạo điều kiện, đóng góp nhiều ýkiến quý báu trong quá trình nghiên cứu thực tế để hoàn thành luận văn khoahọc này

Mặc dù bản thân tôi đã có nhiều cố gắng, xong do điều kiện thời gian

và năng lực nên không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mongnhận được sự cảm thông, những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy côgiáo và đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn./

Nghệ An, tháng 11 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Nhân Chinh

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

BT: Bổ túc

BTVH: Bổ túc văn hóa

BT THCS: Bổ túc trung học cơ sở

BT THPT: Bổ túc trung học phổ thôngCNH- HĐH: Công nghiệp hóa- Hiện đại hóaGD& ĐT: Giáo dục và đào tạo

GDTX: Giáo dục thường xuyên

QLGD: Quản lý giáo dục

THCN: Trung học chuyên nghiệpUBND: Ủy ban nhân dân

XMC: Xóa mù chữ

Trang 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở

CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

1.2 Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 7

1.3.3 Giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân 29

1.3.5 Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX 36

Trang 6

* Kết luận chương 1 41CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

2.3.1 Thực trạng hoạt động giảng dạy của giáo viên ở các trung

tâm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh

2.5 Đánh giá thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt

động dạy học ở các trung tâm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc

Ninh

67

Trang 7

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN

TỈNH BẮC NINH

3.2 Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy ở các trung

tâm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh

76

3.2.1 Nâng cao nhận thức về nhiệm vụ của trung tâm GDTX

cấp huyện cho đội ngũ cán bộ, giáo viên

76

3.2.2 Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho

đội ngũ giáo viên

79

3.2.3 Tăng cường kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn của

giáo viên cơ hữu cũng như giáo viên thỉnh giảng và hợp đồng

82

3.2.4 Tăng cường quản lý hoạt động dạy học của giáo viên 863.2.5 Tăng cường quản lý sĩ số và hoạt động tự học của học viên 893.2.6 Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước Việt Nam muốn phát triển thì con đường tất yếu là côngnghiệp hóa, hiện đại hoá Để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thànhcông thì phải phát triển mạnh Giáo dục & Đào tạo, phát huy nguồn lực conngười, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững

Xuất phát từ nhiệm vụ và mục tiêu của giáo dục thì việc nâng cao chấtlượng dạy học ở Trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX) là điều cần thiết,bởi vì: GDTX có vai trò quan trọng trong xã hội, là nơi cung ứng cho mọihoạt động học tập suốt đời GDTX đồng nghĩa với việc giáo dục liên tục, tức

là sự mở rộng chủ yếu của xóa mù chữ, chương trình đảm bảo chất lượngcuộc sống tạo thu nhập, đáp ứng sở thích cá nhân, định hướng tương lai.GDTX tạo cho các nước có cơ hội giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đồngthời phát triển theo một kế hoạch có ý nghĩa và hiệu quả

Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì GDTX có vai trò đặc biệt quantrọng Mục tiêu tổng quát của GDTX là tạo nên một xã hội học tập nhằm cungứng cơ hội và điều kiện thuận lợi cho người dân ở mọi trình độ có thể học tậpthường xuyên suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng người, đápứng những yêu cầu phát triển xã hội, khoa học và công nghệ, văn hóa và nghệthuật nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho sự phát triển công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Để đạt được điều này thì chúng ta phải giáo dụcđồng thời cả 3 mặt:

- Mở rộng quy mô

- Nâng cao chất lượng giáo dục và phát huy hiệu quả của GDTX

Trang 9

- Nội dung hành động của Trung tâm GDTX phải phong phú và pháthuy hiệu quả của GDTX.

Nội dung hành động của trung tâm GDTX phải phong phú, có chấtlượng và hiệu quả từ việc giảng dạy theo chương trình các lớp (bổ túc THCS,

bổ túc THPT) đến dạy nghề ngắn hạn, giáo dục theo chuyên đề, giảng dạychương trình xóa mù chữ và dạy bổ túc tiểu học, phương pháp hoạt động củatrung tâm GDTX cấp huyện là phối hợp, kết hợp, hợp tác giữa các tổ chứcphục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Để làm tốt nội dung và phương pháp hoạt động của trung tâm GDTXthì vai trò quản lý có ý nghĩa hết sức quan trọng, quản lý hoạt động dạy học làhoạt động cơ bản nhất quyết định chất lượng của trung tâm GDTX

Do nhu cầu tự nâng cao năng lực của bản thân nên số lượng người họctại các trung tâm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh đã được gia tăng và đadạng các loại hình học tập Kiến thức xuất phát điểm của học viên còn thấp vànăng lực quản lý hoạt động dạy học ở các trung tâm GDTX còn nhiều bất cập

Cùng với sự phát đất nước, GD & ĐT tỉnh Bắc Ninh trong những nămgần đây có những bước phát triển vượt bậc Trung tâm GDTX cũng đã khẳngđịnh được vị trí của mình trong hệ thống giáo dục, nhưng việc quản lý hoạtđộng dạy học của các trung tâm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh chưa thực sự

đi vào kỷ cương, nề nếp vì vậy không tránh khỏi những hạn chế nhất định

* Xuất phát từ những lý do trên với cương vị là người cán bộ quản lý,tôi xin phép nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở các trung tâmGDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh, từ đó có những biện pháp tăng cường hoạtđộng dạy học góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và khẳng định vị thế củatrung tâm GDTX, đem lại quyền lợi cho người học Chính vì vậy tôi đã lựa

chọn đề tài:“Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trung tâm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn thạc sỹ.

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trung tâmGDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đàotạo, bồi dưỡng ở các trung tâm này

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4 Giả thuyết khoa học:

Nếu xây dựng và áp dụng được một số giải pháp đảm bảo tính khoahọc, tính khả thi thì sẽ nâng cao được hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ởcác trung tâm GDTX tỉnh Bắc Ninh, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo,bồi dưỡng ở các trung tâm này

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản lý, quản lý giáo dục,

quản lý trường học, quản lý GDTX, quản lý hoạt động dạy học ở các trungtâm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh

5.2 Khảo sát thực trạng họat động dạy học và quản lý hoạt động dạy

học ở các trung tâm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh

5.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trung

tâm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh

6 Các phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, trong đề tài

sử dụng tổng hợp các nhóm phương pháp sau:

Trang 11

6.1 Nhúm phương phỏp nghiờn cứu lý luận

Chủ yếu là dựng cỏc phương phỏp nghiờn cứu cỏc tài liệu lý luận vềquản lý - quản lý giỏo dục - quản lý dạy học - quản lý trường học - quản lýtrung tõm GDTX, tổng hợp, hệ thống húa cỏc văn bản chủ trương, đường lối,Nghị quyết về chiến lược phỏt triển GD & ĐT của Đảng và Nhà nước, củangành Giỏo dục & Đào tạo

6.2 Nhúm phương phỏp nghiờn cứu thực tiễn

Chủ yếu là quan sỏt, trao đổi trờn trang viết bằng bảng hỏi về nhậnđịnh, đỏnh giỏ rừ mặt mạnh, mặt yếu và tỡm ra nguyờn nhõn của những tồntại về quản lý hoạt động dạy học ở cỏc Trung tõm GDTX cấp huyện tỉnhBắc Ninh

6.2.1 Phương phỏp lấy ý kiến chuyờn gia

Phương phỏp lấy ý kiến chuyờn gia: Là phương phỏp sử dụng trớ tuệcủa đội ngũ chuyờn gia cú trỡnh độ cao về chuyờn mụn ngành, nhằm xem xột,nhận định bản chất một sự kiện khoa học hay thực tiễn, để tỡm ra giải phỏp tối

ưu cho cỏc sự kiện hoặc phõn tớch, đỏnh giỏ một sản phẩm khoa học

6.2.2 Nhúm phương phỏp tổng kết kinh nghiệm giỏo dục

6.2.3 Phương phỏp điều tra kiểm chứng

Nhận thức của cỏn bộ quản lý trong và ngoài ngành GD & ĐT về mức

độ cần thiết và tớnh khả thi của cỏc giải phỏp thực hiện việc quản lý hoạt độngdạy học ở cỏc trung tõm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh

6.3 Nhúm cỏc phương phỏp bằng thống kờ toỏn học để xử lý số liệu

7 Đúng gúp của luận văn

7.1 Về mặt lý luận

Luận văn sẽ hệ thống hóa các vấn đề lý luận về công tác quản lý hoạt

động dạy học nói chung và dạy học ở cỏc Trung tõm GDTX cấp huyện tỉnhBắc Ninh nói riêng

7.2 Về mặt thực tiễn

Trang 12

Luận văn sẽ khảo sát toàn diện thực trạng công tác quản lý hoạt độngdạy học ở cỏc trung tõm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh; từ đó đề xuất một

số giải pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi để quản lý hoạt động dạyhọc ở cỏc Trung tõm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh nhằm nâng cao hiệuquả, chất lợng đào tạo ở cỏc Trung tõm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh

8 Cấu trỳc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị luận văn bao gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở cỏc trung

tõm GDTX cấp huyện.

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở cỏc trung tõm

GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh.

Chương 3: Một số giải phỏp quản lý hoạt động dạy học ở cỏc trung

tõm GDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh.

Trang 13

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Giáo dục được Đảng và Nhà nước ta coi là quốc sách hàng đầu, “Đi lênbằng giáo dục” đó là chân lý của thời đại chúng ta, thời đại mà trí tuệ của conngười trở thành tài nguyên quý giá nhất trong các tài nguyên quý giá của mộtquốc gia dân tộc Mặt bằng dân trí cao, cùng với những đỉnh cao trí tuệ lànhân tố quan trọng hàng đầu để một quốc gia, một dân tộc tự khẳng địnhmình trong cuộc cạnh tranh lớn mang tính toàn cầu hiện nay Điều đó cónghĩa là nhiệm vụ giáo dục là một nhiệm vụ chủ yếu của mỗi quốc gia, dântộc, hẹp hơn nữa là của mỗi cơ sở giáo dục Để thực hiện được điều đó cầnphải có quá trình tổ chức dạy học hiệu quả và có các điều kiện hỗ trợ Quản lýhoạt động dạy học như thế nào để nâng cao được chất lượng dạy học và pháthuy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học là một vấn đề cần đượcgiải quyết

Quản lý và quản lý hoạt động dạy học là những vấn đề đã được đề cậpđến từ lâu Lúc đầu cơ sở lý luận về dạy học, quản lý hoạt động dạy học chỉthể hiện dưới dạng ở một ý tưởng của những nhà triết học, sau đó dần dầnphát triển và hoàn thiện hơn Gần đây các nhà giáo dục mới chú ý bàn luận vềhiệu quả của quản lý nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng;nhưng hầu hết các công trình đều nghiên cứu về quản lý dạy học ở các trườngphổ thông, các trường cao đẳng và đại học Riêng quản lý hoạt động dạy học

ở một số cơ sở có tính đặc thù như trung tâm GDTX còn chưa được quan tâmnghiên cứu đầy đủ Các công trình nghiên cứu về quản lý dạy học ở các trung

Trang 14

tâm GDTX còn chưa nhiều, chủ yếu công trình nghiên cứu về nội dung nàydừng lại ở cấp độ luận văn thạc sĩ Do đó đây là một lĩnh vực còn bỏ ngỏ.

Để nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dụcđào tạo trong giai đoạn hiện nay cần đi sâu nghiên cứu và đề xuất một sốgiải pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trung tâm GDTX cấp huyệntỉnh Bắc Ninh

1.2 Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.2.1 Quản lý

Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội loài người ở một giaiđoạn phát triển nhất định của nó Thuộc tính này bắt nguồn từ bản chất hệthống của xã hội Từ lao động tập thể, lao động xã hội của con người Ngay từbuổi sơ khai của xã hội loài người để đương đầu với sức mạnh to lớn của tựnhiên, sự khắc nghiệt của thiên nhiên để duy trì sự tồn tại của mình con ngườiphải lao động chung, kết hợp lại thành một nhóm người, một tập thể, điều đóđòi hỏi phải có sự tổ chức, phân công và hợp tác nhằm thực hiện mục tiêu đãđịnh trong lao động tức là phải có sự quản lý

Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, quản lý không phải làmột hoạt động mới mẻ, trong quá trình phát triển của khoa học quản lý, đặcbiệt là quá trình xây dựng lý luận quản lý, khái niệm quản lý được các nhànghiên cứu lý luận cũng như thực hành quản lý bàn tới và cũng được phổ biếnngày càng rộng Quản lý cần thiết cho hoạt động của mọi tổ chức, dù tổ chức

đó có to hay nhỏ Trên cơ sở đó thì có nhiều cách định nghĩa về quản lý khácnhau Tôi có thể đưa ra một số định nghĩa khác nhau sau:

* Theo từ điển Tiếng Việt thì quản lý là: “Hoạt động của con người tácđộng vào tập thể hoặc người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiệnmục tiêu chung” Quản lý là hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác laođộng nhằm đạt hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc

Trang 15

* Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng của chủ thể quản lý lênkhách thể quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội bằng một hệthống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và các biện pháp cụthể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.

* Trong cuốn “Khoa học quản lý nhà trường” Nguyễn Văn Lê và TạVăn Doanh định nghĩa: “Quản lý là một hệ thống xã hội, khoa học và nghệthuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạthiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra (KH quản trị - NXB HCM - 95)

* Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ lại cho rằng: “Quản lý là một quá trình

có định hướng, có mục tiêu; quản lý là một hệ thống, quá trình tác động đến

hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặctrưng cho trạng thái của hệ thống và người quản lý mong muốn” [20;tr37]

* Quản lý là thiết kế, duy trì một môi trường mà trong đó có cá nhânlàm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mụctiêu đã định

* Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đếnkhách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung

Như vậy, các quy định về quản lý đều hướng tới hiệu quả của công tácquản lý phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mụctiêu hướng đến của công tác quản lý bằng tác động từ chủ thể đến khách thểquản lý nhờ công cụ và phương pháp quản lý

Hoạt động quản lý luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồmchủ thể quản lý: Là cá nhân hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên đề ramục tiêu, dẫn dắt điều khiển các đối tượng quản lý tới mục tiêu đã định

Khách thể quản lý: Vừa có thể là người, là tổ chức, vừa có thể là vật cụthể; vừa có thể là sự vật, các tổ chức con người

Trang 16

Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có quan hệ tác động qua lạitương trợ lẫn nhau Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thểthì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đápứng nhu cầu của con người, thỏa mãn các hệ thống dưới sự điều khiển củachủ thể quản lý.

Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn kết phâncông và phối hợp, hoạt động quản lý của con người như hoạt động tất yếuvĩnh hằng, có ý nghĩa trong lịch sử và đóng góp vai trò quan trọng trong quátrình phát triển của xã hội loài người Xã hội càng phát triển các loại hình hoạtđộng càng phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng đóng vai trò quantrọng hơn Như vậy, quản lý là quá trình tác động vào hệ thống đưa ra đến sựthay đổi hệ thống đó hoặc đưa vào hệ thống đó những yếu tố đáp ứng yêu cầucác hệ thống của cộng đồng

Tuy có nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý và cũngkhông ít những quan niệm tương đối về quản lý như khái niệm của Đỗ HoàngToàn đã nêu: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thểquản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả, có tiềm năng củamôi trường [34;tr90] Từ những khái niệm trên có thể rút ra một số đặc điểmcủa quản lý như sau:

- Quản lý là hoạt động điều khiển lao động

- Quản lý là một nghệ thuật tác động vào hệ thống

- Quản lý là sự thể hiện một tổ hợp các phương pháp nhằm vận hànhmột hệ thống đạt mục tiêu đã đặt ra

Theo định nghĩa của tác giả Đỗ Hoàng Toàn thì quản lý phải bao gồmcác yếu tố sau:

- Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho tất cả đối tượng và chủ thểquản lý, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động

Trang 17

- Có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động, tácđộng có thể một lần mà cũng có thể liên tục nhiều lần.

- Có ít nhất một đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động củachủ thể quản lý tạo ra các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủthể quản lý

- Chủ thể phải thực hành việc tác động Chủ thể có thể là một người,nhiều người, một thiết bị Còn đối tượng có thể là con người (một người hoặcnhiều người) hoặc giới vô sinh, giới sinh vật Do vậy: Quản lý không chỉ làmột khoa học mà còn là một nghệ thuật [34;tr 90]

Hoạt động quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ: Mô hình hoạt động quản lý

Để hiểu rõ khái niệm quản lý, ta có thể tìm hiểu thuật ngữ “quản lý”theo bản chất hoạt động này trong thực tiễn:

Chủ thể

quản lý

Khách thể quản lý

Phương Pháp

Mục tiêuCông

cụ

Trang 18

Thuật ngữ “quản lý” (Việt gốc Hán) gồm 2 quá trình tích hợp nhau:Quá trình “Quản” gồm coi sóc giữ gìn, duy trì hệ trạng thái “ổn định”; quátrình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thể “phát triển” Nếu chỉ

“quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì phát triển không bền vững Do

đó trong “quản” thì phải có “lý” và ngược lại nhằm cho hệ ở thể cân bằngđộng; Vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tươngtác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài Vì vậy cho dù vớicách tiếp cận nào thì bản chất của hoạt động quản lý là quá trình tác động cómục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lýtrong một tổ chức thông qua cơ chế quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hànhđạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đề ra

1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục

“Giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử

xã hội của các thế hệ loài người về hoạt động giáo dục, giáo dục là quá trìnhtác động của xã hội và của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục để hình thànhcho họ những phẩm chất nhân cách Về hành vi, khái niệm giáo dục bao gồmnhiều hành vi khác nhau” [16,tr.22]

Các nhà lý luận đã có nhiều công trình nghiên cứu và đưa ra nhữngkhái niệm về quản lý giáo dục dưới góc độ khác nhau

Theo A.G Apharaxep “Quản lý giáo dục nằm trong lĩnh vực văn hóa

-tư -tưởng [1]

- Theo M.I Kondacop: “Quản lý giáo dục là tập hợp tất cả các biệnpháp tổ chức kế hoạch hóa, công tác cán bộ… nhằm đảm bảo sự vận hànhbình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục mở rộng hệthống cả về số lượng cũng như chất lượng” [26;tr93]

- Các tác giả Nguyễn Sinh Huy - Hà Hữu Dững: “Quản lý giáo dục làtác động một cách có mục đích và có kế hoạch vào toàn bộ lực lượng giáo

Trang 19

dục, nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của chúng, sử dụng một cách đúngđắn các nguồn lực và phương tiện, thực hiện có kết quả những chỉ tiêu pháttriển về số lượng và chất lượng của sự nghiệp giáo dục theo phương hướngcủa mục tiêu giáo dục [22;tr150].

- Còn tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục thực chất là tácđộng một cách khoa học đến nhà trường, nhằm tổ chức tối ưu các quá trìnhdạy học, giáo dục thể chất theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng,tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” [33;tr93]

- Qua đó ta thấy có nhiều quan niệm về Quản lý giáo dục dưới góc độtiếp cận khác nhau, song có thể hiểu bản chất của Quản lý giáo dục là vậnhành các hoạt động giáo dục đạt tới mục tiêu đã xác định Quản lý giáo dục làhoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tácgiáo dục - đào tạo theo yêu cầu phát triển của xã hội Quản lý giáo dục là hệthống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thểquản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên

lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN ViệtNam mà tâm điểm chính là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, nhằm đạtđược những mục tiêu đã định

Từ đó có thể khái quát: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động cómục đích có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lýtrong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ

sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài

Quản lý giáo dục có những đặc trưng chủ yếu sau:

- Sản phẩm giáo dục là nhân cách là sản phẩm có tính đặc thù nên quản

lý giáo dục phải ngăn ngừa sự dập khuôn máy móc trong việc tạo ra sản phẩmcũng như không được phép tạo ra phế phẩm

Trang 20

- Quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng phải chú ýđến sự khác biệt giữa đặc điểm lao động sư phạm của đội ngũ giáo viên vớinhững đặc điểm lao động xã hội khác.

- Quản lý giáo dục phải đảm bảo những yêu cầu cao về tính toàn diện,tính thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính phát triển,…

- Quản lý giáo dục là những tác động có chủ định của chủ thể Quản lýgiáo dục đến đối tượng quản lý nhằm đạt đến những mục tiêu đã xác định Sựkhác biệt giữa quản lý giáo dục và các lĩnh vực quản lý khác được thể hiệntrong cấu trúc của nó: Cấu trúc của hệ thống Quản lý giáo dục bao gồm:

- Chủ thể quản lý giáo dục là trung tâm thực hiện có tác động hướngđích trung tâm ra quyết định điều hành và kiểm tra hoạt động của toàn hệthống Chủ thể Quản lý giáo dục là cán bộ ngành giáo dục, các nhà giáo dục

có kinh nghiệm và có năng lực lãnh đạo được chuyên môn hóa trong lao độngvới tư cách là cá nhân hay một tập thể

- Đối tượng Quản lý giáo dục: Là những khách thể chịu sự tác động củachủ thể quản lý và được biến đổi dưới tác động đó một cách phù hợp với quyluật khách quan và mục tiêu mà chủ thể quản lý đặt ra Đối tượng Quản lýgiáo dục bao gồm nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật của Giáo dục -Đào tạo và các hoạt động liên quan đến việc thực hiện chức năng của Giáodục - Đào tạo

- Cơ chế Quản lý giáo dục: Là phương thức thực hiện sự tác động qualại giữa chủ thể Quản lý giáo dục và đối tượng Quản lý giáo dục Cơ chế nàybao gồm cơ chế chính thức và cơ chế không chính thức Cơ chế chính thức lànhững quy định thành văn bản mang tính pháp lý được thực hiện duy trì quan

hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý như những truyền thống, phong tục, tậpquán, tồn tại ảnh hưởng đến hệ thống Quản lý giáo dục

Trang 21

Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia ra làm hai loại quản lý giáodục là:

- Quản lý hệ thống giáo dục: Quản lý giáo dục được diễn ra ở tầm

vĩ mô trong phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương(tỉnh/thành phố)

- Quản lý nhà trường: Quản lý giáo dục ở tầm vi mô, trong phạm vi mộtđơn vị, một cơ sở giáo dục

1.2.3 Khái niệm quản lý nhà trường.

Trường học là cơ quan chuyên trách việc đào tạo con người mới của xãhội Tất nhiên con người từ khi sinh ra và lớn lên, được giáo dục ở mọi nơi,mọi lúc, từ trong gia đình cho đến tất cả các cơ sở văn hóa, giáo dục, kinh tếcác tổ chức quần chúng, ở các khu phố, thôn xóm… Song trường học được tổchức và hoạt động theo một mục đích xác định với nội dung giáo dục đượcchọn lọc và sắp xếp hệ thống với những phương pháp giáo dục có cơ sở khoahọc và đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn với những nhà sư phạm đã đượctrang bị đẩy đủ về kiến thức khoa học và trau rồi về mặt phẩm chất đạo đứcvới những phương tiện và điều kiện giáo dục ngày càng hoàn thiện, với mộtquá trình đào tạo được liên tục trong một thời gian khá dài khoảng từ 10 - 15năm có vị trí và tác dụng quan trọng

Hoạt động đặc trưng của nhà trường là hoạt động dạy và học Đó làhoạt động có tổ chức, có mục đích có sự lãnh đạo của nhà giáo dục Đồng thời

có hoạt động tích cực, tự giác của người học trong tất cả các loại hình hoạtđộng học tập

Hoạt động học và hoạt động dạy diễn ra trong một môi trường xã hộinhất định và chịu ảnh hưởng của môi trường đó Nhà trường phải tận dụngnhững nhân tố tiến bộ trong xã hội để giáo dục học sinh - sinh viên đồng thờiphải góp phần thúc đẩy các quá trình xã hội phát triển theo những mục tiêu

Trang 22

kinh tế xã hội đã xác định, đấu tranh nhằm hạn chế và lọai trừ những biểuhiện, những xu hướng lạc hậu, tiêu cực Đồng thời thầy và trò phải ra sứctuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trongnhân dân địa phương Chất lượng của giáo dục và đào tạo chủ yếu do các nhàtrường đảm nhận, vì vậy khi nói đến quản lý nhà trường cũng như hệ thốngcác nhà trường, các nhà nghiên cứu về giáo dục đã đưa ra một số khái niệm vềquản lý nhà trường như sau:

Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc gia, ở

đó vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp tiến hành quá trìnhgiáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục “Nhàtrường là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp, có nội dung, có chương trình,

có phương tiện và phương pháp hiện đại, do một đội ngũ các nhà sư phạm đãđược đào tạo thực hiện Nhà trường là một môi trường giáo dục thuận lợi, cómột tập thể học sinh học tập, rèn luyện” [17;tr13] Vì vậy, nhà trường vừa làkhách thể chính của mọi cấp quản lý từ trung ương đến địa phương, vừa làmột hệ thống độc lập trong xã hội Chất lượng của giáo dục và đào tạo chủyếu do các nhà trường đảm nhiệm, vì vậy khi nói đến quản lý giáo dục thìphải nghĩ đến quản lý nhà trường cũng như hệ thống các nhà trường Các nhànghiên cứu về giáo dục đã đưa ra một số khái niệm về quản lý nhà trường nhưsau: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trongphạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lýgiáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáodục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [17;tr 62]

“Quản lý nhà trường là tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện được cáctính chất của nhà trường XHCN tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục củaĐảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân vàđất nước” [9;tr22]

Trang 23

M.I.Kodacop: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh (công việcnhà trường) là hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏitác động có ý thức, có khoa học và có hướng của chủ thể quản lý lên tất cảcác mặt của đời sống xã hội nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội,kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ đanglớn lên” [26;tr5].

Như vậy, quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi hoạt động quản

lý mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên vàhọc sinh, đến các lực lượng giáo dục trong nhà trường nhằm làm cho quátrình giáo dục và đào tạo vận hành một cách tối ưu tới mục tiêu dự kiến

Nội dung công tác quản lý trường học:

Hoạt động quản lý là một chuỗi công việc kế tiếp nhau, đã được táchriêng từng việc trên cơ sở chuyên môn hóa Đó là các chức năng của quản lý.Đối với bất kỳ đối tượng quản lý nào, ở cấp độ quản lý nào cũng phải thựchiện những chức năng quản lý chung Do đó chức năng quản lý cũng là tấtyếu khách quan của quản lý giáo dục hay quản lý bất kỳ đối tượng nào Khiquản lý trường học hiệu trưởng phải thực hiện các chức năng cơ bản đó Hệthống chức năng bao gồm: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Các chứcnăng thực hiện kế tiếp nhau thành một chu trình khép kín, hết chu trình nàylại tiếp chu trình khác Cũng cần lưu ý rằng trong thực tiễn công tác quản lý,các chức năng này thường lồng vào nhau, không thể tách biệt hoàn toàn vềmặt thời gian và thứ tự

Chức năng kế hoạch hóa bao gồm các công việc sau: Thu thập và xử lýthông tin để tìm ra những căn cứ của kế hoạch, xác định mục tiêu và phânhạng những ưu tiên; tìm tòi và lựa chọn những biện pháp, các phương án thựchiện mục tiêu, soạn thảo kế hoạch, thông qua kế hoạch và truyền đạt kế hoạch

Trang 24

đến người thực hiện Sau khi xây dựng xong kế hoạch thì người quản lý bắttay vào việc tổ chức thực hiện kế hoạch:

- Chức năng tổ chức bao gồm các phần việc: Xây dựng cơ cấu bộ máyquy định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, quan hệ của từng bộ phận, lựachọn phân công cán bộ cho công việc thích ứng với năng lực và phẩm chấtcủa từng người, chuẩn bị để cung ứng kịp thời các điều kiện vật chất, tàichính và tinh thần cho việc thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch, khai thác mọitiềm lực cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch

- Chức năng chỉ đạo bao gồm các việc ra lệnh cho các bộ phận, cá nhânthực hiện các nhiệm vụ công tác, hướng dẫn cách làm, điều hòa phối hợp giữacác bộ phận các cá nhân, kích thích tập thể và cá nhân thi đua làm tổ côngviệc được phân công, bồi dưỡng cán bộ giáo viên…

- Chức năng kiểm tra thực hiện mối liên hệ ngược trong quá trình quảnlý: Thu thập phân tích đánh giá tình hình diễn biến và kết quả của các côngviệc, phát hiện sai lệch và sửa chữa kịp thời nhằm đảm bảo mọi mục tiêu đểđược thực hiện đầy đủ và chính xác

Trong chu trình quản lý ngoài 4 chức năng trên còn có một số chứcnăng quan trọng nữa đó là chức năng thông tin Thông tin là nền tảng củaquản lý Quản lý có thông tin 2 chiều: Từ trên xuống và từ dưới lên Thông tinxen lẫn trong tất cả các chức năng khác và cũng cần cho tất cả các chức năng

đó Thông tin là những tư liệu, số liệu đã được chọn lọc, xử lý để sử dụng chomọi mục đích ý định Người hiệu trưởng phải tổ chức hệ thống thông tin trongtrường sao cho thường xuyên nắm bắt kịp thời chính xác đầy đủ về diễn biến

và kết quả của việc dạy và học, phải biết tổ chức tốt việc thu thập, xử lý,truyền đạt và lưu trữ thông tin

Trang 25

1.2.4 Hoạt động dạy học

Theo giáo dục học thì: Hoạt động dạy học gồm hai hoạt động: hoạt

động dạy của thầy và hoạt động học của học sinh Hai hoạt động này luônluôn gắn bó mật thiết hữu cơ với nhau, tồn tại với nhau và cùng phát triển

* Hoạt động dạy: Là sự tổ chức, điều khiển tối u quá trình học sinh lĩnh

hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách học sinh Vai trò chủ đạo củahoạt động dạy đợc biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển sự học tậpcủa học sinh, giúp họ nắm kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ Hoạt độngdạy có chức năng kép là truyền đạt thông tin dạy và điều khiển hoạt động học.Nội dung dạy học theo chơng trình quy định, bằng phơng pháp nhà trờng

* Hoạt động học: Là quá trình học sinh tự điều khiển tối u sự chiếm

lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, pháttriển nhân cách Vai trò tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác,tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh dới sự tổ chức, điều khiển của thầynhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học Khi chiếm lĩnh đợc khái niệm khoa họcbằng hoạt động tự lực, sáng tạo, học sinh đồng thời đạt đợc ba mục đích bộphận:

Trí dục: (nắm vững tri thức khoa học), Phát triển: (t duy và năng lực hoạt động trí tuệ), Giáo dục: (thái độ, đạo đức, thế giới quan khoa học, quan

điểm, niềm tin ).

Hoạt động học có hai chức năng thống nhất với nhau là: lĩnh hội thôngtin và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm của mình một cách tự giác,tích cực, tự lực Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống kháiniệm của môn học, phơng pháp đặc trng của môn học, của khoa học đó vớiphơng pháp nhận thức độc đáo, phơng pháp chiếm lĩnh khoa học để biến kiếnthức của nhân loại thành học vấn của bản thân đó là phơng pháp (mô tả, giảithích, vận dụng)

Vậy hoạt động dạy học là một trong những hoạt động giao tiếp sphạm mang ý nghĩa xã hội Chủ thể của hoạt động này tiến hành các hoạt

động khác nhau, nhng không phải là đối lập với nhau, mà song song tồn tại

và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất Kết quả học tập của họcsinh đợc đánh giá không chỉ là kết quả của hoạt động học mà còn là kết quả

Trang 26

của hoạt động dạy Kết quả dạy của thầy không thể đ ợc đánh giá mà táchrời kết quả học tập của học sinh.

Vậy hoạt động học là quá trình học sinh tự điều khiển tối u sự chiếmlĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, pháttriển nhân cách Vai trò tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác,tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh dới sự tổ chức, điều khiển của thầynhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học

1.2.5 Giải phỏp quản lý hoạt động dạy học ở trung tõm GDTX cấp huyện

* Giải phỏp

Theo từ điển Tiếng Việt giải phỏp là: Phương phỏp giải quyết một vấn

đề cụ thể nào đú Như vậy, núi đến giải phỏp là núi đến những cỏch thức tỏcđộng nhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quỏ trỡnh, một hoạt động,một trạng thỏi nhất định…, tựu chung lại, nhằm đạt được mục đớch hoạt động.Giải phỏp càng thớch hợp, càng tối ưu, càng giỳp con người nhanh chúng giảiquyết những vấn đề đặt ra Tuy nhiờn, để cú được những giải phỏp như vậy,cần phải dựa trờn những cơ sở lý luận và thực tiễn đỏng tin cậy

* Giải phỏp quản lý hoạt động dạy học.

Là những cỏch thức tỏc động hướng vào việc tạo ra những biến đổi vềchất lượng trong hoạt động dạy học

Trang 27

1.3 Một số vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX

1.3.1 Trung tâm GDTX

Ngay từ khi mới ra đời, nhà nước cách mạng non trẻ của ta đã phảiđương đầu với những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua nổi Giặcngoại xâm đe dọa, bọn phản quốc quấy phá, nạn đói tiếp tục hoành hành, đại

bộ phận nhân dân mù chữ 90% Để củng cố những thành quả của cách mạngvừa giành được, Đảng và Nhà nước ta do Hồ Chủ Tịch đứng đầu đã ra 3nhiệm vụ lớn và cấp bách: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm

Ngày 8/9/1945 Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kí sắc lệnh

số 17: “Đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam” và sắc lệnh số19: “Trong toàn cõi nước Việt Nam sẽ thiết lập cho nông dân và thợ thuyềnnhững lớp bình dân buổi tối” Sau hai sắc lệnh trên, một hệ thống tổ chứcđược hình thành từ Trung ương đến địa phương để lo cho việc học hành củangười dân Ở Trung ương có Nha bình dân học vụ, ở tỉnh thì có Ty bình dânhọc vụ, ở huyện và cơ sở (phố, phường, làng, xã…) có Ban vận động bình dânhọc vụ và các lớp bình dân học vụ… Hình thức học tập cũng rất phong phú:

Có địa phương mở lớp học giữa trời, ở những nơi nhân dân thường qua lạihàng ngày hoặc tụ tập làm ăn, nghỉ ngơi, vui chơi Nhiều làng tổ chức hìnhthức “hỏi chữ” ở cổng chợ, bến đò: Ai đọc được thì qua cổng “Vinh quang”trang trí đẹp…

Đó chính là cơ sở ban đầu của phương thức giáo dục không chính quy,tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà bộ phận cấu thành này có những tên gọikhách nhau như: ngành bình dân học vụ, ngành Bổ túc văn hóa, ngành họcGiáo dục Bổ túc và tại chức, ngành giáo dục Thường xuyên và nay là phươngthức giáo dục thường xuyên Từ đó cho đến nay cơ cấu khung của hệ thống

Trang 28

giáo dục quốc dân ở Việt Nam luôn có một bộ phận chuyên chăm lo việc họchành thường xuyên cho hàng chục triệu người lao động vừa làm vừa học.

Vào những năm 1990 - 1991, các trường bổ túc văn hóa, các trườngdạy nghề với chức năng, mục đích đào tạo, một loại chương trình học tập,năm đó cải cách giáo dục thêm lớp 9 Nên các trường rất ít học sinh theohọc và có nguy cơ giải thể Điều đó không có nghĩa là Giáo dục bổ túc đãhết chức năng, vai trò và nhiệm vụ giáo dục mà hệ thống giáo dục này bắtđầu sinh ra một loạt vấn đề, những mâu thuẫn bên trong cũng như bênngoài cần phải giải quyết, nổi bật là nhu cầu người học cần phải thay đổinội dung, chương trình dạy học đơn điệu trước đó Trước thực tế đó ởnhiều địa phương đã xóa bỏ lực lượng bổ túc văn hóa chuyên trách ở cơ sở,

ở phòng giáo dục quận huyện và cả ở sở GD&ĐT, những trường chưa giảithể thì hoạt động lay lắt, cầm chừng

Trong xu thế chung đó nền giáo dục quốc dân cũng phải đổi mới chophù hợp với sự phát triển KT - XH Để tồn tại, nội dung hoạt động của cácloại trường này phải chuyển đổi vừa dạy bổ túc văn hóa cho các lớp vừa họcvừa làm các nhiệm vụ khác như dạy chuyên đề khoa học cho người lao động,dạy nghề phổ thông, hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, nghĩa là bắt đầuhình thành một loạt trường mới - trường đa chức năng và dần dần từ đó loạitrường này chuyển thành Trung tâm Giáo dục thường xuyên

Quá trình đó được tiến hành như sau:

Như vậy Trung tâm Giáo dục thường xuyên ra đời là một tất yếu kháchquan của quy luật phát triển Giáo dục thường xuyên

Trường đachức năngTrường đơn

Trang 29

Từ khi ra đời cho đến nay, các Trung tâm Giáo dục thường xuyên đã tựkhẳng định được rằng: là hoạt động có tổ chức, có mục tiêu, có chương trìnhnhư giáo dục chính quy, nhưng cách thức học và thi cử linh hoạt hơn nhàtrường phổ thông, cách thức tổ chức thực hiện hết sức mềm dẻo đa dạng kể cả

về thời gian, chương trình, nội dung phù hợp với nhu cầu của đối tượng.Trung tâm Giáo dục thường xuyên đã và đang là một bộ phận cấu thànhkhông thể thiếu được của hệ thống giáo dục quốc dân và đã được nhà nước takhẳng định trong Luật Giáo dục

Quá trình phát triển của Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyệngắn với quá trình phát triển của hệ thống Giáo dục thường xuyên nhằm đápứng nhu cầu học tập của nhân dân

Hệ thống giáo dục thường xuyên được xác định là hệ thống giáo dụcnhằm tạo ra cơ hội học cho mọi người và có thể học tập suốt đời Nó tồn tạibên cạnh hệ thống trường lớp chính quy mà chủ yếu dành cho thanh niên ở độtuổi nhất định, học tập trong thời gian nhất định, trong hệ thống Giáo dụcthường xuyên vấn đề lứa tuổi, thời gian học… không đặt ra Hình thức họcphong phú đa dạng… Mục đích cơ bản của nó là tổ chức tốt việc học tập suốtcuộc đời, cho mọi người nhằm tiến tới một “ xã hội học tập”

Đối tượng theo học Giáo dục thường xuyên phần lớn là những ngườilớn tuổi, đã đi làm những thanh thiếu niên không có điều kiện học tập tại cáctrường chính quy

Ngày 7/11/1992, quy chế về tổ chức hoạt động của Trung tâm Giáo dụcthường xuyên được ban hành theo quyết định số 2463/QĐ đã khẳng địnhnhững bước đi ban đầu đúng đắn và hướng phát triển của Trung tâm giáo dụcthường xuyên Căn cứ vào quyết định này các địa phương thành lập các Trungtâm Giáo dục thường xuyên

Trang 30

Quy chế quy định: “Trung tâm Giáo dục thường xuyên là đơn vị cơ sởthuộc hệ thống giáo dục quốc dân có thể được thành lập cho một huyện do sởGiáo dục & Đào tạo hoặc UBND huyện trực tiếp quản lý, có tư cách phápnhân, có con dấu riêng và có tài khoản để đảm bảo các hoạt động giáo dục vàsản xuất, dịch vụ theo quy định hiện hành.

Chức năng của Trung tâm giáo dục thường xuyên là tạo cơ hội học tậpcho mọi người, đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và gópphần phát hiện, bồi dưỡng nhân tài cho địa phương

Việc thực hiện theo quy chế ở các địa phương khác nhau Ở một sốtỉnh, thành phố với nhiều lý do hoặc có khó khăn về mặt tổ chức hệ thống, cáctỉnh này chỉ thành lập 1, 2 Trung tâm Giáo dục thường xuyên để thí điểm mộtcách dè dặt Một số tỉnh khác nhạy bén nắm bắt được yếu tố tích cực củaTrung tâm Giáo dục thường xuyên trong việc đáp ứng nhu cầu học tập phongphú của nhân dân, đồng thời có sự chỉ đạo và động viên của Bộ đã thành lậpcác Trung tâm Giáo dục thường xuyên một cách chặt chẽ và cẩn trọng

Cuối năm 1992 -1993, ở các tỉnh này hầu hết mỗi huyện đều có ít nhất01Trung tâm GDTX đi vào hoạt động có hiệu quả Những yếu tố tích cực của

nó với địa phương càng được thể hiện rõ Số lượng Trung tâm giáo dụcthường xuyên quận huyện ngày càng tăng

Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của hệ thống các Trung tâmGiáo dục thường xuyên ngày 20/5/1997 Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ban hànhquy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Giáo dục thường xuyên, quận,huyện theo quyết định số 1660/QĐ - GD & ĐT thay thế quy chế trước đó vàkèm thông tư hướng dẫn thực hiện đã có đánh dấu bước phát triển mới về mặtpháp lý của các cấp quản lý giáo dục Điều quan trọng nhất của bản quy chế là

đã xác định được vị trí tương đương của Trung tâm Giáo dục thường xuyênvới các trường THPT, trong đó có 3 yếu tố quan trọng:

Trang 31

- Về tài chính: Trung tâm Giáo dục thường xuyên được xác định là đơn

vị dự toán và kế toán hành chính sự nghiệp cấp 3 như trường THPT

- Về biên chế nhân sự: Trung tâm Giáo dục thường xuyên do UBNDtỉnh ra quyết định thành lập

- Về chuyên môn: Do sở Giáo dục & Đào tạo trực tiếp chỉ đạo như cáctrường THPT Việc xác định đó chưa phải là phù hợp với các địa phương.Tuy nhiên về cơ bản đã tháo gỡ những vướng mắc chủ yếu ở cơ sở và tạo điềukiện thuận lợi cho sự phát triển của Trung tâm Giáo dục thường xuyên

Để phát triển Giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu của xã hội, ngày25/9/2000 Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ban hành quy chế tổ chức vàhoạt động của Trung tâm Giáo dục thường xuyên theo quyết định số 43/2000/

QĐ - BGD & ĐT thay thế quy chế trước đó đã nâng lên một bước phát triểnmới về nhận thức của các cấp quản lý giáo dục Trong bản quy chế mới này

đã có những điểm mới và quan trọng như quy định về kiểm tra, đánh giá, xếploại học tập của học viên

Về quyền lợi của giáo viên được quy định như giáo viên ở các trườngphổ thông cùng cấp Đặc biệt là cơ sở vật chất của Trung tâm Giáo dụcthường xuyên phải có đủ phòng học, phòng thí nghiệm, thực hành lao độngsản xuất đáp ứng được yêu cầu giảng dạy của giáo viên và yêu cầu học tậpcủa học viên

Sự ra đời của Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện là một tấtyếu khách quan của xã hội, là sự đòi hỏi của sự phát triển KT - XH đối vớigiáo dục

Trên đây là lịch sử phát triển chung của ngành học Giáo dục thườngxuyên tỉnh Bắc Ninh cùng các tỉnh, thành trong cả nước, ngành Giáo dụcthường xuyên tỉnh Bắc Ninh cũng có những phát triển vượt bậc

Trang 32

* Khái niệm Giáo dục thường xuyên

Giáo dục thường xuyên được thế giới quan tâm đến từ Hội nghị giáodục người lớn thế giới lần thứ I được tổ chức tại Elsimon - Đan Mạch (1949)

Từ đó cho đến nay nhiều Hội nghị thế giới về Giáo dục thường xuyên đã được

tổ chức nhằm đánh giá tình hình, chỉ ra xu thế phát triển và những vấn đề đặt

ra cho Giáo dục thường xuyên trên phạm vi toàn cầu

Ở Việt Nam trong những năm qua nhất là từ những năm tiến hành côngcuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn có nhiều chủ trương, chính sách

để phát triển hệ thống Giáo dục thường xuyên Luật giáo dục sửa đổi bổ sungnăm 2005 khẳng định: “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm: Giáo dục chính quy

và giáo dục thường xuyên Giáo dục thường xuyên giúp cho mọi người vừalàm, vừa học, học liên tục, học suốt đời” [31;tr38]

Giáo dục thường xuyên là phương thức giáo dục không chính quy, giúpcho mọi thành viên trong xã hội có cơ hội vừa học, vừa làm, liên tục, suốt đờinhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn và nghiệp vụ, hoàn thiệnnhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống, thích nghi và đáp ứng đúng yêucầu phát triển kinh tế - xã hội [18;25]

Giáo dục thường xuyên được hình thành từ tên gọi giáo dục khôngchính quy, nó vừa phân cách sự thống nhất về bản chất của giáo dục bổ túc vàđào tạo bồi dưỡng tại chức là tính liên tục của quá trình học tập vừa phải tránhnhững hạn chế có tính định kiến (do các khái niệm bổ túc, chuyên tu, tại chứcquy định), đồng thời lại mở đường cho một xu thế phát triển (việc học là củamọi người không chỉ dành riêng cho những người có chức” [34;tr15] Để thỏamãn nhu cầu đó, hệ thống giáo dục không chính quy, được kiến tạo từ hệthống nhất gọi là Giáo dục thường xuyên Từ khái niệm Giáo dục thườngxuyên chúng ta có thể hiểu Trung tâm Giáo dục thường xuyên là nơi mà ai cónhu cầu học tập đều tìm thấy ở đó một tổ chức hoạt động giáo dục có nội

Trang 33

dung học, hình thức học mà mình hài lòng nhất, giúp mình thêm những hiểubiết cần thiết để hòa nhập với cộng đồng, mưu cầu hạnh phúc [33;tr402].

1.3.2 Những đặc trưng của hệ thống Giáo dục thường xuyên

Hệ thống Giáo dục thường xuyên góp phần phát triển nguồn tài nguyêncon người (Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài) phục vụcông việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Chính vì vậy Giáo dục thường xuyên thường được nhiều đối tượnghoan nghênh như những người phải bỏ học giữa chừng khi đang học trongnhà trường chính quy, những người nghèo hoặc thất nghiệp, những người

di cư, những người tị nạn, những phụ nữ ít có cơ may học tập, những người

về hưu…

Theo UNESCO: Giáo dục thường xuyên thực hiện nhiều chức năngkhác nhau

Tổng kết về vai trò cần thiết của Giáo dục thường xuyên, người ta rút ra

4 chức năng chính của hệ thống giáo dục này như sau:

- Chức năng thay thế: Thực hiện chức năng này Giáo dục thường xuyêntạo cơ hội học tập thứ hai cho những ai chưa bao giờ đi học, từ đó góp phầnvào việc mang lại công bằng cho xã hội và bình đẳng trong giáo dục

Trang 34

- Chức năng nối tiếp: Với những người bỏ học giữa chừng vì lý do nào

đó, giáo dục thường xuyên nối lại sự đứt đoạn trong quá trình học tập của họ,làm cho việc học tập lại được thực hiện liên tục và liền mạch

- Chức năng bổ sung: Những người đã được cung ứng những tri thức và

kỹ năng nhờ quá trình giáo dục chính quy hoặc không chính quy thường luônluôn thấy bản thân còn thiếu hụt những kiến thức, những kỹ năng nào đótrong quá trình lao động, giao lưu xã hội… Sự thiếu hụt này làm cho họ khóthích nghi, khó phát triển trong điều kiện xã hội thay đổi nhanh chóng về cácphương tiện sản xuất, kinh doanh, quan hệ đối ngoại… Thực tế đó yêu cầucon người phải cập nhật những hiểu biết, những phương pháp làm việc… cầnthiết mà cuộc sống đòi hỏi

- Chức năng hoàn thiện: Với chức năng này Giáo dục thường xuyênmang lại cơ hội học tập mà qua đó con người làm vốn kinh nghiệm của mìnhđầy đủ hơn, năng lực hoạt động được nâng cao, sức khỏe được tăng cường,những phẩm chất nhân cách con người được phát triển hài hòa và hoàn chỉnhhơn

+ Xóa nạn mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ

+ Phổ thông ngoài giờ cho người lớn

+ Đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kỳ, bồi dưỡng cập nhập trí thức và

kỹ năng

Học tập theo sở thích về ngoại ngữ, pháp luật và kinh doanh…

Trang 35

Các chương trình giáo dục đại học thực hiện theo phương thức khôngchính quy do các cơ sở giáo dục đại học đảm nhận.

- Các cơ sở thực hiện Giáo dục thường xuyên phải đảm bảo chất lượngđào tạo, thực hiện nghiêm túc mục tiêu, chương trình giáo dục, quy định kiểmtra, đánh giá theo quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo

* Nguyên tắc chỉ đạo hoạt động:

- Đáp ứng nhu cầu của mọi người, dành ưu tiên cho các đối tượng cókhó khăn, quan tâm đến những người có vai trò tích cực trong sản xuất, lĩnhvực hoạt động xã hội

- Thiết thực, chú trọng việc cung ứng các kiến thức và kỹ năng dùngngay trong cuộc sống, nội dung học tập theo nhiều trình độ (từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp)

- Linh hoạt, phải được xây dựng theo 1 mô hình có khả năng thườngxuyên điều chỉnh thích nghi với những thay đổi liên tục của xã hội đồngthời tạo điều kiện cho người học có nhiều lựa chọn chương trình học, nộidung học tập

* Nhiệm vụ cụ thể của Trung tâm Giáo dục thường xuyên:

- Hướng dẫn cách học

- Cung ứng tài liệu học tập

- Hợp đồng với trường hoặc cá nhân để tổ chức các khóa, lớp học

- Làm đầu mối liên kết với các chương trình giáo dục và đào tạo ở địaphương

- Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện có thêm các vệ tinh đặttại các cơ sở để phục vụ địa bàn dân cư

- Về mặt nhân sự: Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp Huyện khôngthể và không cần có số lượng biên chế lớn

Trang 36

1.3.3 Giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân (HTGDQD)

Trong quan niệm truyền thống về HT QLGD, thì chỉ có chủ yếu pháttriển giáo dục trong nhà trường tập trung của giáo dục chính quy, ở đó cónhững quy định nghiêm ngặt về trình độ đầu vào, về độ tuổi học viên, về thờigian đào tạo, về địa điểm học tập, về tính chuyên cần của học viên… songtrước sự phát triển ngày càng cao của Khoa học và công nghệ hàng ngày hànggiờ luôn đầy ắp những thông tin quan trọng và cần thiết - đồng thời hàng ngàyhàng giờ hệ thống công nghệ được biến đổi đòi hỏi mỗi người muốn tồn tại vàphát triển phải có một cách tiếp cận mới, để theo sát những thay đổi đang và

sẽ diễn ra, giúp cho mỗi người có thể phát hiện và giải quyết những vấn đề

đó Nhu cầu học của mọi người ngày càng tăng, phương thức “giáo dục chínhquy” không thể đáp ứng được mà nó trở thành độc tôn cho một số người đápứng đủ các yêu cầu có thể tham gia

Trước tình hình đó, cần có cách nhìn rộng hơn về Giáo dục Giáo dụckhông chỉ là một giai đoạn nhất thời, chỉ diễn ra một lần, chỉ dành cho những

độ tuổi nhất định và cũng nên hiểu rằng nhà trường không phải là nơi duynhất để có thể hiểu biết - Thời gian học ở trường không phải là thời kỳ đào tạoduy nhất mà quá trình đó phải diễn ra liên tục xuyên suốt cả cuộc đời Đápứng yêu cầu của xã hội, cần phải có một phương thức giáo dục thích ứng hơncùng với Giáo dục chính quy để hoàn thành nhiệm vụ: Nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước - Đó là phương thức giáo dụckhông chính quy

Cho đến nay nhiều người vẫn nghĩ rằng Trung tâm GDTX là trường bổtúc văn hóa, họ cần hiểu rằng Trung tâm GDTX nay đã mở rộng chức năng,nhiệm vụ và tổ chức hoạt động so với các trường bổ túc văn hóa trước đây Ta

có thể hình dung sự khác biệt đó qua bảng sau:

Trang 37

Bảng: Phân biệt giữa Trường Bổ túc văn hóa với Trung tâm GDTX

Chức năng Trực tiếp giảng dạy văn hóa.

(các môn khoa học cơ bản)

- Tư vấn về GDTX.

- Tổ chức các hoạt động GD & ĐT.

Nhiệm vụ Một nhiệm vụ ổn đinh: Dạy

theo chương trình cấp lớp.

Nhiều nhiệm vụ khác nhau và nhiệm vụ thay đổi theo sự phát triển của cộng đồng.

Mục tiêu

Một mục tiêu: Nâng cao trình

độ văn hóa cho người học hết bậc trung học tạo cơ sở để lao động sản xuất, công tác hoặc học lên cao hơn.

Nhiều mục tiêu khác nhau và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện các mục tiêu KT - XH ở địa phương.

Hoạt động Trực tiếp dạy và học theo một

chương trình cấp lớp.

Nhiều hoạt động tổ chức giáo dục đa dạng, phong phú theo nhiều chương trình và hình thức học khác nhau.

Tổ chức bộ

máy Ổn định và thống nhất.

Tổ chức đa dạng và chuyển đổi

để thích ứng với nhiệm vụ mới.

Nguồn học viên từ lớp dưới.

Thu nhận theo một quy định nhất định.

Thu nhận cởi mở, cho mọi người.

và xã hội, nó giúp cho con người lao động thoát khỏi định mệnh ràng buộc

“con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa” Phương thức giáo dục

Trang 38

không chính quy đã là cơ may, là con đường để người lao động có thể họctập, có thể nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và có thể vươn lên học tập thànhđạt Mặt khác với sự linh hoạt và mềm dẻo trong quá trình đào tạo (như thờigian học tập, chi phí học không lớn lắm) với nội dung sát, phù hợp với nhucầu người học, phát huy ưu thế người học gắn với hành với thực tế trong quátrình học Chỉ có giáo dục không chính quy mới hội tụ đủ khả năng và điềukiện giải quyết nhu cầu này của xã hội.

Trong những năm qua Giáo dục không chính quy đã khẳng định vai trò

và vị trí của mình trong hệ thống giáo dục quốc dân, như đóng góp một phầnđáng kể trong công việc xóa mù chữ, chuyển cục diện từ 95% nhân dân mùchữ thành 94% nhân dân biết chữ, góp phần quan trọng trong việc nâng caodân trí cho cán bộ và nhân dân, đào tạo nhân lực cho nhiều ngành, nhiều địaphương Đặc biệt với phương châm đào tạo cần gì học nấy, người học có thểvừa làm vừa học nên Giáo dục không chính quy đã góp phần đào tạo nhân lựctheo địa chỉ và đặc biệt là tháo gỡ khó khăn cho giáo dục ở vùng sâu, vùng xa.Đến nay, đã có nhiều người theo con đường đào tạo không chính quy đã thànhđạt, trở thành chuyên gia, nhà quản lý và cũng đã có nhiều người đã nâng caotrình độ có thêm kỹ năng để tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm

Có thể coi Giáo dục chính quy như là một bộ phận đơn nhất hơn, tậptrung hơn và thang bậc hơn và giáo dục không chính quy là một bộ phận đadiện hơn, đa dạng hơn, phi tập trung hơn và tự quản nhiều hơn Hai bộ phậnnày tạo nên cái nền của học hành - xã hội học tập

Trong cuốn “Những vấn đề về phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH HĐH có viết: “Giáo dục suốt đời sẽ là một trong những chìa khóa nhằm vượtqua những thách thức của thế kỷ XXI”, giáo dục không chính quy gắn với

-“Bốn trụ cột của giáo dục: học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau

và học để làm người” Chính lẽ đó giáo dục không chính quy phải là phương

Trang 39

thức tồn tại đồng hành không thể thiếu bên cạnh Giáo dục chính quy trong Hệthống giáo dục quốc dân, nó phải được thể hiện cụ thể hóa, đại chúng hóa, đadạng hóa và phải thiết lập như một hệ thống năng động mở cửa.

1.3.4 Quản lý giáo dục thường xuyên

* Hệ thống GDTX:

Quyết định số 43/2000/QĐ - BGD&ĐT ngày 25 tháng 9 năm 2000 của

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâmGDTX quy định:

- Vị trí của Trung tâm GDTX: Trung tâm GDTX là cơ sở giáo dụckhông chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân Trung tâm GDTX có tưcách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng

- Nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm GDTX

Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục:

+ Chương trình XMC và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ

+ Chương trình BT tiểu học, BT THCS, BT THPT

+ Chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng

+ Chương trình đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kỳ, bồi dưỡng nâng caotrình độ, cập nhật kiến thức kỹ năng

+ Các chương trình giáo dục đáp ứng nhu cầu người học

+ Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập cầnthiết, để tổ chức các hình thức học tập phù hợp với từng đối tượng

+ Hỗ trợ để các trường THCN, CĐ, ĐH tổ chức thực hiện chương trìnhđào tạo không chính quy ở địa phương theo quy định tại điều 41 và 42 củaLuật giáo dục

+ Tổ chức các lớp học riêng theo các chương trình quy định tại điểm 1cho các đối tượng hưởng chính sách ưu đãi và đối tượng hưởng chính sách xãhội khác theo kế hoạch đào tạo của địa phương

Trang 40

+ Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề, các hoạt động lao động sảnxuất và các hoạt động khác phục vụ học tập.

+ Quản lý giáo viên, nhân viên và học viên

+ Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chínhtheo quy định của pháp luật

+ Nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm đối với các hoạt động của Trungtâm GDTX, góp phần phát triển giáo dục không chính quy

Hệ thống của Trung tâm GDTX bao gồm:

Trung tâm GDTX thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gọi làTrung tâm GDTX tỉnh

Trung tâm GDTX thuộc quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh( gọichung là Trung tâm GDTX quận, huyện)

Trung tâm GDTX thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổchức kinh tế, lực lượng vũ trang nhân dân (gọi là Trung tâm GDTX thuộc các

tổ chức)

Trung tâm ngoại ngữ, tin học

Trung tâm GDTX tỉnh, trung tâm GDTX quận, huyện, trung tâmGDTX thuộc các tổ chức do Sở GD & ĐT quản lý, chỉ đạo trực tiếp

Trung tâm GDTX được hiểu là tổ chức căn bản của hệ thống giáo dụcthường xuyên Trung tâm GDTX vừa là nơi trực tiếp vừa là đầu mối liên kếtgiữa các tổ chức khác nhau trong cộng đồng, cung ứng cơ hội học tập chonhững người không có điều kiện học tập trong các nhà trường chính quy

Trung tâm GDTX phân phối thành một mạng lưới, mỗi trung tâm phục

vụ một địa bàn dân cư:

* Nghị định số 90/CP của Chính Phủ ban hành ngày 24/1/1993 quyđịnh cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân Trong đó Giáo dụcthường xuyên là một phần hệ của hệ thống giáo dục quốc dân

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.G.Aphanaxep. Con người trong quản lý xã hội. NXB Khoa học xã hội. Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong quản lý xã hội
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội. Hà Nội 1999
2. Lý Ân, Lý Dương; Nghệ thuật lãnh đạo quản lý, NXB Thống kê, Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật lãnh đạo quản lý
Nhà XB: NXB Thống kê
4. Đặng Quốc Bảo: Một số vấn đề khoa học quản lý và việc vận dụng quản lý giáo dục - quản lý nhà trường. Tập bài giảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề khoa học quản lý và việc vận dụng quản lý giáo dục - quản lý nhà trường
5. Đặng Quốc Bảo: Một số kinh nghiệm về quản lý - Trường quản lý giáo dục 6. Báo cáo của Sở GD & ĐT Bắc Ninh: Kiểm điểm thực hiện Nghị quyết số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm về quản lý - Trường quản lý giáo dục"6. Báo cáo của Sở GD & ĐT Bắc Ninh
7. Hoàng Minh Chúc: Tâm sự trong quản lý, tập 4, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: sự trong quản lý
Nhà XB: NXB Lao động
8. Phạm Khắc Chương (2004), Lý luận quản lý giáo dục đại cương - NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận quản lý giáo dục đại cương
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
9. Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục. Trường cán bộ quản lý - Viện khoa học giáo dục, Hà Nội 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục
10. Nguyễn Thị Doan (chủ biên). Các học thuyết quản lý, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết quản lý
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
11. Nguyễn Bá Dương (năm 1999): Tâm lý học quản lý dành cho người lãnh đạo, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học quản lý dành cho người lãnh đạo
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
13.Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
16. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1986
17. Phạm Minh Hạc: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, NXB Chính trị quốc gia
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia"
18. Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý giáo dục. NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục
Tác giả: Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
19. Đặng Vũ Hoạt - Hà Thị Đức: Lý luận dạy học Đại học (Đại học sư phạm Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học Đại học
20. Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ (1987), Giáo dục học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1987
21. Nguyễn Văn Hộ- Hà Thị Đức, Giáo dục học đại cương tập 1, tập 2, NXB Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương tập 1, tập 2
Nhà XB: NXB Giáo dục
22. Nguyễn Sinh Huy- Hà Hữu Dũng. Giáo dục học, NXB Giáo dục, Hà Nội 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Nhà XB: NXB Giáo dục
23. Hà Sỹ Hồ: Những bài giảng về quản lý trường học, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về quản lý trường học
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê chất lượng của học viên Bổ túc THPT tỉnh Bắc Ninh Năm học 2009 - 2010 - Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh bắc ninh luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng th ống kê chất lượng của học viên Bổ túc THPT tỉnh Bắc Ninh Năm học 2009 - 2010 (Trang 63)
Bảng 6: kết quả khảo sát 50 giáo viên của các TTGDTX cấp huyện  tỉnh Bắc Ninh nói về hoạt đọng dạy học ở các TTGDTX và việc quản lý  hoạt động dạy học ở các TTGDTX cấp huyện (phiếu trưng cầu số 1). - Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện tỉnh bắc ninh luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 6 kết quả khảo sát 50 giáo viên của các TTGDTX cấp huyện tỉnh Bắc Ninh nói về hoạt đọng dạy học ở các TTGDTX và việc quản lý hoạt động dạy học ở các TTGDTX cấp huyện (phiếu trưng cầu số 1) (Trang 83)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w