1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn

95 722 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Tác giả Lã Thành Trung
Người hướng dẫn PGS.TS. Thái Văn Thành
Trường học Trường Đại Học Sài Gòn
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn giáo dục nêu trên và góp phần nâng caohiệu quả công tác quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Đại học Sài Gòn, chúngtôi chọn đề tài: “Mộ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÃ THÀNH TRUNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI

HỌC SÀI GÒN

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ SỐ: 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS THÁI VĂN THÀNH

TP.Hồ Chí Minh – 2010

Trang 2

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1. CBCNV Cán bộ công nhân viên

2 CHXHCNVN Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

3 CNH Công nghiệp hóa

4 HĐH Hiện đại hóa

8 ĐTTC Đào tạo tại chức

9 GD-ĐT Giáo dục đào tạo

17 UBND Ủy ban Nhân dân

18 UNESCO United Nations Educational, scientific

and Cultural Organization

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 9

1.3 Quản lý đào tạo ở trường đại học 20

Trang 3

1.4 Quản lý hệ VLVH trong trường đại học 24

1.5 Giải pháp quản lý đào tạo hệ VLVH ở trường đại học 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA

LÀM VỪA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

35

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ

VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Đại hội cũng đã chỉ rõ “muốn tiến

hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” Phát

Trang 4

triển giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu, là nền tảng để phát triển nguồnnhân lực.Theo đó, trong những năm qua, ngành giáo dục đã có nhiều biện pháp đổi mớitheo hướng đa dạng hóa phương thức đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục cho mọi

tầng lớp nhân dân và để xây dựng một xã hội học tập "mọi người được đi học, học thường

xuyên, học suốt đời" Giáo dục chính quy (GDCQ) được kết hợp với các hình thức vừa

làm vừa học (VLVH)

Thực hiện quan điểm của Đảng về giáo dục và đào tạo: "Giáo dục cho mọi người";

"Cả nước trở thành một xã hội học tập", GDĐH Việt Nam còn phải thực hiện bước chuyển từ "Đại học tinh hoa" sang "Đại học đại chúng" nhằm đáp ứng nhu cầu học tập,

học thường xuyên, học suốt đời ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội

Con đường tất yếu phải thực hiện là "phát triển nhanh quy mô; đồng thời phải bảo đảm

về chất lượng"

Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát

của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình

trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt”

Do vậy, giáo dục và đào tạo, khoa học - công nghệ có vai trò quyết định trong sựphát triển của nền kinh tế quốc dân; nhu cầu phát triển giáo dục và đào tạo là rất bức thiết.Sau 20 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng.Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 xác định mục tiêu, giải pháp và các bước đitheo phương châm đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xây dựng một nền giáo dục nước

ta sớm tiến kịp các nước phát triển trong khu vực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài, tạo ra nguồn lực to lớn và có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển củađất nước

Trang 5

Đại hội lần thứ X của Đảng cũng vẫn đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực, ngànhgiáo dục và đào tạo góp phần quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho đấtnước, đó là yếu tố quyết định trong nội lực của đất nước phát triển trong thời đại mới Đểthực hiện được nhiệm vụ này, ngành giáo dục và đào tạo cần sự nghiên cứu, tìm tòi, thiết

kế nội dung chương trình, đổi mới phương pháp, có quan điểm cụ thể trong quá trình dạyhọc Trong từng bậc học, cấp học, hoạt động dạy học là hoạt động chính, chủ yếu trongnhà trường, quyết định trực tiếp tới chất lượng của nguồn nhân lực, nên việc tìm ra nhữngbiện pháp quản lý họat động dạy học để nâng cao chất lượng dạy học là hết sức cần thiết

Nghị quyết TW 2 BCH TW Đảng, khóa VIII nhận định: "Công tác quản lý giáo dục - đào

tạo có những mặt yếu kém, bất cập Mở rộng quy mô giáo dục - đào tạo và phát triển nhiều loại hình giáo dục - đào tạo nhưng có nhiều thiếu sót trong việc quản lý chương trình, nội dung và chất lượng " Nghị quyết cũng đã đề ra bốn giải pháp chủ yếu chođịnh hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện

đại hóa Trong đó, giải pháp thứ 4 là "Đổi mới công tác quản lý giáo dục"

Thực trạng công công tác quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học Sài Gòn

Thực tế công tác quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học của trường Đại học Sài Gòntrong những năm qua cho thấy số lượng học viên hệ vừa làm vừa học của trường Đại họcSài Gòn ngày một tăng Điều này tỉ lệ thuận với nhu cầu chuẩn hóa giảng viên cũng nhưnhu cầu phát triển của nhân viên các công ty xí nghiệp Vì thế áp lực về đội ngũ giảngviên, chương trình đào tạo, giáo trình hay cơ sở vật chất ngày một cấp bách để đáp ứngnhu cầu của xã hội

Mặc dù việc nâng cao chất lượng đào taọ hệ vừa làm vừa học còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố nhưng việc đổi mới quản lý nhà trường mà cốt lõi là công tác quản lý đào tạo

là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo hệvừa làm vừa học, vấn đề này chưa được tác giả nào quan tâm nghiên cứu

Trang 6

Xuất phát từ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn giáo dục nêu trên và góp phần nâng caohiệu quả công tác quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Đại học Sài Gòn, chúngtôi chọn đề tài:

“Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Đại học Sài Gòn.”

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việcnâng cao chất lượng quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học của trường Đại học Sài Gòn

Công tác quản lý hệ đào tạo vừa làm vừa học ở trường Đại học Sài Gòn

3.2: Đối tượng nghiên cứu:

Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Đại học Sài Gòn

4 Giả thiết khoa học:

Nếu chúng ta xây dựng các giải pháp đảm bảo tính khoa học, khả thi sẽ nâng cao đượchiệu quả quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Đại học Sài Gòn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

 Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

 Xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài

 Xây dựng một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Đại học Sài Gòn

6 Phương pháp nghiên cứu:

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:

 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

 Nhóm các phương pháp Thống kê toán học để sử lý số liệu

7 Đóng góp của luận văn:

Trang 7

 Đề tài nêu lên được thực trạng công tác quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ởtrường Đại học Sài Gòn.

 Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ởtrường Đại học Sài Gòn

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, Tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm ở Trường Đại họcSài Gòn

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đào tạo đại học hệvừa làm vừa học ở trường Đại học Sài Gòn

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1: Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1:Trên thế giới

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, vấn đề về giáo dục thường xuyên chongười lớn tuổi đã được quan tâm ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, có thể nói rằngcho đến tận cuối thập niên 50 của thế kỷ trước thì đào tạo chính quy cơ bản vẫn là hìnhthức duy nhất trong hệ thống giáo dục và đào tạo toàn cầu

Năm 1972, Edgar Farue - Chủ tich Uỷ ban Quốc tế về phát triển giáo dục (thuộc

UNESCO) trong báo cáo với nhan đề “Học để tồn tại: thế giới giáo dục hôm nay và ngày

mai” đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, với các khái niệm quan trọng là “Học suốt đời” và “Tính phù hợp” Với việc đặt giáo dục cho đối tượng người lớn tuổi trong

khuôn khổ của giáo dục suốt đời, khái niệm “xã hội học tập” được nhiều nhà giáo dục lớn

trên thế giới đưa ra bàn luận và kết quả tất yếu là quan niệm về giáo dục đã được mở rộng

Trang 8

hơn: Giáo dục người lớn, giáo dục thường xuyên, giáo dục không chính quy phải được coi

là bộ phận chủ yếu quan trọng cùng với nhà trường chính quy cung cấp cơ hội học tậpsuốt đời cho mọi người Đây là định hướng cho cải cách giáo dục giai đoạn này

Điều này có thể giải Một công trình được thế giới thừa nhận như một triết lý củagiáo dụcthế kỷ XXI là báo cáo của Ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI, dưới sự chủtọa của Jacques Delors, nguyên Chủ tịch ủy ban Châu Âu (EC) nhiệm kỳ 1985-1995 và

được UNESCO công bố tháng 4 năm 1996, với tên gọi “học tập, một kho báu tiềm ẩn”.

Trong đó báo cáo này dành chương V để phân tích việc học suốt đời Theo đó có thể tómtắt triết lý của một nền giáo dục cần thiết cho thế kỷ XXI: Học tập suốt đời và XHHT.Học tập suốt đời được coi là chìa khóa mở cửa vào thế kỷ XXI Nó vượt qua cách hiểuthông thường về GDCQ và KCQ; hình thành quan niệm mới về giáo dục ban đầu và giáodục tiếp tục Học tập suốt đời gắn với quan niệm mới về một XHHT, ở đó tất cả mọi thứđều có thể tạo ra cơ hội học tập để phát huy tiềm năng của mỗi người

Ngoài công trình nghiên cứu trên, còn có nhiều nghiên cứu khác cũng đề cập tới xuthế học tập suốt đời trong thời đại mới Chẳng hạn, các nhà Tương lai học, Giáo dục họchàng đầu thế giới và khu vực như Alvin Toffler, Warren Bennis, Stephen Covey, GaryHamel, Kevin Kelly, Philip Kotler, John Kotter Michael Porter, Perer Senge, Thoms L.Friedman, Raja.Roysingh, Tsunesaburo Makiguchi đã phân tích các đặc trưng của xã hộihiện đại, được xây dựng trên nền tảng của hệ thống tri thức khoa học phát triển nhanh,biến đổi mạnh và sự thông tin toàn cầu Từ đó các nhà tương lai học trên đã đưa ra các dựbáo nền giáo dục của tương lai hoàn toàn khác với giáo dục truyền thống Đó là nền giáodục siêu công nghiệp mà một trong nhiều đặc trưng của nó là do sự lỗi thời nhanh chóngcủa kiến thức và sự biến động mạnh mẽ của nền sản xuất xã hội, do đó, nền giáo dục phảihướng đến sự giáo dục suốt đời trên cơ sở thường xuyên đào tạo lại Trong tác phẩm “Dựbáo thế kỷ XXI” các nhà khoa học Trung Quốc cũng nhấn mạnh đến đặc trưng của giáodục tương lai và xu thế học tập suốt đời đối với mỗi cá nhân và một XHHT Cùng với vấn

đề xu thế học tập suốt đời, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung làm sáng tỏ vấn đề XHHT.Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX khái niệm XHHT đã được tranh luận sôi nổi trên

Trang 9

diễn đàn giáo dục Có thể kể ra các công trình nghiên cứu của Donal Shon, RobertM.Hutchins, Argyris, Husén, Edgarl Faure, Stwarde Ranson, Richard Edwards v.v Côngtrình của Donal Shon, với ý tưởng các công ty, các phong trào xã hội và các chính quyềnđều phải là “các hệ thống học tập” (Learning system) Một trong những công trình nghiêncứu về XHHT đáng chú ý là của Husen, nghiên cứu vai trò của sự tiến bộ của kỹ thuật với

sự ra đời của hội học tập, đặc biệt là những năm 40 của thế kỷ XX Một trong những côngtrình được nhiều người đánh giá cao là của Richard Edwards Theo Edwards XHHT làmột xã hội đảm bảo tự do, dân chủ và bình đẳng xã hội cho mọi người dân; bình đẳngnhất là ở chỗ mọi người dân đều tạo ra cho mình khả năng tự học và tự học suốt đời; nhucầu học tập, động cơ học tập là một động lực quan trọng Trên thực tế cho tới những nămđầu thế kỷ XXI xu thế học tập suốt đời và một XHHT đang được hiện thực hóa ở nhiềunước trên thế giới

Tại Pháp, tư tưởng toàn dân học tập và học tập suốt đời lần đầu tiên được đề xuấtbởi Paolo Lange, nhà quản lí giáo dục đưa ra vào những năm 60 của thế kỷ XX Năm

1972 Ủy ban Quốc tế do Thủ tướng Pháp chủ trì đã đưa ra báo cáo với tên gọi “sự tồn tại

của XHHT trên thế giới, giáo dục hôm này và ngày mai” đã chính thức xác nhận tính

pháp lí của tư tưởng này, không chỉ ở Pháp mà trên phạm vi quốc tế Từ đó quan niệmhọc tập suốt đời ngày càng thâm nhập sâu vào thực tiễn giáo dục của nhiều nước trên thếgiới có nền giáo dục phát triển [45]

Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong lĩnh vực triển khai tư tưởng họctập suốt đời và XHHT Ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước, nền giáo dục Nhật Bản

đã cải cách theo xu thế mở ra các điều kiện để mọi người dân được học suốt đời Trongnhững năm 1984 - 1987, Nhật Bản đề ra chủ trương: Phải xây dựng một thể chế giáo dụcsuốt đời quá độ sang hệ thống giáo dục mới ổn định Năm 1988 Bộ Giáo dục Nhật đãcông bố sách trắng, trong đó khảng định: Nhật bản đang đối diện với mục tiêu của việc

cải cách giáo dục cho thế kỷ XXI “chính là thực hiện một XHHT suốt đời”.

Ở Mỹ, tháng 4 - 1984, trong báo cáo của Ủy ban giáo dục chất lượng cao toàn Liênbang đã gửi Quốc hội, trong đó nhấn mạnh: cần phải dốc sức vào việc giáo dục suốt đời,

Trang 10

mở ra một phong trào giáo dục với mục tiêu xã hội hóa học tập Ngày 18 - 4 - 1981 trong

chiến lược giáo dục của “kế hoạch năm 2000 của Mỹ”, do tổng thống Mỹ công bố lại

nhấn mạnh thêm một bước, học tập suốt đời kiến thức và kỹ thuật, suốt đời là học sinh và

hô hào mở cuộc vận động cải tạo nước Mỹ thành một nước “cả nước đi học”

Tại Hàn Quốc, ngày 31-5 -1995, Hội đồng về cải cách giáo dục (PCER) đã nghiêncứu và cho xuất bản cuốn sách “hệ thống giáo dục mới”, mà quan điểm cơ bản là xâydựng một xã hội giáo dục sống động và mở cửa Một trong những hướng ưu tiên củachương trình cải cách này là đa dạng hóa các loại hình giáo dục, tạo ra nhiều cơ hội giáodục cho mọi tầng lớp nhân dân được lựa chọn Một trong những việc làm ngay của HànQuốc trong cải cách giáo dục này là thành lập các trung tâm đa phương tiện quốc gia, qua

đó, người dân có thể được tiếp cận và sử dụng các phương tiện thông tin hiện đại vào việchọc tập của mình [2]. thích qua việc phân tích tình hình phát triển kinh tế - xã hội lúc đó:

1.1.2: Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, từ lâu các nhà khoa học và quản lý đã đặc biệt quan tâm đến việcnghiên cứu các biện pháp quản lý chất lượng đào tạo, đặc biệt là các trường ĐH, các Việnnghiên cứu đứng trước đòi hỏi cấp bách của việc cung ứng nguồn nhân lực của đất nướctrong từng giai đoạn phát triển Vấn đề này đã được công bố trên nhiều công trình nghiên cứu:

Có thể nêu một số trong các nhà nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này như: PhạmMinh Hạc [43], [54], [55], Vũ Văn Tảo [107], Nguyễn Minh Đường [71], Vũ Ngọc Hải[44], [45], [47], Phạm Tất Dong [30], [31], Đặng Quốc Bảo, Mạc Văn Trang, Đặng ThànhHưng, Tô Bá Trượng, Đào Thái Lai, Tạ Ngọc Thanh, Thái Xuân Đào v.v [33], [99].Liên tiếp trong hai năm 2004 -2005 Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam phốihợp với Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục tổ chức hai cuộc hội thảo khoa họcvới chủ đề xây dựng XHHT Các hội thảo này đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của cácnhà khoa học giáo dục Từ đây nhiều vấn đề cơ bản vê tư tưởng học tập suốt đời và xâydựng một XHHT đã được làm sáng tỏ như các khái niệm XHHT, cơ sở phương pháp luậncủa việc xây dựng XHHT; vai trò của XHHT trong thời đại mới, trong quá trình triểnkhai học tập suốt đời; các điều kiện thực hiện XHHT; phương hướng xây dựng và phát

Trang 11

triển XHHT ở Việt Nam trong thời gian tới… Ngoài ra, các tác giả khác như NghiêmĐình Vì, trong tác phẩm “Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài”, Hoàng Tụy và nhómgồm 23 giáo sư trong bản kiến nghị gửi lên Thủ tướng Chính phủ về chấn hưng và hiệnđại hóa giáo dục [100], Thái Duy Tuyên, trong tác phẩm “Giáo dục học hiện đại” [102],đều nhấn mạnh mọi người cần học tập, học thường xuyên, học suốt đời.

Mặc dù các nghiên cứu ở trong nước tuy không ít nhưng còn tản mạn, chưa tập trung

và chưa đi sâu vào những khía cạnh bản chất, thiết thực của vấn đề chất lượng Không ítquan điểm về chất lượng giáo dục còn nghiêng theo nghĩa hành chính, thành tích hoặcthiếu nhất quán Do đó ngay cả về lý luận thì vấn đề chất lượng giáo dục nói chung, vấn

đề chuẩn hoá giáo viên nói riêng cũng cần được nghiên cứu đầy đủ hơn

Đặc biệt, các nghiên cứu về quản lý đào tạo hệ VLVH còn rất ít, nhất là nghiên cứu

về vấn đề này trong mối quan hệ với nhu cầu chuẩn hóa giáo viên của các địa phương còn

là một vấn đề khá mới mẻ, một mảnh đất trống cần quan tâm trong nghiên cứu khoa học

về QLGD

1.2: Một số khái niệm cơ bản:

1.2.1: Quản lý

1.2.1.1: Khái niệm về quản lý

Có thể nói: trong các hoạt động của con ngưới thì quản lý là một trong những hìnhthức lao động quan trọng nhất, đặc thù nhất, nó điều khiển các hoạt động lao động khác.Chính vì vậy, việc nghiên cứu về quản lý là vô cùng cần thiết, nó sẽ giúp cho con người

có được những kiến thức cơ bản nhất, chung nhất đối về hoạt động quản lý

Tuy nhiên, vấn đề quản lý là vấn đề hết sức phức tạp vì đối tượng hoạt động càng

đa dạng bao nhiêu thì lại càng đòi hỏi phải có các biện pháp quản lý phong phú bấy nhiêubấy nhiêu Chỉ riêng khái niệm “quản lý” cũng đã được các nhà triết học, các nhà khoahọc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào phương pháp tiếp cận

F.W Taylor cho rằng: Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau

đó thấy họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất

Trang 12

H Koontz thì khẳng định: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phốihợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức)

C.Mác nhận định: “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nàotiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòanhững hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận độngcủa toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Mộtngười độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạctrưởng ”

Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động củanhững người khác nhằm thu được kết quả mong muốn

Từ những định nghĩa trên và xét quản lý với tư cách là một hành động có thể địnhnghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đốitượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”

Từ định nghĩa trên có thể rút ra một số điểm sau:

- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định

- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản

lý, đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc

- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người

- Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luậtkhách quan

- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin

- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại

1.2.1.2: Bản chất quản lý

Mục tiêu của quản lý: Là cần tạo dựng một môi trường mà trong đó mỗi người cóthể hoàn thành được mục đích của mình, của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sựbất mãn của cá nhân ít nhất

Đối tượng của quản lý: Là các quan hệ quản lý, tức là quan hệ giữa người và ngườitrong quản lý, quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý Quản lý nghiên cứu các quan hệ

Trang 13

phát sinh trong quá trình hoạt động của con người, của các tổ chức Những quan hệ này

có thể là quan hệ của con người với môi trường, của tổ chức với môi trường Quản lýnghiên cứu các mối quan hệ này nhằm tìm ra quy luật và cơ chế vận dụng những quy luật

đó trong quá trình tác động lên con người, thông qua đó tác động lên các yếu tố vật chất

và phi vật chất khác như vốn, vật tư, trang thiết bị, công nghệ, thông tin … một cách cóhiệu quả Khoa học quản lý sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản làm nền tảng cho nghiêncứu sâu các môn học về quản lý tổ chức theo lĩnh vực hoặc theo ngành chuyên môn từquản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý nhân lực, quản lý tài chính … Như vậy tronglĩnh vực quản lý, vai trò lý thuyết quản lý cho ta những phương tiện phân loại các kiếnthức quan trọng và thích hợp về quản lý Những nguyên tắc trong quản lý có tính chất mô

tả hoặc tiên đoán, chứ không có tính tất yếu Điều này có nghĩa là, chúng phản ánh sự liên

hệ của một biến số với các biến số khác như thế nào, tức là cái gì sẽ xảy ra khi các biến sốnày tác động qua lại … Quản lý có nhiệm vụ tìm ra quy luật và tính quy luật của hoạtđộng quản lý, từ đó xác định các nguyên tắc, chính sách, công cụ, phương pháp và cáchình thức tổ chức quản lý để không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng quản lý

Tính khoa học: Tính khoa học của quản lý đòi hỏi các nhà quản lý trước hết phảinắm vững những quy luật liên quan đến quá trình hoạt động của tổ chức, đó không chỉ lànhững quy luật kinh tế mà còn là hàng loạt những quy luật khác, nắm quy luật thực chất lànắm vững hệ thống lý luận về quản lý Tính khoa học của quản lý còn đòi hỏi các nhàquản lý phải biết vận dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, những thànhtựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật Để nắm được và thực hiện được tính khoa học củaquản lý, trước hết phải biết tiếp cận khoa học thật rõ ràng với các khái niệm, tức là những

từ và những thuật ngữ chính xác, thích hợp với những sự việc đem phân tích với đầy đủcác thông tin có được Trên cơ sở này, nội dung phương pháp khoa học là xác định các sựviệc thông qua quan sát các sự kiện mà xác nhận các sự việc này thông qua quan sát tiếp.Sau khi phân loại và phân tích các sự việc, các nhà quản lý tìm kiếm những mối liên hệnhân quả mà họ tin là đúng Khi các khái quát hóa, hay là giả thuyết nêu ra đã được kiểmđịnh về mức độ chính xác và dường như đúng, phản ánh hoặc giải thích được thực tại và

Trang 14

do đó có giá trị trong việc dự báo cái gì sẽ xảy ra trong những hoàn cảnh tương tự thìchúng được gọi là các nguyên tắc Sự mô tả này không phải bao giờ cũng có nghĩa làchúng đúng mãi hoặc không còn gì đáng nghi ngờ nữa, mà có nghĩa là chúng được tin là

có đủ giá trị để dùng cho việc dự đoán Quan trọng hơn, khoa học quản lý còn cung cấpcho người quản lý phương pháp nhận thức và phương pháp hành động một cách kháchquan khoa học

Tính nghệ thuật: Quản lý là một khoa học nhưng mang tính nghệ thuật Kiến thứclàm cơ sở cho quản lý là một khoa học, còn vận dụng kiến thức đó để quản lý lại là nghệthuật Tính nghệ thuật của quản lý xuất phát từ tính đa dạng phong phú, tính muôn hìnhmuôn vẻ của các sự vật và hiện tượng trong kinh tế xã hội và trong quản lý Như vậy hoạtđộng quản lý là một lĩnh vực thực hành phải xử lý tình huống khác nhau nên còn phụthuộc vào tài nghệ từng người (được gọi là nghệ thuật quản lý) Đó là cách giải quyếtcông việc trong điều kiện thực tại của tình huống mà những kiến thức quản lý và sách vởkhông thể chỉ ra hết được

Quản lý là một nghề: Ngày nay, nghề quản lý đã được đào tạo ở nhiều nước trênthế giới trong các trường ĐH và bậc cao hơn Như vậy có thể nói là muốn tham gia quản

lý thì phải đào tạo hay nói cách khác: quản lý là một nghề Nhưng để có thể trở thành nhàquản lý giỏi hay không lại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Như vậy muốn quản lý

có kết quả thì trước tiên nhà quản lý tương lai phải được phát hiện năng lực, được đào tạonghề nghiệp, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm một cách chu đáo để phát hiện, nhận thứcmột cách chuẩn xác và đầy đủ các quy luật khách quan Đồng thời có phương pháp nghệthuật thích hợp nhằm tuân thủ đúng các đòi hỏi của các quy luật đó

Các thuộc tính của quản lý: Quản lý được ra đời trong quá trình phát triển xã hộiloài người Xã hội càng phát triển thì khoa học quản lý càng phát triển Khoa học quản lýcàng phát triển thì sẽ thúc đẩy xã hội phát triển Mối liên hệ này luôn quan hệ mật thiếthữu cơ với nhau và chúng được dựa trên hai thuộc tính cơ bản của quản lý:

- Thuộc tính chính trị - xã hội: Quản lý là quá trình phối hợp nỗ lực của nhiềungười để đạt được mục tiêu Về mặt chính trị - xã hội hoạt động quản lý mang tính giai

Trang 15

cấp, tính giai cấp trong quản lý được thể hiện trong mục tiêu của quản lý Xã hội có giaicấp thì quản lý mang tính giai cấp và được tiến hành vì lợi ích giai cấp thống trị xã hội Sựkhác biệt này thể hiện qua mục tiêu và quan hệ giữa người quản lý và người bị quản lý

- Thuộc tính tổ chức - kỹ thuật: Quản lý là quá trình điều khiển, giữa hệ thống hìnhthức các thủ pháp, phương pháp tiến hành, điều hành công việc Điều khiển là chức năngcủa những hệ có tổ chức (sinh học, xã hội, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của các

hệ, duy trì chế độ hoạt động và thực hiện hoạt động, xem xét theo góc độ này quản lýphản ánh sự tiến bộ xã hội, nên quản lý không mang tính giai cấp

1.2.1.3: Chức năng của quản lý:

Chức năng của quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thểquản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hóa trong hoạt động quản lý nhằm thựchiện mục tiêu chung của quản lý

Phân công gắn liền với hợp tác, phân công, chuyên môn hóa càng sâu, đòi hỏi sựhợp tác càng cao, mối liên hệ càng chặt chẽ với trình tự nhất định giữa các chức năngquản lý

Chức năng quản lý xác định khối lượng các công việc cơ bản và trình tự các côngviệc của quá trình quản lý, mỗi chức năng có nhiệm vụ cụ thể, là quá trình liên tục của cácbước công việc tất yếu phải thực hiện Chức năng của quản lý có vai trò rất quan trọng, nóxác định vị trí mối quan hệ giữa các bộ phận, các khâu, các cấp trong hệ thống quản lý

Mỗi hệ thống quản lý đều có nhiều bộ phận, nhiều khâu, nhiều cấp khác nhau, gắnliền với những chức năng xác định nào đó, nếu không có chức năng quản lý thì bộ phận

đó không còn lý do tồn tại Căn cứ vào chức năng quản lý mà chủ thể quản lý có thể theodõi, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh sự hoạt động của mỗi bộ phận và toàn bộ hệ thốngquản lý

1.2.1.4: Các chức năng cơ bản của quản lý:

Trong cuốn “Giáo trình khoa học quản lý” của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,xuất bản năm 2004 có nêu 7 chức năng cơ bản của quản lý gồm:

1 Dự báo (hay còn gọi là dự đoán)

Trang 16

Henry Fayol, một trong những người khởi đầu khoa học quản lý cho rằng quản lý có

4 chức năng cơ bản và là 4 khâu có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là:

1 Chức năng lập kế hoạch: Trong đó bao gồm dự báo, vạch mục tiêu Đây là chứcnăng đầu tiên, đó là bản hướng dẫn xác định mục tiêu, mục đích đối với các thành tựutương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu đó.Như vậy lập kế hoạch có liên quan đến mục tiêu, nhiệm vụ, xác định mục tiêu(phương hướng) đối với tổ chức, xác định và đảm bảo các phương tiện, điều kiện cácnguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu Trong lập kế hoạch bao gồm cả hai phươngdiện hoạch định cách thức tổ chức thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và kiểm tra, đánh giá quátrình thực hiện mục tiêu nhiệm vụ để thấy rõ những mục tiêu nhiệm vụ được thực hiệnnhư thế nào, đến đâu và nếu thấy chưa thỏa mãn thì quyết định xem những hoạt động nàocần thiết để đạt được mục tiêu đó

2 Chức năng tổ chức: Tổ chức công việc, sắp xếp con người

Người quản lý sau khi lập xong kế hoạch cần phải chuyển hóa những ý tưởng đóthành hiện thực, đó là tổ chức thực hiện

Tổ chức là quá trình sắp xếp, xác lập và liên kết các bộ phận các chức năng riêng lẻthành một hệ thống hoàn thiện, thống nhất tạo nên sức mạnh tổng hợp để đạt được mụctiêu quản lý

Dưới tác động của chức năng tổ chức diễn ra quá trình hình thành cấu trúc quan hệgiữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, nhằm làm cho họ thực hiệnthành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ chức năng tổchức mà người quản lý có thể kết hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực

Trang 17

một cách có hiệu quả, cho phép mọi người trong đơn vị có điều kiện góp phần tốt nhấtvào mục tiêu chung Tổ chức được coi là điều kiện của người quản lý, tổ chức là công cụcủa quản lý, tổ chức tốt sẽ là khởi nguồn kích thích các động lực, nếu tổ chức không tốt sẽkìm hãm, triệt tiêu các động lực, làm giảm hiệu quả quản lý.

3 Chức năng điều hành: Tác động đến con người bằng các quyết định để conngười hoạt động, đưa bộ máy đạt tới mục tiêu, trong đó bao gồm cả việc khuyến khích,động viên

Sau khi lập kế hoạch và xác định được cơ cấu tổ chức và nhân sự thì phải làm cho

hệ thống quản lý hoạt động, phải có người đứng ra lãnh đạo dẫn dắt tổ chức, đó là chứcnăng điều hành, điều khiển

Mục đích của điều hành là đưa tổ chức vào hoạt động để thực hiện mục tiêu Đây

là những tác động từ phía chủ thể quản lý, điều hành trong quản lý, là quá trình khởi động

và duy trì sự hoạt động của hệ thống quản lý theo kế hoạch đề ra

Điều hành thể hiện chức năng lãnh đạo, điều hành trong quản lý là thực hiện nhữngtác động lên con người, khơi dậy động lực con người trong hệ thống quản lý, là quá trìnhtác động lên con người với những động cơ khác nhau của họ Điều hành không chỉ là sự chỉdẫn, ra lệnh mà còn bao hàm cả sự động viên, khích lệ họ hoàn thành những nhiệm vụ

Điều hành là chức năng quản lý với ý nghĩa quyết định trong hoạt động quản lý, làyếu tố đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý khác Bởi lẽ con người với tư cách vừa làchủ thể vừa là đối tượng của quản lý, là nhân tố nội tại quyết định thành công hay thất bạicủa tổ chức

4 Chức năng kiểm tra: Kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhằm kịp thờiđiều chỉnh sai sót, đưa bộ máy đạt được mục tiêu xác định

Thông qua chức năng này, người quản lý theo dõi, giám sát các thành quả hoạtđộng và tiến hành những hoạt động sửa chữa, điều chỉnh sai sót, lệch lạc nhằm đảm bảothực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra

Tóm lại, các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất với một trình tựnhất định, trong đó từng chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ

Trang 18

phụ thuộc với chức năng khác Quá trình ra quyết định quản lý là quá trình thực hiện cácchức năng quản lý theo một trình tự nhất định Việc bỏ qua hoặc coi nhẹ bất cứ một chứcnăng nào trong chuỗi các chức năng đều ảnh hưởng xấu tới kết quả quản lý Các chứcnăng tạo thành một chu trình quản lý của một hệ thống.

1.2.1.5: Quản lý giáo dục:

Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội, mà lĩnh vực này ngày càng quantrọng trong đời sống xã hội Nói cách khác QLGD là điển hình nhất về quản lý con người,quản lý quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người

Về khái niệm QLGD có nhiều cách hiểu khác nhau:

- QLGD theo nghĩa tổng quát là “hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xãhội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh pháttriển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà chomọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sựđiều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân ”

- QLGD là “sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vựchoạt động giáo dục” Nói một cách đầy đủ hơn “QLGD là hệ thống những tác động cómục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sựđiều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nângcao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài ”

- QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnhcông tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội

Như vậy, QLGD là tổng hợp các biện pháp tổ chức kế hoạch hóa nhằm bảo đảm sựvận hành bình thường các cơ quan trong hệ thống giáo dục Hệ thống giáo dục là một hệthống xã hội, QLGD cũng chịu sự chi phối của quy luật xã hội và tác động của quản lý xãhội Trong QLGD các hoạt động quản lý hành chính nhà nước và quản lý sự nghiệpchuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không tách biệt, tạo thành hoạt độngquản lý thống nhất

Trang 19

Từ những khái niệm nêu trên đưa đến cách hiểu chung nhất là: QLGD là quá trìnhvận dụng nguyên lý, khái niệm, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnhvực QLGD QLGD là sự tác động có chủ đích của chủ thể QLGD đến đối tượng quản lýnhằm đạt mục tiêu xác định.

Mục tiêu của QLGD là điều khiển hệ thống giáo dục đạt tới trạng thái mong muốntrong tương lai đối với hệ thống giáo dục, đối với trường học hoặc đối với vài thông sốchủ yếu của hệ thống giáo dục của nhà trường Mục tiêu QLGD được xác định trên cơ sởđáp ứng những mục tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước:

- Đảm bảo quyền học sinh vào học các ngành học, các cấp học, lớp học đúng chỉtiêu và tiêu chuẩn

- Đảm bảo chỉ tiêu và chất lượng hiệu quả đào tạo

- Phát triển tập thể sư phạm đủ và đồng bộ; nâng cao về trình độ chuyên mônnghiệp vụ và đời sống

- Xây dựng và sử dụng bảo quản tốt cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho dạy và học

- Xây dựng và hoàn thiện các tổ chức chính quyền, Đảng, đoàn thể quần chúng đểthực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo

- Xây dựng và hoàn thiện các mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội để làm tốt côngtác giáo dục thế hệ trẻ

Đối tượng của QLGD là các hoạt động giáo dục trong xã hội, nhưng trước hết làtrong hệ thống giáo dục, gồm tất cả các ngành học; các phân hệ của nó, đặc biệt là quản lýcác trường học, tìm ra các giải pháp, phương án cải tiến giáo dục nhằm nâng cao chấtlượng để đi đến mục tiêu cuối cùng là làm thế nào để thầy dạy tốt, trò học tốt

Phương pháp QLGD: Cũng như bất cứ một hệ thống quản lý nào, QLGD phải sửdụng các phương pháp quản lý chung Tuy nhiên, các phương pháp quản lý không phải là

đa năng, hoàn toàn đúng với mọi trường hợp Vấn đề là người sử dụng phải vận dụng linhhoạt các phương pháp QLGD để có hiệu quả cao Các phương pháp quản lý gồm:

- Phương pháp tâm lý - xã hội

Trang 20

Đặc điểm của phương pháp này là sự kích thích đối tượng quản lý sao cho để họ toàn tâm,toàn ý vào công việc, coi mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị là mục tiêu của chính mình.Phương pháp tác động này nhằm nâng cao đạo đức nghề nghiệp.

- Phương pháp tổ chức - hành chính

Đặc điểm của phương pháp này là bắt buộc đối với người thừa hành bằng việc tácđộng, chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp của người lãnh đạo Đó là sự phân công giao nhiệm vụ,giao quyền hạn, phạm vi được sử dụng quyền hạn và trách nhiệm trong thực hiện côngviệc Người thực hiện bắt buộc phải tuân thủ bằng cách thực hiện đúng các quy định, quychế, định mức được giao

- Phương pháp kinh tế

Đặc điểm của phương pháp này là tác động gián tiếp lên đối tượng nhằm hấp dẫnđối tượng quản lý bằng các lợi ích kinh tế, khiến họ hoạt động có hiệu quả hơn TrongQLGD, người ta thường áp dụng phương pháp này để tính toán hiệu quả kinh tế giáo dục:Đầu tư chi phí cho giáo dục, giá thành đào tạo áp dụng các chỉ tiêu định mức lao động,các biện pháp khuyến khích vật chất, chế độ tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng để người giáoviên thấy rằng mình được quan tâm đúng mức và tạo động lực phấn đấu công tác tốt hơn

Trong thực tiễn quản lý, nhà QLGD không chỉ quản lý đơn vị bằng các phươngpháp cơ bản trên Bản thân mỗi cán bộ QLGD, mỗi cán bộ, giáo viên luôn sẵn cónhững phẩm chất, nhân cách của một nhà giáo dục Sự tác động của nhân cách ngườiQLGD có tác dụng trực tiếp tới đối tượng quản lý và mang lại hiệu quả cao

Các phương pháp quản lý đều không có tính vĩnh cửu, vạn năng để giải quyết tất

cả các công việc Nhà quản lý phải tùy theo từng điều kiện, từng hoàn cảnh mà lựa chọn

sử dụng kết hợp các phương pháp quản lý sao cho thích hợp, không nên rập khuôn máymóc Để làm điều đó, người quản lý phải nắm vững và thành thạo công việc chuyên môn,phải có kinh nghiệm quản lý phong phú và có tầm nhìn xa và rộng

1.2.1.6: Quản lý nhà trường:

Trang 21

Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác giáo dục, là tế bào củabất cứ hệ thống giáo dục nào (từ cơ sở đến trung ương) Chất lượng của giáo dục là dothành tích đích thực của nhà trường (cùng với hệ thống QLGD).

Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục củaĐảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lýgiáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo"

Theo tác giả Bùi Trọng Tuân thì quản lý nhà trường bao gồm quản lý bên trongnhà trường (nghĩa là quản lý từng thành tố: Mục đích giáo dục, nội dung giáo dục,phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, đội ngũ giáo viên và các cán bộ công nhânviên, tập thể học sinh và cơ sở vật chất - thiết bị dạy học Các thành tố này quan hệ qua lạilẫn nhau và tất cả đều nhằm thực hiện chức năng giáo dục - đào tạo) và quản lý các mốiquan hệ giữa nhà trường với môi trường xã hội bên ngoài

Theo Nguyễn Ngọc Quang thì quản lý trường học là tập hợp những tác động tối ưu(công tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, can thiệp) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên,học sinh và cán bộ khác

Từ các định nghĩa trên cho chúng ta thấy: Quản lý nhà trường là QLGD được tổchức thực hiện ở trong một phạm vi không gian nhất định của một đơn vị giáo dục - đàotạo là nhà trường Nhà trường thuộc các cấp, bậc học khác nhau, loại hình trường khácnhau, vì thế trong quá trình QLGD các nguyên lý chung của QLGD được vận dụng mộtcách khác nhau để bảo đảm đạt mục tiêu quản lý đặt ra Tuy nhiên dù quản lý nhà trường

ở cấp học, bậc học nào, loại hình trường nào thì cũng phải đảm bảo những yếu tố cơ bảnchung nhất là:

- Xác định rõ mục tiêu quản lý của nhà trường, đó là những mục tiêu hoạt động củanhà trường được dự kiến trước khi triển khai hoạt động Mục tiêu đó được cụ thể hóatrong kế hoạch năm học, chính là các nhiệm vụ, chức năng mà nhà trường phải thực hiệntrong năm học

Trang 22

- Xác định cụ thể nội dung các mục tiêu, trên cơ sở đó hoạch định các mục tiêu mộtcách tổng thể, chủ thể quản lý cụ thể hóa nội dung từng mục tiêu, đây là những điều kiện

để cho mục tiêu trở thành hiện thực khi được tổ chức thực hiện trong năm học

- Nhà trường là một cơ sở giáo dục - đào tạo là một đơn vị độc lập, nhà trường thựchiện sứ mệnh chính trị của mình là dạy học, vì vậy nội dung mục tiêu hoạt động quản lýnhà trường rất phong phú

Quản lý nhà trường là một khoa học cũng mang tính nghệ thuật Nó được thực hiệntrên cơ sở những quy luật chung của khoa học quản lý, đồng thời khi vận dụng cần căn cứvào hoàn cảnh cụ thể Sản phẩm GD - ĐT của nhà trường là nhân cách học sinh - sinhviên được rèn luyện, phát triển theo yêu cầu của xã hội Có thể nói rằng quản lý nhàtrường là quản lý quá trình tổ chức hoàn thiện và phát triển nhân cách học sinh - sinh viênmột cách có hiệu quả và chất lượng đáp ứng yêu cầu của xã hội

1.2.1.7: Đối tượng và khách thể trong quản lý nhà trường:

- Chủ thể quản lý nhà trường là Hiệu trưởng, có sự tham gia của các đoàn thểquần chúng đại diện cán bộ giảng viên và học sinh trong nhà trường, lãnh đạo của

tổ chức cơ sở Đảng

- Đối tượng quản lý nhà trường là đội ngũ giảng viên, sinh viên và cán bộ công nhânviên với những hoạt động giảng dạy, học tập - rèn luyện của sinh viên và các hoạt độngkhác, cùng các phương tiện và điều kiện để thực hiện các hoạt động đó

- Khách thể trong quản lý nhà trường là trạng thái hoạt động của nhà trường, là mức

độ ổn định và sự thực hiện Điều lệ nhà trường, mục tiêu và kế hoạch đào tạo của nhàtrưòng

Nguyên tắc quản lý nhà trường

Công tác quản lý nhà trường phải thực hiện theo những nguyên tắc sau đây:

- Đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng đối với toàn bộ công tác giáodục trong nhà trường,

- Đảm bảo nguyên tắc khoa học cao trong hoạt động quản lý,

- Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo các công việc của nhà trường,

Trang 23

- Đảm bảo nguyên tắc thiết thực và cụ thể trong công tác quản lý, các công việc phảiđược thực hiện, hoàn thành có chất lượng và hiệu quả.

1.3: Quản lý đào tạo ở trường đại học:

1.3.1: Quản lý trường đại học

* Trường Đại học

Trường Đại học là cơ sở đào tạo ĐH, sau ĐH nhằm cung cấp các cán bộ khoa học

kỹ thuật và kinh tế cho đất nước Trường Đại học là đơn vị đào tạo công lập, dân lập, tưthục nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân do nhà nước thống nhất quản lý và dưới sựlãnh đạo trực tiếp của Bộ GD - ĐT, các Bộ ngành chủ quản hoặc UBND tỉnh, thành phố.Trường Đại học có nhiệm vụ đào tạo các bậc học để cấp văn bằng, đào tạo bồi dưỡng kiếnthức để cấp chứng chỉ Trường có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ,thực hiện dịch vụ khoa học, sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật

Trường Đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật vàtheo điều lệ nhà trường trong các hoạt động sau đây:

- Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy học tập đối với các ngànhđược phép đào tạo;

- Xây dựng chỉ tiêu Tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, côngnhận tốt nghiệp và cấp văn bằng;

- Tổ chức bộ máy nhà trường, tuyển dụng, quản lý, sử dụng đãi ngộ nhà giáo, cán

bộ, nhân viên;

- Huy động quản lý, sử dụng các nguồn lực;

- Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao, y tế, nghiêncứu khoa học trong nước và nước ngoài theo quy định của Chính phủ (Điều 60 Luật Giáodục 2005)

* Quản lý trường Đại học

Theo khái niệm quản lý thì quản lý trường Đại học là tác động có hướng đích củachủ thể quản lý (lãnh đạo nhà trường, các phòng ban chức năng) lên đối tượng quản lý(sinh viên, giảng viên, cán bộ công nhân viên) với các nội dung quản lý (kế hoạch,

Trang 24

chương trình, biện pháp ) dựa vào các công cụ và các phương pháp quản lý nhằm đượccác mục tiêu mà nhà trường hướng tới.

Nội dung của quản lý trường Đại học bao gồm:

- Quản lý hoạt động đào tạo cấp văn bằng chứng chỉ: Tuyển sinh quản lý ngườihọc, tổ chức giảng dạy học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu chương trìnhgiáo dục để cấp văn bằng hoặc chứng chỉ; Tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhânviên tham gia vào các hoạt động của nhà trường; Huy động quản lý, sử dụng các nguồnlực theo quy định của pháp luật; Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm địnhchất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền

- Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; ứng dụng phát triển và chuyển giao côngnghệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và địa phương

- Quản lý hoạt động dịch vụ khoa học, sản xuất kinh doanh theo quy định củapháp luật

1.3.2: Quản lý quá trình đào tạo ở trường ĐH:

* Khái niệm về đào tạo

Đào tạo thường được hiểu là cung cấp, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, khoa học, kỹthuật, công nghệ, là việc tạo nguồn nhân lực để giải quyết một vấn đề, làm một việc gì

đó để đạt kết quả Đó có thể là một nhiệm vụ đơn giản, một hệ thống nhiều nhiệm vụ, cóthể là một nghề, một dự án, v.v Hai nhiệm vụ chính của một quá trình đào tạo là:

- Cung cấp tiềm năng, tiềm lực cho người học;

- Cung cấp khả năng vận dụng những tiềm năng đó thành những kỹ năng riêng củamình trong thực tiễn

* Quá trình đào tạo

Quá trình đào tạo hiểu theo nghĩa hẹp, là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trongtoàn bộ hoạt động của nhà trường Do đó quản lý quá trình đào tạo bộ phận chủ yếu nhấttrong toàn bộ công tác quản lý của nhà trường Sự phân hoá của quá trình đào tạo trongnhà trường chính là nền tảng để phân hoá chức năng, xác định cơ chế tổ chức quản lý và

tổ chức chỉ đạo hoạt động đào tạo trong nhà trường

Trang 25

Quá trình đào tạo do nhà trường quản lý nhưng nó quan hệ tương tác, liên thôngvới các tổ chức đào tạo khác hoặc các tổ chức, cơ quan khác mà sinh viên có điều kiệntham gia hoạt động.

Theo Nguyễn Đức Trí: "Quản lý quá trình đào tạo có nhiệm vụ quản lý sự hoạtđộng của cán bộ, giảng viên, sinh viên, Vì vậy, có thể xem quản lý quá trình đào tạo vềthực chất đó là quản lý các hoạt động của giảng viên, sinh viên trong việc thực hiện kếhoạch và nội dung chương trình đào tạo của nhà trường"

Quá trình đào tạo có thể được xem là một hệ thống xã hội bao gồm các thành tốchính sau: mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện, kiểm tra đánh giá kết quảhọc tập, đánh giá chương trình đào tạo

Nếu xét theo tính chất công việc thì quá trình đào tạo bao gồm các công việc sau:tuyển sinh, đào tạo, thực tập thi tốt nghiệp, theo dõi sau đào tạo Trong đó mỗi giai đoạnlại bao gồm những công việc cụ thể, đó là:

- Giai đoạn tuyển sinh bao gồm: Thông báo tuyển sinh; Thu nhận hồ sơ tuyển sinh;Lập Hội đồng tuyển sinh (Danh sách Hội đồng, ban đề thi, ban coi thi, ban chấm thi, banthư ký ); Thi tuyển sinh; Chấm thi tuyển sinh; Xét điểm chuẩn, công nhận danh sáchtrúng tuyển; Gửi giấy báo trúng tuyển; Nhập học

- Giai đoạn đào tạo bao gồm: Kế hoạch tiến độ đào tạo, kế hoạch giảng dạy, thi học

kỳ hàng năm; Thực hiện việc giảng dạy, thi kiểm tra các học phần, thực tập tốt nghiệp;Xét lên lớp, dừng học củng cố kiến thức, buộc thôi học; Xét điều kiện thi tốt nghiệp, Đồ

án, Khoá luận; Thi tốt nghiệp, công nhận kết quả thi tốt nghiệp, Đồ án, Khoá luận; Tổngkết phát bằng tốt nghiệp

- Giai đoạn sau đào tạo:

+ Sử dụng đúng chuyên môn đào tạo (Hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm

vụ, chưa hoàn thành nhiệm vụ)

+ Sử dụng khác chuyên môn đào tạo (Hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm

vụ, chưa hoàn thành nhiệm vụ)

+ Được đề bạt

Trang 26

+ Đào tạo sau ĐH.

Mỗi giai đoạn kể trên có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình đào tạo Nếuchất lượng tuyển sinh tốt, có sự sàng lọc cao thì giai đoạn đào tạo sẽ thuận lợi, kết quảđào tạo cao và sinh viên tốt nghiệp có nhiều cơ hội làm việc tốt Giai đoạn đào tạo là quantrọng nhất, thực tiễn đào tạo ở các trường ĐH cho thấy rằng nếu thí sinh ở đầu vào cótrình độ nhất định nhưng có quá trình đào tạo tốt (thầy dạy tốt, quản lý đào tạo tốt) thì kếtquả đào tạo cũng rất cao, được xã hội ghi nhận Giai đoạn sau đào tạo cũng có một vị tríquan trọng, các thông tin về tình hình sử dụng cán bộ sau đào tạo sẽ giúp cho nhà trường

bổ sung, điều chỉnh những vấn đề cần thiết trong các giai đoạn tuyển sinh, đào tạo Mốiquan hệ trên được thể hiện ở sơ đồ dưới đây:

Sơ đồ 1: Sơ đồ khối quá trình đào tạo

* Quản lý quá trình đào tạo

Quản lý quá trình đào tạo bao gồm các công việc chủ yếu sau:

- Quản lý mục tiêu, nội dung đào tạo: là quản lý việc xây dựng mục tiêu, nội dungđào tạo, kế hoạch và nội dung chương trình giảng dạy, quản lý quá trình đào tạo thực tếcủa giảng viên và sinh viên sao cho các kế hoạch đào tạo, nội dung chương trình giảngdạy được thực hiện một cách đầy đủ và quán triệt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo

- Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên: là quản lý việc thực hiện các nhiệm

vụ giảng dạy của các giảng viên trong quá trình đào tạo

Đào tạo S d ng sau ử dụng sau ụng sau

o t o đào tạo ạo Tuy n sinh ển sinh

Liên h ng ệ ngược ược c

Trang 27

- Quản lý hoạt động học tập của sinh viên: là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụhọc tập, nghiên cứu, rèn luyện của sinh viên.

- Quản lý chất lượng đào tạo: là việc phát hiện kịp thời các nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng yếu kém, đề ra các biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo được chất lượng đào tạotheo yêu cầu

Quản lý quá trình đào tạo đòi hỏi các cán bộ quản lý nói chung, cán bộ quản lý quátrình đầ tạo nói riêng và giảng viên phải có sự hiểu biết đúng đắn và đầy đủ các vấn đề vềbản chất nêu trên của quá trình đào tạo cũng như phải hiểu rõ cơ chế, các mối quan hệ cơbản của quá trình đào tạo trong sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan tác động lên quátrình đó

1.4: Quản lý hệ VLVH trong trường đại học:

1.4.1: Hệ Vừa làm vừa học

Triết lý Xã hội học tập và xu thế tất yếu của giáo dục hệ VLVH:

Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ và sự phát triển mạnh mẽ của lựclượng sản xuất là nguyên nhân thúc đẩy quá trình cải cách giáo dục trên phạm vi toàn cầu.Đặc biệt từ sau những năm 1980, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức cùng với sự hìnhthành xã hội thông tin và xu thế toàn cầu hoá đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục, làm chonền giáo dục được đổi mới một cách vượt bậc Những điều kiện để đảm bảo cho nhân loạimột cuộc sống ấm no, hạnh phúc hầu như đã đạt được Tuy nhiên, trong thực tế nhân loạilại phải đang đối mặt với những khó khăn mà hầu như không thể khắc phục dễ dàng đó là

sự cách biệt giữa các tầng lớp trong xã hội, sự nghèo đói, ngu dốt, áp bức, bóc lột, chiếntranh, khủng bố, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, môi trường đang đè nặng lên nhân loại

và trái đất

Để ứng phó được với những vấn đề nêu trên thì điều quan trọng nhất là chất lượnggiáo dục Giáo dục là phương thức chính yếu để mang lại sự phát triển nhân cách tốt đẹp,thiết lập những quan hệ cần có giữa các cá nhân, các cộng đồng, các dân tộc và các quốcgia Do đó chúng ta phải có tầm nhìn vĩ mô, đó là phải xây dựng một nền giáo dục đạichúng, cho tất cả mọi người trong mọi xã hội Không những thế, nền giáo dục này lại phải

Trang 28

là giáo dục suốt đời, để mọi người ở mọi nơi, mọi lúc đều được hưởng phúc lợi giáo dục,

cụ thể là về nhân cách, về việc làm, mà xã hội có thể mang lại cho họ Xã hội như vậychính là Xã hội học tập và đó cũng chính là triết lý giáo dục phù hợp với thời đại hiệnnay, là chiến lược cần thiết để làm cơ sở thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển Đó cũng là lí

do mà chúng ta nhất thiết phải hiểu sâu sắc và vận dụng một cách tốt nhất triết lý giáo dục

Xã hội học tập này song song với hình thức đào tạo chính qui hàn lâm trong những thậpniên đầu của thế kỷ 21 nhằm sánh vai cùng với các nước phát triển trên thế giới

Xuất phát từ quan điểm, nền giáo dục thời đại mới phải dựa trên 4 yêu cầu: học đểbiết, học để làm, học để xây dựng nhân cách và học để chung sống với đồng loại Ủy banquốc tế về giáo dục thế kỷ 21 đã vạch ra nguyên tắc xây dựng nền giáo dục trước mắt vàcho những năm sắp tới đó là học suốt đời hay nói khác đi là giáo dục suốt đời Hệ thốnggiáo dục này trước hết phải có các đặc điểm của hệ thống giáo dục đại chúng, trong đóphải có bộ phận giáo dục ngoài nhà trường rộng lớn và vững mạnh Hệ thống này cònphải gắn chặt với hệ đào tạo và đào tạo lại căn cứ vào yêu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ và các dự báo diễn biến của các hoạt động này

Có thể nói triết lý xã hội học tập là triết lý của một nền giáo dục cần thiết cho thế

kỷ 21 dựa trên 4 trụ cột giáo dục và nền tảng của nó là học tập suốt đời và xây dựng một

Trang 29

Một số khái niệm mới như: giáo dục thường xuyên/ giáo dục tiếp tục, giáo dụcngười lớn/ giáo dục VLVH, giáo dục phi chính quy đã ra đời để mở một lối thoát chocuộc khủng hoảng về nguồn nhân lực ở các nước Do đó các loại hình giáo dục này đượccoi như một bộ phận quan trọng, cùng với nhà trường chính quy cung ứng cơ hội học tậpsuốt đời cho mọi người

Bản tuyên ngôn của Hội nghị thế giới lần thứ V về giáo dục người lớn/giáo dụcVLVH tổ chức tại thành phố Hamburg Cộng hòa liên bang Đức tháng 7/1997 đã khẳngđịnh giáo dục người lớn (hệ vừa học vừa làm) tuy khác nhau về tổ chức tùy theo sự pháttriển kinh tế xã hội, văn hóa, giáo dục ở mỗi nước, song giáo dục người lớn đều là những

bộ phận quan trọng, cần thiết của quan niệm mới về giáo dục và học tập suốt đời

UNESCO với tư cách là một cơ quan Liên Hiệp Quốc trong lĩnh vực văn hóa, khoa

học, giáo dục đã khuyến nghị: "Giáo dục cần giữ vai trò chủ đạo trong việc đẩy mạnh

giáo dục hệ VLVH như một bộ phận không thể thiếu của hệ thống giáo dục mỗi quốc gia".

Hội nghị lần thứ III khu vực Châu Á- Thái Bình Dương về giáo dục thường xuyên

do UNESCO tổ chức tại KualaLumpur Malaysia từ ngày 19- 28/8/1996 đã thể hiện sựquan tâm của các nước về giáo dục hệ VLVH Hội nghị đã thừa nhận sự đóng góp to lớncủa giáo dục hệ VHVL đối với việc nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực cho pháttriển kinh tế xã hội, phát triển cá nhân, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường vàkhẳng định vai trò của giáo dục VHVL là chìa khóa bước vào thế kỷ 21

Hệ Vừa làm vừa học ở Việt Nam

Hệ vừa làm vừa học là tên gọi được Bộ Giáo dục Đào tạo chính thức sử dụng thaycho Hệ tại chức (thuộc phương thức giáo dục không chính quy) trong quyết định số01/2001/QĐ -BGD&ĐT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Nguyễn Minh Hiển kýngày 29/01/2001 Đây là loại hình đào tạo tồn tại song song với đào tạo chính quy trongcác trường đại học ở Việt Nam Quan điểm của Đảng đã chỉ rõ công nghiệp hoá phải gắnliền với hiện đại hóa ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển, muốn vậy phải nângcao lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội và từng bước phát triển nềnkinh tế tri thức, như vậy chúng ta mới có thể có những bước nhảy vọt và rút ngắn thời

Trang 30

gian tiến hành quá trình công nghiệp hoá Muốn đạt được điều này thì phát triển giáo dục

và đào tạo được coi là nền tảng và động lực của con người, thực hiện phương châm: mọingười đi học, học thường xuyên, học suốt đời, cả nước trở thành một xã hội học tập Cụthể đối với ngành giáo dục mục tiêu đề ra trong Hội nghị Đào tạo Đại học, Bộ trưởng Bộ

Giáo dục - Đào tạo đã xác định là: "Làm cho hệ thống đại học nước ta thích ứng và đáp

ứng yêu cầu của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đáp ứng nhu cầu tăng nhanh số lượng, đảm bảo chất lượng đào tạo nhằm thỏa mãn thị trường sức lao động, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước trong điều kiện nguồn nhân lực hạn hẹp; thực hiện từng bước yêu cầu về công bằng xã hội, tạo thêm cơ hội học tập cho người nghèo, các đối tượng chính sách và người ở vùng khó khăn" (Trích Báo cáo

của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị Đào tạo Đại học từ ngày 9 đến ngày11/04/1998 tại Hà Nội)

Về tổng thể cơ cấu hệ thống giáo dục cần tiếp nhận triết lý xã hội học tập, do đónhững vấn đề về cơ cấu hệ thống giáo dục cần được xem xét xuất phát từ yêu cầu hiệnnay về xu thế giáo dục và đào tạo trong các thập kỷ tới đó là quan hệ giữa hệ thống giáodục và hệ thống đào tạo trong xã hội học tập ở nước ta

Hệ VLVH ở một trường đại học là sự thực hiện của trường đại học đó đối với chủtrương xây dựng một xã hội học tập Hệ VLVH trong hệ thống giáo dục quốc dân lànhững con đường và cách thức giáo dục và đào tạo không trùng lặp với những qui địnhcủa giáo dục chính quy, nhằm tạo cơ hội cho những ai không có điều kiện giáo dục chínhquy khi còn trong độ tuổi trẻ hoặc đã ra khỏi giáo dục chính quy mà vẫn còn muốn tiếptục học Giáo dục hệ VLVH là phương thức giáo dục giúp mọi người vừa làm, vừa học;học liên tục; học suốt đời nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyênmôn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, có điều kiện tìm việc làm và thích nghivới đời sống xã hội Giáo dục không chỉ là một giai đoạn tức thời, chỉ diễn ra một lần, chỉgiới hạn trong độ tuổi học sinh, sinh viên mà là một quá trình học tập thường xuyên, làmôi trường thử thách để mỗi con người tự học, tự phấn đấu nâng cao trình độ hiểu biết và

Trang 31

trình độ chuyên môn nghiệp vụ Học suốt đời là học tập có mục đích, có định hướng,không phải tùy hứng hay ngẫu nhiên Để duy trì và phát triển việc học tập suốt đời củamọi thành viên trong cộng đồng, cần phải tạo ra một xã hội học tập Trong đó, không chỉnhà nước mới có trách nhiệm chăm lo cho giáo dục mà toàn xã hội cũng phải tham giađóng góp cho sự nghiệp phát triển giáo dục Cơ hội học tập suốt đời chính là quyền lợi vàtrách nhiệm của mỗi công dân Như vậy giáo dục không chính quy hay vừa làm vừa học

là thực hiện triết lý xã hội học tập

1.4.2: Quản lý hệ Vừa làm vừa học trong trường đại học:

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: "Đẩy mạnh giáo dục

trong nhân dân bằng các hình thức chính quy và VLVH, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước thành một xã hội học tập"

Sự phát triển Kinh tế - Xã hội của nước ta hiện nay đã dần dần tạo điều kiện chotừng người dân, thông qua việc học tập suốt đời và cơ hội bình đẳng về tiếp nhận giáo dục

để tự hoàn thiện mình, đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Giáodục suốt đời là phương thuốc hữu hiệu của ngành giáo dục và đào tạo để nhanh chóng làmcho tất cả người lao động nước ta sớm được thông qua đào tạo Trong cuộc hành trìnhsuốt đời, hướng tới một xã hội học tập, giáo dục hệ vừa học vừa làm chính là hướng đichủ đạo

 Theo quan điểm đánh giá của UNESCO về vai trò của giáo dục hệ VLVH:

a Giáo dục hệ đại học chính qui và hệ vừa học vừa làm đều có tầm quan trọng nhưnhau đối với sự phát triển tài nguyên con người

b Giáo dục hệ đại học chính qui và hệ vừa học vừa làm bổ sung cho nhau và vìvậy các chương trình giáo dục tương đương cần phải được khuyến khích

c Cả giáo dục hệ đại học chính quy và hệ vừa học vừa làm đều có đối tượnghọc riêng

 Trong giai đoạn hiện nay trước những chuyển biến mạnh mẽ và ngày càngsâu sắc về kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn thế giới thì giáo dục không chính quy haygiáo dục VLVH ngày càng có vị trí quan trọng vì những lí do sau đây:

Trang 32

a Xu thế toàn cầu hóa về kinh tế

b Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt trong các ngànhcông nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới đòi hỏiphải cập nhật thông tin, tri thức cho người lao động để họ không bị làm ăn thua lỗ, không

bị phá sản hoặc bị đào thải khỏi lực lượng sản xuất trong cơ chế thị trường

c Yêu cầu ngày càng cao về nhân lực và chất lượng sản phẩm trong các ngànhnghề trong khi đó thế giới lại đang trong tình trạng khủng hoảng về nguồn tài nguyên vàmôi trường sinh thái

d Sự cách biệt giữa các nhóm đối tượng và cộng đồng dân cư (thành thị và nôngthôn, người giàu và người nghèo, giữa các giới và các nhóm dân tộc) ngày càng tăng

 Từ những nguyên do trên mà nhiệm vụ của việc quản lý hệ VLVH ở mộttrường đại học phải được thể hiện trong các chương trình sau:

a Chương trình đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ,cập nhật kiến thức kỹ năng; đào tạo lại và bồi dưỡng người lao động đang làm việc theochu kỳ 5 năm một lần; và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức, cán bộ lãnh đạo và cán bộquản lý từ trung ương đến địa phương

b Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học Chương trình giáo dụctạo thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng sở thích cá nhân và giáo dục địnhhướng tương lai

c Chương trình giáo dục để giúp người học đạt đươc văn bằng của hệ thống giáodục quốc dân theo hình thức vừa làm vừa học, học từ xa hoặc tự học có hướng dẫn

Có thể thấy trong những năm qua chúng ta chưa sử dụng được hệ thống quản lý tốt

và một hệ thống kiểm tra - đánh giá như một công cụ để phát triển loại hình đào tạo này.Mặc dù hệ VLVH và hệ đào tạo chính quy có những mục tiêu, nội dung, chương trình,cách tổ chức quá trình học tập khác nhau thì đương nhiên sẽ có những cách đánh giá khácnhau Song bên cạnh đó, người quản lý giáo dục cần nghiên cứu các giá trị tương đươnggiữa hai loại hình đào tạo này Hệ thống giáo dục VLVH cần có sự liên thông giữa hai hệđào tạo để bất cứ một người theo học nào cũng đạt được trình độ yêu cầu trong một hệ

Trang 33

thống giáo dục quốc dân Một nhóm các nhà nghiên cứu phê bình học đường (GDTX) chorằng giáo dục hệ VLVH được xem như chìa khoá của lối thoát cho xã hội Giáo dục đàotạo có một sức mạnh giải phóng con người và đánh giá đúng giá trị của người đó bằngviệc làm của họ Một người nào đó của hệ VLVH cũng có thể bước vào cửa ngõ của giáo dụcchính quy nhưng phải thỏa mãn những yêu cầu và các tiêu chí của hệ giáo dục chính quy

 Quản lý đào tạo đại học của hệ VLVH trong một trường đại học

Từ những lý luận trong công tác quản lý trường học và quản lý hệ vừa học vừa đãtrình bày ở trên chúng ta có thể thấy công tác quản lý đào tạo hệ VLVH cũng có nhữngđặc thù riêng của nó, có thể đúc kết bằng những yêu cầu sau đây trong phương pháp quản

lí đào tạo đại học hệ VLVH:

a Phương pháp giáo dục đại học VLVH phải phát huy vai trò chủ động khai tháckinh nghiệm của người học, coi trọng bồi dưỡng năng lực tự học

b Hệ VLVH là một phần tiếp tục của hệ đào tạo chính quy, vì vậy cả hai chươngtrình này cần phải được tiến hành song song với nhau Cả hệ đào tạo chính quy và hệVLVH làm cần phải có những tài liệu học tập tốt mang tính chất đặc trưng, đều phải cógiáo viên chuyên trách và sự trợ giúp về tài chính

c Đào tạo chính quy và đào tạo hệ VLVH cần được tổ chức một cách có hệ thống

Hệ VLVH cần đến sự tham gia của cộng đồng nhiều hơn so với giáo dục chính quy

d Hiệu quả giáo dục của hệ VLVH phụ thuộc vào nhu cầu của người dân ở cộngđồng và phát triển các kỹ năng hành dụng để học phải luôn đi đôi với hành

e Việc quản lý, điều hành và đánh giá hệ VLVH phải thiết lập một cách có

Trang 34

Nếu chúng ta kết hợp giữa yêu cầu và mục đích đào tạo cho loại hình hệ VLVHvới những khái niệm đã được nêu ở phần quản lý và quá trình đào tạo nói chung, chúng ta

có thể thấy rõ quản lý đào tạo hệ VLVH có những chức năng cơ bản như sau:

1) Duy trì, ổn định và phát triển quá trình đào tạo nhằm đảm bảo chất lượng, để sảnphẩm đào tạo đạt được các chuẩn mực đã xác định trước

2) Phát triển hệ vừa làm vừa học trong giáo dục đại học là cập nhật kiến thức khoahọc và công nghệ vào môi trường hoạt động kinh tế - xã hội, đáp ứng những kỹ năng thựchành khoa học - công nghệ và các kỹ năng công nghệ trình độ cao

3) Đổi mới phát triển qúa trình đào tạo, đón đầu xu hướng phát triển kinh tế xã hội

Đa dạng các loại hình đào tạo và mở rộng ngành nghề đào tạo

4) Đây là loại hình đào tạo được đánh giá là ít tốn kém và có hiệu quả ngay, điềunày đòi hỏi phải chú trọng đến chất lượng đào tạo Làm sao để có thể vừa tăng số lượngvừa đảm bảo chất lượng

5) Để thực hiện những chức năng trên, cơ sở quản lý đào tạo cần:

a Phân tích thông tin, nắm được xu hướng phát triển và xác lập chính xác mục tiêuchiến lược giáo dục đào tạo

b Xác định các chuẩn mực, qui trình theo mục tiêu, tạo điều kiện và duy trì các cơchế thực hiện các chuẩn mực đã đề ra

c Đưa mọi hoạt động giáo dục đào tạo và kế hoạch với mục tiêu, biện pháp vàbước đi rõ ràng

d Hình thành và phát triển tổ chức tương ứng với sứ mệnh, phù hợp với nhiệm vụchính trị và thực hiện một quy trình đào tạo thích ứng với khả năng và nguồn lựccủa mình

e Thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa giáo dục, huy động mọi nguồn lực tiềm ẩntrong xã hội tham gia và đóng góp cho giáo dục hệ VLVH

f Lấy loại hình đào tạo VLVH cho các đối tượng đang học tại chức là một trongnhững giải pháp quan trọng để giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu trong giai đoạnphát triển giáo dục đào tạo

Trang 35

g Trong mỗi giai đoạn khác nhau thì nhu cầu và số lượng người học cũng cónhững thay đổi Trước đây đa số học để lấy bằng thông qua con đường không chính quy;ngày nay ngày càng nhiều người học không cốt để lấy bằng mà để có kỹ năng và chuyênmôn cần thiết nhằm giải quyết sớm nhu cầu trước mắt đặt biệt là nhu cầu về cuộc sống và

xã hội

Tóm lại với thời gian học ngắn, chi phí học không lớn lắm, nội dung phù hợp vớinhu cầu học, kết hợp học với hành và thực tế, hệ VLVH hội đủ những khả năng và điềukiện giải quyết những nhu cầu trên Chính vì vậy cần phải có những chính sách, chủtrương thích hợp trên cơ sở tổng kết thực tiễn và dự báo khoa học; phải có cách đào tạothích hợp từ chương trình, nội dung đến phương pháp, phương tiện, thích hợp cho các đốitượng làm việc ở các ngành nghề khác nhau và ở những vùng khác nhau Hệ VLVH cóthể sớm giải quyết được vấn đề công bằng xã hội và chất lượng (hai điều này thường mâuthuẫn với nhau) của hệ thống giáo dục quốc dân

Về đánh giá chất lượng và hiệu quả hệ VLVH đến nay vẫn còn tồn tại nhiều ý kiếnkhác nhau Chê nhiều và khen cũng không ít, do đó chúng ta phải xem xét một cách cụthể, đầy đủ và nghiêm túc để có những kết luận rõ ràng nhằm tìm ra giải pháp tốt nhất đểđảm bảo chất lượng đào tạo

Thực tiễn công tác quản lý đào tạo hệ VLVH yêu cầu người quản lý phải có kếhoạch thường xuyên và lâu dài Ngoài các nhiệm vụ chính yếu ở trên, quản lý hệ VLVHcòn nhiệm vụ quản lý các hợp đồng đào tạo đặt tại các địa phương có liên kết với nhàtrường Đối với các trường có đào tạo hệ VLVH thì số lượng các hợp đồng đào tạo nàykhông phải là nhỏ, do đó đây cũng là một công việc cần có sự quản lý chặt chẽ và nghiêmtúc nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong công tác quản lý giáo dục Cụ thể gồm nhữngcông việc sau:

Quản lý hợp đồng phối hợp điều hành được ký kết giữa nhà trường và cơ sở đặtlớp Có các quy định rõ ràng về nhiệm vụ của nhà trường như phải chịu trách nhiệm vềchương trình đào tạo, giảng viên, giáo trình, quy trình thi hết học phần , thực tập cuốikhóa, các quy định về xét làm khóa luận tốt nghiệp và thi tốt nghiệp Qui định về thù lao

Trang 36

giảng viên, ra đề thi và chấm thi cho phù hợp Ủy quyền cho cơ sở đào tạo chịu tráchnhiệm về sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, đưa đón giảng viên và giới thiệumột số giảng viên tại địa phương tham gia công tác giảng dạy và quản lý sinh viên Kếthợp cùng khoa chuyên môn thiết kế chương trình đào tạo phù hợp với quy định của Bộ vànhu cầu đặt ra của địa phương Bố trí thời lượng học tập trung, hợp lí cho sinh viên là cáccán bộ công chức đang theo học Thời gian tập trung có thể thiết kế theo tháng hoặc quý.

Có chính sách về chế độ học phí, đi lại cho học viên phù hợp với kinh tế của từng địaphương Thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra và giám sát quá trình học tập của họcviên, chất lượng giảng dạy, công tác quản lý và điều kiện cơ sở vật chất của các lớp đặt tạicác cơ sở đào tạo ở địa phương

Chất lượng đào tạo của nhà trường sẽ tạo nên uy tín và thương hiệu của nhà trườngtrong thành phố cũng như các địa phương lân cận, giúp chúng ta phát triển về số lượngvào chất lượng các hợp đồng đào tạo tại các vùng, miền trong khu vực một cách hiệu quả

1.5: Giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học:

- Giải pháp: Theo từ điển tiếng Việt giải pháp là “ phương pháp giải quyết một vấn

đề cụ thể nào đó” như vậy, nói đến giải pháp là nói đến những các thức tác động nhằmthay đổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định… tập trunglại, nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng thích hợp, càng tối ưu, càng giúpcho con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra Tuy nhiên để có được giảipháp như vậy cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy

- Giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học: là những các thức tác động hướngvào việc tạo ra những biến đổi về chất lượng đào tạo hệ VLVH ở trường đại học

Trang 37

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC Ở

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

2.1 Vài nét về trường Đại học Sài Gòn:

Trường Đại học Sài Gòn được thành lập theo Quyết định số 478/QĐ-TTg ngày25/04/07 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng Đại học Sài Gòn là cơ sở giáo dụcđại học công lập trực thuộc UBND TP Hồ Chí Minh,

Đại học Sài Gòn là trường đào tạo đa ngành đa cấp, đa lĩnh vực Đại học Sài Gònđào tạo từ trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học, đào tạo theo 2 phươngthức: chính quy và không chính quy (vừa làm vừa học, tại chức, chuyên tu, liên thông).Tuy mới được thành lập được 3 năm nhưng Trường đã có bề dày lịch sử trên 35 năm tiềnthân là trường Sư phạm cấp 2 Miền Nam Việt Nam từ năm 1972 đến năm 1976 sau khiđất nước hoàn toàn giải phóng trường được đổi tên là trường Cao đẳng sư phạm Thànhphố Hồ Chí Minh và chính thức được mang tên đại học Sài Gòn từ năm 2007 Với bề dàylịch sử đó ngoài công việc chính là đào tạo giáo viên cấp 2 cho Thành phố Hồ Chí Minh,trường đã đảm nhận các công việc khác như đào tạo các ngành Âm nhạc, Mỹ thuật chocác Tỉnh miền Tây Nam bộ Kể từ khi nâng cấp thành trường Đại học Sài Gòn trường đãđào tạo hệ vừa làm vừa học các khối ngành kinh tế cho các tỉnh như, Nghệ An, Đà Nẵng,Bình Phước,…

Trang 38

2.1.1 Cơ cấu tổ chức:

Trang 40

2.1.2 Các chuyên ngành đào tạo

4) Quản trị kinh doanh

5) Công nghệ thông tin

Bậc Cao đẳng:

1) Khoa học Môi trường

2) Tài chính - Kế toán

3) Quản trị kinh doanh

4) Công nghệ thông tin

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Sơ đồ khối quá trình đào tạo - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Sơ đồ 1 Sơ đồ khối quá trình đào tạo (Trang 26)
Bảng 2.1: Các địa điểm đặt lớp của trường Đại học Sài Gòn - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Bảng 2.1 Các địa điểm đặt lớp của trường Đại học Sài Gòn (Trang 43)
Bảng 2.2:  Ý kiến của Giảng viên về đặt địa điểm đào tạo - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Bảng 2.2 Ý kiến của Giảng viên về đặt địa điểm đào tạo (Trang 45)
Bảng 2.3: Ý kiến của sinh viên về việc đặt nhiều địa điểm đào tạo - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Bảng 2.3 Ý kiến của sinh viên về việc đặt nhiều địa điểm đào tạo (Trang 45)
Bảng 2.6: Số liệu sinh viên các chuyên ngành đào tạo tính đến tháng 9/2010 - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Bảng 2.6 Số liệu sinh viên các chuyên ngành đào tạo tính đến tháng 9/2010 (Trang 53)
Bảng 2.7: Tỉ lệ sinh viên đang theo học các ngành tại trường ĐH Sài Gòn - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Bảng 2.7 Tỉ lệ sinh viên đang theo học các ngành tại trường ĐH Sài Gòn (Trang 55)
Bảng 2.8: Quy định các môn thi tuyển sinh đầu vào các chuyên ngành đào tạo - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Bảng 2.8 Quy định các môn thi tuyển sinh đầu vào các chuyên ngành đào tạo (Trang 58)
Bảng 2.9: Tình hình công việc của người theo học - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Bảng 2.9 Tình hình công việc của người theo học (Trang 59)
Bảng 2.13:  Đánh giá của sinh viên đã tốt nghiệp về chương trình đang đào tạo - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Bảng 2.13 Đánh giá của sinh viên đã tốt nghiệp về chương trình đang đào tạo (Trang 63)
Bảng 2.14: Đánh giá của sinh viên đã đang học về chương trình đang đào tạo - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Bảng 2.14 Đánh giá của sinh viên đã đang học về chương trình đang đào tạo (Trang 63)
Hình thức thi hết học phần Số lượng Tỉ lệ % - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Hình th ức thi hết học phần Số lượng Tỉ lệ % (Trang 68)
Bảng 2.19:  Việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp của sinh viên đã tốt nghiệp - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Bảng 2.19 Việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp của sinh viên đã tốt nghiệp (Trang 69)
Bảng 2.20: Việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp của sinh viên đang học - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Bảng 2.20 Việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp của sinh viên đang học (Trang 69)
Bảng 2.22: Tổng hợp số lượng và trình độ giảng viên của trường Đại học Sài Gòn Do điều kiện học tập hiện nay của sinh viên nên nhiều giảng viên còn nặng về  phương pháp giảng dạy cũ đó là truyền thụ kiến thức - Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học sài gòn
Bảng 2.22 Tổng hợp số lượng và trình độ giảng viên của trường Đại học Sài Gòn Do điều kiện học tập hiện nay của sinh viên nên nhiều giảng viên còn nặng về phương pháp giảng dạy cũ đó là truyền thụ kiến thức (Trang 71)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w